Sunday, October 27, 2019

Nguyễn Văn Việt – Pháo thủ 46 kể chuyện cũ…
Posted on October 23, 2019 by dongsongcu
PTTĐ46PB Nguyễn Văn Việt
huy-hieu-tieu-doan-46-phao-binh

Tôi nhớ ngày 17/4/75 tôi đến Trảng Bom (Biên Hòa) thay Đại úy Đặng Văn Hùng nhận chức sỉ quan liên lạc Chiến đoàn 318 XK, là một trong ba đơn vị xung kích thuộc LLXKQĐ3-LĐ3KB do Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi làm Tư Lệnh.

Chiến đoàn trưởng là Trung Tá Nguyễn Đức Dương, ông đã thay người tiền nhiệm là Trung Tá Phan Văn Sỹ lúc nào tôi không được biết, còn Trưởng Ban 3 vẩn là người “quen”, Đại úy Nguyễn Tẩn. Tôi đã “đi” với Chiến đoàn này nhiều lần rồi kể từ sau mùa hè đỏ lửa 72 khi Thiết đoàn 18KB trở về Quân Khu 3 từ chiền trường Quân Khu 1, vì vậy dù phải làm việc với ông Chiến đòan trưởng mới, tôi vẩn cảm thấy being at home như mình là lính thiết giáp vừa hết phép trở về đơn vị.


Tôi có môt kỹ niệm thật “đẹp” với Trung Tá “Thái Tử” Phan Văn Sỹ muốn nhắc lại vì nó đã từng làm cho tôi “mừng hết lớn”.

Đó là vào một ngày của tháng tư năm 74, tôi được “hân hạnh” theo Chiến đoàn “rền tiếng xích sắc thét vang” trực chỉ Gò Dầu Hạ , rẻ trái qua cầu nổi do công binh “ta” vừa bắt xong, tiến thẳng qua bên kia tỉnh Khet Svay Rieng rồi bẻ góc về hướng Nam. Nhiệm vụ của Chiến đoàn 318 là cùng các Chiền đòan 315, 322 giải tỏa áp lực địch đang đè nặng lên tiểu đoàn 83 BĐQ ở căn cứ Đức Huệ.

Đoàn xe tăng lăn xích ào ào đi trong đêm, qua những cánh đồng khô ráo và trống trải không có một sự ngăn cản nào của quân địch, thỉnh thoảng Thái Tử hỏi Đại úy Tẩn và tôi điểm đứng, so sánh 2 tọa tôi thấy ông gật đầu “happy” tin tưởng.

Khoảng 6 giờ sáng thì địch phát hiện “họ” pháo 3 hay 4 quả gì đó vào đội hình đang tiến quân của chúng tôi. Xác định mục tiêu thật nhanh (vì trước đó ít phút tôi được Thái Tử hỏi “tới đâu rồi?”).

Tôi đề nghị dùng đạn nổ thay vì khói để có yếu tố bất ngờ.Thái Tử đồng ý, lúc gửi điện văn tác xạ tôi hơi “teo” vì từ lúc vượt tuyến xuất phát cho đến giờ tôi không có liên lạc gì với pháo đội, giờ này cần mà bên kia im re là “chết”.

Nhưng, đầu “mai” bên kia có người …nghe!

-Địch tập trung tọa độ …pháo đội một tràng “non nước” báo cáo khi sẳn sàng.

Các pháo thủ 46 và 61 thật “tuyệt” vì chỉ vài ba phút chuẩn bị là.

-Đạn đi!

Tiếng đạn xé gió bay đi và nổ ầm, ầm đúng vào mục tiêu, có nhiều tiếng nổ phụ nửa. Là mai mắn thôi! Vậy mà trong lúc bắn hiệu quả Thái Tử lại tặng tôi một gói quà giá trị nghe thiệt “sướng nhĩ”

-Lần này mày được cái nhành dương liểu.

Sau những tràng hiệu quả tôi chuyển xạ ra xa, Tiểu đoàn 36 BĐQ (TĐT là Thiếu tá Giai) với hỏa lực hùng hậu của thiết giáp đồng loạt xung phong và tràn ngập mục tiêu, bắt sống vài chục VC tịch thu được nhiều súng đạn có cả đại bác 4 nòng, chúng tôi “đụng” với một đơn vị pháo thuộc Công trường 5 VC. Chiến lợi phẩm được gom lại một chổ. Tôi “hân hoan” đứng cạnh Thái Tử, Trí Dũng (Trưởng ban 3) cùng nhiều SQ và Binh sỉ Mủ Đen, Mũ Nâu khác chụp vài tấm hình trước đống chiến lơị phẩm ngổn ngang này.

Bên cạnh súng, đạn phe ta còn tịch thu được nhiều lúa của VC nửa, xe M-548 chở lúa về Gò Dầu 2, 3 ngày gì đó mới xong. Ngoài cái nhành dương liểu “hàm thụ” (Thật ra là Thái tử cho tôi thật, nhưng vì một lý do “tế nhị” tôi đã không nhận được cái mề đai nầy) Tôi còn được Thái tử lì xì ba chục ngàn đồng gọi là để “uống lade chơi” khi Chiến đoàn về đóng quân cạnh nhà máy xay lúa bên này phần đất VN.

Cũng ở nơi này tôi missed một cái trip “du lịch” Nam Vang, bây giờ nhớ lại còn hơi tiêng tiếc…

Chuyện là: một ngày đẹp trời, một chiếc trực thăng được biệt phái cho Thái Tử xử dụng, ông phi công ham vui đề nghị đi Nam Vang chơi, Thái Tử said “‎yes” vậy là con chuồn chuồn lạch xạch hướng về Thủ Đô xứ Chùa Tháp …on board, ngoài Phi hành đoàn ra có Thái Tử, Trí Dủng, vài SQ Kỵ Binh nửa mà tôi không nhớ tên và tôi, cũng “ké” được một chổ ngồi trên đó nửa hì hì! Tôi vui quá trời, tưởng tượng lung tung, nhưng mà chừng năm hay mười phút bay gì đó thôi, máy vô tuyến điện cho biết có “mặt giời” tới thăm. Con chuồn chuồn vòng trở lại rồi landing xuống nhà máy xay lúa …thiệt là “buồn vào hồn không tên”!

***

Đến tháng 6/74 Ở An Điền (Bến Cát) trong khi Công binh “ta” còn đang bắt cầu nổi, bờ bên này sông Thị Tính tôi là một trong số vài quân nhân trực thuộc LLXKQĐ3-LĐ3KB “thấy” bằng mắt, 2 chiếc T54 lù lù hướng về Bến Cát, từ lúc nó xuất hiện trên đồi cho dến lúc nó lăn kềnh xuống ruộng lúa. Hai chiếc T54 này nhiều người nhắc đến, nhưng trong Thép và Máu trang 423 Đại tá Hà Mai Việt viết là gần với sự thật nhất “ …Tướng Khôi chỉ huy LLXKQD3-LD3KB đánh bại sư đoàn 9 CS ở An điền – Bến cát, yểm trợ sư đoàn 5 BB tái chiếm căn cứ 81 và căn cứ Rạch bắp vào tháng 7 /74. Trong thời gian này, 1 chiến xa M48 của thiết đoàn 22CX đã bắn lật chiến xa T54CS ở An điền- Bến cát. Một đơn vị BB của sư đoàn 18 BB đã tịch thu chiếc chiến xa này”


Sự thật thì 2 chiếc T54 này rơi xuống ruộng không do M48 bắn lật, mà do “hỏa lực” của một đơn vị cũng thuộc quyền chỉ huy của Tướng Khôi loại khỏi vòng chiến.

Tại đây, Chiến Đòan Trưởng 315XK Đại Tá Dư Ngọc Thanh bị thương hỏng một mắt, còn TĐ46PB một SQLL hy sinh đó là Thiếu Úy Đổ Do.

Đại Úy Trần Văn Làm Chi Đoàn Trưởng 2/18KB cũng hy sinh sau đó ở mặt trận này.

Thời gian này, tôi chờ đợi để được “bốc” ra khỏi An Điền vì “Niên trưởng” Nguyễn Văn Khương (nạn nhân của một cuộc tảo hôn…) đã “hứa” cho đi Nhatrang học khóa Quan sát viên phi cơ, nhưng vào giờ chót Đại Bàng cho biết “Toa quen nước quen cái ở trong đó rồi, thôi ráng ở với 318 cho đến khi xong nhiệm vụ, toa sẽ đi khóa sau”

Và tôi đã “ở” với “Thái Tử” cho đến khi bàn giao vùng trách nhiệm lại cho một đơn vị của Sư Đoàn 5BB.

***

Trở lại với những ngày cuối của tháng 4/75 ở mằt trận Dầu giây Trảng Bom

Chiều ngày 17/4 VC tấn công mạnh vào vị trí của một chi đoàn thuộc Chiến Đoàn 318XK, Thiếu úy Thành SQ tiền sát (TĐ46PB) xin tác xạ thật gần (150m), địch bị đẩy lui nhưng Thành bị thương nặng ở mắt, tôi có gặp Thành nằm trên băng ca trong rừng cao su trước khi được tản thương. Anh rất tỉnh táo không chút buồn bả hay sợ hải nào, dù một con mắt đã bị hư.

Chiều ngày 18/4 tôi còn nhớ Thiết giáp báo là có tiếp nhận một Đại Tá Pháo Binh thuộc Quân đoàn 2 về được tới ngả ba Dầu Giây. Tôi không biết tên vị Đại Tá PB này.

Sau ngày Tổng thống Thiệu từ chức, Trung Tá Trần Duy Lượng (Tiểu đoàn trưởng TĐ46PB) có đến thăm tôi ở BCHCh.Đ318XK, và ông muốn tôi cùng đi với ông thăm các đơn vị pháo thuộc TĐ46PB đóng quanh quẩn trong các vườn cao su ở Trảng Bom. Trên đường đưa tôi trở lại Ch.Đoàn ông buồn hiu chúc tôi mai mắn. Đó là lần sau cùng tôi gặp Trung Tá Lượng. Mới đây qua Đại úy Hùng tôi biết Trung Tá đã mất vì bệnh ở Bidong hồi năm 88 hay 89 gì đó rồi.

***

Ngày 25/4 Sư đoàn 18BB lên thay. Là đơn vị cơ giới nên theo dự trù toàn bộ LĐ3KB sẽ về Long Bình nghỉ ngơi, để xe pháo được sửa chửa, bảo trì. Rời Trảng Bom về đến Long Bình thì trời đã tối lòng thấy vui vui vì sẽ có một hoặc hai ngày phè phởn.


Nhưng lệnh là không được vào cổng mà phải giử yên vị trí chờ lệnh mới. Không lâu lắm, tiếng Alpha 5 (Tướng Khôi) ban lệnh (bạch văn):

-Nhà của Đại Tá Tám cháy, các anh qua bên đó chửa lửa (nguyên văn).

Đại úy Tẩn “dịch” ra cho tôi hiểu là trường thiết giáp đang bị VC tấn công (Đại tá Huỳnh Văn Tám là chỉ huy trưởng trường)

Đoàn tăng ầm ầm tiến về ngã ba Long Bình, rẻ trái ở QL15 hướng về Long thành đến dốc 47 thì chiếm đóng vị trí và qua đêm ở đây.

Sáng ngày 26/4 tin tức hết sức phấn khởi từ Chiến đoàn 322 đang tiến về trường Thiết Giáp hạ được nhiều T54 gây tổn thất nặng cho VC.

Long Thành đã bị VC chiếm, Trung Tá Dương muốn tôi tiêu hủy các khu rừng cao su dẩn về Long thành vì VC tập trung quân đông đảo ở những nơi này, dĩ nhiên là tôi chấp hành lệnh của Trung Tá Dương, các pháo thủ 46 và 61 hết sức tích cực thỏa mản 100% yêu cầu của tôi. Liên lạc với phi cơ quan sát tôi được viên phi công cho biết như thế này:

-Pháo binh của bạn bắn rất là chính xác, nhưng tụi nó đông lắm bạn ơi!

Gần trưa, một chiếc phản lực bay qua đầu chúng tôi (ở dốc 47) rồi nhào xuống thả một trái bom, rơi trúng phía bên kia đường cách BCH Ch.Đoàn chừng 200m gây thương vong cho dân đang đông đảo di tản từ Long Thành hướng về Saigòn.

Các đêm 26,27,28/4, Chiến đoàn 318XK vì là thành phần trừ bị cho LĐ3KB nên đóng quân ở trước trại Nguyễn Tuấn, là Bộ Tư Lệnh LĐ3KB nơi đây có 1 Pháo đội 105 ly của TĐ61PB chỉ huy bởi Trung Úy Thân, vì ở cạnh bên nên tôi có sang thức binh sập sám chờ sáng.

Trong các ngày 27, 28/4 chiến đoàn di chuyển liên tục từ Long Bình đến Hố Nai, Suối Đĩa, để yểm trợ cho các đơn vị bạn đang tiếp địch ở đây. Dân chúng thưa thớt, nhà thì cửa đóng im lìm, có khá nhiều người tỵ nạn ở nhà thờ Hố Nai.

Ngày 28/4 tôi về Trung tâm phối hợp hỏa lực cạnh Bộ Tư Lệnh LĐ3KB, nhận tiền của “Kỹ thương ngân hàng” tặng cho toán SQLL chúng tôi; gồm 3 phong bì mổi cái có 40,000 đồng, một tờ giấy nhỏ với dòng chử in rất đẹp “Toàn dân ngưởng mộ chiến sĩ anh hùng…” còn gì gì nửa? tôi quên rồi, chỉ nhớ được như thế thôi!

Chiều ngày 29/4 Chiến đoàn di chuyển về giữ an ninh mặt Tây TP Biên Hòa , BCH thì qua bên kia sông Đồng Nai đóng trong một sân banh dưới chân Núi Châu Thới không xa Cầu Hang lắm.

Cách nơi đóng quân của Chiến đoàn chừng 400m, VC có trang bị đại bác không giật, đóng chốt trong những hầm hố được đào sâu dưới một bờ tre. Ta và địch “án binh bất động” chưa ai chịu “đi tiền” trước cả.

Khoảng 4 giờ chiều, một đoàn xe đông đảo, đa số thuộc tiểu khu Biên Hoà di chuyển nhanh về hướng Sài Gòn. Khi chạy ngang qua đây VC khai quả. Những chiếc đi đầu thoát nạn chạy luôn, 1,2 chiêc bị trúng đạn rơi xuống ruộng, một số bỏ xe chạy trở lại phía sau, có nhiều quân nhân vào “tá túc” với Chiến đoàn 318KB trong số này có Đại úy Huỳnh Văn Huỳnh trước là Pháo đội trưởng Pháo Đội C/46PB bây giờ thì thuộc TĐ61PB.

Tôi xin pháo tác xạ vào mục tiêu, rồi thì thiết giáp và 1 Trung Đội thuộc TĐ2 PB phòng không (vừa di chuyển đến đây cùng tình nguyện tham chiến) dàn hàng ngang xối xả yểm trợ cho các Binh sĩ thuộc Tiểu đoàn 92 BĐQ xung phong lục xoát, cái chốt được nhổ dể dàng, con đường được thông, đoàn xe lại tiếp tục “đường trường xa”. Đại úy Huỳnh hớn hở vẩy tay, chào tôi một lần cuối…rồi cho đến nay không biết tin gì của Đại úy cả. Đại bàng ơi! Có còn mạnh khỏe lên “mai” nói chuyện với đàn em cho dzui!

Và đó cũng là lần tác xạ sau cùng trong đời pháo thủ của tôi.

***

Đêm 29/4 súng nổ rền khắp mọi nơi, VC pháo kích ào ạt và liên tục suốt cả đêm vào phi trường Biên Hòa, khói lửa mịt mù. Trực thăng lạch xạch vần vủ dầy đặt trên trời Biên Hòa như đàn ong vở tổ.

Ngồi trên mui chiếc xe tăng M577 tôi nghe đài phát thanh Sài Gòn. Tổng trưởng thông tin Lỳ Quí‎ Chung phỏng vấn ông Huỳnh Tấn Mẩm: nghe vậy thôi chứ không biết họ nói chuyện gì?

Rà qua đài VC tôi nghe họ chỉ dẩn binh sĩ “Ngụy” chúng tôi cách thức đầu hàng: Nếu là thiết giáp thì súng phải quay lên trời khi đến gặp Vixi vv…tôi nghe họ ba hoa nghĩ là họ kể chuyện Phong Thần làm gì có?! Hơn nửa là hồi chiều này, Trung Tá Dương có cho biết là lệnh từ một vị Tướng ở Tổng Tham Mưu là “các em cố gắng giử những gì còn lại, ngày mai có giải pháp chính trị” tôi hiểu “giải pháp chính trị” là huề vốn, là “anh em ta cùng mẹ cha” là” cái nhà là nhà của ta, ông cố ông sơ lập ra…” ai mà ngờ mình có người “anh em” gian tà hết chổ nói!

***

Sáng sớm ngày 30/4 Trung Tá Dương đi họp về phổ biến lệnh HQ là LĐ3KB sẽ di chuyển vế Sài Gòn. Chiến đoàn 318KB giử nguyên vị trí, an ninh cho các Chiến đoàn 315, 322, BCH LĐ3KB thứ tự lần lượt rời Biên Hòa. Khi BCH Lử đoàn đến là chúng tôi nối đuôi và nhập ngay vào dòng xe đang chầm chậm chảy một chiều xuôi vế Thủ Đô thân yêu.


Trời đất ngày hôm đó sao mà ảm đạm, thê lương lạ thường! Trên xa lộ Đại Hàn (con đường chúng tôi đi) chỉ lính với lính, đông vô số kể, đa số mặc quần áo “rằn ri” súng trên vai, di chuyển trong lặng lẻ, kỷ luật và trật tự. Tôi không biết tên đơn vị của những chiến binh này?

Qua khỏi Thủ Đức một chút, có vài người lính Nhảy Dù chạy ngược chiểu hai tay dơ lên đầu. Một anh lính Thiết giáp nào đó giãi nghĩa “như vậy là mình đầu hàng rồi”.

Quả là y như thế! mở radio chúng tôi nghe Tổng Thống Dương Văn Minh kêu gọi QLVNCH “buông súng đầu hàng vô điều kiện” Vixi. Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh nhân danh phụ tá Tổng Tham Mưu Trưởng Trung tướng Vỉnh Lộc ra lệnh chúng tôi phải “nghiêm chỉnh chấp hành lệnh của Tổng Thống”…Và Thủ Tướng Vủ Văn Mẫu, ông kêu gọi các tầng lớp đồng bào “hảy vui vẻ chào mừng ngày hòa bình của dân tộc”

Thế là ò e cây me đánh đu…

Tôi “ru” tôi ngũ “cũng ô kê thôi mà! Người “anh em bên kia” lucky “đại thắng mùa xuân” thì họ được tiếp tục đội nón cối, mang dép râu, áo bỏ ngoài thùng nhảy lên bàn giấy ngồi chồm hổm làm việc…cộng. Còn mình thua thì về quê “tìm tuổi thơ mất năm nao?”. Nhưng thượng sách có lẻ là qua Vỉnh Long hay xuống Cà Mau gì đó cưới “dợ” (con gái của 2 xứ này có tiếng dịu dàng, hiền lành, đảm đang hơn là gái Sađéc’s Fashion!) tôi sẽ mua trứng gà, vịt về ấp thành gà vịt thiệt, tháng lại ngày qua gà vịt sẽ trở thành heo, bò rồi nhà double storey, xe Toyota RAV4 mấy hồi ?!!!

Hơn nữa cụ Nguyễn Khuyến đã dạy rồi:

“Được, thua, hơn, kém lưng bầu rượu.

Hay, dở, khen, chê một trận cười”.

Cụ means cả hai sêm sêm như nhau đó mà!

Ối! vậy thì đâu có gì để ưu tư, phiền muộn!?

Đang mơ màng với giấc mơ gà, vịt, xe bổng dừng lại. Chúng tôi đã về đến cầu Bỉnh Triệu.

Nhảy xuống xe hối hả bước, chúng tôi đi qua vài cây số dầy đặc những xe, pháo, được xếp hàng thật khít khao, đã bị bỏ rơi chỉ một thời gian ngắn trước đây thôi! Có mấy con gà cồ 155ly nửa, chắc là gà của tiệm phở 46? Tôi có vổ nhẹ vào nòng thay lời “hôm nay đây còn dui trông thấy nhau!”

Qua cầu Kinh nhìn lên đài quan sát Pháo Binh OP10 cao sừng sửng trong kho xăng, hồi năm 72 tôi có một tháng nhờ “kế hoạch khói” ở đây, “né” được cái nóng héo người của mùa hè đỏ lửa. Một kỹ niệm “an toàn trong thành phố” của tôi!

Khỏi cầu Kinh chừng vài trăm thước, một người trong bọn (Đại úy Tẩn?) được một bà cụ nắm tay dắt đi nói “Các con vào đây thay đồ, để tụi nó giết các con à!”

Bà đưa chúng tôi đến nơi có một đống quần áo civil củ, trước một ngôi nhà có lẻ là nhà của bà? Và chúng tôi đã giã từ những chiếc áo lính “thân thương” ở đây. Hích! hích! “Thôi rồi còn chi đâu …có còn lại chăng dư âm thôi ?” hích! hích! hích!

Sau khi “Cởi chiến bào giả dạng những thường dân”, chúng tôi lại tiếp tục rảo bước. Đến gần cầu Sơn gặp mấy chiếc xe tăng đang đậu thẳng góc với con đường binh lính đang ăn cơm, Thiếu úy “Châu Báu” Trần Ngọc Báu (cùng TĐ46PB, đang đi tiền sát cho một chi đoàn thuộc Thiết đoàn 15KB đã đến đây trước) kêu tôi.

-Ê! ghé đây ăn chén cơm đi rồi anh (tên ông chi đoàn trưởng, tôi cũng quen với ông chi đoàn trưởng này nửa, mà bây giờ không thể nào nhớ được tên ông) sẽ đưa mình “dề”. Tôi tấp vào.

Cơm nước xong. Nồi, niêu, chén, dĩa, bàn, ghế được thảy hết vô xe.Tài xế nổ máy kéo cánh cửa sau lên đóng lại. Ông Chi đoàn trưởng ngồi vào ghế chỉ huy của ông. Khẩu đại liên được quay lên trời và che bằng một cái áo cho chắc ăn!

Chiếc xe quay đầu ra đường chờ đợị, sau cùng cũng nhập được vào đoàn Molotova cắm đầy cành lá ngụy trang của VC đang ào ào tràn vào thành phố sắp sửa “mang tên người”.

Chúng tôi vô Sài Gòn bằng ngã cầu Sơn, Hàng Xanh, Thị Nghè, trên cầu Thị Nghè có 2 xác chết của lính BĐQ và vài xác người mặc thường phục. Qua cầu Thị Nghè một đoạn VC họ rẻ trái, xe chúng tôi solo chạy thẳng rồi quẹo trái ở Đường Hồng Thập Tự. Lúc này trên đường có rất nhiều người tay buộc một miếng vải đỏ, cầm súng AK hoặc M16 chạy tới chạy lui bằng đủ các loại phương tiện xe cộ… nổ súng lung tung.

Có nhiều người bị thương hoặc được người khác dìu, hoặc tự mình tay giử chặt vết thương hớt hải trên đường phố.

Xe chúng tôi bị chận lại trên đường Hồng Thập Tự, họ hỏi “nếu có súng ngắn thì giao nạp” chúng tôi lắc đầu. Họ bỏ đi.

Anh tài xế cho xe quẹo phải ở con đường trước cổng vườn Tao Đàn đến đường Phan Đình Phùng. Súng nổ quá xá cở! Thêm vài người bị thương lảo đảo. Anh cho xe leo lên lề tắt máy, nhảy ra khỏi xe.

Chúng tôi cũng nhanh chóng rời “chiến xa” tan hàng, không ai nói được một lời chia tay, hay hẹn ngày tái ngộ gì với nhau cả. (Châu Báu và những Kỵ Binh năm xưa ơi! Cho tôi gửi một lời chào).

Tôi và Báu hướng về đường Nguyễn Thiện Thuật qua đường Cộng Hòa để về nhà.Trên đường chúng tôi bị mấy vị anh hùng đeo băng đỏ chận lại. Chỉ chỏ vào quần kaki đang mặc; nạc nộ, chưởi bới. Thái độ rất hung hăng.Tôi hoang mang chờ đợi những viên đạn, nhưng rồi họ cũng bỏ đi.

Báu đi thẳng về hướng chợ Nancy còn tôi rẻ trái vô đường Vỏ Tánh. Đầu xóm có một VC mặc áo đen, quần đùi đi chân đất, hai vai đeo hai dây đạn , tay cầm súng AK đang đứng gác, xa xa những người hàng xóm của tôi từng nhóm năm, ba ngơ ngác nhìn. Tôi về đến nhà khoảng 3 hay 4 giờ chiều rồi.

***

Sau cùng tôi muốn nhắc đến một người bạn cùng TĐ46PB. Trung úy Nguyễn Văn Thảo anh là Trung Đội Trưởng Trung Đội 3C/46PB sáng ngày 30/4/75 tại đồn Thái Văn Minh ( Bà Hom) sau những tác xạ ngăn chận địch. Đạn đã hết anh cho binh sĩ dưới quyền rời căn cứ, một mình ở lại phá hủy đại bác rồi tự sát. Tôi biết được cái chết thật “Nguyễn Văn Đương”… của anh qua lời kể đầy hảnh diện của Đại úy Hùng. Xin được “report” cái chết của anh đến với đại gia đình Pháo Thủ và cũng là một nén hương lòng của tôi tưởng nhớ đến anh.

***

“Trải qua một cuộc bể dâu…” với những… “mặn, ngọt, chua, cay đầy đủ cả ” Người Pháo thủ trẻ ham vui ngày nào, giờ tuổi “thọ” cũng được sắp sỉ 60 “niên”, nhìn lại đoạn trường đã đi qua, rất thành thật là thời gian được làm Pháo thủ 46 là “ngọt”, là “tuyệt vời” nhất của tôi. Tôi “thấy” mình là một người “mai mắn” vì đã có một thời “hạnh phúc” như thế!?

Vì muốn quyển kỹ yếu Pháo Binh được ra đời và để góp phần. Tôi nhớ và ghi lại những kỹ niệm “chưa quên” của mình như trên …

Xin được thông cảm bỏ qua cho, nếu những tiếng “nổ” gây ưu phiền, khó chịu cho quí vị.

Nguồn: http://phaobinhvnch.com/phaothukechuyenxua.htm

Friday, October 25, 2019

TRƯỚC 54, QUÂN ĐỘI PHÁP CÓ LẼ ĐÃ TRÚ ĐÓNG Ở  TIỀN ĐỒN 3, 4, VÀ 5 -- TRÊN TỈNH LỘ TỪ KONTUM ĐI QUẢNG NGẢI.

Bản đồ sau đây về vùng đông bắc của tỉnh lỵ Kontum, có làng Kon-Sơm-Luh, nơi xảy ra trận đánh lớn, sau HĐ Paris 1973, được nhắc đến trong các bài viết của Vương Mộng Long, Vũ đình Hiếu, Phạm Tín An Ninh, v.v...

ND495MAP.gif (2815×2054)

Một bản đồ cũng về vùng đông bắc Kontum: ND495MAP2insert.gif (1493×1106) 

Một bản đồ vẽ từ thời Pháp: New Page 1


Lời nói đầu: Trong thời gian qua, chúng ta đã nghe các bài về Tiền đồn 4 và 5 của Phạm Tín Anh Ninh hay 13 người cuối cùng trở về từ tiền đồn 3 và 4 Kontum của Mai Bá Tòng. 
Nhờ có đam mê về khảo cổ, trong lúc lang thang trên mạng, tôi đã tìm thấy bài của một người Pháp kể lại về hai đợt phục vụ (gần 5 năm) của người chú của y tên Maurice Millour tại Đông Dương. Chú của tác giả cũng từng hành quân trong khu vực mà sau này các đơn vị của sđ 23 bộ binh VNCH đã hành quân trong giai đoạn từ 1973-75. Đọc để thấy dân Pháp có tinh thần HOÀI CỔ (nostalgie) vì dù cha chú họ đã chết trong chiến tranh Đông Dương lần thứ 1,1946-1954, nhưng con cháu vẫn ghi nhớ sự hy sinh của cha chú của họ.
===

HOẠT ĐỘNG CỦA TIỂU ĐOÀN 4 BMEO TẠI KHU VỰC GIA VỰC TỪ 1948-51

Các cuộc hành quân liên quan đến thung lũng Gia Vực do Tiểu Đoàn 4 Khinh Chiến Viễn Đông viết tắt là B.M.E.O (Batallion de March Extreme-Orient), thực hiện trong thời gian 1949-51.

" 1/ Trong kỳ phục vụ đầu (37 tháng, từ 1948-1951) tại Đông Dương, chú tôi đã ở đại đội 1 thuộc Tiểu Đoàn 3 Khinh chiến Viễn Đông hay Tiểu đoàn 3 B.M.E.O và kế đó là đại đội 16 của Tiểu Đoàn 4 BMEO tại tiền đồn Kon Plong ở cao nguyên trung phần; đồn này khoảng 100 km đông bắc của Kontum, nằm trên một vị trí cao gần con đường đất từ Kontum dẫn tới Gia Vực, quận Ba Tơ Quảng Ngải, và cuối cùng là bờ biển miền trung (sau 1954 con đường này gọi là Liên Tỉnh Lộ 58) - xem bản đồ 1-3. 

                                       
Bản đồ 1 (đã được phóng đại) và bản đồ 2 (dưới đây) về con đường từ Kon Tum đi Gia Vực, Ba Tơ và Quảng Ngải - của hội National Geographic mà tôi là hội viên. 


                                                             
Bản đồ 3, chi tiết hơn, do Rene Riesen vẽ. 

Đồn Kon Plong được bao quanh bởi nhiều núi rừng và được xây trên một đồi nhỏ trong một thung lũng lớn trong đó có một làng Thượng. Đồn làm hoàn toàn bằng những khúc gỗ (log), trừ 2 căn nhà gạch và vài căn lợp tôn. Nhà chánh dài 25 m, cao và rộng khoảng 5-6 mét với một đầu là bịnh xá và đầu kia là phòng truyền tin. Phần dễ bị tấn công nhứt là phần đối diện với đồng cỏ và bảo vệ bởi một bức tường làm bằng các khúc gỗ (log) xen kẻ với lổ châu mai (fire port). Hàng rào phòng thủ cũng bằng những khúc gỗ: đó là hai hàng cây gỗ song song cách nhau từ 6-7 tấc, giữa là đất và đá cuội (pebble), gia cố bởi tre chẻ (split bamboo set) cột các khúc gỗ với nhau để hạn chế soi mòn bởi mưa. Việc xây dựng này ko dùng tới một cây đinh và giữ vững nhờ mây bện (braided rattan). Trong mùa mưa, nước đã sói mòn hàng rào, tạo nên các lổ nên phải sửa liên tục".
                                          
2/ Tiểu Đoàn 4 BMEO gồm một đại đội chỉ huy và bốn đại đội chiến đấu (các đ.đ.13-16) tổng cộng khoảng 1.000 người cộng thêm một đ.đ. huấn luyện, đó là đ.đ. 17.
Mỗi đ.đ. chiến đấu có khoảng 173 người chia thành bốn trung đội (platoon) với ba tiểu đội (squad) cho mỗi trung đội. Mỗi đ.đ. có hai sĩ quan (sq) Pháp, khoảng 15 hạ sq Pháp hay dân bản xứ và mười hạ sĩ (corporal) hay binh nhứt (private first class/PFC) hay binh nhì (private) Pháp. Lính Thượng có mặt trong cả 5 đ.đ: đ.đ.14 và 16 có dân Sê-đăng, đ.đ. 15 có dân Gia-rai và đ.đ. chỉ huy và 13 có cả hai sắc dân này.
Đ.đ.16 trang bị một đại liên FM 1924.29, xem hình, một cối 120 ly tại đồn Kon Plong, một cối 50 ly khi hành quân bên ngoài, và vài phóng lựu. Hạ sq trang bị tiểu liên MAS 38 hay Sten và phần lớn binh sĩ trang bị súng cũ của Canada thời đệ 2 thế chiến.

Lính Dù thuộc TĐ 1 Dù Lê-dương của Pháp bắn súng FM 24/29 trong 1 trận phục kích của VM năm 1952.


3/ NĂM 1949.
Đầu năm 1949, thiếu úy Jacques Pierre tới khu chiến thuật Ban Mê Thuột và tháng 2 chỉ huy đồn Kon Plong với quân số ko đầy đủ.
Ngày 25/5, thiếu uý rời đồn với một trung đội cộng (còn gọi là trung đội tăng cường, với quân số hơn một trung đội) khoảng 50 người, trong đó có 7 người Âu. Trong hai ngày, toán quân nhỏ này đã tới thung lũng sông Re, đi qua đồn Viklum và Violac, sau đó đi theo bờ phải của sông Re tới Gia Vực. Thiếu úy thấy ấp Gia Vực là căn cứ của một trung tâm tiếp tế lương thực của VM, mà lính VM khoảng 1 trung đội đã bỏ chạy khi đơn vị của ông tới. Sau khi đốt cháy kho lương này, đơn vị của thiếu úy trở về đồn Kon Plong qua những đoạn đôi khi rất dốc (via sometimes very steep paths): một đoạn chưa tới 10 km phải đi hơn 8 giờ. Cuộc hành quân này là một trong những lần thám sát đầu tiên của QĐ Pháp tại thung lũng sông Rê - lúc đó còn do VM kiểm soát.
Ngày 14/10, một đv thám sát gửi tới thung lũng này 3 ngày trước đó đã trở về đồn Kon Plong. Họ bị phục kích hai lần, phía bắc Gia Vực và đông của Kon Plong, với 1 chết và 2 bị thương. Trong hai lần phục kích này, binh nhứt Bellei, một y tá của đồn, vài lần đã xông vào lửa đạn địch để cứu kẻ bị thương. Cho hành động quả cảm này, y được 3 giấy khen cấp trung đoàn và một Croix de Guerre, xem hình, với sao đồng. Hai kẻ bị thương đưa về bv Pleiku hôm sau.

Croix de Guerre cho chiến công trên lãnh thổ Pháp
                                       
Croix de Guerre cho chiến công trên lãnh thổ hải ngoại thuộc Pháp (territoires outre-mère/TOM). 

4/ NĂM 1950
Tháng 2/1950, dân Thượng gốc Hre từng bị cưỡng bách tham gia Quân đội nhân dân của VM đã nổi dậy. Sau khi giết các cán bộ và chính ủy (cadre and commissar) của VM, họ kéo tới các đồn Pháp để xin bảo vệ. Thiếu úy Pierre nhanh chóng chụp cơ hội bằng vàng này (realize the potential of that situation) đã hỗ trợ cuộc nổi dậy. Ông cũng tổ chức đưa những ai tình nguyện vào một đơn vị bán quân sự toàn dân Hre dưới tên "Hre Hành Động" (Action Hre).
Ngày 7/4, cuộc Hành Quân "Adrien" được tung ra để hỗ trợ cuộc nổi dậy này và đẩy lui quân VM từ thung lũng sông Re tới bình nguyên ven biển của tỉnh Quảng Ngải. Một "Chiến Đoàn" (groupe mobile) tân lập khoảng 600 người với những thành phần của Tiểu Đoàn 2 Dù của lực lượng Viễn Chinh Pháp (2e BEP), Tiểu Đoàn 1 Dù thuộc địa* (1e BPC) và trung đoàn 2 bộ binh Viễn Chinh Pháp (2 ème REI) cộng với một đơn vị gồm 150 dân binh Hre tân lập và huấn luyện chưa đầy đủ.
Từ 7-13 tháng 4, chiến đoàn chuyển từ Kon Plong tới làng Gilang, đi ngang qua các đồn Vitiong, Viklum, Vipée, Dak Xérong, Monit, rồi vào thung lũng sông Re tới Ta-ma, và cuối cùng là Gilang. Trong giai đoạn này, chỉ có các thành phần tiền phương chạm súng lẻ tẻ với VM.
Từ ngày 14/4, một bãi đáp cho máy bay, các bãi thả dù và một trạm xá dã chiến (a landing zone, drop zones and a field first aid post) được lập ở Gilang. Các hành quân thám sát tại khu vực này gây tổn thất cho Tiểu Đoàn 2 Dù Viễn Chinh và trung đoàn 2 bộ binh Viễn Chinh. Tính tới 22/4, đã phát hiện 5 TĐ Việt minh (4.000 người) trong khu vực và tiến gần Gilang, dẫn tới quyết định bỏ thung lũng sông Re và rút về Kon Plong.
* Sau này có lẽ trở thành TĐ 1 Dù VNCH -- người dịch.

Hình 1: Đường dẫn lên đồn ViMuk, bạn có thể thấy hàng rào hay hào bằng gỗ và đất bảo vệ đồn này.

Hình 2 (của một phụ nữ Pháp có cha phục vụ tại Đông Dương cùng thời điểm): "Cờ của Việt Minh tặng bởi bạn của cha tôi. Cờ này bị tịch thu bởi em của bạn ba tôi khi ông ta chiến đấu tại Đông Dương, nhưng ko may mắn cả hai đã chết và ko có thêm thông tin. Trên cờ có hai dao găm và phù hiệu của lực lượng Dù và GCMA của Quân Đội Pháp".

Một phụ nữ Pháp, con gái của người bên phải trong ảnh trên đây, đã cung cấp ảnh.
                                         

Ba hình dưới chụp tại đồn Kon Plong. Hàng rào hay nhà cửa đều làm bằng những khúc gỗ, cột với nhau bằng mây (braided rattan) hay tre chẻ (split bamboo set), ko dùng đinh; nhưng dễ bị sói mòn bởi mưa.



Các cô gái Hre 


========================================================================= 
Các cuộc HQ liên quan đến thung lũng Gia Vực (tỉnh Quảng Ngải) do Tiểu đoàn 4 Khinh Chiến Viễn Đông (4e BMEO) của Pháp thực hiện, phần 2.
Người dịch: Khoảng thập niên 1960, khi quân Mỹ và VNCH lập trại LLĐB tại thung lung Gia Vực, họ cho biết gần đó có một trại lính hoang phế của VNCH, từng bị VC tấn công vào thời TT Diệm, gần như mọi quân nhân sống sót đều bị giết chết, phụ nữ và trẻ con bị đưa đi vào Trường Sơn.--Theo hồi ký Bên Đồi Trinh Nữ của Thảo Nguyên -- một sĩ quan BĐQ ở trại này. Gần trại LLĐB này có cột chỉ đường ghi "Kontum 25 km", chứng tỏ trước đây có đường lộ từ Gia Vực đi Kontum. 

5/ Cuộc hành quân kế tiếp có tên "Gien" diển ra từ 8-12 tháng 5 cùng năm. Thành phần tham dự là một Chiến Đoàn khác gồm đại đội 15 và 16 của Tiểu Đoàn 4 BMEO, đại đội khinh chiến (Compagnie de Marche) của TĐ 1 Dù Thuộc Địa (BPC) và một toán (section) của trung đội Trường sĩ quan (Officers School). Nhiệm vụ là đẩy lui VM ra khỏi ấp Gia Vực để lập một tiền đồn gần đó và tuyển mộ lính địa phương.
Cuộc hành quân không thành công nhiều vì vùng này ko có bất cứ quân số địch đáng kể (was empty of any significant number of enemies). Cũng ko có đường lộ/đường mòn (road or trail) khiến việc lập một tiền đồn không khả thi (viable) vì quá đơn độc (không có một đồn nào gần đó) và lại không có cơ hội cứu viện kịp thời (rescue in time) bằng đường lộ hay đường mòn.
Tiếp theo cuộc Hành Quân "Adrien", Pháp đã quyết định đưa dân Hre vào một đơn vị quân sự có tổ chức (structured). Dẫn tới việc thành lập vào giữa tháng 6 tại Kon Plong một đơn vị phụ lục quân số 26 (Unité Supplétive Militaire, viết tắt là USM 26) với quân số của một đại đội. Trang bị đầu tiên là hai khẩu FM Bren và một trăm súng trường.
Vào giữa tháng 7/1950, cấu trúc của đại đội này chỉ có 3 Hạ Sĩ Quan Âu châu. Đại đội này sau đó được tăng cường với vũ khí tự động và đổi thành đại đội biệt kích phụ lục quân số 26 (CCS/compagnie de commandos supplétives) - giống như dân sự chiến đấu hay CIDG sau này -- người dịch.
Hạ sĩ Rene Riesen của TĐ 4 BMEO và tác giả của sách "Mission spéciale en forêt Moi" (Nhiệm vụ đặc biệt trong rừng Mọi). Đây là sách DUY NHỨT nói về sự can dự của Pháp với dân thượng Hre, đã dịch sang Anh ngữ (với tựa "Jungle Mission" vào 1957).
R. Riesen nhận trách nhiệm giám sát các người tình nguyện Hre, dạy họ chiến tranh du kích và lập các nhóm tự vệ làng (village self-defence group), còn gọi là militia hay goum. R. Riesen đã sống vài năm với dân Hre, trở thành lãnh chúa (war chief) của họ dưới tên "Ba Tamoi" (ba của Mọi), hay "Ba tchiac gaho tabouac" (ba tóc bạc). Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của Riesen là lập một đơn vị dân binh (partisan) tại làng Kon Pong, khoảng 20 km nam Kon Plong, với mục đích dựng một tiền đồn và lập một lực lượng dân vệ (militia). Việc kiểm soát làng này quả nhiên (indeed) rất quan trọng với đại đội 16 của Tiểu Đoàn 4 BMEO vì đại đội này bảo vệ, về phía bắc, đồn Kon Plong và, về phía tây, đồn nhỏ (redoubt) Kon Braith trên con lộ nối Kontum và Kon Plong.
Vào tháng 6, nhiều công tác sửa đường đã tiến hành ở tiểu khu (sub sector) Kon Plong, hoặc đi về nam tới đồn Kon Braith hay về bắc tới đồn Kon Kléang hay Gia Vực.
Ảnh 1: đồn Kon Plong, ảnh 2: khu vực Kon Plong và lân cận.

                                                

                                           

Ngày 31/12, lực lượng tự vệ "Thanh Niên Hre" tại khu vực Mang Mou/Mang Rha (thung lũng sông Re), võ trang với một FM, ba MG và 150 súng trường, chạy theo VM theo sau sự phản bội của phần lớn lực lượng này.

Đầu tháng Giêng, thông tin xác nhận bởi các toán tuần tiểu cho thấy sự có mặt của 400 Việt Minh chung quang Mang Mou và Mang Rha, và 1.200 người tại thung lũng Gia Vực.
Gaston Mille, chỉ huy của Tiểu Đoàn 4 Sơn Cước (TĐ 4 BMEO) đã quyết định tổ chức Hành Quân "Omer" dưới hình thức một đột kích vào khu vực kể trên của VM nhằm lấy lại tất cả hay một phần số vũ khí đã mất cũng như thu lượm tin tức nhằm có thể tái chiếm làng Mang Mou và Mang Rha. Sau năm ngày hành quân vào thung lũng sông Re, không có chạm súng với địch - đã biến mất và dân địa phương có vẻ không hợp tác và dưới sự kiểm soát của VM.

Lực lượng GCMA hành quân tại Gia Vực, 1951-52.

Vào 1951, Quân Viễn Chinh Pháp tại Viễn Đông (Corps Expéditionaire Francaise en Extrême-Orient hay CEFEO) đã có những đơn vị chống du kích trong tay nhờ vị tân tổng TL, tướng de Lattre de Tassigny. Những đv chống du kích tân lập này là "Đoàn Biệt Kích Hổn Hợp Không vận" (Groupement de Commandos Mixtes Aéroportés hay GCMA) và những Biệt Kích của Miền bắc (Commandos Nord Vietnam) cả hai dùng những lượng bán quân sự người bản xứ được huấn luyện tại địa phương (using paramilitary locally raised indigenous forces) và thường hoạt động sau lưng VM.
"Hre Hành Động" được thành lập năm trước bởi thiếu úy Pierre từ đồn Kon Plong được GCMA chuyển qua đại úy Hentic sau khi được giao nhiệm vụ tái tổ chức thành đơn vị quân sự chiến đấu cho GCMA.
Vào mùa thu 1951, đại úy Hentic với 2 hay 3 cán bộ Pháp và một lực lượng Hre 150-200 người, đã tiến hành nhiều đột kích sâu vào lãnh thổ kiểm soát bởi VM. Những đột kích kéo dài từ ba tuần tới sáu tuần đã tới những nơi như Vidzen, Vibliang, và Gilang và tập họp/qui tụ nhiều lính và dân suốt phần dưới của thung lũng sông Re.

Năm 1952

Ngày 26/4/1952, đại úy Hentic với chưa tới ba trăm lính Hre đã rời Gia Vực và vượt sông Re vào ngày 27 và tấn công Ba Tơ vào buổi sáng của ngày 2/5. Họ đã phá hủy những doanh trại và kho đạn VM cũng như BCH của trung đoàn 108 VM.
Và họ đã biến mất trong rừng trước khi VM có thể phản ứng.
Vào mùa đông 1952 với một trung đội biệt kích VN và một trung đội Hre (tất cả khoảng 100 người), đại úy Hentic đã thực hiện một cuộc thám sát sâu trong hai tháng đi ngang Dakto vào đất Lào hướng tới Attopeu. Trên đường đi, họ đã phá hủy các căn cứ VM và đặt mìn trên những đường mòn của VM. Trong nhiệm vụ trinh sát này, họ ĐÃ KHÁM PHÁ một mạng lưới các đường mòn rộng lớn và ngụy trang rất kỹ gồm những khu vực tập hợp và nghỉ ngơi, kho lương thực của VM. Đây là lần đầu tiên người ta thấy đường mòn HCM nổi tiếng! (This was the first sighting of the famous Ho Chi Minh trail!
Cuối năm 1952, những đường mòn dẫn tới thung lũng sông Re và Gia Vực được cải thiện để chuẩn bị cho việc có thể thành lập một đồn trong tương lai cho quân Pháp để kiểm soát khu vực này.
Vào tháng 12/1952, Gia Vực vẫn dưới kiểm soát của VM mà ko có dấu hiệu của một tiền đồn Pháp nhưng chiến tranh vẫn tiếp diển thêm hai năm!
Thông tin được tôi dịch từ website của Philippe Milour: http://philippe.millour.free.fr/index.html
cũng như từ con gái của đ.u. Hentic (Anne Alexandre): http://www.mahohentic.com
và các sách của R. Riesen như: Jungle Mission, Le Silence du Ciel và của Erwan Bergo như Les Heros Oublies.
Đây là phần hấp dẫn của lịch sử Gia Vực và nếu bạn muốn khám phá hơn về LL đặc biệt Pháp và TĐ 4 BMEO, hai đv đã chiến đấu trong rừng núi ở Cao Nguyên, hãy thăm phần về chiến tranh Đông Dương lần 1 (1945-54) ở: http://www.gia-vuc.com/frenchindochina.htm?LMCL=bzPD_W
Có một lần, trong khi trở về từ một lần tuần tiểu tại địa phương (hè 1967) bằng đường núi nằm kế phía đông bắc của Gia Vực I đã nhân thấy một khẩu tiểu liên MAT-49 rỉ sét. Nó nằm sâu 0.9-1.2 m ở bờ một rảnh nước sâu 1.5-1.8 m (it was located about 3-4 foot down on the side of a 5-6 foot gully). Tôi luôn thắc mắc làm thế nào mà nó lại ở đấy và lịch sử của nó. Tôi đã biết Gia Vực từng là một đồn Pháp, nhưng tôi đã ko ý thức rõ ràng mức độ hoạt động của VM tại khu này. Cảm ơn trung sĩ nhất Ron Knight.

Tên của các địa điểm. 



Liên quan đến tên và địa điểm (name and place), đặc biệt trong giai đoạn đầu của chiến tranh, rất ít bản đồ và vài tên được ghi chép theo phiên âm đễ hiểu bởi người Pháp. Trên bản đồ Mỹ của thập niên 1960, cũng làng đó nhưng được viết khác đi khiến khó mà tìm dấu vết chúng.
====
THÔNG TIN THÊM VỀ SÁCH JUNGLE MISSION R. RIESEN.
TIỀN ĐỒN KON- PLONG: khoảng 60 dặm đông bắc của Kontum và tính tới 1946 là tiền đồn xa nhứt của Pháp ở cao nguyên Kontum. Nó được xây ở giao điểm của các thung lũng của Kontum và núi dẫn tới Sơn Hà và Ba Tơ, xa lộ tới Lào, Cambodia, Bắc VN và những khu ven biển.
Năm 1946, đồn được giữ bởi một đ.đ. lính Thượng, từ 1946-48, đồn này gặp khó khăn khi Việt Minh cố gắng chiếm đồn, vì nó là trở ngại cho các hoạt động quân sự và chính trị của họ.
Năm 1948, quân Pháp đã chuyển từ chiến thuật phòng ngự sang tấn công, với những đột kích vào sâu trong các khu vực do VM kiểm soát. Đồn này năm 1948 có ba SQ, 15 HSQ người Âu châu, 150 biệt kích người bản xứ (indigenuous partisan commando) và 120 lính chính qui người bản xứ (regular native). Liên lạc với Kontum mỗi tháng một lần bằng công-voa. Đ.u. Pierre, đồn trưởng, tiến hành công tác dân sự vụ và lập một chợ để trao đổi hàng hóa -- nơi mà các bộ lạc xa xôi ở phía đông và tây của đồn gặp nhau để trao đổi hàng hóa và lương thực.
Từ bản đồ của ông, bạn có thể thấy R. Riesen đã đi tới Makra (Mangia), khoảng vài dặm nam của Gia Vực, và đi về phía bắc theo thung lũng Sông Re, do đó ông phải đi qua Gia Vực. Nên chú ý là một ít tên trên bản đồ của ông đã viết khác với tên dùng trên bản đồ 1960 của Mỹ.Tôi nghĩ lý do duy nhứt, như trong sách ông đã viết: ko có bản đồ cho khu vực này, ông đã ghi nhận và vẽ lại những địa điểm đã đi qua. Ông đã viết tên những địa điểm này dựa trên một ngôn ngữ khác với ngôn ngữ của ông. Tôi đã có được một bản đồ Đông Dương bằng lụa, mà tên một số làng đã viết khác với bản đồ 1960 của Mỹ!
Nguồn: J-L Delauve (Gia Vuc webmaster) hay Gia Vưc Tribute website (www. gia-vuc.com). 

Cập nhật: Với đam mê về khảo cổ, tôi đã viết bài này đã lâu, nhưng nay cập nhật sau khi đọc bài về trại Gia Vực của anh Trần Lý. Bài của tôi nói chi tiết về trại Gia Vực trong giai đoạn trước 1954. 
SJ ngày 31/8/2024.
Tài Trần
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3756021921078273&set=a.862986513715176&type=3&eid=ARAGI106rtslOxfzwLBolENXYNh9ibxmSFcKHalJRJLEf9lH0RBrJQGU8deNf_Z3xiKLdBQ3ZZsqPZ33
https://www.youtube.com/watch?v=9qqvXsFnSEc&feature=share&fbclid=IwAR0VMbX3oylup31n5QuxNm3idgP5dnK0gyFH7uVl5V4SLdjbrxFas6ZfFq4