Tuesday, January 12, 2021

 Bãi biển Non Nước: Một kết thúc tức tưởi, oan nghiệt


MX Lê Đình Đơn



Khoảng giữa tháng 3 năm 1975 Lữ Đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) với các Tiểu Đoàn 2, Tiểu Đoàn 6 và Tiểu Đoàn 9 di chuyển đến Thường Đức, Đà Nẵng để thay thế các đơn vị Nhảy Dù. Cổ Thành và các vị trí đóng quân ở phía Tây Quốc Lộ 1 bàn giao lại cho Biệt Động Quân và các Tiểu Đoàn Địa Phương Quân trấn giữ.


Nhìn đoàn quân xa chuyển quân cùng các đơn vị Truyền Tin, Pháo Binh nối đuôi nhau theo Quốc Lộ 1 (QL1 ) xuôi Nam người dân Quảng Trị đã thảng thốt kêu lên: Thủy Quân Lục Chiến rút khỏi Quảng Trị rồi! Đường từ thị xã Huế đến chân đèo Hải Vân đông nghẹt xe cộ. Những chiếc xe đò chất đầy khách trong xe, đồ đạc cao ngất ngưởng trên mui, đang hối hả, chen chúc, chờ qua đèo.


Đại đội của tôi được lệnh sẽ thay thế vị trí đóng quân của đại đội Nhảy Dù đang trấn đóng ở cao điểm 1062.


Đoàn xe đưa chúng tôi đến điểm đổ quân ngay trên con đường ủi sát chân núi chạy dài theo hướng Tây Nam mà từ xa đã nhìn thấy. Từ đó chúng tôi sẽ di chuyển theo con đường này cho đến khi gặp đơn vị Dù. Báo cáo xuống xe, bố trí, chờ lệnh di chuyển, thì ngay tức khắc địch quân đã chào đón bằng những tràng thượng liên dòn dã cùng những quả súng cối rải rác rất gần. Bám theo từng mô đá, bụi cây sát chân núi, đại đội di chuyển thật chậm, nắng chiều đã tắt, địch ngưng bắn, chúng tôi đến được điểm đóng quân thì trời đã tối.

Tôi cho đại đội bố trí dọc theo đường tiến quân, vào gặp đại đội trưởng để nhận vị trí bàn giao. Đại đội trưởng Đại Đội 2 Tiểu Đoàn 6 Dù là một niên trưởng khóa 22 VKTĐ. Thật nhanh, anh cho tôi biết đã chuẩn bị sẵn những liên lạc viên của 15 vị trí để thay thế cùng những cao điểm trọng yếu đã được đánh dấu trên bản đồ. Anh nói: “Tôi biết quân số đại đội của bạn dư sức để trám tuyến đại đội của tôi và anh cũng cho biết thêm với kinh nghiệm hoán đổi nhau nhiều lần ở đây, địch quân lúc nào cũng sẵn sàng rình rập tìm cơ hội phản công, đặc biệt là những lần đổi quân.”

Các trung đội, từng toán lần lượt theo liên lạc viên đến vị trí bàn giao với lời dặn : việc trước tiên là phải báo động tại vị trí tác chiến, không được làm gì khác, quan sát động tĩnh, canh gác cẩn thận đề phòng địch tấn công bất ngờ. Một cao điểm vô cùng quan trọng ở xa, là nơi địch luôn quấy phá, được tăng cường gấp đôi quân số (14 người ) có máy truyền tin được giao cho trung sĩ Điểu, một hạ sĩ quan dày dạn kinh nghiệm đảm trách.

Bàn giao hoàn tất, người đại đội trưởng Dù bắt tay từ giã “Chúc bạn may mắn, chúng tôi được lệnh về Sàigòn” . Người về hậu phương yên bình, kẻ vào vùng binh lửa hiểm nguy đối với chúng tôi quá quen thuộc. Biết bao lần hoán đổi như thế này trong những ngày tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị giữa các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) với nhau và giữa TQLC và Nhảy Dù.

Nhưng người niên trưởng Dù không về Sàigòn như anh nói, đơn vị của anh đổ vào Khánh Dương, Nha Trang, quần thảo khốc liệt cùng địch quân và anh may mắn thoát hiểm trở về được Vũng Tàu gặp lại tôi khi đại đội tôi chịu trách nhiệm tuần tiễu thị xã Vũng Tàu.

Tiểu Đoàn 6 TQLC đóng giáp tuyến với tôi về phía Tây Nam đụng nặng. Địch quân tấn công mỗi đêm. Người bạn cùng khóa Võ Đăng Tâm vào được tần số nội bộ của đại đội tôi cho biết “tình hình không được sáng sủa, mày với tao ráng giữ liên lạc để có gì còn cứu nhau!”. Tôi cho biết tình hình chỗ tôi vẫn yên tĩnh, địch cố bám sát, thăm dò nhưng bị phát giác, giao chiến nhỏ rồi rút lui, không có tổn thất. Tuy nhiên chúng nhảy vào tần số truyền tin của mình khiêu khích, tuyên truyền, hăm doạ, mặc dù mình thay đổi tần số nhiều lần vẫn bị chúng bám theo. Trong những giờ phút thật rảnh rang chờ địch, bỗng dưng chợt nhớ: hôm nay là ngày 27 tháng 3, sinh nhật của người mình thương yêu! Thật buồn! Nhưng biết làm sao bây giờ!

Người hiệu thính viên báo cáo tiểu đoàn vừa ra lệnh tất cả các đại đội sẵn sàng giấy bút nhận công điện. Nghe và ghi chép thật kỹ, không được gọi lại hỏi tới, lui! Tôi linh cảm sẽ có chuyện quan trọng xảy đến. Công điện nhận được gần nửa trang giấy. Chi tiết của một Lệnh rút quân!

Tuyến phòng thủ Tiểu Đoàn 6 TQLC lại đụng nặng, tôi nghe được tiếng đạn nổ liên tục. Tôi cũng biết pháo binh, không yểm rất khó khăn, hạn chế trong lúc này!

Còn 2 tiếng nữa đúng giờ G, tôi sẽ kéo Trung Đội 2 ở xa nhất về đại đội. Khó khăn nhất là vị trí của trung sĩ Điểu. Địch từ những cao điểm gần đó luôn canh chừng, theo dõi, quấy phá, để tìm cách nhổ cho được trọng điểm tiền đồn này. Phải làm cách nào để địch không phát giác được. Chỉ có cách duy nhất là dùng liên lạc viên để chuyển lệnh đến từng trung đội trưởng rồi cứ theo đó tiến hành, tuyệt đối không được dùng máy truyền tin. Còn vị trí của trung sĩ Điểu đành phải bỏ lại lều chõng!

Thời gian như dài thêm từng giây phút từ lúc trung đội 2 bắt đầu di chuyển. Sự yên lặng, căng thẳng hiện trên từng khuôn mặt, bất cứ một tiếng súng nổ nào từ hướng đó là dấu hiệu kế hoạch rút quân bị lộ.

Tôi thở dài nhẹ nhõm khi người khinh binh trung đội 2 vừa đến tuyến đại đội. Xiết chặt tay Th/u Lê Kim Minh Cảnh, người trung đội trưởng trẻ nhưng quá phong trần, đêm nào cũng trắng đêm chờ địch tại giao thông hào, tôi cho trung đội vượt qua đại đội bố trí tại điểm tiếp tế chờ đại đội.

Trung đội 3 của Ch/u Hào cũng đã đến trám vị trí đại đội.

Bây giờ Trung đội 1 của Th/u Lê Viễn Hồng trở thành tuyến đầu, sẵn sàng khi có lệnh sẽ đoạn hậu, rồi nối đuôi theo đại đội. Tôi cũng đã chuẩn bị sẵn toán quân sẽ quay ngược lại chiến đấu cùng Trung đội 1 và đại đội sẽ phòng thủ chu vi tại điểm tiếp tế để chờ Trung đội 1 nếu bị tập kích.

Rất may, đúng theo lệnh rút quân, toàn bộ đại đội rút ra khỏi vùng đóng quân suông sẻ. Giờ đây nếu đối mặt giao chiến với địch quân, tôi có toàn bộ đại đội để đánh nhau chứ không phải phân tán hơn 15 vị trí, mỗi một vị trí chỉ khoảng 8 đến 10 người!

Rời vị trí đóng quân được khoảng 3 cây số thì được lệnh tiểu đoàn tìm một chỗ đóng quân gần đường rồi gởi số nhà về tiểu đoàn. Qua đêm, tình hình vô sự, chúng tôi được lệnh tiếp tục di chuyển về Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn (BCHLĐ) 369.

Đến chiều vượt qua vị trí đóng quân của đại đội Trương Chí Công Tiểu Đoàn 9 đang giữ mấy khẩu pháo dọc theo đường. Thấy tôi anh nói : “Anh chơi vậy, chơi với ai, đi trước bỏ đàn em ở lại.” Nhưng đấy chỉ là giỡn chơi với nhau mà thôi. Cảnh gặp nhau như thế này, kẻ ở lại chịu trận, người rút ra vùng an toàn đối với chúng tôi như một chấp nhận rất tự nhiên. Thản nhiên như đến phiên trung đội lãnh trách nhiệm đi đầu trong thời gian hành quân ở Giồng Trôm, Kiến Hòa. Mìn bẫy khắp nơi, dẫm theo bước chân người khinh binh mở đường mà đi. Chệch một bước chân có thể đạp lên khối nổ của trái đạn 105 ly.

Đại đội đến BCHLĐ 369 thì trời vừa sập tối. Toàn bộ lữ đoàn đã di chuyển. Tôi được lệnh đóng quân tại vị trí BCHLĐ. Vừa hoàn tất rải quân trám tuyến phòng thủ thì được báo Tiểu Đoàn 9 đang đến. Tôi gặp Tân An (Đ/u Đoàn Văn Tịnh) Trưởng Ban 3 Tiểu Đoàn 9. Anh nói “bạn sắp di chuyển, cho tôi gởi mấy thằng em theo, tụi nó bị thương đi không nổi.” Tôi nói chưa được lệnh, thì lập tức ngay sau đó tiểu đoàn báo sẵn sàng tại chỗ, xe sẽ đón ra Đà Nẵng.

Ngày 29 tháng 3 năm 1975

Xe chạy suốt đêm, vào thành phố Đà Nẵng khoảng 3 giờ sáng. Tiểu đoàn cho biết tôi sẽ gặp tiểu đoàn tại bãi biển Non Nước.

Cầu Trình Minh Thế đã bị giật sập, chúng tôi phải lên tàu nhỏ để đến bãi biển. Khi đại đội tập trung đầy đủ thì trời vừa sáng. Trời càng sáng tỏ, tôi thảng thốt khi nhìn thấy suốt dọc theo bãi biển đông nghẹt là người! Quân lính đủ mọi binh chủng, dân chúng đông không đếm xuể.


Có một chiếc tàu cặp sát bờ khoảng 100 mét đang kéo một số người lên tàu bằng lưới, xong từ từ lui ra biển. Trên bờ số đông nhốn nháo đang lội theo, một đợt sóng lớn dập tới đánh bật mọi người té lăn trở lại bãi!


Một chiếc thiết vận xa chìm nghỉm còn nhô pháo tháp cách bờ khoảng 100 mét, sợi giây thừng từ pháo tháp kéo vào bờ vẫn còn dập dềnh trên mặt nước.

Tàu đã rời xa bãi biển, thả neo, im lìm, bất động.
Người trong bờ ngóng nhìn, mong đợi!

Một chiếc trực thăng xuất hiện, đảo một vòng bãi biển, ai cũng thấy rõ phi công ở trần, mặc quần đùi. Trực thăng bay thấp gần tàu, cả phi công và trực thăng đều lao xuống biển!

Đại bác 130 ly đã pháo tới. Đạn rớt ngoài biển, trên bờ ,mọi người chạy tới, chạy lui vô cùng hỗn loạn.

Tôi nhìn thấy Đại Bàng Phúc Yên ( Trung tá Nguyễ Xuân Phúc ) LĐT/LĐ369. Đại Bàng Thái Dương ( Trung tá Đỗ Hữu Tùng ) LĐP/LĐ369. Đại Bàng Hà Nội (Thiếu tá Trần Văn Hợp ) TĐT/TĐ2 đang ngồi trên bãi biển, cạnh một chiếc xe jeep, đang viết, vẽ những gì trên bãi cát. Tôi tiến lại gần chào, các vị ngẩng đầu nhìn tôi im lặng.

Tôi đã từng phục vụ dưới quyền chỉ huy của Đại Bàng Thái Dương khi ông giữ chức vụ Tiểu đoàn phó Tiểu Đoàn 5. Đại đội tôi có lần về trình diện Đại Bàng Phúc Yên để nhận trách nhiệm phòng thủ Lữ Đoàn. Cho nên cả hai vị đều biết tôi.

“Thưa Thiếu tá, pháo đã bắn tới nơi, xin cho tôi đem đại đội đi tìm chỗ bố trí!”

Cả 3 vị đều im lặng, cho đến khi Thiếu tá Hợp bảo tôi: “Ông muốn làm gì thì làm!”

Bây giờ thì tôi đã hiểu rõ. Tàu sẽ không bao giờ vào bờ để đón người nữa vì sóng gần bờ quá lớn. Người phải bằng cách nào ra tới ngoài kia, nơi tàu đang bỏ neo để lên tàu!

Tôi nhìn đại đội vẫn còn đang tập họp trong đội hình để chờ lên tàu mà ứa nước mắt. Bao nhiêu gian khổ, khó nhọc, còng lưng để mang đủ vũ khí, đạn dược, mặt nạ, áo giáp…một chốc nữa đây sẽ vất bỏ tất cả xuống biển.

Từng toán trở ngược lại phi trường Non Nước để lấy ruột xe làm phao. Có toán đi dọc theo biển đến xóm chài đế tìm thuyền.

Trên mặt biển nhấp nhô không biết bao nhiêu người. Pháo đã được điều chỉnh chính xác hơn. Tiếng kêu la, than khóc vang dội!


Trung úy Hiền rủ tôi tìm phao bơi ra tàu. Tôi nói tàu xa quá tôi chỉ biết bơi bì bõm chắc ra không nổi! Anh bảo “ đừng lo, tôi sẽ cột phao ông chung với phao tôi, tôi là dân miền biển bơi rất giỏi, chúng ta sẽ bơi được ra tới tàu.” Chúng tôi 4 người, Tôi,Tr/u Hiền, Dũng, Nam, đi dọc theo bãi biển về phía xóm chài, xa chỗ tập trung đông người khoảng hơn cây số thì gặp một anh công binh TQLC đang loay hoay với chiếc xuồng đã bị lật úp gần bờ. Anh đang cố gắng lật trở lại nhưng không nổi. Chúng tôi phụ lật trở lại, tát nước và kéo lên bờ. Anh cho biết sáng nay toán công binh 6 người dùng xuồng để ra biển nhưng mấy lần không qua nổi đợt sóng gần bờ, lần nào cũng bị sóng đánh lật úp! Các bạn của anh nản chí đã bỏ đi hết rồi!

Chúng tôi rủ anh mình làm thử lần nữa biết đâu thoát được. Cũng may, ngoài tôi ra ai cũng bơi rất giỏi. Tất cả đồng ý cho tôi lên trước ngồi ở giữa xuồng, còn lại mỗi bên 2 người, bơi đẩy xuồng cố gắng vượt qua được đợt sóng lớn rồi mới lên xuồng. Sóng dập mạnh phủ chụp lên xuồng, con xuồng lắc lư sắp lật mấy lần, nhưng nhờ các anh kềm nổi, chúng tôi qua được đợt sóng lớn, tất cả reo lên: thoát rồi! Cả bọn thi nhau tát nước, mỗi bên một chèo, thay phiên chèo tay hướng về tàu, anh công binh thì cố gắng để sửa máy tàu.

Trời đã về chiều, khoảng cách đến tàu còn quá xa. Nhưng lại một lần nữa, sự may mắn lại đến với chúng tôi, cuối cùng máy đã nổ, chiếc xuồng phăng phăng lướt sóng đến tàu.

Lên được tàu, chúng tôi được hướng dẫn thẳng xuống hầm tàu đã đông nghẹt lính. Chỉ khác với chúng tôi, họ còn quân phục chỉnh tề, giày trận đầy đủ. Tôi không biết họ lên tàu lúc nào và bằng cách nào!

Xa xa nhấp nhô trên mặt biển rất nhiều người đang ôm phao bơi đến. Những chiếc thuyền nhỏ không biết phát xuất từ nơi nào trên bãi biển, đưa người ra tàu rồi quay trở lại để tiếp tục làm chuyến khác. Đèn pha trên tàu bật sáng cả một vùng biển, là cái đích để mọi người đang bơi trên biển tìm tới.

Cho đến khuya thì không còn thấy ai nữa!

Tàu nhổ neo xuôi Nam. Bãi biển Non Nước, thành phố Đà Nẵng xa khuất dần cho đến khi mất hẳn!

Bộ đồ trận thấm ướt nước biển đã khô, toàn thân vô cùng ngứa ngáy khó chịu. Tôi được cho vào phòng tắm để tắm rửa, giặt bộ đồ duy nhất để mặc lại. Các bạn Hải Quân trên tàu đã lo cho mọi người thật chu đáo, từ ăn uống, tắm rửa, vệ sinh với một số người quá đông đảo. Tôi và Hiền len lỏi trong đám đông người để tìm kiếm có ai trong đại đội, tiểu đoàn lên được tàu. Tôi gặp Trần Đình Công ĐĐT/ĐĐ4, tôi hỏi người bạn cùng khóa: “mày có gặp được ai khác?”. Có Đại úy Nghiêm ĐĐT/ĐĐCH và Thiếu tá tiểu đoàn trưởng. Nó đã quần khắp mọi nơi tìm kiếm nhưng không còn ai khác!

Tiểu đoàn 2 TQLC đã tan tác rồi! Không đánh nhau mà tan hàng trong nỗi cay đắng, uất nghẹn!

Trên đường từ Thường Đức di chuyển ra Đà Nẵng, Trung úy Thanh ĐĐT/ĐĐ1 liên lạc với tôi nhờ báo với tiểu đoàn là đại đội của anh lạc mất tiểu đoàn và giờ này còn kẹt trong núi. Anh đã cố gắng liên lạc với tiểu đoàn và các đại đội khác mà không được. Tôi báo ngay cho tiểu đoàn biết và liên lạc nhiều lần với anh sau đó nhưng không được!

Thiếu tá Tiểu đoàn phó, Đại úy Huỳnh Văn Trọn ĐĐT/ĐĐ5 chắc còn kẹt lại trên bãi biển.

Tàu đổ xuống quân cảng Cam Ranh tiếp nhận tân binh, vũ khí, quân trang, quân dụng.
Tiểu đoàn 2 TQLC bây giờ chỉ có tiểu đoàn trưởng, trưởng ban 3 và 2 đại đội trưởng.

Bãi biển Non Nước: Một kết thúc tức tưởi, oan nghiệt!



MX Lê Đình Đơn

Monday, January 11, 2021

 

Huỳnh Ngọc Thương dấn thân vào Biệt Kích Quân

Lâm Hoài Thạch

(NV) – Những Biệt Kích Quân có nhiệm vụ đi nhảy toán ngoài biên giới. Họ còn được danh xưng là Biệt Kích Lôi Hổ. Nhiệm vụ của họ chỉ đi lẻ tẻ từ bốn đến sáu người vào lòng địch để thu thập tin tức, chiếm giữ tài liệu hay bắt sống địch quân.

Ông Huỳnh Ngọc Thương tại Little Saigon. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Họ là những chiến sĩ vô danh, những bóng ma biên giới, một lần đi không hẹn ngày về! Nhưng nhiệm vụ ấy vẫn thôi thúc nhiều chàng trai trẻ tham gia, trong đó có ông Huỳnh Ngọc Thương.

REPORT THIS AD

Năm 1965, ở tuổi 19, chàng trai Huỳnh Ngọc Thương tình nguyện vào đơn vị Biệt Kích Quân của Hoa Kỳ đóng ở căn cứ Mỹ tại Phú Bài (FOB-1) còn gọi là đơn vị Tiền Danh 1 là một trong năm căn cứ tiền danh của FOB (Forward Operating Base).

Sở dĩ ông chọn Phú Bài vì nơi này thuộc Huế, là nơi ông sinh ra và lớn lên. Ngoài Tiền Doanh 1, FOB còn bốn căn cứ khác là FOB-2 đóng tại Non Nước, FOB-3 đóng tại Ái Tử, FOB-4 đóng tại Khe Sanh, và FOB-5 đóng tại Nông Sơn.

Ông Thương kể: “Lúc đó, tại FOB-1 Phú Bài, với sự chỉ huy của các sĩ quan như Đại Úy Ngụy Hiền, Đại Úy Đoàn Kim Tuấn, Đại Úy Lê Minh, Đại Úy Phạm Văn Hy, Trung Úy Nguyễn Cao Vỹ, Trung Úy Tống Hồ Huấn… Từ năm 1965, tại miền Nam đã từng xảy ra phong trào ‘phản chiến,’ vì một số dân miền Nam biểu tình chống các ông Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ và Trần Thiện Khiêm. Trước đó, tôi đang là một sinh viên y khoa (Đông y), nhưng bị bãi khóa vì biến động của phong trào ‘phản chiến,’ nên đường học vấn của tôi bị trở ngại.”

Khi chính phủ miền Nam ra lệnh tổng động viên, ông Thương rơi vào tài nguyên Sinh Viên Sĩ Quan Khóa 21 Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức, nhưng ông không nhập khóa này, vì ông đang là một Biệt Kích Quân.

REPORT THIS AD

Lúc đó, Bộ Chỉ Huy Biệt Kích Quân Lôi Hổ lập một danh sách để trình lên Bộ Quốc Phòng Miền Nam, nên những quân nhân này được Bộ Quốc Phòng cho miễn dịch lệnh tổng động viên, vì họ đang thi hành nhiệm vụ nhảy toán cho đơn vị Biệt Kích Quân Lôi Hổ. Vì thế, ông Thương được miễn tội là một sinh viên sĩ quan bất phục tùng của Nha Quân Pháp Miền Nam.

Sinh viên y khoa Huỳnh Ngọc Thương. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Những cuộc hành quân ban đầu

REPORT THIS AD

Biệt Kích Quân Huỳnh Ngọc Thương và đồng đội có rất nhiều cuộc hành quân ngoài biên giới miền Nam.

Ông kể: “Trong năm 1967, chúng tôi đã nhảy toán nhiều lần. Phần nhiều, điểm xuất phát là từ Nam Đông, Huế. Nơi này cũng có một căn cứ Biệt Kích của Hoa Kỳ yểm trợ cho chúng tôi. Từ căn cứ Nam Đông chúng tôi vượt biên sang Hạ Lào, Cambodia, nhiều nhất là ở vùng Tam Biên, Krachie. Trong những cuộc hành quân này, phần nhiều chúng tôi không nổ súng, vì nhiệm vụ toán Biệt Kích chỉ xông vào lòng địch để thám sát hoặc lấy tài liệu về cho bộ chỉ huy. Hơn thế nữa, nếu khi chạm địch, bắt buộc chúng tôi phải nổ súng, thì 90% chúng tôi không thể toàn vẹn trở về, vì địch quá đông mà toán chúng tôi cao nhất chỉ có sáu người.”

Ngoài ra, toán của ông cũng đã từng nhảy ra Bắc Việt.

“Đầu năm 1968, toán chúng tôi được lệnh nhảy xuống Quảng Bình. Lúc đó, tôi là trưởng toán cùng với năm đoàn viên. Vì địa điểm hành quân là một cồn cát ở Quảng Bình cập bên bờ sông Nhật Lệ, nên lực lượng Biệt Kích Hoa Kỳ đã trang bị cho chúng tôi những mặt nạ bằng nhựa có ống hơi để thở khi chúng tôi ẩn nắp dưới cồn cát. Trong cuộc hành quân này, toán Biệt Kích Quân xâm nhập bằng đường không vận lúc đêm tối trời. Đến khi trời sáng, vì sợ lộ diện nên chúng tôi phải đào hố để nằm dưới cát, và chỉ được thở bằng những ống hơi được ngụy trang như những ống cỏ gắn liền với mặt nạ đặc biệt này. Ngoài ra, chúng tôi còn được trang bị những loại thuốc đặc biệt dùng thoa lên quần áo và vũ khí để tránh muỗi hoặc tránh những mùi của quân trang mà loài chó thuộc Quân Khuyển của địch có thể phát giác,” ông kể tiếp.

Biệt Kích Quân Huỳnh Ngọc Thương chụp hình năm 1965 tại Phú Bài. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

“Mục tiêu gần một đồn Công An Biên Phòng của địch quân. Nơi này, chúng tôi phát hiện ra những chiến tàu Hải Thuyền của Hải Quân Bắc Việt, nhiệm vụ của những chiếc tàu này là xâm nhập vào Nam để tiếp tế cho quân Giải Phóng Miền Nam. Và, nhiệm vụ của chúng tôi là phải đặt mìn hoặc sử dụng súng cối M-60 để tiêu diệt đoàn Hải Thuyền của địch. Nhưng trong chuyến hành quân này chúng tôi không thành công. Sau đó, trung tâm hành quân Biệt Kích Lôi Hổ mới giao nhiệm vụ này cho đơn vị Biệt Hải, với sự chỉ huy của Hải Quân Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại,” ông kể thêm.

REPORT THIS AD

Khi nhắc đến đơn vị Biệt Hải của Biệt Kích Lôi Hổ, ông Thương chia sẻ: “Đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ lúc đó có năm sở, bao gồm Sở Liên Lạc có ba chiến đoàn, và Sở Công Tác có năm đoàn, gồm Đoàn 11, Đoàn 68, Đoàn 71, Đoàn 72 và Đoàn 75, những đoàn này đều có nhiệm vụ hành quân tác chiến như Sở Liên Lạc, và tôi thuộc Sở Liên Lạc. Sở thứ ba là Sở Tâm Lý Chiến, sở này gồm có hai đài radio, đó là ‘Đài Gươm Thiêng Ái Quốc’ và ‘Đài Mẹ Việt Nam.’ Thứ tư là Sở Không Yểm, trong đó có hai Phi Đoàn 219 và 110 được biệt phái cho Nha Kỹ Thuật để đi thả toán Biệt Kích Lôi Hổ. Sở thứ năm là Sở Phòng Vệ Duyên Hải trong đó có lực lượng Biệt Hải, lực lượng này khác với lực lượng Biệt Hải của Hải Quân.”

Gần cuối năm 1968, Không Quân Hoa Kỳ đưa toán của ông Thương gồm sáu người nhảy dù xâm nhập vào Đèo Ngang, Nghệ An, rồi từ đó toán của ông vượt biên sang Lào, với nhiệm vụ duy nhất là đặt mìn để tiêu hủy đoàn xe của địch trên đường di chuyển từ Bắc Việt xuống miền Nam theo đường biên giới của Lào.

Toán Biệt Kích Lôi Hổ nhảy xuống Tam Biên (biên giới Việt-Miên-Lào). (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Ông Thương kể: “Khi đến mục tiêu, chúng tôi được lệnh đặt hai trái mìn vô tuyến chỉ lớn bằng cục xà bông tại điểm đầu và điểm cuối cách nhau khoảng trên năm cây số để phá hoại đoàn xe này. Ngoài hai trái mìn vô tuyến ở hai đầu mục tiêu, chúng tôi còn phải đặt thêm nhiều mìn, mỗi trái mìn được cài đặt cách nhau khoảng 25-30 mét theo lối đăng chéo của hai bên đường. Tất cả những loại mìn này được điều khiển bằng đường vô tuyến, mà chỉ có bộ chỉ huy của lực lượng Biệt Kích Hoa Kỳ mới cho kích hoạt được.”

REPORT THIS AD

Khi xong nhiệm vụ đặt mìn thì trực thăng của Không Quân Hoa Kỳ đến “bốc” toán của ông về Bắc Xế, trên đất Lào. Khi đến Bắc Xế thì một sĩ quan vô tuyến của Hoa Kỳ cho ông Thương vào phòng kín có bày biện nhiều máy vô tuyến.

Ông Thương nói: “Vị sĩ quan Hoa Kỳ cho tôi xem trên màn ảnh vô tuyến để xác nhận những gì chúng tôi đã thực hiện trong chuyến công tác này. Không bao lâu, trên màn ảnh vô tuyến hiện ra đoàn xe của quân Bắc Việt đã hoàn toàn lọt trọn vào mục tiêu mìn bẫy của toán Biệt Kích Quân đã cài đặt. Vì hệ thống vô tuyến lúc đó con thô sơ, nên trên màn ảnh chỉ hiện ra hai chấm đỏ của hai trái mìn vô tuyến đặt tại hai đầu mục tiêu, và ngay khoảng giữa có nhiều vạch nhỏ màu trắng hiện ra, đó là đoàn xe của của địch. Ông sĩ quan vô tuyến Hoa Kỳ mới bấm vào một nút đỏ trên bàn điều khiển vô tuyến, thì những điểm đỏ và trắng trên màn ảnh bị nổ tung tóe trước khi bị xóa sạch. Sau đó vị sĩ quan này cho chúng tôi biết là mìn đã nổ và đoàn xe đã bị hủy.”

“Đến ba ngày sau, chúng tôi được lệnh tái xâm nhập mục tiêu để chụp hình và tịch thu những tài liệu quan trọng. Sở dĩ toán chúng tôi đến ba ngày sau mới xâm nhập vào mục tiêu, vì nếu đến ngay hiện trường thì có thể toán chúng tôi chạm địch khi chúng đang tải thương hay mang xác chết của bộ đội Bắc Việt đi nơi khác. Khi chúng tôi đến nơi thì xác của trên 10 chiếc xe đã bị hủy hoại vẫn còn đó, nhưng thây người và thương binh của họ đã chuyển đi nơi khác. Đây là sự thành công cuối cùng của tôi lúc còn là một Biệt Kích Quân,” ông Thương nhớ lại.

Ông Huỳnh Ngọc Thương (phải) cùng Biệt Kích Quân Lôi Hổ tại Căn Cứ FOB-1, Phú Bài. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Được trở về nhiệm sở cũ

REPORT THIS AD

Năm 1968, sau trận chiến Mậu Thân, Huế, ông Huỳnh Ngọc Thương được lệnh về trình diện nhập khóa 4/69 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Nhập khóa vào đầu năm 1969, ra trường khoảng cuối năm 1969, với tổng số sinh viên sĩ quan trên 1,000 người.

Vì trước đó ông là một quân nhân của đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ, nên khi ra trường, một số sĩ quan chỉ huy tiền nhiệm của FOB-1 đến quân trường Thủ Đức đón tân Chuẩn Úy Huỳnh Ngọc Thương về đơn vị Sở Liên Lạc Biệt Kích Lôi Hổ. Lúc này, Sở Liên Lạc gồm có ba chiến đoàn. Quân số của một chiến đoàn có trên 1,000 Biệt Kích quân, và số sĩ quan, hạ sĩ quan có khoảng trên dưới 150 người. Những quân nhân này được liệt kê vào danh sách của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, với nhiệm vụ là chỉ huy, huấn luyện các đại đội xung kích của Lôi Hổ.

Ông Thương cho biết: “Khi tôi về trình diện đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ thì năm căn cứ của FOB đều được di chuyển về căn cứ FOB-2 tại Non Nước, Đà Nẵng. Địa danh này là CCN [CC có nghĩa là Trung Tâm Chỉ Huy và Kiểm Soát, N là North, là Bắc, cũng là trung tâm của Chiến Đoàn 1 Xung Kích Lôi Hổ] và hai căn cứ nữa đó là CCC ở Kon Tum [C có nghĩa là center, CCC là Trung Tâm Chỉ Huy Ở Vùng Trung (giữa)] thuộc Chiến Đoàn 2 Xung Kích Lôi Hổ, và tại Ban Mê Thuột là CCS [S là South, là vùng Nam] thuộc Chiến Đoàn 3 Xung Kích Lôi Hổ.”

REPORT THIS AD

Chuẩn Úy Thương thuộc Chiến Đoàn 1, dưới sự chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Tuấn Minh.

Ông Huỳnh Ngọc Thương (giữa) cùng cựu Đại Úy Nguyễn Thành Nhân, chiến sĩ xuất sắc Sư Đoàn 1 (phải), và nhà văn Trường Sơn Lê Xuân Nhị, cựu phi công Phi Đoàn 110, tại Little Saigon. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Theo ông Thương, mỗi chiến đoàn có một đại đội phòng vệ được gọi là Đại Đội C (công vụ), quân số trên 300 người để phòng thủ doanh trại; hậu cần về quân trang quân dụng, ẩm thực…, và hai Đại Đội A và B là hai đại đội tác chiến, mỗi đại đội với quân số trên 200 người. Ngoài ra, hai đại đội A và B còn những đơn vị trừ bị xung kích như A1, A2…, và B1, B2…

REPORT THIS AD

Những đơn vị trừ bị xung kích này, ngoài những chiến sĩ người Việt còn có những chiến sĩ người Nùng, người Thượng kể cả những người Cambodia hay người Lào… Những sĩ quan và các cán bộ huấn luyện các đại đội xung kích này gồm những người lo về văn phòng, hành chánh, truyền tin, huấn luyện… và họ còn nhiệm vụ đặc biệt là đi theo những toán nhảy vào lòng địch mỗi khi cần thiết.

Mỗi chiến đoàn cũng có những đơn vị hậu cần như những đơn vị của các quân, binh chủng khác như Phòng 1 lo về quân số, Phòng 2 lo về tình báo, Phòng 3 lo về hành quân, nhưng không có Phòng 4 lo về tiếp liệu, quân trang, quân dụng… vì tất cả những điều cần thiết này đều do đơn vị Biệt Kích Hoa Kỳ Green Beret (Mũ Xanh) yểm trợ tối đa. Ngoài ra, Chiến Đoàn 1 còn liên hệ với đơn vị Sở Tâm Lý Chiến ở Thanh Lam và Cồn Tẻ, Huế có đài radio được trực thuộc vào Đài Gươm Thiêng Ái Quốc và Đài Mẹ Việt Nam.

Huy hiệu của Nha Kỹ Thuật. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Trưởng toán Xung Kích Lôi Hổ thuộc Nha Kỹ Thuật

REPORT THIS AD

Sau Trung Tá Nguyễn Tuấn Minh thì Thiếu Tá Hồ Châu Tuấn về làm chỉ huy trưởng kế nhiệm của Chiến Đoàn 1 Xung Kích Lôi Hổ.

Chuẩn Úy Thương nói: “Sau này, Chiến Đoàn 1 CCN còn biệt danh là Chiến Đoàn 1 Xung Kích Sở Liên Lạc Nha Kỹ Thuật trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, do Sở Liên Lạc được sáp nhập với Nha Kỹ Thuật. Vì trước đó, Sở Liên Lạc là tiền đề Sở Liên Lạc của Phủ Tổng Thống dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Lê Quang Tung. Sau khi Đại Tá Tung quá vãng trong trận binh biến, thì Sở Liên Lạc này được tách rời ra ngoài và được thành lập Bộ Chỉ Huy Nha Kỹ Thuật. Bộ chỉ huy này có tiền nhiệm của chương trình OP-43, OP-45 (Operation Plan) của Hòa Kỳ.”

“Trước đó nữa, chương trình OP còn có ngụy danh là ‘Nha Khai Thác Điền Địa,’ sau đổi thành ‘Liên Đoàn Quan Sát Số 1,’ trong đó có danh hiệu Sở Bắc là tiền thân của Biệt Kích Lôi Hổ. Sau này, những cuộc hành quân Sở Bắc được hủy bỏ, vì có khoảng trên 30 toán hành quân Sở Bắc đều bị chính quyền Bắc Việt bắt giữ, trong đó có Đại Úy Luyện (người tù kiệt sức, bất khuất), Đại Úy Kiên (người tù điên),” ông nói thêm. (Lâm Hoài Thạch) [qd]

REPORT THIS AD

Kỳ cuối: Biệt Kích Lôi Hổ Huỳnh Ngọc Thương và những lần tham chiến

Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/huynh-ngoc-thuong-dan-than-vao-biet-kich-quan/

Sunday, January 10, 2021

 LÀM THẾ NÀO TÔI CÓ THỂ BỎ VÙNG ĐẤT SỎI ĐÁ NÀY? -- Trung tướng Ngô Quang Trưởng. 

- Bằng cách nghi binh, nghĩa là gửi đi các mật điện giả, csbv đã làm QK 1 VNCH nghĩ rằng sđ 308 và 341 đã có mặt tại Quảng Trị, dù sđ 308 vẫn còn ở gần Hà Nội và sđ 341 đang ở QK 3 VNCH.

- Họ đã bí mật chuyển cả sđ 325 bộ binh gồm xe pháo, đang đóng quân ở bắc Sông Thạch Hản, xuống phía nam Huế, mà tình báo VNCH ko hay biết. Đây là hậu quả của cắt giảm quân viện khiến không quân VNCH ko đủ xăng dầu bom đạn để tìm kiếm hay theo dỏi các cuộc chuyển quân của csbv. Tướng Trưởng, trong một hồi ký đã trả lời, cũng vì lý do vừa kể, hỏa lực của VNCH chỉ dành để đánh trả các cuộc tấn công của đối phương vào các đồn bót hay tp, v.v...

Sau đây là chuyển ngữ từ trang 264-274 của Black April của George Veith.

"Khi chiến tranh ở Vùng I bùng nổ trở lại năm 1974, trận chiến ác liệt này đã báo trước (portend) một cuộc tấn công lớn trong mùa xuân 1975. Với sức mạnh ngày càng gia tăng của quân csbv, đây sẽ là một cuộc tấn công mà Nam Việt nam ko chắc chắn có thể đánh bại, đặc biệt vì vùng đất này thuận lợi với kẻ tấn công, ý nói csbv. Một rặng núi (ridgeline) lớn giữa Huế và Đà Nẳng chia khu vực này thành hai khu khác nhau. Đây là một nhánh của rặng Trường Sơn và chấm dứt ở Đèo Hải Vân trên bờ biển. Đèo này là một vùng đất quan trọng tại Quân Khu 1. Chỉ cần quân số ít để chiếm và giữ nó, sẽ cắt đường rút lui của ba sđ giỏi nhứt của Nam VN. Phía bắc của đèo là tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên và TP Huế, nơi đặt cung đình cuối cùng của VN. Phía nam của đèo là tỉnh Quảng Nam và Đà Nẳng, TP lớn thứ hai và hải cảng chiến lược của Nam VN. Tiếp tục về phía nam là các tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngải. Địa thế của Vùng 1 phần lớn là núi, che phủ bởi rừng rậm giáp giới (abut) một đồng bằng ven biển nhỏ hẹp. 

Khi năm 1975 bắt đầu, dân số vùng này đã hơn ba triệu, đại đa số là người Việt sống ở đồng bằng hay các tp. Về mặt kinh tế, đây là vùng nghèo nhứt nước, tuy vậy do di sản lãng mạn và văn hóa của Huế, cộng với cảng nước sâu của Đà Nẳng, nó có tầm quan trọng chỉ sau Sài Gòn. Dù Tổng thống Thiệu đã nhiều lần xem xét bỏ rơi khu vực này trong năm qua, ông đã biết rằng đó là một công việc khó thực hiện về mặt chính trị, cảm xúc, và tiếp vận. Do đó (accordingly), Thiệu đã buộc lòng đầu tư một lực lượng quân sự đáng kể để bảo vệ một phần của đất nước đang làm hao hụt tiềm lực kinh tế (của đất nước) hơn là đóng góp. 

Quảng Trị và Thừa Thiên đã từng là chiến trường ác liệt nhứt, phần lớn do nằm kế Bắc VN. Vùng đồng bằng nhỏ hẹp ven biển này nằm kế những rặng núi đã khiến nó trở thành một khu vực mà Nam VN khó bảo vệ. Bây giờ càng khó bảo vệ hơn. Trước đây, các cuộc tấn công của Bắc quân đã phải xuất phát từ biên giới Lào hay xuyên qua vùng phi quân sự hay DMZ. Cuộc tổng tấn công 1972 đã khiến Bắc quân kiểm soát vùng núi non phía tây từ biên giới tới đồng bằng, cộng thêm khu vực từ vùng phi quân sự tới tp Quảng Trị. Nam VN chỉ giữ những vùng đồng bằng dọc theo một phòng tuyến, đi từ biển qua tp Quảng Trị, chạy dọc Sông Thạch Hản và tiếp tục về hướng tây tới núi, và từ đó đi về phía nam tới Đèo Hải Vân. Vì Hiệp định Paris đã quy định (stipulate) một ngưng bắn tại chỗ, phe CS đã bắt đầu giao bóng, đã được mô tả một cách tài tình bởi ĐT Mỹ Le Gro, trên "đường 30-yard" của quân lực VNCH. 

Một yếu tố khác của những cuộc tấn công trước đây là việc thiếu đường xá đã khiến Bắc quân ko thể thiết lập những kho tiếp liệu đầy đủ để duy trì tấn công lâu dài, trong khi cũng cung cấp cho các đv VNCH có thời gian để phát hiện và phản ứng với những cuộc chuyển quân của csbv. Vì những khu do VNCH kiểm soát có đường xá tốt và khoảng cách ngắn, quân lực VNCH đã có thể di chuyển viện binh nhanh hơn CS. Để giảm nhẹ (mitigate) thuận lợi này của VNCH, sau ngưng bắn, CS đã đầu tư mạnh mẻ bằng cách xây dựng một mạng lưới đường xá dầy đặc trong khu vực mà họ đã chiếm năm 1972. Giờ đây quân csbv đã có thể tập trung quân và tiếp liệu tại nhiều điểm ở Vùng 1. Vì không còn hải và không quân Mỹ để ngăn ngừa chúng, VNCH đã ko thể bảo vệ cạnh sườn của mình.

Đó cũng là một vấn nạn của Nam VN tại BTL tiền phương Quân đoàn 1 (tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên). CS có thể tung ra một cuộc tấn công bất ngờ từ vùng núi với lực lượng áp đảo chống lại một vị trí phòng thủ yếu ớt, rồi nhanh chóng di chuyển một đoạn ngắn để cắt QL-1. Vì vùng đồng bằng ven biển này chỉ rộng từ 16 km đến 24 km tại bất cứ điểm nào. Một cuộc phòng thủ thành công phải dựa trên ba yếu tố: tình báo chính xác về ý định của địch, sức mạnh của đv và hỏa lực đầy đủ để làm cùn bước (blunt) cuộc tấn công đầu tiên của địch, và quân trừ bị để phản công và chận đứng mọi lổ thủng trên phòng tuyến.

Tuy nhiên, TL của BTL tiền phương QĐ 1, trung tướng Lâm Quang Thi, đã đối diện những hạn chế của ba yếu tố này. Không thể có được tình báo chính xác. Đây cũng là vấn đề mà tướng Trưởng đã nhận ra sau trận chiến Thường Đức THÁNG TÁM 1974. ĐT Nguyễn Thành Trí, TLP của TQLC, đã giải thích rằng "vì chúng tôi ko còn tiếp cận thông tin tình báo, trước đây được cung cấp bởi Mỹ, khả năng hiểu biết tình hình địch của chúng tôi rất hạn chế. Trong nhiều trường hợp chúng tôi đã lầm lẩn và mơ hồ về kế hoạch và khả năng của đối phương." Điều mà tình báo QK 1 có thể làm, cũng như các QK khác, là cung cấp một ước tính ban đầu hơi chính xác về ý định tổng quát của đối phương. Điều mà họ ko thể làm là cung cấp  những cảnh báo sớm và rõ ràng (clear-cut) về vị trí hay khung thời gian của các cuộc tấn công, đặc biệt khi các tư lịnh quân csbv đột ngột thay đổi kế hoạch của họ, như tướng Giáp thường làm. 

Hơn nữa, cắt giảm quân viện của Mỹ đã giảm mạnh hỏa lực, và nhân lực đã bị hao hụt nặng do trận chiến ác liệt tại QK 1 năm 1974, ý nói trận chiến tại Thường Đức, và tại các nơi khác thuộc Quảng Nam, Quảng Tín và Quảng Ngải-- người dịch. Trong khi TQLC vẫn còn phong độ, sđ 1 và BĐQ QUÂN SỐ RẤT THIẾU--như TĐ 60 BĐQ của Thiếu tá Chiến chỉ còn 200 quân--người dịch. Khả năng di động, trước đây do trực thăng đảm trách, giờ đây bị giảm (crimp) nghiêm trọng do thiếu hụt xăng dầu và phụ tùng thay thế. Điều này đã khiến QL-1 trở thành MẠCH MÁU CHÁNH để chuyển viện binh từ những nơi bị áp lực nhẹ. Giữ con đường này thông suốt vì vậy trở thành tối cần, hay tướng Trưởng đã phải đối diện, như tướng Murray đã tiên đoán, "một cuộc rút quân kiểu Dunkirk nhưng lại ko có tàu." NÓI THÊM: Trong vòng chín ngày của tháng 6/1940, các tàu của phe đồng minh từ Anh đã vượt eo biển Manche (chia cắt Anh với Pháp), để đến xã Dunkirk ở bờ biển bắc nước Pháp để di tản 338.226 quân Pháp, Bỉ, v.v... khỏi sự truy đuổi của quân Đức. Dù được xếp vào một cuộc rút lui khổng lồ và thành công nhưng phe đồng minh đã bị chết hay bị thương 68.000 người, 48 ngàn bị bắt, tổn thất 50 ngàn xe cộ gồm xe tăng; chín tàu khu trục chìm, 19 tàu khác, và 200 tàu chỡ quân và 117 máy bay bị hủy diệt hay hư hại. Cuộc rút quân này đã được quay thành film.--người dịch.

TP Huế là một giải thưởng lớn trong vùng đất đầy tranh chấp nóng bỏng này. Năm 72, bắc quân đã tấn công tại bắc Quảng Trị từ hai hướng: xuyên qua vùng quân sự và từ Lào. Mục tiêu của họ, cũng như năm 1968, là chiếm cố đô Huế. Trong 1975, Nam VN vẫn phải phòng thủ hai hướng này: ranh giới ngưng bắn hiện thời và vùng núi phía tây. Trên Sông Thạch Hản, nhiệm vụ của QLVNCH là giữ tp Quảng Trị và QL1, chạy thẳng tới Huế. Cùng lúc, họ phải bảo vệ một cạnh sườn trái dài gần 58 km, từ Sông Thạch Hãn tới Huế. Vài con sông lớn, xuất phát từ vùng núi phía tây, cung cấp con đường tiến về đồng bằng. Hành lang Sông Bồ ở tây bắc Huế đã tạo một đe dọa lớn, vì nó đã tạo đường tiến sát hay chuyển quân gần nhứt và trực tiếp nhứt tới tp này. 

Giờ đây Bắc quân đã căng kéo phòng tuyến của QLVNCH xa hơn khi mở ra một MẶT TRẬN THỨ BA tại vùng núi quan trọng ở nam của Huế, một khu vực mà Bắc quân gần như bỏ qua trong tổng tấn công 1972. Đây là một địa thế lý tưởng để tấn công: hơn 64 km đồi dốc và rừng rậm chỉ chấm dứt nơi QL-1 quanh co trên Đèo Hải Vân. NÓI THÊM: các trận đánh trong tháng 3/1975 của trung đoàn 1 và 54 của sđ 1 bộ binh và TĐ 60 và 61 BĐQ đều xảy ra ở khu vực này, nằm phía tây QL-1 và nơi gần nhứt chỉ cách QL 1,6 km.--người dịch. 

Kế hoạch phòng thủ của tướng Thi đơn giản. Ông đã ko tin rằng bắc quân sẽ vượt Sông Thạch Hản vì sẽ vi phạm hiệp định Paris. Nếu nếu đối phương tấn công, và áp lực quá lớn, ông dự định rút quân TỪNG GIAI ĐOẠN về Huế, bằng cách dùng các sông kể trên làm phòng tuyến. Từ tp Quảng Trị về Sông Mỹ Chánh, khoảng nửa đường từ Quảng Trị tới Huế, ông đã đặt hai lữ đoàn (LĐ) TQLC, một liên đoàn đpq của Quảng Trị, và một chi đoàn của thiết đoàn 1. Từ Mỹ Chánh đến Huế (phân nửa phía bắc của tỉnh Thừa Thiên), ông đã triển khai các lực lượng theo một tuyến vòng cung đối diện vùng núi phía tây Huế. Lực lượng này gồm một LĐ TQLC, một trung đoàn của sđ 1, một số TĐ đpq, và một chi đoàn thiết giáp. 

BA TRUNG ĐOÀN CÒN LẠI của sđ 1 bảo vệ vùng núi từ Huế tới đèo Hải Vân. SĐ 1 gần đây đã lập những đồn bót trên nhiều cao điểm để cung cấp hỗ trợ pháo binh hỗ tương. Sau những trận đánh ở các núi Mỏ Tàu và núi Bông năm 1974, sđ 1 đã điều chỉnh chiến thuật từ một tuyến phòng thủ duy nhứt với những tiền đồn càng xa càng tốt, thành phòng thủ THEO CHIỀU SÂU. Chiến thuật này được thiết kế để đánh bại chiến thuật xâm nhập đằng sau phòng tuyến để tấn công BCH của đv. 

Trước đây, BTL tiền phương của QĐ 1 có cả sđ Dù trong tay, nhưng sau trận chiến cuối năm 1974, tướng Trưởng đã để hai LĐ Dù ở Thường Đức để bảo vệ cạnh sườn phía tây của Đà Nẳng. Điều này đã buộc Thi chuyển một LĐ TQLC khỏi phòng tuyến của ngưng bắn để thay thế Dù ở bắc Huế. LĐ Dù thứ ba giữ Đèo Hải Vân. Liên đoàn 15 BĐQ làm trừ bị. 

Ở mặt trận trung tâm của tướng Trưởng, với Nhảy Dù ở tây Quảng nam, sđ 3 của chuẩn tướng Nguyễn duy Hinh, đã di chuyển về phía nam để bảo vệ phần còn lại của tỉnh này. Vì tình báo của QĐ 1 tin rằng Bắc quân có ý tấn công ở đây vào xuân 1975, Trưởng đã rút LĐ 12 BĐQ từ Quảng Ngải và triển khai ở bắc Quảng Tín. LĐ 11 BĐQ và LĐ 14 BĐQ đã bị thiết hại nặng trong các trận đánh trước đó, sẽ tập trung vào những tấn công trông đợi xảy ra ở mặt trận phía nam của Trưởng thuộc tỉnh Quảng Ngải. Điều này đã khiến chỉ còn ĐPQ bảo vệ quận Tiên Phước ở Quảng Tín, nơi xảy ra những ác chiến năm 1974. Vì ĐPQ Quảng Tín là một trong những đv XUẤT SẮC NHỨT của QK 1, họ ít khi cần sự giúp đỡ từ bên ngoài. Đây là một khe hở mà bắc quân sẽ tận tình khai thác. 

Ngoài bộ binh và thiết giáp, Trưởng còn có sđ 1 không quân, và hải quân vùng 1 duyên hải, gồm các giang thuyền, tàu tuần tầm-ngắn, và vài tàu nước-sâu. Hoàn toàn trông chờ một tổng tấn công lớn vào xuân 1975 ở khắp QK 1, Trưởng đã bận rộn chuẩn bị cho cuộc tấn công này bằng cách phục hồi những đv đã bị tổn thất trong trận chiến 1974. Dù ông đã cố gắng nhiều nhưng tinh thần của binh sĩ VẪN THẤP. Lương thấp đã khiến người lính ko thể cung cấp đầy đủ cho gia đình. Tiếp liệu đã bị tiết giảm mạnh, dự trữ về thuốc men và xăng dầu tụt giảm (deplete), và Trưởng đã dùng một phần đáng kể đạn dược dự trữ trong năm 1974. Tóm lại, dù Trưởng chỉ huy một lực lượng mạnh nhứt của quân Nam VN, ý nói gồm sđ TQLC, sđ Dù, các sđ 1-2-3 bộ binh-- người dịch, nhưng ông có rất ít trừ bị, các đv không đủ quân số, địa thể lại khiến ông gặp nhiều thất lợi và hỏa lực của ông đã bị cắt giảm khủng khiếp (drastically). 

Để so sánh, ta thấy Hà Nội đã có một tập trung quân ĐÔNG ĐẢO NHỨT tại bắc của Nam VN. Chỉ riêng trong khu vực trách nhiệm của BTL tiền quân của QĐ 1, phụ trách phía bắc của Đèo Hải Vân, đã có quân đoàn 2 csbv và mặt trận B-4. Quân đoàn 2 csbv có sđ 304, 324, và 325, một sđ phòng không, lữ đoàn 203 thiết giáp, các lữ đoàn pháo, công binh và truyền tin. Mặt trận B-4 có ba trung đoàn độc lập và tám TĐ quân địa phương hay du kích. Phía nam của  Đèo Hải Vân, CS đã có những đv lớn của mặt trận B-1; gồm có sđ 2 csbv ở nam Quảng Nam, lữ đoàn 52 ở Quảng Ngải, và gần 12 TĐ quân địa phương độc lập. Thêm vào đó, mặt trận B-1 còn có một sđ ở Thường Đức, gồm hai trung đoàn của sđ 304 và một trung đoàn của sđ 324 đã chiếm quận này từ tháng 8/1974. 

Về mặt chiến lược, Trưởng đã chuẩn bị hai tình huống dự phòng. Tháng 12/74, BTTM đã tiên đoán mục đích chánh của Hà Nội tại QK này năm 75 là làm Quảng Trị mất ổn định và cô lập Huế và Đà Nẳng bằng cách cắt Ql-1 ở Đèo Hải Vân. Nếu CS đã tấn công với cùng lực lượng mà họ đã dùng trong năm 1974, Trưởng đã tin tưởng rằng ông có thể đánh bại chúng. Nhưng nếu Bắc quân tăng cường mặt trận phía bắc với vài sđ trừ bị-chiến lược, mà hình như họ đang làm, thì Trưởng sẽ rút về một phòng tuyến tập trung quanh Huế. Nếu các phòng tuyến trung tâm và phía nam cũng bị sụp đổ, ông sẽ rút về các NỘI PHẬN (enclave) tập trung ở Đà Nẳng và bán đảo Chu Lai ở nam tỉnh Quảng Tín, nghĩa là bỏ rơi Huế--người dịch. Chu Lai cũng là nơi đặt BTL sđ 2 VNCH, có một sân bay lớn và một cảng gần đó.

Việc rút lui về các nội phận chung quanh các tp lớn lại đúng là điều Hà Nội sợ nhứt. Các chiến lược gia của quân csbv lo sợ rằng nếu quân VNCH có thể tập trung quân số và hỏa lực chung quanh các vị trí phòng thủ mạnh, sẽ gây thiệt hại nặng cho họ nếu tấn công. Mặt khác, điều mà Trưởng sợ là việc Hà Nội tung ra những sđ trừ bị chiến lược sẽ thay đổi lớn lao cán cân lực lượng hiện nay. Trong tháng 11/1974, những nghi ngờ của Trưởng đã tăng vọt khi tình báo kỹ thuật VNCH cho biết sđ 308 csbv mới xâm nhập từ miền bắc. Tháng giêng 1975, tình báo kỹ thuật VNCH lại cho biết một đv trừ bị-chiến lược thứ hai, sđ 341, đã vào Quảng Trị để thay thế sđ 325 dọc theo ranh giới ngưng bắn, ý nói phòng tuyến dọc theo sông Thạch Hản. Nói thêm: sau chiến tranh, các tướng csbv đã cho biết, để NGHI BINH, họ đã gửi những mật điện giả vì lúc đó sđ 308 vẫn ở gần Hà Nội và sđ 341 ở quân khu 3 của vnch.-- người dịch. Những báo cáo này, dù ko thể kiểm chứng (unsubstantiated), có vẻ xác nhận bản phân tách của BTTM rằng Quảng Trị là mục tiêu chánh của tấn công mùa xuân 1975 của Hà Nội. 

Về tổng quát, phòng 2 của Trưởng đã tiên đoán rằng địch quân sẽ lần lượt (piecemeal) tấn công tại mỗi tỉnh cho tới khi các đv của bắc quân đều tham chiến. Lúc đầu các trận tấn công sẽ mạnh nhưng ngắn, và sẽ đạt cao điểm vào cuối tháng 4 hay đầu tháng 5. Bản phân tích của Phòng 2 dựa trên hai yếu tố. Thứ nhứt, các đv csbv đã bị thiệt hại nặng năm 1974. Họ cần thời gian để tái lập những đv này và chuẩn bị đồ tiếp liệu hay hậu cần. Thứ hai, thời tiết bất lợi cho họ. Thông thường mùa mưa ở miền Trung giảm bớt (slacken) trong tháng giêng, nhưng năm nay mưa tiếp tục tới tháng 2. Lũ lụt đã trì hoãn ngày phát động tấn công, vì các đv csbv phải lo sửa đường, sản xuất lương thực và huấn luyện.

Cuộc tấn công của csbv tại vùng 1 nhằm buộc chân hai sđ trừ bị-chiến lược của nam VN, đặc biệt là sđ Dù, khiến Sài Gòn ko thể đưa họ lên cao nguyên Trung phần. Hơn nữa, ko có tấn công trực tiếp  nhắm vào hai sđ này. Có lẽ tướng Giáp đã tin rằng nếu các lực lượng của ông đe dọa một mục tiêu quan trọng như Huế, quân VNCH sẽ dùng Dù và TQLC. Do đó Bắc quân sẽ thành công khi trói chân những đv này mà tránh được nguy cơ --khi trực tiếp tấn công họ. Dù gì đi nữa, đây là một ngoại lệ lý thú cho chiến lược của Giáp, một ngoại lệ có lẽ đã cho chúng ta thấy cách đánh giá thực sự của y về sức mạnh của bắc quân. 

Trong khi Giáp đã ko tin tưởng binh lính của ông có thể giải phóng toàn bộ Quảng Trị và Thừa Thiên cho đến 1976, ông đã hy vọng bằng cách tích cực tấn công, ông có thể đạt một chiến thắng bất ngờ (lucky break). Mục tiêu của ông gồm hủy diệt một phần đáng kể sức mạnh của QLVNCH, chiếm một phần của đồng bằng, và đạt quyền kiểm soát một tỉ lệ lớn dân chúng nông thôn. Kế hoạch của Giáp cũng đòi hỏi tấn công lớn ở Quảng Tín. Trong tháng 3/75, ông đã tập trung quân chính quy để tấn công ĐPQ với hy vọng đạt một chiến thắng nhanh chóng để chiếm khu vực quan trọng này. Toàn sđ 2 csbv và lữ đoàn 52 sẽ chuyển quân từ những khu vực hành quân thường lệ của họ tại Quảng Nam và Quảng Ngải và tập trung tại Tiên Phước, với mục đích cuối cùng là chiếm Tam Kỳ. Lực lượng địa phương của Quảng Ngải sẽ mở các tấn công hỗ trợ để buộc chân sđ 2 VNCH và ngăn ko cho sđ 2 vnch tiếp viện cho Quảng Tín.

Về tổng thể, đây là kế hoạch của năm 1974 được lập lại, chỉ khác là CSBV đã dùng quân số áp đảo ĐỒNG LƯỢT tấn công những vị trí cũ thay vì LẦN LƯỢT tấn công như họ đã làm năm trước. Bộ TTM CSBV đã trực tiếp chỉ huy mặt trận B-4 và quân đoàn 2 csbv. Giáp cũng chỉ định thiếu tướng Nguyễn hữu An làm TL quân đoàn 2 csbv. 

...

Sau khi nhận lịnh của Giáp, quân đoàn 2 csbv và mặt trận B-4 đã vạch kế hoạch để phối hợp các lực lượng và tấn công bắc Thừa Thiên. Mục tiêu của họ là xâm nhập và chiếm giữ một phần của đồng bằng. Các toán tiếp vận đã bắt đầu dự trữ tiếp liệu cho một cuộc tấn công, và các toán trinh sát được gửi để thám sát các vị trí VNCH. Đầu tháng 2/75, một nhóm sq cao cấp đã đi Hà Nội để Giáp duyệt xét kế hoạch của họ.

Tuy nhiên, sau vài ngày thảo luận, kế hoạch này bị bác. Lý do rất dễ hiểu (straightforward): phòng tuyến của TQLC ở bắc Thừa Thiên RẤT MẠNH MẺ (stout). Thay vào đó quân đoàn 2 csbv sẽ hướng về nam và tấn công vùng núi đồi nam Huế. SĐ 324 sẽ tấn công những vị trí mà họ đã tấn công năm trước, khu vực NÚI BÔNG/NÚI MỎ TÀU. Từ những đỉnh núi này, quân csbv sẽ bắn đạn pháo xuống QL-1 và sân bay chánh của Huế, Phú Bài, sẽ cắt đứt QL-1 và cô lập lực lượng tiền phương của QĐ 1--chỉ còn đường thoát ra biển. SĐ 325 sẽ bí mật rời phòng tuyến ngưng bắn (dọc theo sông Thạch Hản) và bảo vệ sườn phải của sđ 324. Họ sẽ tấn công những ngọn đồi gần Sông Truồi, kế Đèo Hải Vân. Mủi tấn công nhiều sđ này sẽ là nổ lực chánh của toàn chiến trường Quảng Trị/Thừa Thiên. Dù hai sđ đều có nhiệm vụ là diệt các đv VNCH, mục tiêu chánh của 325 là cắt QL-1. Cùng lúc, mặt trận B-4 sẽ lôi kéo chú ý của tướng Trưởng vào bắc Quảng Trị bằng cách nghi binh (feint). Sau đó họ sẽ tấn công bắc Thừa Thiên để ngăn quân VNCH tiếp viện cho phòng tuyến nam Huế. 

Các lực lượng của Giáp tại quân khu 1 sẽ tấn công làm hai giai đoạn. Giai đoạn 1 từ tháng ba đến đầu tháng năm. Cuộc tấn công được tính toán để trùng hợp với những tấn công tại QK2, và ngày khai diển như sau: KHÔNG ĐƯỢC TRỂ HƠN NGÀY 5 THÁNG BA. Giai đoạn 2 từ tháng bảy đến tháng tám. Mỗi giai đoạn có hai kế hoạch: một kế hoạch căn bản và một kế hoạch cơ hội. Kế hoạch cơ bản là quan niệm hành quân chánh, trong khi kế hoạch cơ hội được dùng khi có biến chuyển đột phá (sudden breakthrough). Mở đầu là những tấn công của đặc công chống lại các cơ sở tiếp liệu và cầu. Giáp ra lịnh rằng xe tăng, đại bác 122 và 130 ly, ko được phép dùng trong giai đoạn đầu. Giáp muốn dành dụm (husband) những vũ khí này cho những tấn công cuối cùng. 

Dùng một chiến lược như ở Cao Nguyên, Giáp đã quyết định bí mật di chuyển một đv chiến đấu từ phía bắc của chiến trường--trong trường hợp này, tỉnh Quảng Trị, tiến về phía nam đến nơi mà ông nghĩ phòng thủ yếu kém hơn. Cũng như lén lút (surreptitiously) xâm nhập hai sđ trừ bị chiến lược 316 và 341 từ bắc vào nam VN là một yếu tố chánh đã giúp Hà Nội thành công trong tổng tấn công mùa xuân 1975, việc chuyển sđ 325 về phía nam trong lãnh thổ qK 1 là một yếu tố khác. QLVNCH đã chống một tấn công của 324 trong vùng núi đồi này vào mùa hè 1974. Nếu có thêm một sđ vào vùng này, VNCH sẽ gặp khó khăn. 

...

Tuy nhiên, lịnh của Giáp về thay đổi này, đã ko truyền đạt cho tới đầu tháng hai, và vì ngày tấn công là 5 THÁNG BA, khung thời gian ngắn đã tạo nhiều khó khăn cho các đv ở tuyến đầu. Theo tướng An, "Vấn đề của chúng tôi là... chúng tôi chỉ có 30 NGÀY từ lúc nhận lịnh tới khi chúng tôi nổ súng, và trong giai đoạn này chúng tôi hầu như đã bắt đầu các chuẩn bị cho chiến dịch từ con số không. Tất cả các chuẩn bị tiếp vận trước đây của chúng tôi đều tập trung vào bắc Thừa Thiên. Nay những tiếp liệu này phải được đưa lên vai của lính vận tải và di chuyển trên những dốc núi đầy bùn."

Trong khi các lính công binh của quân đoàn 2 csbv đã bắt đầu đào đường trên địa thế núi non này để di chuyển xe cộ, vũ khí nặng, và tiếp liệu cho mặt trận mới, tướng An đã quyết định rằng ko thể theo kịp thời hạn. SĐ 325 cần thời gian để tái phối trí lực lượng, và quân đoàn ko đủ hậu cần chứa sẵn trong khu vực nam Huế để hỗ trợ cho hai sđ này. Dù Giáp ra lịnh nổ súng ngày 5 THÁNG BA, tướng An đã quyết định dời ngày nổ súng của sđ 324 là 10 THÁNG BA, sau đó ba tuần là sđ 325. 

NGÀY 26 THÁNG HAI, phó của tướng An, thiếu tướng Hoàng Đan đã đến Hà Nội để báo cáo với Giáp và phó tham mưu trưởng Lê trọng Tấn về thay đổi này. Dù thiết kế căn bản đã nhanh chóng được chấp thuận, khi Tấn nghe hoản ngày nổ súng, y đã giận dữ nói: "Với một chiến dịch lớn có ý nghĩa chiến lược đang được phối hợp với nhiều chiến trường khác, anh nghĩ gì khi anh có thể bắt đầu những trận đánh vào lúc nào anh muốn? Nếu anh trì hoãn ngày tấn công, địch có thể gửi sđ Dù tới nam Tây Nguyên, sẽ làm suy yếu chiến dịch của chúng ta trong chiến trường chủ yếu này! Rồi điều gì xảy ra đối với tổng tấn công của chúng ta? Trước khi anh đến đây trình bày kế hoạch, dù chúng tôi đã gửi các đại diện đến anh để phổ biến (disseminate) kế hoạch, và cũng gửi nhiều nhiều mật điện để nhắc nhở, anh vẫn còn chưa hiểu điều này?

Dù cơn giận dữ của Tấn và những yêu cầu về chiến lược thúc ép, nhu cầu về tiếp vận ko thể thay đổi. Đan đã cố gắng giải thích rằng quân đoàn 2 phải cung cấp lương thực và đạn dược cho 4 trung đoàn bộ binh cộng với những đv hỗ trợ trong khi chuyển đồ tiếp tế và pháo binh trong địa thế hiểm trở giữa thời tiết rất xấu. Một thỏa thuận đã đạt được: Mặt trận B-4 sẽ nổ súng NGÀY 5 THÁNG BA ở Quảng Trị để thu hút chú ý của QLVNCH. Vào NGÀY N + 3, một trung đoàn của 324 và hai trung đoàn của mặt trận B-4 sẽ tấn công Mỏ Tàu và những đồi gần đó. Ngày N + 21, một trung đoàn của 325 sẽ bắt đầu tấn công  vào cạnh sườn phải của 324.

Khi tướng Đan chuẩn bị rời phòng hợp, Giáp đã gọi y trở lại để mạnh mẻ nhắc lại (reiterate) thời biểu. Y nói với Đan, "Hảy nhớ rằng chiến dịch này ko giống những chiến dịch trước đây. Cấp dưới của anh có thể tùy nghi ứng biến để hoàn thành mục tiêu đặt ra bởi kế hoạch. Tuy nhiên, anh cũng phải nhớ rằng tuyệt đối ko có sự linh động trong những yếu tố mà bộ TTM đã vạch ra trong kế hoạch, và anh phải theo đúng các yếu tố." Đan đã hiểu: Nổ súng đúng giờ. 

Vào đầu tháng 3, quân đoàn 2 csbv đã hoàn thành một con đường mà xe cộ có thể đi lại, và đã xây dựng hơn 50 dặm đường phụ để tới rất nhiều đồi ở hai bên của sông Truồi. Đây là một kỳ công về cầu đường gây ấn tượng dưới những điều kiện khắc nghiệt. Sau này tướng An viết lại, "Bạn nghĩ gì, với một đường đất mới tinh và những cơn mưa liên tục cuối mùa, với người và xe cộ liên tục đi lại trên đó, tất nhiên phải có những khó khăn trở ngại? Bạn nói đúng! Đó là bùn, bùn, và nhiều bùn. Mọi người luôn luôn đứng trong bùn tới mắt cá chân, và xe cộ di chuyển như rùa, bánh xe quay nhưng xe ko thể tiến tới khiến lính tráng phải xuống xe và đẩy. Các đại bác 105-ly... phải vượt qua những đoạn đường với độ dốc giữa 20 và 40 độ trong khi mưa. Chỉ có sự giúp đỡ của người lính bộ binh mà cuối cùng pháo thủ đã đưa đại bác vào vị trí. Những khó khăn mà chúng tôi gặp phải khi đưa súng vào vị trí ko thua gì những khó khăn mà chúng ta đã gặp ở Điện Biên Phủ."

Để thực hiện kế hoạch thu hút quân vnch về phía bắc, NGÀY 5 THÁNG BA, bắc quân đã tổ chức diển tập quân sự gần Cửa Việt để tạo cảm giác một tổng tấn công sắp xảy ra (impend). Mặt trận B-4 đã chuyển quân chung quanh, với xe thiết giáp di chuyển trên một số khu vực. Để đánh lừa (deceive) tình báo kỹ thuật của vnch, TL của mặt trận đã ra lịnh trung đoàn 46 (một đv độc lập của csbv) dùng ám số đv của sđ 308 trong mọi liên lạc. Các cán bộ trung đoàn khi thám sát địa thế đều dùng ám số đơn vị của các trung đoàn của sđ 308. BTL của quân khu đã gửi các mật điện cho các đv dưới quyền như trong một cuộc tấn công thực sự."

Cuộc hành quân giả đã đạt yêu cầu, vì các lực lượng vnch đã ko chuyển quân về nam để tăng cường cho khu vực núi đồi ở nam Huế. Tình báo VNCH đã ko ghi nhận bất cứ hoạt động quân sự nào ở vùng này. Những mật điện giả của trung đoàn 46 đã khiến hai TLP (tướng Thi và tướng Hoàng văn Lạc) của BTL tiền phương của QĐ 1 VNCH đều viết trong hồi ký rằng khi bắc quân tấn công vượt Sông Thạch Hản, họ đều nghĩ là sđ 308 csbv. Tướng Viên và Trưởng lại nghĩ là sđ 341. Họ đều sai vì sđ 308 vẫn ở khu vực Hà Nội và 341 ở quân đoàn 3 vnch. Thực tế, đv vượt sông Thạch Hản là quân địa phương của Quảng Trị, yểm trợ bởi thiết giáp. 

Trong đầu tháng ba, khi đặc công phá kho đạn của sđ 3 bộ binh và làm hư hại cầu An Lổ trên Sông Bồ, Trưởng đã nghĩ tổng tấn công mùa xuân của bắc quân đã bắt đầu. Nhưng lính VNCH, do trói buộc phải giữ đất, chỉ có ngồi trong hầm hố và chờ cuộc tấn công sắp tới của bắc quân. 

Dịch từ trang 264-274 của quyển Black April 

San Jose ngày 10 January 2021

Tài Trần