Sunday, January 17, 2021

 

Vũ Xuân Thông: Những Cánh Thép Ngày Trước…

  • Vũ Xuân Thông
https://probuiltmodel.com/img/galleries2images/7yNTZgxO.jpg?ps_full_site=1

Như một lời tri ân chân thành đến tất cả các chiến sĩ Không Quân của KLVNCH đã ngày đêm tích cực yểm trợ Liên Đoàn 81 BCND chiến đấu để bảo vệ quê hương gấm vóc và hai chữ “Tự Do” …Cho tôi xin dù chỉ một lầnMơ làm cánh én giữa trời XuânTang bồng hồ thỉ mang chí lớn Rạng giống Tiên Rồng lính Không Quân

Công ty tôi đang làm nằm trên con đường Mirama Road, sát nách một phi trường lớn của Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ, nên bắt buộc mỗi ngày tôi phải đi và về trên con đường này. Và ngày nào cũng vậy, lộ trình của tôi đều đi qua khu bảo tàng Không Quân chứa đầy các loại phi cơ, từ thời có lỗ sĩ, từ thời tôi chưa được sinh ra trên cõi đời, cho đến những chiếc phi cơ của thời Đệ Nhị Thế Chiến và thời chiến tranh Việt Nam.

Cái khu bảo tàng này lại nằm sát đường chỉ cách một cái hàng rào bằng lưới chống B-40 (chain link fence). Mỗi lần đi qua khu vực này, tôi đều lái xe chậm lại và không khỏi liếc nhìn vào đó dù tôi đã quá quen thuộc với những loại phi cơ đang nằm phơi trên bãi đậu.

Từ những chiếc Avia B 534, Bell P-39 Airacobra từ những năm 1934…đến những chiếc Gruman Hellcat hay Bearcat, những chiếc F-5, Skyraider cho đến những chiếc trực thăng trái chuối CH-46 đầu tiên, H-34 nặng nề, chiếc UH1, Cobra …và cả chiếc L-19 Bird Dog mong manh rất quen thuộc với tôi. Ngoài ra mỗi ngày tôi còn phải nghe tiếng gầm rú của các loại phi cơ chiến đấu cất cánh và hạ cánh mỗi giờ, những ngày không khí ẩm thấp, tiếng cánh quạt của nhiều loại trực thăng nặng nề vang dội trên đầu đã thực sự gây cho tôi nhiều ấn tượng nhất.

Vì đó là những tiếng động đã quá quen thuộc với tôi hầu như đã tiềm ẩn trong trí nhớ tôi và không thể xóa nó đi được dù 37 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã từ cái nghiệp lính.
Năm nay tôi đã bước vào tuổi 75, vẫn phải đi làm, ngoài việc tiếp tục kiếm sống qua ngày trên mảnh đất tạm dung nầy, còn để ngăn ngừa sự thoái hóa của bộ óc càng ngày càng già nua …để rồi hủy hoại hết những điều cần phải nhớ. Tuổi già thì thường hay nói nhiều, nhớ nhiều về dĩ vãng. Thật ra con cháu tôi, chúng cũng thông cảm vì giờ đây tương lai của tôi, chỉ là đang bước dần tôi trạm cuối cùng, là cái nghĩa trang lạnh lùng nào đó.

Tôi là một người lính sống sót sau 15 năm khói lửa, 13 năm tù đày trong các trại tù khổ sai của cộng sản việt nam từ Bắc chí Nam, từ trại kỷ luật đến xà lim Chí Hòa. Thử hỏi cuộc đời của tôi còn lại gì ?

Cái gia tài của người lính như tôi còn lại há không phải là quá khứ của 15 năm trong quân đội hay sao? 15 năm trong một đời người như chúng ta, những người lính đã sống qua cuộc chiến ác liệt, đầy máu và nước mắt, vinh có nhục có và đôi khi buồn nhiều hơn vui, dù muốn quên cũng khó quên.

Ngay từ những năm đầu ở Trung Học, tôi đã rất ngưỡng mộ Không Quân dù chỉ qua hình ảnh của các anh phi công Mỹ, Pháp và Anh trong thời kỳ Thế Chiến thứ hai và trong thời gian chiến tranh Việt Nam vào những năm 50. Sau này khi bước chân vào bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp tôi đã có ý định sau khi tốt nghiệp Trung Học tôi sẽ xin gia nhập vào Không Quân Việt Nam. Những mộng không thành vì khi khám sức khỏe ở Bệnh Viện Cộng Hòa tôi mới phát giác ra là thị lực của con mắt phải của tôi chỉ có 7/10. Thế là vỡ mộng, nhìn bạn bè rộn ràng lên đường gia nhập Quân Chủng Không Quân mà thấy tủi thân. Cuối cùng đành phải chấp nhận cái thân phận chui bờ chui bụi của cái lính đánh trộm là Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. May cũng nhờ quen thuộc lối đánh trộm (đôi khi chúng tôi cũng ăn trộm được nhiều kho vũ khí và lương thực của địch) nên cũng có chút tiếng tăm và chiến công góp phần với các quân binh chủng bạn, đã làm cho kẻ địch suy yếu. Nhưng nếu nói đến cái đơn vị bé tí teo và những chiến tích mà chúng tôi đã lập được cũng nhờ những đôi cánh thép, như một thứ bùa hộ mạng, như cái ô dù che chở trên đầu chúng tôi. Những đôi cánh thép đã mang chúng tôi đi hầu hết các chiến trường (ngoại trừ vùng IV chiến thuật vì lính BCD 81 không biết bơi).

Đã bao lần không quản ngại trước lưới lửa phòng không của địch tua tủa như pháo bông để mang chúng tôi và xác đồng đội ra khỏi vùng vây địch. Qua hàng trăm cuộc hành quân, những đôi cánh thép đã mặc nhiên như gắn ngay sau lưng chúng tôi, đã chắp cho chúng tôi đôi cánh thép. Đơn vị của chúng tôi đã gắn liền với Quân Chủng Không Quân của các bạn.

Xin cho chúng tôi được hân hạnh nhận các chiến hữu Không Quân là bạn để dễ bể tâm sự và để nói hết những điều cần nói sau 37 năm dài. Vì không nói ra lúc này sẽ không có dịp nào để nói, giữa chúng ta từ lâu đã cư xử với nhau rất mực huynh đệ chi binh, nhưng cũng đầy hào khí giang hồ. Tôi sẽ không nhắc lại những chiến công oanh liệt của các bạn hay của chúng tôi. Tôi chỉ muốn nhắc lại những người đi vào chiến tranh với dáng vẻ hào hoa phong nhã, lúc nào quân phục cũng sạch bóng, trang bị nhẹ nhàng không giống như đám chúng tôi bao giờ cũng vậy hễ xuất quân là quần áo rằn ri, lôi thôi lếch thếch…nào là ba lô, súng ngắn, súng dài, giây nhợ quanh người, lựu đạn lủng lẳng đằng truớc, đằng sau. Mỗi lần được bốc ra khỏi vùng hành quân thì ôi thôi khỏi nói, dù có yêu tôi cách mấy cũng chỉ đúng xa mà chào mừng chứ chưa ai dám ôm hôn tôi thắm thiết. Mười lăm ngày hay một tháng luồn lách qua bờ bụi, lên xuống đồi núi dưới cái nắng nóng ẩm, mồ hôi rơi xuống mờ cả mắt lau không kịp. Bộ đồ trận lúc nào cũng đẫm ướt mồ hôi nhiều khi chẩy theo hai bắp chân xuống đôi giày đi rừng.

Đêm nằm trên chiếc poncho gấp đôi, mồ hôi vẫn còn đọng ướt cả lưng. Cứ như thế ngày này sang ngày khác, bộ đồ trận ướt rồi khô, bao nhiêu mùi hôi đều thấm sâu vào vải áo quần. May mắn lắm mới qua được một con suối còn lại chút nước, vội vàng múc cho đầy 2 bị đông nước, xong cùng nhảy xuống hụp cho ngập đầu rồi lại tiếp tục đi.

Ấy là những ngày không chạm địch, còn có thời gian ngồi xuống để thay một đôi vớ đã bốc mùi khó chịu. Những lần chạm địch thì coi như được phép quên đi những khó chịu hàng ngày, quên đi mình đã chưa ăn gì suốt một ngày qua, đã chưa uống một ngụm nước. Tàn cuộc thắng hay thua, lúc ấy mới biết mình còn đủ mồm miệng để ăn vội bọc cơm sấy. Còn các bạn tôi thật khỏe, ngồi trong buồng lái tha hồ tung hoành ngang dọc, hết phi vụ quay về phi trường, đi thẳng vào Câu Lạc. Bộ làm một ly cà phê đá, khỏe re trong lúc chờ cho các chuyên viên “check” tàu, tái trang bị bom đạn, “rocket” để chờ phi vụ tiếp theo.

Chưa nói đến vài ngày chúng tôi được xả hơi sau mỗi cuộc hành quân, cởi được bộ đồ hôi hám, thay vào một bộ quân phục mới để cùng xuống phố phường uống vài chai “33”cho đã bù lại những ngày phải uống nước sông nước suối. Nhưng nếu có xuống phố hay buổi tối tạt vào một tiệm nhảy nào lại đụng mấy bạn, và bao giờ chúng tôi cũng lép vế, lép về về đủ mọi phương diện. Đôi khi có một tí tình còm để an ủi những hễ chấm được cô nào vừa ý là y như rằng đã có một ông Không Quân nào sắp sửa rước đi rồi !!!

Nói cho vui vậy thôi chớ vội cho rằng chúng tôi đả kích các bạn nhé, thua thì thua rồi. Xưa còn trẻ đã không thắng các bạn, nay đầu đã bạc, chân mỏi gối mòn, hơi sức đâu mà ganh với đua . Trước khi nhắc lại những kỷ niệm đã qua, xin cho tôi nhắc lại một câu chuyện sau.

Vào tháng 1 năm 1975 khi Biệt Đoàn chúng tôi được lệnh tăng viện cho Tiểu Khu Phước Long, lúc này đang bị trên một sư đoàn địch vây hãm, các đơn vị địa phương hầu như đã tan hàng. Nói là Biệt Đoàn nhưng thật ra chỉ có 2 Biệt Đội 811, 814 và Bộ Chỉ Huy, tổng cộng khoảng 320 nguời. Không Đoàn 43 Chiến Thuật thuộc Sư Đoàn 3 Không Quân là đơn vị yểm trợ và đổ quân, dưới cơn mưa pháo 105 ly, 155 ly, hỏa tiễn 122 ly và súng cối, các phi đoàn trực thăng đã hoàn thành nhiệm vụ một cách phi thường với tổn thất không đáng kể.

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/c/cc/A-37A-VNAF-546FS-BinhThuy.jpg

Đích thân Chỉ Huy Trưởng của tôi, cựu Đ/Tá Phan Văn Huấn và Đ/Tá Triệu đã trực tiếp chỉ huy cuộc đổ quân. Nhìn từ trên trực thăng xuống thị xã Phước Long tôi nghĩ khó mà đáp được vì cả thị xã ngập trong khói lửa của đủ loại pháo chưa kể hỏa lực phòng không của địch tua tủa bắn lên đây trời với đủ loại từ đại liên 50, súng cá nhân, 23 ly và 37 ly. Tiếng đạn pháo nổ dưới đất cộng tiếng các loại phòng không nổ ngang trời nhắm vào các phi tuấn A-37 va F-5 đang cố thả những trái bom và bắn rocket yểm trợ cho cuộc đổ quân vang rền cả một vùng trời.

Tôi chỉ còn trông cậy vào tài bay bổng của các bạn đưa tôi an toàn xuống đất, chỉ cần chúng tôi đặt được chân xuống đất, dù chưa biết sau đó sẽ ra sao. Và thật như một phép lạ, cả hai lần đổ quân đều trót lọt, tất cả đều nhờ tài khôn ngoan của phi hành đoàn. Thay vì đáp ngay xuống thị xã, các phi hành đoàn của Không Đoàn 43 Chiến Thuật đã đáp xuống cạnh các khe suối cạnh thị xã, là những nơi khuất tầm quan sát của các tiền sát viên địch. Địch đã bố trí quanh khu vực Phước Long một trung đoàn phòng không với đủ mọi loại súng từ 12 ly 8 đến 23 ly và 37 ly. Tiền sát viên của địch ở khắp nơi, nhất là đỉnh núi Bà Rá đã bị địch chiếm mấy ngày trước. Biệt Đoàn I Chiến Thuật của tôi chỉ gồm có Bộ Chỉ Huy và 2 Biệt Đội (Biệt Đoàn -), không quá 300 người. Lực lượng trú phòng của Tiểu Khu Phước Long và các đơn vị tăng phái không còn bao nhiêu.

Tiểu Đoàn 7 thuộc Trung Đoàn 9 của Sư Đoàn 5 chỉ còn không quá 100, Đại Đội 5 Trinh Sát, Sư Đoàn 5 chỉ còn hơn 10 người đã dạt vào đơn vị tôi, Đại Đội Trinh Sát Sư Đoàn 18 Bộ Binh còn Đại Đội Trưởng và hơn một trung đội. Hai Tiểu Đoàn Địa Phuơng Quân đã tan hàng, quân nhân còn lại cũng lẫn lộn trong hàng rào phòng thủ của Biệt Đội 811 của tôi. Cộng chung lại không quá 500 tay súng để chọi lại với lực lượng địch trên 10 ngàn với đủ bộ xe pháo mã tốt. F-5 và A-37 vẫn yểm trợ tích cực nhưng với một hệ thống phòng không chằng chịt không thể xuống thấp để có thể đánh bom chính xác hơn. Từ dưới đất tôi thấy chỉ một chút sơ hở là những chiếc F-5 và A-37 kia sẽ vỡ tung, có một vài trái bom đã rơi vào vị trí bạn …phải chấp nhận thôi .Dù sao sự hiện diện của những chiếc phi cơ này cũng khiến dịch không dám điều động thiết giáp tiến sát đến vị trí chúng tôi. Dân và lính bỏ đơn vị tràn ngập vị trí chúng tôi khiến không thể nào kiểm soát được, tuy vậy chúng tôi vẫn đẩy lui được nhiều đợt xung phong của địch và đã hạ được 4 chiến xa địch.

Vào lúc choạng vạng tối ngày 5 tháng 1 năm 1975, chiến xa địch và bộ binh tiến sát vị trí Bộ Chỉ Huy của tôi, sau đợt pháo 130 ly, 155 ly, 122 lý và 105 ly, chúng thả một toán đặc công vào 2 lô cốt trống , nhờ phát giác kịp thời nên chúng đã bị tiêu diệt ngay sau đó.

Suốt trong thời gian từ ngày 4 tháng 1 năm 1975 đến ngày 6 tháng 1 năm 1975, không lúc nào địch ngưng pháo vào vị trí chúng tôi, chúng mở nhiều đợt tấn công có chiến xa yểm trợ mong tiến sát vào vị trí chúng tôi. Sáng ngày 5 tháng 1 năm 1975, tôi đơn phương quyết định không cho C-130 thả dù tiếp tế nữa vì 1/2 khu vực thị xã đã rơi vào tay địch trước đó 2 ngày. Hầu như 9/10 những kiện hàng tiếp tế đều rơi vào tay địch, các phi vụ oanh kịch không hiệu quả, không còn pháo binh yểm trợ, không tiếp viện. Ở tại Quân Đoàn III, Trung Tướng Dư Quốc Đống từ chối lệnh thả phần còn lại của Liên Đoàn 81 BCND. Trong tình thế này, tôi buộc phải cho lệnh đơn vị rút khỏi Phước Long để bảo toàn đơn vị, tôi đã phải để lại hơn 60 xác đồng đội tại đây. Một điều đau đớn chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử của đơn vị tôi. Tôi đã phải phân tán đơn vị tôi thành từng toán nhỏ, lợi dụng đêm tối, vượt qua hàng rào bao vây của địch để thoát ra ngoài. Phước Long thất thủ vào sáng ngày 6 tháng 1 năm 1975.

Trong lúc đơn vị tôi còn đang tìm cách vượt qua vòng vây của địch thì ngày 7 tháng 1 năm 1975 đã có một buổi họp cao cấp của Quân Đội, giống như tòa án quân sự, họ cố gán ghép việc thất thủ Phước Long là do lỗi của Không Đoàn 43 Chiến Thuật thuộc Sư Đoàn III Không Quân Biên Hòa. Thật là vô cùng phi lý nếu không nói là ngược ngạo. Trong khi các phi cơ của các Phi Đoàn Trực Thăng 221, 223, 231 237 … phi cơ L-19 còn đang bay tìm kiếm và bốc các toán đã vượt qua được vòng vây địch thì tại hậu phương họ đang bị kết tội.

Trách nhiệm làm mất Phước Long nếu nói thuộc về tôi, người đã tự quyết định rút khỏi Phước Long, cao hơn là vì chỉ huy trực tiếp của tôi đã không buộc tôi phải hy sinh cả đơn vị để cố thủ một vị trí mà gần như đã hoàn toàn chiếm giữ bởi quân địch. Chúng tôi còn sống sót không trách cứ bất cứ cấp chỉ huy nào. Người lính chỉ biết tuân hành mệnh lệnh nhưng rõ ràng trách nhiệm làm mất Phước Long thuộc về người đã ra lệnh thả một đơn vị 300 người vào chỗ cầm chắc 90% để thua về một mục đích chính trị. Một ván bài tháu cáy, và đã thua, là khởi sự cho sự sụp đổ sau này.

Tôi đã ghi ở phần trước là giữa Không Quân và các anh em 81 BCND, ngoài tình huynh để chi binh, chúng tôi còn có một cái nghĩa “giang hồ”. Trong buổi họp, Đ/Tá Huấn, Chỉ Huy Trưởng 81 BCND đã dũng cảm tuyên bố trước mặt các tướng lãnh:

“Mất Phước Long, lý do tại sao quý vị đều biết nhưng không ai nói ra. Phần Liên Đoàn 81 chúng tôi vào chỗ chết đã đành bởi nghề nghiệp chúng tôi là chọn chỗ chết để đi vào. Riêng các anh em Không Quân, các phi hành đoàn trực thăng đã làm quá bổn phận của họ, đã chết lây với chúng tôi, thật tội nghiệp. Nay đưa họ ra tòa, tôi cho là vô lý, nếu có lỗi làm mất Phước Long, tôi nhận lỗi. Xin quý vị tiếp tục họp và cho tôi biết kết quả, tôi xin phép ra về vì còn nhiều việc phải làm”

Mãi 2 ngày sau, tôi và Bộ Chỉ Huy mới thoát ra khỏi được vòng vây địch. Ban đêm di chuyển qua các bãi trống, tôi phát giác được nhiều chốt của địch đang bám giữ các bãi đáp này. Sáng cuối cùng chúng tôi tới được một nương sắn (khoai mì), đã thấy nhiều trực thăng đang bốc các toán lẻ cách thị xã khoảng 5 đến 10 cây số. Tôi không còn máy để liên lạc với họ vì chiếc mày truyền tin PRC-25 cuối cùng đã bị Hiệu Thính Viên của tôi đánh rớt xuống nước khi vượt qua sông vào buổi tối. Phương tiện liên lạc duy nhất là một mảnh kiếng nhỏ bằng 2 đầu ngón tay, tôi cũng không hy vọng được bốc ra. Ở tại Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn, mọi người đều nghĩ tôi đã tử trận hoặc bị bắt . Còn đang kiểm điểm xem còn lại bao nhiêu người trong BCH của tôi, bất chợt tôi nghe lùng bùng ở tai. Tôi biết đang có trực thăng bay rất thấp vì tiếng quạt gió làm rung chuyển lớp không khí còn ướt hơi sương, chỉ trong một khoảnh khắc ngắn chiếc chiếc trực thăng UH1 đã ở ngay phía trước. Anh em vội bẻ gẫy một số cây khoai mì, trong lúc đang ra dấu cho trực thẳng vào vị trí, tôi chợt nghe nhiều loạt súng cá nhân từ các đồi bên cạnh bắn qua, có lẫn cả tiếng nổ của đạn súng cối bắn vào vị trí quanh bãi đáp. Vì số cây khoai mì còn nhiều nên trực thăng chỉ lơ lửng trên đầu ngọn cây khoai mì, anh em tự nhảy lên bám vào càng leo lên rồi kéo người khác lên. Đạn bắn càng lúc càng gần, đốn gẫy các cây mì chung quanh.

Vì đạn địch bắn quá gần nên phi hành đoàn buộc phải cất cánh vội vàng. Tôi và Đ/Úy Thành, sĩ quan liên lạc Không Quân (ALO) phải nhảy lên mới bám được vào càng bên trái của chiếc trực thăng.

Khi anh em kéo tôi lên được trên sàn tàu, tôi phải xoay người lại nhờ anh em bám chặt hai chân, cúi xuống nắm lấy hai cổ tay của của Đ/Úy Thành và la lớn để anh thả hai tay ra thì tôi mới kéo anh lên được. Những Anh Thành vẫn không chịu buông tay ra và la lên “Cho tàu đáp xuống” …khi chiếc trực thăng đã bốc lên cao khoảng 200 bộ , bỗng nhiên anh bỏ tay ra không báo trước nên tôi đã để vuột anh. Nhìn anh rơi xuống như một chiếc lá rụng, chiếc áo jacket da bò xòe ra như một cánh bướm mất hút với tiếng là thảm thiết của anh, tôi như người mất hồn…Cả phi hành đoàn đều cúi xuống nhìn anh rơi mà không màng đến hàng trăm viên đạn phòng không đang túa theo chiếc trực thăng đang nặng nề rời bãi .

Chiếc trực thăng duy nhất của Không Đoàn 43 đó Tr/Uy Sơn (Sơn Rỗ) lái đã phải cất cánh với 32 nguời kể cả phi hành đoàn, nó đã bị quá tải (overtorque), chỉ bay mà không đáp được nữa vì nếu đáp sẽ không còn có thể cất cánh được nữa.

Trong đời binh nghiệp của tôi từ khi còn là một toán trưởng thám sát cho đến khi trở thành một cấp chỉ huy cao hơn, chưa bao giờ tôi phải ân hận như thế, đã để rớt Đ/Úy Thành. Hình ảnh của anh còn mãi trong tôi như một cơn ác mộng luôn đè nặng lên tôi trong nhiều năm.

https://hung-viet.org/images/file/VJrW_6Ct2AgBATx4/tructhangvietnamconghoa.gif

Có rất nhiều phi hành đoàn trực thăng đã chết lây theo chúng tôi. Vì là một đơn vị lấy phương tiện không vận và không yểm là con chủ bài, hầu hết các cuộc hành quân của Liên Đoàn 81 BCND đến nằm trong vùng địch và sau lưng địch, không nằm trong tầm pháo binh, có khi còn phải chuyển tiếp qua căn cứ tạm để tiếp nhiên liệu vì thời gian bay của trực thăng không đủ bảo đảm số thời gian bao vùng. Nếu nói một cách tàn nhẫn hơn thì dù 81 BCND chỉ là một đơn vị nhỏ nhưng đã làm thiệt hại rất nhiều phi cơ của cả hai phía Hoa Kỳ và Việt Nam. Tôi đã sống hết đời quân ngũ trong chỉ một đơn vị duy nhất, 12 năm khởi đầu bằng nghề Toán Trưởng, leo lên đến được BCH/ Biệt Đoàn, tôi đã chứng kiến được nhiều điều đau xót. Quên sao được khi lần đầu tiên bước chân lên chiếc H-34 nặng nề như một con voi của Phi Đoàn 215 Thần Tượng, nhớ những Anh Vui, Vinh, Khôi, Mành, Trắng, Hiếu …Những con người hào hoa đã đưa chúng tôi vào những mặt trận “thắt cổ họng còn sướng hơn” như Bình Giả, Pleime, Đức Cơ, Đồng Xoài …và đã đón chúng tôi trở về trong niềm vui gặp lại vợ con, bằng hữu. Quên sao những bạn bè như Trọng, Vỹ, Bảo, Dõng, Duyên và hàng trăm phi công trẻ của Không Đoàn 43 Chiến Thuật, những cánh bay mong manh L-19 thủng hàng chục lỗ đạn. Quên sao được những buổi hàng đoàn trực thăng đáp xuống sân căn cứ hành quân ở Suối Máu, Biên Hòa, phi hành đoàn ngồi chờ phi vụ với một khúc bánh mì, gói xôi đậu xanh mua vội ở Biên Hòa. Những con người đã từng đối đầu với gian nguy cùng với chúng tôi qua bao nhiều mặt trận mà cuộc sống vật chất không đủ để nuôi vợ con, nhưng vẫn cười vang mỗi lần gặp gỡ.

Chúng tôi đã không có đủ khả năng để đãi các bạn một bữa cơm trưa thanh đạm mà phải để các bạn bay về căn cứ, nuốt vội bữa cơm ở Câu Lạc Bộ, để rồi lại phải tiếp tục suốt buổi chiều, có khi trở về khi trời đã tối. Thế mà các bạn vẫn cười, không có một lời phiền hà. Chúng ta đã đã cùng chiến đấu để không vì miếng cơm manh áo của chính mình mà vì để bảo vệ miền Nam tự do, tránh được cái họa cộng sản.

Mỗi lần đi tham dự ngày họp mặt của các Quân Binh Chủng bạn, nhìn lại các chiến hữu xưa, nay đầu đã bạc trắng bỗng bùi ngùi nhớ lại thân phận mình. Nhớ tới tôi đã chưa một lần gửi lời cảm ơn các bạn, vì lòng nhiệt thành của các bạn, biết bao nhiêu lần chỉ vì để cứu một người lính 81 BCND trong vòng vây địch, để rồi lại phải hy sinh cả phi hành đoàn, chúng tôi đã phải chấp nhận những tổn thất về nhân mạng. Chúng ta khác kẻ thù, chúng ta quý nhân mạng hơn, dù chỉ là một người lính bình thường. Biết bao lần tôi chứng kiến những chiếc trực thăng bị nổ tung khi vừa vào bãi đáp, không một người sống sót. Sự tiếp cứu sau đó chỉ để mang về những xác người đã cháy đen!!! Còn gì buồn hơn khi thấy người phi công thoát ra khỏi chiếc A-37 bị bắn cháy, chiếc dù cứ trôi theo gió rồi rơi vào đất địch. Hãy cảm nhận nỗi đau khổ của anh em chúng tôi, những người tiếp cứu một phi công L-19 của Không Quân Việt Nam bị bắn cháy chỉ mang về một thi thể trần truồng. Địch đã xỉ nhục hay căm thù đến nỗi lột hết quần áo của một người đã chết thân thế không còn nguyên vẹn. Cái bản chất cầm thú của kẻ địch đã đối xử với một người đã chết còn như thế, thử hỏi đối với những chiến hữu của chúng ta rơi vào tay địch còn phải chịu đựng những khổ nhục như thế nào? Bao nhiêu chiến sĩ Không Quân đã hy sinh, bao nhiêu người đã rơi vào tay địch?

Hoàng hôn ngày 27 tháng 4 năm 1975, giữa khung trời còn âm u khói từ kho bom phi trường Biên Hòa bị nổ trước đó vài ngày, tôi đứng bên nầy hàng rào nhìn hàng chục chiếc trực thăng cất cánh rời bỏ phi trường. Thế là hết, ẩn ý như một lời vĩnh biệt…đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy những cánh chim ấy, những cánh chim đã cùng chúng tôi trải qua bao gian nguy.

Bây giờ những cánh bay ấy có thể đã nằm mục rã ở một vài bãi phế thải nào đó, hoặc nằm sâu dưới đáy biển sau lần bay cuối cùng, hay may mắn hơn được nằm trong các viện bảo tàng chiến tranh. Nhưng những con người điều khiển chúng vẫn còn nhiều, lòng yêu nước và tinh thần dấn thân vẫn còn và mơ ước một ngày nào đó được bay trên vùng trời Tổ Quốc Việt Nam Tự Do .

Cuộc chiến tranh này chưa bao giờ chấm dứt, nó chỉ được thay đổi hình thức mà thôi … “Old soldiers never die; they just fade away.”
General Douglas MacArthur

A20 Vũ Xuân Thông
Liên Đoàn 81 BCND

Nguồn: https://hung-viet.org/p22826a28212/nhung-canh-thep-ngay-truoc-

Advertisements
REPORT THIS AD

Saturday, January 16, 2021

Các nước Âu Châu đã đối xử với nước Pháp thua trận như thế nào: Hòa ước Fontainebleau năm 1814.

(Đọc để thấy sự đối xử độ lượng và văn minh của đạo quân chiến thắng đối với Napoléon, gia đình của y, dân và quân đội Pháp sau khi Paris thất thủ ngày 31.3.1814.-- Tài) .
Trong cuộc chiến của Liên Minh thứ Sáu ,1812-14, một liên minh gồm Áo, Phổ (Prussia) , Nga, Thụy điển, Vương quốc Anh, và một số bang của Đức, đã đẩy lực lượng của Napoleon khỏi Đức năm 1813. Vào năm 1814 , trong khi Anh, TBN và BĐN đã tiến vào Pháp xuyên qua rặng Pyrénées, Nga, Áo và những đồng minh của họ đã tiến vào Pháp xuyên qua sông Rhine và, sau trận đánh Paris, đã bắt đầu những thương thuyết với các thành viên của CP Pháp để buộc Napoléon Bonaparte thoái vị (abdication).
Vào ngày 31/3 , các nước của Liên Minh ra thông cáo tới dân Pháp:
Chúng tôi đã chiếm Paris, và sẵn sàng tiếp nhận tuyên bố của nước Pháp. Chúng tôi tuyên bố rằng, để những điều kiện của hòa bình được bảo đảm chắc chắn hơn, chúng tôi bắt buộc phải kềm chế (enchain) tham vọng của Napoléon, chúng tôi rất tán thành việc tái lập một chính phủ Pháp chính chắn (wise) hơn để bảo đảm nước Pháp sẽ không gây chiến. Do đó, các nước trong liên minh tuyên bố rằng, chúng tôi sẽ không đối xử với Napoléon như trước, cũng như vậy với bất cứ ai trong gia đình của y; rằng chúng tôi tôn trọng sự toàn vẹn của nước Pháp cũ, như khi nước này từng tồn tại dưới các vua hợp pháp--chúng tôi có thể đi xa hơn nữa, vì chúng tôi luôn luôn bày tỏ (profess) nguyên tắc này, rằng để có an bình cho Âu Châu điều cần thiết là nước Pháp phải vĩ đại và hùng mạnh (France should be great and powerful); rằng chúng tôi công nhận và sẽ bảo đảm một hiến pháp mà dân Pháp soạn thảo cho chính họ. Do đó, chúng tôi kêu gọi thượng viện Pháp thành lập một CP lâm thời, để điều hành đất nước, và soạn thảo một hiến pháp phù hợp với nguyên vọng của dân Pháp. Ý định mà tôi vừa bày tỏ cũng là ý định của các nước trong liên minh.
Paris ngày 31/3/1814.
Alexander, Hoàng đế Nga (ký tên).
Vào ngày 1/4, Hoàng đế Alexander đọc diễn văn trước Thượng viện Pháp và nhắc lại những điều khoản của tuyên bố ngày trước đó , và như cử chỉ thiện chí đã thông báo rằng 150.000 tù binh chiến tranh Pháp bị giữ bởi Nga từ cuộc xâm lăng Nga hai năm trước (1812) sẽ được thả lập tức. Ngày kế đó, Thượng viện Pháp đã đồng ý các điều khoản của Liên Minh và thông qua nghị quyết truất phế Napoléon. Họ cũng thông qua một sắc lịnh ký ngày 5/4, biện minh cho hành động của họ, và kết thúc với câu:
. . . thượng viện tuyên bố và ra sắc lịnh như sau: - 1. Napoléon Buonaparte phải xuống ngôi (cast down from the throne), và sự kế thừa trong gia đình y phải bải bỏ. 2. Dân và quân đội Pháp không buộc phải trung thành với y. 3. Sắc lịnh này sẽ được chuyển tới các quận hạt và quân đội trong nước Pháp, và có hiệu lực tức thời trong các khu phố của thủ đô Pháp.
Paris ngày 5/4/1814.
Moniteur, ký tên.
===
Ngày 3 tháng 4 1814, tin này tới tai Napoleon, đang ở lâu đài Fontainebleau, rằng Thượng viện Pháp truất phế (dethrone) ông. Vì các lực lượng của Liên minh đã công khai lập trường rằng họ chỉ chống ông chớ ko chống dân Pháp, ông gọi lập trường này là lừa gạt (bluff) dư luận và ông chịu từ chức (abdicate) với điều kiện nhường ngôi cho con trai và Hoàng Hậu Marie-Louise là nhiếp chính (regent), và việc duy trì luật lệ của đế quốc.
Ba đặc sứ toàn quyền (plenipotentiary) mang yêu cầu sau đây của Napoleon đến các lãnh tụ của Liên minh:
"Liên minh đã tuyên bố rằng Hoàng đế Napoleon là trở ngại duy nhứt để tái lập hòa bình ở Âu Châu, - Hoàng đế Napoleon, trung thành với lời thề của mình, tuyên bố rằng ông sẵn sàng xuống ngôi, từ bỏ nước Pháp, và ngay cả cuộc sống bản thân (even life itself), vì lợi ích của đất nước, và ko thể chia cách với quyền của con ông, quyền nhiếp chánh của Hoàng hậu, và việc duy trì luật pháp của đế quốc."
- Napoleon: Fontainebleau, ngày 4 tháng 4 1914.
Trong khi các đặc sứ này đi gặp các lãnh tụ của Liên minh, Napoleon đã nghe tin Auguste Marmont đã ko còn hy vọng để đảo ngược tình thế và đầu hàng là điều ko tránh khỏi. Các lãnh tụ của Liên Minh ko còn muốn thương lượng nên từ chối điều kiện của Napoleon. Hoàng Đế Alexander của Nga nói:
"Tôi chấp nhận Hoàng hậu và con trai bà có quyền nhiếp chính, nhưng với Napoleon thì ko. Khi ở thế yếu, y sẽ hứa giữ im lặng từ chỗ ở được chỉ định cho y. Bạn biết hơn tôi về tham vọng của y. Một buổi sáng đẹp trời nào đó, y lại cầm đầu nhiếp chính: chiến tranh lại tái diển, và cả Âu Châu sẽ chìm trong khỏi lửa. Vì sợ điều này tái diển, quân đội của Liên Minh lúc nào cũng ứng trực."
Vì thấy yêu cầu của mình bị từ chối và ko còn lực lượng cứu giá, Napoleon buộc lòng đầu hàng:
"Lực lượng của Liên minh đã tuyên bố rằng Hoàng đế Napoleon là trở ngại duy nhứt trong việc tái lập hòa bình tổng quát tại Âu châu, Hoàng đế Napoleon, trung thành với lời thề của mình, tuyên bố rằng ông từ bỏ, cho ông và những thừa kế của ông, ngai vua của Pháp và Ý; và rằng ko có hy sinh cá nhân, ngay cả hy sinh cuộc sống, mà ông ko sẵn sàng làm vì quyền lợi của nước Pháp."
- Napoleon: Fontainebleau, 6/4 1814.
Trong vài ngày kế, quyền hành của Napoleon trên nước Pháp đã chấm dứt, và hòa ước đã được thương lượng và ký bởi các đại diện toàn quyền tại Paris ngày 11/4 và PHÊ CHUẨN (ratify) bởi Napoleon ngày 13/4.
Căn phòng ở lâu đài Fontainebleau nơi hòa ước được ký.

"
Các điều khoản
Thỏa thuận bao gồm 21 điều. Dựa trên điều khoản quan trọng nhứt, Napoleon bị tước quyền cai trị (rule) nước Pháp, nhưng Napoleon và Marie-Louise được phép giữ chức vụ Hoàng đế và Hoàng hậu. Hơn nữa, các người kế vị và thành viên trong gia đình của Napoleon bị cấm nắm bất cứ quyền gì tại Pháp.
Đảo Elba là một công quốc (principality) tách rời, cai trị bởi Napoleon. Chủ quyền và cờ của Elba được công nhận bởi các nước trong Liên minh, nhưng chỉ có nước Pháp được quyền sát nhập (assimilate) đảo này.
Trong một nguyên lý (tenet) khác của thỏa thuận này, Công quốc (Duchy) Parma, Công quốc Placentia và Công quốc Guastalla được nhượng cho Hoàng hậu Marie-Louise. Tuy nhiên, một thừa kế nam giới và trực tiếp của Hoàng hậu sẽ mang danh hiệu Thân vương (prince) của Parma, Placentia, và Guastalla. Lợi tức hàng năm của Nữ hoàng Josephine (bà này là vợ đầu của Napoleon, vì ko có con nên Napoleon cưới Marie-Louise--người dịch) chỉ còn 1 triệu franc và Napoleon phải giao những tài sản hay điền trang (estate) cho hoàng gia (crown) Pháp và nộp tất cả vương miện (crown jewel) cho nước Pháp. Ông được phép có 400 người làm cận vệ.
Ký tên dưới đây có Caulaincourt, Công tước (duke) của Vicenza; Thống chế MacDonald, Công tước của Tarentum; Thống chế Ney, Công tước của Elchingen; Thân vương Metternich, Bá tước (count) Neselrode, và Nam tước Hardenberg.







Chống đối của Anh
Lập trường của nước này là nước Pháp đang trong tình trạng nổi loạn (rebellion) và rằng Napoleon là kẻ chiếm đoạt (usurper). Castlereagh đã giải thích rằng ông sẽ ko ký nhân danh vua của nước Anh vì làm điều đó sẽ công nhận tính hợp pháp của Napoleon như hoàng đế của Pháp và rằng lưu đày y ở một hòn đảo mà y lại có chủ quyền (have sovereignty), chỉ cách Pháp và Ý một khoảng cách ngắn, cả hai nước này lại có những phe phái Jacobin mạnh mẻ, có thể dễ dàng dẫn đến xung đột sau này.
Like
Comment
Share

Dịch từ: Treaty of Fontainebleau 1814 trên wiki .

Wednesday, January 13, 2021

 Tiền đã lưu thông trong hệ thống ngân hàng Mỹ như thế nào ?

. . .

Mỗi ngày làm việc trong tuần , lúc 11:15 sáng , ngân hàng dự trữ liên bang (Federal Reserve Bank , gọi tắt là Fed) của New York - nhận chỉ thị từ tổng hành dinh của Fed đặt tại Washington , D.C. - để mua các chứng khoán/CK (securities) của CP từ các ngân hàng (NH) và công ty môi giới (brokerage house) lớn ; và bán một số - thường là tín phiếu kho bạc (treasury bill) Mỹ , có giá trị/hiệu lực như trái phiếu/giấy ghi nợ (promissory note) của CP .

Ví dụ hôm nay Fed mua 100 triệu đô tín phiếu kho bạc từ các công ty lớn về môi giới , (các cty này) dự trữ rất nhiều để trao đổi với công chúng . Khi Fed trả tiền cho các công ty môi giới này , 100 triệu đô sẽ được thêm vào nguồn tiền của quốc gia , bởi số tiền này sẽ được ghi (will be credited) vào các NH của họ - giờ đây tiền ký gửi có nhiều hơn .

Nhưng Fed đã lấy 100 triệu từ đâu ?

"Chúng tôi đã tạo ra nó," một viên chức Fed nói . Có nghĩa là , mỗi lần NH trung ương viết một check , nó đã tạo ra tiền . "Dù trước đó tiền này KHÔNG tồn tại " ông nói .

Có hạn chế gì ko ?

"Không hạn chế . Chỉ dựa vào phán đoán đúng và lương tâm của nhân viên có trách nhiệm của Fed."

Và họ có thẩm quyền này từ đâu ?

"Được ủy thác (delegate) cho họ theo Federal Reserve Act năm 1913 , dựa trên Khoản I , điều 8 của Hiến pháp . "Quốc hội có quyền . . . in tiền , điều chỉnh giá trị của nó . . . "

Giờ đây hảy xem đồng tiền này của Fed đã giúp cho hệ thống NH thương mại của chúng ta tạo thêm nhiều tiền hơn .

Fed yêu cầu các NH phải trích/để riêng (put aside) 1 phần tiền ký gửi (deposit) của khách hàng làm dự trữ (reserve) . VD tỉ lệ là 10/100 - như vậy mỗi 1.000 đô ký gửi , NH phải giử lại 100 đô để làm dự trử nhưng có thể cho vay phần lại , nghĩa là 900 đô .

Trong sổ sách của NH , 900 đô này được xếp vào tài sản (asset) , hưởng lời cho tới khi trả hết (pay off) . Khách hàng vay 900 đô , ví dụ để mua 1 xe cũ với giá 900 đô . Người bán xe ký gửi check 900 đô vào NH của ông ta , lúc đó (NH) có thêm 900 đô dự trữ (additional $900 in reserve) và có thể cho vay 90/100 của số tiền đó - 810 đô . Và tiếp tục như vậy đến khi 1.000 đô ban đầu bỏ vào (original $1.000 put into) một NH nào đó có thể cho phép hàng chục NH cho vay tổng cộng 9.000 đô.

. . .

(Dịch từ trang 83-84 của Nat Geo Jan 1993) .

NHẬN XÉT : Tôi không rỏ hệ thống NH của VN ngày nay hoạt động thế nào nhưng điều tôi biết chắc rằng : dân ko tin tưởng vào NH - trong khi người dân miền Nam đã tin tưởng vào hệ thồng NH của chế độ cũ , đã hoạt động bình thường cho tới khi Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng . Hơn nữa , số giám đốc NH bây giờ đi tù , nhiều "như quân Nguyên" đến nỗi không ai nhớ tên họ .

San Jose ngày 13/1/16 lúc 1:54 PM .

 CÓ AI BIẾT . . . TRUNG ÚY LƯU LẬP TRUNG, Khóa 6/68 THỦ ĐỨC, Trưởng ban 4 Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân... chồng của BĐQ HỒ THỊ MỸ HƯƠNG???!!!

Nguyễn Khắp Nơi.
Xin mọi người tiếp tay share rộng rãi. Nhất là các bạn sinh sống lâu năm tại Banmêthuột và cùng chung LĐ24 BĐQ, trại Mãnh Hổ....... Trời Phật sẽ phù hộ cho các bạn...
**************
Trở về trung tâm huấn luyện, chúng tôi được đưa qua Trường Xã Hội Quân Đội, ở đường Lê Văn Duyệt (trong bản doanh của Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô), Chỉ huy trưởng của trường Xã Hội Quân Đội là Thiếu Tá Trần Thị Bích Nga.
Tại đây, chúng tôi được học về văn hóa, học cách nuôi dạy trẻ em để trở thành cô giáo nhà trẻ, học đánh máy làm hồ sơ để làm việc trong các bộ chỉ huy, học cách đỡ đẻ để làm việc trong các quân y viện hoặc khu gia binh và học cách thức khai báo nhận tiền lương hoặc tiền bồi thường tử tuất để giúp đỡ cho các chiến binh và người vợ ở nhà.
Kỷ niệm nhớ đời trong thời gian thụ huấn là tôi được chọn để ĐẠI DIỆN NỮ QUÂN NHÂN ĐI DIỄN HÀNH TRONG NGÀY QUÂN LỰC 19 THÁNG 6 NĂM 1971 TẠI ĐẠI LỘ THỐNG NHẤT, sĩ quan dẫn đầu đoàn Nữ Quân Nhân là Thiếu Tá Nguyễn Thị Bích Phượng.
Hằng ngàn hằng ngàn người tụ tập hai bên đường để được tận mắt nhìn thấy những đoàn quân kiêu hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đang oai hùng nhịp bước trong tiếng nhạc quân hành, lẫn vào trong đám quần hùng đó là những bông hoa Nữ Quân Nhân với đồng phục mầu xanh da trời tuyệt đẹp nhưng không kém phần kiêu hùng.
Mãn khóa, tôi ra trường với cấp bậc Trung Sĩ, vì tôi đậu hạng ba nên được ưu tiên chọn đơn vị trước: Nào là Không Quân, Hải Quân, các Sư đoàn Bộ Binh, Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân . . . Vì đã có duyên với Biệt Động Quân ngay từ đầu, lại có thần tượng là Nữ Hổi Tướng Hồ Thị Quế, nên tôi hăng hái bước lên Bảng Phong Thần mà ghi tên mình vào cột dành cho Biệt Động Quân.
Tôi chính thức trở thành Trung Sĩ Biệt Động Quân vào cuối năm 1971, với thâm niên quân vụ là Một Ngày, vừa tròn 18 tuổi đời.
Tôi nhận sự vụ lịnh trình diện Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân ở trại Đào Bá Phước và làm việc ở đó tròn 6 tháng rồi thuyên chuyển về Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân Quân Khu III.
Không biết tôi có duyên với Tiểu Đoàn 92 Biệt Động Quân hay không, mà công việc tiếp liệu đầu tiên của tôi ở Quân Khu III là những lần mua thực phẩm tiếp tế cho Tiền Đồn Tống Lê Chân vào năm 1971, lúc đó tiền đồn này chưa bị bao vây, trực thăng còn đáp xuống được, nên phần tiếp tế rất dễ dàng, tôi muốn đi theo lắm, nhưng vì nơi này không an nình, nên chẳng ai chịu ký giấy cho tôi lên trực thăng hết. Qua năm 1972, tôi được lệnh đi lãnh quà Trung Thu ở Nhà Hàng Đồng Khánh để trực thăng đi thả dù bánh trung thu cho anh em Biệt Động Quân đang tử thủ ở trại này, lúc đó, Việt cộng đã bao vây trại này dầy đặc, trực thăng chỉ có thể thả dù từ trên cao thật cao, không chắc là ở dưới anh em lính chiến nhận được những phần quà này. Tới khi Trung Tá Ngôn dẫn Tiểu đoàn về An Lộc, thì tôi lại được hân hạnh dẫn những bà vợ của anh em chiến sĩ của Tiểu Đoàn 92 đi thăm viếng thành phố Biên Hòa.
Kỷ niệm vui mà tôi còn nhớ đến bây giờ là những bà vợ của các anh lính Thượng đi chợ với tối suốt buổi sáng, khi về trại, mỗi người chỉ mua vài con khô cá kèo và một bịch muối hột mà thôi, còn quần áo giầy vớ nhất là dầu thơm thì chẳng bà nào ngó ngàng tới cả.
Kỷ niệm buồn là lần tôi đưa vợ của Cố Thiếu Tá Bùi Chí Miên – Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 63 Biệt Động Quân – đi nhận xác chồng ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên vào năm 1972. Trước khi nhận xác, tôi đã mô tả hình ảnh những xác chết được đem từ chiến trường về để chị quen với hỉnh ảnh chết chóc mà đừng quá đau thương, chị Miên bình tĩnh ngồi nghe và hứa là không quá xúc động, nhưng đến khi nguòi lính chung sự kéo ngăn đựng xác chồng ra để chị nhìn mặt, thì chị chỉ kịp kêu lên một tiếng “Anh Ơi” rồi xỉu liền lập tức. Tôi đã đề phòng trước, nên khi chị Miên vừa ngã là tôi đã đưa tay ra đỡ người quả phụ, nhưng chị có khổ người to cao, nên tôi đỡ không nổi, chị ngã đè lên người tôi, làm tôi muốn nghẹt thở, không thể nào nhúc nhích gì được, khoảng 5 phút sau, hai người lính chung sự không thấy tôi đi ra, họ trở vào kiếm. Tôi ráng hết sức kêu cứu, may mà hai người lính này nghe được, họ chạy lại kéo chị lên, tôi lấy dầu gió ra sức hai bên màng tang, một hồi sau chị mới tỉnh lại, chị khóc quá trới quá đất làm cho tôi cũng khóc theo.
Trở lại thành phố Pleiku gió núi mưa mùa.
Sau vài ngày sắp xếp chờ đợi, tôi nhận nhiệm vụ dậy lớp Mẫu Giáo trong trại gia binh của Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân (gần phi trường Cù Hanh), ngoài giờ dậy, tôi trở vào ban Xã Hội làm việc. Trong thời gian làm việc ở Bộ Chỉ Huy, tôi có qua lại nhận đồ tiếp tế với Ban IV và quen biết với Trung úy Lưu Lập Trung, khóa 6/68 Thủ Đức. Khi quen thân với nhau rồi, anh Trung có tâm sự với tôi là anh muốn xin ra tiểu đoàn đi chiến đấu, anh nói:
“Ra Tiểu đoàn, làm ban 3 hoặc nắm đại đội, được bay nhảy thỏa Chí Tang Bồng hơn là ngồi văn phòng. Tôi từ nhỏ cũng đã có mộng làm anh hùng, đi chiến đấu ở sa trường, nên đã hăng hái . . . xúi anh nộp đơn, vì nếu anh có dịp nắm đại đội, thế nào anh cũng cho tôi theo đánh trận chung với anh. Nếu không được đi theo anh đánh trận, tôi sẽ xin qua làm trong ban tiếp liệu, để mỗi lần tiểu đoàn hành quân, tôi cũng làm bộ đi theo chở đồ tiếp tế, rồi làm bộ đang đánh nhau không rút về kịp, tha hồ theo anh mà tham chiến. Đơn xin của anh được thỏa mãn, nhưng thay vì ra Tiểu đoàn, anh lại được đưa về làm Trưởng Ban IV của Liên Đoàn 24, hậu cứ đóng ở Ban Mê Thuột.
Một thời gian sau, Thiếu tá Hồng lại được sự vụ lệnh về Ban Mê Thuột chỉ huy hậu cứ của Liên Đoàn 24, ông cần người phụ tá trong văn phòng, biết tôi có quen thân với anh Trung, nên ông xin cho tôi được thuyên chuyển theo ông về Liên Đoàn 24. Anh Trung . . . xúi tôi: Làm đám cưới với anh trước, thì khi anh được ra tiểu đoàn, mới dễ dàng cho tôi đi thăm anh, rồi ở lại tham chiến cùng với anh, chứ chờ tới lúc anh ra tiểu đoàn rồi, muốn xin phép về làm đám cưới cũng . . . hơi lâu. Tôi nghe anh nói coi bộ êm tai, nên đã đồng ý lập gia đình với anh. Ngày được ra tiểu đoàn của anh chưa thấy thì tôi đã có bầu rồi, chúng tôi có cháu gái đầu lòng vào tháng 12 năm 1974. Khi anh Trung gởi hình cháu gái về cho ông bà nội coi, má anh Trung nằng nặc đòi tôi bồng cháu về Tân Hiệp, Mỹ Tho cho bà ẵm chút đỉnh. Hai vợ chồng bàn nhau, tôi xin nghỉ hậu sản ba tháng về Mỹ Tho, tháng tới anh cũng xin giấy phép về thăm ba má.
Sau khi tôi rời Ban Mê Thuột, tình hình chiến sự mỗi ngày mỗi trở nên căng thẳng, anh Trung chưa có thể về phép được, anh gởi thơ nói tôi ráng chờ.
Đầu tháng 3-1975, Việt cộng bắt đầu tấn công Ban Mê Thuột, đến ngày 10-3-1975 thì tôi nghe tin Trại Mãnh Hổ của Liên Đoàn 24 bị thất thủ, sau đó là lệnh lui binh.
Hàng ngày, tôi bồng con xuống căn cứ Long Bình để ngóng tin chồng, nhưng không có bất cứ một tin tức nào của anh cả. Cho đến ngày 30-4-1975, Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng, bọn nằm vùng cùng với bọn nón cối ùa vào thành phố, ba má tôi tức tốc cho người lên nhà chồng tôi nhắn tin: Đừng có về quê, đừng có ở Mỹ Tho, vì đám bạn của con đi theo Việt cộng vào bưng, nay đã trở lại Mỹ Tho, ngày nào cũng ghé nhà tìm con để thanh toán. Ba má đã đốt hết hình ảnh bằng cấp của con rồi (đó là lý do mà tôi không còn một tấm hình nào về đời Lính của tôi cả). Tôi bàn với cha mẹ chồng rồi bồng con lên Sài Gòn ở với bà Dì.
Qua năm 1976, tôi bồng con lên Ban Mê Thuột, trại Mãnh Hổ đã bị bọn Việt cộng chiếm làm chỗ đóng quân, nên tôi không có cách chi mà vào trong được. Tôi tìm tới nhà những người lính cũ để hỏi thăm tin tức của anh Trung, ai cũng nói: “Lúc đó, Thiếu Tá Hồng ra lệnh tử thủ, ai bước ra ngoài sẽ bị bắn gục” nên khi Việt cộng pháo kích rồi tấn công vào, anh em chống trả mãnh liệt cho tới khi không còn đạn, mới tan hàng, mạnh ai nấy thoát thân, không ai biết ai ở đâu.” Tôi ráng dò hỏi thêm, có người cho biết có một số lính Biệt Động chết, anh em có đắp được hai ngôi mộ, nhưng không có mộ bia hoặc là dấu vết gì, nên không biết là mộ của ai? Tôi ở thêm vài ngày nhưng không thể tìm cách nào vào trong trại Mãnh Hổ, nên đành ra về, thâm tâm vẫn nghĩ rằng anh đã thoát ra ngoài được, sống âm thầm đâu đó để tìm cách về với vợ con.
Tới năm 1979, ba má anh Trung lên Sài Gòn cho tôi hay: “Ba má từ đó tới nay, không có tin tức gì của thằng Trung cả, coi như nó đã chết. Nay, gia đình mình vì gốc người Hoa, nên “được phép vượt biên” với giá cả thương lượng với Công an, con có muốn bồng cháu đi theo ba má không?”
Tôi trả lời liền:
“Ba má cứ đi, mẹ con của con phải ở lại để chờ ba của nó về. Con của anh Trung từ khi sanh ra chưa hề thấy mặt cha, con ráng chờ để nếu ảnh có về, cho nó thấy mặt cha rồi lúc đó đi vượt biên cũng không muộn.”
Tôi bồng con về quê chờ tin chồng, con tôi lớn lên, xin đi học, mấy đứa bạn theo Việt cộng vẫn còn thú oán tôi, không cho cháu đi học, tôi vừa lo buôn bán nuôi con vừa lo dậy cháu học hành.
Tới năm 1984, con tôi đã 10 tuổi rồi mà vẫn không được đi học, tôi thấy tương lai của cháu không có, nên đành gởi nó đi vượt biên với gia đình của Dì tôi. Chuyến vượt biên thành công, tất cả xin đi Mỹ, tôi khuyên con gái nên đi Úc sống với ông bà nội ở Sydney.
Tới năm 1987, tôi vẫn không có tin tức gì của chồng tôi cả, tôi lấy tấm hình của anh ra để trên bàn thờ, vái lạy anh lần chót rồi cùng với gia đình vượt biên, qua tới đảo Bidong. Tôi ở đảo 5 tháng rồi được đoàn tụ với con gái ở Úc.
Con gái tôi nhìn hình ba, hỏi tôi rằng:
“Bao giờ con được thấy mặt ba?”
Tôi trả lời con gái:
“Má sẽ tìm hết mọi cách, đi hỏi thăm bất cứ ai, ráng tìm ra tin tức của ba.”
Trời không phụ lòng người, bốn chục năm sau, tôi đã liên lạc được với anh Bùi Văn Thuận, Y tá của Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân, hiện ở Canberra, Úc Đại Lợi, anh cho biết:
“Hồi còn ở Việt Nam, tôi có gặp một người lính dưới quyền anh Trung, kể với tôi rằng: “Trong khi tử thủ, anh Trung bị pháo kích trúng ngực chết tại chỗ, nhiều người cũng cùng chung số phận. Khi bọn Việt cộng tràn vào trại, một số thoát thân, số còn lại gồm có cả bác sĩ của Liên đoàn Nguyễn Đăng Tri bị bắt làm tù binh, may mắn thay, trên đường bị giải đi, bác sĩ Tri và một số anh em trốn thoát đi bộ về tới Nha Trang, nay đang ở bên Mỹ.””
Tôi hỏi anh về người lính đó, anh nói đã mất liên lạc với anh ta từ hồi còn ở Việt Nam, chỉ nhớ anh tên là Hai, vậy thôi.
Tôi cho con tôi hay tin, nó khóc dữ lắm, rồi nói với tôi:
“Nếu ba con còn sống, chắc chắn ba sẽ đi tìm con rồi. Tới nay là bốn chục năm rồi, con không được tin gì của ba cả, chắc ba đã tử trận theo như lời của bác Thuận kể lại. Thôi, má để cho ba con yên nghỉ nới suối vàng đi.”
Phần tôi, tôi không thể nào “Thôi” được. Tôi chỉ có thể yên tâm khi nào tìm được tin tức chính xác của anh Trung mà thôi.
*******************
CÓ AI BIẾT TIN TỨC GÌ CỦA TRUNG ÚY LƯU LẬP TRUNG HAY KHÔNG?
NẾU ANH ĐÃ CHẾT, CHẾT Ở ĐÂU? NGÀY THÁNG NÀO? CHÔN Ở ĐÂU?
NẾU ANH CÒN SỐNG, HIỆN ANH ĐANG Ở ĐÂU?
Chồng tôi, TRUNG ÚY LƯU LẬP TRUNG, Khóa 6/68 THỦ ĐỨC, Trưởng ban IV Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân, là một trong những người lính đã Tử Thủ Trại Mãnh Hổ – Hậu cứ của Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân, Ban Mê Thuột – cùng với Thiếu tá Lê Đình Hồng, chỉ huy Hậu Cứ.
Xin gọi điện thoại cho tôi, Biệt Động Quân Hồ Thị Mỹ Hương, số 61 8 8988 9562, hoặc nhắn tin qua email: nguyen@nguyenkhapnoi.com,
MẸ CON TÔI XIN CÁM ƠN RẤT NHIỀU.
Viết theo lời kể của BIỆT ĐỘNG QUÂN HỒ THỊ MỸ HƯƠNG.

Tuesday, January 12, 2021

 Bãi biển Non Nước: Một kết thúc tức tưởi, oan nghiệt


MX Lê Đình Đơn



Khoảng giữa tháng 3 năm 1975 Lữ Đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) với các Tiểu Đoàn 2, Tiểu Đoàn 6 và Tiểu Đoàn 9 di chuyển đến Thường Đức, Đà Nẵng để thay thế các đơn vị Nhảy Dù. Cổ Thành và các vị trí đóng quân ở phía Tây Quốc Lộ 1 bàn giao lại cho Biệt Động Quân và các Tiểu Đoàn Địa Phương Quân trấn giữ.


Nhìn đoàn quân xa chuyển quân cùng các đơn vị Truyền Tin, Pháo Binh nối đuôi nhau theo Quốc Lộ 1 (QL1 ) xuôi Nam người dân Quảng Trị đã thảng thốt kêu lên: Thủy Quân Lục Chiến rút khỏi Quảng Trị rồi! Đường từ thị xã Huế đến chân đèo Hải Vân đông nghẹt xe cộ. Những chiếc xe đò chất đầy khách trong xe, đồ đạc cao ngất ngưởng trên mui, đang hối hả, chen chúc, chờ qua đèo.


Đại đội của tôi được lệnh sẽ thay thế vị trí đóng quân của đại đội Nhảy Dù đang trấn đóng ở cao điểm 1062.


Đoàn xe đưa chúng tôi đến điểm đổ quân ngay trên con đường ủi sát chân núi chạy dài theo hướng Tây Nam mà từ xa đã nhìn thấy. Từ đó chúng tôi sẽ di chuyển theo con đường này cho đến khi gặp đơn vị Dù. Báo cáo xuống xe, bố trí, chờ lệnh di chuyển, thì ngay tức khắc địch quân đã chào đón bằng những tràng thượng liên dòn dã cùng những quả súng cối rải rác rất gần. Bám theo từng mô đá, bụi cây sát chân núi, đại đội di chuyển thật chậm, nắng chiều đã tắt, địch ngưng bắn, chúng tôi đến được điểm đóng quân thì trời đã tối.

Tôi cho đại đội bố trí dọc theo đường tiến quân, vào gặp đại đội trưởng để nhận vị trí bàn giao. Đại đội trưởng Đại Đội 2 Tiểu Đoàn 6 Dù là một niên trưởng khóa 22 VKTĐ. Thật nhanh, anh cho tôi biết đã chuẩn bị sẵn những liên lạc viên của 15 vị trí để thay thế cùng những cao điểm trọng yếu đã được đánh dấu trên bản đồ. Anh nói: “Tôi biết quân số đại đội của bạn dư sức để trám tuyến đại đội của tôi và anh cũng cho biết thêm với kinh nghiệm hoán đổi nhau nhiều lần ở đây, địch quân lúc nào cũng sẵn sàng rình rập tìm cơ hội phản công, đặc biệt là những lần đổi quân.”

Các trung đội, từng toán lần lượt theo liên lạc viên đến vị trí bàn giao với lời dặn : việc trước tiên là phải báo động tại vị trí tác chiến, không được làm gì khác, quan sát động tĩnh, canh gác cẩn thận đề phòng địch tấn công bất ngờ. Một cao điểm vô cùng quan trọng ở xa, là nơi địch luôn quấy phá, được tăng cường gấp đôi quân số (14 người ) có máy truyền tin được giao cho trung sĩ Điểu, một hạ sĩ quan dày dạn kinh nghiệm đảm trách.

Bàn giao hoàn tất, người đại đội trưởng Dù bắt tay từ giã “Chúc bạn may mắn, chúng tôi được lệnh về Sàigòn” . Người về hậu phương yên bình, kẻ vào vùng binh lửa hiểm nguy đối với chúng tôi quá quen thuộc. Biết bao lần hoán đổi như thế này trong những ngày tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị giữa các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) với nhau và giữa TQLC và Nhảy Dù.

Nhưng người niên trưởng Dù không về Sàigòn như anh nói, đơn vị của anh đổ vào Khánh Dương, Nha Trang, quần thảo khốc liệt cùng địch quân và anh may mắn thoát hiểm trở về được Vũng Tàu gặp lại tôi khi đại đội tôi chịu trách nhiệm tuần tiễu thị xã Vũng Tàu.

Tiểu Đoàn 6 TQLC đóng giáp tuyến với tôi về phía Tây Nam đụng nặng. Địch quân tấn công mỗi đêm. Người bạn cùng khóa Võ Đăng Tâm vào được tần số nội bộ của đại đội tôi cho biết “tình hình không được sáng sủa, mày với tao ráng giữ liên lạc để có gì còn cứu nhau!”. Tôi cho biết tình hình chỗ tôi vẫn yên tĩnh, địch cố bám sát, thăm dò nhưng bị phát giác, giao chiến nhỏ rồi rút lui, không có tổn thất. Tuy nhiên chúng nhảy vào tần số truyền tin của mình khiêu khích, tuyên truyền, hăm doạ, mặc dù mình thay đổi tần số nhiều lần vẫn bị chúng bám theo. Trong những giờ phút thật rảnh rang chờ địch, bỗng dưng chợt nhớ: hôm nay là ngày 27 tháng 3, sinh nhật của người mình thương yêu! Thật buồn! Nhưng biết làm sao bây giờ!

Người hiệu thính viên báo cáo tiểu đoàn vừa ra lệnh tất cả các đại đội sẵn sàng giấy bút nhận công điện. Nghe và ghi chép thật kỹ, không được gọi lại hỏi tới, lui! Tôi linh cảm sẽ có chuyện quan trọng xảy đến. Công điện nhận được gần nửa trang giấy. Chi tiết của một Lệnh rút quân!

Tuyến phòng thủ Tiểu Đoàn 6 TQLC lại đụng nặng, tôi nghe được tiếng đạn nổ liên tục. Tôi cũng biết pháo binh, không yểm rất khó khăn, hạn chế trong lúc này!

Còn 2 tiếng nữa đúng giờ G, tôi sẽ kéo Trung Đội 2 ở xa nhất về đại đội. Khó khăn nhất là vị trí của trung sĩ Điểu. Địch từ những cao điểm gần đó luôn canh chừng, theo dõi, quấy phá, để tìm cách nhổ cho được trọng điểm tiền đồn này. Phải làm cách nào để địch không phát giác được. Chỉ có cách duy nhất là dùng liên lạc viên để chuyển lệnh đến từng trung đội trưởng rồi cứ theo đó tiến hành, tuyệt đối không được dùng máy truyền tin. Còn vị trí của trung sĩ Điểu đành phải bỏ lại lều chõng!

Thời gian như dài thêm từng giây phút từ lúc trung đội 2 bắt đầu di chuyển. Sự yên lặng, căng thẳng hiện trên từng khuôn mặt, bất cứ một tiếng súng nổ nào từ hướng đó là dấu hiệu kế hoạch rút quân bị lộ.

Tôi thở dài nhẹ nhõm khi người khinh binh trung đội 2 vừa đến tuyến đại đội. Xiết chặt tay Th/u Lê Kim Minh Cảnh, người trung đội trưởng trẻ nhưng quá phong trần, đêm nào cũng trắng đêm chờ địch tại giao thông hào, tôi cho trung đội vượt qua đại đội bố trí tại điểm tiếp tế chờ đại đội.

Trung đội 3 của Ch/u Hào cũng đã đến trám vị trí đại đội.

Bây giờ Trung đội 1 của Th/u Lê Viễn Hồng trở thành tuyến đầu, sẵn sàng khi có lệnh sẽ đoạn hậu, rồi nối đuôi theo đại đội. Tôi cũng đã chuẩn bị sẵn toán quân sẽ quay ngược lại chiến đấu cùng Trung đội 1 và đại đội sẽ phòng thủ chu vi tại điểm tiếp tế để chờ Trung đội 1 nếu bị tập kích.

Rất may, đúng theo lệnh rút quân, toàn bộ đại đội rút ra khỏi vùng đóng quân suông sẻ. Giờ đây nếu đối mặt giao chiến với địch quân, tôi có toàn bộ đại đội để đánh nhau chứ không phải phân tán hơn 15 vị trí, mỗi một vị trí chỉ khoảng 8 đến 10 người!

Rời vị trí đóng quân được khoảng 3 cây số thì được lệnh tiểu đoàn tìm một chỗ đóng quân gần đường rồi gởi số nhà về tiểu đoàn. Qua đêm, tình hình vô sự, chúng tôi được lệnh tiếp tục di chuyển về Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn (BCHLĐ) 369.

Đến chiều vượt qua vị trí đóng quân của đại đội Trương Chí Công Tiểu Đoàn 9 đang giữ mấy khẩu pháo dọc theo đường. Thấy tôi anh nói : “Anh chơi vậy, chơi với ai, đi trước bỏ đàn em ở lại.” Nhưng đấy chỉ là giỡn chơi với nhau mà thôi. Cảnh gặp nhau như thế này, kẻ ở lại chịu trận, người rút ra vùng an toàn đối với chúng tôi như một chấp nhận rất tự nhiên. Thản nhiên như đến phiên trung đội lãnh trách nhiệm đi đầu trong thời gian hành quân ở Giồng Trôm, Kiến Hòa. Mìn bẫy khắp nơi, dẫm theo bước chân người khinh binh mở đường mà đi. Chệch một bước chân có thể đạp lên khối nổ của trái đạn 105 ly.

Đại đội đến BCHLĐ 369 thì trời vừa sập tối. Toàn bộ lữ đoàn đã di chuyển. Tôi được lệnh đóng quân tại vị trí BCHLĐ. Vừa hoàn tất rải quân trám tuyến phòng thủ thì được báo Tiểu Đoàn 9 đang đến. Tôi gặp Tân An (Đ/u Đoàn Văn Tịnh) Trưởng Ban 3 Tiểu Đoàn 9. Anh nói “bạn sắp di chuyển, cho tôi gởi mấy thằng em theo, tụi nó bị thương đi không nổi.” Tôi nói chưa được lệnh, thì lập tức ngay sau đó tiểu đoàn báo sẵn sàng tại chỗ, xe sẽ đón ra Đà Nẵng.

Ngày 29 tháng 3 năm 1975

Xe chạy suốt đêm, vào thành phố Đà Nẵng khoảng 3 giờ sáng. Tiểu đoàn cho biết tôi sẽ gặp tiểu đoàn tại bãi biển Non Nước.

Cầu Trình Minh Thế đã bị giật sập, chúng tôi phải lên tàu nhỏ để đến bãi biển. Khi đại đội tập trung đầy đủ thì trời vừa sáng. Trời càng sáng tỏ, tôi thảng thốt khi nhìn thấy suốt dọc theo bãi biển đông nghẹt là người! Quân lính đủ mọi binh chủng, dân chúng đông không đếm xuể.


Có một chiếc tàu cặp sát bờ khoảng 100 mét đang kéo một số người lên tàu bằng lưới, xong từ từ lui ra biển. Trên bờ số đông nhốn nháo đang lội theo, một đợt sóng lớn dập tới đánh bật mọi người té lăn trở lại bãi!


Một chiếc thiết vận xa chìm nghỉm còn nhô pháo tháp cách bờ khoảng 100 mét, sợi giây thừng từ pháo tháp kéo vào bờ vẫn còn dập dềnh trên mặt nước.

Tàu đã rời xa bãi biển, thả neo, im lìm, bất động.
Người trong bờ ngóng nhìn, mong đợi!

Một chiếc trực thăng xuất hiện, đảo một vòng bãi biển, ai cũng thấy rõ phi công ở trần, mặc quần đùi. Trực thăng bay thấp gần tàu, cả phi công và trực thăng đều lao xuống biển!

Đại bác 130 ly đã pháo tới. Đạn rớt ngoài biển, trên bờ ,mọi người chạy tới, chạy lui vô cùng hỗn loạn.

Tôi nhìn thấy Đại Bàng Phúc Yên ( Trung tá Nguyễ Xuân Phúc ) LĐT/LĐ369. Đại Bàng Thái Dương ( Trung tá Đỗ Hữu Tùng ) LĐP/LĐ369. Đại Bàng Hà Nội (Thiếu tá Trần Văn Hợp ) TĐT/TĐ2 đang ngồi trên bãi biển, cạnh một chiếc xe jeep, đang viết, vẽ những gì trên bãi cát. Tôi tiến lại gần chào, các vị ngẩng đầu nhìn tôi im lặng.

Tôi đã từng phục vụ dưới quyền chỉ huy của Đại Bàng Thái Dương khi ông giữ chức vụ Tiểu đoàn phó Tiểu Đoàn 5. Đại đội tôi có lần về trình diện Đại Bàng Phúc Yên để nhận trách nhiệm phòng thủ Lữ Đoàn. Cho nên cả hai vị đều biết tôi.

“Thưa Thiếu tá, pháo đã bắn tới nơi, xin cho tôi đem đại đội đi tìm chỗ bố trí!”

Cả 3 vị đều im lặng, cho đến khi Thiếu tá Hợp bảo tôi: “Ông muốn làm gì thì làm!”

Bây giờ thì tôi đã hiểu rõ. Tàu sẽ không bao giờ vào bờ để đón người nữa vì sóng gần bờ quá lớn. Người phải bằng cách nào ra tới ngoài kia, nơi tàu đang bỏ neo để lên tàu!

Tôi nhìn đại đội vẫn còn đang tập họp trong đội hình để chờ lên tàu mà ứa nước mắt. Bao nhiêu gian khổ, khó nhọc, còng lưng để mang đủ vũ khí, đạn dược, mặt nạ, áo giáp…một chốc nữa đây sẽ vất bỏ tất cả xuống biển.

Từng toán trở ngược lại phi trường Non Nước để lấy ruột xe làm phao. Có toán đi dọc theo biển đến xóm chài đế tìm thuyền.

Trên mặt biển nhấp nhô không biết bao nhiêu người. Pháo đã được điều chỉnh chính xác hơn. Tiếng kêu la, than khóc vang dội!


Trung úy Hiền rủ tôi tìm phao bơi ra tàu. Tôi nói tàu xa quá tôi chỉ biết bơi bì bõm chắc ra không nổi! Anh bảo “ đừng lo, tôi sẽ cột phao ông chung với phao tôi, tôi là dân miền biển bơi rất giỏi, chúng ta sẽ bơi được ra tới tàu.” Chúng tôi 4 người, Tôi,Tr/u Hiền, Dũng, Nam, đi dọc theo bãi biển về phía xóm chài, xa chỗ tập trung đông người khoảng hơn cây số thì gặp một anh công binh TQLC đang loay hoay với chiếc xuồng đã bị lật úp gần bờ. Anh đang cố gắng lật trở lại nhưng không nổi. Chúng tôi phụ lật trở lại, tát nước và kéo lên bờ. Anh cho biết sáng nay toán công binh 6 người dùng xuồng để ra biển nhưng mấy lần không qua nổi đợt sóng gần bờ, lần nào cũng bị sóng đánh lật úp! Các bạn của anh nản chí đã bỏ đi hết rồi!

Chúng tôi rủ anh mình làm thử lần nữa biết đâu thoát được. Cũng may, ngoài tôi ra ai cũng bơi rất giỏi. Tất cả đồng ý cho tôi lên trước ngồi ở giữa xuồng, còn lại mỗi bên 2 người, bơi đẩy xuồng cố gắng vượt qua được đợt sóng lớn rồi mới lên xuồng. Sóng dập mạnh phủ chụp lên xuồng, con xuồng lắc lư sắp lật mấy lần, nhưng nhờ các anh kềm nổi, chúng tôi qua được đợt sóng lớn, tất cả reo lên: thoát rồi! Cả bọn thi nhau tát nước, mỗi bên một chèo, thay phiên chèo tay hướng về tàu, anh công binh thì cố gắng để sửa máy tàu.

Trời đã về chiều, khoảng cách đến tàu còn quá xa. Nhưng lại một lần nữa, sự may mắn lại đến với chúng tôi, cuối cùng máy đã nổ, chiếc xuồng phăng phăng lướt sóng đến tàu.

Lên được tàu, chúng tôi được hướng dẫn thẳng xuống hầm tàu đã đông nghẹt lính. Chỉ khác với chúng tôi, họ còn quân phục chỉnh tề, giày trận đầy đủ. Tôi không biết họ lên tàu lúc nào và bằng cách nào!

Xa xa nhấp nhô trên mặt biển rất nhiều người đang ôm phao bơi đến. Những chiếc thuyền nhỏ không biết phát xuất từ nơi nào trên bãi biển, đưa người ra tàu rồi quay trở lại để tiếp tục làm chuyến khác. Đèn pha trên tàu bật sáng cả một vùng biển, là cái đích để mọi người đang bơi trên biển tìm tới.

Cho đến khuya thì không còn thấy ai nữa!

Tàu nhổ neo xuôi Nam. Bãi biển Non Nước, thành phố Đà Nẵng xa khuất dần cho đến khi mất hẳn!

Bộ đồ trận thấm ướt nước biển đã khô, toàn thân vô cùng ngứa ngáy khó chịu. Tôi được cho vào phòng tắm để tắm rửa, giặt bộ đồ duy nhất để mặc lại. Các bạn Hải Quân trên tàu đã lo cho mọi người thật chu đáo, từ ăn uống, tắm rửa, vệ sinh với một số người quá đông đảo. Tôi và Hiền len lỏi trong đám đông người để tìm kiếm có ai trong đại đội, tiểu đoàn lên được tàu. Tôi gặp Trần Đình Công ĐĐT/ĐĐ4, tôi hỏi người bạn cùng khóa: “mày có gặp được ai khác?”. Có Đại úy Nghiêm ĐĐT/ĐĐCH và Thiếu tá tiểu đoàn trưởng. Nó đã quần khắp mọi nơi tìm kiếm nhưng không còn ai khác!

Tiểu đoàn 2 TQLC đã tan tác rồi! Không đánh nhau mà tan hàng trong nỗi cay đắng, uất nghẹn!

Trên đường từ Thường Đức di chuyển ra Đà Nẵng, Trung úy Thanh ĐĐT/ĐĐ1 liên lạc với tôi nhờ báo với tiểu đoàn là đại đội của anh lạc mất tiểu đoàn và giờ này còn kẹt trong núi. Anh đã cố gắng liên lạc với tiểu đoàn và các đại đội khác mà không được. Tôi báo ngay cho tiểu đoàn biết và liên lạc nhiều lần với anh sau đó nhưng không được!

Thiếu tá Tiểu đoàn phó, Đại úy Huỳnh Văn Trọn ĐĐT/ĐĐ5 chắc còn kẹt lại trên bãi biển.

Tàu đổ xuống quân cảng Cam Ranh tiếp nhận tân binh, vũ khí, quân trang, quân dụng.
Tiểu đoàn 2 TQLC bây giờ chỉ có tiểu đoàn trưởng, trưởng ban 3 và 2 đại đội trưởng.

Bãi biển Non Nước: Một kết thúc tức tưởi, oan nghiệt!



MX Lê Đình Đơn