Thursday, October 15, 2020

 Phila Tô (Phuhotrac): Hỏng Rồi Tiếng Nước Tôi!!!






Lời Nói Đầu:

Cơn đại ôn dịch VC trùng vào thời điểm các ứng cử viên so bì cao thấp, tạo nên cảnh “họa vô đơn chí, lòng buồn còn muốn nói năng chi”. Chẳng ai còn muốn viết muốn đọc gì nữa, trừ tin giả. Chính thời điểm này, chữ nghĩa VC mới lộ diện khá nhiều trên các phương tiện truyền thông ở hải ngoại!

Tổng thống đến rồi tổng thống đi, nhưng ngôn ngữ VC sẽ di hại mãi về sau nên chúng tôi đành gõ mõ này, xin báo động cùng đồng hương hải ngoại tiếp tay:

-“Tôi yêu tiếng nước tôi… từ khi mới ra đời, mẹ hiền ru… à ơi”.

Nhưng VC đã làm hỏng tiếng Việt rồi, mẹ hiền ơi!

Tiếng Việt đã hỏng ngay từ khi AK vào Nam “nhận hàng”! Nó càng thêm tan hoang khi ông tiến sĩ họ Bùi (Hiền) muốn “hán hóa”, biến chế tiếng Việt sang dạng CC (cải cách), ông thêm chữ “ô” vào cái họ “bùi” của ông ta thì nghe lạ tai quá!

Chuyện nội bộ XHCN của những đỉnh cao “xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ” thì“mackeno”, nhưng nó truyền nhiễm sang cộng đồng Việt ở hải ngoại, gieo rắc đó đây những mầm mống bệnh hoạn chữ nghĩa thì quả là tai hại khôn lường!

Kể từ khi xảy ra đại ôn dịch VC (virus China-virus Corona) chữ nghĩa VC được dịp tung hoành xâm lấn vào một số báo chí, radio, TV hải ngoại. Một số xướng ngôn viên này phát ngôn cứ như nói trên “trung tâm nghe nhìn” của XHCN. Có thể họ mới đến nướcMỹ, chưa kịp nhập gia tùy tục, nên mới nói theo thói quen cũ. Nhưng điều đáng trách là những người tị nạn CS lại bắt chước mới là khôi hài.

Khán thính giả chúng tôi cám ơn các xướng ngôn viên đã nhanh chóng loan tin tức nóng hổi thời Coviq 19 và cái “đầu gối”. Tiếng nói của các MC quan trọng lắm, ảnh hưởng rất nhiều đến ngôn ngữ của khán thính giả. Ông “Có Công” nói:

-Tiếng nói của TT (tổng thống & truyền thông) rất quan trọng, cần phải chính xác, kẻo ảnh hưởng tai hại tới khán thính giả.

Đúng như vậy, nếu TT nói không đúng thì nói lại và rồi mọi chuyện sẽ qua, nhưng truyền thông hải ngoại cứ dùng ngôn ngữ VC sẽ di hại về sau. Trẻ em và người nhẹ dạ dễ nói theo khiến: “Hỏng Rồi Tiếng Nước Tôi”.

Ngoài những ngôn ngữ kỳ cục của “BK75”, đại loại như: “ấn tượng, bộ phận người, bức xúc, cục bộ, chỉn chu, đạo cụ, khẩn trương, khống chế, mặt bằng, hồ hởi, năng nổ, phản cảm, quá trình, quỹ thời gian, rốt ráo, sự cố, tác nghiệp, tham quan, thân thương, thiếu đói” v.v..thì nay (2020) ngôn ngữ VC theo chân ôn dịch VC đang làm đảo lộn ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng của chúng ta khiến những ai còn tha thiết với tiếng Việt phải đau lòng, than theo của cụ Tản Đà:

“Lễ nghĩa thời nay trời thu sạch, đạo đức cương thường đảo ngược ru”.

Lễ nghĩa đảo ngược, chữ nghĩa cũng đảo ngược theo.

Trong chương trình “Trường Học Trường Đời” trên Little Saigon Radio, khi đề cập tới chữ nghĩa VC, Tiến Sĩ Ngôn Ngữ Học Đinh X.Q.., Giáo Sư NguyễnT.H.., và cô MC Nhã L.. đã cùng phải than:

- Đó là thứ tiếng Việt lai căng. Ngôn ngữ là văn hóa, là tấm gương của tâm hồn, kẻ thô tục thì nói lời thô tục.

Xin đơn cử một vài ngôn ngữ thô tục mà XHCN thường dùng:

“Phần cứng, phần mềm, điểm nhấn, người chơi, đầu vào đầu ra, bức xúc, gậy tự sướng, chụp ảnh tự sướng, một bộ phận người”!

“Cứng mềm” là cái gì chắc hẳn ai cũng đã nghe, đã biết chả cần nói thêm, nhưng “điểm nhấn” là gì?

Xin đọc đoạn tin trên VNExpress:

“Điểm nhấn cảnh quan tại khu vực dọc phố Lê Thái Tổ và Hàng Khay là những thảm cây cảnh đa tầng, được thiết kế theo phương án “rừng cây đô thị”.

Tên Phùng Phú, Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương (?) tuyên bố:

- Hạnh phúc của nhân dân là “điểm nhấn” trong dự thảo văn kiện đại hội 13.

Vài ngày sau, tại Little Saigon, tờ tuần báo “Cờ-Lờ” viết:

- Khi tranh luận với Biden, “điểm nhấn” của Trump là ngắt lời…

Ơ hay nhỉ! Báo tại Little SG viết cho người Việt tị nạn CS đọc thì tại sao lại đi “cọp-dê” hai chữ thổ tả “điểm nhấn” của VC!

“Điểm nhấn” là cái gì vậy? Nhấn ở đâu? Nhấn trên hay nhấn dưới?

Người chơi!

Chúng ta gọi những người dự một chương trình giải trí, thể thao là “tham dự viên, người dự thi, đấu thủ” v.v.. nhưng XHCN thì họ gọi tất cả là: “người chơi”.

Trong “sô” đấu trường cờ Việt, cuộc đấu trí giữa nam đấu thủ Vũ Quốc Đạt và nữ đấu thủ Nguyễn Thị Liên, thì trọng tài gọi Đạt và Liên là “người chơi” và ông ta ra lệnh: “Hai người chơi bắt đầu… chơi”!

Cái que để gắn ai-phôn chụp hình của mình thì thì họ gọi là “gậy tự sướng”

Nhà máy và nguyên vật liệu tạo ra sản phẩm thìXHCN thì gọi là “đầu vào, đầu ra”! Câu chuyện sau đây cho thấy xã hội thô tục dốt nát:

Quản giáo Môn, đội 2, trại 8 Hoàng Liên Sơn khoe với tù nhân:

- “Liên Sô có nhà máy chế biến thực phẩm rất cực kỳ, đầu vào là con lợn, đầu ra là cái xúc-xích”.

Tù nhân Đức Cống khúc khích cười đểu, nói với quản giáo Môn:

- XHCN ta có nhà máy Bác Hồ, đầu vào là xúc-xích đầu ra là con lợn.

Ăng-ten giải thích bậy với quản giáo, khiến tù Đức Cống bị cùm 7 ngày.

“Một bộ phận người”!

Thân thể người ta có nhiều bộ phận: đầu, mình, chân, tay, tâm can tì phế thận. Thế nhưng XHCN gọi một nhóm người, mót toán người, một đám người là “một bộ phận người”. Thật là quái đản, bộ phận người trên hay bộ phận dưới đây?

Chữ nghĩa VC vừa thô tục, vừa khó hiểu, nhưng điều đáng buồn là nó đã phá nát tiếng Việt trong sáng của chúng ta, nó lan tràn sang cộng đồng Việt hải ngoại, ở trong nước nói sao là hải ngoại nhép lại như vậy.

Tôi xin nêu ra một số ngôn ngữ VC đang lây lan như ôn dịch VC:

Mình, Tụi Mình, Tụi Này!

“Mình ơi đi mãi quên lời…
Em yêu tiếng gọi của mình, mình ơi!”.
Mình ơi! Mình mình ơi!

Khi nghe danh ca Ý Lan, Diệu Hương, Ngọc Hạ cất cao lời hát kèm theo tiếng gọi: “Mình ơi!” sao mà nó hay thế, sắt đá cũng phải mềm, những con tim 81 muốn quay ngay trở lại tuổi 18 để đáp lời gọi trong hạnh phúc:

-“Ơi ơi ơi”.

Nhưng khi MC tự xưng: “mình, tụi mình, tụi này” thì tôi muốn tắt TV.

“Mình” là đại danh từ dành cho đôi nam nữ bày tỏ tình cảm yêu thương nhau nơi chốn riêng tư: “Mình ơi em có….Mình ơi đi ngủ…, mình ơi anh yêu mình v.v…”. Nhưng nơi công cộng, trên radio, TV, vì phép lịch sự, để tôn trọng khán thính giả, người đối thoại phải dùng những đại danh từ: “Tôi, chúng tôi”.

Rất tiếc trong những ngày gần đây, chữ “mình” từ trong nước theo làn sóng “cầu thực” ra hải ngoại, lây lan khắp nơi, bị dùng bừa bãi, bất kể đối tượng là ai. Thay vì dùng chủ từ “tôi, chúng tôi” một cách lịch sự, nghiêm trang, thì các đương sự cứ xưng “mình” với mọi người một cách vô tâm, vô ý…thức.

Trong chương trình quảng cáo dược thảo trị táo bón của BS Phạm… một nữ nhân “hồ hởi phấn khởi” oang oang trên radio cứ như chỗ không người:

-Giê-Su-Ma, mình táo bón lâu rồi, mà chỉ uống có 2 viên là ra ngay, bác sĩ!

Bà táo bón chứ Chúa có táo bón đâu mà bà kêu tên NGƯỜI vô cớ? Bà là cái thớ gì của BS mà xưng “mình” với ông ta!

Bà bệnh không sợ bà bác sĩ ghen à? Xin đề nghị với bà, thay vì xưng “mình” thì: “Tôi” cho lịch sự một tí.


Ông Dr Dean nói về việc học y khoa với giáo sư H và cô NL cùng hàng ngàn khán thính giả trên LSR & TV. Ông nói:

Mình phải học cố gắng, lấy nhiều tín chỉ, tụi này học ngày học đêm…

Đề nghị quan đốc dành riêng tiếng “mình” cho bà đốc. Còn hai chữ: “tụi này” là tụi nào vậy thưa ông đốc?

Mọi Người - Người Mọi!

Trong chương trình “truy lùng tài năng siêu trí tuệ” của truyền hình XHCN, một cháu nhỏ 7 tuổi** được giới thiệu là “siêu trí tuệ”, cháu đứng trên sân khấu trước hàng ngàn khán thính giả thuộc bậc ông, bà, cô, bác, cháu mở lời:

-Chào mọi người, hôm nay mình đến tham dự cuộc chơi…

Một đứa trẻ 7 tuổi** “siêu trí tuệ” XHCN xưng “mình” với ông, bà, cha, chú, bác! Cháu gom tất cả vào một hạng: “mọi người”! Trường học đã không dạy các cháu đức khiêm tốn như: “Kính thưa quý ông bà, kính thưa quý khán thính giả”.

Tuổi trẻ trong nước không được dạy về đại danh từ ngôi thứ nhất có những chữ biểu lộ sự lễ phép: “cháu, con, em, tôi”. Mà chỉ biết có chữ “mình”!

(** xin mở đấu ngoặc ở đây nói qua về chữ “tuổi” mà XHCN dùng.

Tự điển tiếng Việt trước 4/75, định nghĩa “tuổi” là thọ mệnh tính hằng năm. Đứa bé đẻ ra đủ 12 tháng mới gọi là 1 tuổi, ăn mừng con đầy tuổi. Nhưng sau 4/75 xuất hiện ngôn ngữ quái đản: “đứa bé 3 tuần tuổi, cháu gái mới 6 tháng tuổi v.v..”)

Quay trở lại hai chữ “mọi người”.

Trong trường học là vậy, ngoài đường phố XHCN thì sao?

Năn nỉ xin “views”, lời nói đầu tiên của các “youtubers” là:

-“Chào mọi người, hôm nay mình… xin cho mình một cái lai”.

Tệ nạn này nó đã nhiễm trùng tràn lan vào tiếng Việt hải ngoại, có nguy cơ “Người Việt Giết Tiếng Việt”. Xin quý đọc giả theo dõi hiện tượng sau đây:

Một cô đỏ môi quảng cáo cho super-market PL trên đường Brookhurst:

-Chào mọi người…

Cô đẹp người mà ngôn ngữ chẳng đẹp tí nào, mời chào khách hàng thì phải lịch sự lễ phép: “Thưa quý khách”, chứ sao cô lại gom nam nữ trẻ già vào một rổ “mọi người”! Khách hàng đến mua thực phẩm chứ có mua…đồ của cô đâu.

Chàng tuổi trẻ đẹp trai tên Th.. nói trên TV tần số 14.2:

-Chào mọi người, khai trương café sáng, mình phải ăn mặc “chỉn chu”.

Này chú em, em rất đẹp trai, nói tiếng Việt lưu loát, em mới sang Little SGTV làm MC thì nên cố gắng trút bỏ những cái bụi bặm XHCN đi. “ăn mặc chỉn chu” là cái gì vậy? Phải nói là “ăn mặc chỉnh tề chu đáo”.

Xin cộng đồng nói tiếng Việt ở hải ngoại hãy trả hai tiếng “mọi người” về cho “người mọi” ở cái hang baác-bó xa xôi nào đó cho kẻ dốt hay nói chữ.

“Quá trình”:

Khi tôi nhắc tới hai chữ này, tên Tê nhìn đời bằng nửa con mắt kêu lên:

-“Biết rồi khổ lắm nói mãi”!

Nói mãi mà vẫn chưa hiểu, chưa thủng lỗ tai nên cần phải lập lại.

Tự điển tiếng Việt xuất bản trước 4/75 tại Saigon đã giải thích:

“Quá” là “đã qua, qua rồi”, quá khứ, quá vãng, quá cố. “Quá trình” là một sự việc đã diễn ra trong quá khứ. Nhưng VC dùng “quá trình” cho cả hiện tại và tương lai, “no dot no say so”, nhưng tai hại thay, một số người Việt hải ngoại cũng nhắm mắt nói theo, nhất là một số xướng ngôn viên.

Trên TV14.4 khi loan báo tin tức thế giới cô MC Thanh H phát ngôn:

-WHO đang trong quá trình điều tra về việc đối phó với đại dịch Covid.

-Bộ Nội An đang trong quá trình điều tra việc gian lận tiền thất nghiệp.

MC chắc mới di cư từ XHCN qua, nhưng người soạn bản tin này từ đâu ra mà viết như vậy? “Đang” là hiện tại, tại sao lại cứ phải nhét thêm đi “quá trình” vào cho thêm rắc rối lộn ngược.

Tiếng Việt trong sáng dễ hiểu chỉ cần nói viết ngắn gọn:

-WHO đang điều tra về việc…

-Bộ Nội An đang điều tra việc gian lận…

Xin đừng nói bậy, viết bậy về hai chữ “quá trình” nữa, chỉ nên dùng nó khi diễn tả một sự việc đã xảy ra rồi, còn ở thời hiện tại và tương lai thì quăng nó đi hoặc nếu muốn văn hoa thì: “Đang trong tiến trình…” cho tiếng Việt được trong sáng.

“Khả năng”.

“Khả năng” là hai chữ mà XHCN dùng bậy thì ở hải ngoại, nhất và vùng Little SG, trên TV các băng tần 14.xx các xướng ngôn viên đọc bản tin như sau:

-Những đám cháy ở CA “có khả năng” lan rộng…

-Dịch covid 19 “có khả năng” bộc phát trở lại vào mùa Thu.

-Trận bão Blu “có khả năng” gây ra lũ lụt tại miền Trung Tây HK.

Ba chữ “có khả năng” đã bị VC dùng sai vì cái tật “dốt hay nói chữ”, nhưng người Việt tị nạn VC đâu có thiếu chữ mà nói theo họ.

Cho dù 3 chữ “có khả năng” theo du học sinh vào đất Mỹ, mà du học sinh là những người có chữ thì cũng phải biết đúng sai chứ đâu có thể nhắm mắt nói viết theo.

Tự điển tiếng Việt xuất bản tại miền Nam trước 4/75 định nghĩa:

Khả năng: Là tài sức, phẩm chất, đức tính, năng lực, tài năng v.v.., cái vốn vật chất và tinh thần để cáng đáng một việc gì đó.

Thí dụ: một người có thừa khả năng, đủ khả năng, thiếu khả năng…

Muốn hiểu rõ ý nghĩa của “khả năng” thì xin tra thêm tự điển Pháp-Mỹ để nói và viết cho đúng. Xin nghe tâm sự của Giáo Sư HB:

–Trong buổi thảo luận với một số thầy cô giáo dạy tiếng Việt nhân một khóa tu nghiệp Sư Phạm, tôi đã nói về từ “có khả năng”, và không đồng ý với những ai nói theo người trong nước như:

-“Thời tiết Nam California có khả năng nóng trong những ngày sắp tới”

Cá nhân tôi, không bao giờ nói, không bao giờ viết như thế.

Các thầy cô giáo tôi tiếp xúc cũng nghĩ như tôi, chúng ta chỉ nên nói là:

“Thời tiết Nam California có thể sẽ nóng lên trong những ngày sắp tới.”

Thưa quý thày cô Trung Tâm Việt Ngữ, quý thày cô trong chương trình: “Ước Mơ Việt, Bảo Tồn Tiếng Việt Trong Sáng”.

Cám ơn quý thày cô đã soi sáng và chỉ dạy nên dùng hai chữ: “có thể” để diễn tả sự thay đổi thời tiết, hoặc các hiện tượng bất thường khác do “trời” gây ra.

Xin các MC hải ngoại chớ bắt chước VC rước ba chữ: “Có khả năng” vào nhà khiến các cháu nhỏ ở Trung Tâm “Ước Mơ Việt” cười cho.

Hai chữ “Có thể” dễ dùng, rõ ràng và trong sáng như thế thì tại sao không dùng mà cứ học theo vẹt VC: “có khả năng”!

“Ý Định - Ý Đồ”

Từ trí thức đến trí ngủ XHCN không biết phân biệt “ý định & ý đồ” khác nhau thế nào. Hầu như họ quên mất hai chữ “ý định” rồi! Bất cứ ai dự định làm việc gì, dù cho tốt đẹp, họ chỉ biết dùng hai chữ “ý đồ” mà thôi.

Thí dụ: Chủ tịch tỉnh xx có “ý đồ” xây cây cầu cho dân “đi cầu”.

“Ý đồ” là có mưu đồ, có ẩn ý làm một việc gì có lợi cho mình mà hại cho người khác. Có thể người dân trong nước thâm hiểm, chửi xéo quan chức nhà nước chăng. Ông chủ tịch tỉnh có “ý đồ” xây cầu cho dân đi, nhưng thực chất là ông ta có âm mưu (ẩn ý) mượn cớ xây để ăn cắp cốt sắt, xi măng…

Xin các MC hải ngoại nhớ phân biệt “ý định &ý đồ”, chớ nói theo VC, thí dụ như: “Bố tôi có “ý đồ” giúp tôi tài chánh để mua nhà.

“Giống Như Là”

Xin quý khán thính giả Nam Bắc CA nghe các MC nói trên TV:

-Trong lúc chữa trị dịch covid, có những người làm việc tuyến đầu rất nguy hiểm “giống như là” các bác sĩ, y tá ở các bệnh viện (TV 14.xx cô NL).

Sai rồi cô Ng L..ơi! Lúc nào cô cũng dùng 3 chữ “giống như là”

Những người làm việc tuyến đầu chống covid rất nguy hiểm không phải “giống như là” mà chính là, (như là) các bác sĩ, y tá, y công v.v..

Khi cô muốn kể ra, liệt kê ra cho thiên hạ biết họ là những ai thì cô phải dùng hai chữ: “như là” chứ không thể dùng ba chữ: “giống như là”.

Nhóm chữ “giống như là” chỉ dùng khi chúng ta có ý so sánh hai sự kiện.

Thí dụ: Các bác sĩ, y tá ở bệnh viện làm việc chống covid nguy hiểm “giống như là” các chiến sĩ ngoài tiền tuyến.

Thế rồi đồng nghiệp của cô, chú Ng.. T tiếp lời:

-Một số người khai gian lãnh tiền thất nghiệp tới 24 ngàn đô, để đi mua đồ có giá trị “giống như là” đồng hồ Rolex, túi xách tay vuitton.

Sai rồi chú Ng T ơi! Họ mua đồ quý giá thực sự “như là” Rolex, hột xoàn, chứ không phải đồ giả “giống như là” đồ thật.

-Khi bị nhiễm Covid, bệnh nhân có những triệu chứng “giống như là” sốt trên 100F, ho khan, khó thở, mất vị giác (14.4 Dr QK và Võ ĐV).

Ngược đời rồi anh Võ ơi!

Những triệu chứng nhiễm Cô-Vi đúng như anh kể ra, chứ không phải những triệu chứng này của bệnh cúm. Khi nào triệu chứng của Cô-Vi tương tự như của cúm thì anh Võ mới nói: “giống như là” bệnh cúm.

Tóm lại khi có ý so sánh hai việc khác nhau thì mới dùng “giống như là”, còn khi chỉ có một sự việc mà ta muốn kể ra thì chỉ dùng: “như là” mà thôi.

Xin quý anh chị em MC so sánh hai thí dụ dưới đây:

a. Các MC chương trình Café Sáng đẹp “giống như là” tài tử ciné.

1. Các MC chương trình Café Sáng “như là” ĐQAT, HHT, NT, NL nói tiếng Việt rất đúng và lưu loát.

Muốn rõ hơn thì nên tìm hiểu tự điển Pháp-Mỹ những chữ nghĩa tương tự.

Cái Đuôi “Luôn”

Tuổi trẻ trong nước ngày nay họ nói năng vô cùng lạ lùng, không bút mực nào mà kê khai ra cho hết được những điều quái dị! Những ngôn ngữ đó theo chân người từ trong nước, theo du học sinh xâm nhập vào cộng đồng Việt hải ngoại, thế rồi: “Điều hay khó học, điều dở dễ lây”.

Trong nước họ luôn kết thúc một câu nói bằng chữ (luôn) vô nghĩa. Thế là các một số hải ngoại và MC cũng nói theo khiến tiếng Việt muốn tắt thở.

Xin mời quý vị nghe xem các MC hải ngoại nói cái gì đây:

Máy bay mà gặp các đàn chim là sợ lắm “luôn”.

Chú Ng T (TV 14.2) thêm chữ “luôn” vào cuối câu một cách hết sức vô duyên. Cũng băng tần này, khi hướng dẫn về cách nấu bún riêu thì người hướng dẫn nói:

Nấu bún riêu theo cách này thì ngon “luôn”.

Cô MC Thanh H.. nói về các mẹo vặt:

Làm theo cách này thì rất hay “luôn”.

-Cuối tuần, bãi biển Hungtington Beach quá đông người “luôn”

Ông tiến sĩ Kờ-Lờ.., chuyên viên ứng cử và thất cử thì than rằng:

Các cuộc vận động tranh cử thì vô cùng khó khăn “luôn

Thưa tiến sĩ, chữ “luôn” trong những câu trên không có nghĩa gì cả, nó như là cái đuôi (tiếp vĩ ngữ) làm người nói trông dị hợm. Ông muốn dùng chữ “luôn” cho đúng thì cần phải có hai sự kiện cùng song hành.

Thí dụ:


-Ông TS Kim L.. ra ứng cử, nên bà L.. cũng ra “luôn”. Và cả hai ông bà đều thất cử “luôn”

-Ông đi chơi với bồ, nên bà cũng đi “luôn”.

Kính thưa quý đồng hương hải ngoại:

Chúng tôi xin quý vị trong cộng đồng hải ngoại hãy tiếp tay để duy trì tiếng Việt cho được trong sáng. Nhất là các anh chị em xướng ngôn viên. Tiếng nói của quý anh chị quan trọng lắm, tiếng Việt tiếp tục được trong sáng hay bị lu mờ đi theo ngôn ngữ VC phần lớn là do trách nhiệm của truyền thông, của quý anh chị./.

(kỳ sau nói tiếp)

(nguồn: T.Vấn & Bạn Hữu)

Wednesday, October 14, 2020

LÀM CON DÊ TẾ THẦN KHI TĐ 6 DÙ THUỘC ĐỊA NHẢY XUỐNG TƯ-LỆ THÁNG 10.1952

- Để tưởng nhớ các chiến sĩ Lữ đoàn 3 Dù VNCH đã anh dũng chiến đấu trong trận đánh cuối cùng của cuộc đời tại Khánh Dương tháng 3.1975.

- Tôi biết nhiều bạn trẻ ko ưa thực dân Pháp, nhưng xin các bạn nhớ rằng trước khi trao trả độc lập cho VN năm 1954, thì vào năm 1950, họ đã bắt đầu thành lập các đv toàn lính VN với sĩ quan (sq) và hạ sĩ quan (hsq) Pháp chỉ huy trong giai đoạn đầu, sau đó sẽ thay thế bằng sq và hsq VN. Các danh tướng hay sĩ quan cao cấp như Đỗ Cao Trí, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Trương Quang Ân, Phạm văn Phú, trung tá Lê văn Phát (chỉ huy lữ đoàn 3 Dù), trung tá Đào văn Hùng (chỉ huy lữ đoàn 2 dù), v.v... từng làm tiểu đội trưởngtrung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn phó, v.v... của những đv này. Được biết: Tiểu đoàn 1 Nhảy dù được thành lập ngày 1/5/1951 bởi quyết định 1547/EMIFT/1 (Etat Major Interarmées et des Forces Terrestres), ban đầu do các sĩ quan người Pháp chỉ huy. Ngày 7/9/1952, Đại úy Lê Quang Triệu là sĩ quan người Việt đầu tiên được chỉ định làm Tiểu đoàn trưởng đến ngày 20/1/1952, kế tiếp là Đại úy Nguyễn Khánh chỉ huy đến ngày 22/2/1952. Sau đó, kể từ ngày 23/2/1952 đến 1/8/1954, Tiểu đoàn do các sĩ quan người Pháp chỉ huy.

Từ ngày 1/8/1954, Tiểu đoàn 1 Nhảy dù chính thức được người Pháp bàn giao sang Quân đội Quốc gi

Riêng đại úy Nguyễn văn Viên, với đv đầu đời là TĐ 5 Nhảy Dù, đã nhảy xuống mặt trận Điện biên phủ hai lần. Lần đầu ngày 23/11/1953. Lần 2 ngày 14/3/1954: là sĩ quan phụ tá đứng hàng thứ ba trong TĐ, trung úy Viên bị thương nặng, được chở về Hà Nội cấp cứu. Toàn bộ TĐ của ông, trong đó có trung úy Phạm văn Phú đại đội trưởng, đã tiếp tục chiến đấu tới giờ cuối. Sau khi người Pháp về nước, ông là TĐ trưởng người VN đầu tiên của TĐ 5 Dù. Năm 1957, đang là chỉ huy của TĐ 6 Dù, vì một sai lầm của cấp dưới, ông buộc phải giải ngũ. Năm 1972 ông được lịnh tái ngũ, nhưng người ta khó giao công việc cho ông vì các đồng đội cũ (từ cùng là thiếu úy) nay đã là TL của sđ 3 bộ binh như chuẩn tướng Vũ văn Giai hay TL của sđ Dù như Lê Quang Lưởng. Tướng Trưởng, TL quân khu 4, từng là thiếu úy dưới quyền ông. Sau ngày 30/4, ông tham gia lực lượng Phục Quốc, do bị nội tuyến nên bị bắt, bị tra tấn dã man và bắn chết. Cha Nguyễn văn Vàng, bị xử chung thân. 



Lời nói đầu: Sau khi vượt Sông Hương (Red River), sđ 308 Việt Minh Cộng Sản (VMCS) đã quét sạch các đồn bót nhỏ và chỉ còn cách TP Nghĩa Lộ khoảng 64 km. BTL Pháp ở Hà Nội quyết định: thả một TĐ Dù xuống Tư Lệ, 32 km tây bắc Nghĩa Lộ, nhằm mục đích thu hút nỗ lực chánh của sđ này và mua thời gian để các đv lớn hơn và chậm chạp hơn của Pháp rút về Sông Đà (Black River). Và TĐ 6 Dù thiện chiến của Thiếu tá Bigeard được chọn làm Dê Tế Thần. (Nói thêm: Sau khi quân đội Pháp về nước, đầu năm 1954, khi TĐ 6 Dù của quân đội quốc gia VN được thành lập, thiếu tá Đỗ Cao Trí là TĐ trưởng đầu tiên của TĐ này -- người dịch).

Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 63 đến 76 của quyển Street Without Joy của Bernard Fall.

......

"Trận đánh vùng núi rừng xứ Thái đã bắt đầu ngày 11/10/1952, với ba sđ quân VMCS - gồm 308, 312, và 316 - vượt sông Hồng và tiến theo ba trục trên một mặt trận rộng 64 km; SĐ 308 và 316 đã để lại một trung đoàn của mỗi sđ (trung đoàn 176 và 36), làm tổng trừ bị chung quanh hành lang (passage) chiến lược của sông Hồng; ở phía bắc của ba sđ này, trung đoàn độc lập 148 đã tiến riêng rẻ về hướng tây với vòng cung rộng. Một dãy các đồn bót của Pháp nằm kế phía tây sông Hồng vẫn yếu và mỏng manh (tenuous) như trước đây và tp Nghĩa Lộ, dù phần nào đó đã tăng cường hầm hào kiên cố (fortifie) và bây giờ được bảo vệ bởi 700 lính, vẫn ko là đối thủ của một cuộc tấn công đầy quyết tâm (determined) của CS với 10.000 quân trang bị đại bác không giật, còn gọi là ĐKZ, và cối 120 ly.

Trong vòng chưa tới sáu ngày sau khi vượt sông Hồng, sđ 308 đã quét sạch các tiền đồn nhỏ của Pháp và đã xuất hiện trong rừng 64 km ở trước và chung quanh Nghĩa Lộ. Vài ngày trước khi trận chiến, các làng chung quanh TP này đã bắt đầu vắng người, đầu tiên là người già và đàn ông và sau đó là đàn bà và trẻ em. Sau đó, các "cảm tình viên" của Pháp - những dân thiểu số địa phương từng là tai mắt của quân Pháp, đã ngừng gửi báo cáo, bằng cách gửi vợ đến nói rằng chồng của họ đi xa để săn bắn hay bịnh, hay dự đám cưới bà con. Các sĩ quan (sq) Pháp đã biết rằng địch sắp tấn công. 



                          
Add caption

Chỉ huy quân Pháp tại địa phương đã đáp ứng bằng cách gia tăng tuần tiểu trong khu vực, đặt các toán phục kích trên các đường tiến sát (path of approach) - mà họ nghĩ địch sẽ dùng, và yêu cầu máy bay thám thính bao vùng. Từ ngày 11 tới 17 tháng 10, đã ko phát hiện gì hết. Thực tế, cho tới ngày trước cuộc tấn công của sđ 308 VM, hai đại đội lính Pháp đã lục soát rất kỹ chung quanh TP, bằng cách thăm các làng, và lục soát những vị trí nghi ngờ nhưng ko thấy gì. Tương tự như vậy, máy bay thám thính, trong khi quan sát liên tục các vị trí mà địch có thể tập trung, cũng ko tìm thấy chỉ dấu nào của đại đv của CS. Đó đây (here and there), một nhóm nhỏ người đi hàng một (advance single file) xuyên qua cỏ cao đã lọt vào mắt của phi công máy bay, nhưng khi máy bay vòng trở lại, những kẻ này biến mất.

...

Lại một lần nữa, ngụy trang của CS rất toàn hảo... Đúng 1700 ngày 17.10, một đám mưa đạn cối, rất chính xác và dữ dội đã rơi xuống Đồi Nghĩa-Lộ, phá hủy hàng rào thép gai, mở các cửa mở qua các bãi mìn, và diệt các ổ súng cộng đồng của Pháp. Lúc 1730 g, tiếng hô kinh sợ "Tiến lên" vang lên và lính VM đã xuất hiện bên trên tuyến phòng thủ đã tan nát của Pháp. Trong chưa tới một giờ, tất cả Đồi Nghĩa-Lộ đã lọt vào tay địch. Không quân của Pháp, được báo động vài phút sau khi bắt đầu trận đánh, đã đến kịp thời từ châu thổ sông Hồng, ý nói từ Hà Nội, để chứng kiến đoàn tù binh (TB) Pháp, hai tay dơ cao, đi giữa hai hàng lính canh VM. Vị trí Pháp tại Làng Nghĩa-Lộ gần đó vẫn tiếp tục chiến đấu và giữ tới sáng, nhưng khi máy bay tiếp tế đầu tiên tới vào bình minh (dawn) để thả đạn dược và huyết thanh cần thiết, lá cờ ba màu của Pháp đã ko còn bay trên Nghĩa Lộ đổ nát. Nghĩa Lộ, căn cứ chánh của Pháp tại xứ Thái, xem bản đồ, đã mất trong 24 giờ và bây giờ điều dĩ nhiên là tất cả các đồn Pháp ở bắc và tây Nghĩa Lộ sẽ bị đè bẹp, ko còn hy vọng giúp đỡ (succor) nếu VM tới Sông Đà (Black River) trước khi các đồn này hoàn tất việc rút lui. 

Tin tức về 3 sđ VMCS đã khiến BTL Pháp ở Hà Nội lo lắng vì họ ko còn quân trừ bị để đối phó với diển biến này .(Quân Pháp ở Đông Dương cũng khá đông nhưng phải căng mỏng để bảo vệ các khu đông dân và đường xá. Lực lượng tổng trừ bị của Pháp với 7.500 quân Dù thiện chiến, nhưng Pháp không có nhiều máy bay để chuyển một số lớn quân tổng trừ bị  - như Không Quân Mỹ đã giúp quân VNCH trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Thời Pháp chỉ có vận tải cơ C-47 của Mỹ,  chở được 28 lính với đầy đủ súng đạn -- người dịch).

Lại một lần nữa, bóng ma của thảm bại biên giới năm 1950 (ý nói trận phục kích trên Đường Thuộc Địa số 4 (RC-4) khiến ĐT Le Page và ĐT Charton bị bắt sống-- người dịch), lại hiện ra trước mắt BTL tối cao của Pháp: và họ đã quyết định ném vào địch một con dê tế thần - đó là một TĐ Dù, với mục đích thu hút (draw upon) nỗ lực chánh của địch quân và mua thời gian cho các đv lớn và chậm chạp hơn rút về sông Đà. Không có một ảo giác dù nhỏ nhứt (slightest illusion) cho cơ may sống sót của TĐ Dù này; nếu họ còn sống để hoàn thành nhiệm vụ, việc tung TĐ này vào trận đánh cũng nên làm. TĐ được chọn để hy sinh tại xứ Thái này là TĐ 6 Dù Thuộc địa của thiếu tá Bigeard.

Ngày 15, đv này được đặt trong tình trạng báo động và tối hôm đó, TL không quân, ĐT Gilles, đã yêu cầu linh mục Jeandel, tuyên úy nhảy dù, phải sẵn sàng cho hành quân vào lúc 0530 g sáng hôm sau. "Cuộc HQ kéo dài bao lâu, thưa ông?", LM Jeandel nói.

"Tôi ko biết chính xác," Gilles nói. "Xin ông mang theo một bàn thờ nhỏ (portable altar) và bất cứ những gì cần thiết cho lễ Mi-sa. Nếu HQ dài quá dự định, sẽ có rượu lễ và bánh thánh (Mass wine and host) được thả dù xuống cho ông. Chúc may mắn."

Ngày 16/10/1952 lúc 11:20 g, đợt đầu tiên gồm 15 máy bay C-47 Dakota của Mỹ cất cánh từ Hà Nội bay về Tư-Lệ, 32 km tây bắc của Nghĩa Lộ. Đợt kế lúc 1430. Bigeard, như thông lệ, luôn luôn ở chiếc đầu tiên. Mặt mày mọi người đều căng thẳng (taut); ko còn ai nói chuyện đùa hay nói chuyện (joke or crack). Giờ đây họ đã biết nơi họ sắp tới, họ sắp làm cái gì, và rằng chỉ có ít người trong họ có thể sống để kể về điều đó. LM Jeandel, trong quân phục ngụy trang của Dù - với một thập tự giá màu đen tô điểm với hình Chúa bằng bạc đeo ở cổ, thập tự nằm ngay trên dù bụng và một túi nhỏ chứa một bàn thờ nhỏ nằm trên ba-lô của ông - ngồi ko xa thiếu tá Bigeard. Tuyên úy này đã nhảy dù như là một thành viên của BCH. Và đó là Tư-Lệ: những đồi nhỏ hình hạt đậu bao quanh bởi những đồi cao hơn, phủ đầy cây rừng. 

Đồn Tư Lệ, nằm ngay giữa một bình nguyên nhỏ, ko khác gì một gác chuông (belfry) thời trung cổ, bảo vệ bởi 10 lớp dây thép gai và một ít giao thông hào lộ thiên, ko có nắp, nhằm nối kết năm ổ súng liên thanh. Vị chỉ huy đồn, đã cho lính dùng đá để viết tên của đồn lên núi với hàng chữ cao 1.8 mét. Bình nguyên này dài khoảng 9.6 km và nối với một làng dân Mèo gần đó bằng con đường đầy bùn. 

Người lính dù đầu tiên chạm đất lúc 1300, và cả TĐ lúc 1600. Họ lập tức đào hố chung quanh đồn Tư Lệ để chuẩn bị trận đánh sắp tới; họ là những người lính thiện chiến, gồm VN và Pháp. Ngày 17, một toán tuần tiểu đầu tiên của TĐ đã báo cáo chạm súng với ba thành phần của sư 312 ở khoảng 8 km cách Tư Lệ. Cùng đêm đó, lính của TĐ này từ Tư Lệ đã im lặng và từ xa chứng kiến cơn hấp hối của Nghĩa Lộ. Tiếng súng ầm ầm (rumble of gunfire) và những ánh chớp của tiếng nổ có thể nghe và thấy từ 32 km phía đông nam. 

Lúc 1800 giờ hôm sau, các thành phần đầu tiên của VM đã tới các chỏm núi (crest) chung quanh Tư Lệ từ hướng nam và đông; TĐ 1 sơn cước người Thái đã rút lui ngày trước đó về hướng bắc và tây; TĐ 17 Tabor toàn lính Ma-rốc và TĐ 3 của trung đoàn 1 bộ binh cũng toàn lính Ma rốc cũng rút về hướng sông Đà. Tuy nhiên, 15 dặm Anh hay 21 km về phía đông nam Tư Lệ, tại Gia Hội, một đại đội bộ binh đơn độc vẫn ngoan cường cố gắng vượt thoát (extricate) mọi phục kích của địch để rút về Tư Lệ. Người ta ko bao giờ biết liệu quyết định của thiếu tá Bigeard phải chờ đại đội này rút từ Gia Hội đã là nguyên nhân chánh khiến TĐ 6 Dù bị vây chặt ở Tư Lệ, nhưng điều rõ ràng rằng lúc 2100 của ngày 19/10, khi Bigeard nhận lịnh phải rút khỏi Tư Lệ hướng về sông Đà, ông đã quyết định cho đại đội này chờ tới sáng để bắt tay với TĐ của ông. 

Ngày 19 là một ngày u ám (gloomy) tại Tư Lệ. Bầu trời bao phủ những đám mây dầy đã ngăn chiến đấu cơ và thám thính cơ hoạt động tại vùng này. Tuy nhiên, nhờ một may mắn hiếm có (by sheer luck), một oanh tạc cơ đã ngăn chặn một đội quân khoảng 600 VM đang hướng về Tư Lệ, nhưng tổn thất này của VM chỉ là một giọt trong sô nước khi so sánh với khối người đang bao vây lính Dù tại Tư Lệ.

Khoảng 0300 ngày 20/10, cuộc tấn công của địch đã bắt đầu với mưa pháo của súng cối, lính Dù vẫn giữ vững. Hai đợt xung phong bị đẩy lui (beaten off); lúc bình minh, quân của Bigeard vẫn giữ vững phòng tuyến sau hàng rào kẽm gai và gác chuông của Tư Lệ. Lại lần nữa, thời tiết đã ko đẹp với lính Pháp; bầu trời trên thung lũng dầy đặc những đám mây tích mưa (cumulus) - đã gây trở ngại cho không yểm. TĐ 6 dù thuộc địa chỉ còn dựa vào sức mình (was strictly on its own). 

Giờ đây dĩ nhiên mọi ý định cố thủ tại Tư Lệ đều vô ích; vì ko những chỉ là hủy diệt cho TĐ, nhưng vì có thể địch sẽ đi vòng quanh TĐ bằng cách dùng vài TĐ để ngăn chặn nó - như VM đã làm trước đây với nhiều đồn Pháp và sau này. 

Nhưng vấn đề bây giờ là thương binh. Có một truyền thống  trong Nhảy Dù là ko để lại thương binh trong vùng địch. Vì họ biết rằng, là một đv thiện chiến, họ sẽ bị VM tra tấn đến chết nếu bị bắt. 

TĐ đã cáng 5 thương binh nặng và chuẩn bị đưa họ về sông Đà. Mỗi băng-ca phải có tám người chia làm 4 cặp để khiêng và bảo vệ. Trời nhiệt đới rất nóng, họ phải đi theo lối mòn có sẵn của dân Mèo, lúc lên đồi lúc xuống đồi, làm hai kẻ khiêng cáng, trong chưa tới 15 phút đã mệt lả với tải trọng 90 kí . Điều này cũng áp dụng với súng cối và liên thanh, máy truyền tin và đạn dược. Gần như mọi lính Dù, kể cả sq, đều mang nặng quá mức thường ngày của họ. 

Việc rút quân đã bắt đầu với dễ dàng ngoài mong đợi. Vì một lý do nào đó VM đã tránh chạm súng và lính Dù đã thành công khi vượt qua dãy đồi đầu tiên (first hill line) trên đường tới Đèo Tư-Lệ, mà ko bị ngăn chặn. Một toán tiền sát đã đi trước TĐ để tới Đèo Tư Lệ ngày hôm trước, gọi máy báo rằng ko chạm địch. Hình như vận may đã đến với người Pháp lần này. Nhưng đơn thuần vì VM đã mua thời gian (had bided its time); thay vì chịu tổn thất nặng khi tấn công ồ ạt lúc khởi đầu trận đánh, sđ 312 đã chọn cách để TĐ Dù rút lui từ Tư Lệ, nơi mà súng của Pháp có thể gây thiệt hại cho quân VM, và sẽ cắt TĐ này thành từng khúc để tiêu diệt. Do vậy toàn TĐ đã bước vào một cái bẫy khổng lồ giữa đèo Tư Lệ và dãy đồi đầu tiên. Cường độ của hỏa lực súng tự động đón tiếp lính Pháp - chưa từng nghe thấy trong chiến tranh Đông Dương; theo thiếu úy Trapp, chỉ huy một trung đội bọc hậu, sau này là tù binh (TB) đã thấy súng địch từ cự ly gần: cứ mỗi 10 lính VM có một trung liên, cứ 5 VM có 1 súng tự động, và rất nhiều súng tiểu liên (sub-machinegun). Trận đánh sớm kết thúc với 2 đại đội bọc hậu, họ đã bị tiêu diệt nhưng hy sinh của họ đã cứu phần còn lại của TĐ, bao gồm thiếu tá Bigeard. Hầu như liên tục chạm súng với địch, vài lần tưởng bị tràn ngập (submerge), Bigeard và lính đã chiến đấu nghiệt ngã (grimly fought) để chạy tới sông Đà. Họ đã tới đó ngày 22/10, đã vượt qua hơn 64 km đường rừng trong chưa tới hai ngày với tổn thất hơn 3/5 TĐ. Họ đã kiệt sức, mất hồn (begrim), bị sốt rét và vắt (leech) cắn, nhưng họ vẫn là một đv chiến đấu. Và họ mang họ tất cả những kẻ bị thương - đã ko bị bắt làm tù binh ở Đèo Tư Lệ.

Trong lúc đó, chiến trường chung quanh Tư Lệ có hơn 100 thương binh Pháp nằm rải rác. LM Jeandel đã ở với họ với hy vọng có thể giúp họ, nhưng đối với phần lớn họ, mọi giúp đỡ đều quá trễ. Đơn giản vì VM đã ko làm gì cho họ. VM chỉ gom thương binh, để họ nằm kế nhau trong bùn, vết thương tiếp xúc với không khí, những tay chân bị đứt do trúng đạn đã ko được chữa trị (left unattended). Họ đã rên rỉ nho nhỏ, cầu xin nước uống hay một cái chết sớm sủa. 

Một sq Pháp, bị bắt làm TB, và đã đi gần đồn này vài ngày sau đó, sau này kể lại:

"Bạn biết đó, điều này còn tệ hơn những gì tôi đã từng thấy trước đây. Toàn cảnh giống như từ tác phẩm Inferno (địa ngục) của thi hào Dante hay từ một tranh vẽ của Goya. Kẻ bị thương vẫn nằm tại chỗ như ngày đầu tiên, xen kẻ (intermingle) với kẻ đã chết vài ngày trước và những xác bắt đầu thối rửa (rot). Họ nằm mà ko ai chăm sóc, dưới mặt trời nhiệt đới, bị cắn hay ăn bởi chuột và kền kền (vulture). Tuy nhiên một số vẫn còn rên rỉ.

Trong 114 lính Dù bị thương nhẹ hay ko bị thương bị bắt làm tù binh ở Tư Lệ và tại đèo cùng tên vào ngày 20 tháng 10, 1952, chỉ có bốn người, bao gồm LM Jeandel, đã vượt qua khổ nạn trong trại tù CS để thấy ngày giải phóng của họ tháng 8.1954. 

Tổn thất của lính Dù tại Tư Lệ là điều cần thiết để giúp họ tránh thêm thiệt hại. Một đồn khác đã hy sinh để giúp cho đv của Bigeard có thêm vài giờ quý giá để nghỉ ngơi và những đồn khác có cơ may sống sót đi đến sông Đà. Định mạng đã rơi xuống đồn nhỏ Mường Chen, 33 km tây bắc Nghĩa Lộ với 80 lính Thái thuộc đại đội phụ lực quân địa phương, dưới quyền chỉ huy của trung sĩ nhứt Peyrol và ba hạ sĩ quan Pháp khác. 

Vào buổi tối 20 tháng 10, quân của Bigeard tới Muờng Chen, nằm trên một đồi nhìn xuống con đường dẫn tới sông Đà, đồn gồm một hầm ngầm (bunker) làm từ những khúc gỗ, hai trại lính nhỏ và một hầm ngầm chưa hoàn tất. Trung Sĩ nhứt Peyrol đã dùng hàng rào tre để thay thế kẽm gai.

"Hãy nhìn đây, Peyrol. Tôi có 500 lính Dù với tôi. Chúng tôi có một nhiệm vụ - cố thủ ở vùng núi này cho tới khi có viện quân cho phòng tuyến Sông Đà. Quân VM chỉ cách chúng tôi một giờ và chúng tôi cần thêm ba giờ. Ông sẽ cho chúng tôi ba giờ đó. Hai trung đội của ông sẽ giúp TĐ tôi và các đồn khác ở xứ Thái này." Bigeard nói.

"Ông sẽ có thêm ít nhứt là ba giờ, và chúng tôi có thể làm điều đó." -- Peyrol trả lời.

Peyrol 34 tuổi, chỉ có 80 lính để chống lại sđ 312 - họ sẽ ko có một bóng ma của cơ may. Và từ quê ông ở Verdun nước Pháp, hôm nay là sinh nhật của con gái nhỏ của ông. Ông đã để dành một chai champagne - tuy nhiên ko thể uống trong cơ hội này. Ông sẽ uống dịp khác, nếu còn có dịp khác!

"Bien, mon Commandant," (Chào, đích thân), Peyrol nói. 

"Cám ơn," Bigeard nói, "Tôi biết các chiến hữu của ông ko làm tôi thất vọng."

Hai người đi vào hoàng hôn, nơi mà lính Dù nằm trên mặt đất, dọc theo con đường, dựa lưng trên ba lô. Họ đã biết họ phải tiếp tục đi trong vài phút với khẩu phần và những băng đạn nặng và người bị thương trên cáng. 

Khoảng 1815 g, người lính Dù trong bộ đồ tác chiến rằn ri (mottled battle dress) đã biến dạng về hướng tây và Trung sĩ nhứt Peyrol và Trung sĩ Cheyron sắp xếp công việc (set about the business) để có được 3 giờ cho Bigeard. Các người lính thân binh/nghĩa quân (parisan) gốc Thái đang im lặng đào hố mới cho ổ súng liên thanh, đào sâu các giao thông hào, và cho thêm cát vào các bao cát đã xẹp do mưa gần đây. Dù họ ko được nghe về nhiệm vụ sắp tới, họ đã biết, bằng một cách bí mật qua đó tin tức truyền lan trong những đất nước mà hầu như ai cũng mù chữ (illiterate); rằng đám đông địch quân sẽ tới; và vì là thợ săn giỏi đã biết cách rình rập con mồi (stalk prey) từ khi họ biết đi, họ đã ước lượng cơ may sống sót của chính họ cũng chính xác như viên thiếu tá này.

Chỉ trong chưa tới một giờ sau khi lính Dù ra đi, những viên đạn cối VM đã bắt đầu dội xuống Mường Chen. Lần nữa, địch quân đã thành công khi có mặt trong tầm bắn mà ko bị phát hiện bởi các tiền đồn - thường đặt trên các đường tiến sát.  Tình báo của VM, lại lần nữa, rất xuất sắc. Mủi tấn công chánh đã nhắm vào hầm ngầm phía nam, nơi đặt những khẩu súng liên thanh của Pháp. Kế đó là một cuộc tấn công vào lô cốt chưa xây xong, đã bị chiếm sau các đợt xung phong của lính VM chỉ xài lựu đạn/thủ pháo. Đầu tiên họ làm nổ tung hàng rào thép gai và tre và giết các tổ điều khiển trung liên BAR (một loại súng trung liên khá phổ thông, sau này đã dùng trong quân đội VNCH, trước khi được thay thế bởi M-60 -- người dịch). Hàng chục lính VM đã chết hay bị thương, nhưng những đợt xung phong sau đó đã dẫm lên họ để tiến vào đồn. 

                    

Trung liên BAR, còn dùng trong QLVNCH trước khi bị thay thế, vào năm 1968, bởi đại liên M-60.

Nhưng Mường Chen, dù bị tan nát và đầy khói súng, vẫn giữ được thêm 3 giờ. Tuy nhiên, lúc 2200, tình hình trở nên vô vọng; tất cả những súng nặng hoặc là hết đạn hay bị hủy diệt và đồn này bắt đầu bị đè bẹp đơn giản chỉ vì sức nặng của lính địch rớt xuống những người lính đang núp trong giao thông hào hay các vị trí súng.  Cái chết hay việc họ bị bắt tại Mường Chen ko thể trì hoản VM được nữa. Peyrol đã quyết phá vỡ vòng vây. Nhờ đã gài mìn tại các hầm ngầm còn lại cũng như kho đạn, họ đã bắn nhanh các vũ khí để mở đường máu rút vào một con đường rừng mà trước đó họ đã chặt cây, và vì lý do này, địch quân ko biết. Tầm nhìn xa của Peyrol được đền bù; trong đêm đen, họ rành đường hơn VM và chẳng bao lâu đã biến dạng trong rừng xanh.

Khi bình minh xuất hiện, họ chỉ còn lại ba người Pháp và khoảng 40 lính sắc tộc Thái. VM đã gửi 2 đại đội để săn đuổi họ trong 12 ngày với lộ trình 200 km đường rừng, bao gồm vượt sông (càng khó khăn hơn khi trung sĩ Cheyron ko biết bơi) và leo qua những núi cao 2.400m. Binh nhì (private) Destaminil chẳng bao lâu phải đi chân trần vì chân y, chảy máu và sưng lên, ko còn xỏ vào giày được. 

Vào ngày thứ hai của cuộc rút lui, một máy bay ném bom đã phát hiện họ và giúp họ thoát khỏi một ổ phục kích của VM, dù phải chết 10 người. Ngày thứ ba, hết lương thực, những người Thái quen đi rừng này đã tìm được ít bắp và rể khoai mì để lót dạ. Cứ mỗi lúc dùng quân, Peyrol đã cố gắng trong vô ích để liên lạc một đồn Pháp nào đó bằng máy truyền tin SCR-300, kỳ diệu thay, vẫn còn chạy tốt. Tuy nhiên, các đồn Pháp còn lại ở vùng tây bắc này đều nằm ngoài tầm của máy này. 

                 

Máy truyền tin (radio set) SCR-300

Một buổi tối, một giọng có vẻ Pháp trả lời họ và chỉ tọa độ bãi thả dù ở phía bắc con đường họ đang đi. Một cuộc tranh cãi xảy ra: liệu đó là thông điệp từ một trong những nhóm viễn thám cảm tử  (GCMA) hoạt động thường xuyên sau phòng tuyến của VM - và họ thường lập một sân bay nhỏ và bí mật để gửi kẻ bị thương và nhận tiếp tế; hay thông điệp này là một cái bẫy của VM, dùng để dụ máy bay Pháp vào để bắn rơi hay dụ máy bay thả dù tiếp tế cho VM thay vì cho lính Pháp? Peyrol đã quyết định: ko trả lời cuộc gọi và cũng ko cho kẻ kia biết họ là ai. 

Sau này mới biết ông đúng, vì đó là một bẫy của VM.

Gần Bất-Chiến, chỉ còn một rặng núi nữa là tới sông Đà, họ suýt rơi vào nơi đóng quân của một trung đội VM. Họ gần như chết cóng trong 5 giờ, chờ đến khi VM nhổ trại, trước khi tiếp tục đi. Giờ đây, suy yếu bởi đói, khát, và kiết lỵ, những người sắc tộc Thái chỉ là những cái bóng rách rưới (ragged shadow), loạng choạng cùng đi (staggering along), và nối kết nhau ko gì khác hơn là quyết tâm nghiệt ngã (grim) đi tới sông Đà. 

Ngày 5 tháng 11, 1952, họ đã vượt qua đỉnh núi cuối cùng, bầu trời xanh trở nên sáng hơn khi tán lá (tree canopy) thưa hơn và kế đó, người lính tiên phuông la lên: "La Rivière Noire" (Sông Đà). 

Họ phải tuột núi khá dốc để tới bờ sông; và trong rừng, tuột xuống thì gay go hơn leo núi. Những người lính mệt đứt hơi (dead-tired) thường té nhiều hơn đi nhưng lúc 1600, họ đã tới đáy của thung lũng. Họ gặp một thổ dân Thái từ làng gần đó.

"Các ông ko thể vượt sông ban ngày và nên trở về rừng chờ đêm xuống. Nhiều toán tuần tiểu VM dọc theo sông nhưng người của các ông ở bên kia. Tôi sẽ trở lại với gạo và chỉ đường."

Y có đáng tin ko? Lính Thái ko biết: VM thưởng nhiều tiền (pay high premium) cho ai bắt được lính Pháp đi lạc (straggler), đặc biệt là vũ khí và máy truyền tin của họ. Giải thưởng vì giúp VM bắt được đám lính này có thể làm cho anh thổ dân này giàu có suốt đời. Nhưng Peyrol và đám lính quá yếu mệt để lo sợ.

Khi đêm xuống, người này trở lại với một rổ đầy nếp chín, thức ăn tiêu chuẩn của dân miền núi. Đám lính ăn ngấu nghiến nếp, uống nước bùn của sông. Tuy nhiên, người này lại nói Peyrol ko nên vượt sông đêm nay.

"Người Pháp ko còn ở gần sông và VM cũng tuần tiểu bên kia sông. Nhưng ngày mai tôi sẽ chỉ nơi để vượt qua. Tôi sẽ tìm bè. Các ông ko thể vượt sông vì nước chảy siết."

Đám lính gần như khóc vì thất vọng: họ quá gần nơi an toàn nhưng lại ko thể đạt tới. Nhưng họ ko có chọn lựa. Một lần nữa họ ngủ trên đất rừng lạnh và ẩm. Ngày kế, một máy bay L-19 bay lòng vòng trên sông. Peyrol và lính đi ra chỗ trống, la lên và vẩy cờ Pháp lấy từ đồn Mường-Chen. Máy bay xuống thấp, thả một cái hộp có hàng chữ: "Đã thấy bạn. Cất cờ đi và ẩn trốn. Sẽ báo quân bạn ở đối diện bạn. Chúc may mắn."

Tối hôm đó, Peyrol và lính đã vượt sông trên các bè tạm làm từ lều của dân mà họ thấy gần bờ sông, nhờ ở người thổ dân tốt bụng này. 

Bóng đêm đổ xuống rừng gần điểm mà họ tấp vào bờ sông. Họ đã nghe giọng nói Pháp quen thuộc; đó là một toán tiếp cứu từ đồn Mường-Bu gần đó - được báo động bởi L-19. Peyrol và lính ngả gục xuống đất, khóc như trẻ con, ko thể bước đi. Họ được xem như đã chết bởi mọi người và Bigeard đã yêu cầu truy thăng cho họ vì đã chiến đấu anh dũng khi đoạn hậu ở Mường Chen. 

Trong 84 người bảo vệ Mương Chen, chỉ có 16 tới được sông Đà. Và Trung sĩ nhứt Peyrol vẫn còn giữ chai champagne." 


Dịch từ: Street without Joy của Bernard Fall, trang 63 - 76. 

San Jose ngày 14 Oct 2020.

Tài Trần