Tuesday, December 6, 2022

 

Nguồn gốc danh từ ‘Mạnh Thường Quân’

30/03/2015 Cổ Học Tinh Hoa 915 lượt xem

Chúng ta thường gọi những người hay làm từ thiện là các nhà Mạnh Thường Quân. Câu chuyện cổ về nguồn gốc của danh từ này là một bài học quý, đáng để suy ngẫm.

Nguồn gốc tên gọi Mạnh Thường Quân
‘Mạnh Thường Quân’ là danh từ chỉ người làm việc thiện.(Fotolia)

Mạnh Thường Quân là một người nghĩa hiệp thời Chiến Quốc, có tên là Điền Văn, làm tể tướng của nước Tề, được vua Tề phong ấp ở đất Tiết. Trong phủ ông luôn nuôi trên 300 thực khách, tính ông lại rất rộng rãi, thường đem tiền cho người khác vay mượn. Vì thực khách mỗi ngày một đông, số tiền chi tiêu không đủ, nên một hôm ông sai một thực khách là Phùng Hoan đi qua đất Tiết đòi nợ.

Trước khi lên đường, Phùng Hoan hỏi Mạnh Thường Quân: “Khi thu được tiền nợ, tướng công có cần mua gì về chăng?”

Mạnh Thường Quân đáp: “Xem trong nhà thiếu gì thì mua”.

Khi đến đất Tiết, Phùng Hoan triệu tập dân đến tụ họp và nói:

“Hôm nay ta đến đây không phải là đòi nợ, mà là đến báo một tin mừng, chủ ta là Mạnh Thường Quân nói tiền nợ của quý vị phụ lão đã vay mượn đều khỏi trả, nên hôm nay sai ta đến đây để hủy bỏ tất cả những khế ước mà quý vị đã lập trong lúc vay mượn”.

Phùng Hoan nói xong, liền đem khế ước vay nợ của dân Tiết mang ra xé hết và đốt trước mặt mọi người. Khi đốt xong. Phùng Hoan từ giã dân Tiết, trở về báo cùng Mạnh Thường Quân.

Thấy Phùng Hoan về đến nhà, Mạnh Thường Quân hỏi:

“Thu nợ xong rồi có mua gì về chăng?”

Phùng Hoan đáp:

“Trước khi đi tôi đã xem xét kỹ lưỡng, thấy nhà của tướng công ngọc ngà châu báo chứa đầy kho, người đẹp đầy nhà, chó ngựa cũng đầy chuồng, chẳng thiếu gì hết. Chỉ có chữ  nhân nghĩa là chưa đủ, nên hôm nay đi đòi nợ tôi đã dùng số tiền đó mua chữ nhân nghĩa cho tướng công rồi”.

Mạnh Thường Quân nghe Phùng Hoan nói xong, trong lòng biến sắc:

“Ta vì lo sợ trong nhà khách đông, bổng lộc không đủ chi tiêu mới sai tiên sinh đi thu nợ, nay tiền không thu được lại đem giấy nợ mang đi đốt, sau này chi tiêu không đủ thì thực khách sẽ bỏ ta mà đi hết, như thế gọi là mua nhân nghĩa hay sao?”

Phùng Hoan đáp:

“Đất Tiết là đất thế phong của tướng công, nhân dân đó sẽ là người cùng nhau sẻ ngọt chia bùi với tướng công. Nay kẻ hèn này mạo muội đốt bỏ giấy nợ, mục đích là để dân đất ấp biết cái đức của tướng công là trọng người khinh tài, như thế lòng nhân nghĩa của tướng công sẽ được truyền đi khắp nơi, đó là giúp tướng công thu phục nhân tâm vậy”.

Về sau, Mạnh Thường Quân bị người gièm pha, bị vua Tề thu hồi ấn tướng và đuổi vế ấp Tiết. Dân ấp Tiết nhớ ơn xưa, trăm họ già trẻ đều dìu nhau, xếp hàng trăm dặm mà nghênh tiếp, Mạnh Thường Quân nhìn thấy cảnh này mới nói với Phùng Hoan:

“Ý nghĩa mua nhân nghĩa của tiên sinh, đến bây giờ ta mới rõ”.

Thí ơn cho người, người sẽ ghi lòng tạc dạ, cảm nghĩa đời đời.

Nguồn gốc tên gọi Mạnh Thường Quân
Người đất Tiết, già trẻ lớn bé xếp hàng trăm dặm mà nghênh đón vị ân nhân Mạnh Thường Quân.

Câu chuyện này rất nhiều người đều biết, qua đó sự đa mưu túc trí và tầm nhìn xa trông rộng của Phùng Hoan khiến người ta cảm phục. Mạnh Thường Quân không thiếu thốn gì về vật chất, nhưng ông ta thiếu một chút ‘nhân nghĩa’, Phùng Hoan đã nhìn ra được thứ mà tương lai khi thế sự thay đổi hoặc chủ nhân thất thế có thể dùng đến.

Một trí giả hiểu rằng trời đất phong ba bão táp khó lường, con người có lúc thăng lúc trầm, cho nên khi có điều kiện thì phải biết tích đức hành thiện, phòng khi biến cố thì vẫn có thể bình an. Cho nên Phùng Hoan đã để lại cho chủ nhân của mình một con đường ‘nhân nghĩa’.

Trong lịch sử Trung Quốc, những trí giả như Phùng Hoan nhiều như sao buổi sớm, rất nhiều câu chuyện về họ còn lưu lại để truyền dạy người đời cách sống cho phải Đạo.

Cái tên Mạnh Thường Quân từ đó mà được dùng để chỉ những nhà hảo tâm, làm việc thiện vì người mà gây dựng đạo nhân nghĩa, Thần linh vì thế mà luôn phù hộ, độ trì.

Theo Minhhue

BÀI XEM NHIỀU - CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Cái chết của Giang Trạch Dân: ‘Kẻ sát nhân hung tàn cuối cùng đã chết, sứ giả của địa ngục sẽ nghênh đón ông’

01/12/22, 06:23 Trung Quốc

Sau khi truyền thông đưa tin về cái chết của cựu lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) Giang Trạch Dân, người dùng của nhiều nền tảng mạng xã hội đã bình luận rằng, thế thì ‘Quá hời cho ông ta’, ‘Tội ác chồng chất, có chặt hết tre làm sách cũng không ghi xuể’… 

Giang Trạch Dân, cựu lãnh đạo ĐCSTQ. (Ảnh: Internet)

Theo Epoch Times Tiếng Trung, tin tức về cái chết của cựu lãnh đạo ĐCSTQ Giang Trạch Dân tối qua (30/11) đã được nhiều người dùng mạng xã hội bình luận sôi nổi. 

Theo đó, sau khi Tân Hoa Xã công bố thông tin Giang Trạch Dân đã qua đời tại Thượng Hải lúc 12h13 ngày 30/11 (theo giờ địa phương), do bị bệnh bạch cầu và suy đa tạng, mạng xã hội Twitter ở nước ngoài đã nhanh chóng xuất hiện những cuộc thảo luận. 

Không ít cư dân mạng có chung suy nghĩ, bình luận rằng: 

– “Kẻ sát nhân hung tàn cuối cùng đã chết, sứ giả của địa ngục sẽ nghênh đón ông”

– “Tên đao phủ chuyên đàn áp giết hại nhân dân lại sống tới 96 tuổi”

– “Cuối cùng cũng chết! Khắp chốn mừng vui!”

 “Nhiệt liệt chúc mừng lão cóc già xuống địa ngục! Trời diệt ĐCSTQ”

 “Tội ác chồng chất, có chặt hết tre làm sách cũng không ghi xuể tội lỗi của ông ta”

– “Rất nhiều người ở Trung Quốc đang ăn mừng, đốt pháo, phát bao lì xì, phát những bài hát chúc ngày tốt lành. Có người còn mong chờ những ngày tốt lành như vậy tới thêm vài lần nữa…”

– “Tên ma đầu này phải xuống 19 tầng địa ngục, không bao giờ được đầu thai, phải chịu đau đớn vô tận”

– “Suy nghĩ đầu tiên của tôi là quá hời cho ông ta, so với những học viên Pháp Luân Công bị bức hại thì… À! Tôi quên mất là có một thế giới khác đang đợi ông ta, cánh cổng địa ngục đang đợi ông ta”…

Cựu lãnh đạo ĐCSTQ Giang Trạch Dân là thủ phạm chính trong cuộc đàn áp môn tu luyện ôn hòa Pháp Luân Công, hay còn gọi là Pháp Luân Đại Pháp. Ông ta đã bị Tổ chức Quốc tế Điều tra Cuộc đàn áp Pháp Luân Công (WOIPFG) ở hải ngoại truy xét trách nhiệm. 

Ngày 10/6/1999, Giang Trạch Dân thành lập ‘Phòng 610’, cơ quan đứng trên cả pháp luật và chuyên trách đàn áp Pháp Luân Công.

Tới ngày 20/7/1999, Giang và ĐCSTQ đã phát động cuộc đàn áp Pháp Luân Công trên khắp Trung Quốc, sử dụng mọi thủ đoạn và bộ máy nhà nước để bức hại dã man các học viên Pháp Luân Công. Cuộc bức hại này vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Hàng trăm triệu học viên Pháp Luân Công đã bị giam giữ phi pháp, bị lao động cải tạo, bị kết án tù, bị đánh đập đến chết, bị thương, gia đình tan nát, vợ con ly tán.

Tập đoàn Giang Trạch Dân còn mổ cướp nội tạng của các học viên Pháp Luân Công còn sống, đây được gọi là ‘tội ác chưa từng có trên hành tinh này’.

Về tội ác mổ cướp nội tạng, một số cư dân mạng bình luận như sau: 

– “Bao nhiêu sinh mạng đã bị giết, bao nhiêu nội tạng đã bị cướp đi, tôi cảm thấy vô cùng bi thương và cảm thán: ‘Tại sao… tại sao lại chết muộn như vậy, tại sao chỉ chết một mình ông ta!!!'”

– “Cuối cùng cũng chết rồi, nạn buôn người và cấy ghép nội tạng cuối cùng cũng có thể dừng lại một thời gian”

– “Thay nội tạng quá nhiều, cuối cùng cũng báo ứng”…

Theo Epoch Times

Tên lửa sát hạm của Trung Quốc có sức mạnh đáng sợ như thế nào?

  • Những hình ảnh khó tin Tổng thống nghèo nhất thế giới

    Những hình ảnh khó tin Tổng thống nghèo nhất thế giới

  • TT Trump gặp gỡ người tập Pháp Luân Công và các nạn nhân bị đàn áp tôn giáo

    TT Trump gặp gỡ người tập Pháp Luân Công và các nạn nhân bị đàn áp tôn giáo

  • Bao lâu rồi bạn chưa trò chuyện với bố?

    Bao lâu rồi bạn chưa trò chuyện với bố?

  • Bí ẩn cao tăng Ấn Độ thọ 1072 tuổi

    Bí ẩn cao tăng Ấn Độ thọ 1072 tuổi

  • Sự tích thần kỳ về thần y Tôn Tư Mạc

    Sự tích thần kỳ về thần y Tôn Tư Mạc

  • Lãnh đạo nhiều quốc gia phải cúi đầu nể phục Donald Trump vì 2 điều này

    Lãnh đạo nhiều quốc gia phải cúi đầu nể phục Donald Trump vì 2 điều này

  • Chiến tranh thế giới thứ 3 suýt nổ ra: Nếu không có vị anh hùng thầm lặng này

    Chiến tranh thế giới thứ 3 suýt nổ ra: Nếu không có vị anh hùng thầm lặng này

  • Hacker tiết lộ Sự thật ngày 11/9 và chính phủ ngầm ở Mỹ

    Hacker tiết lộ Sự thật ngày 11/9 và chính phủ ngầm ở Mỹ

  • Lòng trung thực đáng giá bao nhiêu?

    Lòng trung thực đáng giá bao nhiêu?

Sunday, December 4, 2022

         Chuyện Kỷ Niệm 40 năm trận chiến  

                Khánh Dương tháng 3 1975

 

                Ai về Dục Mỹ Buôn Ma Thuột
          Nếu có dừng chân ghé Khánh Dương
                                                        Chậm chân người hởi nhè nhẹ bước
                   Kẻo đạp lên mình các bạn tôi.

                  Ngày nào sinh tử thề hẹn ước.
                  Sao đành để lại một mình tôi
                 Đã mấy ĐÔNG về Anh vẫn đợi
                Là bấy XUÂN qua thấy thẹn lòng

 

                           Mũ Đỏ Cù Lũ Nhí

      Từ trước tới giờ có rất nhiều bài viết nói rằng Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Nhảy Dù tham chiến Khánh Dương. Thật sự là Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù mới là Tiểu Đoàn tham dự trận Khánh Dương. Có rất nhiều người biết, nhưng không có ai đính chính chắc tại vì cùng là Nhảy Dù cả ai cũng vậy thôi. Nhảy Dù luôn nêu cao tinh thần đồng đội đó là truyền thống của Binh Chủng Nhảy Dù. LĐ3/ND đổ quân vào Khánh Dương trên hai chiếc Dương Vận Hạm. Theo đích thân Tố Quyên thì chiếc Dương Vận Hạm LST 404 chở các TĐ 2, 5, 6 và ĐĐ3 Trinh Sát /ND. Còn chiếc Dương Vận Hạm LST 504 chở BCH/LĐ3, các ĐĐ Công Binh, Công Vụ,Truyền Tin và TĐ2 Pháo Binh Nhảy Dù. Chiếc LST 404 chở quân tới trước. Anh em Nhảy Dù ở trên đó cũng khá lâu trước khi xuống cảng vào sáng sớm. Phía Hải quân cho người nhái và tàu nhỏ vây quanh LST 404, quăng lựu đạn liên tục xuống nước đề phòng đặc công VC.

Trời gần sáng thì TĐ 2, 5, 6 và ĐĐ 3 Trinh Sát đổ quân xuống Cầu Đá. Tôi gặp lại MĐ Liễu Hùng Nghị SQ/Tiền Sát/TĐ5 (không nhớ đề lô cho ĐĐ nào) người bạn cùng khóa TĐ16 Đồng Đế, cùng khóa Dù 329, cùng khóa CBSQ/PB lần cuối gặp nhau ở cây số 17 Huế. Tụi tôi rủ nhau ra ngoài uống cà phê.

           Hai thằng sĩ quan nhỏ xíu mang 2 cây Colt 45 xệ xệ đi bộ ra ngoài cổng. Quân Cảnh có hỏi nhưng rồi cũng cho hai đứa ra. Chúng tôi lựa quán đối diện cổng có hai cô bán hàng khoảng tuổi 17,18t ngồi xuống uống cà phê tán dóc với hai cô. Thì ba của hai cô bước ra . Khi biết chúng tôi là Nhảy Dù từ Đà Nẵng về. Ông không nói gì cả mà đi vào trong.Một lát sau ông lái chiếc La Dalat ra kêu 2 cô gái nói gì đó tôi không nghe. Tán dóc với 2 cô khoảng 15 phút tôi đứng dậy tính tiền,nhưng 2 cô nói : Hai anh đợi ba em một chút ,còn tiền cà phê ba em dặn không được lấy.Chúng tôi ngồi xuống tiếp tục tán dóc không quên lợi dụng cơ hội xin tên và địa chỉ để nếu có dịp ra thăm hay thư từ làm quen.

            Một lát xe La Dalat về không phải một xe mà là 3 chiếc trên xe đầy những bánh mì,thuốc lá , đồ hộp v.v. toàn là đồ ăn liền . Ông nhờ tụi tôi chuyển vào trong cho anh em Nhảy Dù. Không có gì là cảm động hơn ,tôi ko nói được lời gì cả. Cái gì đó nghẹn trong cổ họng của mình.Một lát tôi mới có thể nói :Chuyện nầy để cháu dẫn chú vào gặp cấp cao hơn vì tụi con không có thẫm quyền. Sau khi cảm ơn 2 cô chúng tôi dẫn ông về cổng và trình bày sự việc . Xong chúng tôi chào ông về lại đơn vị của mình .Một lát sau bánh mì ,thuốc lá ,đồ hộp được phát ra cho anh em..

             Không những vậy khi đoàn GMC chở LĐ3/ND đi qua thành phố Nha Trang tiến về Dục Mỹ thì rất là nhiều đồ đa số là thuốc lá từng cây ,từng gói một quăng lên xe cho anh em .Không thể diển tả được tình cảm mà đồng bào Nha Trang dành cho anh em Nhảy Dù .Bao nhiêu mệt mỏi ,thất vọng,bất mản vì tưởng được về Sài Gòn sau cuộc hành quân đầy gian nan,vất vả tại Thường Đức tan biến hết .Anh em LĐ3/ND vào Khánh Dương với quân số hao hụt nhưng khí thế hào hùng chưa từng có . LỰC BẤT TÒNG TÂM, SỨC NGƯỜI CÓ HẠN . Mũ Đỏ LĐ3/ND đã làm hết những gì có thể.Máu của anh em đổ tràn trên đèo Phượng Hoàng để đền đáp ân tình mà người dân Nha Trang đã dành cho họ. 


               Tôi được lảnh lương tháng 3, tháng lương cuối cùng của đời lính ở đèo Phượng Hoàng trước khi cuộc chiến xảy ra .Lãnh lương có tiền tôi rủ Hiệp và Hùng 2 khinh binh Tr/Đội4/ĐĐ21 ra Dục Mỹ chơi. ĐĐ21/TĐ2 đang đóng an ninh cho Pháo Đội C2/TĐ2/PB/ND. Chúng tôi quá giang được xe GMC về Dục Mỹ, trên xe có khoảng 10  Nhảy Dù của các TĐ/ND, tôi có cấp bực lớn nhất. Xe ngừng ngay tại chợ Dục Mỹ. Chúng tôi vừa xuống xe thì từ trong quán nước bên đường một ông mặc đồ Dù hai bông mai đen một gạch dưới vẩy tay gọi lại đây lại đây. Tôi mặt mày xanh lè, kỳ nầy là tiêu rồi. Nhanh như con sóc tôi la lên: "Tất cả tập họp, anh em sửa sang lại quân phục. Hiệp làm chuẩn một hàng ngang trước mặt ông. Ch/U Nguyễn Phạm Phúc SQ: 75/118249 trưởng toán 9 người trình diện Tr/Tá chờ lệnh". Tôi la to và rỏ ràng từng chữ một cả chợ cũng còn nghe.Ai cũng quay lại nhìn chúng tôi chắc rất ư là khâm phục quân phong, quân kỷ của Nhảy Dù. Trúng tâm lý ông hiền từ hỏi: Đi đâu vậy ? Sao tóc dài vậy. Tôi trả lời :Thưa Tr/T tụi em xuống chơ hớt tóc và mua ít đồ . Ông bảo :Nhớ về đơn vị sớm .Tôi mừng hơn bắt được vàng trả lời dạ, rồi đàng sau quây hô to :Tan hàng cố gắng rồi dọt lẹ,hú hồn. Nhưng vẫn nhớ bảng tên Phát đó là Tr/Tá Phát LĐT/LĐ3/ND.

                   Chúng tôi ăn sáng ở Câu Lạc Bộ A của Trường Pháo Binh ,xong ra chợ Dục Mỹ mua đồ và uống cà phê.Cô Loan chủ quán nhận ra tôi ngay .Trước đây 7 tháng tôi là khách hàng thường trực của cô khi học CBSQ/PB. Cô có dáng người cao nước da trắng của con gái Đà Lạt,

 Ở tới chiều chúng tôi đón xe về lại Đơn Vị. Tối đó thiết giáp rút lui, không hiểu tại sao lại bắn loạn xạ hai bên đường như sợ bị phục kích làm chết và bị thương lính của TĐ6. Tờ mờ sáng ĐĐ21 được lệnh hành quân. Ai rút không biết chứ ĐĐ21 tiến lên giải vây cho TĐ6/ND đang bị tấn công. Tr/Uý Hà ĐĐT/ĐĐ21 điều các trung đội tấn công với pháo binh yểm trợ. Đóng quân trên đỉnh đồi nhỏ cách Quốc Lộ 21 khoảng trăm mét sau lưng BCH/TĐ6, tôi bắn pháo vào cứ điểm xung quanh Buôn Ea Thi bên kia đường, đạn nổ từng tràng ngăn các cuộc tấn công. VC mấy lần bắn sẻ bằng CKC, tôi suýt chết trong gang tấc. Tr/Úy Hà cho Hiệp khinh binh bò lên nhưng bị một CKC khác bắn bể tay cầm M16. VC ở khắp nơi tấn công nhưng không làm gì được phòng tuyến vẫn vững vàng. Nhưng VC không để yên cho các căn cứ Pháo của ND. Với quân số đông áp đảo, họ dể dàng bọc hậu, xuyên hông tấn công các căn cứ PB/ND. Không có quân tác chiến bảo vệ căn cứ PB/ND đều bị tràn ngập. Sau đó VC không đánh ĐĐ21 nữa mà đi vòng qua chúng tôi xuống Quốc Lộ 21 về Nha Trang, đi từng đoàn trên quốc lộ như đi diển hành theo đội hình thiết giáp và bộ binh tùng thiết.

       Tr/U Hà ĐĐT21 phải cho mở đường máu xuống núi, Hiệp khinh binh dẫn đầu ĐĐ21 chỉ với BCH và Trung Đội 4 tràn xuống băng qua quốc lộ hội quân với BCH/TĐ6/ND của Tr/T Thành TĐT/TĐ6. Vừa tấn công xông qua được quốc lộ tôi nghe tiếng của Th/Sỉ Hùng Thường Vụ ĐĐ21: Pháo Binh có đây không? Vì sợ tôi theo không kip. Đó là lần cuối cùng tôi nói chuyện với Th/Sỉ Hùng (Th/Sỉ Hùng đã vỉnh viển ở lại cùng với rất nhiều anh em khác). Hiệp khinh binh chạy theo dụ́i vào tay tôi cây AK47 bá xếp và bảo: Ông giữ phòng thân khi nào về Nha Trang bán lấy tiền xài rồi cười ha hả. Chưa chi mà đã lo sợ về Nha Trang không có tiền xài. Trên nét mặt của người lính ĐĐ21 không có chút gì là lo lắng hay sợ sệt, họ kỷ luật, hồn nhiên như là đang tham dự hành quân thao dợt. ĐĐ21 và BCH/TĐ6 cắt rừng, lội suối, nhổ chốt hướng về Dục Mỹ. VC phản ứng không kịp trong 2 ngày đầu rồi cái gì tới thì phải tới. Khi gom đủ quân VC bao vây và tấn công ĐĐ21 và BCH/TĐ6. Quân số ít ỏi, không liên lạc, tiếp tế, thiếu đạn dược và yểm trợ tan hàng là điều không tránh khỏi. Ngày 2 tháng 4 năm 1975 ĐĐ21 và BCH/TĐ6 tan hàng. Tr/T Thành, TĐT/TĐ6, Tr/U Hà ĐĐT21 bị bắt.

       ĐĐ21 và BCH/TĐ6 bị phục kích vào rạng sáng ngày 2 tháng 4 năm 1975. Sau đợt tấn công đầu tiên và bất ngờ của VC vào đội hình ĐĐ21 anh em hy sinh rất nhiều. Tr/u Hà sắp xếp lại đội hình ra lệnh chiếm cao điểm vì ĐĐ21 đang ở triền suối. Tôi theo Tr/u Hà xung phong lên chiếm cao điểm, cây AK của Hiệp bây giờ mới hửu dụng. Tôi làm một tràng lấy tinh thần rồi theo chân Tr/u Hà và Trung Đội 4. AK, lựu đạn rải theo tôi phóng người nằm bẹp dưới gốc cây. Trái lựu đạn bay bổng rớt lăn trước mặt chừng 3 mét. Vì đang trên đà phóng người tới té xấp cạ̣nh gốc cây nên tôi bất lực khi thấy lựu đạn. Lấy tay ôm mặt dí người sát đất. Ầm tôi mở mắt ra sau tiếng nổ, thấy xác Việt Tr/Đội 4 gục xuống.Việt cũng xung phong cũng trên đà phóng người tìm chổ ẩn núp vô tình đè trên trái lựu đạn hoặc là che mảnh cho tôi. Sống chết số trời. Tôi định thần nhìn qua thì không thấy Tr/u Hà đâu nửa chắc là đã lên tới đỉnh rồi. Tôi dạt qua trái cùng anh em. AK lại nổ nhiều anh em dính đạn ngả gục. Tôi đáp trả siết cò hết luôn băng AK và dọt vào bụi rậm cắt đường xuống suối trở lại. Súng vẫn nổ dòn khắp nơi. Tôi men theo suối theo sau là 3 ND. Mà lạ lùng càng xuống suối tiếng súng càng xa lần chúng tôi tiếp tục đi. Tôi tìm một chỗ kín đáo gần con suối, cả 4 người núp mình vào đó đợi trời tối sẽ̉ đi. Một lát sau chúng tôi nghe nhiều tiếng con gái giọng Bắc nói chuyên hình như đang lấy nước và giặt đồ. Thì ra chổ nầy là hậu cần của VC. Chúng tôi đã vô tình lọt vào ổ VC mà chúng cũng không ai ngờ là có 4 ND đang nằm kế bên. Đúng là chổ nguy hiểm nhất là chổ an toàn nhứt.

      Rừng già nên trời tối rất nhanh. Học bài học xương máu vừa qua nên tôi quyết định đi sâu vào rừng càng xa Quốc Lộ 21 càng tốt trước khi đi xéo về Dục Mỹ. Tôi chọn Dục Mỹ vì bản đồ tôi cầm chỉ tới đó thôi biết đi đâu bây giờ và lúc nào cũng nghĩ Dục Mỹ đang là tuyến chiến đấu vì có cả 3 Quân Trường ở đó (QT Pháo Binh, QT Lam Sơn, và QT Biệt Động Quân). Bỏ lại cây AK mà Hiệp đưa hết đạn rồi, hỏa lực còn lại 2 M16 với 2 băng đạn và Colt 45. Tôi dẫn đầu với chiếc la bàn trong tay người sau vịn vai người trước. Trời tối đen như mực chúng tôi lên đường. Đi suốt đêm tới trời sáng, cẩn thân băng qua trảng tranh lớn tôi hối đi nhanh để vào lại trong rừng thì nghe tiếng gọi Nhảy Dù, Nhảy Dù. Xa chừng khoảng 30 mét là hai bộ đồ ND đứng lên từ bụi cây thấp kêu chúng tôi. Đó là 2 ND của TĐ5 thất lạc mấy ngày rồi gặp chúng tôi nên mừng lắm. Thế là chúng tôi có 6 người 2 TĐ2 ,2 TĐ5 và 2 TĐ6 và thêm 1 con chó nhỏ. Chúng tôi đi không nghỉ để chạy với thời gian. Đi không kể ngày đêm khi mệt hoặc đói thì nghỉ nấu cháo húp mỗi người một ít xong cứ thế mà đi không hề biết ngày giờ chi cả. Dọc đường chứng kiến xác của anh em ND rải rác khắp nơi. Tôi cẩn thận tháo thẻ bài cất giữ để khi về được Dục Mỹ thì báo tin đã gần chục cái .Lương thực thì chỉ có 2 bịch gạo tươi mà Nương đệ tử đã nhét vào túi cho tôi. Còn 2 đệ tử Nương và Hồng theo tôi không biết giờ nầy ở đâu đã lạc từ cú "tấp pi" đầu tiên của VC, chắc là theo Tr/uy Hà. Hai bịch gạo và 1 con chó là lương thực của 6 người chúng tôi và đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi ăn thịt chó. Một ngày vào buổi trưa chúng tôi nghe nhiều tiếng trực thăng bay trên đầu như là đang đổ quân tuy không cách nào liên lạc được nhưng lại tăng niềm tin cho chúng tôi. Tôi cắt xéo đường hướng về Dục Mỹ và cuối cùng cũng tới .

      Từ trong rừng trên cao nhìn xuống Dục Mỹ sao im lìm quá không giống như đánh nhau. Và tôi cũng không nghe tiếng pháo binh từ lâu lắm rồi. Chúng tôi vẫn đổ xuống Dục Mỹ vào buổi sáng sớm, lẻn vào một chòi canh rẩy của ai đó. Chúng tôi nhổ khoai mì nấu ăn xong lại tiếp tục vào rừng đi bọc vòng qua hướng khác.Tôi đã đoán được chuyện gì đã xảy ra với Dục Mỹ. Đói khát tả tơi chúng tôi lại xuống làng, lần nầy tôi quyết định xuống vào buổi chiều để tối đột nhập vào làng gặp dân hỏi thăm tin tức và tính đường khác chớ không thể ở mã̉i trong rừng được. Cũng như lần trước 4 người canh 2 người nấu. Ăn xong trời chưa tối chúng tôi nằm nghỉ rồi ngũ quên lúc nào không biết. Cái gì đó chọt vào ngực làm tôi thức dậy hai họng súng AK đang chỉa vào tôi. Hai ba người đè tôi xuống và trói chúng tôi lại. Khi biết tôi là sỉ quan, người cán bộ trung niên tới hỏi đơn vị và cấp bực rồi dẫn chúng tôi ra ngoài lên xe Lam chở về chợ Duc Mỹ. Chúng tôi bị bắt bởi đơn vị quân dân mới thành lập ở Dục Mỹ nên cũng dể thở. Họ bỏ chúng tôi ngay chợ Dục Mỹ Ngay lúc đó có vài tên đơn vị chánh qui mặc dồ xanh đi qua, chúng chửi thề giọng Bắc gầm gừ như muốn ăn tươi nuốt sống chúng tôi." Địt Mẹ làm sao tụi bây xuống tới đây được." Dân chúng bu lại rất đông nhìn chúng tôi như che chở. Người cán bộ trung niên nói gì với tụi chính qui, mấy tên đó hậm hực bỏ đi. "Mấy anh ăn gì chưa để em nấu mì cho mấy anh "-- tiếng người con gái nghe quen quen. Tôi nhìn lên thì ra là CÔ LOAN chủ quán cà phê mà tôi quen. Người cán bộ trung niên không nói gì. Im lặng là đồng ý Chúng tôi được đưa vào tru sở nhìn vào tấm lịch treo tường NGÀY 9 THÁNG 4 NĂM 1975. Chúng tôi đã 7 ngày lang thang trong rừng kể từ ngày xa đơn vị. Cô Loan mang lại cho chúng tôi 6 tô mì và nước uống. Riêng tôi là ly chanh đường quen thuộc mà tôi thường gọi khi tới quán CÔ uống nước vì tôi không biết uống cà phê, và nhiều miếng thịt bò nằm dưới đáy tô mì. Ôi kỷ niệm không bao giờ quên được của những ngày cuối tháng 3.

Tặng và Tưởng Nhớ Các Bạn Tôi Những Người Một Lần Áo Hoa và Mủ Đỏ



 


                                                                                  Dạo đó anh đi mười bảy tuổi

                                                                              Thiên Thần Mũ Đỏ Xứng đời trai

                                                                                   Vũ trụ mình ta chân đạp gió

                                                                                   Không gian lơ lửng bắt mây trôi

                                                                                   Ngang dọc tung hoành vùng hỏa tuyến

                                                                                   Giữ yên bờ cỏi đất Phương Nam

                                                                                   Thần Kinh thương nhớ tình lưu luyến

                                                                                    Đồng Khánh trường tan má đỏ hồng

                                                                                    Anh rời Hiệp Khánh vào chiến địa

                                                                                    Phong Điền nối tiếp Động Ông Đô

                                                                                   Thường Đức vang danh quân giặc khiếp

                                                                                    Vu Gia vượt sóng giữ sông xanh

                                                                                     Một không sáu hai đầy xác cộng

                                                                                    Sư ba lẻ bốn chốc tan tành

                                                                                    Mùa xuân năm ấy hoa mai rộ

                                                                                    Đại Lộc bình yên có Hoa Dù

                                                                                   Tháng ba mười sáu theo quân lệnh

                                                                                   Lướt sóng quân hành xuôi giang Nam 

                                                                                   Bỏ lại sau lưng nhiều tình lở

                                                                                   Tiển Anh nước mắt ước vai nầy

                                                                                   Về mái trường xưa qua Đồng Đế

                                                                                   Được nhìn tượng đá đứng ngàn năm

                                                                                  Có người em gái nằm xỏa tóc 

                                                                                  Để đợi anh về dẩu trăm năm

                                                                                  Nha Trang chào đón đoàn quân lạ

                                                                                  Dục Mỹ chiều nay ngập bóng Dù

                                                                                  Quân Đoàn Hai thối theo lộ 7 

                                                                                  Để lại Nhảy Dù chốt Khánh Dương

                                                                                  Hai sư đoàn cộng tràn nhau xuống

                                                                                  Một Lử Đoàn Dù gắng tiến lên

                                                                                  Tứ bề thọ địch Đèo M'Rack

                                                                                  Xung phong tiếp viện Buôn Ea Thi

                                                                                  Ngạo nghể trên tay viên đạn cuối

                                                                                  Nhảy Dù hai chử cố gắng thôi                                                                               


                                                                                  Thiên Thần gẩy cánh ngàn thây đổ

                                                                                  Khánh Dương thương nhớ Lử Đoàn 3

                                                                                  Chí trai vị quốc không danh lợi 

                                                                                  Vong thân bất nhục đáng anh hùng

                                                                                  Máu đào tươi thắm màu Mũ Đỏ

                                                                                  Xác thân tô điểm áo Hoa Dù

                                                                                  Nợ nước muôn đời trên vai nặng

                                                                                  Ơn nhà trọn kiếp mãi trong tâm.


             Những ngày cuối tháng 3 / 2015


                                   Mũ Đỏ Cù Lũ Nhí


Saturday, December 3, 2022

 

Battle of Binh Gia - Battle

Battle

During the early hours of December 28, 1964, elements of the Viet Cong 271st Regiment and the 445th Company, signalled their main attack on Binh Gia by penetrating the villages’ eastern perimeter. There, they clashed with members of the South Vietnamese Popular Force militiamen, which numbered about 65 personnel. The South Vietnamese militia fighters proved no match for the Viet Cong and their overwhelming firepower, so they quickly retreated into underground bunkers, and called for help. Once the village was captured, Colonel Ta Minh Kham, the Viet Cong regimental commander, established his command post in the main village church and waited for fresh reinforcements, which came in the form of heavy mortars, machine guns and recoilless rifles. To counter South Vietnamese helicopter assaults, Colonel Kham’s troops set up a network of defensive fortifications around the village, with trenches and bunkers protected by land mines and barbed wire. The local Catholic priest, who was also the village chief, sent a bicycle messenger out to the Ba Ria district headquarter to ask for a relief force. In response, the Ba Ria district chief sent out elements of two Vietnamese Rangers battalions to retake Binh Gia. On December 29, two companies of the ARVN 33rd Ranger Battalion and a company from the 30th Ranger Battalion were airlifted into area located west of Bình Gia, by helicopters from the U.S. 118th Aviation Company to face an enemy force of unknown size.

However, as soon as the soldiers from the 30th and 33rd Ranger Battalions arrived at the landing zone, they were quickly overwhelmed by the Viet Cong in a deadly ambush. The entire 30th Ranger Battalion was then committed to join the attack, but they too did not initially succeed in penetrating the strong Viet Cong defensive lines. Several more companies of the Rangers then arrived for an attack from multiple directions. Two companies of the 33rd Ranger Battalion advanced from the northeast. One of them came to the outskirts of the village but was unable to break through the enemy defenses. The other one, trying to outflank the enemy, had been lured into a kill zone in open terrain at the coffee plantation and were quickly obliterated in an ambush by the three VC battalions using heavy weapons. The two companies suffered a 70 percent casualty rate, and survivors were forced to retreat to the nearby Catholic church. The 30th Rangers had more success by assaulting from the western direction and succeeded in fighting their way into the village, aided by local residents. It however also suffered heavy losses, with the battalion commander and his American adviser severely wounded. The local civilians in Bình Gia retrieved weapons and ammunition from the dead Rangers, and hid the wounded government soldiers from the Viet Cong. The 38th Ranger Battalion, on the other hand, landed on the battlefield unopposed by the Viet Cong, and they immediately advanced on Bình Gia from the south. Soldiers from the 38th Rangers spent the whole day fighting but they could not break through their enemies’ defences to link up with the survivors hiding in the church, and fell back after calling in mortar fire to decimate Viet Cong fighters moving to encircle them.

In the morning of December 30, the 4th South Vietnamese Marine Battalion moved out to Bien Hoa Air Base, waiting to be airlifted into the battlefield. The 1/4th Marine Battalion was the first unit to arrive on the outskirts of Bình Gia, but the 1st Company commander decided to secure the landing zone, to wait for the rest of the battalion to arrive instead of moving on to their objective. After the rest of the 4th Marine Battalion had arrived, they marched towards the Catholic Church to relieve the besieged Rangers. About one and a half hours later, the 4th Marine Battalion linked up with the 30th, 33rd and 38th Ranger Battalions, as the Viet Cong began withdrawing to the northeast. That afternoon the 4th Marine Battalion recaptured the village, but the Viet Cong was nowhere to be seen, as all their units had withdrawn from the village during the previous night, linking with other Viet Cong elements in the forest to attack the government relief forces. On the evening of December 30, the Viet Cong returned Bình Gia and attacked from the south-eastern perimeter of the village. The local villagers, who discovered the approaching Viet Cong, immediately sounded the alarm to alert the ARVN soldiers defending the village. The South Vietnamese were able to repel the Viet Cong, with support from U.S. Army helicopter gunships flown out from Vung Tau airbase.

While pursuing the Viet Cong, a helicopter gunship from the U.S. 68th Assault Helicopter Company was shot down and crashed in the Quang Giao rubber plantation, about four kilometres away from Bình Gia, killing four of its crewmen. On December 31, the U.S. Marines Advisory Group sent a team of four personnel, led by Captain Donald G. Cook, to Bình Gia to observe conditions on the battlefield. At the same time, the 4th Marine Battalion was ordered to locate the crashed helicopter and recover the bodies of the dead American crewmen. Acting against the advice of his American advisor, Major Nguyen Van Nho, commander of the 4th Marine Battalion, sent his 2/4th Marine Battalion company out to the Quang Giao rubber plantation. Unknown to the 4th Marine Battalion, the Viet Cong 271st Regiment had assembled in the plantation. About one hour after they had departed from the village of Bình Gia, the commander of the 2/4th Marine Battalion reported via radio that his troops had found the helicopter wreckage, and the bodies of four American crewmen. Shortly afterwards, the Viet Cong opened fire and the 2/4th Marine Battalion was forced to pull back. In an attempt to save the 2nd Company, the entire 4th Marine Battalion was sent out to confront the Viet Cong. As the lead element of the 4th Marine Battalion closed in on the Quang Giao rubber plantation, they were hit by accurate Viet Cong artillery fire, which was soon followed by repeated human wave attacks. Having absorbed heavy casualties from the Viet Cong’s ambush, the 2/4th Marine Battalion had to fight their way out of the plantation with their bayonets fixed. During the entire ordeal, the company did not receive artillery support because the plantation was beyond the range of 105mm artillery guns based in Phuoc Tuy and Baria. They however escaped with the crucial support of the U.S. aircraft and helicopters whose rocket attacks forced the enemy to pull back and halted their attempt at pursuit.

In the morning of December 31, the 4th Marines Battalion returned to the crash site with the entire force and the American graves were located and their corpses were dug up. At about 3 pm, a single U.S. helicopter arrived on the battlefield to evacuate the casualties, but they only picked up the bodies of the four American crewmen, while South Vietnamese casualties were forced to wait for another helicopter to arrive. At 4 pm, Major Nguyen Van Nho ordered the 4th Marine Battalion to carry their casualties back to the village, instead of continuing to wait for the helicopters. As the 4th Marine Battalion began their return march, three Viet Cong battalions, with artillery support, suddenly attacked them from three directions. The battalion's commanding and executive officers were immediately killed and air support was not available. Two ARVN Marine companies managed to fight their way out of the ambush and back to Bình Gia, however the third was overrun and almost completely wiped out. The fourth company desperately held out at a hilltop against Viet Cong artillery barrages and large infantry charges, before slipping out through the enemy positions at dawn. The 4th Marines Battalion of 426 men lost a total of 117 soldiers killed, 71 wounded and 13 missing. Amongst the casualties were 35 officers of the 4th Marine Battalion killed in action, and the four American advisers attached to the unit were also wounded. Backed by U.S. Air Force bombers, on January 1 three battalions of ARVN Airborne reinforcements arrived, they were too late as most of the Viet Cong had already withdrawn from the battlefield.

Read more about this topic:  Battle Of Binh Gia

Friday, December 2, 2022

 

An Hiên Quán – Ngày tháng cũ






Trần Thị Diệu Tâm
23 Tháng Mười Hai 2019




Nhà văn Tran Thị Diệu Tâm



Đang làm việc tại một cơ sở thuộc nhà sách Hachette, tôi đành bỏ ngang để làm nhà hàng với ông xã ở phố quận 13, Paris. Nghĩ rằng mở một cái tiệm ăn nhỏ tự đứng ra cai quản, coi bộ khỏe hơn đi làm nhân viên dưới quyền điều khiển của sếp đầm khó chịu .



Chọn cái tên cho tiệm ăn giống như tìm đặt tên cho đứa con của mình. Chợt nhớ quê nhà quê mình có một biệt phủ xưa tên gọi An Hiên. Hiên là mái nhà, an là bình an. Ai mà chẳng mong có một mái nhà an bình để sống.






Tôi không phải là người giỏi giang chi về bếp núc. Ở Việt Nam lúc đi học thì lo học chứ đâu để ý chi chuyện làm bếp. Khi lấy chồng thì có chị giúp việc nấu nướng ngon lành. Việc chi mà phải nhọc tay chân. Qua đây liều mình mở hàng ăn , quả thật mình có lá gan to của con ngỗng béo. Ở xứ sở này, nghề bếp núc nấu nướng lại là nghề có giá trị. Tìm được một người bếp giỏi không phải là chuyện dễ dàng. Tôi phải biến thành nhà bếp, bếp chính. Như thế mình không phải phụ thuộc vào bất cứ bếp chính nào. Chủ nhà hàng sợ nhất là khi quý vị bếp chính se mình nghỉ việc.



Quán ăn nhỏ đủ cho hai vợ chồng và một người phụ bếp. Cuối tuần khách đông có con gái nghỉ học ra phụ, hạn chế phí tổn tối đa may ra mới sống nổi ở xứ Xã Hội khó khăn này. Nghĩ bụng mấy năm học “Quản trị xí nghiệp” ở Đàlạt bộ không quản trị nổi cái quán ăn bé nhỏ này sao. Thật ra nhỏ hay lớn đều cần phải biết cân bằng chi thu, làm nhà hàng phải cần có số thu ít nhất hơn gấp 4 lần số chi, để có thể trang trải gánh nặng về thuế má. Nếu may ra số thu có tỉ lệ cao hơn nữa mới mong có lời. Một bài tính không dễ thực hiện với một người lơ mơ và ít tiền là tôi.




An Hiên có địa chỉ ngay quận 13, nơi này mọi thứ vật liệu Á Đông đều có người cung cấp đưa tận nơi, chỉ cần đặt hàng qua điện thoại. Nhà tôi có khá nhiều bạn hữu quen biết xưa nay, họ đến ủng hộ khá đông. Không những khách Ta mà có cả khách Tây. Anh ấy đứng két thu tiền, vừa có tiền lại vừa gặp bạn đến chơi mỗi ngày, nên vui lắm. Đa số khách Việt ta đều trả tiền mặt. Tôi rất thích, vì được chạm, sờ và đếm, vui hơn là nhìn những con số qua chi phiếu. Đúng là nhà quê thực tình. Nhưng số tiền giấy đó không phải thuộc về chúng tôi đâu, mà thuộc về thuế má chi phí phải thanh toán. Chuyện tiền bạc bỗng dưng trở thành gánh nặng lo lắng mỗi ngày.



Để cảm thấy cuộc sống nhẹ nhàng hơn, tôi thường vẽ vời trong trí tưởng một cuộc đời khác bên lề, nó đi song song với cuộc đời đầy mắm muối này. Đó là sáng tạo các nhân vật truyện của mình. Trong lúc nấu nướng với bếp lửa xanh phừng phực cao độ, tôi ước chi được phút giây rảnh rỗi, tiếp tục viết tiếp câu nói trong câu chuyện ngắn dở dang. Không ai ngờ rằng thời gian làm bếp là thời gian tôi mê viết nhất, viết nhanh và viết gọn. Có lẽ viết là một cách thoát ra đời sống thường nhật với những tính toán tiền bạc vật chất, để đến với thế giới khác của riêng mình, cùng đem theo đôi điều suy nghĩ không thể nói ra trong cuộc đời thường.



Nếu cho rằng viết văn là một nghệ thuật, thì nấu bếp cũng là nghệ thuật vậy. Một bên là sản xuất món ăn cho cơ thể, một bên là sản xuất món ăn cho trí tuệ. Món nào cũng thấy cần thiết cho đời. Muốn nấu món ăn ngon, điều quan trọng là nêm nếm gia vị. Muốn viết hay cũng cần gia giảm tình tiết chữ nghĩa. Cả hai loại nghệ thuật này đều cần sự tận tâm tận tình. Một người bạn đến chơi nói đùa “nhà văn bây giờ trở thành nhà ăn”. Tôi chẳng phải nhà văn mà cũng chẳng phải nhà ăn, chỉ là mảnh ván cho tôi bám vào trôi nổi trên biển động trăm năm này.



Và hình như cái nhà vững chắc hơn cả đó là Nhà Tôi.



Điều làm cho hai vợ chồng chúng tôi phấn khởi làm việc là sự lui tới thường xuyên của thân hữu thuộc nhiều giới khác nhau. Những người ở xa ghé đến ăn không chỉ vì món ăn mà còn là dịp gặp gỡ. Nhà Tôi là người dạy học ở Sài Gòn, Đà Lạt, do đó học trò cũ khá đông. Có học trò cũ mắt ứa lệ khi thấy ông thầy giáo mình ngưỡng mộ năm xưa, nay vất vả kiếm sống nơi quê người. Nhưng làm việc tốt hơn thất nghiệp xin trợ cấp, trả lời đơn giản. Chúng tôi là những người không hề có mặc cảm, trước kia không tự tôn, nay không tự ti.



Người ta cho rằng quán ăn của chúng tôi là quán ăn nghệ sĩ, cũng đúng. Đa số người có “tâm hồn nghệ sĩ” thích đến đây, ăn xong thêm một tách cà-phê, có thể ngồi chuyện trò cà kê đến chiều với ông chủ quán. Những vị nào độc thân hay gần như độc thân (vì một lý do nào đó không tiện nói ra) thường đến vào buổi tối ít bận rộn hơn, và chúng tôi xin họ ngồi gần nhau để cùng ăn bữa cơm chung như trong một nhà. Như thế giá vừa rẻ cho mỗi người mà tiện cho việc nấu nướng. Vì đứng bếp vào buổi tối, tôi và anh phụ bếp cũng đều oải lắm rồi.



Từ lúc mở An Hiên quán, trong không gian nhỏ bé, chúng tôi được tiếp xúc khá nhiều nhân vật, những vị lãnh đạo cao cấp của quân đội, những nhân vật chính trị, những người giàu có của thời VNCH. Xưa kia dễ dầu gì chúng tôi được diện kiến họ. Những người Bên Ni, Bên Nớ khi đến Paris đều có lần đến “diện kiến” An Hiên !



Cô đầm lai TinTao (giống tên của một loại bia tàu), rất dễ mến thường đưa những bạn bè Pháp đến, có khi là một tác giả cuốn sách nổi tiếng, hay một đạo diễn xi-nê đi tìm vai diễn Á Đông cho phim. Có khi cô đưa một anh đàn ông hào phóng chịu chi cho chai rượu đắt tiền. Cô có duyên nói năng dịu dàng. Buổi tối, trong ánh đèn lung linh, người ta dễ dàng tâm sự đôi ba điều tình cảm. Những quán ăn ở xứ này đều có chung một khung cảnh ánh sáng trữ tình buổi tối. Có mấy lần Cô Tintao đưa bà Monique, vợ cuối của Hoàng Đế Bảo Đại đến ăn. Sau khi vua chồng mất, bà Monique thấy gầy ốm. Tôi hỏi sao lúc này bà gầy. Bà trả lời rằng “buồn vì chồng mới mất”. Không biết có thực không, bà đến hỏi riêng Nhà Tôi “trong tương lai, khi nào tôi có thể có chồng khác ?” ! Bà tặng tôi một tấm hình bà chụp cùng ông Bảo Đại. Tôi cất vào album. Dù sao bà này cũng là một chỗ dựa cuối đời của một vì vua nước tôi. Trước đây hoàng tộc cũng gửi cho chúng tôi một tấm hình của Vua với hoàng hậu Nam Phương rất đẹp chụp thời còn vương triều ở Huế. Tôi luôn mong muốn giữ mãi trong lòng sự cung kính đối với hoàng đế, nên đã từ chối lời đề nghị của một người quen, muốn tổ chức bữa ăn món Huế mời Ngài ngự ở An Hiên Quán. Nghĩ rằng khung cảnh quán không đủ sang trọng xứng đáng mời Ngài.



Chị Bích Hồng có ông chồng về ở Việt Nam, mỗi năm chỉ trở lại Pháp một lần để khai báo thuế má. Cũng xem chị như sống độc thân. Chị thường đến ăn buổi tối, và ở lại cho đến 11 giờ đóng cửa tiệm, chúng tôi đưa xe chị về luôn vì tiện đường. Chị đi du học Pháp từ lâu, gia đình rất giàu có xưa kia ở thành phố Đà Nẵng. Chị là người căn cơ có nhà cao cửa rộng, và thích đầu tư vào nhà cửa. Có một hai ông khách độc thân muốn ngắm nghé chị, nhưng chị dửng dưng. Chị nói “chán đàn ông”. Chồng chị về Việt Nam có nhân tình. Một hôm chị bắt được lá thư của cô bồ viết đòi hỏi chồng chị phải thế này thế nọ. Chị bèn đem lá thư sao photocopy, thuê tủ sắt ở ngân hàng để lưu trữ. Chị nói sau này ly dị, chị có bằng chứng tố cáo chồng có lỗi. Chị là người tính toán tiền bạc rất giỏi, tôi thường hỏi han chị nhiều điều không biết. Vì cùng giọng nói, lại là người dễ chịu, chị cần có bạn, tôi cũng vậy. Để giải khuây, chúng tôi thường đảo qua các phố phường Paris thượng vàng hạ cám lúc rỗi rảnh.



Sau thời gian sang bán quán ăn năm 2000, tôi ít gặp chị. Rồi chị gọi điện thoại hỏi tôi có thể cho chị ở tạm một phòng trong nhà được không. Tôi ngạc nhiên, mời chị đến chơi ở lại ăn cơm trưa, nhưng không thể làm theo đề nghị. Chị nói rằng chị rất đau, tôi thật thà hỏi chị đau gì, đâu ở đâu ? Chị khóc trả lời “sợ cô đơn và không muốn sống một mình”.



Không biết vì buồn chuyện tình hay buồn chuyện tiền, nói chung là buồn chuyện đời, chị Bích Hồng đã tìm đến cái chết một cách quyết liệt không chút luyến lưu.



Một vị khách quen thuộc khác, chúng tôi thường gọi bác Bửu, bác lớn tuổi du học Pháp từ rất lâu, sau khi thành tài về nước giữ chức vụ giám đốc đầu tiên của Truyền Hình Việt Nam. Người vợ của bác là chị ruột của bà Ngô Bá Thành, chủ tịch “Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống”, nổi đình đám chống đối chính quyền thời tổng thống Nguyễn văn Thiệu. Bác giận vợ chi đó, thuê nhà ở riêng tại phố quận 13, vậy là bác độc thân như ai. Bác xem An Hiên như một nơi chốn tìm về không khí ấm cúng, thân tình để hàn huyên những mẩu chuyện đời lý sự. Có chuyện chi vui buồn bác cũng kể cho chúng tôi nghe. Bác đề nghị trả trước hằng tháng số tiền ăn mỗi ngày, nhưng tôi từ chối. Bác hay kể chuyện xưa, cho biết có mấy cô ca sĩ nổi danh đã qua tay bác. Bác cao lớn, học giỏi thiếu gì cô muốn ngã vào lòng. Thỉnh thoảng bác kể về mối tình cũ xa xưa, tôi nhớ nhất là : “Thời trẻ ở Huế, có nhiều buổi chiều tui phải bơi dọc trên dòng sông Hương, chỉ để ôm lấy đôi bàn chân của một mỹ nhân đang ngồi đong đưa bên bến sông vắng người”. Chao ơi là tình. Tôi hỏi bác thế chắc chắn là phải hẹn hò trước chứ. Bác trả lời: “Thì cũng có, nhưng thành thói quen, hai người ai cũng muốn gặp gỡ như rứa mỗi chiều”.



Nhà tôi cứ nhớ mãi và lạ lùng cho cuộc hẹn hò trên sông nước này, cho rằng chỉ có thể xảy ra ở cái xứ lãng mạn Huế mà thôi. Tuy chưa bao giờ về thăm quê vợ, nhưng anh ấy thuộc hầu hết các tên tuổi giai nhân quê tôi, và cho rằng không ở đâu các cô gái có những cái tên đẹp và kỳ lạ như xứ Huế.



Sau thời gian không còn An Hiên nữa, bác Bửu ra đi về bên kia, nơi đó, linh hồn bác không còn chơi vơi giữa khoảng đời chập choạng tuổi già cô quạnh. Một ý kiến cho rằng nếu An Hiên còn, có lẽ bác hay chị BH không ra đi vội như thế. Có những nguyên nhân không đâu lại đưa người ta đến cái chết bất ngờ. Một hôm buổi tối trời mưa buồn, vắng khách, bỗng một vị khách ăn xong về nhà đem cây đàn guitar đến, vừa đàn vừa hát “La paloma”, chao ơi nghe mà lòng rưng rưng. Ông khách Tây bàn bên kia thích thú vỗ tay khen ngợi.



Chúng tôi nhớ đến nhà văn Duyên Anh mỗi lần từ Mỹ về, ông kéo lê chiếc vali nhỏ vào quán ăn uống trước khi về nhà. Dù tay bị liệt, sức khỏe yếu sau vụ bị hành hung ở bên đó, nhưng ông vẫn luôn vui sống xem nhẹ mọi chuyện. Làm nhà văn ở bên nhà xưa kia rất được chú ý quý trọng, nhất là những người nổi tiếng, vì đó là những người có tài. Chữ nghĩa hay, đâu phải ai cũng có thể viết được. Ngày xưa, tôi rất phục các văn sĩ, thi sĩ, cho rằng họ là những người đặc biệt có thiên phú. Có lần ông Duyên Anh vào quán ngồi ăn, tôi giới thiệu cho một thực khách về ông. Anh ta trả lời : Tôi không biết ông ấy là ai. Nên không đến chào hỏi. Nhà văn bèn tỏ ý thắc mắc, tại sao lại có một người Việt không biết đến tên tuổi Duyên Anh.



An Hiên cũng từng tiếp đón các tên tuổi khác trong văn học nước nhà khi đến Paris. Chị Thụy Khuê (nhà phê bình văn học) có mấy lần đưa Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp đến ăn cơm tối, hai nhà văn này đã làm dậy sóng một thời trong xã hội văn học VN. Tôi khoái truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chữ nghĩa trần trụi, và ác. Đọc chân thiện mỹ hoài chán, đọc cái ác cái xấu thấy hay, vì xã hội luôn tồn tại xấu ác. Viết thiện dễ, viết xấu ác mới khó.



Nhà thơ Cù Huy Cận, tác giả của Tràng Giang, Sóng gợn Tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song/ Thuyền về nước lại sầu trăm ngả/ Củi một cành khô lạc mấy dòng. Các câu thơ tôi thuộc nằm lòng lúc còn bậc trung học. Ông đi Paris cùng với phái đoàn, đến An Hiên ăn cơm tối. Ông gọi hai món ăn với nhiều thịt. Trong lúc mọi người trong đoàn chuyện trò râm ran, ông rất lặng lẽ, rất chú tâm vào món ăn không nói một lời nào. Ông ăn đến hết cọng rau cuối cùng phần mình, trong khi người khác bỏ lại vì quá no nê. Ông có dáng mập mạp hơn người, nên chuyện ăn nhiều là tốt là phải cách. Nhưng sao tôi cảm thấy thất vọng quá. Còn đâu hình ảnh cô liêu củi một cành khô lạc mấy dòng.



Những vị tướng những vị chỉ huy của VNCH, hay cả những vị giàu có ngày xưa chúng tôi đâu dễ gì được diện kiến, nay bỗng dưng tới quán ăn. Chúng tôi thật tình cảm động.



Vào một mùa thu năm nào, nhà soạn nhạc Tôn Thất Tiết, người sáng lập Hiệp Hội Âm Nhạc Pháp- Việt đến gặp chúng tôi, cho biết sắp đưa một đoàn văn công và ca nương sang trình diễn “Nhã Nhạc Cung Đình Huế”, đề nghị giá tiền tối thiểu bữa ăn cho khoảng 20 người trong thời gian ở tại Paris. Ông cho biết vì ngân sách khiêm tốn, nên phải tiết kiệm tối đa. Nặng tình với quê nghèo, tôi bằng lòng với giá ông đề nghị. Ông Tôn Thất Tiết là người soạn nhạc nền cho các phim của đạo diễn Trần Anh Hùng (Mùi đu đủ xanh, Xích Lô, Mùa Hè Chiều Thẳng Đứng).



Ông là người có tâm huyết phục hồi cho nhạc dân tộc truyền thống mà chính quyền trong nước bỏ quên không đoái hoải tới. Sau khi trình diễn một vòng qua các nước Âu Châu, đoàn về Paris. Tôi có tham dự một buổi, khán phòng đông nghẹt, đa số là tây đầm bản xứ. Khi nghe và nhìn thấy những bản dân ca cổ truyền và điệu nhạc xưa quê mình, lòng tôi như nức nở. Nước mắt cứ chảy dài trong bóng tối. Sau mỗi màn kết thúc, tất cả khán thính giả đều đứng dậy vỗ tay vang dội không dứt. Bên cạnh chỗ tôi, một cặp vợ chồng người Pháp luôn miệng khen ngợi, cho thấy họ rất trân trọng yêu quý giá trị cổ nhạc Việt Nam. Không như người Việt trong nước, rất thờ ơ giá trị ấy của dân tộc.



Buổi tối mùa thu khá lạnh, đoàn đến ăn cơm nóng với món cá kho, canh rau cải, ai nấy suýt soa. Bao ngày qua đi trình diễn các nước Âu Châu, bữa nay mới được ăn bữa cơm quê nhà. Chúng tôi hỏi thăm tin tức chuyện trò. Chị ca nương Thanh Tâm lấy trong xắc một hũ mắm ruốc Huế trộn với cơm ăn cho đậm đà mặn miệng. Chị nói đi đâu tui cũng đem theo hũ mắm ni. Có hôm tôi đề nghị đổi món, ăn bánh mì với thịt nguội Pháp, ai nấy đều lắc đầu. Thấy mấy nhạc công lớn tuổi co ro, chúng tôi về nhà kiếm áo len dạ đem biếu mặc cho ấm, chứ tiền đâu sắm nổi áo quần ở đây. Họ sẽ đem về dùng tại xứ sở suốt đời mưa lạnh. Mấy anh nhạc công trẻ tuổi ăn xong ra ngoài ngồi kiểu “nước lụt” trước quán, miệng hút thuốc lá phì phèo. Báo hại mấy ông cảnh sát đi ngang qua tưởng có chuyện gì không ổn, định biểu tình chăng. Chúng tôi kéo họ vào gấp, một anh nói trọ trẹ: chi mô mà sợ. Có lẽ đấy là lần duy nhất họ được ra nước ngoài trình diễn. Sau này không nghe nói đến nữa.



Nguồn thực khách đến thường xuyên hằng ngày là giới tài xế taxi, vì trước quán là parking của taxi, đa số người Việt. Họ thích những món ăn ít dầu mỡ, và cùng nhau chuyện trò về công việc. Chúng tôi xem họ nhữ những người thân gia đình, nên các bữa cơm thắm thiết hơn (sau này khi chúng tôi bán cửa tiệm, gặp chúng tôi họ cứ tiếc và nhớ các món ăn của An Hiên, mong chúng tôi mở lại nơi khác, có anh nói nếu cần vốn thêm họ sẻ góp phần vào, vài người khác cũng muốn ủng hộ như vậy.)



Ngoài thực khách Việt, còn những khách Tây bản xứ. Những người Pháp có gia đình ông bà xưa kia đã một thời sống tại Viêt Nam, từng yêu mến nước non Việt. Các con cháu từng được nghe kể lại thời vang bóng vàng son ấy. Yêu mến đất nước Việt và yêu luôn món ăn Việt. Một buổi sáng vừa mở cửa, một anh Tây da đen vào, tôi nói nhỏ với phụ bếp : Sáng nay chưa chi mà thấy đen rồi. Tức thời, anh ta quay lại nói tiếng Việt : Đen nhưng ăn cũng trả tiền! Tôi vội vàng cười giả lã, tỏ vẻ thân thiện hỏi thăm: Sao anh nói tiếng Việt giỏi quá vậy? Trả lời: Tôi sinh tại Sài Gòn trước đây, qua Pháp theo diện con lai. Anh ta thường dẫn các bạn da màu đến ăn cơm Việt, (nên nói da màu cho tế nhị hơn, mình không kỳ thị chủng tộc).



Nói về tiệm ăn mà không nói về món ăn là vô cùng thiếu sót. Mấy món tôi chú tâm thực hành là những món bình dân quê nhà: Bún bò Huế, bánh Bèo, bánh Nậm và bánh Bột Lọc. Đặc biệt món bành bèo, tôi không muốn khiêm tốn, vì đó là món được nhiều người hâm mộ. Bánh được làm theo lối cổ truyền công phu, mỏng tang trong bóng, sắp đều đặn trên dĩa, điểm xuyết một lượt tôm tươi giã nhuyễn hồng nhạt, thêm chút hành lá xanh và tóp mỡ vàng óng. Khách ăn một lại muốn ăn hai. Bánh Nậm hay bánh bột Lọc đều được gói với lá chuối tươi chứ không gói bằng giấy nylon. Những loại bánh này do cô con gái út làm ở nhà đem ra tiệm. Cô bé khéo tay làm rất nhanh và gọn gàng. Món bún bò cũng thường được thực khách gọi tên.



Chúng tôi cũng chú ý một bà khách lớn tớn tuổi thường đến tiệm một mình, chỉ luôn gọi ăn món Bún Bò Huế, bà người miền Bắc có dáng quý phải. Nhà Tôi cho biết đó là phu nhân của ông Trịnh Xuân Ngạn, vị chánh án của Tối Cao Pháp Viện thời VNCH, và là thân mẫu của học giả về vật lý thiên văn Trịnh Xuân Thuận nổi tiếng trong lãnh vực này. Sau thời gian đến thường xuyên bỗng không thấy nữa, nghe nói bà đã mất. Kể ra như thế cho thấy rằng cái món bún bò Huế của An Hiên Quán cũng không tệ.



Có hôm chúng tôi vừa đỗ xe xong vào mở cửa, thấy một ông khách đứng chờ. Tôi cho biết tiệm chưa đến giờ mở cửa đón khách. Ông nói : Tôi từ xa đến đây, thôi chốc nữa tôi ghé lại. Sau đó, ông vào ăn bún bò Huế. Vị khách đến sớm này hỏi : “Đây có phải là quán của nhà văn TTDT không ? Tôi muốn gặp”. Khi nghe đến tên mình dưới cái vỏ bọc nhà văn, tôi rất e dè, nhất là lúc mình đầy gia vị tiêu hành mắm muối tỏi ớt cay nồng. Hình ảnh thực tế này chẳng có chút nào thơ mộng, chẳng có chút gì bay bổng trên nền trời văn chương nghệ thuật cả. Nhất là dưới cái nhìn của một độc giả từ phương xa tới. Ông nói chuyện cho biết là độc giả ở đâu đó bên xứ Hoa Kỳ, tôi nghe mà ái ngại, tôi chỉ Dạ, rồi vô bếp làm việc. Hiện giờ mình là nhà bếp chứ không ai khác. Có lẽ thất vọng, ông một đi không trở lại.



Một người khách đăc biệt, chúng tôi rất yêu mến, đó là giai nhân xứ Huế có cái tên gợi cảm Diệm My. Người đẹp này thường đến ăn cơm tối sau buổi chiều đi làm về ở cơ sở thuộc bộ Ngoại Giao. My là thiếu nữ có vẻ đẹp rất thanh tú, dáng dấp thanh nhã, là một nhan sắc tôi rất ngưỡng mộ lúc nàng học cùng trường Đồng Khánh, dưới tôi hai lớp. Sắc đẹp của một mỹ nhân không thể dùng những chữ tầm thường diễn tả. Ta chỉ nên cảm nhận, chiêm ngưỡng. Nàng là người thiếu nữ mà Nhà Tôi nhớ mãi, dù anh chỉ được thấy một lần ở Sài Gòn trong hiệu sách Khai Trí trên đường Lê Lợi.



Bây giờ My là khách thường xuyên của An Hiên tha hồ ngắm giai nhân. Mỗi tối đến ăn, nàng đều có một chút quà để dành cho chúng tôi như một nhánh hoa, vài cây bút chì mới, hay một thứ lặt vặt nào đó, thật dễ thương. Trong ánh đèn lung linh của tiệm ăn, nhan sắc nàng khiến cô đầm ngồi bàn bên cạnh đã suýt soa khen ngợi. Buổi tối sau khi ăn xong, My trở về nhà với xe bus gần tiệm, nhiều tối trời đổ tuyết lạnh, tôi e ngại cho nàng. Một vị khách quen biết xin đưa nàng về bằng xe hơi. Nhưng nàng từ chối. My là một người không dễ tính. Nhìn dáng người đẹp lầm lũi bước trong đêm lạnh, thực tình chúng tôi rất thương cảm.



Họa sĩ Trịnh Cung ngồi ăn kể lại : Thời trẻ tuổi lúc ở Huế, hôm đó, khi bắt gặp nàng lúc tan trường, tui đã hấp tấp dựng chiếc xe đạp bên bờ tường (quên không khóa) để nối gót theo sau nhìn bóng giai nhân. Sau khi nàng vào nhà, tui trở lui lấy xe thì xe đã biến đâu mất, khổ thân tui, chiếc xe đó tui đi mượn của bạn mà!



Một chị bạn có lần kể, chị vào thăm một anh bạn nằm bệnh viện vì cơn bệnh Alzheimer giai đoạn cuối. Chị hỏi “Anh nhớ tôi là ai không ?” Anh bạn nhìn chị một hồi bèn thốt lên : “Diệm My”. Trong bóng đêm đen của căn bệnh mất trí nhớ, não bộ của người đàn ông này lại biết gìn giữ bóng hình và tên của một mỹ nhân. Nghe nói dạo nàng ở Paris du học, các anh sinh viên Việt rất đỗi ngưỡng mộ nàng. Ngưỡng mộ, nhưng khó ai thân thiết được nàng. Một lần lấy chồng một lần ly dị dở dang. Tôi chợt nghĩ e nàng là một tiên nữ trên cõi trời cao, vì một phút lầm lỡ, bị Ngọc Hoàng Thượng Đế đày xuống trần gian này. Do đó, đôi lúc thấy nàng chợt vui chợt buồn, đôi mắt đen huyền nhìn về cõi xa xăm nào, như nhớ nhung chốn thiên tiên của mình đã đánh mất. Ôi những người sống lẻ loi một mình…



Đến năm 2000, vào một mùa hè, chúng tôi đi ăn đám cưới ở ngoại ô xa Paris. Tai nạn xảy ra bất ngờ trên con đường đến lâu đài đám cưới, khiến tôi phải nằm nhà ba tháng liền. Xương vai, xương sườn gãy tuốt luốt. Nếu cái xe cam nhông kia tông mạnh hơn một chút, một chút thôi, có thể cột sống sẽ bị gãy đôi, hay tôi phải chết ngay trên ghế xe bên phải. Nằm bất động trên giường suốt thời gian ấy, tôi mới ngộ rằng chết và sống liền kề nhau trong một tích tắc đồng hồ. Vậy chuyện chi mình phải lo toan cho cuộc đời này ? Hãy rũ bỏ hết mọi thứ ràng buộc.



Thứ ràng buộc lớn nhất hiện tại của chúng tôi là cái quán nhỏ này. Đấy là huyết mạch làm ăn buôn bán kiếm sống. Nhưng giờ đây, tiền bạc cũng chẳng có giá trị gì trước hố đen thăm thẳm của cái chết. Mỗi tối sau khi nuốt trọn mấy viên thuốc giảm đau chứa chất morphin, tôi chìm vào cơn mê. Trong đó nhiều lần tôi thấy những người thân gia đình chết từ rất lâu, đến bên giường lay tôi thức dậy, bảo tôi đi theo họ. Tôi có vùng vẫy thoát thân. Tỉnh dậy mới biết mình còn sống.



Kề cận với “La mort”, tôi chẳng còn thiết tha chi với chốn bụi hồng này nữa. Vì chết là hết, khỏe ru, đơn giản. Ham chi nữa !



Cảm thán chuyện tai nạn, tôi kể lể sự tình qua bài “Còn lại với đời” như đôi lời tâm sự cho chính mình. Chúa hay Phật đều là nguồn an ủi tôi trên giường bệnh. Và trong lúc thấy được cái phận người mong manh bé nhỏ, tôi quyết định bán tiệm. Đó là một cú sốc đối với Nhà Tôi, và là cú sốc của bạn bè thân hữu. Bảng hiệu An Hiên biến mất không một lời giã biệt.



Sau khi thoát gánh nặng trên vai, tôi bình tĩnh sống thảnh thơi, như luôn chờ đợi một ngày ra đi. Có thời gian nhìn lại cuộc sống gia đình với các con các cháu. Riêng tôi có thời gian đọc sách báo tin tức TV. Thời gian này, qua sự giới thiệu, ông Nguyễn Thanh Hoàng, chủ nhiệm tờ Văn Nghệ Tiền Phong đề nghị tôi viết “Lá Thư Ba Lê”, mỗi tháng hai kỳ gửi qua Mỹ. Đây là một tờ báo gây nhiều tranh cãi nhất tại hải ngoại vào thời kỳ có bỉnh bút Lê Triết. Trong thời gian viết báo, vì phải đọc tin hằng ngày qua báo chí Pháp để viết sang tiếng Việt, nên quá bận bịu theo dõi thời sự. Quên bén mất những suy nghĩ về những dự tính viết riêng cho mình. Tôi để mất khoảng thời gian dài nhiều năm mà không “dzăn” ra một câu chuyện lãng mạn nào.



An Hiên Quán là một miền không gian chứa đựng nhiều kỷ niệm của chúng tôi, trong đó biết bao khuôn mặt, biết bao nhân vật nay còn nay mất. Dù không nhắc đến trên khuôn giấy hạn hẹp, nhưng chúng tôi luôn ghi nhớ họ, từng người một, hiện diện trong miền ký ức xa xăm thương nhớ ấy.



Người ta thường nói rằng thời gian đi mất không bao giờ trở lại, nhưng với tôi, thời gian không mất, vẫn luôn ở với chúng ta./



Paris, tiết Sương Giáng, 2019.

Trần Thị Diệu Tâm




Nguồn: https://www.diendantheky.net/2019/12...gay-thang.html