Wednesday, April 14, 2021

 HOÀNG KHỞI PHONG : ” HÀO PHÓNG, LÃNG MẠN, SÂU SẮC, THẲNG THẮN ”

Nguyễn Minh Nữu

Hoàng Khởi Phong. Đinh Cường vẽ

Cái giao tình quen biết giữa Hoàng Khởi Phong và tôi  đã hơn 40 năm, thân thiết như anh em ruột thịt và nhiều kỷ niệm mà kể lại giống như kể chuyện tiểu thuyết.

Hoàng Khởi Phong vừa về thăm lại vùng Hoa Thịnh Đốn, vào tháng 10 năm 2014. Đón tiếp ông là khá nhiều bạn hữu cũ từ ngày xưa như Trương Vũ, Đinh Cường, Đỗ Hùng, Đoàn Viết  Hoạt, Đặng Đình Khiết, Phùng Nguyễn, Phạm Cao Hoàng, Phạm Nhuận, Phương Thảo và tôi. Ngồi bên nhau kể chuyện ngày xưa, những kỷ niệm rào rạt trong lòng. Buổi tối, ngồi vào bàn viết, nhìn thấy tác phẩm Trăng Huyết của Anthony Grey và Nguyễn Ước, tôi bỗng muốn ghi lại vài kỷ niệm với Hoàng Khởi Phong.

Hồi đó  là năm 1971, tôi đang là người lính thuộc Sư Đoàn 23 bộ binh.  Chiến trận  vùng Tây Nguyện lan rộng và khốc liệt, đợn vị tôi hành quân lên Pleiku và đóng quân ở căn cứ Hàm Rồng, cách thành phố Pleiku khoảng 20 km. Căn cứ Hàm Rồng là hậu cứ của Trung Đoàn 47 thuộc Sư Đoàn 22.  Tối hôm đó,  Nguyễn Quang (bây giờ là nhà thơ Mai Quang  đang chủ trương trang Web Sông Dinh) rủ tôi tới  hậu cứ  của một Tiểu Đoàn, không nhớ tiểu đoàn mấy của Trung đoàn 47 để tìm gặp Thế Vũ, một người bạn văn nghệ. Lần đầu gặp nhau  chúng tôi ngồi gần như suốt đêm chuyện trò về đủ thứ trên đời.

Nửa đêm đầu là ngồi uống trà để thức nói chuyện và kế tiếp nửa đêm còn lại là vừa nói chuyện vừa lần lượt đi xả, còn nhớ hoài nụ cười mím chi của Nguyễn Quang khi gọi cái trà mà Thế Vũ đãi  là trà Thái Đức, nói lái lại là trà Thức …

Trong suốt thời gian đóng quân tại hậu cứ đó, tôi, Nguyễn Quang và Thế Vũ nhiều lần tụ hội chuyện trò. Có lần Thế Vũ nói cuối tuần này  nếu còn ở đây, tôi sẽ đưa các ông ra Pleku uống cà phê, một quán cà phê mới mở rất văn nghệ. Thế Vũ kể thêm, quán do hai ông nhà thơ hùn nhau mở để làm chỗ cho anh em văn nghệ tụ hội, hai ông đó là Mai Trung Tĩnh và Hoàng Khởi Phong. Cả hai đều là quân nhân, nên vụ mở quán này là chuyện làm thêm cho vui, quán sẽ có tên là Tay Trái.

Thế Vũ nhìn tôi và nói, “Tôi có nói với Hoàng KHởi Phong là có Nguyễn Minh Nữu đang hành quân ở đây nên anh Hoàng Khởi Phong nhắn  rủ ông cùng ra đó cho vui.”

Tôi vui vẻ nhận lời, vì cả Mai Trung Tĩnh  và Hoàng Khởi Phong đều là những người làm thơ nổi tiếng. Chất trữ tình của Lâu Đài Tình Ái   trong một bài thơ của Mai Trung Tĩnh được Trần Thiện Thanh phổ nhạc đang là một ca khúc mà người lính nào cũng thuộc, còn Hoàng Khởi Phong thì một tác phẩm thơ Mặt Trời Lên  vừa do Đại Nam Văn Hiến xuất bản cũng đang là để tài nóng để anh chị em trong văn nghệ bàn tán về tính cách phản chiến và nổi loạn. Cả hai thi sĩ ấy tôi đều mong có dịp làm quen.

Tiếc thay, cái hẹn  hồi năm 1971 đó không thực hiện được. Giữa tuần đó, đơn vị tôi rời căn cứ Hàm Rồng để lên Kon Tum, rồi  theo đơn vị di chuyển về Ban Mê Thuột, khi thì Quảng Đức, có lúc Phan Rang, cũng có lúc ghé Pleiku  vài ba ngày nhưng cũng chẳng biết Cà Phê Tay Trái ở đâu để mà ghé lại…

Cho đến đầu năm 1973, khi đang tạm dừng dưỡng quân tại Pleiku, buổi tối tôi cùng đám bạn xuống phố, có cà phê., có rượu, và có cả quậy phá nữa, nửa đêm trên đường lái xe về đơn vị thì bị Quân Cảnh chặn lại và tống giam vào Đồn Quân Cảnh Pleiku.

Sáng hôm sau, cả đám bị lôi dậy tập họp trước sân chờ nghe lệnh, ba thằng bạn cùng đi  được gọi lên, cảnh cáo và thả cho về đơn vị, còn tôi được lệnh chờ trình diện Trưởng Đồn.  Tôi hỏi viên Sĩ Quan Trực tại sao vậy, vì trong đám bốn thằng cùng đi chung, tôi là thằng …vô tội nhất. Tôi không lái xe, không quậy phá, cập bậc cũng nhỏ nhất  sao tôi phải trình diện Trưởng Đồn?  Viên Sĩ Quan Trực lắc đầu không trả lời mà quay qua giải quyết những trường hợp khác.

Tôi ngồi chờ  tới 10 giờ sáng  mới dược gọi vào trình diện Trưởng Đồn. Sau khi trình diện đầy đủ tên họ số quân, Ông Đại Úy Trưởng Đồn Quân Cảnh Pleiku ngước nhìn tôi, đôi mắt nheo nheo và hỏi:

-Cậu biết tôi là ai không ?

– Dạ biết

-Tôi là ai?

-Đại Úy là Trưởng Đồn Quân Cảnh.

Ông Đại Úy Trưởng Đồn mặt khó đăm đăm đó  bỗng bật cười:

-Mẹ, vậy mà nói biết. Tớ là Hoàng Khởi Phong.

-Trời.

Ông ta gọi ra ngoài cửa, có bạn nào ngoài đó không, xuống câu lạc bộ lấy cho tôi hai ly cà phê đá…

Buổi trưa đó, một tờ giấy gửi về đơn vị của tôi báo tin tôi vi phạm quân phong quân kỷ và bị tạm giam tại Đồn Quân Cảnh Pleku 7 ngày. Sau khi ký tờ giấy và chuyển qua cho văn thư gửi đi,  Hoàng Khởi Phong quay qua tôi vui vẻ, trưa nay tôi dắt cậu đi ăn cơm Tàu, nhà hàng này mới mở ngon lắm, lát gọi Thái Tăng An ra ăn chung luôn. Thái tăng An là hoa sĩ  vẽ rất đẹp, hiện nay định cư tại Hòa Lan.

Hào Phóng, Lãng Mạn, Sâu Sắc và Thẳng Thắn là những đặc điểm của Hoàng Khởi Phong. Bốn đặc tính đó trộn lẫn vào nhau tạo nên một phong cách đặc biệt  riêng tư của Hoàng Khởi Phong  mà bất cứ ai khi đã quen với ông đều thấy không thể trộn lẫn với bất cứ ai.

Cuộc chiến rồi đã tàn, chúng tôi không gặp nhau suốt mấy chục năm trời  cho tới khi tôi định cư tại Hoa Kỳ năm 1995.

Lúc đó , nhà thơ Hoàng Khởi Phong đã không còn làm thơ nữa.  Ông đã sống ở Hoa Kỳ hơn hai mươi năm, đã làm công nhân bán xăng, đã làm thợ tiện, đã làm cộng tác viên báo chí, đã làm chủ nhiệm tạp chí Văn Học và đã xuất bản hàng chục tác phẩm giá trị.

Sau tập thơ đầu tiên xuất bản trên đất Mỹ là  Tuyển tập thi ca 1975-1977  in chung 8 nhà thơ do nhà xuất bản Bố Cái  in năm 1978. Hoàng Khởi Phong đã không làm thơ nữa và những bài viết của ông về những ngày cuối của miền Nam là  Hồi ký ngày N+   đã tạo cho ông một vị trí khác trong dòng văn học Việt Nam Hải Ngoại.  Liên tiếp sau đó là các tập truyện ngắn, cho tới khi chúng tôi gặp lại nhau là ông vừa cho in xong  phần đầu của bộ trường thiên tiểu thuyết  Người Trăm Năm Cũ.

Khi hai cuốn 1 và 2 của bộ trường thiên Người Trăm Năm Cũ  in xong , Giang Hữu Tuyên và tôi đã tổ chức một buổi ra mắt sách tại nhà hàng Saigon House với hơn 300 người tham dự. Lần đó  số lượng sách mà Hoàng Khởi Phong đem từ Cali lên  đã bán hết sạch, sau đó Hoàng Khởi Phong về lại Cali và phải gửi tiếp sách lên để bán tại vùng  Hoa Thịnh Đốn.

Hai năm sau, khoảng năm 2004 tôi về Cali chơi và ở tại nhà Hoàng Khởi Phong. Lần đó anh đưa tôi một bộ sách khác, cũng hai cuốn, đó là cuốn  Trăng Huyết   của Anthony Grey và Nguyễn Ước. Đây là một tác phẩm lạ, vì nó là một tác phẩm có sẵn và hoàn chỉnh của một nhà văn Anh là Anthony Grey, tựa đề  Saigon   dày hơn 800 trang, khi đến tay Nguyễn Ước, lúc đó là một thuyền nhân vượt biên còn đang ở tại đảo Galang, tác phẩm được viết thêm tới 400 trăm trang nữa, và như anh tôi, Giáo Sư Nguyễn Minh Diễm viết lời giới thiệu như sau:

“Năm 1982, một nhà báo Anh từng làm việc và trải qua tù đày tại Trung Quốc nhưng chưa bao giờ đặt chân đến Việt Nam tên là Anthony Grey xuất bản cuốn tiểu thuyết SAIGON dày gần 800 trang khổ lớn (bản in của Nxb Little, Brown and Company-Boston-Toronto năm 1982 dày 787 trang kể cả bạt). Có thể nói Saigon trước hết là một tiểu thuyết lịch sử, vì nó dựa trên những sự kiện có thật, những diễn biến có thật, nhiều nhân vật có thật và các tình tiết của truyện trải dài theo dòng chảy của 50 năm lịch sử Việt Nam, từ 1925 đến 1975. Nó còn mang ý nghĩa lịch sử hơn khi mà để xây dựng tác phẩm, Anthony Grey đã phải bỏ ra suốt ba năm nghiên cứu sách vở tại các thư viện và thư khố ở Paris, Luân đôn, Washington D.C. và đại học Harvard. Ông đã tham khảo vài trăm cuốn sách và hàng ngàn tài liệu liên quan đến Việt Nam. Ông cũng từng gặp, trao đổi và xin ý kiến của các sử gia, nhà nghiên cứu và nhà báo nổi tiếng thế giới về những vấn đề của Việt Nam. Trong đó, có chuyên gia về Việt Nam trước thế chiến thứ hai Virginia Thompson; chuyên gia về Điện Biên Phủ Jules Roy, nhà nghiên cứu Mặt Trận Giải phóng Miền Nam Douglas Pike, tiểu thuyết gia Frank Snepp và nhiều người khác nữa, kể cả các chuyên gia về tình báo và quân sự ở Đông Nam Á. Tinh thần và cung cách làm việc như thế cho thấy tham vọng của Grey là dựng lại cả một giai đoạn lịch sử của Việt Nam như một tổng hợp, như một bức tranh toàn cảnh. Chính vì tinh thần làm việc nghiêm túc như thế mà Saigon đã được dùng như tài liệu giảng dạy về hai cuộc chiến Đông Dương cũng như lịch sử Việt Nam cho sinh viên sĩ quan Học viện Hải quân Hoa Kỳ ở Annapolis. Tác phẩm cũng đựơc dịch từng phần để làm sách tham khảo cho sinh viên sĩ quan của Học viện Quân sự Hà Nội, theo bức thư Anthony Grey viết cho Nguyễn Ước được in lại ở cuối sách.

Nhưng trước hết, Saigon là một tiểu thuyết, cho dù nó có bám sát lịch sử đến đâu, và Anthony Grey khi viết cuốn truyện dài này đã có một mục đích rõ rệt, như ông xác nhận sau đó, là mang đến sự hoà giải, để “góp phần hàn gắn những vết thương khủng khiếp và những đau khổ mà người dân ở mọi phía trong xứ sở Việt Nam vốn đã bị tả tơi vì một cuộc chiến quá dài, dài hơn của bất cứ xứ sở nào”. Chính vì hoài bão mục đích ấy, mà các nhân vật trong Saigon đều được Anhony Grey cho một sức sống mãnh liệt, kiên quyết và có phần cực đoan, mê mị, lúc yêu đương cũng như lúc thù hận, lúc sống, cũng như lúc chết. Nếu coi Saigon là một sân khấu, thì những con người mà Anthony Grey tạo ra và đưa lên sàn diễn đều đã sống hết mình, hoạt động hết năng lực và không nghỉ ngơi trước khi rời khỏi ánh đèn. Những tính cách mạnh mẽ, năng động và cực đoan ấy của nhân vật có thể là do bản tính cá nhân, có thể là do hoàn cảnh hun đúc, mà cũng có thể là do một thế lực nào đó cố tình huấn luyện để sử dụng, nhưng nhất định chúng là nguồn gốc sâu xa của tấn bi kịch kéo dài quá lâu nơi đất nước Việt Nam, và khiến dân tộc chúng ta đã phải trả một giá quá đắt.

Tuy nhiên, dù Anthony Grey tài ba cách nào thì ông cũng vẫn là một người phương Tây từ ngoài nhìn vào đất nước Việt Nam, ông có tài giỏi cách mấy thì ông vẫn không thể nhập vai người Việt Nam, và khung cảnh sống cũng như các nhân vật ông tạo ra vẫn không tránh khỏi có phần khập khiễng, lạc loài dưới con mắt phân tích của độc giả người Việt vì họ chỉ là “người Việt gốc ngoại”, được xây dựng từ kiến thức, sách vở về đất nước, con người cũng như lịch sử và văn hoá Việt Nam. Tuy nhiên, giống như công chúa ngủ trong rừng, Saigon đã gặp Nguyễn Ước, để khung cảnh và các nhân vật của nó được thổi một luồng sinh khí Việt Nam để chúng được tái đầu thai. Nguyễn Ước đã làm một công việc chưa từng có là viết thêm vào một cuốn tiểu thuyết đã xuất bản và đang lưu hành. Từ trên 800 trang của Saigon, ông đã viết thêm khoảng 1/3 nữa để thành trường thiên tiểu thuyết TRĂNG HUYẾT dài hơn 1200 trang (Bản in của nhà xuất bản Nhân Văn, Canada năm 2004 gồm hai cuốn cùng khổ với Saigon, dày 621 trang và 645 trang). Mặc dù giữ nguyên bố cục của Saigon với tám phần, bắt đầu từ năm 1925 đời vua Khải Định, cho đến cuối tháng Tư năm 1975, Nguyễn Ước đã “viết chêm vào, khi thì trọn một chương, khi thì vài đoạn nghĩ tưởng, vài lời đối thoại, nhiều nhân vật phụ, v.v. để chính đính, minh hoạ; đào sâu tâm lý của các nhân vật người Việt, bổ túc nhiều chi tiết về hoàn cảnh chính trị, khuynh hướng cách mạng bản địa và thời đại, sự kiện lịch sử, nghi lễ cung đình, phong cảnh, nếp nghĩ, tục lệ và văn hoá dân tộc, v.v.” và điều mà ông “chủ tâm hơn cả là cố gắng để nói lên Việt tính của nhân vật và sự kiện, đồng thời trình bày sao cho hợp với cảm quan của độc giả người Việt”.

Chính trong ý nghĩa ấy, có thể nói là Nguyễn Ước đã góp phần sáng tạo các nhân vật, và cả khung cảnh sinh hoạt nữa để họ trở thành những người Việt Nam, sống trong xã hội Việt Nam với những nét văn hoá đặc thù và nhờ thế mà độc giả người Việt chúng ta có thể buồn vui theo họ. Nguyễn Ước quả nhiên cũng là một tác giả, và điều độc đáo đã được thực hiện: một tác phẩm tổng hợp của hai người chưa bao giờ gặp nhau, hoàn thành phần nọ cách phần kia hơn 20 năm đã ra đời như một tổng hợp của kiến thức, tài năng và cảm tính.”

Hoàng Khởi Phong nói với tôi về quyển sách này:

   – Anh cho rằng đây là tác phẩm viết về chiến tranh Việt Nam hay nhất từ trước tới nay, tác giả cuốn này là Nguyễn Ước đang có một số trở lực nên không thể tự xuất bản được, hai bản in mà anh đang cầm đây  là hai bản Nguyễn Ước lấy từ nhà in,  đây là 2 trong tổng số 10 cuốn Nguyễn Ước lấy lén từ nhà in. Những bất đồng giữa Nguyễn Ước với nhà in đã không giải quyết được, và Nguyễn Ước thực sự cần tìm một người có thể giúp Nguyễn Ước in tác phẩm này. Em hãy đọc, và nếu được, hãy giúp Nguyễn Ước.

Trên máy bay đi từ Cali về Washington DC, tôi đã đọc một phần   Trăng Huyết , và thấy rõ là bị cuốn hút về nội dung tác phẩm này đúng như lời Hoàng Khởi Phong nói, và sau đó ông ghi lại trong phần Bạt của tác phẩm  Trăng Huyết   khi tôi xuất bản mấy tháng về sau:

“Là một nhà văn tự học qua trường đời và qua các tác phẩm của những nhà văn đi trước, tôi không học Anthony Grey cách hành văn. Nhưng tôi học được trong tác phẩm Saigon rất nhiều điều về cách sử dụng những chi tiết lịch sử cho một cuốn tiểu thuyết lớn, bao trùm một không gian rộng gồm những biến động xẩy ra tại nhiều quốc gia và trải một thời gian dài suốt hơn nửa thế kỷ.

Sau cùng tôi muốn nói tới những đóng góp của Nguyễn Ước trong Trăng Huyết. Kể từ khi văn học Việt Nam chuyển từ văn chương Hán Nôm sang văn chương quốc ngữ đã được hơn một thế kỷ. Trong thời kỳ văn học mới ấy, văn chương Việt Nam, bằng những bản dịch, đã tiếp nhận rất nhiều tác phẩm của các nền văn học khác. Một trong những người tiên phong trong việc phỏng dịch các tác phẩm ngoại quốc có thể kể đến Hồ Biểu Chánh. Một số truyện của tác giả này là những phó bản của các tác phẩm viết bởi các nhà văn Pháp của thế kỷ 19. Ðiều đáng nói là Hồ Biểu Chánh không hề ghi chú rằng ông đã mượn cốt truyện của các tác giả ngoại quốc để chuyển đổi câu chuyện cho phù hợp với đời sống của người Việt ở trên đất Việt. Thời của Hồ Biểu Chánh là giai đoạn đầu của văn chương quốc ngữ. Cũng phải nói ngay là ông có công giúp cho các độc giả người Việt không có khả năng đọc tác phẩm ngoại quốc, có thể cảm nhận được các tác phẩm ấy. Sau Hồ Biểu Chánh một vài thập niên, cũng có một vài tiểu thuyết gia chuyên phóng tác các truyện ngoại quốc, vì nhu cầu của người đọc càng ngày càng tăng, tuy nhiên các cuốn sách này được ghi rõ là phóng tác, và phần lớn nhằm để giải trí cho người đọc hơn là những tác phẩm văn học. Sau cùng là những tác phẩm văn học được dịch đầy đủ với toàn bộ câu chuyện, đã giúp cho người đọc ở Việt Nam tiếp cận thật sự với nền văn học của các nước khác.

Tác phẩm Saigon của Anthoney Grey được hoàn tất năm 1982, với chiều dầy khoảng bẩy trăm trang, khi được Nguyễn Ước tiếp cận vào năm 2000 đã trở thành một cuốn tiểu thuyết khác, với một cái tên khác, là Trăng Huyết, có chiều dầy hơn một ngàn trang và khổ sách cũng lớn hơn. Ðể hình thành Trăng Huyết, bản thân Nguyễn Ước, theo như ông kể lại ở phần Tái bút, cũng bỏ ra nhiều năm trời sưu tầm, kiểm tra các tài liệu lịch sử và tham quan các địa điểm được dùng làm bối cảnh cho câu chuyện.

Nơi bìa trước của cuốn Trăng Huyết, người đọc nhận thấy hai tên tác giả Anthony Grey và Nguyễn Ước được đặt cùng một hàng. Trong các trang đầu của cuốn sách người đọc bắt gặp lá thư của Anthony Grey gửi cho độc giả của Trăng Huyết; ông viết không phải với tư cách của một tác giả cho phép dịch tác phẩm của mình sang một ngôn ngữ khác, mà là đồng thuận việc Nguyễn Ước cùng đứng tên với ông làm đồng tác giả của cuốn Trăng Huyết, bởi vì Trăng Huyết đã có những đóng góp đáng kể của Nguyễn Ước đến độ Anthony Grey không thể phủ nhận những đóng góp ấy.

Khi so sánh hai cuốn sách, người đọc có thể thấy trong khoảng bốn trăm trang đóng góp của Nguyễn Ước là những bổ túc cần thiết cho nguyên bản Saigon, bởi vì sau hai chục năm tác phẩm này hoàn thành, đã có những tư liệu mới được các văn khố Pháp, Mỹ, Nga, Hoa cho công bố. Ðiều đặc biệt là những gì Nguyễn Ước đóng góp đã đan chặt lại với nguyên bản, như là một tấm lụa được dệt nguyên thủy, chứ không phải là một miếng vải khác đắp vào một tấm lụa bị hư hỏng vài đoạn. Trong Trăng Huyết có những đoạn được viết thêm vào trong các chương, hơn thế nữa Nguyễn Ước đã dựng thêm một số nhân vật, cũng như đôi khi đã viết hẳn một chương.

Ðiều thứ hai mà tôi bắt gặp trong tác phẩm này chính là chất văn chương trong toàn tác phẩm, dù được viết bởi nguyên bản Saigon của Anthony Grey, hay là bản dịch và sự đóng góp thêm vào trong Trăng Huyết của Nguyễn Ước. Cả hai tác giả này đã cho người đọc thấy cách sử dụng ngôn ngữ tuyệt vời trong toàn cuốn sách. Với hơn 1000 trang sách của bộ tiểu thuyết Trăng Huyết, Anthony Grey và Nguyễn Ước đã làm được một kỳ công trước đó hầu như chưa một cuốn sách nào đáp ứng được, là gói trọn lịch sử và chiến tranh Việt Nam cận đại của năm chục năm từ 1925 cho tới 1975. Tất cả những biến động lớn nhất xẩy ra cho Việt Nam trong nửa thế kỷ này, được ngòi bút tài ba, và tấm lòng ngùn ngụt của hai nhà văn này đúc lại thành một tác phẩm mà bất cứ ai quan tâm tới Việt Nam đều nên đọc.

Sau cùng tôi muốn nói về Trăng Huyết và những gì tôi học được ở Saigon của Anthony Grey qua Trăng Huyết với sự đóng góp của Nguyễn Ước là những bài học quý giá cho một nhà văn không được đào tạo bởi trường ốc. Tôi chân thành ngưỡng mộ và cám ơn cả hai tác giả đã cho tôi đọc lịch sử cận đại của nước tôi, trong một cuốn tiểu thuyết hay nhất về chiến tranh Việt Nam.”

Tác phẩm  Trăng Huyết   ấn bản đầu tiên do Kiến Văn Thời Đại xuất bản năm 2005 với lời giới thiệu của Nguyễn Minh Diễm, bạt của Hoàng Khời Phong và phần phỏng vấn của Ngô Vương Toại, bìa của Nguyễn Trọng Khôi đã được thực hiện khởi đầu là như thế.

Buổi trưa, sau buổi cơm hội ngộ với nhau, nhìn Hoàng Khởi Phong nhanh nhẹn bước ra ngoài sân và rút điếu thuốc hút, Đinh Cường nhìn tôi gật gù , “Ở cái tuổi của Hoàng Khởi Phong mà nhanh nhẹn như ông ta thật là quá quý”. Bài viết này cũng trong tinh thần đó, tôi muốn gửi tới anh Hoàng Khởi Phong một lời khen ngợi về sức làm việc bền bỉ, hăng say trong văn học, những nhận định của anh về mọi vấn đề  rất minh triết và rõ ràng, và vui hơn khi ở tuổi 70 mà sức khỏe vẫn như thời trai tráng.  Chúc mừng anh khi biết  Người Trăm Năm Cũ  đang dược viết những chương sau chót  để trở thành bộ Trường Thiên Tiểu Thuyết Lịch Sử có khoảng thời gian trong truyện dài nhất: TRĂM NĂM.

Virginia, tháng 11. 2014

Nguyễn Minh Nữu

source : Phố Văn Blog / Nguyễn Xuân Thiệp ( Hoa Kỳ)

Thông tin mới (vì nhiều người chưa biết) về giải pháp cắt đất của tướng Serong--dẫn đến sụp đổ của VNCH.


- Tính già hóa non hay người tính ko bằng Trời tính. 

- Dù đang ở sức cùng lực kiệt (clutching at straws), ông Thiệu vẫn trì hoãn việc đi trước một bước, vì ông biết trước những hậu quả chính trị gây chấn thương khi bỏ nhiều dân và lãnh thổ như vậy đối với phần còn lại của VN.


Nguồn: sách Certain Victory: How Hanoi Won The War.

. . .

Một số người ngày càng gia tăng, bao gồm thủ tướng Trần Thiện Khiêm, đã sẵn sàng một điều gì giống như giải pháp Lào (nghĩa là trung lập hóa--người dịch), hay giải pháp tương tự cho Việt Nam.

Bên cạnh một hồ tắm trong vắt như thủy tinh, trong một biệt thự sơn trắng ko xa phủ tổng thống VNCH, giải pháp dự phòng (contingency solution) này đã được nghiên cứu trước đó vài tháng. Tác giả của nó là một trong những người xuất sắc (remarkable) đã từng sống trong bóng tối của chiến tranh Việt Nam--đó là Ted Serong, một thiếu tướng (brigadier) hồi hưu, một thời từng là chỉ huy Toán Huấn Luyện Lục Quân Úc tại VN, sau đó được Cơ Quan Tình Báo Trung Ương (CIA) thuê để thành lập lực lượng cảnh sát dã chiến (police field force) VNCH, sau đó là tư vấn cho RAND (một định chế phi lợi nhuận của Mỹ nhằm giúp các lãnh đạo trên thế giới quyết định chánh sách bằng cách thông qua khảo sát và phân tích với 1950 nhân viên mà 54/100 có học vị tiến sĩ (doctorate), hoạt động tại 50 quốc gia, nói được 75 ngôn ngữ--ng dịch), và bây giờ là một cố vấn độc lập cho chính phủ VN. Ông đã họp với một nhóm nhỏ các viên chức cao cấp của VN để nghĩ điều ko ai nghĩ tới (unthinkable). Điều mà họ đã nghĩ là Nam VN nên bỏ (abandon) vùng Cao Nguyên (Highlands) và miền Trung (Central Vietnam) trong một cố gắng, tốt nhứt (preferably) bằng thương thuyết, nhưng, nếu ko được, sẽ bằng lực lượng quân sự (force of arms), để bảo vệ phần còn lại. Serong là một người can đảm, sáng chói, thái độ kẻ cả (patronizing) và được thông tin đầy đủ (well informed), với một cái tôi hay bản ngã phù hợp (matching ego). Tường trình mới nhứt của ông đã gửi đến chính phủ. "Tôi đã đề nghị", ông viết, "rằng VN nên tự lập một hạn chót (deadline) để dựa vào ngày đó mà ra một quyết định chiến lược quan trọng-ngày 14 tháng Hai 1975, hai tuần lễ kể từ hôm nay. Nếu vào ngày đó 300 triệu đô* ko được giải ngân (granted) (số tiền này đã được Quốc hội Mỹ đồng ý nhưng chưa chuyển giao cho VN), hay nếu chỉ giải ngân một phần, hay nếu bị trói buộc bởi những điều kiện ko khả thi (tied to unworkable strings), chúng ta sẽ triển khai quyết định cắt bỏ (ampute) Quân khu 1".

Ông Serong đã khuyến cáo rằng nên bỏ Huế và Đà Nẳng và những vùng khác, bao gồm phần lớn Cao Nguyên Trung Phần (Central Highlands). Ông đã dự kiến rằng quyết định này vừa là một chiến dịch quân sự để thu hẹp hay rút ngắn tuyến phòng thủ (shorten lines) và cũng là cơ sở để cho các thương thuyết mới. Bảy của 13 sư đoàn chánh qui của chánh phủ VNCH chỉ bảo vệ 1/6 dân số, và kinh tế vùng này chỉ bằng 1/6 của cả nước. Sức mạnh của quân CSBV, tại hai quân khu này, hay tại Lào, hay tại Bắc VN, khiến chúng ta khó bảo vệ các quân khu này trừ phi việc tiếp liệu đạn dược đầy đủ được bảo đảm nhưng chúng ta đã ko bảo đảm (được điều đó).

Những thương thuyết cho biên giới mới này, ông đã tin rằng, nên dựa vào đề nghị đầu tiên của chánh phủ VN là chọn vĩ tuyến thứ 15, ngay phía nam thành phố Quảng Ngải. Nếu điều này ko được đối phương chấp nhận, và dễ thấy điều này sẽ xảy ra, chính phủ nên chuẩn bị thương thuyết lại và chọn vĩ tuyến 13, ngay phía bắc Ban Mê Thuột, một đường sẽ cắt Nam VN làm hai phần gần bằng nhau, xem bản đồ 1. Hấp dẫn, và cực kỳ quan trọng, phần của kế hoạch của Serong là cuộc thương thuyết để cắt đất nên thực hiện với Chánh phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền nam VN (CPCMLT, gọi tắt theo tiếng Anh là PRG), chứ ko phải với Hà Nội, một quan điểm sẽ chấm dứt một cách trớ triu (ironically) mọi cơ may mà Nam VN có thể có trong giai đoạn hoàng hôn (twilight) của sự hiện hữu của họ trước khi bị Bắc VN xóa bỏ. Vì một trong những lý do khiến Hà Nội đẩy mạnh (accelerated) cuộc tấn công sau khi vùng Cao Nguyên bị sụp đổ là để tránh dính dáng với các thương thuyết có thể dẫn đến một vai trò nào đó cho CPCMLT.

                                 



TRƯỚC ngày 5/2/1975 khá lâu, CP Sài Gòn đã nghiên cứu NHIỀU kế hoạch dự phòng để bỏ Quân khu 1 và 2, bao gồm miền Trung và Cao Nguyên, nhưng thời điểm và phương pháp chưa được giải quyết. Ông Thiệu thì giữ chặt mọi điều động quân sự, và bộ TTM đã thấy rõ (emasculate) rằng họ thiếu khả năng hay phương tiện (machinery) để đảm nhận một loại kế hoạch như thế và cũng ko nhận một chỉ thị nào từ ông Thiệu để thực hiện điều này. Cũng có một miễn cưỡng (reluctance) tự nhiên từ ông Thiệu khi để cho chính phủ cách mạng lâm thời, chưa kể Bắc VN, một cái gì mà ko được cái gì đó từ đối phương. Dù đang ở sức cùng lực kiệt (clutching at straws), ông Thiệu vẫn trì hoãn việc đi trước một bước, vì ông biết trước (well aware) những hậu quả chính trị gây chấn thương (traumatic political consequences) khi bỏ nhiều dân và lãnh thổ như vậy đối với phần còn lại của VN.

. . .

Sài Gòn hiện nay đã nhận dạng BỐN sư đoàn CSBV tại Cao Nguyên. Họ được bảo vệ mạnh mẽ bởi súng phòng không, nhưng trong sự vội vã để khai thác chiến thắng ban đầu tại BMT họ ko cần ngụy trang (concealment) nữa. Hàng đoàn xe tăng và xe tải trên các con đường mới, họ là mục tiêu lý tưởng cho B-52. Nhiều kẻ trong bọn họ từng nghĩ rằng B-52 sẽ đến.

Tuy nhiên, vào ngày 13/3, Sài Gòn thấy rõ rằng mọi mưu toan tái chiếm BMT đã thất bại (failed). "Thông tin này đã gây sốc tức thời cho Sài Gòn", theo tướng Serong. "Một nhóm các tướng đã đe dọa (threatened) Thiệu rằng nếu ông ấy KHÔNG nhanh chóng ra lịnh việc thực hiện kế hoạch bỏ QK 1 và QK 2 (miền Trung và Cao Nguyên) họ sẽ lật đổ (remove) ông*. Ông ta đã tuân thủ, với một nhanh chóng đầy tai họa (disastrous alacrity)".--trang 38 của sách.

Vào ngày 13/3 ông Thiệu đã gặp bốn tư lịnh QK tại Sài Gòn. Họ đều ngạc nhiên với tính cơ động (mobility) của bắc VN, nó lớn hơn nhiều so với mong đợi. Trong cuộc họp ông Thiệu ko đưa ra cảnh báo trực tiếp rằng ông đã có ý bỏ Cao Nguyên, nhưng ông nói với tướng Trưởng, tư lịnh QK 1, rằng ông muốn rút sư đoàn Dù (đang ở Thường Đức, bên ngoài Đà Nẳng), để sư đoàn TQLC từ Quảng Trị vào đó trám chỗ. Trước ý kiến này, Trưởng cũng như các tư lịnh khác, rất bi quan về tình hình của QK mình.

. . .

* Kế hoạch của Serong đã gây ngạc nhiên cho một cựu thành viên của bộ TTM khi ông này đọc nó. Y chẳng những ko biết gì về một đe dọa đảo chánh nhưng, tính tới 12/3, đã làm việc theo lịnh của ông Thiệu để mở cuộc phản công."

(còn tiếp)

Dịch từ trang 13, 14, và 18 của quyển Certain Victory: How Hanoi Won The War của Dennis Warner.

Các bản đồ trên đây lấy từ quyển Decent Interval của Frank Snepp, trưởng nhóm phân tích chiến lược của CIA tại VN.

=============

PHẦN ĐỌC THÊM: 

VIỆT NAM CẦU VIỆN NHƯNG THẤT BẠI HOÀN TOÀN . 

. . . 

Trong tháng hai 1975, ông Trần văn Lắm, CT của thượng Viện VNCH, từng là ngoại trưởng khi ký vào hòa đàm Paris, đã đến Washington để thuyết phục nước Mỹ thêm viện trợ cho Nam Việt Nam mà nước này đang rất cần một cách tuyệt vọng (desperately) để có cơ may sống còn nhờ bên ngoài (outside chance of surviving) .

                            


Trong khi Lắm đến nước Mỹ , tướng Dũng đang đi trên đường mòn HCM để tới Ban Mê Thuột và trong khi Dũng đưa tăng và súng đại bác của ông vào vị trí, Lắm lại bị đánh gục (shot down) bởi những chiến sĩ của đồi Capitol (ám chỉ các thành viên của Quốc Hội Mỹ--ng dịch) vì họ đã ko nghe ông và làm cho ông tan vỡ ảo tưởng (disillusioned) nơi họ.

"Chỉ sáu năm trước đây, Chiến tranh VN đã đòi hỏi sự tham chiến của gần 600.000 lính Mỹ và một chi tiêu hàng năm là 30 tỉ đô", Lắm dẫn chứng hay biện luận tại Washington. "30 tỉ đô mỗi năm, nghĩa là gần 100 triệu đô mỗi ngày. Trong khi đó, sự gia tăng 300 triệu đô mà chúng tôi yêu cầu cho một năm tài khóa ko có vẻ gì quá đáng (exorbitant), nếu (viện trợ) đó giúp chúng tôi thỏa mãn yêu cầu."

Quốc Hội Mỹ đã ko cho phép điều đó. Lắm đã gặp phó TT Rockefeller, John Sparkman - chủ tịch Ủy ban Ngoại giao của Thượng viện, và John McClellan, chủ tịch Ủy ban Ngân sách (Appropriation committee), và Hubert Humphrey. TNS Mike Mansfield và vài người thì quá bận. "Tôi đã có cảm tưởng rằng có một sự trả thù (revanche) của lập pháp đối với ngành pháp", Lắm đã nói với tôi khi về nước. "Những gì hành pháp nói lập pháp ko muốn chấp thuận, ngay cả những ai trong đảng của TT. Nước Mỹ đã quá lún sâu trong những vấn đề nội bộ của họ khiến họ ko muốn lo cho VN nữa. Mọi người đều quan tâm nhiều đến việc làm thế nào để giảm lạm phát và thất nghiệp và làm thế nào để có dầu hỏa." (Thời gian này các nước Á rập đã cấm vận dầu hỏa (oil embargo) gây khó khăn cho Mỹ--ng dịch).

Các thành viên Quốc hội đã nói với ông rằng Nam VN ko chiến đấu giỏi. Tôi nói, "Chúng tôi đã chiến đấu giỏi trong năm 1968 và 1972 và bây giờ cũng là những người đó", Lắm nhớ lại. "Họ đã giữ thành phố An Lộc từ 1972 đến giờ. Quân CSBV có đạn đại bác nhiều gấp 10 lần chúng tôi. Nếu người lính chúng tôi có 10 viên đạn và biết rằng họ sẽ có thêm 10 viên khác khi cần, thì họ sẽ chiến đấu. Nhưng, khi người lính ko còn đạn, ko còn trang bị, ko còn phương tiện chuyển vận, tất yếu sẽ ảnh hưởng nặng nề đến tinh thần của họ."

Lắm trở về SG đầu tháng Ba, đúng lúc tướng Dũng đang chuẩn bị bắn những phát súng đầu tiên (vào BMT). Thông điệp của ông là nếu Nam VN ko có 300 triệu đô mà họ đang cần, họ sẽ ko có viện trợ gì hết trong năm tài khóa 1975-76.

Thiệu vẫn đang tiếp nhận sự thất bại khủng khiếp về tình báo sau khi BMT mất (ý nói VNCH đã bị CSBV đánh lừa khi dồn quân bảo vệ Pleiku và Kontum trong khi lực lượng bảo vệ BMT chỉ có 2 TĐ của TrĐ 53 của SĐ 23 BB --ng dịch). Không như Phước Long chỉ do địa phương bảo vệ (chỉ sau khi bị tấn công mới được tiếp viện bởi một TĐ bộ binh, ba ĐĐ Trinh sát, 2 đại đội Biệt Cách Dù -- ng dịch), BMT là nơi đặt BTL của một SĐ. Sự mất mát này là một cú đấm lớn. Thiệu đã chiến đấu với THỜI GIAN, ngăn chận (withhold) mọi tin tức về BMT thất thủ trong khi đang tập họp đủ lực lượng để phản công và phương tiện để đưa binh sĩ tới đó. Nhưng do có NỘI TUYẾN trong QLVNCH nên Dũng BIẾT TRƯỚC mọi cuộc điều quân. Tại HN, Giáp luôn có mặt ở đầu dây điện tín (telegraph). Riêng Dũng điều quân bằng máy truyền tin (radio) và điện thoại hữu tuyến. (Khi dùng máy truyền tin, bên gửi và bên nhận phải dùng đặc lịnh truyền tin, mọi thứ đều phải mã hóa để đối phương có nghe được cũng ko biết ý nghĩa. Phe VNCH chỉ dùng máy truyền tin như ANPRC-25 giữa các đơn vị nhỏ, các đơn vị lớn dùng điện tín như kể ở trên, ko dùng điện thoại hữu tuyến ---ng dịch) để báo cho Dũng nơi nào mà quân tiếp viện VNCH sẽ được gửi tới và quân số là bao nhiêu. (Theo báo chí của CSBV, họ đã gài một người cấp bậc trung sĩ làm tại VP của ĐT Cao văn Viên: mọi cuộc điều quân của VNCH đều được y báo cho điệp viên Phạm Xuân Ẩn để chuyển ra HN và sau đó Giáp báo lại cho Dũng-- ng dịch).

. . . 

(Còn tiếp) 

Dịch từ sách CERTAIN VICTORY của Denis Warner, trang 33-34.

===================

Những con số biết nói

- Chiến trường quyết định bởi quân nhu .

. . .

Vào tháng 2/1975, sự lạc quan chính thức đã từng phổ biến tại Saigon một năm trước, và chỉ im tiếng một cách tương đối trong tháng 12/1974, đã trở thành bi quan xám xịt. Với thời khắc nghiêm trọng (crunch) đang đến, CP Mỹ, lạnh lùng (coldly) và bình tỉnh, dưới áp lực ko thể chống đỡ từ đảng Dân Chủ trong quốc hội đã xa rời (walk away) cam kết của Nixon. Trong tài khóa (fiscal year) 1972-73, Nam VN đã nhận 2,167 tỉ đô quân viện từ Mỹ. Trong TK 1973-74 con số này chỉ còn 964 triệu. Trong TK 1974-75, quân viện của LX cho Bắc VN TĂNG BỐN LẦN, trong khi Nam VN chỉ nhận 700 triệu từ một quốc hội Mỹ đầy ác cảm, sau khi họ đã cắt giảm 900 triệu từ con số yêu cầu* bởi tòa đại sứ Mỹ ở Saigon. (Giá dầu gia tăng gấp BỐN LẦN sau chiến tranh Á Rập - Do Thái và những gia tăng tương tự do lạm phát trong giá của chiến cụ đã tạo ra một cắt giảm đến 80/100 quân viện của Mỹ) . . . Ngay cả CSBV không tổng tấn công, kể từ tháng 2/75, Nam VN sẽ ko còn hy vọng giữ được những vùng lãnh thổ bao la trong đó có những đồn bót nhỏ và biệt lập phất phới lá cờ VNCH."

. . .

* Con số tối thiểu ko thể giảm hơn (irreducible minimum).

(còn tiếp)

Dịch từ trang 8 của sách CERTAIN VICTORY : How Hanoi Won The War.

Ảnh minh họa: trực thăng Mỹ CH-53, thường dùng để cấp cứu máy bay lâm nạn trên vùng địch vì chở nhiều, bay xa và hỏa lực mạnh.

                                   


=================

THẢM SÁT TẠI BAN MÊ THUỘT THÁNG 3/1975 .

. . .
"Tại chùa Khải Đoan ở Ban Mê Thuột quân đội CSBV đã tìm thấy một số lính VNCH trà trộn (mixed) với dân tị nạn chiến cuộc. Tất cả họ đã bị bắt. Các sư bị dẫn đến chợ, nơi mà họ được lịnh ngồi xuống cùng với với một đám đông đã bị bắt đây đó trong thành phố. Kế đó các cán bộ VC địa phương đã chỉ mặt các công chức và cảnh sát của chế độ Sài Gòn. Vào khoảng 300 người bị tách ra khỏi đám đông này và đưa về bên kia chợ để nghe một viên chức CSBV "lên lớp" và kết tội họ là tay sai (lackey) và gián điệp của Mỹ và kẻ thù của nhân dân. Tất cả bọn họ đã bị bắn chết (shot and killed).
Sau cuộc bắn giết này, gia đình của những ai được biết là cán bộ/viên chức chế độ Sài Gòn đã bị các vệ binh CSBV canh gác nghiêm nhặt và dẫn đi một khoảng cách ngắn khỏi thành phố. Một trong các vị sư của chùa Khải Đoan đã bám theo (follow) đoàn người này cho tới khi ông thấy vệ binh nổ súng vào họ. Những ai ko chết hay bị thương chạy vào rừng hai bên đường, trong đó có vị sư. Ông đã là một trong số ít người cuối cùng đã tới bờ biển và tìm đường về Sài Gòn.
Chú thích : vụ nổ súng này xảy ra tại BMT đã được mô tả khi tôi phỏng vấn một nhân chứng vào ngày 20/4/1976 tại Sài Gòn. Vì tôi nghĩ rằng y vẫn còn ở VN nên tên y ko thể tiết lộ.
----

Dịch từ trang 37 của quyển CERTAIN HISTORY: How Hanoi Won The War (Chiến thắng chắc chắn: làm thế nào Hà Nội thắng trận) của Denis Warner, người Úc từng được tạp chí TIME xếp vào một trong hai phóng viên về Việt Nam được ngưỡng mộ nhứt.


=========

Nhận xét của người dịch

SỐ PHẬN HẨM HIU CỦA VNCH 

Chẳng lẽ, dân Nam Hàn quí giá hơn người VN nên bằng mọi giá Mỹ phải bảo vệ ? 

(Viết sau khi đọc về chiến tranh Cao ly 1950-52) . 

VN và Hàn quốc đều là hai nước  nằm ven bờ TBD, dân trí cũng gần nhau*, văn hóa Khổng giáo, v.v... đều là đồng minh của Mỹ nhưng được Mỹ đối xử khác nhau**. 

* Vì năm 1950 xảy ra cuộc chiến thì dân Hàn ko hơn gì dân Sài gòn hay có thể nghèo khổ hơn vì họ mới thoát ách cai trị của Nhật mới 5 năm; trong khi đó, VN đang trong LHP và có quân đội riêng, dân trí cao do chịu ảnh hưởng của Pháp, v.v... . 

** Vì khi Bắc Hàn mới xâm lăng Nam Hàn năm 1950, TT TRUMAN đã xin QH Mỹ chi 12 TỈ ĐÔ ĐỂ GIÚP ĐỠ NAM HÀN CHỐNG LẠI XÂM LĂNG và QH chuẩn y ngay lập tức ! 

Trong khi năm 1975, quân CSBV CÔNG KHAI XÂM LĂNG MIỀN NAM thì VNCH chỉ xin mấy trăm triệu đô quân viện cũng bị QH Mỹ bác. Như bạn biết, 12 tỉ đô năm 1950 lớn GẤP NHIỀU LẦN 12 tỉ đô bây giờ. 

                              


Thế mới biết: còn thương cau 7 bổ 3, 

Hết thương, cau 7 bổ ra làm mười.

Có lẽ Mỹ thấy vị trí chiến lược của Nam Hàn: nếu NH rơi vào tay CS thì hậu cần của Mỹ tại Nhựt bị trực tiếp đe dọa, nên họ hành động lập tức. Còn VNCH năm 1975 chẳng là cái gì với Mỹ nên QH của họ bỏ rơi ko thương tiếc !!!

Viết xong ngày 14/4 và cập nhật ngày 27/4/ 2021

Tài Trần.


 Nguyễn đình Ấm * - “Choáng” với sự dối trá trơ trẽn của đại gia sân golf Tân Sơn Nhất

Đăng bởi: Tiểu Nhi on Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2018 | 15.4.18

* Từng đi bộ đội 6 năm , sau này làm việc cho Vietnam Airlines . 

"Sân bay TSN là nơi mà chỉ cần 10m2 không đầu tư gì cả cho thuê đỗ ô tô hàng tháng cũng đút túi hàng triệu đồng/chiếc/tháng (ôtô con)"  

Vừa rồi đọc bài “Cựu bộ trưởng quốc phòng Phạm Văn Trà liên quan dự án sân golf TSN “ trên VNTB thấy ông Trần Văn Tĩnh một trong các đại gia sân golf TSN phát biểu với báo Tuổi Trẻ, khi bị hỏi: “ Dư luận nghi ngờ có lợi ích nhóm trong việc đầu tư dự án golf TSN, ông Tĩnh trả lời: “Chắc chắn là không có lợi ích nhóm.Chúng tôi không xin xỏ đút lót gì cả.Vào năm 2005 lãnh đạo bộ quốc phòng đi công tác nước ngoài thấy bên cạnh các sân bay tại Singapore,Thái Lan,Ấn Độ… đều có sân golf thu hút rất nhiều khách du lịch, trong khi đó đất dự trữ quốc phòng cạnh sân bay TSN bị bỏ hoang nên lãnh đạo bộ quốc phòng có chủ trương tận dụng để làm sân golf vừa giữ đất vừa có thêm kinh phí và thu hút khách du lịch nước ngoài…..” mà giật mình, bởi chứng tỏ các ông coi dân không biết gì?

Thứ nhất: việc ông khẳng định “không có lợi ích nhóm, không xin xỏ đút lót…” là không lạ gì. Chẳng ai lại tự nhận mình làm những việc vi phạm pháp luật cả. Câu khẳng định của ông chẳng có giá trị gì mà người hỏi chính là thông báo cho ông biết dù ông nói thế nào thì dư luận cũng đã hiểu bản chất của việc các ông “vô tình” có 157,6 ha đất vàng nơi mà chỉ cần 10m2 không đầu tư gì cả cho thuê đỗ ô tô hàng tháng cũng đút túi hàng triệu đồng/chiếc/tháng (ôtô con) thu 157tỷ 600 triệu đồng/tháng, nếu bán với giá thị trường bèo nhất 50 triệu đ/m2 cũng có 78.800 tỷ đồng.

Thứ hai: “Đi quốc tế thấy Singapore, Ấn Độ, Thái Lan có sân golf…”. Bài báo trên VNTB đã bác bỏ không có chuyện người ta làm sân golf trong sân bay. Bên cạnh các cảng HK Donmuang, Suvanbhumi, Changi,… người ta có làm những sân golf nhỏ chủ yếu để phục vụ quan chức, nhân viên ngành hàng không sở tại sau những buổi làm việc căng thẳng (nhất là nhân viên không lưu), những hành khách VIP, thương gia,… đi máy bay chờ transit nối chuyến hoặc lỡ chuyến do hãng hàng không trả tiền chi phí.

Thứ ba: “Đất dự trữ quốc phòng cạnh sân bay bỏ hoang…”. Không có đất nào bỏ hoang ở đây cả. Một sân bay muốn hoạt động an toàn ngoài các trang thiết bị chuyên dùng, khu máy bay hạ, cất cánh, ra, vào sân đỗ, nhà ga… (khu bay) phải có đường băng, đường lăn, sân đậu, đặc biệt phải có một vùng đất, không gian nhất định không có chướng ngại để bảo đảm an toàn bay. Khu đất xung quanh khu bay phải có diện tích đủ lớn, bằng phẳng,chịu độ nén theo tiêu chuẩn để thông thoáng tầm nhìn của phi công, không lưu, chỉ huy mặt đất, đặc biệt khi máy bay gặp sự cố hạ cánh chệch đường băng lao ra bên ngoài không có chướng ngại sẽ bớt thiệt hại,… Ngoài những khu đất trống, ở trên không cũng phải thông thoáng (tĩnh không) để máy bay không va quyệt vào chướng ngại khi hạ, cất cánh nhất là hai đầu đường băng (phễu ha, cất cánh) có tiêu chuẩn nghiêm ngặt…

Bên cạnh đó, các sân bay phải có diện tích đất lớn ngoài bảo đảm bảo an toàn cũng là sẵn sàng đáp ứng sự phát triển của sân bay theo từng giai đoạn. Trước năm 1975 sân bay TSN có tổng diện tích hơn 3.000 ha đủ cho một sân bay quốc tế phát triển đến vô hạn nhưng sau năm 1975 dân và quân đội lấn chiếm nay chỉ còn 1.150 ha. Đến nay các đại gia quân đội lấn tiếp 157,6 ha làm sân golf, nhà hàng, khách sạn làm cho TSN chỉ còn 924 ha méo mó… 157,6 ha kia các ông đào ao, đắp đồi tạo cảnh quan, chèn, lấp hệ thống thoát nước của sân bay, xây nhà cao tầng. Những điều này không chỉ hạn chế hoạt động hàng không mà còn gây ngập lụt mỗi khi mưa to và rất nguy hiểm nếu máy bay gặp sự cố. Ở TSN có trang thiết bị đầy đủ hiện đại ngang sân bay Nội Bài nhưng tiêu chuẩn hoạt động thấp hơn Nội Bài do tĩnh không sân bay TSN thu hẹp vì xây các công trình cao tầng gần sân bay. Việc từ năm 2007 sân bay TSN bị thiếu sân đỗ máy bay nhưng không được phát triển sang khu đất dự trữ bên quân sự rồi để làm sân golf là một hành động vô cảm cản trở sự phát triển của ngành hàng không Việt Nam.

Thứ tư: Cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng liên quan đến cản trở sự phát triển của sân bay TSN là rất rõ. Bởi từ 2005-2006 hai ông này giữ cương vị bộ trưởng quốc phòng và thủ tướng. Không có những ông lớn “chống lưng” thì làm sao đám đại gia kia được vào trong sân bay để làm các công trình thương mại trên những 157,6 ha đất vàng trong khi thường dân sửa cái cổng trong nhà mình cũng phải xen phép, cầu cạnh... Theo dư luận trong quân đội nguyên trướng Phạm Văn Trà có nhiều nhà ở nhiều nơi, quân khu, còn ông Nguyễn Tấn Dũng, Phùng Quang Thanh,… thì sao?

Thứ năm: Ông Tĩnh nói: “chúng tôi đầu tư đúng luật” là luật nào? Không có luật nào cho phép các ông xây công trình thương mại trong sân bay đất quốc phòng cả. Điều 20 - Nghị định 09 năm 1996 về quản lý, sử dụng đất quốc phòng ghi rõ: “Đơn vị vũ trang nhân dân được giao đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh sau rà soát quy hoạch nếu thừa đất thì phải báo cáo bộ quốc phòng, bộ nội vụ để trả lại nhà nước…”. Rõ ràng 157,6 ha đất trong sân bay TSN không phải đất thừa, đất hoang mà nếu thừa thì bộ QP phải trả lại nhà nước để sử dụng theo luật đất đai chứ không thể cho một nhóm người sử dụng sai mục đích, cản trở sự phát triển vận tải hàng không như vậy.

Nguyễn Đình Ấm 

(VNTB)

 Ngôi Thánh Ðường Bị Bỏ Quên

HỒ DINH
Viết nhớ bạn bè Tiểu Ðoàn 1/Trung Ðoàn 43/SD18BB - Kbc 4424
Chúng tôi đang chuẩn bị nhận thêm tiếp tế, thì có lệnh rút gấp về Xuân Lộc, để tăng cường cho chiến trường Bắc Ruộng, thuộc quận Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy đang bị Việt Cộng cưởng chiếm. Hôm đó là ngày 20 tháng 12 năm 1965.
Sáu giờ chiều, Tiểu đoàn đã rút ra Liên Tỉnh lộ 4 (Củ Mi-Tân Phong), đợi xe tới rước. Ngồi bệt bên vệ đường, phía bên trong là rừng cao su ngút ngàn, như muốn nuốt trửng con lộ đất đỏ ngoằn nghèo buồn hiu muôn thuở, Hôm nay sao nó hiền lành quá. Nhưng sự đời dâu biển biết đâu mà mò, nên ai biết trong chốc lát, khi đoàn xe chở lính lăn bánh, bao nhiêu bất trắc lại sẽ dồn dập đến, vì du kích ba tỉnh Bình Tuy-Long Khánh-Phước Tuy, rất là thiện nghệ trong việc gài mìn bẩy, đặt hầm chông, bắn sẽ, quăng lựu đạn và ám sát dân lành. Lính đâu có sợ bị phục kích nhưng mười người như một , rất sợ trúng mìn bị thương, phải cưa chân tay hay trở thành phế nhân què, đui, dung nhan hủy hoại. Lúc đó đời trai coi như đã dứt, vì em sẽ giã từ gác trọ, để lên xe hoa với kẻ khác. Hai tháng qua, ngày đêm lặn lội trong rừng sâu trên mưa nắng, dưới đĩa vắt, rắn mìn chông được gài giắng khắp vùng Xuyên Mộc, Ðất Ðỏ, Ðức Thành. Ðôi giày bố và bộ đồ trận, được đổi mới đợt trước trong căn cứ Phú Mỹ, doanh trại của Chiến Ðoàn 43BB, cũng đã rách nát bạc màu, thì nay lại có lệnh lội tiếp không có ngày N.
Ðoi lính VNCH trước năm 1975 tàn nhẫn và bi thảm thế đó, nên đôi lúc thoáng nghĩ bâng quơ và nay nhìn lại, thì thật là bất công, thiệt thòi và bị đời hiếp đáp quá đáng. Rồi càng thấy tức cười hơn, khi nhìn lại những thành phần bệnh hoạn no cơm ấm cật, vô ý thức và chỉ vì muốn phô trương tài năng của mình, mà tận tuyệt chà đạp trên sự khổ đau của lính, những người đã bán mạng mình, để bảo vệ sự sống ký sinh cho họ.
Ôi còn mùi gì khiến ta phải nôn mửa hơn, khi khắp nơi trên quê hương máu lửa ngập trời , bao nhiêu nam nữ thanh niên, lần lượt nối tiếp, bỏ trường , bỏ lớp, quên tình yêu và gia đình thi hành bổn phận, tiến ra sa trường hứng đạn lãnh mìn. Trong lúc đó, lại có một bọn tìm đủ mọi cách để trốn quân dịch ở ngoại quốc hay ngay trong lòng đô thị, không bao giờ biết tới chiến trường, nên không phải đối đầu với sự chết chóc và đui mù hay giả bộ không biết sự tàn bạo dã man, có một không hai của Việt Cộng, tay sai cuả Cọng Sản đệ tam quốc tế.
Trong khi bộ đội Bắc Việt hàng hàng lớp lớp tấn công quân dân Miền Nam, thì đám phản chiến,mà hầu hết đều tự xưng là trí thức, khoa bảng, nhưng mặt thật chúng chỉ là đệ tử của Che Guevara,The Beatles, Bertrand Russell, Jean Paul Sartre, Herbert Marcuse., liên tục biểu tình đòi hòa hợp hòa giải với giặc.. Nhưng hề hơn hết có lẽ là những thây ma không tim không óc, chẳng khác nào hình nộm, luôn đấm ngực đòi hòa bình hay nằm dài chờ bồ câu trắng hiện ra trong máu lệ. Ðã vậy còn la ó , xiên xỏ, gào khóc liên hồi đâm sau lưng người lính :
“ Hãy ngồi xuống đây
như loài thú hoang
yêu nhau ngoài đồng
dưới nắng ban mai phô thân trần truồng
kiếp sống hoang sơ..”
( Lê Uyên Phương )
Ăn chơi trác táng rồi la ó rên rỉ nhưng nào đã hết đâu, mà còn nữa, còn rất nhiều những đau đớn xót xa, những âm thừa nhứt nhối, cứ thản nhiên rói mãi vào tâm can người lính, khiến nhiều lúc cũng muốn như họ, trốn quân dịch hay mang mặt nạ để nhân danh lãnh tụ, tôn giáo., bịp chúng lánh đời. Sau đó tìm hang ổ rất bình yên ở hậu tuyến để phá hoại chính quyền
“ Giã từ em, anh đi trung sĩ
em ở nhà lấy Mỹ nuôi con
bao giờ hết việc nước non
về nhà đã có Mỹ con anh bồng..”
- “ Tôi có người yêu chết trận Pleime
Tôi có người yêu chết trận Ashau
Tôi có người yêu nằm chết cong queo
Chết vùi lòng đèo, chết cạnh gầm cầu
Chết nghẹn ngào mình không manh áo.
Mẹ mong con mau bước về nhà
Mẹ mong con lũ con đường xa
Một ngục tù trên quê hương
Người Việt Nam quên nòi giống “
( Trịnh Công Sơn )
- “ Con về thăm mẹ
tay cầm lưỡi lê
mẹ nhìn ngơ ngác
ngủ đi con, ngủ đi con
rồi ngày mai khôn lớn
giết bạn bè, anh em
bán nước mà làm quan ..”
( Miên Ðức Thắng )
Mỗi lời hát là một trái phá, từng ca khúc như một hầm xăng, đốt phá cháy đỏ lòng người yêu nước dữ dội. Rồi sau ngày 30-4-1975 tàn mùa chính chién, lũ Việt gian phản chiến hết thời bị vắt chanh bỏ vỏ, lăn lóc nổi trôi trong biển đời đen bạc, hối hận cũng đã muộn màng :
“ Gọi quê hương mà nhớ
Quê hương ? còn có quê hương sao ?
Khi đất nước không còn chiến tranh
Rợ Hồ từ núi về thành
Bạn bè trăm đứa, vừa xanh nấm mồ ..”
Vẩn vơ nghĩ bậy, nên xe đã tới Trại Lý Công Uẩn, Tân Phong trên quốc lộ 1, lúc nào không biết. Trời cuối tháng trăng mọc muộn, thêm vào đó lại có mưa phùn gió bấc, nên bốn hướng tối đen mù mịt. Trong khoảnh khắc chết cóng của không gian , chỉ còn có tiếng côn trùng rã rích, một vài con cú tìm mồi , cất giọng kêu than não nuột. Mặc kệ, lính tráng vẫn im lặng ngủ ngồi trên xe chờ sáng. Xa xa tù cõi mịt mờ, bổng vang vang tiếng chuông nhà thờ, từng hồi văng vẳng, như muốn chiêu hồn những người lính của Tiểu Ðoàn 1, Trung Ðoàn 43.. sắp bước vào cõi mộ địa. Nỗi buồn bất chợt làm hồn hoang xao xuyến, ta đã bỏ trường xưa, lớp cũ, bạn bè và thầy cô thân thương từ bao giờ nhỉ ? Gần quá mà cũng thật xa, không muốn nghĩ mà lòng cứ thổn thức vô vàn. Nhưng tất cả cũng chỉ là định mệnh, giống như những đào kép đang diễn các vở tuồng tự do dân chủ, bảo vệ đạo pháp hay gì gì đó, trên sân khấu đời. Tất cả thật xa hoa thừa thải, nhất là lúc này lính đang sắp tới một chiến trường khốc liệt, khi trời hừng sáng.
Tiểu đoàn lên đường ngay, sau khi đã nhận đủ tiếp tế và đạn dược. Ðiểm hẹn là Tánh Linh . Cuộc đổ quân coi như an toàn và hoàn tất lúc một giờ trưa ngày 21-12. Hoài Ðức và Tánh Linh là hai quận miền núi, nằm về phía tây của tỉnh Bình Tuy, nguyên là phần đất phía nam thuộc phủ Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận, được Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, cắt để thành lập tỉnh mới vào năm 1957. Vùng này nằm sâu trong thung lũng sông La Ngà, phát nguyên từ cao nguyên Di Linh, chảy suốt vùng, một nhánh đổ vào Biển Lạc dưới chân núi Bảo Ðại, nhánh còn lại chảy tới Trị An và nhập vào sông Ðồng Nai, ra biển Ðông ở Vũng Tàu. Quận Hoài Ðức hay Nam Sông có các xã Võ Ðắc (Huyện lỵ), Chánh Ðức, Võ Xu, Duy Cần và Trà Tân tương đối an ninh. Quận Tánh Linh hay Bắc Sông, gồm các xã Sùng Nhơn, Mê Pu, Nghị Ðức, Bắc Ruộng, Huy Khiêm, Tà Pao và Lạc Tánh (Quận lỵ) có nhiều xã xôi đậu, dân chúng gồm người Kinh, Chàm, Thương ăn ở lẫn lộn nhưng đa số thân hay theo VC.
Ở đây rừng núi chập chùng, đầy rẩy thú dử, dân quân du kích, cùng với sự hiện diện của Công trường 7 Chính qui Bắc Việt, luôn luôn gây áp lực mạnh, cho các lực lượng quân sự ở đây dù các Trung Ðoàn 43,48 và 52 của SD18BB, luân phiên hiện diện trấn giữ và bảo vệ dân chúng trong vùng. Tuy vậy tình hình vẫn không khả quan mấy, vì một số lớn di dân Nam Ngãi, được TT Diệm , giúp từ miền Trung đói nghèo tới đây khai khẩn sinh sống trong cac khu trù mật, sau khi phát tài và đủ lông cánh, đã phản bội Quốc Gia, thân hay theo VC chống lại chính quyền
Cũng do sự tác tệ này, nên mới có cái gọi là Ðồng khởi năm 1959 tại Xã Bắc Ruộng, quận Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy. Do quyết tâm cưỡng chiếm cho dược Miền Nam VN bằng võ lực, Hà Nội đã lập cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, cho đám khoa bảng trí thức no cơm ấm cật Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thị Bình, Hồ Thu.. làm lãnh tụ bù nhìn. Tại Bình Thuận, ngày 2-9-1959 Sáu Tú nhân danh đảng, tuyên bố thành lập Ðơn Vị 2-9 do Phạm Hoài Chương (hiện còn sống mang quân hàm thiếu tướng cọng sản), làm Chỉ huy trưởng kiêm chính trị viên. Ngoài ra còn có Nguyễn Hội, nằm vùng trong trường trung học Phan Bội Châu Phan Thiết, từ 1955-1958, là bí thư chi bộ kiêm y tá, làm chỉ huy phó, bí thư chi đoàn, phụ trách hậu cần ( Nguyễn Hội đã bị DPQ/BT bắn chết tại Ðồn Trinh Tường , Phan Thiết ngày mùng 2 Tết Mậu Thân 1968). Ðơn vị 2-9 lúc đó có 3 tiểu đội, trong số này có một tiểu đội người Thương. Riêng số du kích người Việt, đa số ở Nhơn Thiện trong Mật khu Lê Hồng Phong. Chính đơn vị này đã tham dự trận đánh xã Bắc Ruộng năm 1959, trong chiến dịch Ðồng Khởi, trong đó có Mõ Cày (Bến Tre) và Trà Bồng (Quảng Ngãi).
Quận Tánh Linh nghèo nàn xơ xác, từ đầu cổng tới cuối làng, đếm được vài trăm nếp nhà, nằm hai bên con đường đất đỏ, từ Ga Suối Kiết vào. Huyện đường xây gạch lợp ngói nhưng lâu ngày hứng chịu nhiều đợt tấn công của quân thù, cộng thêm mưa rừng gió núi, nên tường mái đã loang lổ nhiều vết đạn và đất đỏ. Bên trong có hai dãy nhà lụp sụp, xây cất bằng ván lợp tôle, là nơi cơ quan hành chánh làm việc. Tất cả cũng xiêu vẹo tồi tàn , như chính thân phận nghèo nàn, bất hạnh của dân và lính trong cơn binh lửa. Phố chợ Lạc Tánh nằm kế bên Huyện đường, càng bi đát hơn. Nhiều nhà cửa của dân địa phương bỏ đi lánh nạn cọng sản, đã trở nên hoang phế, tang thương, cỏ lau mọc xum xê, hàng cột cháy đen loang lổ đứng im lìm. Quê hương Việt Nam là thế đó, nơi nào cũng tang tóc hắt hiu, thảm cảnh chiến tranh nồi da xáo thịt, vắt máu đồng bào đem bán cho Nga, Tàu, Mỹ, Nhật, càng nghĩ càng thêm thống hận.
Bốn giờ chiều, Tiểu đoàn xuất quân, xe chở lính tới xã Huy Khiêm, rồi từ đó lội rừng, tấn công chiếm lại Bắc Ruộng. Hai Tiểu đoàn 2 và 3/43 cũng đã được điều động , từ hai hường Võ Xu, Nghi Ðức về án ngữ hai mặt tây, bắc. Riêng Ðại Ðội Trinh Sát 43, thì được trực thăng vận, nhảy vào lòng địch . Cuộc hành quân giải tỏa thật qui mô nhưng kết quả rất bấp bênh, vì tánh mạng của đồng bào vô tội, đang bị giặc bắt làm con tin trong xã.
Bắc Ruộng đã hiện ra trong tầm mắt, sau con dốc đất đỏ thoai thoải, cây trái mái tranh chìm ngập trong màn lửa khói mịt mù. Ðại đội đi đầu đã bắt đầu chạm địch, từ trong Ấp bắn ra. Tiếng súng của hai phía nổ rền trời đất, nào đại liên, M79, súng lớn, súng nhỏ lẫn tiếng bom rơi từ máy bay oanh tạc. Việt Cộng ngụy trang lá cây, chạy có đàn trong các giao thông hào kiên cố . Bên ngoài đồng ruộng bao quanh, lúa đã bắt đầu trổ bông sửa, mùi thơm đưa đẩy trong gió, khiến cho cảnh vật thật là trớ trêu bi thảm, làm cho ai cũng muốn kêu trời, hỏi sao lại gây dựng nên nỗi này ?
“ kẻ thù của ta, đâu phải là ngươi
giết người đi thì ta ở với ai ?
kẻ thù ta tên nó là gian ác
tên nó là vô lương
tên nó là hờn căm
tên nó là hận thù
mang cái rổ danh từ
chia rẽ chúng ta..”
( Phạm Duy)
Lũ gian ác, chia rẻ, vô lương tìm hoài không thấy, chỉ biết giờ này chúng tôi theo lệnh, là phải làm sao cứu cho được đông bào , đang bị kẹt giữa hai lằn đạn, cho nên cuối cùng là phải thanh toán gấp mục tiêu và chấp nhận thương vong, vì hỏa lực của giặc rất mạnh. Tuy vậy, tới tám giờ tối, quân ta vẫn không tiến được vào Ấp, dù vòng vây xiết thêm đôi chút. Các đại đội đều lấy bờ đất của vòng đai bên ngoài Ấp chiến lược và bờ ruộng làm phòng tuyến tránh đạn nằm chờ, vì đêm tối không phân biệt được phương hướng, địch bạn. Ruông đang trong mùa mưa nên ngập nước, từng đàn đỉa đói đánh hơi người, kéo nhau tới xin chút huyết của lính. Trên trời thì muỗi rừng bay dày đặc, vo ve khắp mặt mũi tay chân. Mặc kệ, tất cả đều im lặng rình rập, để dành cái sống đang nằm trong đường tơ kẻ tóc, của đạn súng vô tình. Giao tranh vẫn tiếp diễn ác liệt, hỏa châu soi sáng cả bầu trời, súng nổ, đạn réo, người vật, cỏ cây đang sống đọng, bổng phút chốc trở nên vô tri , dưới sự tàn phá của chiến tranh.
Có làm lính mới thông cảm nổi khó khăn của người lính VNCH, bởi vì ta và giặc Hồ, cùng đều là người Việt Nam, nên dù thế nào chăng nữa, vẫn còn một chút tình nòi giống, cho nên nhiều đơn vị đã phải khựng điếng trước nghịch cảnh nồi da xáo thịt. Rốt cục chỉ vì thương hại mà lãnh chịu nhiều thương vong, vì VC là cầm thú không tim óc, nên chúng không bao giờ biết tình cảm, chỉ nghĩ tới làm sao để đạt chiến thắng, bất chấp thủ đoạn, kể cả việc sát hại hay giữ đồng bào làm con tin. Giờ mới hiểu là tại sao VC và người dân trong vùng bị chiếm, chỉ sợ có các lực lượng Ðồng Minh, nhất là quân Ðại Hàn . Vì những người này không bao giờ cần phân biệt ai là dân, du kích, chính quy VC, hễ bắn giết họ, thì lập tức bị trả đũa ngay, không một chút nhân nhương, thương hai. Bi kịch tại Mỹ Lai, quận Sơn Tịnh, Quảng Ngải, là một chứng minh. Riêng hai tỉnh Phú Yên và Bình Ðịnh khét tiếng của Quân Ðoàn 2 vì có nhiều VC, nhưng khi Sư Ðoàn Thanh Long và Mãnh Hổ tới trấn đóng tại vùng này, thì VC nhất là du kích, hầu như là rút đi chỗ khác, vì vỏ quít dầy đã có móng tay nhọn, tàn bạo gặp dã man, cuối cùng giặc phải tháo chạy. Thế là vùng đó được bình an.
Ngược lại người lính VNCH, ngoài vấn đề bị khinh ghét ngộ nhận vì VC tuyên truyền, chúng ta là lính đánh thuê cho Mỹ, nên dân chúng đả tỏ thái độ thù nghịch rõ rệt, dù thực chất ta tới đây để bảo vệ tài sản và sinh mạng của họ. Cũng đâu có trách được, vì người dân lúc đó đâu có khác gì con sâu cái kiến, nằm giữa dao thớt, nên chỉ biết nghe lời những kẻ có súng đạn trong tay, để giữ lấy mạng. Hành quân đến làng ấp nào cũng vậy, chỉ thấy đàn bà con gái bụng to vì mang thai. Lính tò mò hỏi chồng đậu, thì trả lời là đã đi làm ăn xa. Ðiều này cho thấy sự hiện hữu thường xuyên của giặc khắp mọi nơi, nhưng vì chế độ của miền Nam qua nhân từ, nên rốt cục thành bất lực không kiểm soát được.
Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa thoát được dãy núi Ông trước mặt, chim chóc bắt đầu rời tổ tìm mồi, thì các cánh quân của Tiểu đoàn 1/43, dưới quyền Tiểu Ðoàn Trưởng, Ðại Uý Tôn Thất Trung ( Khóa 16 SQ/VBDL, vừa thay thế Cố Thiếu Tá Ngô Văn Diệp, TDT bị phục kích chết tại Trảng Bàng tháng1-1965. Riêng Ðại Uý Trung cũng bị trọng thương, gãy hai chân , trong trận TD 1/43 bị Công Trường 7 Chính quy VC tràn ngập vào tháng 7/1966 tại Võ Su, Bình Tuy), cũng tiến được vào Ấp. Lính từng người một cẩn thận, vì chông bẩy, mìn lựu đạn còn gài khắp nơi. Quân tiến theo con đường đá lỏm chởm chạy ngang Xã Bắc Ruộng, thấy VC đào rất nhiều hầm hố giao thông hào. Khắp nơi súng vẫn còn nổ và khói lửa thì mịt trời. Ðó đậy giặc bỏ lại nhiều xác bộ đội cháy đen, nằm co quắp lẫn lộn với túi gạo, thắt lưng đạn cùng quần áo bừa bãi. Tất cả hiện ra thật là bi đát, khiên cho ai được chứng kiến cũng phải đau xót, phiền muộn. Chiến tranh là vậy đó, chỉ có những người VN thấp cổ bé họng là hứng chịu tang thương, còn xếp chúa hay các lãnh tụ, thì muôn đời rung đùi, đâu có biết tới.
Theo lệnh, Tiểu đoàn 1/43 có trách nhiệm lục soát Thôn 1 và 2, về hướng nam của xã. Trong ánh nắng ban mai rực rỡ, có thể nói Bắc Ruộng đã tan vỡ hoàn toàn. Dưới những mái nhà bị sụp đổ hoàn toàn vì bom dạn, mùi tử khí bốc lên nồng nặc. Trọn một gia đình, mẹ và ba con nhỏ, nằm chết đen queo thê thảm bốn ngày qua. Nói chung khắp nơi, moi tranh hay tôle lên là tìm thấy xác người.. Ruồi nhặng, sâu bọ gặp thời cơ, tha hồ rỉa rói xương thịt vô tri bất động . Mưa lại lâm râm rơi nhẹ khắp nơi, tăng thêm mùi hôi thối , làm cho lính đã mệt mỏi lại càng căng thẳng thần kinh , trước nỗi đau cùng tận của đồng bào. Một tốp con nít, đàn bà xanh mét, hốc hac, từ những căn nhà hai bên đường, túa ra chạy theo lính. Thôn xóm vẫn im lìm trong cảnh tiêu điều, hầm hồ cá nhân đầy mắt đất. Thảm cảnh không cầm nổi nuớc mắt, khi lính phát hiện đuợc đôi vợ chồng già nua, ẩn trú dưới hầm kín mấy này qua, dù cụ bà bị thương nặng ở đầu nhưng không dám kêu cứu, vì sợ VC bắt dẫn theo vào rừng.
Buổi trưa, Tiểu đoàn mới vào Ấp giữa.Ðây là khu vực của Trường Sơ Cấp và Nhà thờ Thiên Chúa Giáo Bắc Ruộng. Nhưng tất cả cũng đả sụp đổ hết rồi, chỉ còn trơ lại mấy bức tường cháy và xác người chết nằm la liệt. Giặc Cộng khôn ranh, biết Chính phủ cũng như QLVNCH, không bao giờ dám làm tổn hại tới những cơ sở tôn giáo trang nghiêm như Ðình làng, Chùa Miễu và Nhà thờ. Bởi vậy, giặc Hồ đã chiếm nhà thờ Bắc Ruộng, để đặt Bộ Chỉ Huy quân sự, cũng như các giàn hỏa tiễn phòng không bắn máy bay. Kết quả cả chúng và các cơ sở đều đã tan nát dưới sự tàn phá của bom đạn vô tình.
Thánh đường giờ mơí im vắng thật sự . Bàn ghế gãy đổ, mái nhà cũng bay mất. Tượng Ðức Chúa Jésus ngả nghiêng xiêu vẹo. Ðôi cánh thiên thần như chập lại để vượt khỏi tầng mây. Kinh sách, các lọ nước thánh tung toé lăn lóc trên sàn nhà. Nhưng thảm nhất, là phía sau chiếc bệ thờ bằng gỗ, có sáu xác chết đả sình thối. Trong số này có Ngài Cha Xứ Bắc Ruộng, nằm bất động, tay hình như đang còn lần từng hạt chuỗi, để cầu nguyện cho nhân thế, được ơn lành, phước lớn, hòa bình và hoan lạc. Nhìn Ngài nằm chết thê thảm, người lính chiến có tâm hôn chai đá, cũng đã phải gào thét thật to, để hỏi Thượng Ðế Chí Tôn, đang ngự trên ngôi cao tận chín tầng mây diễm tuyệt, rằng bao giờ dân tộc Việt Nam, mới được tắm trong bể ánh sáng mà Thiên Chúa hằng rao giảng ? Bao giờ trần gian mới được hoan lạc và hòa bình ? Bao giờ các nạn nhân chiến cuộc , mới có được những đoá hoa hồng, hoa súng, những điệu nhạc thanh thoát, để thế nhân vượt qua bể khổ trầm luân của biển đời :
“ Maria, tâm hồn tôi ớn lạnh
run như run thần tử thấy long nhan
run như run hơi thở chạm tơ vàng
nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến..”
(Hàn Mặc Tử )
Thượng Ðế đã thật sự đi rồi, nên không còn ai can ngăn nổi loài người, đâm chém bắn giết lẫn nhau. Chán nản quá, chúng tôi rời nhà thờ , sau khi đem khiêng các xác chết về địa điểm tập trung, trước trường học, để tiếp tục lục soát cho hết khu vực trách nhiệm. Nắng vẫn le lói sáng rực nhưng không khí khắp nơi vẫn ớn lạnh, tiêu điều. Ðây là khu nhà hậu của giáo đường, aó quần, cối xây, lúa gạo vẫn còn vương vãi trong ngoài, nhưng người ở đây thì đã chết hết rồi. Kìa là hình ảnh của ba cô giáo làng, khi giặc về không chạy thoát được, nên đã chụm đầu vào chết chung ở nơi này vì các mảnh bom đạn của cả hai phía. Sự chết của ba nàng, quả là tàn nhẫn dữ dội. Aó tím áo xanh trinh nguyên rạng rỡ, chưa được bao nhiêu tuổi đời, đã thành áo quan, ôm ấp hình hài các em nơi núi rừng miên trường thảm tuyệt.
Ðúng, phải và rất hay như gã nhạc sỷ họ Trịnh đã hát :
“ Tôi có người yêu làm giáo làng
vừa chết tại trận Bắc Ruộng
không hận thù, nằm chết như mơ
từ nay tôi quên tiếng người ..”
( Trịnh Công Sơn )
Tới chiều, cuộc lục soát coi như hoàn tất. Tát cả các xác chết của ta, địch và dân chúng đều được gom lại trước sân cỏ Thanh đường. Những người bị thương nặng, được trực thăng chở về Bệnh viện Võ Ðắc và Xuân Lộc điều trị, cứu chửa. Các Tiểu đoàn của Trung Ðoàn 43 chia khu vực, để dọn dẹp và giúp dân trong xã dựng tạm lại nhà cửa, khói lửa, hầm hố khắp nơi được dập tắt và lấp kín. Ban Quân Y/Trung Ðoàn 43 và Tỉnh Ðoàn Bình Ðịnh Xây Dựng Nông Thôn Bình Tuy, cũng được điều động khẩn cấp tới Bắc Ruộng, để phát thuốc, chẩn bệnh và cứu trị các nạn nhân chiến cuộc
Sáng ngày 24-12, công tác coi như phần nào hoàn tất, Trung Ðoàn 43 BB được lệnh về Long Khánh, sau khi bàn giao Xã Bắc Ruông lại cho một Tiểu Ðoàn Ðịa Phương Quân, từ Hàm Tân di chuyển tới. Nhưng người trong Ấp lại ùa theo lính rất đông để xin vào các trại tị nạn. Chắc họ không còn dám tin ai nửa, kể cả các du kích địa phương, đang lẩn quẩn ẩn trốn ở bìa rừng, chờ Lính Trung Ðoàn 43 rút, là mò về tiếp tục khuấy phá người dân khốn khổ. Tại Tánh Linh, trong khi ngồi chờ xe tới rước , nhìn cảnh tượng dân chúng trốn ra được, trước khi Bắc Ruộng bị giặc Cộng cưởng chiếm, hỏi han tìm kiếm thân nhân lẫn lộn trong đoàn quân, muốn rơi nước mắt. Con ơi, má ơi, em ơi. Tiếng cưòi khóc của đồng bào vang dội như muốn phá vỡ , cái không khí trầm mặc muôn thu của phố núi Lạc Tánh..
Quân đến rồi đi, đêm nay tiểu đoàn được tạm thời nghĩ xã hơi nơi phương phố Xuân Lộc. Tỉnh lẻ của miền đất đỏ, đang làm dáng với hoa đèn lộng lẫy. Các xóm đạo Bảo Hòa, Bảo Ðinh, Bảo Toàn và Khu vực Nhà thò Chính Tòa trước chợ, đầy ấp tín đồ con chiên, mừng vui ngày Chúa Giáng Sinh. Họ đâu có biết, ở một nơi nào đó, cũng tại một thánh đường , có Ngài Cha Xứ và ba cô giáo làng, vừa mới rời khỏi trần gian , để giúp cho thế nhân, sớm tìm laại được hòa bình và hoan lạc.
Thế rồi đời lính cứ lặng lờ xuôi ngược. Chuyện của ngôi thánh đường Bắc Ruộng, có ngài cha xứ và ba cô giáo làng nằm chết,như theo khói lửa chiến tranh và thời gian trôi vào quên lãng. Bởi vì cuộc chiến càng lúc càng ác liệt và hằng ngày đã có không biết bao nhiêu chùa, nhà thờ, các vị chân tu bị giặc Hồ tàn phá và giết chết, trên khắp mọi nẻo đường đất nước.
Năm 1978 sau mưới hai năm xa cách, tôi lại về thăm Bắc Ruộng, nơi mà một thời người lính chiến của Trung Ðoàn 43 Bộ Binh, từng giẫm nát. Nhưng lần này chúng tôi về với thân phân của một tù binh cọng sản, để lao tác, chặt rừng, xẻ núi, đào kinh, vét mương và lấp kín các hố bom, hầm đạn của thời nào. Bắc Ruộng vẫn như buổi nào, con đường tỉnh lộ nối xã với Lạc Tánh và Sùng Nhơn vẫn lầy lội và lởm chởm đá. Nhà cửa dân chúng đã xây dựng lại, cây trồng có phần xum xuê hơn trước, vì chiến tranh đã dứt. Người cũ cảnh mới trùng phùng trong ngấn lệ. Nhưng có một điều là dân chúng đã không xây lại ngôi thánh đường củ, đã bị tàn phá năm 1965. Nền nhà xưa cỏ lau mọc cao hơn đầu, những hàng cột vôi và các bức tường gạch cháy, vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Dãy nhà hậu cũng biến mất, chỉ còn trơ lại cái sân đất trống rỗng đầy cỏ dại, nằm im vắng thẫn thờ trong gió lạnh, nhìn cuôc bể dâu thêm ngao ngán đoạn trường :
“ Trấn bắc hành cung cỏ dãi dầu
khách đi qua đó chạnh niềm đau
mấy tòa sen rớt, mùi hương ngự
năm thức mây phong, nếp áo chầu
người xưa cảnh cũ nào đâu tá ?
( Bà Huyện Thanh Quan )
scan0011
Qua màn lệ mắt của kẻ tù, tôi hình như đã thấy những tà áo tím, áo xanh của các em giáo trẻ năm xưa và màu áo chùng đen của ngài cha xứ. Tất cả như đang lồng lộng trong gió và trên chín tầng mây cao. Người đang đưa tay vẩy gọi và thầm bảo rằng “ các con hãy giữ niềm tin và phấn đấu “
Nhưng chao ơi, đợi tới bao giờ ?
Xóm Cồn Ha Uy Di
Mùa Giáng Sinh 2008
HỒ DINH
TD1/TrD43/SD18BB
Kbc 4424

Monday, April 12, 2021

 VỀ MỘT BỨC HÌNH KHÔNG TRUNG THỰC VỀ CỐ ĐT HỒ NGỌC CẨN

-Người ta đã lấy một ảnh, hình 1, trong phim Cọp Rằn Chương Thiện, hình 2 (poster của phim này) và cho đó là cảnh xử bắn ĐT Cẩn.







 Theo tài liệu trong cuốn ‘S.O.G.’ tác giả John L. Plaster

Vũ đình Hiếu

Ngồi đằng sau chiếc máy bay quan-sát, Wilcorek để-ý đường 19 nơi hướng đông bắc lãnh thổ Cambodia. Con đường này rộng đủ cho hai xe chạy, bụi bay lên mù-mịt chứng tỏ có đoàn xe đang di chuyển ở dưới, khu vực xung quanh không có làng mạc hay dấu hiệu nào của dân cư. Trong tháng Mười năm 1965, nơi thung-lũng Ia-Drang, sư-đoàn 1 Không-Kỵ Hoa-Kỳ mất 304 quân, khi chạm súng với hai trung đoàn chính-quy Bắc Việt, di chuyển và nhận tiếp tế từ bên Miên qua.

Năm 1966, đường 19 được bí mật nối liền với đường 110 và 96 trên đất Lào, điều này cho biết hệ thống đường mòn Hồ-Chí-Minh không dừng lại ở Lào và tiếp tục đi về hướng nam qua đất Cambodia. Cuối năm 1966, các toán biệt-kích thường xuyên phát giác đoàn quân xa của địch chuyển quân qua Miên. Đầu năm 1967, tướng Westmoreland cùng đô-đốc Grant Sharp tư lệnh Lực-Lương Thái-Bình-Dương, yêu cầu giới chức thẩm quyền ở Washington D.C. cho phép biệt-kích thuộc đơn vị SOG xâm nhập, dò-thám lãnh thổ Cambodia. Tháng Năm 1967, Đoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát (SOG) được ưng thuận tổ chức hành-quân Daniel Boon, vượt biên qua Miên.

Chính quyền Sihanouk có nhiều liên hệ mật thiết với giới lãnh đạo Hà-Nội, các toán biệt-kích xâm nhập qua đất Cambodia phải dấu thật kín để bộ Ngoại-Giao Hoa-Kỳ có thể chối cãi dễ dàng. Các toán bìệt-kích chỉ có nhiệm vụ lấy tin tức tình báo chiến lược, không được tấn công, phá hoại, phục kích hoặc gài mìn bẫy. Họ được dặn dò thêm, cẩn thận nhầm lẫn lính Cambode và lính cộng-sản Bắc Việt, cả hai đều mặc quân phục xanh, trang bị AK-47. Trực thăng võ trang là hỏa lực duy nhất yểm trợ cho các toán biệt-kích hoạt-động bên Miên trong trường hợp khẩn cấp.

Lúc ban đầu, hành quân Daniel Boon chú trọng vào khu vực rừng núi rậm rạp tây bắc Cambodia, ráp-ranh với cao nguyên trung phần thuộc lãnh thổ Quân-Khu II / VNCH. Chuyến đầu tiên êm-xuôi, chuyến thứ hai xâm nhập ngày 15 tháng Sáu năm 1967. Trung Sĩ Nhất Lowell Stevens làm trưởng toán biệt-kích tuyên bố như sau ‘Đó là ngày dài nhất trong đời tôi’. Được một chiếc H-34 không phù hiệu Kingbee thuộc phi-đoàn 219 KL/VNCH đưa vào vùng xâm nhập nơi một sườn núi trong đất Lào khoảng 100 thước. Trưởng toán (One Zero) Stevens, toán phó Trung-Sĩ Roland Nuqui và bốn biệt-kích Nùng chạy ra khỏi bãi đáp cỏ tranh bị cháy, biến mất vào trong cánh rừng núi rậm rạp theo sau là những tiếng gọi nhau ơi-ới cùng tiếng súng bắn báo động. Họ đã bị địch phát giác.

Nhiệm vụ của toán biệt kích này là tìm kiếm hai con đường mòn, trạm đóng quân, vị trí đặt súng đại bác của pháo binh CSBV trong vòng năm ngày. Họ đã bị lộ khi xâm nhập, bây giờ chỉ cầu an, quân Bắc Việt đang bủa lưới bao vây toán biệt-kích. Đặt khẩu tiểu liên Thụy Sĩ K xuống đất, Stevens báo cáo ‘Bọn Bê-Bối (lính Bắv Việt) đang bao vây tụi tôi. Yếu cầu triệt xuất ngay tức khắc’.

Rủi cho toán biệt-kích, viên sĩ quan SOG ngồi ghế sau chiếc máy bay quan sát điều-không (FAC) không có kinh nghiệm về chiến tranh ngoại lệ, tưởng rằng Stevens nói hoảng, nên không ra lệnh cho chiếc Kingbee quay trở lại bốc toán biệt-kích. Viên sĩ-quan này đòi hỏi phải có bằng chứng áp-lực của địch. Ngồi trong bụi, toán trưởng biệt-kích cùng toán viên có thể nghe tiếng sĩ-quan Bắc Việt ra lệnh cho binh-sĩ của họ di chuyển lên đỉnh núi nơi toán biệt kích đang lẩn trốn.

Đúng ra, Stevens cùng toán viên của anh ta thuộc hành-quân Omega (Project Omega), trên giấy tờ họ là quân nhân trong Liên-Đoàn 5 LLĐB/HK. Đơn vị này tổ chức hành quân Omega do B-50/LLĐB gánh chịu và hành-quân Sigma do B-56 đảm trách. Hai hành quân, này nhiệm vụ xâm nhập vùng địch kiểm soát trong miền Nam Việt-Nam. Các sĩ quan cao cấp trong LĐ 5/LLĐB muốn dành nhiệm vụ qua Miên, cuối cùng bộ tư-lệnh Quân-Viện giao cả hai hành quân Omega, Sigma cho đơn vị SOG điều khiển.

Phải thúc giục nhiều lần, cuối cùng viên sĩ quan trên ghế sau chiếc FAC đưa vào bốn chiếc trực thăng võ trang (Huey gunship) bắn yểm trợ cho trực thăng H-34 vào bốc toán biệt-kích ra. Vì sườn núi có độ dốc cao, chiếc H-34 đem theo một quân nhân Hoa-Kỳ Thượng-Sĩ Ben Snowden, phụ giúp việc lôi các quân nhân biệt-kích lên máy bay. Khi Stevens nâng người dẫn đạo Nùng lên cho Snowden, địch quân bắn xối xả vào chiếc máy bay, chiếc Kingbee lắc lư nhưng vẫn đem các biệt kích ra khỏi vùng đang bị hỏa lực địch đàn áp.

Trúng 68 viên đạn, hỏng máy chiếc H-34 rớt xuống đất. Từ nơi trú ẩn, Stevens nhìn lên sườn núi thấy một cái hang, bên trong là khẩu đại liên, địch đã ngưng bắn sau khi chiếc máy bay rớt. Chiếc FAC gọi thêm khu trục thả bom làm thành màn lửa che cho toán biệt kích. Một chiếc Kingbee khác đáp xuống rước toán biệt-kích. Khi chiếc bày bốc kên cao khoảng 30 bộ, khẩu đại liên trong hang lại khai hỏa, bắn đứt đuôi chiếc trực thăng. Chiếc Kingbee quay vòng vòng trên trời rồi rớt xuống, phát hỏa. Tất cả biệt-kích cùng với phi hành đoàn chạy thoát ra ngoài, chạy lên một ngọn đồi khác lẩn trốn. Chỉ còn chiếc Kingbee duy nhất trên trời, nhưng chiếc này phải quay về đổ thêm xăng. 

Kể cả nhân viên phi hành đoàn, tất cả chín người, chỉ có viên xạ thủ đại liên trên chiếc H-34 bị thương nặng. Từ trên đồi, họ theo dõi các khu trục A-1 Skyraider thả bom Napalm, rồi một chiếc trúng đạn rớt. Các biệt kích quân nín thở nhìn chiếc dù bị gió thổi dạt về hướng có quân Bắc Việt. Sau đó đoàn trực thăng khác xuất hiện, chiếc Kingbee còn lại xuống đón tất cả về Dakto an toàn. Stevens cùng toán biệt-kích Nùng ra khỏi máy bay, họ kiệt sức. Trong một chiếc poncho có xác Thượng Sĩ Snowden, ông ta lãnh chín viên trong số 68 viên bắn trúng chiếc Kingbee thứ nhất. Để đặt danh dự cho người quân nhân đầu tiên hy sinh trong hành quân Daniel Boon, văn phòng làm việc trong căn cứ ở Kontum được đặt tên la Snowden Hall.

Trong vòng vài tháng, các toán biệt kích trong hành quân Daniel Boon đem về nhiều tin tức về hệ thống đường mòn, điện thoại, căn cứ và kho tiếp vận của địch. Phiá nam vùng tam biên, dưới tỉnh Pleiku VNCH, là một khu vực hiểm trở, rừng núi rậm rạp. Quân đội Bắc Việt xây dựng một căn cứ rất rộng lớn. Quân Bắc Việt và Việt-Cộng tập trung trong khu vực này từ ba đến bốn sư-đoàn. Trong khu vực Lưỡi-Câu gần Lộc-Ninh, địch quân đặt bộ chỉ huy tối cao của Mặt-Trận Giải-Phóng Miền Nam (Trung Ương Cục Miền Nam hay Cục R).

Hầu hết các chuyến xâm nhập qua Miên, nhắm vào khu vực Lưỡi Câu và vùng Tam-Biên. Mùa Thu năm 1967, quân đội Hoa-Kỳ thiệt hại nhiều nhất trong trận Dakto, gần khu vực hoạt động của đơn vị SOG. Trong khi lữ-đoàn 173 Nhẩy-Dù Hoa-Kỳ đánh từng thước đất lên đồi 875 tây nam Dakto. Vài toán biệt-kích SOG xâm nhập về hướng tây 5 dặm trên đất Cambodia để yểm trợ cho lữ-đoàn 173 (Đơn vị này chưa chắc đã biết các hoạt động của SOG). Một toán do trưởng toán Stevens lãnh đạo, toán phó là Trung Sĩ Nhất Ken ‘Shoebox’ Carpenter, lội bộ qua đất Miên từ Nam Lào tìm con đường tiếp vận bí mật mà quân Bắc Việt dùng để tiếp tế cho các đơn vị đang chiến đãu trên đồi 875 và để biết địch sẽ tăng viện thêm quân hay rút lui. Toán biệt-kích này lục soát hai ngày, đến trưa ngày thứ ba họ khám phá ra con đường được trồng cây giả và rải lá nguỵ trang. Toán biệt kích bố tri và chờ xem...

Trời vừa chập tối, quân biệt kích bắt đầu nghe tiếng động cơ xe Molotova. Khoảng 10 giờ đêm, từng toán dân công xuất hiện như những bóng ma, lặng lẽ dọn đường cho xe đi. Con đường nhỏ đủ cho chiếc xe vận tải chạy qua. Nửa giờ sau, đoàn xe vận tải chạy qua đem theo đồ tiếp liệu, lương thực tiếp tế cho đơn vị đang đánh trên đồi 875. Địch không tăng viện thêm quân vào chiến trường. Khoảng 4 giờ sáng đoàn xe trở lại đem theo xác quân Bắc Việt tử trận. Trước khi trời sáng, đoàn quân ma xuất hiện, trồng lại cây, một vài dân công đi sau đeo túi lớn, rải những lá cây trên mặt đường che dấu bánh xe. 

Mùa Thu năm 1967, và đầu năm 1968, SOG xử dụng quân của Liên-Đoàn 5 LLĐB/HK, hành quân Omega và Sigma cho hành quân Daniel Boon. Các toán biệt-kích đóng tại Ban-Mê-Thuột xâm nhập qua Miên. Các toán khác đóng trên Kontum đảm trách những mục tiêu vùng Nam Lào. Bộ chỉ huy ngoài Đà-Nẵng với các căn hành quân tiền phương ở Phú-Bài, Khe-Sanh và Kontum trở thành bộ chỉ-huy Bắc (CCN), các toán biệt-kích có tên tiểu bang hoặc rắn như Anaconda, California. Ban-Mê-Thuột trở nên bộ chỉ-huy Nam (CCS) các toán biệt kích có tên dụng cụ như Saw (Cưa), Hammer (Búa).

Đầu năm, ngày 29 tháng Giêng năm 1968, đơn vị SOG lãnh tổn thất mất tích đầu tiên bên Miên. Trung-Sĩ Nhất Charlie White, còn ba ngày nữa hết hạn kỳ phục vụ ở Việt-Nam, xâm nhập vào khu vực đông bắc Cambodia, chạm súng với địch, chạy đến một khoảng đất trống để trực thăng có thể dùng dây câu lên. White to con như cầu thủ chơi Football, 6 feet 4, 280 pounds. Khi trực thăng kéo anh ta lên cao khoảng 25 feet, White rớt xuống đất. Trong lúc địch đang truy kích và vì trời tối, nên phải đợi đến sáng hôm sau, đơn vị SOG mới tổ chức tìm kiếm.

Toán cấp cứu Bright Light gồm Trung-Sĩ Nhất Zabitosky và Dallas Longstreath III nhẩy xuống khu vực bãi đáp nơi bốc toán biệt kích hôm qua. Họ tìm thấy dấu vết quân Bắc Việt dàn hàng ngang lục xoát tiến lên đồi, rối tụ lại tại một điểm có cây bị gẫy, có lẽ nơi Trung-Sĩ White rớt. Không thấy có vết máu, trong vùng có nhiều dấu chân địch, và còn đơn vị Bắc Việt, toán biệt-kích Bright Light phải quay về. Bộ Quốc Phòng Hoa-Kỳ coi như Trung-Sĩ White tử trận. Trung Sĩ Zabitosky, người đi tìm, tin rằng White bị bắt, Hà-Nội trả lời không biết gì về chuyện đó. 

Một trường hợp mất tích khác xẩy ra bên Miên, Trung-Úy Harry Kroske Jr. được biết rõ. Kroske rất nổi tiếng, làm trưởng toán biệt-kích Hammer trên Ban-Mê-Thuột. Toán Hammer gồm hai LLĐB/HK và bốn biệt kích Nùng lãnh nhiệm vụ dò thám khu vực Lưỡi-Câu, nơi tình nghi có căn cứ lớn quân-đội Bắc-Việt và Cục ‘R’. Sau vài ngày thực tập, toán biệt-kích phát xuất từ căn cứ hành quân tiền-phương Bù-Đốp xâm nhập vào buổi chiều.

Bãi đáp chỉ có cỏ tranh, trống trải, toán biệt kích di chuyển thật nhanh đến một cánh rừng cách đó khoảng 1/4 dặm. Vào đến bià rừng, Trung-Úy Kroske ra lệnh cho Stockdale gọi máy liên lạc trong khi anh ta cùng người hướng đạo Nùng đi sâu vào trong quan sát một con đường lớn mà họ trông thấy từ trên trực thăng khi đáp.

Stockdale báo cáo xong, tiếng trực thăng bao vùng bay về căn cứ. Còn nửa tiếng nữa, mặt trời lặn và toán biệt kích sẽ tìm điểm đóng quân đêm an toàn. Bỗng dưng, một tràng đạn AK sé tan bầu im lặng (cả biệt-kích lẫn địch quân đều xử dụng AK), rồi một tràng nữa rồi súng đạn nổ vang dội, cách Stockdale khoảng 50 feet, nơi Kroske cùng người khinh binh đi thăm dò. Stockdale vội vã gom toán biệt kích còn lại sẵn sàng ứng chiến, rồi người lính Nùng chạy trở lui báo cáo ‘Lieutenant fini! Trung-úy chết rồi!’. Stockdale bất chấp nguy hiểm chạy lên tìm Kroske. Anh ta vừa di chuyển vài bước, súng AK nổ tiếp, đạn cầy trên mặt đất văng đất buộc Stockdale phải năm xuống, mấy người lính Nùng phát hoảng bỏ chạy.

Sau này Stockdale biết rằng, Kroske đi đụng ba người lính Bắc Việt, anh ta nổ súng trước trúng hai địch quân, tên thứ ba bắn trả lại trúng Kroske hai viên vào bụng, một vào ngực. Chàng chạy trở lui, chui vào một góc rừng nằm im khoảng năm tiếng đồng hồ, đến nửa đêm. Quân Bắc Việt đi lùng khắp nơi suốt đêm, tìm không ra người lính biệt-kích Hoa-Kỳ. 

Trong khi đó cách Ban-Mê-Thuột 80 dặm, một đơn vị độc nhất thuộc Không-Lực Hoa-Kỳ, Phi-Đoàn 20 Hành-Quân Đặc-Biệt gửi sáu chiếc trực thăng Huey đi cứu Stockdale. Trực thăng thuộc phi-đoàn này không sơn phù hiệu KL/HK, chỉ sơn hình con ong nên có biệt danh ‘Green Hornets’. Đơn vị cấp cứu mất gần ba tiếng đồng hồ đánh đuổi địch quân mới thả dây cấp cứu xuống câu Stockdale ra khỏi vùng nguy hiểm. Trung-Úy Kroske mất tích, không thâu hồi được xác. Stockdale trở thành trưởng toán Hammer, anh làm trưởng toán gần hai năm và rất nổi tiếng trong bộ chỉ huy Nam (CCS).

Trong phi-đoàn Green Hornets, Thiếu-Úy Flemming rất nổi về tài thả những toán biệt-kích của SOG, Trong một phi vụ bay có Thiếu-Tá Paul McClellan thả toán biệt-kích Chisel nơi mục tiêu Tango-51 Toán biệt kích xuống bãi đáp an-toàn, di chuyển đến một giòng sông rộng làm nhiệm vụ thám thính sự di chuyển của địch trên sông. Chiếc trực thăng Green Hornets bay về trại LLĐB Đức-Cơ gần biên giới, nơi phát xuất của toán biệt-kích. Họ sẽ ăn trưa, lấy thêm xăng, rồi buổi chiều bay về hướng nam thả toán biệt-kích khác vào đất Miên.

Trong khi đó toán Chisel đã bố trí xong, trong một bụi cây gần bờ sông để quan sát. Toán này do Trung-Sĩ Ancil ‘Sonny’ Franks làm trưởng toán đã gần một năm, toán phó là Trung-Sĩ Charles Hughes và ba biệt-kích người Thượng. Họ đem theo Đại-Úy Randolph Harrison, cấp chỉ huy mới của đại-đội thám-kích. Ông ta đi theo để biết đàn em mình làm ăn ra sao.

Trong khi mọi người làm thêm ngụy trang chỗ ẩn núp, Hughes đang kéo cần antenna lên để liên lạc thì địch tấn công toán Chisel. Trung Sĩ Hughes cố gắng gọi cầu cứu nhưng không ai trả lời. Trưởng toán Franks biết bị kẹt nơi bờ sông, hết chỗ chạy. Toán biệt-kích cố gắng cầm cự tại vị trí, trong lúc quân Bắc Việt kéo đến càng đông. Hughes tiếp tục liên lạc cầu cứu, phi đoàn năm chiếc Green Hornets đã bay xa 30 dặm, không chiếc nào nghe được tiếng cầu cứu của Hughes.

May thay trên vùng lúc đó có máy bay FAC do Thiếu-Tá TQLC/HK Charles Anonsen lái, ông này bắt được tần số của toán Chisel và bay về hướng toán đang bị vây để nghe rõ hơn và gọi hợp đoàn Green Hornets quay trở lại. Thêm một trở ngại nữa là các trực thăng đã gần hết xăng, chỉ còn đủ nhào xuống một chuyén bốc toán biệt kích. Hai chiếc gunship cố gắng đẩy lùi quân Bắc Việt ra xa để chiếc khác xuống bốc. Không dè địch có thêm đại-liên phòng không 12 ly 7 bắn rớt một chiếc, nhưng đáp được nơi an toàn, chiếc thứ hai xuống cứu phi hành đoàn và bay thẳng về Đức Cơ vì gần hết xăng.

Toán Chisel bị đẩy lui dần về bờ sông, thêm một trực thăng phải bay về vì hết xăng, còn lại hai chiếc trên vùng, chiếc thả viễn thám do Flemming lái và chiếc gunship do Thiếu-Tá Leonard Gonzales lái. Chiếc gunship nhào xuống bắn đại liên và rocket xung quanh toán biệt-kích bị trúng đạn bốc khói. Flemming đã gần hết xăng chỉ còn cách nhào xuống bốc toán biệt kích hoặc quay về. Được FAC hướng dẫn, Thiêú-Úy Flemming nhào xuống, cùng lúc quân Bắc Việt khai hỏa dữ dội, không biệt kích quân nào ngóc lên được để chạy ra trực thăng. Rồi quân Bắc Việt xung phong, Flemming nghe tiếng báo động trên máy truyền tin ‘Tụi nó vô được rồi! Vô được rồi! Chạy đi, chạy đi!’. Thiếu-Úy Flemming kéo cần lái. Chiếc trực thăng rời bờ sông bay lên trời xanh. 

 Huy Hiệu Long Mã Kingbee Phi Đòan 219 / KQ/QLVNCH

H-34 / S-58 Choctaw 

TRỰC THĂNG VẬN TẢI / ĐA DỤNG

Sikorsky Aircraft (Mỹ)

_______________________________________________________

.

Phi hành đoàn : 02 + 16 lính

Dài : 17,28 m

Đường kính cánh quạt : 17,07 m

Cao : 4,85 m

Trọng lượng không tải : 3.583 kg

Tối đa khi cất cánh : 6.350 kg

Động cơ : 01 động cơ Wright R-1820-84 có sức đẩy 1.525 ngựa.

Tốc độ : 198 km/giờ

Cao độ : 2.900 m

Tầm hoạt động : 293 km

Bay lần đầu : 08/3/1954

Số lượng sản xuất : 1.821 chiếc

Quốc gia sử dụng : Argentina, Úc, Bỉ, Brazil, Cambodia, Canada, Chile, Đài Loan, Costa Rica, Pháp, Đức, Haiti, Indonesia, Ý, Israel, Nhật, Katanga, Lào, Hà Lan, Nicaragua, Philippines, Peru, Nam Việt Nam, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Mỹ, Uruguay.

===