Thursday, January 5, 2023

 Hành Quân Thần Phong 7 ( từ 18/11/1965 đến 26/11/1965 ) 

 Chiến Đoàn Đặc Nhiệm Nhảy Dù Việt Nam tham chiến ( giai đoạn 3 từ ngày 18 đến ngày 26/11/1965 ) 

Theo tài liệu tổng kết của BTL/Quân Đoàn II: Trong năm ngày liên tiếp, từ 15 đến 19 tháng 11, các phóng pháo cơ B52 đã bay tổng cộng 96 phi vụ. Từng khu vực một, các khu vực của rặng núi Chu Prông - mỗi khu 20 dậm vuông - tuần tự trải qua một cơn động đất từ Tây sang Đông. Các công sự và hầm hố trước nay đã từng không ãnh hưởng đến các cuộc không tập hay pháo tập bắt đầu bị các trái bom 750 cân anh trực tiếp đánh sập. Lớp cây lá rừng rậm không còn hữu hiệu cho công việc ẩn núp lẫn bao che. "Cửa hậu" vào Căm Bốt bị đóng lại và để trốn thoát, tàn quân Việt Cộng chỉ còn lại thung lũng eo hẹp của Ia Drang. Hao mòn bởi những thất bại và tổn thất liên 16 tiếp, hậu cứ tại Chu Prông lại đang bị B52 phá hủy, cuối cùng Việt Cộng thôi cố gắng và phân tán thành từng toán nhỏ rút lui về hướng biên giới. Ước tính tình báo về khả năng địch, thực hiện vào ngày 17 tháng 11 do các toán Biệt Cách Dù hành quân tàng hình giữa lòng địch, bám theo sát địch quân trong khi chúng di chuyển và hành động như tai mắt của QL-VNCH báo cáo thường xuyên tất cả mọi vị trí và di chuyển của địch quân, cho thấy là gần 2/3 lực lượng của họ bị tiêu hao trong những trận giao tranh ở giai đoạn I và giai đoạn II. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II sau khi nghe báo cáo kết quả từ phía Hoa Kỳ tại trận đánh X-Ray trong thung lũng Ia-Drang, nên quyết định tung Lực Lượng Đặc Nhiệm Nhảy Dù trừ bị gồm 5 Tiểu Đoàn Nhảy Dù thiện chiến của QL-VNCH để càn quét nhắm vào hai tiểu đoàn Việt Cộng 635 và 344 cùng các thành phần còn lại của mười hai tiểu đoàn thuộc ba trung đoàn 32, 33 và 66 CSBV và buộc địch phải sa vào bẫy các lực lượng của ta giăng ra và xô đẩy họ vào các lộ trình rút lui mà chúng ta đã dự liệu, chiến dịch mang tên Thần Phong-7. Lần này nỗ lực chính là hai Chiến Đoàn Nhảy Dù QL-VNCH với sứ mạng ngăn chận và tiêu diệt các đơn vị CSBV bị đánh bại trong thung lủng Ia Drang đang tìm cách đào thoát sang Kampuchea đồng thời triệt hủy tất cả các cơ sở của chúng xung quanh thung lũng. Sư Đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ trước nay gánh chịu sự tấn công, sẽ tiếp tục tạo áp lực từ Đông sang Tây và cung ứng pháo yểm cho hai Chiến Đoàn Nhảy Dù. Cuộc hành quân "Thần Phong 7" khởi sự từ chiều ngày 18 tháng 11 khi hai Chiến Đoàn Nhảy Dù Đặc Nhiệm VNCH gồm 5 Tiểu Đoàn đươc Phi Đội C130 của Phi Đoàn 7 KQHK đã vận chuyển khẩn cấp từ các nơi khác nhau, như Sài Gòn, Biên Hòa, Vũng Tàu, Phú Yên và đưa tới sân bay vùng đất đỏ Đức Cơ và từ đó trực thăng vận xuôi Nam xuống vùng thung lũng hành quân. Chiến Đoàn Nhảy Dù khởi sự do Trung Tá Trương Quang Ân làm Chiến Đoàn Trưởng với 1500 chiến binh được không vận đến vùng hành quân vào ngày 1/11/12965: * Tiểu Đoàn 3ND do Thiếu Tá Trương Kế Hưng làm Tiểu Đoàn Trưởng. * Tiểu Đoàn 5ND,Thiếu Tá Nguyễn Khoa Nam làm Tiểu Đoàn Trưởng. * Tiểu Đoàn 6 ND, Đại Úy Nguyễn Văn Minh làm Tiểu Đoàn Trưởng. Về sau, Trung Tá Ngô Quang Trưởng được Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh SĐND chỉ định Chỉ Huy Lực Lượng Đặc Nhiệm Nhảy Dù và tăng cường thêm hai Tiểu Đoàn 7 & 8 Nhảy Dù, cấp tốc được không vận đến phi trường Đức Cơ trong ngày 20/11/1965: * Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù do Thiếu Tá Nguyễn Bá Trước làm TĐT. * Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù do Thiếu Tá Nguyễn Văn Thọ làm TĐT. 17 Phóng đồ hành quân Thần Phong 7 (theo General H. Norman Schwarzkopf 1992) Ngày 18/11/1965 Lử Đoàn 3 KBKV trực thăng vận đổ TĐ2/5 Khinh Kỵ xuống bãi đáp Crook thiết lập căn cứ hỏa lực Pháo Binh để yểm trợ cho Chiến Đoàn Dù VNCH vào vùng hành quân. Ngày 19/11/1965 Tiểu Đoàn 1/5 Không Kỵ cũng được lệnh thiết lập và giữ an ninh bãi đổ quân Golf. Ngày 20/11/1965 Đại Tá Thomas “Tim” Brown bàn giao vùng trách nhiệm chiến dịch cho Đại Tá W.R Lynch Lữ Đoàn Trưởng LĐ2KBKV, BCH Lữ Đoàn đóng tại Trại LLĐB Đức Cơ để phối hợp hành quân với BCH Chiến Đoàn Nhảy-Dù VN. Bộ Chỉ Huy hành Quân Chiến Đoàn Nhảy Dù đã cho pháo binh tác xạ vào những nơi nghi ngờ Cộng Quân trú ẩn, sau đó cho các đơn vị Nhảy Dù trực thăng vận đáp xuống tại các trảng trống phía Bắc của Sông Ia Drang và từ đó tung quân băng qua sông đóng chốt dọc theo triền núi Chư Prong. Trong khi di chuyển, các đơn vị Nhảy Dù đã nhìn thấy rất nhiều xác địch chết ngổn ngang do đạn pháo binh tác xạ. Trong mười ngày "tìm và diệt" - từ ngày 18 đến 26 tháng 11 - nhiều cuộc giao tranh xảy ra trong thung lũng sông Ia Drang giữa các đơn vị Dù và địch. Nhưng phần đông là những cuộc đụng độ nhỏ với các phần tử Việt Cộng tản mác. Tình trạng tan vỡ của các đơn vị địch đã được một Trung đội trưởng của Trung Đoàn 32 BV mô tả trong cuốn sổ nhật ký như sau: 18 "Tôi vừa được bổ nhiệm làm trung đội trưởng vài ngày thì thình lình quân lính dù địch được tung vào gần vùng chúng tôi đóng quân. Chúng tôi bắt đầu di chuyển vào đêm 18 tháng 11. Chúng tôi tiếp tục di chuyển để ra khỏi vòng vây địch ngày hôm sau, qua một đêm và tới ngày 20 tháng 11. Vào lúc 01.30 giờ ngày 21 tháng 11, chúng tôi được lệnh sẵn sàng cho một cuộc tiến công. Vào lúc 07.00 giờ chúng tôi tới một xóm làng... và lúc 07.30 giờ tới khu tập trung. Chắc địch mới oanh tạc khu vực này vì mặt đất loang lổ những hố to. Chúng tôi không khỏi lấy làm ái ngại. Chúng tôi vừa phân tán thì thình lình phi cơ địch lại xuất hiện và ria đạn vào vị trí chúng tôi. Trung đội của tôi có ba đồng chí bị giết. Chúng tôi cũng thiệt hại một số lớn đạn dược và quân cụ..." Cuộc giao tranh lớn nhất trong giai đoạn nầy xảy ra vào lúc 14.40 giờ ngày 20 tháng 11, tại phía Bắc sông Ia Drang. Lần này là lần thứ hai trong trận Ia Drang Việt Cộng rơi vào ổ phục kích của ta và hứng chịu tổn hại nghiêm trọng (phục kích lần thứ nhất vào ngày 3 tháng 11, bởi Tiểu Đoàn 1/9 của Sư Đoàn 1 Không Ky). Trung Đoàn 32 CS Bắc Việt cố tình ém quân trong suốt đợt hai, cuối cùng bị tìm thấy và buộc phải chiến đấu, mặc dù cố né tránh đụng độ càng nhiều càng tốt. Sáng ngày 20 tháng 11, TĐ3ND được lệnh di chuyển từ vị trí (191100 trên bản đồ) về hướng Nam để giao tiếp với Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù (tại vị trí 201440H gân LZ Golf như ghi trên bản đồ). Cả hai đơn vị đã thực hiện một cuộc truy lùng kỹ càng tại hai trục khác nhau từ bãi đổ bộ về hướng Tây. Trong khi di chuyển, Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù bị một đơn vị địch cấp Tiểu đoàn âm thầm theo dõi. Nhưng một khi cuộc giao tiếp hoàn tất giữa hai Tiểu Đoàn Nhảy Dù, đơn vị Việt Cộng này bị lọt vào trong xạ trường của Tiểu Đoàn 6 và ngay trọng tâm của ổ phục kích. Tiểu Đoàn 6 Dù khai hỏa, Cộng quân bị tấn công bất ngờ, không nơi ẩn núp bỏ chạy tán loạn làm bia cho các chiến sĩ Dù tác xạ. Sau khoảng một giờ giao tranh, lực lượng cộng quân bỏ chạy, gần 200 Việt Cộng bị hạ sát tại chổ. Sau Chiến thắng nầy, Thiếu Tướng Vĩnh Lộc, Tư Lệnh chiến trường đã bay ngay tới mặt trân trao gắng cấp bậc đặc cách mặt trận cho Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Văn Minh và cấp bậc Đại Úy cho 4 Đại Đội Trưởng cùng tưởng thưởng cho tất cả quân nhân ghi chiến tích trong TĐ6ND. Trong ngày 20/11, vào lúc 1745G, Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù được trực thăng vận thả vào Thung Lũng Ia Drang tại bải đáp Tee. Ngày 22/11, vào lúc 1100G, Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn Đăc Nhiệm và Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù cũng được trực thăng vận từ Đức Cơ thả xuống cùng địa điểm. Ngày 22/11, vào lúc 1330G, tại BCH hành quân, Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn Đặc Nhiệm đã thảo hoạch hành động chung cho các đơn vị Nhảy Dù. Ngày hôm sau 23/11 lúc 11.00 hai Tiểu Đoàn 7 và 8 dàn quân án ngữ mặt Bắc bờ sông Ia Drang. Trong khi đó Chiến Đoàn 2 dàn quân từ trên đỉnh núi về phía Nam sông Ia Drang, (tại bãi đáp Mary 231115H như ghi trên bản đồ). TĐ3ND được điều động lục soát về phía tay trái và Tiểu Đoàn 5 được phái về phía phải. Như vậy, lực lượng Nhảy Dù đã thiết lập trận thế để dẩn dụ địch quân vào các đường lối mà chúng ta đã dự liệu. Sáng ngày 24/11 Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù tiến quân về cánh trái, lục soát dọc theo khoảng giữa sườn núi và con sông Ia Drang. Lúc 08.45 giờ Tiểu Đoàn này báo cáo chạm mạnh với Tiểu Đoàn 635 thuộc Trung đoàn 32 tại ven bờ sông (tại 240845H như ghi trên bản đồ) Trong khi đó, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù tiến về phía phải đánh xuống mạn sông, đến lúc 1030giờ Tiểu Đoàn này cũng bắt đầu đụng độ với Tiểu Đoàn 334/32 CSBV (tại 241030H như ghi trên bản đồ) Sau cùng Tiểu Đoàn 6 còn lại từ trên lưng chừng đồi đánh thẳng xuống bờ sông. Cuộc giao tranh của các chiến sĩ Nhảy Dù và tàn quân của CSBV kéo dài tới 1 giờ trưa, địch quân tháo chạy. Những đứa thoát chết vứt bỏ lại súng ống vào bụi cây dọc theo đường mòn hay xuống lòng suối, quân sĩ ôm về từng bó súng ống chất thành đống. 19 Sau đó, Chiến Đoàn Nhảy Dù đã mở cuộc lục soát lùng kiếm các cơ sở địch trong vùng hành quân, Chiến Đoàn Nhảy Dù đã phá hủy 3 trung tâm huấn luyện, một kho dấu quân cụ và 75 căn nhà. Cuộc hành quân tiếp tục tìm và diệt cũng được thực hiện dọc theo sông Ia Drang tới biên giới Miên Việt nhưng chỉ có những đụng độ nhỏ với các phần tử Việt Cộng tản mác. Ngày 26/11/1965 vì không còn đụng độ với địch, Lực lượng Nhảy Dù rút ra khỏi vùng hành quân, chiến dịch Thần Phong 7 chấm dứt với 265 tên CS bỏ xác tại trận, bắt sống 10 tù binh, tịch thu 58 vủ khí đủ loại. Cuối cùng Mặt Trận B3 CSBV của Tướng VC Chu Huy Mân với ba Trung đoàn bị đánh vùi dập và xứt mẻ rút lui trong thế bại trận, bỏ lại hàng ngàn xác chết tại rặng núi Chu Prông và tại thung lũng Ia Drang. Trong số ba trung đoàn nầy, Trung Đoàn 33 là xấu số nhất và hứng chịu thất bại cay chua nhất: trung đoàn này cho mãi tới ngày 2 tháng 10 mới hoàn tất xâm nhập từ Bắc Việt (ngày khởi hành là khoảng từ 22 đến 25 tháng 7 năm 1965)! Trung Đoàn 66 bị chận đánh từ ngày 3 tháng 11 trong một ổ phục kích khi vừa mới bước chân vào Nam Việt Nam có hai ngày. Trung Đoàn 32 với kinh nghiệm chín tháng chiến đấu tại vùng Cao Nguyên cũng không tránh khỏi bị đánh bại mặc dù tìm cách lẩn trốn trong suốt cuộc săn đuổi của Sư Đoàn 1 Không Kỵ trong giai đoạn II Các Chiến Binh Nhảy Dù lùng và diệt địch trong rừng già Ia Drang Tổng kết tổn thất của Việt Cộng từ lúc khởi đầu chiến dịch 28/10 đến 26/11 năm 1965 tại Chu Prông đến Ia Drang là 2004 cộng quân bỏ xác tại trận, 2270 ước lượng xác mang đi, 1293 bị thương, 179 tù binh. Vũ khí bị tịch thu 169 súng cộng đồng ( chưa kể 2 khẩu đại liên và hai khẩu pháo cối 82 ly có chân đế sắt do Nhảy Dù bắt được lần đầu tiên) 1027 súng cá nhân.( Không kể 400 vũ khí khác bị phả hủy tại bãi đáp X-ray và Albany ). 20 Về phía Hoa Kỳ: tại X-Ray 79 chết, 121 bị thương. Tại Albany: 155 chết 124 bị thương. Tính chung cho chiến dịch Ia Drang ( không chỉ riêng cho các trận đánh nêu trên): 305 chết, 524 bị thương. Lần đầu tiên từ trận Điện Biên Phủ, các quân lính Cộng Sản không còn huênh hoang mình "vô địch" và hứng chịu một thất trận thê thảm trên chiến trường. Cũng là lần đầu tiên sự cuồng tín của quân lính Cộng Sản Bắc Việt bị bẻ gãy bởi một tình trạng suy thoái tâm thần nghiêm trọng. Một tù binh của tiểu đoàn 8 thuộc Trung Đoàn 66 (xâm nhập sau cùng) báo cáo là sau lần giao tranh ngày 17 tháng 11, đơn vị anh ta bị 30 chết, 50 bị thương và quan trọng hơn cả, 50 đào ngũ. Những tù binh khác của Trung Đoàn 32 vào cuối tháng 11 thú nhận là họ nghĩ là họ đã thua trận chiến. Các cán bộ của Trung Đoàn 33, bực dọc vì bị không yểm của ta nhắm bắn chính xác đã hội họp để điều tra điều gì khiến cho các phi vụ không kích chính xác và liên tiếp xảy ra: kết luận là chỉ có thể là gián điệp trà trộn trong bộ đội cung cấp cho các lực lượng của ta vị trí và di chuyển của các đơn vị trong trung đoàn.(thật sự là do các toán Biệt Cách Dù hành quân tàng hình giữa lòng địch, bám theo sát địch quân trong khi chúng di chuyển ) Chiến dịch Ia Drang đã đập nát tiềm năng quân sự của địch nhưng kết quả quan trọng nhất gặt hái được là đánh tan mộng chiến thắng và quyết tâm chiến đấu của địch quân. Tài liệu tham khảo : - Why Pleime - April 1966 ( Đòn Kết Liễu Tại Ia Drang ) của Thiếu Tướng Vĩnh Lộc trên trang nhà generalhieu.com - Thung lủng IA DRANG của Hà Kỳ Lam trên trang nhà Nguyệt San Đoàn Kết. - The Battle of Ia Drang From Wikipedia last modified 23:16, 29/11/2007. - Chiến tranh VN toàn tập 1963-1975 của Tiến Sỉ Nguyễn Đức Phương, Làng Văn xuất bản 2001. - It Doesn't Take A Hero cùa General H. Norman Schwarzkopf 1992 - Trận Đánh Thung Lũng Ia Drang? Trận Nào? của Nguyễn Văn Tín ngày 06/ 03/ 2008 trên trang nhà generalhieu.com - Phỏng vấn các chiến hữu Nhảy Dù.

Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật ở Mỹ: ví dụ ko có những 
làn đường dành riêng cho xe hơi như VN. Vì người đi xe máy cũng 
đóng thuế cầu đường như người đi xe hơi, do đó họ cũng có quyền 
lợi và trách nhiệm như người đi xe hơi. Riêng xe đạp phải chạy trên
 làn sát lề hay làn dành cho người đi xe đạp.Trên freeway, xe máy 
phân khối nhỏ ko được chạy vì chạy chậm, còn xe phân khối lớn 
thì OK.


 

Friday, December 30, 2022

Nhà Nước Pháp Quyền thời cổ Hy Lạp 

(Đọc để thấy cách đây trên 2.500 năm, nhà nước pháp quyền đã được áp dụng tại vùng đất nay là Hy Lạp; có những điều mà VN ngày nay chưa thể áp dụng vì sợ mất đặc quyền đặc lợi của giai cấp cầm quyền.-- Người dịch (ND).

Tạm dịch từ trang 5-7 của:

http://worldjusticeproject.org/…/history_and_importance_of_…

. . . 

Bằng chứng đầu tiên về một xã hội Âu Châu cai trị bởi luật - nghĩa là một xã hội trong đó luật lệ dưới dạng (ascribe) văn bản lâu bền/vĩnh cữu và công khai - đã có từ thời cổ Hy Lạp ở cuối TK thứ bảy và đầu TK thứ sáu trước công nguyên (cách đây khoảng 2022 + 600 = 2.622 năm -- ND). Một khi được viết ra giấy và mọi người dễ dàng truy cập (publicicly accessible), luật lệ của Hy Lạp không còn là đối tượng của diễn dịch tùy tiện (arbitrary) bởi một giai cấp có đặc quyền (giống như ĐCSVN -- ND). Một khi luật đã được viết xuống, người Hy Lạp đặt ra những trở ngại đáng kể cho những ai muốn thay đổi luật, và các tòa án Hy Lạp bị buộc phải áp dụng các văn bản về luật ngay cả đứng trước sự đối kháng/xung đột của những cân nhắc có vẻ hợp lý, ngang ngửa (even in the face of countervailing equitable considerations). 

Ít nhứt về lý thuyết, người Hy Lạp đã tin rằng luật pháp nên phổ thông và tổng quát (universal and general). Solon được nói đã lập một nhà nước tại Athens cung cấp "bình đẳng về luật pháp cho mọi hạng người," và nhà nước này được quản lý/cai trị bằng cách áp dụng những luật quen thuộc.

Mô tả một nhà nước Athens (thủ đô của Hy Lạp - ND) sau đó, Pericles nói rằng, "về mặt luật pháp, mọi người đều có địa vị như nhau đối với những tranh cải (dispute) riêng tư/cá nhân." Cuối cùng, người Hy Lạp ít nhứt đã công khai cấm đoán việc ban bố những luật lệ nhắm vào những cá nhân đặc trưng (specific individual) (giống như điều 88 của luật hình sự đối với các nhà hoạt động dân chủ tại VN -- ND).

Vừa hãnh diện và tuân thủ những luật lệ của họ, Herodotus đã khẳng định, "mặc dù tự do, người Hy Lạp đã ko tự do trong mọi thứ: họ có một ông chủ, đó là luật pháp," khiến họ sợ luật pháp hơn dân Ba-Tư sợ vị vua độc tài Xerxes của họ. "Sự tuân thủ/tôn trọng này đã bắt nguồn từ tư duy thực tế của người Hy Lạp rằng pháp quyền là cần thiết để thiết lập một xã hội thịnh vượng và công bằng. Plato đã mô tả một xã hội trong đó luật lệ trở nên bất lực khi đối diện sự suy đồi/thoái hóa (đang xảy ra tại VN ngày nay -- ND), tương phản với những điều tốt đẹp dành cho những xã hội trong đó "các quan tòa là đầy tớ của luật pháp" (chỉ xảy ra ở những nhà nước pháp quyền.-- ND). Demosthenes, nhấn mạnh sự nối kết giữa an ninh cá nhân của quan tòa, và thiện ý của họ nhằm duy trì luật lệ nhân danh kẻ khác. 

Aristotle còn nhấn mạnh rằng trong khi một thế giới hoàn hảo ko cần luật pháp, trong một thế giới ko hoàn hảo, công lý "chỉ có thể tồn tại giữa những con người mà quan hệ qua lại của họ điều tiết bởi luật pháp." Người Hy Lạp đã tin rằng mục đích chính của luật pháp nhằm thăng tiến điều tốt phổ quát (common good) (áp dụng cho mọi người-- ND), mặc dù họ đã công nhận rằng luật lệ, khi thực hành/áp dụng, thay vào đó, cũng thường được viết để đem lợi ích (advantage) cho những giai cấp có đặc quyền của xã hội. 

Các định chế chính trị của Hy Lạp đã giúp hỗ trợ pháp quyền. Ít nhứt, trong các đô thị dân chủ (democratic city), luật pháp đã xuất phát từ sự đồng thuận của người dân (popular consent). Dựa vào luật thành văn đã được ban bố rộng rãi trong dân, người Hy Lạp đã áp dụng để điều hành nhà nước. Hơn nữa, họ còn dựa vào một chính phủ liên hiệp (mixed) -- trong đó quyền lực phân chia giữa những nhóm đại diện cho những giai cấp khác nhau của quần chúng -- để tránh sự tập trung tất cả quyền lực vào một thực thể (một đảng hay một nhóm hay một phe phái .-- ND) và chận trước sự chuyên chế (absolutism). Nếu điều đó ko đạt được, người Hy Lạp công nhận tính chính đáng (legitimate) của việc chống đối sự chuyên chế (tyranny). (Nghĩa là dân có thể nổi dậy chống lại chính quyền .-- ND) 

. . . 

Aristotle nhấn mạnh rằng, vì những sai lầm ko thể tránh khỏi (inevitable infirmity) của người cầm quyền; luật pháp là tối hậu/tối cao: "Chúng ta ko cho phép một người nào đó cai trị dân ngoài luật pháp."

Lý thuyết của Aristotle về luật pháp rằng "luật pháp, chứ ko phải là người," đã đòi hỏi các quan tòa phải có một cá tính như sau - tính tình kiên định để hành động công bằng và theo đúng luật pháp . (Điều này khó áp dụng cho quan tòa dưới chế độ CS-- ND).

 Còn tiếp 

. . . 

Ngày 29/12/2016.

Ảnh 1: Đế quốc La Mã thừa kế những gì người Hy Lạp để lại. 

Hình 2-3: mô hình của thành phố La Mã thời đế quốc La Mã.

Hình 4: chú thích về các đền đài và lăng tẩm thời đó.

Hình 5: sân vận động Colosseum, xây vào thời hoàng đế Vespasian 72 sau công nguyên và hoàn thành năm 80 sau CN dưới thời Titus. Sức chứa từ 50 tới 80.000 khán giả, dùng làm nơi thi giác đấu (gladitorial test), tái phục các trận thủy chiến, trình diễn các vở kịch thần thoại cổ điển, v.v... Dù bị hư hại nhiều do động đất hay kẻ trộm tháo gỡ gạch đá, Colosseum vẫn là biểu tượng của La Mã thời Đế Quốc.

                                 





Dec 30 2016.

Hiệu đính ngày 30/12/2022. 

Wednesday, December 28, 2022

  

  My Authors

1 of XVIII: The Vietnam conflict wore many faces. One was the big battle (Hamburger Hill, Long Khanh, Khe Shan, etc.) amidst a campaign aimed at winning over the South Vietnamese people at the village and hamlet level.
2 of XVIII: While WWII was, in part, a collection of big battles, most of the Vietnam war was a daily attrition campaign marked by small engagements.
3 of XVIIII: Many accounts of that war overstate the impact of the fighting in the Au Sau Valley to the broader campaign.
4 of XVIII: The big battles such as Hamburger Hill, however, are relevant to our understanding of that war//Tuy nhiên, những trận lớn như Hamburger Hill lại thích hợp với hiểu biêt của chúng ta về cuộc chiên này.
5 of XVIII: Generals Westmoreland and Abrams recognized that the South could not be pacified or stabilized as long as main force North Vietnamese units continued to fight in the South.
6 of XVIII: Thus, big battles in which the North Vietnamese troops were forced to fight were important.
7 of XVIII: By now, hopefully (hy vọng rang) you’re seeing that the Ap Bia Mountain battle ran afoul (chạm vào)  of a fundamental warfighting principle.
8 of XVIII: Almost 150 years before @TheRakkasans climbed Hill 937, Prussian military theorist Carl von Clausewitz emphasized that war is controlled by its political object. See Uncle Carl’s quote on this. [In this case, the war's political object was a free & independent South]
9 of XVIII: The expenditure of effort at Hamburger Hill exceeded the value the American people attached to a free & independent South Vietnam in 1969. Remember, much of the public turned against the war in early 1968 during and after the Tet Offensive.
10 of XVIII: There were good reasons for the operation on Dong Ap Bia and we’ve outlined all of them here over the past few days (the biggest reason: the linkage of the Au Shau Valley to Laos & the Ho Chi Minh trail). [image c/o of @erikhistorian]
11 of XVIII: A stable South probably could not be realized w/o US and ARVN forces taking Au Shau Valley from the North. Some historians argue that the area was likely to serve as a jumping off point for another Northern offensive.
[image c/o of @erikhistorian]
12 of XVIII: Remember, the North Vietnamese regulars had used the valley for years as a marshaling area, logistics depot and jumping-off place for attacks against Hue, Danang and the coastal towns and villages of South Vietnam.
13 of XVIII: Early on in the fighting, the @101stAASLTDIV found evidence of a sophisticated communications system & a network of bunkers. They also found documents indicating that the 29th PAVN Regiment's command and control center was on the hill.
14 of XVIII: Given all of this context, @USArmy leaders can hardly be faulted for investing in the hill.

The subsequent criticism leveled at the command may be overstated. So, too, may be the importance we place on Hamburger Hill in shaping President Nixon's decisions.
15 of XVIII: The claim that intense public reaction to Hamburger Hill forced Nixon to end of major tactical ground operations exaggerated. Pressure was building on Nixon to end the war since he took office in Jan. 1969. Also, Tet was much more damaging to US support for the war.
16 of XVIII: That pressure gained strength almost 2 years after Hamburger Hill with the @NYTimes’ publication of front-page articles on the Pentagon Papers in January 1971.
17 of XVIII: We should not overstate Hamburger Hill’s significance in forcing an end to US support for the war. After all, American troops remained in Vietnam for almost 4 years after abandoning the hill.
XVIII of XVIII: The legacy of Hamburger Hill – like much of that war itself - is encrusted in myths and covered in inaccuracies. We hope to have corrected some of those here.
5/ Các tướng Westmoreland và Abrams đã nhìn nhận rằng miền Nam ko thể bình định hay ổn định một khi (as long as) các đơn vị chánh qui của Bắc VN tiếp tục chiến đấu ở miền Nam.6/ Do đó (thus), những trận đánh lớn mà các đơn vị Bắc VN bị-buộc-phải- chiến-đấu rất quan trọng.7/ Giờ đây, hy vọng rằng (hopefully) các bạn sẽ thấy trận Núi Ấp Bia chạm vào (run afoul) một nguyên tắc căn bản của chiến đấu.8/ Gần 150 năm trước khi các Rakkasan* trèo lên Đồi 937, lý thuyết quân sự người Phổ Carl von Clausewitz đã nhấn mạnh rất chiến tranh được khống chế bởi các mục tiêu chánh trị. (Trong trường hợp này, mục tiêu của chính trị của cuộc chiến này là một miền Nam độc lập và tự do).* Trung đoàn 187 của sđ 101 Dù có biệt danh Rakkasan (tiếng Nhật có nghĩa là "nhảy dù"). Đây là đv duy nhứt đã nhảy dù xuống Okinawa năm 1945. 9/ Phí tổn của cố gắng chiến tranh ở Đồi Thịt Bầm đã vượt quá giá trị mà dân Mỹ đặt ra cho một Nam VN tự do và độc lập năm 1969.Nên nhớ, phần lớn công chúng Mỹ đã chống đối cuộc chiến vào đầu 1968 trong và sau Tổng công kích Tết.

Monday, December 26, 2022

 Lee = 355 = 13 = 4

Byung-chul = 21653 - 3563 = 34 = 7

samsung = 3143653 = 25 =

 SAMSUNG = 3143653 = 25 = 7