Tuesday, February 26, 2019

Trận đánh cộng đồng Bún-Bình Dương

Huy hieu su doan 5 bo binhHuy hieu trung soan 9, SD5BB
Xuân về, nhớ Tết Mậu Thân: giữa Tiểu Đoàn 3/7 và trung đoàn của Tướng VC Trần Độ.
(Kính tặng anh hai, và các chiến hữu thuộc Tiểu Đoàn Khăn Tím 3/7-SĐ5BB).
Lê Tường Vũ.
https://c1.staticflickr.com/1/658/22376672502_0f2933cc8e_c.jpg
Gió thoảng của những ngày đầu Xuân vẫn nhẹ nhàng mênh mang len giữa bao tia nắng nhạt vàng của buổi chiều sắp tắt.Cái không khí se lạnh vẫn không làm rượi người khi tiếng súng ở thành đô, ở những quận-tỉnh lỵ còn rền vang trong đợt phản công của các đơn vị từ Nhân Dân Tự Vệ, Cảnh Sát Quốc Gia, Địa Phương Quân và Nghĩa Quân, đến các sư đoàn chủ lực cùng những lực lượng Tổng Trừ Bị nhất tâm đánh bật Cộng quân đã thừa dịp hưu chiến trong mấy ngày Tết thiêng liêng, tổng tấn công với mưu đồ thôn tính cả Miền Nam.
Tôi cũng đã ráng chạy về đơn vị từ nơi đó, từ Saigon vẫn còn vang tiếng súng, sau khi “dù” về bởi mấy thằng bạn học ôn dịch nhắn nhe có tổ chức… nhảy đầm mở “ball famille” ở nhà bạn học trong khu Nha Viễn Thông gần nhà. Chiều tối đêm giao thừa đó, khoác lên người bộ veston, tôi tản bộ dọc lề đường về hướng Hồng Thập Tự, ngó xem thiên hạ giờ nầy vẫn còn vác mấy cành mai về chưng Tết. Vừa ngang trước Cục An Ninh Quân Đội, số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm, thì gật mình khi nghe tiếng… chửi rủa:
– Ê, Vũ! Mẹ kiếp – nói cho nhẹ thôi – Tết “dù” về Saigon đi chơi hả mậy?
Ngoảnh đầu nhìn vào dãy nhà trong lề, thằng bạn học cùng lớp thuở trung học đang hiên ngang trong bộ đồ Dù, nai nịt chỉnh tề với khẩu colt xề-xệ, bước ra cười mỉm. Thằng Sang, đúng là nó. Nhà nó ở hẻm cây xăng đường Nguyễn Bỉnh Khiêm bên kia Phan Đình Phùng mà. Ồ, mà nó đã mang hai bông mai rồi, ngon lành thiệt. Lại hất đầu, Sang lập lại:
– “Dù” phải hông mậy?
Tôi cười khảy:
– Thì ở rừng rú mật khu hoài, Tết nhứt chuồn về chơi chớ sao mậy. Chớ ai như mầy, Nhảy Dù, Tết nhứt được ở Saigon.
– Mẹ họ, tụi tao mới vừa về đây nè. Đánh giặc túi bụi. Nhảy Dù mà! Ai như mấy thằng bộ binh nghĩ mình là “hoa khôi chiến trường” nên cứ tà tà.
– Giỡn mặt, lính đánh giặc mà tà-tà để rửa cẳng lên bàn thờ ngồi sớm hả.
Cả hai cùng cười với bốn bàn tay xiết nhau thật chặt. Rời khỏi học đường, cả đám chia nhau mỗi thằng mỗi nẻo, còn gặp nhau thì biết còn sống, còn đùa giỡn với nhau nên không vui sao được. Dán mắt vào cặp lon Trung Úy của Sang, tôi hỏi:
– Mầy lên trung úy hồi nào lẹ vậy?
Vẫn cái giọng kênh kênh, Sang ngước mặt vừa phà khói thuốc lá lên trời vừa nói:
– Đánh giặc kiểu Nhảy Dù mà mậy. Ai như…
Biết Sang sắp giở giọng xỏ lá kềnh, tôi nhứ quả đấm thẳng mặt nó:
– Dẹp mầy đi. Phải rửa lon, mầy.
– Ừa, bữa nào đã – Sang ngưng lại, mím môi nói nhỏ – Tao nghe tin thằng Phát…
Vui vẻ đứt đoạn, tôi cũng cúi đầu hình dung lại khuôn mặt dễ thương của thằng bạn học, Trần Khánh Phát, tên lót thật của Phát là “Khắc,” sợ xui nên trên ê-ti-kết mấy cuốn tập nó đề là “Khánh”… nhưng ai dè nó bị “khắc” thiệt:
– Thằng Phát đã “đi” rồi. Mà cũng tại nó. Ai đời, làm Trưởng Ban 2 Tiểu Đoàn mà lính đại đội rớt đàng sau, nó không muốn xác lính lọt vào tay giặc nên một mình quay lại và rớt ngay tại chỗ đó luôn.
Biết tụi nầy trước rất thân thiết với nhau, Sang nói câu an ủi… mà huề vốn:
– Thôi mầy. Mỗi thằng có cái số. Nó hiền từ, ít tội nên đi trước. Còn lại đám “quỷ phá nhà chay” tụi mình nặng tội nên còn lâu để trả nợ đời.
Nói xong, Sang cười khằng khặc nhưng tôi cười không nổi:
– Mầy nhớ thằng Mỹ không? Đặng Ngọc Mỹ? Tôi hỏi.
– Sao không nhớ. Cái thằng Bắc Kỳ, mắt hơi lé, trong trường ưa làm thơ viết văn với mầy và thằng Thúc chớ đâu. Tao còn nhớ nó chọc mầy Nam Kỳ cũng bày đặt văn chương. Vậy mà nó thua mầy tuốt luốt. Sao rồi?
– Mỹ cũng “rớt” rồi! Nó nắm đại đội trưởng Đại Đội 10, TĐ 3/8, cũng chung Sư Đoàn 5. Lúc tao ra trường về, gặp nhau trên đại lộ Lê Lợi, nó thấy tay áo tao mang Sư Đoàn 5 Bộ Binh nên càng mừng hơn. Mỹ bảo: “Toa về với moa đi, nắm Trung Đội Trưởng Vũ Khí Nặng cho moa. Moa nắm Đại Đội Trưởng rồi.” Tao không nghĩ nó muốn chỉ huy tao để “trả thù” văn của tao được chấm giải cao hơn nó, mấy em khoái xem bài của tao hơn là “Mỹ… lé” mà là tình thân với nhau ở tuổi học trò, tin tưởng cùng rơ hơn.
– Tại mầy khoái đi làm chính trị, làm Cán Bộ Áo Đen, chớ không thằng nào cũng như nhau.
– Bậy bạ. Cũng tùy từng thằng. Như mầy đi Nhảy Dù, hơn anh em, tao cũng phục.
– Tụi mình đời lính mà mậy. “Một xanh cỏ, hai đỏ ngực” vậy thôi. Rồi thằng Mỹ với mầy?
– Nó ở Trung Đoàn 8, tao về Trung Đoàn 7. Có cái ngộ là tao cũng ở Tiểu Đoàn 3, cũng về Đại Đội 10 và cũng giữ Trung Đội Vũ Khí Nặng. Chỉ có khác là trung đoàn thôi.
– Thì trung đội đó là trung đội chỉ huy.
– Thôi, chuyện thằng Mỹ thì nó bị ở Bến Cát. Tiểu Đoàn tụi tao dưới Bình Dương tức tốc lên tăng viện… nhưng không kịp, nó mất quá nhiều máu. Chỉ tội là mới có vợ, và vợ nó… đang mang thai!
Sang chắt lưỡi:
– Lính đánh giặc như tụi mình, vợ con làm quái gì cho… khổ thân. Đường nào cũng về… Nghĩa Trang Quân Đội mà. Đúng không?
– Thì… đương nhiên.
Và để cắt ngang bầu không khí ngột ngạt, tôi bảo Sang:
– Ê mầy, tới nhà chị Mai, chung lớp với tụi mình, có mở “ball famille”, trong Nha Viễn Thông kế cận nè. À, rồi mầy rửa lon luôn.
– Thôi mầy đi chơi đi. Tao không rời đại đội được. Mầy nhớ về sớm nghen. Tụi tao về đây là tình hình không ổn đó.
Tôi buột miệng chửi thề:
– Mẹ họ! Nhảy Dù tụi mầy cứ đảo chánh lên đảo chánh xuống.
Thằng Sang chửi thề lại ngay và trả đũa:
– Sư Đoàn 5 của mầy cũng vừa hả. Đếch cãi với miệng mồm mấy thằng “chính chị” như mầy nữa. Nhớ… về sớm nghen. Hổng có đảo chánh đâu. Lộn xộn đó.
Và mà thật. Rạng sáng hôm sau thì tiếng súng nổ rền. Má tôi phải đánh thức mà tôi dậy không muốn nổi vì ban tối uống rượu, nhảy đầm liên tu. Trong giọng ngáy ngủ:
– Việt Cộng gì… Việt Cộng. Đảo chánh đó. Hồi chiều… thằng Sang có nói con…
Má tôi, đúng là bà già miền Tây, nắm tóc kéo đầu tôi lên và bảo:
– Ừa, Việt Cộng nó đảo chánh đó. Tụi nó mang khăn rằn chạy ngoài lộ kìa… Ba mầy, ổng… đi đâu rồi.
Tôi tỉnh ngủ ngay. Tỉnh như sáo sậu. Nhét khẩu colt sau lưng, xỏ vội chiếc jacket nhà binh với hai băng đạn, tôi phóng ngay ra cửa và men theo những hàng ba của dãy phố để vòng ra đầu ngỏ có trụ sở Khóm…

***
https://c2.staticflickr.com/8/7556/15494056910_1b8d8cbc42_b.jpgChợ Bình Dương 1968.
– Giới chức coi kìa. Có hai thằng cha già đạp xe qua lại nãy giờ hai bận.
– Kệ mấy ổng. Tết nhứt thì người ta… vui chơi mà.
Tuy nói vậy với thằng Tân, một người lính trong Toán Quân Báo, đang có nhiệm vụ gác trước cổng trường mà Đại Đội chúng tôi đang trấn đóng, tôi liếc xéo ngoài đường quan sát. Đúng vậy! Hai người đàn ông lớn tuổi đạp xe lướt qua từ hướng Bún về ngã ba An Sơn, vừa chạy xe như dạo mát nhưng… vừa đảo mắt qua khu vực đóng quân. Một cảm giác ngờ vực nhuốm lên. Hổng lẻ tụi Việt Cộng muốn giở trò khi chúng tôi đang đóng dọc theo Quốc lộ 13, ba bề đồng trống, gần phố chợ? Bị đánh tan tác trong thành phố giờ muốn gỡ gạc với chúng tôi, với những đơn vị không đầy đủ quân số vì phần nhiều anh em ỷ y những ngày Tết “đình chiến” dù về nhà, kẹt chưa về kịp.
Sau khi dặn Tân cứ tự nhiên, hút thuốc ngó mông mênh làm như không để ý gì thế sự, tôi nhảy phóc xuống tường rào gạch định bước vào một phòng lớp nơi ở của Ban Chỉ Huy Đại Đội thì Trung Úy Tín, đại đội trưởng, từ phía cây điệp to bản bước ra chận đầu:
– Gì thế Vũ? Vừa hỏi, ông vừa cười mỉm.
– Thưa anh Hai – mấy trung đội trưởng cùng thân cận thường gọi ổng là anh Hai, dù ổng là người Bắc – có hai thằng…
– Anh biết rồi… nãy giờ. Dặn anh em cứ tự nhiên, gom cây lá ngay và nhóm lửa giữa sân trường như đun nước pha trà cho ấm bụng, gió lạnh, trời sắp tối rồi.
Thật khó cái gì qua mắt được cái ông trung úy giọng nói nhỏ nhẹ, dáng dấp thư sinh nhưng đánh giặc thì… “cò can” nầy. Lịnh được thi hành cấp tốc để nghi binh và chỉ có chúng tôi là đang suy tính tình hình thôi. Trung Úy Tín nói rất nhanh với Binh1 Long, Trưởng Toán Quân Báo, đang đứng cùng anh em trong Toán:
– Trời gần tối rồi, mấy đứa ngồi, dứng trước hàng rào cứ như trò chuyện. Chừng hai thằng già đó quay về ngang tới thì phóng nhanh ra chận đưa vào đây. Phải làm thật nhanh và êm.
Thằng Long nhanh nhẩu:
– Nhận rõ thẩm quyền.
Nói xong, Long quay người hất hàm ra hiệu năm người trong toán đi theo. Thằng Bé, toán phó, luôn đi sát với Long bởi hai đứa là bạn bè thân thiết. Hai đứa nó được mang tên là Long VC và Bé VC. Cũng đúng thôi, vì tụi nó cùng đi theo Việt Cộng và cùng từ trong khu ra với ý muốn hồi chánh. Sau khi hỏi han và xác định nỗi bất mãn hận thù của Long và Bé, đơn vị muốn giúp hai đứa có thêm quyền lợi và đơn vị được người có nhiều khả năng phục vụ nên làm thủ đục tụi nó đăng lính để có tiền đầu quân, vào Trung Tâm Huấn Luyện Huỳnh Văn Lương, trở về đại đội và được giao nắm Toán Quân Báo vì tụi nó rất rành rẽ những mánh khóe của Việt Cộng.
Hai ông già đã bị điệu vào BCH Đại Đội, Trung Úy Tín nghiêm giọng hỏi:
– Việt Cộng tối nay tấn công mấy giờ? Nói ngay.
Hai lão chối bây bẩy:
– Hổng có đâu trung úy. Tụi tui là dân thường. Tết uống rượu nóng trong người nên chạy vòng vòng cho mát.
Thằng Long giơ tay dọa đánh, Trung Úy Tín khoát chận và nói với hai lão:
– Hai ông đã đi mấy vòng điều nghiên? Báo cáo các chỗ đóng quân rồi phải không?
– …..
– Nói ngay… không tôi giao cho tụi nó.
Hai người vẫn giở giọng kêu oan nhưng trong ánh mắt chẳng có gì là thật. Thiệt là mất thời gian! Trung Úy Tín quyết định:
– Bọn thằng Long nhét giẻ bịt miệng, cột hai thằng già nầy vào gốc cây điệp giữa sân trường…
Xoay qua hai tên tình nghi, ông tiếp:
– Nếu khai thật thì chúng tôi giữ mấy ông trong này. Bằng không, tối nay mấy “đồng chí” mấy ông tấn công thì tôi sẽ bắn hai ông trước rồi đánh với bọn chúng sau. Mang đi!
Sau khi cho giải hai người kia ra ngoài, mặt Trung Úy Tín thản nhiên nhưng chúng tôi biết ông đang suy nghĩ, đang liệu định một cái gì. Rút điếu thuốc capstan – là gu của ông – trong bao dẹp nửa, nhìn bọn tôi như dò hỏi. Thượng Sĩ Điểm, thường vụ đại đội, dáng người kềnh càng, dựa lưng vào tường, lên tiếng trước:
– Tôi nghĩ chắc tụi nó dám chơi mình lắm, trung úy.
Chương, trung đội trưởng Trung Đội 2, dù thích uống rượu nhưng tánh người lúc nào cũng trầm tĩnh:
– Tiểu đoàn mình ở ngoài nầy chỉ có 3 đại đội, không đầy đủ quân số, chỉ có thằng Bù – tên thường gọi Đại Đội 10 chúng tôi – mình là đám lính có gia đình ở Lò Chén nhiều nên đã về kịp nhưng quân số chỉ hơn 70. Phải không Dách-Cún (thượng sĩ)?
Nghe Chương hỏi mình, Thượng Sĩ Điểm nhanh nhẩu:
– Đúng, hơn bảy chục nhưng mình chơi ngon lành mà. Bên thằng Sập Dách (Đại Đội 11) chẳng còn bao nhiêu; bên chỉ huy cũng không khá, tụi nó dù tá lả.
Điếu pall-mall cháy tàn trên tay, tôi liên nhớ tối qua ngay mùng 5 Tết, vừa theo xe jeep của Trung Tá Nguyễn Xuân Mai, tham mưu trưởng sư đoàn, về ngang gặp ngay Đại Bàng Ninh, tiểu đoàn trưởng, nên bị phạt dẫn một tiểu đội đi “ăn sương” (kích) ở Cống Bể. Nửa đêm đúng là VC di chuyển. Thoạt đầu, tôi tính cho “hốt” để lập công chuộc tội nhưng may… ông bà “độ”. Chờ qua mấy thằng xích hầu, tôi tính nổ súng lệnh để tất cả tung lựu đạn diệt cả lũ đi sau có mang theo máy móc liên lạc. Vừa tính xiết cò thì tai tôi thoáng nghe qua đợt gió thoảng từ bên kia đường, qua khoảng đồng lúa đã gặt là một vườn mía mênh mông, mang theo không phải tiếng lá mía xào xạc mà lẫn lộn nhiều tiếng người.
Thả lỏng tay cò, tôi rướn người nhìn qua dãy bụi rậm, thấy từ bên kia đường, hướng ruộng mía lố nhố người đi ra, dọc theo bờ cống bể, băng qua đường xuôi về hướng chúng tôi. Không ổn rồi! Tụi nó đông quá, súng ống lủ khủ, trong khi tụi tôi chỉ có bảy thằng. Rồi còn nữa, ở bãi ruộng bên đường, bọn chúng ở đâu ra dầy đặc, đang tuần tự băng lộ để đi trên con đường đất nhỏ độc đạo dọc theo con lạch thoát từ cống bể.
Bỏ mẹ rồi! Hồi nãy mà ra tay thì cả đám không còn… xác để hốt. Từ thế hàng ngang, chúng tôi vẫn vậy nhưng bò lùi ra sau, cố gắng qua cách một thửa ruộng nhỏ, nằm mẹp nấp sau bờ đê thấp, hướng súng đặt trên bờ phòng khi bị phát giác thì chỉ còn mạng đổi mạng thôi. Hết đường binh! Đêm khuya, tiếng đi nghe rần rật. Tuy vậy, lúc bọn chúng dừng thì sự thanh vắng ghê lạnh bừng lên. Tôi với tay qua tắt máy PRC-10 trên lưng hiệu thính viên năm sát cạnh vì e tiếng máy rồ-rồ sẽ lộ nơi ẩn núp. Bọn chúng hướng về trên kia, lên phía đường rầy xe lửa. Hàng trăm, hàng ngàn, không phải… hàng cả trung đoàn của địch quân đang di chuyển.
Bố tụi nó. Cứ như đi chợ vậy! Tôi chửi thề trong bụng. Cả bọn nằm rạp, dán mắt nhìn bọn Việt Cộng chuyển quân. Phải non hai tiếng, bọn chúng mới đi qua hết. Chờ một hồi lâu, không còn động tịnh, nhìn bờ ruộng bên kia đường cũng vắng hoe, tôi cho mở máy liên lạc:
– Hélène. Victor gọi. Hélène…
Tiếng rè rè của máy liên lạc nội bộ vang lên nho nhỏ vì bọn tôi đã bớt volume:
– Victor… đây Hélène.
– Nghe…
Tiếng máy bên kia cắt ngang:
– Nãy giờ sao im lặng vô tuyến, liên lạc không được. Đại Bàng cũng có theo dõi. Thẩm Quyền đang lo.
Tôi bấm combiné:
– Đang kẹt. Gặp Thẩm Quyền gấp.
– Nhận rõ Giới Chức. Chờ.
Chỉ khoảng 30 giây, tiếng Trung Úy Tín lên bên máy:
– Victor… đây Tango.
– Nghe 5/5.
– Tụi em “lặn” đi đâu. Không liên lạc được. 43 – danh hiệu Tiểu Đoàn Trưởng – nãy giờ “qué” tùm lum.
– Trình Thẩm Quyền. Tụi em tắt máy. Bọn chúng vừa qua. Đông lắm!
– Có sao không?
Luôn luôn là sự quan tâm của người chỉ huy thương đàn em như ruột thịt. Tôi xúc động:
– Dạ… chưa sao. Lúc nãy mà nổ thì… banh xác rồi.
– Con khỉ. Rồi thế nào?
– Bọn chúng đã đi qua. Khoảng một trung đoàn trừ. Hình như là chính quy Bắc Việt.
– Đi đâu? Hướng nào?
– Dạ, giờ nầy chắc trên 2 con rắn đỏ (đường rầy xe lửa).
– Chắc chắn?…Anh tin. Để đó anh lo. Cố giữ an toàn. Đáp nhận.
– Nhận rõ.
Rời combiné, tôi ngã người gối đầu lên bờ đê nhìn trời tối thẩm. Sương đêm khá lạnh, thấm qua đồ treilli, len vào da thịt nhưng trong người chúng tôi nóng nảy bồn chồn. Chẳng biết ở trên giải quyết thế nào. Mong trời mau sáng đặng… dẫn đội trở về. Khoảng mươi phút sau, chúng tôi nghe tiếng depart của pháo binh từ Phú Lợi, căn cứ của sư đoàn, rót về. Và từng loạt đạn đại bác nổ vang trên dãy mô cao dọc theo đường rầy xe lửa. Chỉ huy mình chịu chơi thiệt. Tin và lo cho em út hết mình. Tiếng pháo ì-ầm làm toán kích ấm lòng, nôn nao trông chờ rựng sáng.
Tiểu đội đứng nghiêm như trời trồng giữa sân trường Trịnh Hoài Đức “Nam” để nghe Đại Bàng “xát xà-phòng”:
– Tiên sư bọn mầy. Dù chơi về bị phạt rồi đặt chuyện làm cả đêm không ai ngủ được.
Vừa sạt tụi tôi, Đại Úy Ninh ngó xéo đại đội trưởng bọn nầy như trách cứ ông hay tin thương cái đám ba gai, ba đồ… trong lúc Trung Úy Tín đứng gần bên ông, ngó trời… tỉnh bơ. Đại Bàng Ninh càng tức khí xì-nẹt bọn tôi một mách nữa nhưng chưa hả thì một chiếc jeep của sư đoàn chạy vội vào thắng két. Viên trung úy – lúc sau được biết ở Phòng 2 của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn – nhảy xuống xe tiến đến chào Đại Úy Ninh xong, trình phong bì còn hàn kín.
Đại Úy Ninh bóc văn thư, hay mật điện gì đó, liếc nhanh xong cười toe và quơ tay:
– Về trình với Mặt Trời (danh hiệu của Tư Lệnh Sư Đoàn) là yên trí. Chúng tôi lưu tâm và bung rộng lắm. Thế tối qua mới báo lên sư đoàn để pháo.
Đang nói, ông lại quay qua bọn tôi ra lịnh:
– Giải tán đi!
Biết chúng tôi thoát nạn, Trung Úy Tín cười vỗ vai tôi, nhỏ nhẹ:
– Thôi em về coi sóc trung đội của em đi.
– Dạ.
Chúng tôi kéo ra khỏi trường Trịnh Hoài Đức, đi về ngôi trường Cộng Đồng Bún sát cạnh là đất của đại đội tụi nầy…
– Ê Vũ, sao mậy?
Thằng Tư, trung đội trưởng Trung Đội 3, vừa hích cùi chỏ vừa hỏi, lôi tôi trở về với thực tại.
– Mẹ… tụi nó. Tối qua thì tao xém… rồi. Đám nầy từ hướng dưới, bọn chánh quy chắc bị Cọp Biển (TQLC) dợt cho tan tác giờ kéo về đây tính gỡ gạc. Hồi hôm bị pháo đuổi rồi.
– Chưa chắc chạy.
Đôi người lên tiếng. Tất cả suy nghĩ. Tiểu Đoàn 3/7 ở ngoài nầy chỉ có 3 đại đội: ĐĐ Chỉ Huy, ĐĐ10 cùng ĐĐ11 và Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn. Đại Đội9 thì nằm trong Mật khu An Sơn, thủ căn cứ của tiểu đoàn. Không đơn vị nào còn đủ quân số. Tụi nầy nghĩ thằng Cẩu (ĐĐ9) nằm cheo leo một mình trong vùng địch chỉ có nước thủ, đêm tối không thể cho con cháu bung khỏi cầu Cây Cui thì tụi nó dễ dàng vòng qua, ra ngoài tấn kích hay cầm chưn đơn vị lớn, san bằng đơn vị nhỏ.
https://c2.staticflickr.com/4/3843/14203020428_d8411a470c_c.jpg
Địa hình tiểu đoàn đóng quân cũng tương đối ổn. Ba đại đội đóng trải trong hai trường trung học liền nhau: trường Cộng Đồng Bún và Trịnh Hoài Đức (Nam). Trước mặt là quốc lộ 13, gần chợ Bún đi về thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. À, băng qua cánh ruộng hông trường họ Trịnh, một dãy lũy tre khá dày chạy dọc theo con đường đất đỏ dẫn vào trường nữ Trung học Trịnh Hoài Đức. Nơi nầy hơi bất an vào buổi chiều sẩm hoặc tối trời. Du kích thỉnh thoảng xuất hiện nên chúng tôi thường căn dặn những người lính mới về. Đất địa nầy là vùng xôi đậu mà. Chung quanh trường ba mặt là đồng ruộng đã gặt hái, nhứt là phía sau cả một bãi đất trống rộng, người dân đã cắm chà tre để trồng những dây sắn. Phía hướng về Bình Dương thì các toán kích đêm của ba hậu cứ trung đoàn ở Phú Văn đều bung về mặt đó. Vậy nếu địch muốn tấn công thì sẽ ở mặt nào?
Nhìn các cấp trung đội và luôn cả ông thường vụ đại đội cau mày, Trung úy đại đội trưởng nhếch miệng cười khẽ bảo:
– Mấy người ở đây, cho con cái cơm nước hoàn tất nhanh. Tôi qua gặp Đại Bàng Ninh một tí.
Nghĩ cấp chỉ huy đã suy định kế hoạch, bọn nầy nhao nhao:
– Liên lạc máy. Đi làm chi.
Trung Úy Tín lắc đầu:
– Có những lúc không nên nói chuyện trên máy khi tiếp xúc thẳng được. Vô tuyến chẳng tuyệt đối an toàn… chờ lệnh.
– Nhận rõ…
– Rõ, trung úy.
Trung Úy Tín vội vã bước ra sân, băng qua rào giữa ngăn cách hai trường để đến Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn nằm trên dãy lầu của trường Nam. Còn lại, chúng tôi nhìn nhau rồi mạnh ai nấy về lo trung đội của mình. Long, Bé, Tân, Kiệt,… đứng chờ bên ngoài, gặp tôi hỏi liền:
– Sao Giới Chức? Trung Úy có tin là tụi Việt Cộng tấn công không?
– Chưa biết. Nhưng đừng ồn ào. Làm thinh chuẩn bị thì hơn.
– Nghe Giới Chức. “Bí mật quân… sự” hì… hì…
Cái đám quỷ nầy cứ vậy. Nói xong, cười nham nhở coi lại dây trói và khăn bịt miệng hai lão già tình nghi bị cột quanh thân cây rồi ôm súng ra dọc tường rào quan sát. Đường lộ vắng tanh, bóng tối xuống dần. Mấy căn nhà bên kia đường, ẩn khuất trong những tàng cây rậm giờ thêm tăm tối, toát ra cái lạnh lùng ghê rợn. Tôi ngẫm nghĩ: Địch sẽ tấn công ở mặt tiền, từ phía bên kia, phát xuất từ Mật khu An Sơn. Tấn công và rút cùng một hướng. Chắc mẻm!
Trung Úy Tín quay về. Cả bọn quay quần và nhận lịnh. Các nhóm lửa phía sau vẫn bập bùng, phía trước được dập tắt. Chờ đêm phủ trùm cảnh vật, bán đội Quân Báo trườn sát mặt đường qua trước, đột nhập ba căn nhà, buộc gia đình họ xuống hầm vì sợ giao tranh sẽ liên lụy và cũng e họ dùng đèn để báo hiệu lính Quốc Gia hiện diện thì bể kế hoạch. Được báo đầu cầu êm ả, từng tiểu đội, trung đội, lần lượt bò qua hết đại đội. Chỉ trừ, hai người lính thuộc ban Tiếp Tế và ba quân nhân cảm bịnh ở lại trong sân để xe đạp của nhà trường, dịp Tết sân trống, nên được để chảo đụng, củi dầu, gạo thóc của đại đội.
Kể ra, sếp của đại đội tụi nầy có tài thuyết phục. Đại Bàng Ninh mà cho đại đội cứng nhứt tách khỏi tiểu đoàn cũng là điều lạ. Đại Đội 11 của Trung Úy Chờ phần yếu, phần ít quân phải cùng Đại Đội Chỉ Huy căng quân ra trám tuyến qua phần trước đó của chúng tôi. Ổng tin cũng phải, ba bề quanh hai trường học là đồng trống, địch không dại gì làm mặt tấn công. Cái nguy là phía trước thiếu bề phòng thủ. Nếu địch từ trong An Sơn ra đánh thẳng vào mặt tiền thì hỏng. Cái nầy trước đó ổng ỷ y ở Đại Đội 9 mà không nghĩ tới.
Vừa qua toàn bộ, chúng tôi liền bố trí. Trung Đội Vũ Khí Nặng của tôi phải lãnh mặt “nặng” là lập phòng tuyến phía sau, hai thằng mặt rỗ (đại liên 30) đặt cách khoảng của Phân Đội Đại Liên hướng súng vào phía trong. Việt Cộng mà tiến phía nầy thì những tràng đạn 12.7 ly đan chéo cho chúng biết thế nào là… lễ độ. Vì theo cán bộ thám sát điều nghiên của chúng không thể về báo có thay đổi một đơn vị Quốc Gia nằm ở bên nầy. Phân Đội Súng Cối cũng cho hai “ông già” 60 gióng súng vào trong, xạ bàn kẻ vòng, vạch sẵn để yểm trợ cho thằng Cẩu nếu nó bị Việt Cộng tính “làm gỏi.”
Trung Đội 3 và 2 của Lê Văn Tư với Nguyễn Văn Chương thì căng hình chữ L để lo mặt hông và cánh trái đại đội. Trung Đội 1 của Quách Đức Tú thì nối giáp với Trung 2 dàn sát bờ thấp của quốc lộ trước mặt BCH và đối diện bên kia đường là trường Nam họ Trịnh. Đại đội trưởng của chúng tôi thì ít khi nào đặt TOC trong nhà dân. Lính tráng nằm ngoài thì ổng cũng luôn ở bên ngoài nên anh em ai cũng thương mến.
Từ quân trường ra, chọn đơn vị và trình diện Bộ Tư Lịnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh ở Phú Lợi tất cả 8 thằng: 6 thằng tới tuổi và 2 thằng học Đặc Biệt đều về Trung Đoàn 7, từ đó phân phối đi các tiểu đoàn. Thằng Phạm Thành Phước, cặp bài trùng với tôi, lại qua Tiểu Đoàn 4/7. Tôi và một thằng nữa (không còn nhớ tên và cũng không muốn nhớ vì…) được phân phối về Tiểu Đoàn 3/7. Vừa tới Ban I Tiểu Đoàn, thằng về chung tiểu đoàn với tôi liền móc từ túi trên ra lá thư đưa cho một trung sĩ – tôi còn nhớ tên là Tĩnh, HSQ Quân Số – nhờ trao cho Đại Úy Nguyễn Văn Lực, tiểu đoàn trưởng, (ghi trên phong bì). Tôi chửi thầm trong bụng: Mẹ nó! Lại thứ “C.O.C.C.” gởi gấm nữa rồi. Cứ ngữ nầy làm được đách gì.
Tôi thì quen cảnh từ quân trường là đám “con bà phước, cháu ông sư” nên phớt lờ. Đất nước bị xâm lăng thì đi đánh giặc chớ chạy chọt tránh né thì khác gì “Nam nhi như… chí.” Và sau đó là quảy ba-lô đi qua hậu cứ Đại Đội 10 trao lệnh phân phối để lãnh súng đạn chờ… ra đơn vị nghe nói đang đóng đâu đó trong rừng. Không phải tôi không có nghĩ: Tiểu Đoàn 3/7 rồi Đại Dội 10 cả hai đều bù thì phen nầy chắc… sạch túi mà sợ. Không! Tôi chẳng có việc đó.
Từ ở quân trường, trên nón sắt của tôi mang số 13 chần vần nên tụi cùng khóa ưa chọc ghẹo. Nhứt là khi chọn đơn vị, điểm cao mà lại chọn Sư Đoàn 5 Bộ Binh làm đám bạn náo động hội trường. Thằng Khánh (sau về Sư Đoàn 25 BB) cũng chơi thân với tôi, ngồi phía sau níu áo:
– Ê, mầy muốn chết sớm hả? Còn nhiều chỗ để chọn mà sao mầy đi Sư Đoàn 5?
– Đi lính, chỗ nào cũng vậy.
– Mẹ kiếp, mầy ngu quá. Thôi chọn lại SĐ 25 đi, hiền hơn. Chút nữa còn chỗ thì tao về 25.
– Thôi, chừa cho mầy đó. Tao không thay đổi.
Không phải dưới lao nhao mà trên dãy bàn mấy sếp cũng thầm thì. Trung Tá Trương Như Phùng, tham mưu trưởng, với giọng Huế nặng nề cho tôi 5 phút suy nghĩ và ưu tiên chọn lại đơn vị. Tôi nhứt quyết và dõng dạc: “Sư Đoàn 5 Bộ Binh.” Xong rồi.
Cả đám chung quanh tôi lầm bầm, nói năng chửi rủa lung tung:
– Tao đã nói nó số 13 mà.
– Chắc ở đó nó có “gốc” đó. Một thằng khác nói.
– Thằng có tật ưa gàn.
– Kệ nó. Thôi mình lo thân mình.
– ….
Ôi, tụi nó nói tá lả âm binh. Thây kệ tụi nó. Mình có quyết định của mình. Thằng bạn, em ông Tướng Khang, nói sẽ kéo về Thủy Quân Lục Chiến vì gia đình, anh em bà con của tôi đi Cọp Biển khá nhiều. Tôi cũng khoái. Nhưng khóa đó Thủy Quân Lục Chiến không có lấy thì mình đi nơi khác vậy. Đi lính thì đâu cũng lính chớ thắc mắc, thắc… mũi làm gì. Chừng tất cả rời Hội trường, tôi mới biết lý do tại sao trên dưới đều…
Lý do là Sư Đoàn 5 Bộ Binh vừa bị thiệt hại một trận nặng nề tại Dầu Tiếng, Bến Cát, với Trung Đoàn 7. Trung đoàn nầy đánh thắng 13 trận ở 13 làng trên Bến Cát. Những trận cuối cùng, xác và vũ khí quá nhiều của Việt Cộng khỏi tịch thu mà xe ủi hố, dốt lấp hết. Tới làng 13 Bis (cũng con số 13) có lẽ “lơ là” (?)nên bị tụi nó phục thù tan tác. Báo chí đăng tải tùm lum nên đa số lo sợ là phải. Tôi thì cóc sợ. Hơn nữa thằng Phước tiếp đó cũng theo tôi chọn SĐ5.
Tánh gàng bướng cố hủ, chờ phương tiện về Saigon, đầu đội bê-rê vàng, vai áo mang phù hiệu Ngôi Sao Trắng Miền Đông với số 5 đỏ chói làm lóe mắt bạn bè, tụi nó nhìn với vẻ e dè, mặt mấy thằng tôi kênh kiệu. Tự nhiên tôi bắt đầu hãnh diện bởi đơn vị của mình từ đó. Và cả bây giờ, dù mang số 13, tôi vẫn còn ngồi đây ghi lại những dòng nầy.
Tới đây, tôi xin phép tưởng nhớ những người bạn thân thiết cùng khóa với tôi, tụi nó đã gục ngã trên khắp chiến trường, đã hy sinh xương máu cho Tổ Quốc Việt Nam mà ước vọng vẫn chưa thành! Thằng Lê Sanh Phuông – cháu Thiếu Úy Châu của Quân trường Đồng Đế, rớt trước tiên trong tháng đầu, rồi sau đó thằng Khánh,… cùng Sư Đoàn 25. Thằng Cương lên cố thiếu úy khi chiến xa nó bị ở Quảng Trị. Cương về bên Thiết Giáp. Thằng Tùng thì lái trực thăng bị rớt. Còn những thằng nữa, ở Sư Đoàn 22, Sư Đoàn 23, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt,… không nhớ nổi. Về Sư Đoàn 5 thì hai tay Đặc Biệt ra đi sớm nhứt. Rồi thằng Khanh ở 2/7 bị B.40 gọt nửa đầu bên phải, trực thăng tản thương vừa chạm đất thì nó… hết thở. May các bác sĩ tận tình, cắt cuống họng, luồn dưỡng khí, giải phẫu và nó sống với nữa thân mình bất toại. Cuối cùng thì tôi chỉ biết còn lại tôi và thằng Phước trở về Saigon…
“Ầm! Ầm!…”
Hai tiếng nổ chấn động, chớp sáng bùng lên từ trên dãy lầu bên kia đã phá tan bầu không khí trầm lặng giữa đêm khuya. Tiếp đó là những loạt súng đủ loại rền vang từ hướng trường nữ Trịnh Hoài Đức và hình như từ hướng sau hai dãy trường tới tấp bắn tới. Tiếng đạn bay vèo vèo, xé gió cao khỏi đầu ngọn cây. Tất cả anh em đã vững vàng tay súng, bám sát hàng đất dọc lề đường, mắt hướng về phía trước.
Tôi phóng người ra tuyến sau. Anh em cũng ghìm súng phòng địch tấn công mặt hậu. Hai xạ thủ đại liên cũng như phụ xạ thủ đã trải đạn căng dài, hướng súng vào khoảng đêm đen um tùm với những vườn dâu, măng cụt, chôm chôm,… liền nhau san sát. Mối lo bị tấn công mặt sau vẫn còn đè nặng trong tôi, nhưng ở đây vẫn yên tĩnh. Tôi căn dặn anh em cẩn thận thì Hạ Sĩ Mậu, một xạ thủ đại liên, cười nói với tôi yên trí: “Tụi nó mà lọt vào cách mấy chục thước thì để bãi lựu đạn trả lời trước, rồi tụi tui đốn hết mấy thằng Việt Cộng ráo trội.”
Mậu nói có một phần đúng, vì nguyên tắc của đại đội là khi tối đóng quân thì mỗi trung đội phải cài ngoài phòng tuyến khoảng trên ba mươi trái lựu đạn gày, rất bén nhạy. Nếu mặt nầy có biến thì tôi vẫn kịp thời kề cận với anh em. Và tôi còn trách nhiệm với Phân Đội Súng Cối nữa. Tới giờ phút nầy, hai khẩu 60 ly vẫn còn hướng vào mặt trong, để yểm trợ thằng Cẩu cùng lo phía sau của đại đội mình.
Những loạt đạn chát chúa của AK, trung liên nồi RPD của Trung Cộng trao đổi với những tiếng Garant, Carbine M1 nhát gừng, tiếng Thompson, trung liên Bar,… từng tràng đáp lễ cũng ở bên kia quốc lộ. Bên chúng tôi hoàn toàn im lặng, không được khai hỏa khi trước mặt không có quân thù, và hơn nữa là cần giữ kín vị trí tới giờ phút chót.
Máy nội bộ im lìm, máy tần số tiểu đoàn liên tục phát khiến chúng tôi biết được tình hình bên đó. Việt Cộng đã mở cuộc tấn công hai mặt, phía sau và phía hông hướng Bún. Tụi nó không dám mở ở mặt bắc vì sợ bị tập hậu. Đúng là bọn chó điên muốn cắn càn! Hai mặt kia trống mà tấn công thì chỉ làm… bia thịt.
– Cửu Long. Đây Hồng Hà gọi.
Nghe gọi đích danh, thằng Hùng, hiệu thính viên, chụp ống liên hợp trả lời:
– Cửu Long nghe Hồng Hà. Cho…
– 43 muốn trực tiếp với Thẩm Quyền. Tiếng của người mang máy tiểu đoàn.
– Nhận rõ. Chờ…
Hùng trao máy cho đại đội trưởng kề bên. Trung Úy Tín lên tiếng:
– Tình hình bên đó ra sao? 43 đâu?
– Trình Thẩm Quyền, tụi nó thổi B.40 lên phòng BCH Tiểu Đoàn trên lầu, vì mấy thằng “mũi lõ” mở đèn coi báo. Một trung sĩ I “Mẽo”… dài hạn, Cố Vấn… ngắn hạn, và Đại Bàng vướng miểng ở chân. Tụi nó có lọt vô nhưng xong rồi. Phòng tuyến vững, đang bắn bia…
– 43 đâu? Thế nào rồi? Trung úy nóng ruột.
Nghe tiếng bên đầu máy:
– Ổng mới đây… à, thưa Đại Bàng, có Thẩm Quyền thằng Bù đầu máy.
Rồi nghe tiếng Đại Bàng Ninh:
– Tango, đây 43.
– Nghe 43. Có sao không?
– Nhẹ thôi. Nhưng khó ổn. Tụi nó đông lắm!
– Rõ. Nhưng chưa sao. Có cần thằng Bù tiếp chiến ngay?
– Không. Nằm yên. Mặt đó quan trọng hơn.
– 43 tính sao?
– Tao qua bên mầy.
Cả BCH ngạc nhiên: “Qua bên nầy?”
Trung Úy Tín hỏi lại:
– 43 muốn qua?
– Đúng, giữ an ninh, tao qua.
– Nhận rõ. 43 chờ tôi cho Dách Cún tụi nầy qua đường đưa 43 qua.
– OK. Tao chờ…
Tay còn cầm ống liên hợp, Trung Úy Tín xoay nhìn Thượng Sĩ Điểm và mấy thằng thám báo:
– Dách Cún giúp tôi đưa Đại Bàng qua đây. Mặt trước còn yên. Mấy thằng tụi mầy yểm trợ.
– Nhận rõ trung úy. Mấy người cùng đáp.
Thượng Sĩ Điểm là người rất to con, trước gốc quân đội, sau qua cảnh sát với nhiệm vụ bảo vệ yếu nhân. Không thích thú vai trò nầy, ông lại xin trở về quân đội và xin đi đơn vị tác chiến. Khi Thượng Sĩ Điểm về đại đội, chúng tôi vui lắm vì sẽ có một ông thượng sĩ thường vụ chánh tông. Chớ trước nay, hết trung sĩ I rồi lại trung sĩ bị bắt giữ chức Thường Vụ, nội nghe không cũng cảm thấy già cú đế.
Khi đại đội trưởng giao giữ chức Thường Vụ, Thượng Sĩ Điểm chối từ bây bẩy. Ông chỉ muốn làm trung đội trưởng. Lý do là ổng muốn nắm trung đội trưởng, khi được 6 tháng thì xin đi học khóa Sĩ Quan Đặc Biệt. Chính vì thế mà ổng đi tới những nơi đánh đấm như thế nầy. Cản ngăn mãi không được, cuối cùng Trung Úy Tín phải hứa là hiện giờ các trung đội đều có người, đều quen thuộc địa hình, dễ dàng điều động, thôi làm Thường Vụ tạm thời, thời gian ngắn sẽ cho người hoán đổi. Nhà binh thì chỉ có thi hành lịnh và Thượng Sĩ Điểm rất vui lòng vì biết ông trung úy trẻ tuổi, đẹp trai, thanh liêm nầy rất trọng lời hứa.
Thượng Sĩ Điểm rất gan dạ, với sự yểm trợ hai phía của 6 thằng quân báo, ổng trườn người qua bên kia lộ, và trườn ngược trở lại với ông Đại Bàng trên lưng. Đại Úy Ninh bị thương ở chân, sĩ quan trợ y đã kiểm soát và băng bó cho ông rồi. Trung Úy Tín đưa ổng ngồi tạm ở hố súng cối đào vội vì hai khẩu 60 đã dời vị thế, hướng ngược lại để sẵn sàng hỗ trợ tiểu đoàn.
Có lẽ đám chỉ huy Việt Cộng nóng lòng bởi đã khai pháo, đạn và người áp đảo, nắm yếu tố bất ngờ mà vẫn không tích sự, bèn khai triển ngay mặt đã dự trù là tấn công chính diện. Loạt đầu, cả trung đội VC từ hướng Nam chạy tràn trên mặt đường, vừa bắn vừa hô “xung phong” vang dậy mong cướp tinh thần những người lính cố thủ. Bọn chúng muốn tràn mặt chính nơi cổng chánh, mở đường cho đại đơn vị ập vào làm cỏ một tiểu đoàn trừ với khoảng 200 quân số. Và chắc chắn chúng không ngờ một đại đội đã chuyển quân khi lợi dụng bóng đêm, hai cán bộ điều nghiên của chúng đã… “nhậu say” ngủ ở bụi nào. Hơn nữa, từ đầu trận chúng tôi hoàn toàn im tiếng nên…
Tiếng chân chạy rầm rập trên đường, từng loạt AK chỉ thiên, những tiếng hô thét để… hù thiên hạ. Những mục tiêu di động quá gần, cách họng súng của chúng tôi không đầy 5 thước. Từng loạt đạn vút ra, tiếng đạn cắm vào người xừng xựt, nhứt là những viên đạn tiểu liên đầu tròn 11 ly 45 bay đập vào người nghe bịnh bịch. Toàn bộ đám tiên phong bật người ngã lăn, nằm lỳ trên đường… chẳng thèm ngồi dậy.
Đây có lẽ là lần đầu tiên của hầu hết những chiến sĩ biết đích thân mình giết được bao nhiêu địch. Vì quá cận kề, vì cấp chỉ huy của họ không hề tính là sẽ bị bắn xuyên hông. Háo thắng, u mê là điều tối kỵ. Và cuộc chạm súng vừa rồi chắc họ không hay. Bởi súng ống của họ do khối cộng sản quốc tế tận tình trang bị quá tối tân, nổ loạn cả một khung trời trong khi vũ khí trên tay bọn tôi lạch bạch như là những viên pháo tép trong nồi pháo đại. Họ không nghe và không biết gì hết!
Sau những loạt pháo binh từ sư đoàn rải xuống xung quanh ngoài vòng đai phòng thủ, mấy chiếc trực trăng đã lên vùng. Khi những trái hỏa châu lập lòe vừa tắt, một chiếc trực thăng pha đèn sáng rực xuống trận địa và hai chiếc võ trang bay vòng khạc đạn xuống những đám Việt Cộng đang chạy tán loạn trên đồng. Những tên chỉ huy của Việt Cộng thấy không ổn, cần phải tiếp cận để tránh phi pháo nên những đợt xung phong được thúc đẩy. Thêm những con thiêu thân tiến chạy trên đường.
– Tango 1… đây Charlie.
Máy hệ thống nội bộ kêu lên. Giới chức của Trung 2 đang gọi Trung 1.
– Nghe Charlie.
Trung Đội Trưởng Tú vừa lên tiếng thì giọng Chương vừa thật vừa tếu:
– Ê, Tango 1 nhường sân bớt đi chớ. Chiến lợi phẩm một mình đâu được. Bên nầy buồn ngủ thấy mẹ!
Đang đánh nhau mà thế đó. Lính mà! Hơn nữa hai trung đội trưởng nầy rất thân và về đại đội nầy trước tôi khá lâu. Tú cũng là một tay lão luyện chiến trường, cười bảo:
– Charlie đừng nóng. Hổng mất phần đâu.
– ……
Một lần nữa, đợt xung phong thứ hai của VC bị chúng tôi đốn sạch. Vừa thanh toán xong đợt nầy, Trung Đội 1 được lịnh tràn lên vừa thu lượm vũ khí, vừa bám luôn bên kia đường. Trung Đội 2 của Chương trám tuyến. Kịp thời hai cánh đánh bật đợt xung phong thứ ba trên đường lộ muốn tiến vào cổng trường để khuấy động từ trong. Tất cả mưu đồ của bọn chúng đều thất bại. Chúng tôi căng quân, lập phòng tuyến ngăn trên đường.
Ông đại đội trưởng của tôi đã đi sát với hai trung đội trước, sau khi căn dặn tôi điều chỉnh cho chính xác, yểm trợ theo phương cách ổng đã tận tình hướng dẫn trong những lúc đầu. Ổng là thế đó! Luôn luôn ở tuyến đầu với anh em, cùng đương đầu gánh chịu những hiểm nguy với anh em. Có nghe nói ổng từ là thủ khoa về pháo hay điều không tiền tuyến gì đó nên chấm tọa độ hay gọi yểm trợ thì sát nhíp, hết sẩy. Và đó là lý do tại sao tất cả đại đội luôn chết sống cùng ổng.
Cách điều quân đánh giặc của ông đại đội trưởng làm tôi nhớ đến một điều trong những cuốn sách viết về chiến tranh. Quân đội Do Thái có sự tự hào về mệnh lệnh của họ khác với hầu hết những quân đội khác trên thế giới. Đó là “Theo Tôi” chứ không phải “Đàng Trước… Tiến.” Ông trung úy nầy luôn đi trước và anh em sẵn sàng “Theo… ông.” Hai trung đội đã qua lộ bắt đầu tiến sau những tràng đạn 60 cơ hữu bắn phá mở đường, trong khi hai thằng mặt rỗ vẫn yên vị để phòng thủ mặt sau sợ bị đánh úp.
Hai khẩu 60 ly của tôi có tật khi khai quả là hàng loạt, mỗi loạt không dưới 10 trái và liên tục. Chính vì thế nên thường bị ông Đại Bàng chửi cái thằng Bù “ăn cối” còn hơn ăn gỏi. Lính bên trong đã liên lạc nên biết có tụi tôi phía trước, họ cảm thấy an toàn. Chúng tôi vừa lập tuyến, vừa gom súng địch trong khi tiếng đạn vẫn vi vút bên trên. Tất cả nằm rạp khi ánh hỏa châu bùng sáng, súng quay về hướng địch phòng bọn chúng lại tấn công, và lui sát tường rào khi trực thăng vào vùng bắn đuổi địch lùi xa.
“Tốc”… Ầm! “Tốc”… Ầm!
Tú say sưa, tra đạn M.79 và bắn liền tù tì. Thẩm quyền tới sát bảo:
– Em xài “hột gà” dữ vậy. Coi chừng hết đạn.
Không xoay đầu lại, Tú đăm đăm phía trước, cười nói:
– Đã lắm anh Hai… anh Hai coi nè…
Vừa nói, Tú hơi nâng khẩu phóng lựu M.79 hướng về đám chà cây, bóp cò. Một chớp nháng lửa kéo theo sau là tiếng nổ của trái đạm chạm đích. Những thân người bung ra, bật nghiêng bật ngửa. Phải công nhận là bọn cán binh Cộng Sản Bắc Việt rất gan lỳ… bị bắn là nằm… lỳ luôn, hổng chạy.
Chiếc trực thăng rọi đèn nhiều khi đứng sững, pha những chỗ có địch để hai chiếc kia tắt đèn, bay vòng bắn hạ. Biết cái ác quái là chiếc trực thăng pha đèn nên cây phòng không của Việt Cộng bắt đầu xuất chiến. Từng loạt đạn phóng lên thẳng vào bụng trực thăng nháng lửa từng hồi khiến chúng tôi âu lo nó bị rớt, nhưng… trực thăng vẫn đứng yên, vẫn rọi để chỉ điểm xạ kích.
Từ chỗ đóng quân, bên nầy đường nên chúng tôi thấy rõ nơi xuất phát của khẩu phòng không. Nó ở khoảng dãy đất cao với đường rầy xe lửa. Lấy xạ biểu, gióng hướng và khoảng cách theo tọa độ mà ông trung úy đã chấm. Khi mấy chiếc trực thăng vừa rời vùng là tôi cho hai ông già 60 “ho” liên hồi. Đạn đã trúng đích, ngôi nhà tranh trên kia nơi khẩu phòng không ém đặt bị bốc cháy. Lửa sáng cho chúng tôi dễ dàng thấy qua ống dòm 6×30, những bóng người nhốn nháo trì kéo dường như là khẩu cao xạ. Khoái quá!
Trung Úy Tín bốc máy ra lịnh cho một trung đội càng lên, vượt qua những chướng ngại, lên mãng đồi thấp để tóm lấy khẩu phòng không kia, nhưng Đại Bàng Ninh thì lại tính… chắc ăn, lấy lý do đại đội nhiều chiến công mà không thằng nào bị mẻ xước chút nào nên phải giữ quân. Đại Úy Ninh cầm máy của Trung Đội Nặng ra lịnh không được xông tới. Thế thì… xìu! Quân đội mà! Muốn đớp cây phòng không nhưng… chịu thôi.
Trời đã tờ mờ. Trung đội tác chiến cuối cùng cũng đã “sang sông” tăng cường cho hai trung đội trước. Chỉ có đại đội chúng tôi ở ngoài tường rào của hai trường học. Lập một vòng đai cho BCH Tiểu Đoàn và hai đại đội bên trong. Chúng tôi đã thuận lợi hơn. Việt Cộng không còn khả năng tấn sát với ý đồ “thế cài răng lược” hoặc xáp lá cà để không bị phi pháo. Thêm mấy lần điên cuồng xua quân để nướng, bị nướng bởi ba màn lửa: của chúng tôi tầm ngang; của hai đại đội kia từ trên bắn thẳng; và của “mưa pháo” do hai khẩu súng cối 60 ly tụi tôi liên tục rót đạn chéo ô vuông cày nát từng thửa ruộng bung đầy gốc rạ cùng với xác thù.
Tới đây, tôi không thể nhắc đến một người. Ông Trung Sĩ I Thôn. Ông là người lính kỳ cựu, trước kia là hạ sĩ quan ngành Quân Vận và đã được giải ngũ khi mãn hạn. Trong nhu cầu đất nước chiến tranh, Trung Sĩ Thôn tái ngũ rồi sau đó được thăng cấp trung sĩ I. Ông giữ nhiệm vụ HSQ Tiếp Tế Đại Đội. Anh em thường gọi ông là Anh Ba. Dù ở hậu cứ, ông luôn quan tâm đến Đại Đội. Khi đại đội, tiểu đoàn đụng trận bất cứ ở đâu, ông đều chạy vào khu truyền tin của hậu cứ Tiểu Đoàn để nghe ngóng theo dõi tình hình. Khi nghe các máy trao đổi, ông biết thằng Bù “ăn nhiều” gần cạn “bánh mì” nên rất nóng ruột.
Chạy về hậu cứ đại đội cũng gần bên, ra lệnh cho kho tiếp liệu chất đạn nhứt là các thùng đạn cối, M.79 lên nửa chiếc dodge. Bao nhiêu người ngăn cản nhưng anh Ba nhứt quyết lái đi. Anh “liều” nhưng trong tính toán không liều. Từ hậu cứ Phú Văn xuống nơi chiến trận chẳng xa xôi. Nghe máy, anh đoán biết Việt Cộng không thể có ở mặt bắc vì sợ lực lượng của cả ba hậu cứ trung đoàn, còn thêm Thiết Đoàn 1 Kỵ Binh đóng ở Gò Đậu, còn sư đoàn ở Phú Lợi tăng viện, và tình hình địch… không còn khả năng bung quân. Sau khi hậu cứ Trung Đoàn báo máy cho các toán kích trên quốc lộ, cùng đích thân anh Ba gọi máy báo đại đội rồi pha đèn phóng xe chạy như giông. Dọc đường, nếu có du kích lẻ tẻ thấy xe nhà binh đèn sáng rực thì chắc cũng… “chém vè.”
Biết rành vị trí, anh Ba Thôn một mạch tới nơi. Quẹo cúp vào sân nhà, ông nhảy phốc xuống hét lính mang đạn xuống xe ngay để sử dụng. Tướng người có bụng vậy mà anh lanh lẹ vô cùng, tay xách cây carbine M2 phóng ra tuyến quân, kề cận bên đại đội trưởng. Nghe hai khẩu 60 gia tăng mức độ “cường pháo”, anh Ba vô cùng thích thú.
Hoa nở rồi tàn. Trận chiến khốc liệt rồi cũng còn lác đác bởi địch lui dần. Đại đội chúng tôi bên ngoài cũng không buồn truy đuổi vì quân số ít ỏi. Vàng vọt những tia sáng đầu tiên hơi rựng trên những hàng cây cau cao vút ở chân trời. Lúc nầy, chúng tôi mới cảm thấy thấm mệt.
Thu gom vũ khí, xác Cộng quân xếp dọc lề đường. Đúng 47 tên. Nhìn những thân xác vô tri mà lòng buồn vô hạn. Mộng xâm lăng của cộng sản quốc tế giao cho giặc Hồ làm những tên xung kích bấy lâu tạo biết bao cảnh chết chóc, nhà tan cửa nát, lương dân khốn khổ trăm bề! Giờ đây nhìn bao xác thân của những chú “Sinh Bắc Tử Nam” bó mình trong những bộ ka-ki màu lá mạ nằm bất động, dù nét mặt xám xanh nhưng vẫn thấy rõ họ còn quá trẻ. Những người lính của tôi, lục ví (bóp) của các bộ đội Bắc Việt, đưa cho xem những tấm hình tí xíu, cỡ khoảng 2×2, đa số là một bà mẹ Miền Bắc với vòng khăn đen trên đầu đứng giữa một lũ con nít lô nhô. Tôi muốn tìm xem chú nào ở trong hình nào nhưng tinh thần đã quá nhiều giao động. Bản tính của những người lính Miền Nam!
https://c1.staticflickr.com/1/750/22201798740_c2aa22cdb6_b.jpg
Mặt trời đã lên, một số đơn vị nhỏ rải bung để quan sát chiến trường. Họ không thể tìm thêm vũ khí nhưng mang về một số cây tre dài đã vạt nhánh, cứ mỗi mắt tre có thắt một đoạn dây thừng và đầu dây là một móc sắt dùng để kéo xác nhưng bị pháo nà quá đành bỏ… cây chạy lấy người. Nhìn lại những xác trên đường, ngoài sợi nịt màu nâu với đầu nịt đồng khắc hình ngôi sao, tên bộ đội nào cũng thắt quanh bụng một sợi mây để xác dễ dàng được móc kéo đi tẩu tán.
(47 xác Vi-Xi nầy được chúng tôi huy động dân chúng đào một hố to ở bìa rào của trường Nông Lâm Súc, đối diện xéo trên bên kia đường để chôn cất. Sau năm 1975, và sau khi tôi ra tù về, nghe nói nơi đó bọn Việt Cộng cho xây một đài “liệt sĩ” để những tên cán binh xấu số “ngậm cười” nhìn thành quả cướp bóc, cho dân lành khốn khổ; cho
thiếu nữ VN bán ra nước ngoài; cho thanh niên VN đi làm nô lệ chịu muôn ngàn đắng cay, bị đánh đập đọa đày bởi những chủ nhân ông ngoại quốc; và nhìn những tên cán binh “tốt số” trong những ngôi nhà mới nguy nga, đô-la đầy đống chuyển ngân tẩu tán, được sự bảo kê của quan thầy sau màn cắt đất dâng biển VN cho đàn anh Trung Cộng “vĩ đại” đã có công tiếp trợ vũ khí tận răng để xâm chiếm Miền Nam Việt Nam.)
Vũ khí chất đống. Đạn dược, những cây AK.47, B.41 báng gỗ đỏ au, trung liên nồi của Trung Cộng,… Tất cả đều mới. Chỉ trừ những cây B.40 thân nhỏ như cây gỗ tròn, nhìn thấy bộ cò với loa phụt lửa màu đen mới biết là cây súng. Trong đống chiến lợi phẩm được sắp xếp, có thêm những vũ khí mà mấy anh lính bịnh và hỏa đầu vụ đã lập công đầu.
Kể ra địch cũng điều nghiên khá kỹ, ngoài hai mặt tấn công, bọn chúng dựa vào yếu tố bất ngờ ở chỗ mà quân đội Quốc Gia lơ là. Đó là hai dãy nhà cầu đâu lưng của hai trường ở phía sau. Một tiểu đội đặc công VC đã bò vào nơi đó mà chẳng ai hay. Khi B.40 hay 41 gì đó bắn lên lầu nơi ở của Ban Chỉ Huy Tiểu Đoàn thì cũng là pháo lịnh cho chúng hành động. Bọn chúng bung ra bắn phá, tạo rối loạn ở tuyến trong cũng như phá tường rào cho đại quân tràn ngập. Đám bộ đội đó không dè khi chúng xuất hiện thì những khẩu carbine của Hạ Sĩ Khiết và Binh I Nghiệp, hỏa đầu quân, và Garant M1 của ba bịnh binh nấp sau các bao gạo trong nhà xe bắn hạ không sót một tên.
https://c1.staticflickr.com/3/2761/4345771248_d183ab5ba7_z.jpg?zz=1
Không sót người nhưng… còn sót súng. Khi Thiếu Tướng Phạm Quốc Thuần, tư lịnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, đến quan sát mặt trận, xem thành quả trận chiến và thăm hỏi anh em chiến sĩ, thì trung đội tùy tùng đi theo giữ an ninh đi vòng và “lượm” thêm hai khẩu B.40 nằm trong rãnh nước hông tường. Thiệt tình là tụi tôi chịu thua nếu khẩu B.40 chỉ ló phần đầu. Trông cứ như một khúc cây khô tròn lăn lóc dưới mương thôi. Cũng may là công trạng của thằng Bù khá lớn nếu không thì ông Đại Bàng Ninh sẽ cạo xát da.
https://c2.staticflickr.com/6/5802/22201769610_72b1121374_c.jpg
Đơn vị không thiệt hại gì nhiều. Bên Chỉ Huy chỉ có một HSQ Mỹ tử trận khi nằm mở đèn đọc báo, một cố vấn và tiểu đoàn trưởng bị thương nhẹ vì miểng. Đại Đội 11 có 2 binh sĩ… đi phép dài hạn. Do đó, không trách Trung Úy Chờ, đại đội trưởng, cáu sườn gặp mấy đứa tôi là mắng:
– Mấy thằng Mười tụi mầy vừa đánh giặc vừa ăn cướp. Mấy thằng Việt Cộng trước tuyến là tụi tao bắn. Lính tao chết hai thằng, mà… mà vũ khí tụi mầy thâu hết trơn.
Thông cảm ổng buồn nên chửi một chút cũng chẳng sao. Tôi kéo mấy thằng Quân Báo đi chỗ khác tránh mặt. Thằng Long cứ cằn nhằn:
– Mình trám tuyến giữ mặt ngoài cho ổng. Không cám ơn mà còn chửi.
Tôi kéo tay nó:
– Thôi, ổng buồn. Kệ ổng. Chút trưa, Thẩm Quyền sẽ kéo ra chợ Bún bao tụi mình một chầu bánh bèo bì.
Cả đám cười ha-hả, đi lại coi hai thằng già VC điều nghiên. May phước là Việt Cộng đánh mặt sau nếu không thì thân hình hai chả sẽ như cái rổ xảo. Hai cha còn sống nhăn và… nhăn thiệt, mặt mày xanh lè vì thoát chết, đang được giao cho Phòng 2 Sư Đoàn đem về Phú Lợi…
***
Tên cán bộ xưng là đại úy từ Hà Nội vào Saigon, móc tôi từ khu tử hình để điều tra. Đây là người thứ nhì bảo ở trung ương. Đại Úy Luyến – tên của hắn – cho biết hắn là em ruột của Trần Quốc Hoàn, một thời làm bộ trưởng ngoài Bắc, thuộc ngành Phản Gián, tra hỏi tôi lung tung nhưng hình như không khá. Chừng theo hồ sơ cá nhân, hắn hỏi tôi về đơn vị mà tôi từng phục vụ. Đó là Tiểu Đoàn 3/7 thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh.
Ban đầu, tôi ngạc nhiên về cách thức điều tra của hắn. Hắn bảo tôi đừng chối vì cùng… nghề, nhưng không cùng chí hướng. Nhưng cả buổi cũng chẳng đâu vào đâu. Trước kia, cả đống tên gồm một “đồng nghiệp” báo chí Huỳnh Bá Thành, vẽ hiệu Họa sĩ Ớt, lộ nguyên hình một tên thiếu tá VC cùng với hai tên xưng là trưởng phòng Bảo Vệ Chính Trị 1 và 2, hai tên chấp pháp nhãi con vì tụi nó cũng là sinh viên Luật nhưng thuộc hậu sinh… khả ố quá xa, cả năm tên vây điều tra, hỏi han chận đầu túi bụi mà chưa thấy gì, huống hồ… rồi hỏi về tiểu đoàn, mời thuốc và chăm chú nghe kể về trận đánh đầu năm tại Bún hồi Tết Mậu Thân. Tôi kể đúng, kể thật với một sự thích thú. Cuối cùng, hắn buột miệng:
– Tôi suýt chết trong trận đó!
Ngạc nhiên, tôi hỏi:
– Cán bộ nói đi trong ngành, sao lại dính trong đó?
Mời tiếp tôi điếu thuốc, Đại Úy Luyến mơ màng:
– Tôi có công tác của tôi. Tôi cũng suýt chết ở khu Bình Lợi. Sư đoàn tụi tôi thiệt hại nặng, lần lượt rút về khu. Nhưng khi qua khu vực đó, chúng tôi còn khoảng trung đoàn và thấy chắc ăn khi thấy mấy anh đồn đống lơ lỏng. Phải phục hận! Bộ phận điều nghiên và phương án kỹ càng… nhưng… Giờ thì chắc anh biết tại sao tôi hỏi cặn kẽ việc nầy. Nghĩ không thể thua, mà bị…
– Không ngờ tụi tôi chuyển đội hình à?
– Thế mới bị… Nếu mấy anh truy đuổi khi chúng tôi chạy ra khỏi căn nhà bị cháy thì tôi và ông Tướng Trần Độ chỉ huy hoặc chết, hoặc bị mấy anh bắt rồi. Cũng chết thôi!
– Ủa. Trận đó Trần Độ chỉ huy à?
Sự ngạc nhiên của tôi cũng làm hắn kinh ngạc:
– Bên anh không biết trận đánh đó do Tướng Trần Độ chỉ huy à?
Tôi lắc đầu, hoàn toàn không biết. Tên cán bộ Trung ương lững thững đứng lên, đưa tay bắt (lịch sự) và trầm trầm:
– Cán bộ trại giam sẽ đưa anh về chỗ. Cảm ơn anh đã giải tỏa cho tôi một thắc mắc lớn hơn mười năm qua. Một lần nữa, cảm ơn.
Buồn cười thật, tôi nói:
– Nhưng đến nay là mấy cán bộ đã thắng…
Hắn lừng khừng, lắc đầu, miệng lẩm bẩm:
– Thắng… Bại…
Và lủi đi khi nháng thấy tên cán bộ trại giam đã tới khúc quẹo của hành lang.
Lê Tường Vũ

PHÍA SAU MẶT TRẬN

25 Tháng Ba 201812:47 SA(Xem: 4315)
                

chien-tranh-viet-nam-photo George McArthur
Chiến tranh Việt nam - photo George McArthur

Đây là lần thứ 27, gia đình tôi mừng Lễ Tạ Ơn tại Hoa-Kỳ. Tiết trời đã ở cuối thu. Những cây sồi dọc hai bên đường, tàn lá phủ màu đỏ, màu vàng, dưới bầu trời xanh lơ tạo nên bức tranh tuyệt vời. Tạo-Hóa quả là một danh họa đại tài! Công sở nghỉ, hãng xưởng nghỉ, trường học cũng đóng cửa nên các con, các cháu có dịp họp mặt đông đủ trong phòng khách của căn nhà nhỏ . Đại gia đình chúng tôi ba thế hệ, hòa mình vào không khí vui vẻ, đầm ấm, trong khi bên ngoài, ngọn gió heo may se lạnh thổi về, đong đưa cành lá .
            Hàng năm, cứ đến dịp Lễ Tạ Ơn, báo chí đăng nhiều bài viết, các cơ quan truyền thanh, truyền hình dành nhiều thời lượng để nói về ý nghĩa, nguồn gốc của lễ hội này. Đây cũng là thời điểm  của “ mùa mua sắm” nên các cơ sở thương mại đưa ra nhiều quảng cáo hấp dẫn để thu hút khách hàng.  Nhớ lại, đầu mùa Xuân năm 1990, sau mười lăm năm sống trong tủi nhục, đọa đầy, phân biệt đối xử; gia đình bẩy người, vợ chồng tôi và năm đứa con, như có phép lạ, được đến định cư tỵ nạn tại thành phố lớn hàng thứ tư của Liên Bang Mỹ, có tên gọi thân thương“thành phố nắng ấm tình nồng” và tám tháng sau, đón mừng Lễ Tạ Ơn lần đầu tiên .
        Rời quê hương yêu dấu, mang tâm trạng của người bị lưu đày biệt xứ, không hy vọng có ngày trở về, đến sinh sống trên một đất nước hoàn toàn xa lạ, từ tiếng nói, con người, phong tục tập quán v .v.Làm sao  tránh được những hoang mang, lo lắng, ưu tư. Chúng tôi đã bỏ lại tất cả ngoại trừ nghị lực và quyết tâm. Có thể nói gia đình tôi đã khởi đi từ dưới số không. Con đường trước mặt có biết bao chông gai, vất vả. Với tuổi đời đã ngoài năm mươi, lại gánh chịu thương tật trong thời gian bị giam cầm ở miền Bắc Việt Nam; nhưng vì trách nhiệm dẫn dắt một gia đình lớn, giống như “ thuyền trưởng trong chuyến hải hành” nên dù cho khó khăn đến đâu, vất vả thế nào và  không có chọn lựa nào khác, chúng tôi phải quyết tâm vượt qua, hướng về phía trước để có thể đứng vững trên đôi chân của mình nơi xứ người …
      Thoắt đã trên một phần tư thế kỷ! Hơn hai mươi bảy năm trong dòng sinh hoạt của xã hội mới, phải “vật lộn” với công việc  để kiếm “đô la”. Cũng vì ý nghĩa này mà mấy ông nhà văn, nhà báo, một chút ái ngại và châm biếm, phong cho những người mhư chúng tôi danh hiệu “đô vật”. Đành rằng đó là sự thực nhưng nghe sao  xót xa quá chừng! …Ôi biết bao kỷ niệm!  Khi vui, lúc buồn.  Đã  bao lần hồi hộp lo sợ, căng thẳng khi đối diện với nhiều vụ tấn công của những tên “côn đồ xấu xí có vũ trang”.   Cũng có lúc cảm thấy sung sướng và thầm tạ ơn Trời, tạ ơn Người đã cho gia đình tôi có cơ hội được …”sống”, như  khi tham dự  lễ tốt nghiệp ở các trường trung học, đại học và những dịp tổ chức  lễ  thành hôn cho các con …
Người ta thường nói người già hay tìm về dĩ vãng và thích sống trong kỷ niệm.  Có những kỷ niệm mờ nhạt dần theo thời gian, nhưng cũng có những kỷ niệm là dấu ấn hằn sâu, tồn tại, đồng hành tới cuối đời. Trong căn phòng nhỏ tràn đầy không khí vui tươi đầm ấm và an bình của ngày lễ hội, tôi lâng lâng, mơ màng nhớ về những kỷ niệm xa xưa. Cũng vào dịp cuối thu, hơn năm mươi năm về trước, đúng vào hạ tuần tháng mười một 1965, tính ra tôi mới về phục vụ tại Đại đội Quân Nhu thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh được hơn hai tháng, sau khi tốt nghiệp khóa 19 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ-Đức. Đơn vị của tôi nằm trong  vòng đai căn cứ Phú Lợi, nơi đặt bản doanh Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, 5km phía đông tỉnh lỵ Bình-Dương.Thời điểm này người dân Mỹ đang nô nức hân hoan mừng Lễ Tạ Ơn.  Thực sự lúc ấy tôi không có một ấn tượng nào về lễ hội này.  Hơn nữa, đất nước nhỏ bé của tôi, nhỏ bé nhưng khổ nạn triền miên nên người dân làm gì có thì giờ nghĩ đến những lễ hội đặc biệt ở một xứ sở quá xa như Hoa-Kỳ.  Ngoài việc lao động cực khổ để mưu sinh, người dân nước tôi còn phải đối diện với thảm họa chiến tranh mỗi ngày thêm ác liệt trên khắp chiến trường miền Nam.  Đặc biệt năm 1965, tình hình chính trị cũng như quân sự tại miền Nam rất xáo trộn và đi vào ngã rẽ bất lợi. Từ việc  chính phủ dân sự giao quyền điều hành đất nước cho quân đội đến những trận giao tranh, đụng độ lớn ngoài chiến trường khiến người dân lo lắng hơn và càng thấy  bất an trong cuộc sống.  Cũng từ năm 1965, nếu không có sự can thiệp trực tiếp của binh đội tác chiến Mỹ, không biết số phận Miền Nam Việt-Nam đã đi về đâu ?...
 Sáng hôm ấy, buổi họp tham mưu trên Sư-Đoàn kết thúc sớm hơn thường lệ.  Ông đại đội trưởng, Đại Úy Hà, về tập họp đơn vị, thông báo lệnh của Sư-Đoàn chỉ thị Đại Đội Quân Nhu của chúng tôi phải đưa ngay Trung Đội Chung Sự và tất cả túi đựng xác hiện có lên vùng hành quân gấp; đồng thời phải cử sĩ quan thường trực tại đó để chỉ huy và liên lạc. Lúc bấy giờ, Đại Đội Quân Nhu Sư-Đoàn, theo bảng cấp số có 3 sĩ quan: Đại Đội Trưởng (cấp số Đại Úy), Đại Đội Phó (cấp số Trung Úy) và Sĩ Quan Tiếp Liệu kiêm Thanh Tra (cấp số Trung Úy). Trung Đội Trưởng là các Hạ sĩ Quan.  Có lẽ vì hiểu được công tác lần này rất quan trọng, hơn nữa ông Tư Lệnh Sư-Đoàn và một số trưởng phòng đang có mặt tại vùng hành quân, nên Đại Úy Hà yêu cầu Chuẩn Úy Lành, khóa 17 Sĩ Quan Trừ Bị, về đơn vị trước tôi một năm, hiện là Đại Đội Phó và tôi, cũng Chuẩn Úy, Sĩ Quan Tiếp Liệu kiêm Thanh Tra, mới về đơn vị đươc hơn hai tháng,  cùng theo ông lên vùng xảy ra chiến sự.
 Sau một tiếng đồng hồ chuẩn bị, chúng tôi có mặt tại sân bay dã chiến Phú-Lợi .  Không biết sân bay thiết lập từ bao giờ, rất đơn sơ.  Cả ngàn tấm vỉ sắt ráp lại thành một phi đạo theo hướng bắc nam, dài khoảng hơn một ki-lô-mét, nằm phía trong vòng đai phòng thủ ngoài  cùng của căn cứ.  Căn nhà tiền chế dùng làm “phòng đợi”, bên hông phi đạo, có chừng mươi  hành khách, quân nhân có, dân sự có; không nghe tiếng nói cười ồn ào, ai nấy nét mặt đăm chiêu, lo lắng. Ông Đại Đội Trưởng bận liên lạc với Sư Đoàn trong khi Chuẩn Úy Lành, tôi, và trung đội Chung Sự của Thượng Sĩ Quang, có tăng cường thêm một số quân nhân của trung đội khác, tất cả trên ba chục người tập trung bên ngoài căn nhà tiền chế cùng quân trang dụng và hai trăm túi đựng xác.
  Đã hơn chín giờ sáng, bầu trời như có mây có khói quyện trong ánh nắng cuối thu . Trên những vùng cỏ xanh dọc theo phi đạo, vẫn còn lấp lánh những hạt sương . Bất ngờ,  từ hướng bắc xa xa, âm thanh quen thuộc của cánh quạt trực thăng vọng về, mỗi lúc một lớn dần. Vài quân xa loại nhỏ đang tiến vào sân bay. Lại thêm một chiếc xe jeep hồng thập tự của Đại Đội Quân Y hối hả theo sau . Mọi người hướng lên bầu trời. Một chiếc trực thăng lao tới, đảo một vòng cung nhỏ, hạ thấp cao độ rồi từ từ đậu kế bên phi đạo, trên nền xi măng rộng có chữ H thật lớn sơn màu trắng, phía trước chúng tôi.  Cánh quạt trực thăng chưa ngừng hẳn, xe jeep hồng thập tự tiến lại, quay đuôi xe đến gần cửa phi cơ.  Rất nhanh nhẹn và nhịp nhàng, hai quân nhân của Đại Đội Quân Y mang chiếc “băng ca” đến nhận thương binh.  Có nhiều người lại gần phi cơ.  Người thương binh không kêu la rên rỉ, mặt xạm đen, nằm bất động như đang ngủ say. Có vết máu thấm qua nhiều lớp vải băng quấn quanh đầu. Bộ quân phục tác chiến trên người chưa bị nhàu nát, với hai bông mai bạc(Trung Tá) vẫn còn gắn trên cổ áo; một bàn chân mang vớ (tất) màu trắng, bàn chân kia đã xỏ trong giầy da cao cổ nhưng chưa cột dây. Có những tiếng khóc, nức nở nghẹn ngào …Không ai ngờ rằng người thương binh nằm trên “ băng ca” ấy là vị Trung Tá Trung Đoàn Trưởng, đã tử thương vì trúng mảnh đạn pháo của địch, được đưa gấp từ mặt trận về…..Xe hồng thập tự và đoàn xe chở thân nhân người  “vừa nằm xuống” vội vã rời sân bay. Chứng kiến trực thăng đưa về một vị chỉ huy chiến trường bị tử thương, trong tư thế chưa sẵn sàng chiến đấu và nhìn những túi đựng xác lạnh lùng vô cảm nằm trên bãi cỏ, tôi thấy bùi ngùi xót xa .  Một chút bâng khuâng, tôi nghĩ về trận chiến đang xẩy ra trên vùng hành quân . . .
Hơn mười giờ sáng, phi cơ vận tải quân sự loại nhẹ đổ chúng tôi xuống sân bay đồn điền cao su Michelin, khoảng hai cây số bắc thị trấn Dầu-Tiếng, quận lỵ của quận Trị-Tâm, cách tỉnh lỵ Bình-Dương trên năm mươi cây số. Đại Úy Tấn, Trưởng phòng Tư Sư-Đoàn, chờ đợi tại sân bay và chỉ định nơi tạm trú cho đơn vị tôi tại Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Sư-Đoàn, nằm sát thị trấn.  Ông cũng nhắc lại lệnh của cấp trên là đơn vị chúng tôi phải vào ngay vùng mới xảy ra trận đánh đêm qua, để thu lượm thi hài các quân nhân tử trận.  Ông cho biết thêm chiến sự lắng dịu, địch đã rút lui từ tờ mờ sáng. Hiện có lực lượng Biệt Động Quân đang lo việc an ninh xung quanh, họ sẽ ra khỏi vùng lúc 5 giờ chiều. Sau đó, ông giới thiệu Trung Úy Hậu thuộc Đại Đội Chỉ Huy và Công Vụ của Trung Đoàn 7, người sẽ liên lạc với chúng tôi trong thời gian công tác .
Sân bay của đồn điền giờ này rất đông quân nhân. Có những nhóm nhỏ năm ba người dân thường tụ tập, bàn tán. Họ là gia đình của những quân nhân tham dự trận đánh đêm qua, lặn lội từ xa, đến đây trông ngóng tin tức người thân . Những tiếng rít xé rách không gian của oanh tạc cơ truy quét địch quân, những tiếng ì ầm của bom đạn còn vang vọng lại. Ông Đại Tá Tư-Lệnh Sư-Đoàn mang kính đen, ngồi bất động trên xe jeep, hướng ra phi đạo. Trong khi chờ trực thăng đưa vào địa điểm công tác, Trung Úy Hậu tâm sự: Đúng một tuần lễ trước đây, Trung-Đoàn 7 đã lập công lớn, đánh tan một trung đoàn địch và đêm qua tổ chức lễ khao quân. Nào ngờ địch tái phối trí, bất thần tấn công phục thù vào lúc mọi người đang  “say sưa” trong chiến thắng. Địch khởi sự tiến đánh lúc hai giờ sáng. Vẫn chiến thuật cổ điển tiền pháo hậu xung. Mở màn là những trận mưa pháo. Không biết địch có cài tiền sát viên nội tuyến hay chăng, mà phần lớn đạn pháo của địch rơi rất gần Bộ Chỉ Huy và các đơn vị bảo vệ xung quanh . Sau đó  địch tấn công phá vỡ tuyến phòng thủ phía đông và bắc, tạo thành hai mũi nhọn, tiến thẳng vào. Trung Úy Hậu ngừng kể vì lúc ấy có đoàn trực thăng xuất hiện trên bầu trời và ít phút sau, Đại Úy Tấn phòng tư, Đại Úy Hà, Trung Úy Hậu và chúng tôi đã nhanh chóng ngồi trên bốn chiếc trực thăng đưa  đến địa điểm công tác, nơi mà đêm qua đã tổ chức tiệc khao quân mừng chiến thắng. Từ trực thăng nhìn xuống, rừng cao su bạt ngàn phía dưới, chia thành những lô tựa như ô vuông của một bàn cờ. Có những làn mây trắng mỏng lướt trên ngọn cây.  Khu vực này nằm trong tầm súng cối từ Dầu Tiếng, có tên gọi khá đặc biệt “làng 13 Bis”,nơi sinh sống của những người phu cạo mủ của đồn điền. Họ nằm trong số hàng chục ngàn người được thuê mướn từ miền Bắc, miền Trung, dưới thời Pháp thuộc, từ nửa đầu thế kỷ hai mươi, đưa vào phục vụ cho các đồn điền cao su ở miền Nam Việt Nam với tên gọi “dân mộ phu Nam Kỳ”. Cái tên gọi làng 13bis, dĩ nhiên với những ai tham dự trận đánh năm nào, nếu còn sống sót, chắc không thể quên. Riêng tôi, mấy chục năm sau, dù cuộc chiến đã đi vào dĩ vãng, vẫn chưa tìm hiểu tại sao lại có tên làng 13Bis? Tôi cũng chưa có dịp đặt chân đến làng 13Bis lần thứ hai. Không biết địa danh này và con số 13 có liên hệ gì đến số phận của những người đã nằm xuống ?
 Trực thăng hạ cánh trên con đường đất phân ranh lô cao su, thả chúng tôi xuống rồi bay đi.  Đã có gần chục chiếc xe vận tải dân sự mui trần, được trưng dụng, đậu trên đường để chở thi hài ra sân bay. Hai bên thành xe và hai bên cánh cửa phòng lái tài xế, có sơn tên công ty cao su.  Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn đặt trong căn nhà gạch lớn, nằm giữa bãi cỏ rộng, sát đường đất phân lô; xung quanh có pháo đài và ụ chắn bằng bao đựng cát. Hai bên và phía sau tòa nhà là rừng cao su thẳng hàng cao vút. Đó đây, thấp thoáng trong rừng cao su, vẫn còn những cụm khói vươn lên, nhưng không qua khỏi tàn cây.
Chúng tôi chia thành 5 toán,  từ trung tâm là chỗ đậu xe vận tải, đi dần ra vòng đai bên ngoài. Trong tầm nhìn một vòng tròn bán kính khoảng hơn trăm mét, quanh nơi đặt Bộ Chỉ Huy, hàng trăm xác nằm la liệt dọc theo đường mương hai bên con đường đất, dưới gốc cao su, trên miệng hố cá nhân, trong đám cỏ xanh.  Rải rác quanh đây có những xác địch chưa kịp mang đi. Dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, cảnh tượng ấy vẫn còn nguyên trong trí nhớ. Chúng tôi bắt tay ngay vào việc thu lượm. Có xác nằm sấp, úp mặt xuống đất, một tay bám vào chiếc nón sắt dùng làm nồi đựng gạo, chưa kịp nấu thành cơm.  Có xác nằm ngửa,  tay chân dang rộng, đôi mắt còn hé mở, như muốn nhìn thêm lần nữa cảnh vật trên trần thế. Có những xác nằm đè lên nhau giống hình chữ thập. Cũng có xác phần thân thể phía dưới còn trong hố cá nhân, đầu, mình và hai tay trên mặt đất, trong tư thế sẵn sàng nhả đạn . Có xác gục đầu, bó gối, chết trong hố cá nhân, phải khó khăn  mới đưa lên được. Lại có xác ngồi  tựa lưng vào gốc cây, đầu ngả sang một bên, như đang ngủ gục. Xúc động hơn nữa là khi lượm những xác không còn nguyên vẹn. Nhưng rất may, chúng tôi gom lại được những phần thiếu sót như cánh tay hoặc những ống chân  v.v vướng trên các cành cây cao su hoặc trong đám cỏ gần đó. Không biết có văn bản nào quy định tư thế một người khi lìa trần?  Nằm sấp, nằm ngửa, nằm nghiêng..? Lại còn y phục nữa? Quần áo che thân đầy đủ hay…giống như một số xác địch để lại chiến trường, chỉ một chiếc áo bà ba đen ngắn tay và một chiếc quần đùi màu đen khi ra mặt  trận, để đổi lấy danh xưng anh hùng “sinh bắc tử nam” hoặc âm thầm làm phân bón những gốc cao su!  Bên cạnh những xác người, trận địa còn vương vãi lăn lóc những chiếc nón sắt, những đôi giầy trận, những chiếc gà men đựng cơm v.v. Đặc biệt có vài ba đôi giầy phụ nữ gót cao và  những chiếc ví da xách tay loang vết máu … . Năm ấy tôi đã 26 tuổi; không phải lần đầu trong đời nhìn thấy xác chết. Tôi vẫn nhớ nạn đói xảy ra ở miền Bắc Việt Nam năm 1945 mà người ta gọi là nạn đói tháng Ba năm Ất Dậu, cướp đi cả triệu mạng sống.  Tôi đã thấy người chết được rắc vôi, phủ bằng tấm chiếu hoặc tấm vỉ đan bằng cói trên những xe bò, do người kéo đi chôn.  Đến cuối thập niên 1940, vì tò mò theo người lớn đi xem đội “Việt Hùng” của Việt Minh xử những người mà họ gọi là “Cường Hào Ác Bá”, tôi đã thấy những xác người bị cắt ngang cuống họng, có xác bị móc hai mắt, nằm phơi mình trên bờ ruộng, bờ ao.  Thuở ấy, tuy là một đứa bé, chưa biết biểu lộ xúc cảm trước cảnh thương tâm, nhưng hình ảnh các tử thi đã in vào trí não. Gần hơn nữa, chỉ ít tháng trước ngày mãn khóa, khi còn là Sinh Viên Sĩ Quan, chương trình huấn luyện có những buổi đến thăm viếng và thưc tập ở đơn vị Chung Sự, nằm trong Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp  (Lúc đó chưa có Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa). Thực tình cờ, tháng 6-1965 chúng tôi theo lịch huấn luyện, đến thăm nghĩa trang đúng vào thời điểm xảy ra trận chiến Đồng-Xoài, cách Saigon khoảng tám mươi cây số về hướng đông bắc, thuộc tỉnh Phước-Long.  Phòng lạnh để ướp xác đầy ắp, không còn chỗ trống.  Thi hài quân nhân tử trận mang về, chờ tẩm liệm, phải để tạm trong nhà quàn, phòng tang lễ, ngoài hành lang v.v. Trở lại quân trường, trong phòng ăn của sinh viên; bữa cơm trưa hôm ấy, nằm giữa những cọng giá xào, nổi bật màu nâu tím và bóng láng của những miếng gan heo, tôi liên tưởng đến màu da của các thi hài trong phòng lạnh ướp xác ở nghĩa trang nên không thể thản nhiên nuốt trôi hạt cơm …
Tốc độ thu lượm khá nhanh và gọn vì các thi hài  nằm xung quanh  Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn rất gần nơi đoàn xe đang đậu. Hơn nữa tử thi còn mềm nên khi để vào túi đựng xác, có thể đặt nằm ngay ngắn, kéo “phẹc mơ tuya”, di chuyển và để lên xe vận tải dễ dàng.  Đại Úy Tấn phòng Tư và Đại Úy Hà cũng phụ đưa túi xác đến gần xe. Nhưng chưa lượm hết tử thi quanh Bộ Chỉ Huy và đơn vị phòng thủ phía trong, số túi xác mang theo chỉ còn một nửa .  Đã hai giờ trưa . Đại Úy Tấn và đại Úy Hà được một trực thăng  đón ra Bộ Tư Lệnh Hành Quân. Trung Úy Hậu Trung đoàn 7 ở lại làm việc cùng chúng tôi.  Trước khi đi, hai ông yêu cầu công tác thu lượm tiến hành nhanh hơn và tập trung lên xe vận tải, di chuyển ra sân bay trước 5 giờ.  Đại Úý Tấn còn cho biết sẽ xin Quân Nhu bổ sung túi đựng xác. Bổ sung túi đựng xác !! Câu nói này tôi nghe chưa quen ! Quân Nhu không là đơn vị trực tiếp chiến đấu ngoài chiến trường . Quân Nhu lo cho quân nhân từ ngày đầu tiên nhập ngũ . Thực phẩm, quần áo, mùng mền v.v. là những nhu cầu trước tiên. Phải ăn no mặc ấm mới có sức đánh giặc. Khi hy sinh đền nợ nước, Quân nhu sẽ lo nơi yên nghỉ cuối cùng, mồ yên mả đẹp. Thông thường, các đơn vị chỉ xin tiếp liệu phẩm ngành Quân Nhu như gạo, lương khô, quân trang, xăng dầu v.v. Thực hiếm khi nghe có binh đoàn  xin bổ sung túi đựng xác,  món hàng có chỉ danh “ đẹp” nhưng chẳng ai thích nhắc đến và dĩ nhiên không ai muốn sử dụng nó ...
Chúng tôi mỗi lúc một đi xa đoàn xe vận tải. Hình như khiêng một người còn sống nhẹ hơn khiêng một xác chết bất động nên công việc thu lượm có chậm hơn trước.  Ra tới vòng đai phòng thủ thứ nhứt, túi đựng xác đã hết. Công việc  tạm ngừng và tất cả thi hài đã chất lên xe. Kiểm điểm lại quân số xong, chúng tôi nhanh chóng phân chia đứng trên các xe vận tải rời khỏi khu vực này. Trời cuối thu, ngày ngắn dần. Những đám mây xám đục di chuyển chậm chạp trên bầu trời. Cảnh vật đang chìm dần vào hoàng hôn. Khi đoàn xe về đến sân bay, hai phi cơ vận tải quân sự đã chờ sẵn. Chia thành hai toán, chúng tôi lại khiêng túi xác từ xe tải chất vào trong phi cơ, xếp ngay hàng thẳng lối xong, trời đã tối . Hai phi cơ rời Dầu Tiếng, bay về phi trường quân sự Tân Sơn Nhất .  Đại Úy Hà đã theo trực thăng về đơn vị từ chiều, giao lại chúng tôi dưới sự điều động trực tiếp của Đại Úy Tấn phòng Tư. Thị trấn Dầu-Tiếng xa xôi hẻo lánh, mới 8 giờ tối mà như khuya lắm.  Mọi người mệt mỏi chìm vào giấc ngủ sau khi dùng một trong hai khẩu phần lương khô mang theo.
  Sáng hôm sau, chúng tôi ra sân bay nhận thêm một trăm túi đựng xác. Đồng thời nhận thêm một trăm poncho(áo mưa), từ Đại Đội gửi lên để phòng hờ khi cần. Hôm nay chỉ có Trung Úy Hậu thuộc Trung Đoàn 7 đi cùng chúng tôi. Trước khi khởi hành, Đại Úy Tấn Phòng Tư Sư Đoàn yêu cầu việc thu lượm phải hoàn tất trong ngày hôm nay. Đoàn trực thăng đưa chúng tôi vào vùng sớm hơn hôm qua trong khi những  xe vận tải đã vào làng 13bis từ mờ sáng .
Hôm nay việc thu lượm khó khăn hơn vì tầm hoạt động rộng và đoạn đường đem thi hài ra xe vận  tải xa hơn. Chúng tôi vẫn chia thành toán, từ trung tâm, tiến dần ra tuyến phòng thủ thứ hai. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp xác địch quân giữa đám cỏ dại. Lực lượng Biệt Động Quân còn hoạt động ngoài xa và trên bầu trời, một chiếc máy bay quan sát  chao lượn. Đã hơn hai giờ trưa. Gần sáu tiếng đồng hồ liên tục, như một cái máy, nào lượm xác cho vào túi, nào gói xác trong áo mưa, rồi khiêng xác di chuyển trên mặt đất không bằng phẳng và chất lên xe vận tải. Túi đựng xác và áo mưa cũng săp hết. Phòng Tư Sư Đoàn nhận được báo cáo, chỉ thị chúng tôi tiếp tục, dù không còn túi đựng, và phải đưa thi hài về càng nhiều càng tốt. Cho dù thực sự thấm mệt, nhưng đây là nhiệm vụ, chúng tôi phải hoàn thành một cách tốt đẹp nhất.Trong đầu óc chúng tôi giờ này chỉ nghĩ đến lượm xác và lượm xác . Chúng tôi không còn biểu lộ cảm xúc trước những người vừa nằm xuống. Mắt chúng tôi mờ đi không phải do những giọt lệ thương cảm mà do những giọt mồ hôi. Cứ đưa thi hài ra xe vận tải, mất cánh tay, mất bàn chân, mất ….dù không nguyên vẹn, vẫn phải đưa về…
Trời đã xế chiều, mặt trời xuống dần, chúng tôi được lệnh ra khỏi vùng dù chưa đi tới vòng đai ngoài xa nữa. Đoàn xe chở thi hài về đến sân bay đồn điền gần thị trấn Dầu-Tiếng, trời đã tối . Một vài ngọn đèn điện không đủ sáng , Sư đoàn điều động năm sáu chiếc quân xa nổ máy và rọi đèn để  chúng tôi làm việc. Tại sân bay, cũng như tối hôm qua, chúng tôi chia thành hai toán, mỗi toán phụ trách chuyển xác vào trong lòng một  máy bay. Lần lượt túi đựng xác xếp lên trước rồi tới áo mưa “gói” xác, rồi tới các thi hài  không có gì bao bọc. Thoạt đầu xếp thành hàng lớp ngay ngắn, nhưng vì số lượng nhiều, phải tranh thủ thời gian nên chúng tôi được lệnh cứ chất vào đầy phi cơ. Lúc này, thực khó khăn cho chúng tôi, xác tử thi đã bắt đầu phân hủy, bốc mùi hôi thối nồng nặc. Đã có những dòng nước từ thi hài thấm qua quân phục, chảy lan trên sàn xe, sàn tầu bay, đọng trên mặt đất, nền phi đạo . Các quân nhân phải thay phiên, luân chuyển, khi thì trong khoang tàu, khi thì ở dưới đất để thay đổi không khí trong buồng phổi. Dĩ nhiên chúng tôi không thu lượm xác địch quân. Nhưng không ngờ, trong lúc mệt mỏi, các toán đã sơ ý lượm hai “xác lạ” chở về sân bay và đã phát hiện kịp thời trước khi đưa vào phi cơ . Chính quyền địa phương sau đó giải quyết những xác này. Cuối  cùng tất cả những thi hài thu lượm từ trận địa ngày hôm nay, ngày kết thúc, kể cả thi hài không có gì gói ghém, bao bọc đã được chất trên hai vận tải cơ, chuẩn bị đưa về sân bay Tân Sơn Nhất. Đại Úy Tấn để chúng tôi chọn lựa : theo máy bay chở xác về Tân Sơn Nhất hoặc chờ vài ba ngày có máy bay khác lên đón. Sau cùng chúng tôi quyết định theo máy bay về Saigon ngay tối hôm đó. Chỉ sau một giờ bay, phi cơ hạ cánh. Ra khỏi máy bay, tôi tưởng như mình vừa thoát khỏi âm ty địa ngục, dù chưa biết âm ty địa ngục như thế nào!  Sau khi làm vài động tác hit thở, tôi đã tỉnh táo hơn, dễ chịu hơn. Suốt chặng đường bay một tiếng đồng hồ ngồi chung con tàu đầy xác người đã bốc mùi hôi thối , chiếc khăn tay luôn che mũi và miệng, quả thực chúng tôi choáng váng nhận ra không sợ phải sống cạnh xác người mà sợ mùi bốc ra từ xác người đã rữa nát ấy…
Sáng sớm hôm sau, đơn vị cho xe đón chúng tôi về Phú-Lợi . Riêng tôi, công  việc đầu tiên là vứt bỏ ngay, không thương tiếc tất cả y phục, giầy vớ v.v mặc trên người. Thế mà cả tuần lễ sau, tôi vẫn thấy hình như mùi “đặc biệt”, khó diễn tả, từ xác người đã bị phân hủy ấy, vần còn bám trên người tôi, vẫn còn quanh quẩn đâu đó….
Thời gian trôi nhanh, trên nửa thế kỷ qua đi, tôi vẫn không quên kỷ niệm cuộc “hành quân”đầu tiên trong đời binh nghiệp tại làng 13Bis. Hình ảnh những  thi hài dù được thu lượm về hay còn nằm phơi mình dưới nắng mưa ngoài trận địa, hoặc được chôn vùi một cách đơn sơ trong rừng sâu khiến tôi tự hỏi tất cả những hy sinh của họ đã được đền bù xứng đáng chưa? Đem thể xác yếu như “cây sậy” của họ thách thức bom đạn, để phục vụ một lý tưởng nào quá xa xôi và mơ hồ, liệu có tàn nhẫn không? Những danh hiệu, những mỹ từ, những truy phong, truy tặng v.v có đủ để đánh đổi mạng sống của họ hay chăng? Dù gì đi nữa, một điều chắc chắn là thân xác những người đã hy sinh ấy nay đã thành “cát bụi”…Và không biết ba mươi năm chiến tranh Việt Nam 1945-1975 mà nhiều người gọi là cuộc chiến tranh “phúc đức”, có bao nhiêu triệu người dân Việt trở thành cát bụi ?

Triệu-Vũmùa Tạ Ơn 2017.

Đời Sĩ Quan Tiền Sát Pháo Binh: Trên Mặt Trận Dầu Tiếng


1- Lên Dầu Tiếng 
Về Bến Cát được ít lâu thì Pháo Đội chúng tôi được lệnh đi Dầu Tiếng. Tiểu Đoàn Trưởng Võ Văn Sáng đã phân phối như sau: Tôi (Thiếu Uý Khôi, Pháo Binh Khoá 14 Thủ Đức) làm Tiền Sát cho Tiểu Đoàn 2/7 mà Tiểu Đoàn Trưởng là Đại Uý Lường (?). Thiếu Uý Kỳ, Pháo Binh Khoá 16 thì được cho làm Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh bên cạnh Trung Tá Nguyễn Văn Tư, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 7 Bộ Binh.
Vì cũng thấy rõ ràng là sự phân phối này hoàn toàn không hợp lý, nên Đại Uý Sáng đã gọi phone cho tôi nói là: “Thiếu úy là sĩ quan đàn anh của Thiếu Úy Kỳ, lẽ ra phải để thiếu úy làm Sĩ Quan Liên Lạc bên cạnh Trung Tá Tư mới đúng, nhưng thiếu úy vừa thông minh lại vừa lanh lẹ hơn, nên thiếu úy hãy chịu khó đi với Tiểu Đoàn 2/7 nhé. Họ sẽ là tiểu đoàn đi mở đường từ Chơn Thành vào Dầu Tiếng, việc này Thiếu Uý Kỳ không thể bằng thiếu úy được đâu”.
Mọi người đều biết chắc là cái lý do mà Đại Uý Sáng đưa ra chỉ là giả tạo, cái lý do chính là bà vợ của cái ông Đại Uý Sáng này rất ghét tôi, tôi đã chụp hình đứa con nhỏ của hai ông bà này khi họ lên Bình Dương thăm pháo đội năm nào, nhưng tôi lại đã không đưa cho ông bà cái hình ấy dù bà ta có hỏi tôi.
Tôi không đưa tấm hình ấy được vì tôi đã bỏ mất nó ở đâu đó rồi, nên bà đã ra lệnh cho ông ấy phải “trù” tôi như trước kia đã không cho tôi đi Bến Súc và lần này thì không cho tôi làm Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh bên cạnh trung đoàn trưởng Trung Đoàn 7 Bộ Binh. Đại Uý Thái Pháo Đội Trưởng và Trung Uý Thinh cũng như Trung Uý Minh và nhất là các binh sĩ trong toán của tôi đều bất mãn cho tôi, nhưng cũng không ai làm gì được. Riêng tôi thì cũng tốt thôi, tôi không hề hối hận vì đã làm mất lòng bà Tiểu Đoàn Trưởng. Ngay cả ông chồng của bà là ông tiểu đoàn trưởng, tôi cũng chẳng coi vào đâu.
Thế rồi vào một buổi tối, tôi nói là buổi tối vì khi đoàn xe bắt đầu lăn bánh để lên Chơn Thành thì đã thấy mọi nhà trên Bến Cát bắt đầu lên đèn, cả Trung Đoàn 7 Bộ Binh và Pháo Đội chúng tôi đều lên xe, dĩ nhiên là tôi phải đi với Đại Uý Lường. Đoàn xe đi được chừng 15 hay 20 phút thì chúng tôi nghe thấy tiếng súng nổ ở một bên bìa rừng và đoàn xe phải tạm dừng lại chờ lệnh. Chúng tôi ai cũng phân vân không biết là địch nhiều ít thế nào.
Một lúc sau chúng tôi được thông báo là cuộc chạm súng vừa rồi chỉ là do ngộ nhận, quân ta đã bắn lầm vào quân bạn. Toán lính mở đường đã nhìn thấy một vài cái nón tai bèo đang len lỏi ở phía xa trong rừng nên cho rằng đó là tụi Việt Cộng, đâu có biết rằng đó là toán Biệt Kích mà Sư Đoàn đã cho đi mở đường trước! Điều đang trách ở đây là Phòng Hành Quân trên Sư Đoàn đã không thông báo cho Trung Đoàn biết sớm để câu chuyện đáng tiếc khỏi xẩy ra.
Chẳng biết là có bao nhiêu kẻ đã bị thương hay bị chết vì sự thiếu sót vừa nói, chỉ biết là sau đó khi có lệnh cho đoàn xe được tiếp tục di chuyển thì chúng tôi thỉnh thoảng có nghe thấy những tiếng lốp bốp ở dưói gầm xe do bánh xe đã cán vỡ sọ của mấy cái xác chết trên đường. Ai chịu trách nhiệm về những sự việc chết chóc kiểu này đây? Không hiểu là ông Thiếu Tướng Trần Thanh Phong nghĩ thế nào khi được báo cáo về vụ này nhỉ? Mới bắt đầu cuộc hành quân mà đã sui như vậy, không trách được là sau này…
Tới Chơn Thành rồi, chúng tôi phải xuống xe và bắt đầu băng rừng về phía dầu Tiếng. Tiểu Đoàn 2/7 của tôi phải đi mở đường, nghĩa là phải đi trước vừa dò địch, vừa chặt cây, dọn đường cho Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn và mấy Tiểu Đoàn khác cùng Pháo Đội của chúng tôi theo sau …và rồi khi đến gần Dầu Tiếng, Tiểu Đoàn 2/7 sẽ dừng lại để chờ mọi người qua mặt, còn mình thì đi sau cùng.
2- Trận mở màn trên Dầu Tiếng.
Chật vật 3, 4 ngày đêm, chúng tôi mới vào được gần Quận Dầu Tiếng. Tới lúc đó Tiểu Đoàn chúng tôi lại phải dừng lại để trở thành Tiểu Đoàn bọc hậu cho Trung Đoàn và mấy Tiểu Đoàn kia cùng Pháo Đội Súng của chúng tôi vượt lên. Đêm thứ nhất khi chúng tôi làm hậu đội thì không có chuyện gì xẩy ra, chỉ đến đêm thứ hai hay thứ ba gì đó, lúc cả Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn lẫn pháo đội của chúng tôi đang sửa soạn để hôm sau tiến vào Quận Dầu Tiếng thì có chuyện. Trong các cuộc hành quân, chúng tôi phải thức dậy hay đi ngủ theo mặt trời, cứ khi nào mặt trời bắt đầu ngả xuống là chúng tôi cũng sửa soạn chỗ ngủ và khi nào mặt trời sắp xuất hiện là chúng tôi đã phải thu dọn chăn màn hay nói cho đúng hơn là đã phải dọn dẹp đồ ngủ, như xếp võng và poncho lại, cho vào túi đeo lưng để sẵn sàng đi tiếp. Khoảng hơn 6 giờ tối hôm đó khi Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi sắp sửa ngủ thì mìn chiếu sáng mà chúng tôi đã gài sẵn ở chung quanh vị trí đột nhiên bắn vọt những tia sáng lên, cái đó cho thấy là nghĩa là tụi Việt Cộng đã mò tới và chúng đã vướng phải những cái mìn chiếu sáng kia. Chúng tôi ai nấy đều vội vàng vào tư thế chiến đấu, riêng tôi thì tôi đã phải gọi ngay về Trung Đội Súng tại Dầu Tiếng để xin sẵn sàng yểm trợ, đồng thời tôi cũng báo cho Pháo Đội của tôi lúc đó đang nằm bên cạnh Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn để họ đề phòng.
https://i2.wp.com/vnafmamn.com/ARMOR/Artillery_arvn1.jpg
Tôi phải nói thêm là tôi không thể nhờ Pháo Đội này của chúng tôi để yểm trợ chúng tôi được, lúc đó mấy khẩu súng của Pháo Đội chỉ có thể trực xạ để bảo vệ chính mình thôi chứ không thể yểm trợ cho ai được hết vì súng đã chưa có gióng hướng.
Anh em binh sĩ của tiểu đoàn có bắn ra những nơi mà mìn chiếu sáng đã bị đụng phải, đây dĩ nhiên chỉ là bắn vu vơ thôi, nhưng không thấy có bắn trả, tình trạng này kéo dài trong khoảng 5 hay 10 phút, khiến cho tôi nghĩ rằng mình không phải là mục tiêu của chúng, chắc chúng định đánh úp Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn, do đó tôi gọi ngay về Pháo Đội cho Đại Uý Thái biết cái ý kiến của tôi. Tôi đã nhắc Đại Uý Thái là Đại Uý nên cho Pháo Đội sẵn sàng trực xạ, chúng nó sẽ hỏi thăm đại úy ngay bây giờ đó! Vài phút sau, phải, chỉ vài phút sau thôi là tôi đã nghe thấy có tiếng súng tay nổ ở phiá đó cùng với tiếng súng lớn bắn trực xạ nữa. Thế là tôi quay trở về chỗ ngủ của tôi để ngủ lại.
Sáng hôm sau, mấy tên lính của tôi mới khen tôi:
– Thiếu úy can đảm thật, tối hôm qua bắn nhau như thế mà thiếu úy vẫn ngủ được!
Lúc đó tôi mới trả lời họ:
– Lúc đó, nếu tao không ngủ thì còn làm được gì nữa đây, khi chúng đã gần như trộn lộn vào với chúng ta như vậy rồi. Lúc đó chẳng thể nào dùng Pháo Binh của mình được mà là phải dùng súng tay thôi, cái đó là việc của Bộ Binh, chỉ khi nào nó tới được chỗ này thì lúc ấy tao mới phải thức dậy chứ (sự thực thì tôi ngủ được là vì tôi rất dễ ngủ. Ở trong Đại Học Xá Minh Mạng mà không dễ ngủ thì chỉ có chết thôi. Nằm trong phòng mà đèn để sáng suốt đêm, thỉnh thoảng lại lào xào tiếng xoa mạt chược cộng với tiếng bàn tán ầm ĩ của ít nhất là bốn tay chơi bài thành ra không thể không dễ ngủ và do đó, dần dần thành quen thôi).
Thế rồi cả trung đoàn chúng tôi sửa soạn kéo nhau vào Quận Dầu Tiếng. Trong khi sửa soạn tiến vào trong quận, đại úy tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2/7 có nói với chúng tôi (anh em trong Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn) là: “Chúng ta sắp có được một cái may lớn lắm, tao không hiểu là may như thế nào, nhưng chắc chắn là …rất may”.
Tụi tôi có hỏi là “Tại sao đại úy lại nói thế?”
Ông ta trả lời rằng “Tao đã kinh nghiệm nhiều lần rồi. Mỗi khi tao nằm mơ thấy một giấc mơ tương tự thì lần nào cũng gặp một cái may lớn. Tao nghĩ là trong mấy ngày tới chúng mình sẽ có được một cái may đặc biệt và bất ngờ”
Lúc bấy giờ tôi mới nói là: “Vào Dầu Tiếng rồi thì tiểu đoàn mình được nghỉ lại ở đó trong khi mấy tiểu đoàn kia phải tiếp tục đi nữa, như vậy là chúng mình sẽ gặp may rồi chứ còn gì nữa!”
Đại úy lắc đầu, nói rằng “Cái chuyện tiểu đoàn mình được nghỉ ở DầuTiếng thì là chuyện dĩ nhiên rồi, cái đó đã được định từ trước, đã có ghi sẵn trong Dự Lệnh Hành Quân. Cái may sắp tới của chúng mình là cái may khác cơ! Cái may mà chúng ta sắp gặp không phải là cái vụ chúng mình được nghỉ đâu”.
Nghe được lời khẳng định của Đại Uý như vậy, chúng tôi đều nghĩ rằng nếu đã chắc chắn là sẽ gặp được một cái may lớn thì tốt rồi còn phải thắc mắc làm gì nữa. Đã là sẽ gặp may thì gặp cái may nào mà chả được! Và với tinh thần vui vẻ nhờ những lời nói trên của Đại Uý Tiểu ĐoànTrưởng… chúng tôi tiến vào trong quận.
Vào đến Dầu Tiếng rồi là Tiểu Đoàn 2/7 của chúng tôi được chính thức cho nghỉ tại quận vài ngày và chờ lệnh mới, đúng như đã định.
Vào được trong quận và thu xếp xong chỗ nghỉ rồi, tôi mới đi sang Pháo Đội để hỏi thăm sự việc tối hôm trước, lúc ấy tôi mới biết được những chuyện như sau: Đại Uý Thái bị thương và đã được tản thương đi rồi, Thiếu Uý Kỳ thì không việc gì hết, nhưng chúng tôi đều không biết tại sao mà Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh lại cho Đại Uý Giỏi, Tiểu Đoàn Phó lên thay làm Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh bên cạnh Trung Tá Tư, còn Th.Uý Kỳ thì được điều đi sang một mặt trận khác, đi làm Sĩ Quan Tiền Sát cho Tiểu Đoàn nào đó mà nay thì tôi đã không còn nhớ được nữa.
Đêm hôm trước tôi đã ngĩ rằng Đại Uý Thái sẽ báo cáo lên Tiểu Đoàn cũng như báo cáo lên Phòng Hành Quân Sư Đoàn về cái công của tôi là đã báo trước sự tấn công của Việt Cộng và đã đề nghị họ sẵn sàng trực xạ nên mới đẩy lui được tụi Việt Cộng, nhưng nay thì tôi đã không có được cái may mắn đó nữa rồi, Đại Uý Thái đã bị thương và Trung Uý Minh tạm thời lên làm Quyền Pháo Đội Trưởng.
Về Thiếu Uý Kỳ đã được đưa đi nơi khác, thì mấy tên lính của tôi có nói với tôi rằng: “Rồi Thiếu Uý xem, tối nay Ông Kỳ lại chạy nữa cho mà coi!”
Và đúng như vậy, tối đó chúng tôi lại được nghe thấy tiếng của Thiếu Uý Kỳ trong máy đang cuống quýt gởi điện văn xin tác xạ. Tiểu Đoàn của anh chàng này lại đang bị tấn công!
Sau khi về Pháo Đội hỏi thăm mọi anh em xong, tôi mới thả bộ ra phố chợ Dầu Tiếng chơi. Phố này chỉ có một dẫy nhà nằm dài ở bên hông chợ, chợ ở đây thì nhỏ thôi. Hàng hóa thì không có gì mấy, nhưng nay thì lính tráng đầy đường. Mấy quán nước, hàng ăn đều chật ních những người là người, mà toàn là lính trận! Trong những quán nuớc này, có một quán được mấy ông Sĩ Quan mới tới chịu khó chiếu cố đến nhiều nhất, đó là quán của cô Dung. Cô này trắng trẻo và khá đẹp. Dĩ nhiên là Trung Tá Tư, Đại Uý Giỏi của tôi và Y Sĩ Trung Uý Nhất cũng vào quán này, tôi thì đã ra hơi muộn nên không còn chỗ nào để vào ngồi nữa. Thôi thì để hôm sau vậy, tôi đã nghĩ thế. Nhưng chỉ ít lâu sau tôi lại nghe thấy tiếng của một người lính trong quận nói với một người lính của Trung Đoàn 7 Bộ Binhh, một người bạn của anh ta rằng:
– Bộ mày lại muốn hy sinh vì Tổ Quốc hay sao mà muốn dính vào con Dung này. Nó đã có 1 đứa con trai với một thằng Tầu rồi, nhưng thằng Tầu đó đã bỏ nó từ lâu, và sau này anh chàng lính tráng nào mà định sờ vào nó là đều được Tổ Quốc ghi ơn hết. Đầu tiên là một đại úy, sắp đến ngày ông ta cưới nó thì được lệnh đi hành quân và rồi ông ta đã đi luôn. Sau đó có một chuẩn úy trẻ, anh chàng này mới chỉ muốn cưới cô ta thôi nhưng cũng lại lãnh Tử Thương Bội Tinh! Ở đây ai mà chẳng thấy rằng cô ta quả là đẹp nhất quận này, nhưng có ai mà dám tính đến một chuyện gì với cô ta đâu.
Hôm sau, tôi đã cố tình ra sớm nên đã vào được quán nước của cô Dung này. Cô ta là người Bắc, nhưng đã được sinh trưởng trong Nam. Tôi thấy cô ta quả thật là vừa xinh đẹp lại vừa dễ thương, ăn nói rất dịu dàng thế mà trời lại bắt cô ta chịu một số phận trớ trêu đến thế. Không biết sau này khi đã có thêm được một vài tuổi nữa cô ta có thoát khỏi được cái số phận hẩm hiu này không!
Trong mấy ngày này, tôi cũng đã gặp được Thiếu Úy Phạm Oanh, Sĩ Quan Tiền Sát của Trung Đội đóng ở đây. Thiếu Uý Oanh xuất thân khóa 13 Pháo Binh nên sắp được giải ngũ. Chính anh Oanh này sẽ đưa tôi vào Trường Trung Học Nguyễn Trãi bên Khánh Hội sau này, khi tôi bị tái ngũ.
3- Trung Sĩ Bường của Pháo Đội chúng tôi bị chết. 
Tới tảng sáng ngày thứ ba trên quận Dầu Tiếng thì chúng tôi bị pháo kích. Bộ binh thì không sao nhưng Pháo Binh của chúng tôi thì có chuyện. Trung Sĩ Bường thuộc Trung Đội của Trung Uý Minh đã bị trúng một mảnh đạn vào tim nên đã chết.
Về cái chết của Trung Sĩ Bường này thì Trung Uý Minh có nói với chúng tôi là: “Đúng là cái số của nó bị chết thật. Trước ngày dời Bến Cát để lên đường, Trung Sĩ Bường đã được phép về thăm nhà và thường thì tên này luôn luôn tìm cách trốn hành quân, nên tôi đã nghĩ là hắn sẽ cố tình trễ phép để được ở lại Bến Cát, thế mà lần này hắn lại lên đúng hẹn kịp dự cuộc hành quân này để rồi bị chết. Hơn nữa, hắn lại sắp được giải ngũ đấy”.
Lúc ấy Trung Sĩ Nhất Hao A Dưỡng cũng cho mọi người biết là: “Tôi và Trung Sĩ Bường đã cùng nằm trên một tấm ván kê sát cái xe Truyền Tin mà tôi lại nằm ngoài nữa trong khi anh Bường thì nằm trong. Khi nghe tiếng nổ tôi đã vội vàng lăn xuống đất, chui vào gầm xe để tránh đạn, chui được vào trong gầm xe rồi, tôi không thấy Trung Sĩ Bường nhẩy xuống mà vẫn nằm yên trên ván. Lúc đó tôi đã nghĩ rằng tên này ngủ say thực. Tôi đâu có ngờ! Thật ra thì đạn đã nổ và mảnh đạn đã ghim vào người Trung Sĩ Bường rồi, tôi mới lăn xuống đất.Tôi đã thật may vì tôi thì nằm ở ngoài, thế mà tôi thì không sao trong khi anh ấy lại nằm ở bên trong, sát cái xe Dodge Truyền Tin thế mà lại bị chết!”.
https://i0.wp.com/vnafmamn.com/ARMOR/Artillery_arvn12.jpg
Sau mấy ngày nghỉ ở Dầu Tiếng, Trung Đoàn 7 Bộ Binh lại tiếp tục cuộc hành quân. Chiều hôm đó Trung Đoàn trừ (vì Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi được nghỉ lại ở Dầu Tiếng) lên đường vào làng 13, Pháo Đội B thì tạm thởi nằm tại chỗ để yểm trợ cho cuộc di chuyển, vào khoảng 7 giờ sáng hôm sau mới lên đường để bắt tay với Trung Đoàn trên làng 13.
Vào chừng 6 giờ sáng hôm sau thì dân chúng ở trong quận nghe thấy có tiếng súng nổ ran về phía làng 13. Chúng tôi biết ngay là đụng độ lớn đã xẩy ra nơi đó. Không biết rằng lúc này có ai ở Trung Đoàn gọi về xin bắn không. Nhưng nếu có thì cũng chỉ có 2 khẩu đại bác của Quận Dầu Tiếng là có thể thỏa mãn được thôi, 4 khẩu súng của Pháo Đội B/5 Pháo Binh thì không thể làm gì được vì đã được xếp càng móc vào xe và đã ra đường để sửa soạn di chuyển.
Ngay lúc đó chúng tôi đã thấy là tụi Việt Cộng đã tính toán thật hay về giờ giấc, chúng không cần phải pháo kích vào Pháo Đội làm gì mà vẫn làm câm họng được 4 khẩu súng cơ hữu của Trung Đoàn. Phải tới nửa giờ sau Trung Uý Minh mới ra lệnh cho súng trở lại vị trí cũ, rồi cho gióng hướng lại, nhưng hình như chẳng có ai gọi về xin bắn cả. Một lúc sau chúng tôi mới thấy có phóng pháo cơ và Phi Cơ L-19 bay lên. Phóng pháo cơ thì lên để dội bom quanh làng 13 còn phi cơ quan sát L-19 thì lên thay các Tiền Sát viên dưới đất để tìm tọa độ thích hợp, gửi về cho súng đại bác ở Dầu Tiếng tác xạ.
Mặc dầu rằng trên nguyên tắc thì Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi được nghỉ, nhưng gặp trường hợp này thì ai trong chúng tôi cũng biết rằng cái phép nghỉ đó coi như bị hủy rồi, nên chúng tôi vội vã sửa soạn súng đạn để chờ lệnh lên đường. Nhưng ngay ngày hôm ấy, chúng tôi không nhận được bất cứ một cái lệnh nào. Chỉ ngày hôm sau chúng tôi mới có lệnh tiến vào làng 13. Tới lúc đó chúng tôi mới biết rằng gần như tất cả Trung Đoàn trừ, gần 800 người, đã bị tiêu diệt. Về Bộ Chỉ Huy của Trung Đoàn thì ít ra tôi cũng được biết Trung Tá Nguyễn Văn Tư, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 7 Bộ Binh cùng với Đại Uý Pháo Binh Giỏi, Trung Uý Y Sĩ Nguyển Văn Nhất đều đã bị bắn chết. Chết chung trong đám này còn có 2 cô gái, thực ra là 2 con điếm mà Trung Tá Tư đã mang theo. Sau này tôi được nghe đồn rằng mấy cô này bị Việt Cộng bắn vì chúng cho rằng 2 cô đó là 2 cô Cán Bộ Hộ Lý.
REPORT THIS AD

Trong trận này Sư Đoàn 5 Bộ Binh bị mất một số khá lớn quân nhân, từ Trung Tá đến Binh Nhì. Cũng chỉ sau trận này, mọi người mới vỡ lẽ ra rằng tên nội tuyến chính là tên trung sĩ Truyền Tin của Sư Đoàn, vì ngay sau đó tên trung sĩ này trốn luôn. Thảo nào mà mọi chi tiết của cuộc hành quân đều bị bên địch biết hết (đến đây, tôi nhớ lại vụ ông Tướng Trần Thanh Phong ngày xưa, đã tức mình vì bị một tên lính nào đó chửi đổng trên Chiến Khu Đ, nên đã ra ngay một cái lệnh miệng bắt Trung Đoàn 8 cùng với Đại Đội 5 Thám Báo chúng tôi phải ở lại thêm một ngày, khiến tất cả chúng tôi đã thoát được một trận phục kích quy mô. Lẽ ra, thông minh một chút thì sau nhận được báo cáo về việc chúng tôi có nhìn thấy những hố cá nhân đã được của tụi nó đào sẵn và chỉ ít lâu sau là có cuộc tao ngộ chiến hôm đó, thì toàn thể những sĩ quan trong Bộ Tham Mưu của Sư Đoàn cũng như ông Tướng Tư Lệnh phải để ý xem là tại sao chứ!
Các ông phải tự hỏi là: “Nếu đoàn quân đã ra về theo đúng như dự lệnh thì chuyện gì sẽ xẩy ra? Có phải là cả đoàn quân đã bị tiêu tùng rồi không?” Và chỉ vì ở lại thêm một ngày theo lệnh miệng, không có trong dự lệnh, nên đoàn quân mới thoát được một cuộc phục kích lớn.
Có tự hỏi như thế thì các ông mới biết rằng mọi quyết định gì của Sư Đoàn mà đã qua hệ thống Truyền Tin thì cũng đã bị nội tuyến thấy hết rồi. Như thế thì phải chịu khó báo ngay cho an ninh để họ điều tra tìm ra tên nào là nội tuyến chứ! Mặc dù không được học về an ninh nhưng ngu dốt như tôi thì cũng thấy là ông Tướng có thể loại ngay những người đi theo mình vào Chiến Khu Đ hôm đó khỏi danh sách những kẻ bị nghi ngờ. Còn lại thì dễ thôi.
Lệnh Hành Quân thông thường sẽ phải qua những tay nào, sau đó ra vài cái lệnh giả, rồi theo dõi thì có ngay kết qủa chứ có khó gì. Nhưng nói đi thì phải nói lại, đầu óc của ông Tướng cùng như của mấy ông Tá trong Ban Tham Mưu của ông này thì làm sao có thể có được một ý kiến nào gọi là sáng suốt đây.
Trong trận Dầu Tiếng này, không những địch có tin chính xác về mọi chi tiết về cuộc hành quân mà chúng còn nghiên cứu kỹ cả cái thói quen bê bối của cái ông Trung Đoàn Trưởng Nguyễn Văn Tư nữa, nên chúng đã tấn công đúng lúc, khi mấy khẩu súng đã ra đứng trên đường, chờ di chuyển. Còn binh sĩ của Trung Tá trên làng 13 thì có người chưa kịp xỏ chân vào đôi bottes de saut, có người còn đang đánh răng… tất cả gần như chưa kịp thu dọn đồ ngủ. Như vậy thì còn đánh đấm làm sao được nữa!
Khi Sư Đoàn cho phi cơ lên thì bọn Việt Cộng đã coi như thanh toán xong chiến trường và chúng đã phần lớn rút đi, chỉ còn lại một số nhỏ chưa kịp rút mà thôi.
Ngày hôm sau, Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi mới chính thức được lệnh tiến về làng 13 để diệt những tên địch còn sót lại. Lúc này Đại Uý Tiểu Đoàn Trưởng của chúng tôi mới nói là: “Các ông thấy chưa, tôi đã nói là mình sẽ gặp một cái hên lớn mà! Nếu mình cùng đi với Trung Đoàn thì chắc hôm nay tụi mình cũng đã bị tiêu tùng rồi”. Lúc đó chúng tôi mới thấy được cái may mắn lớn của mình.
Rồi ngay ngày đầu khi tới làng 13 chúng tôi đã bắt được một tên Việt Cộng, tên này đã bị mù cả hai mắt. Ông trung sĩ của tiểu đoàn lấy giây dù trói tay hắn lại một cách hơi thô bạo nên đã bị tên Việt Cộng này hằn học mắng cho là: “Tôi cũng là chiến sĩ như các anh mà các anh đối xử thế này à!”. Tụi tôi ai cũng nóng mắt vì câu nói này nhưng chẳng ai trả lời hắn cả và vẫn để ông trung sĩ kia trói chặt hắn lại, không ai mềm lòng vì hắn bị mù đâu. Đối với tụi Việt Cộng vừa ngu xuẩn, vừa dã man này, thì nếu mình sơ hở một chút là khốn nạn với chúng nó ngay. Dắt tên đó đi theo mình thì mình phải trói hắn lại, nhưng có thể để cho hắn ở bên cạnh mình qua đêm không nhỉ? Đại úy tiểu đoàn trưởng có hỏi ý chúng tôi thì đượcThiếu Uý Ban Ba cho biết là không thể cho cọp ở bên mình được và anh ra hiệu cho ông trung sĩ đem hắn ra xa, bắn bỏ. Lúc đó chúng tôi đều nghĩ là nếu mình thương hại nó thì ai thương hại mấy trăm đồng bạn của mình vừa bị chúng tàn sát đây, hơn nữa dắt hắn đi theo thì có khi mình cũng bị hắn tìm cách giết luôn nữa không biết chừng.
Những ngày sau thì không có chuyện gì đáng kể xẩy ra khi chúng tôi phải ngày ngày đi loanh quanh mấy làng 12 rồi làng 13, làng14, để làm gì nữa đây! Tụi chính quy Việt Cộng thì đã rút đi ngay từ sau khi chúng thành công lớn rồi, đâu còn lại ai nữa mà tìm. Tụi du kích thì lại càng dấu mặt đi chứ chúng đâu có dại gì mà dở thêm trò gì ra lúc này. Chúng biết là sư đoàn sẽ điều động môt lực lượng lớn mạnh lên để trả thù, nên mấy tên du kích này chắc chắn là đã có lệnh nằm im rồi. Nằm im nghĩa là không quấy rối thôi chứ không phải là không theo dõi quân ta.
Thực vậy, trong khi Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi đi loanh quanh mấy làng 12, 13, 14 như vây thì luôn luôn chúng tôi thấy mấy cô gánh qùa bánh, báo chí đi theo để bán cho chúng tôi. Tôi đã nêu nhận xét này với Đại Uý Tiểu Đoàn Trưởng, nhưng ông ta cũng chịu thôi, không có cách nào cấm họ không theo chúng tôi được. Thành ra chúng tôi cũng phải lờ đi, chỉ bảo nhau là phải có ý tứ, không những chính mình mà còn phải bảo cả lính của mình là phải kín miệng, không được nói gì với những cô bán hàng này về sự đi đâu, về đâu và vào giờ nào, ngoài ra còn nếu có thể, thì cố thử dò xem tụi Việt Cộng bây giờ đang ở đâu và còn đang tính gì nữa.
Cuối cùng thì Tiểu Đoàn 2/7 cũng được cho trở về Bến Cát để nghỉ, vì chỉ mấy hôm sau, Tiểu Đoàn 2/8 với Đại Úy Của và môt Trung Đoàn lính Mỹ lên Dầu Tiếng.
Tiểu Đoàn 2/7 thì được cho nghỉ, nhưng tôi thì lại được chuyển sang làm Sĩ Quan Tiền Sát cho Đại Úy Của, Tiểu Đoàn Trưởng của Tiểu Đoàn 2/8, mới được phái lên. Cùng với Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, tôi tiến vào một cái biệt thự bỏ trống, khá lớn và khá đẹp của “Tây Đồn Điền”, tôi vào ngay cái phòng chính và chiếm một chỗ rất đẹp trong phòng để sửa soạn làm chỗ ngủ. Xếp dọn vừa xong thì Đại Uý Của bước vào, sau khi nhìn ngắm quanh phòng một chút, ông ta ra lệnh cho tôi tìm chỗ khác mà làm nơi ngủ, để chỗ đó lại cho ông ta. Dĩ nhiên là tôi phải bỏ lại chỗ đó, nhưng tôi rất bực vì cái giọng lớn lối ra lệnh của ông ta nên tôi thu dọn vật dụng của tôi xong, là tôi kéo 2 tên lính của tôi trở về vị trí đóng quân của Pháo Đội tôi ngay. Lúc đó tôi đã nghĩ rằng khi Tiểu Đoàn này di chuyển thì tôi sang để đi theo cũng vừa vì Pháo Đội của tôi và Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 2/8 này chỉ cách nhau chưa tới 100 mét.
Mấy hôm sau, tôi được Thiếu Uý Mai văn Phú, cùng Khóa 14 Pháo Binh với tôi, đã theo Trung Đoàn 8 lên. Chỉ không biết là anh làm Tiền Sát cho Tiểu Đoàn nào. Anh Phú này cho biết là: “Ông Của không còn thương bạn như xưa nữa đâu”. Thiếu Uý Phú này đã được biết là Đại Úy Của đã từ lâu rất thích tôi vì cái khả năng bắn nhanh, bắn chính xác của tôi, nay thấy ông ta không thích tôi nữa nên mới nói cho tôi hay.
Tôi đã trả lời Thiếu Úy Phú: “Ông ấy thương hay không thương tôi thì mặc xác ông ấy. Tôi đâu có cần ai thương đâu. Mà ông ấy có thương thì tôi được cái lợi gì đây? Trong mọi cuộc hành quân thì chính ông ấy phải nhờ tôi, chứ tôi đâu có nhờ gì ông ấy. Tôi đâu phải là đấy tớ của ông ấy đâu mà ông ấy muốn tôi phải làm cái này, cái nọ là tôi phải răm rắp làm theo. Tôi đâu có xin đi lính để cho ông ấy sai bảo. Về vấn đề chỗ ngủ thì nếu ông ấy đừng ra lệnh mà nói với tôi lịch sự một chút thì tôi cũng sẵn sàng nhường cái chỗ đó lại chứ giữ làm gì, nhất là tất cả chúng mình chỉ ở tạm đây ít lâu thôi chứ có phải là ở dài hạn đâu. Ông ấy đâu có biết rằng tụi mình chỉ chịu phục tùng cái “cấp bậc”của ông ấy trong lúc hành quân thôi, chứ cá nhân các quan lớn như ông ta thì chúng mình đâu có coi ra cái quái gì!”.
Tôi biết có nhiều tên hãy còn ngớ ngẩn. Ở ngay trong Pháo Binh mình chứ đâu xa, ỷ vào sự đã được đi lính trước, ỷ có cấp bậc cao hơn, nên đã tự cho là bậc thầy và gọi tụi mình là đệ tử nữa đấy! Tôi đã từng nghe thấy một tên Trung Tá Pháo Binh nói với ông Tướng Pháo Binh nào đó của hắn là: “Tôi có một tên đệ tử sang được Mỹ này, đã đi học lại và lấy được cái bằng …gì đó”. Ông ta muốn nói tới tôi đó. Ông ta tự coi là “Sư Phụ của tôi”. Nhưng ông ta đâu có dạy tôi cái gì đâu. Hơn nữa về kinh nghiệm chiến trường thì liệu ông ta có hơn tôi được không? Ông ta đi lính từ thời Pháp mà vào thời đó thì chỉ những Đại Úy hay Trung Úy nhiều kinh nghiệm mới được cử làm Đề Lô, còn những Thiếu Úy mới ra trường như ông ta lúc đó thì lại chỉ nằm nhà với súng thôi, mà trong khi đó thì các Chuẩn Úy Pháo Binh mới ra trường sau này lại là những kẻ phải đi với Bộ Binh ra mặt trận. Vì thế các Chuẩn Úy này chắc chắn là có nhiều kinh nghiệm xương máu hơn các Sĩ Quan Pháo Binh cấp cao như ông Trung Tá kể trên chứ. Về vấn đề này thì ai là Sư Phụ của ai đây? Trong khi thực ra ông ta chỉ vì lớn hơn 1 hay 2 tuổi nên đã được đi lính sớm hơn tụi tôi, rồi vì chịu cơm nhà binh nên đã không xin giải ngũ và cuối cùng lên được chức Trung Tá để bây giờ lên mặt với mọi người.
Hình như tôi chỉ đi với ông Đại Úy Của này đâu có 2 hay 3 trận ở trên Dầu Tiếng này thôi thì phải, vì mấy cuộc hành quân quanh vùng sau đó đều do một Trung Đoàn Mỹ, cũng được đưa lên tăng cường gần như cùng một lúc với mấy Tiểu Đoàn của Trung Đoàn 8 Bộ Binh.
Nói đến Trung Đoàn Mỹ này, tôi lại nhớ đến tinh thần chiến đấu và quân kỷ của họ. Nhiều người đã nói rằng: “Tụi lính Mỹ rất nhát gan trong các cuộc đụng trận.” Theo tôi thấy thì những người nào nói như vậy chỉ là những kẻ ăn ốc nói mò, chính bản thân tôi đã từng thấy tinh thần cao của các toán cố vấn Mỹ trong rất nhiều cuộc đụng trận ác liệt với Việt Cộng.
Trong trận tôi đi với Đại Đội 5 Thám Báo mà tôi đã kể ở trên, khi cả Trung Đoàn 8 lẫn Đại Đội 5 Thám Báo bị tụi Việt Cộng nổ súng ở 3 mặt, thì mấy người trong ban Cố Vấn Mỹ đã anh dũng làm nhiệm vụ của họ, để rồi một Trung Úy Cố Vấn bị chết và một Hạ Sĩ bị thương nặng. Họ đã chẳng tỏ ra nhút nhát một chút nào hết.
Ngày trước, khi tôi làm Sĩ Quan Tiền Sát cho Tiểu Đoàn 33 Biệt Động Quân, tôi đã để ý và thấy rằng trong bất cứ cuộc đụng độ nào, khi nghe thấy tiếng súng nổ ở phía trước là toàn thể Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đều ào lên để nhận định tình hình hầu lấy quyết định. Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn Phó, Thiếu Úy Ban 3 và toán Tiền Sát Pháo Binh của tôi thì phải nhào lên ngay đã đành, mà toán Cố Vấn Mỹ cũng hối hả chạy lên chứ họ nào có chịu thua ai đâu! Như vậy chứng tỏ là tinh thần của họ rất cao chứ không phải như ai đó đã nói nhảm.
Còn về kỷ luật của họ thì tôi nghĩ lại mà cảm thấy thật là xấu hổ cho tinh thần quân kỷ của mình. Trong bản doanh của Mỹ, chúng ta có thể trông thấy một Trung Sĩ ghé đít ngồi lên mép bàn giấy của một vị Trung Tá để nói chuyện gì đó khi ông Trung Tá này đang ngồi trong bàn giấy của ông ta. Chịu khó để ý một chút, chúng ta sẽ thấy rằng lúc đó họ đang nói chuyện với nhau trong tư cách bạn bè hay ít nhất đó là một câu chuyện riêng tư, không dính dáng gì tới công vụ hết, trái lại khi nói đến công vụ thì lại khác, lúc viên Trung Sĩ nọ vì công vụ, phải gặp một vị Thượng Sĩ thôi, thì cũng phải đứng nghiêm, dơ tay chào kính hẳn hoi, rồi sau đó muốn trình bầy cái gì thì mới trình bầy.
Trong các cuộc hành quân, chúng tôi được lệnh là không được nằm trong nhà dân mà phải nằm ở ngoài đất trống, nhưng trong thực tế thì ít nhất bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn của chúng ta luôn luôn ngồi nghỉ trong một ngôi nhà nào đó cho mát. Quân đội bạn thì khác. Họ lúc nào cũng thi hành những mệnh lệnh ấy một cách triệt để. Hồi ở trên Dầu Tiếng tất cả chúng tôi đều đã thấy cảnh một Trung Tá Mỹ chịu ngồi, hoặc đứng cạnh một cái máy truyền Tin trong suốt mấy giờ liền (phiên trực của ông ta?) dưới một tấm vải dù ở trên đầu, ngay giữa đồng trống dưới trời nắng nực oi ả, nhiệt độ vào khoảng 40 độ C hay 104 độ F hay hơn, với quân phục gần như đầy đủ, có nghĩa là chỉ không mặc áo trận thôi, nhưng vẫn có mặc áo thung (T Shirt) ở trong.
Thêm vào đó, lính Mỹ còn có tinh thần đáng ca ngợi là họ không bao giờ coi binh sĩ miền Nam Việt Nam như những kẻ dưới tay như kiểu quân đội Pháp đã coi thường những người lính khố xanh, khố đỏ của chúng ngày xưa. Thật vậy đã có nhiều lần, tôi thay mặt cho Pháo Đội sang họp hành quân bên Trung Đoàn bạn. Khi xe của tôi tới cổng trại, tôi nhẩy xuống đất, chưa kịp nói gì thì anh lính Mỹ gác cổng đã bồng súng lên nghiêm chỉnh chào tôi dù anh ta biết tôi chỉ mang cấp bậc Thiếu Uý.
Với sự can thiệp của quân lực bạn, chúng tôi được rảnh rỗi nên tôi và anh bạn Phú mới gặp nhau (Nghe nói là sau biến cố Tết Mậu Thân, anh Phú cũng đã bị tái ngũ và cũng đã được biệt phái về dạy học như tôi, chỉ không biết là anh có sang được Mỹ này hay không thôi)
https://i2.wp.com/vnafmamn.com/ARMOR/Artillery_arvn24.jpg
Lúc này Pháo Đội B của tôi ra đóng ở ngoài Quận phía đi ra làng 13. Pháo Đội tôi đóng ở một bên, bên kia đường là Bộ Chỉ Huy của Lữ Đoàn hay Trung Đoàn Mỹ (Tôi cũng không rõ). Lúc này Pháo Đội Trưởng, Đại Úy Thái của chúng tôi đã trở lại Dầu Tiếng, nhưng chúng tôi lại gần như không có việc gì làm vì quân đội bạn đã không dùng đến Pháo Binh. Làm gì còn Việt Cộng nữa mà phải dùng đến đạn pháo!
Ngày ngày, mấy sĩ quan chúng tôi chỉ để một người ở nhà với súng còn thì lấy xe ra chợ Dầu Tiếng chơi. Quận Dầu Tiếng này nằm bên cạnh một con sông khá rộng thành ra Công Binh đã phải thiết lập một cây cầu dã chiến để cho xe qua bờ bên kia, vùng đất của một cái xã nào đó của Quận. Tôi đã lái xe Jeep sang cái xã đó, nhưng lúc về thi Trung Úy Thinh (mới lên Trung Úy một ít lâu, ở trên Dầu Tiếng này) đòi lái về để trổ tài lái xe trên 2 tấm sắt bắt qua sông, mỗi tấm chỉ rộng đâu chừng 50 cm.
Tuy không phải là dân Tâm Lý Chiến nhưng tôi và Trung Úy Minh cũng la cà vào chơi với những thư ký của đồn điền, hỏi thăm tình hình sinh hoạt của họ. Rồi có một hôm, vợ chồng một nhà nọ có hỏi ngược lại về cách sống của chúng tôi thì Tr. Úy Minh có nói là ăn uống thì hàng quán ở Quận này đã đủ sức cung cấp mọi thứ cho tất cả chúng tôi chỉ có điều là chúng tôi hơi thiếu nước để tắm thôi. Nghe nói thế, hai vợ chồng chủ nhân gia đình này vội nói ngay là “Trung Úy và Thiếu Úy cứ việc ngày ngày tới nhà này mà tắm, ở đây chúng tôi có nhà tắm khá tiện nghi cho quý vị dùng, đừng ngại gì hết”. Qủa là nhà tắm của họ có đầy đủ vòi sen, bồn tắm, chỉ không có nước nóng, nước lạnh thôi. Nhưng ở miền Nam Việt Nam này thì cần gì nước nóng cơ chứ!
Thế là từ đó hai chúng tôi thường lại đó để tắm. Quý vị nên hiểu cho rằng Pháo Đội chúng tôi phải đóng ở một nơi trống trải, không có cây cối gì hết nên rất nóng nực mà nước lại phải lấy về từ khá xa, thành ra chúng tôi muốn dùng một cách không phí phạm, do đó có thể nhờ được một nguồn nước ở nơi khác là 2 chúng tôi sẵn sàng ngay.
Tôi nói là 2 chúng tôi, như vậy nghĩa là không có Trung Úy Thinh, anh này có đến chơi nhà đó một vài lần, thấy nhà đó có con gái nên giữ ý không đến tắm, hắn có nói điều này cho chúng tôi biết, nhưng tôi và Trung Úy Minh có bảo hắn rằng hắn đã quá cẩn thận, vì cô gái kia chỉ là một đứa nhỏ mới chừng 12, 13 tuổi, mà trẻ Việt Nam 12, 13 tuổi thì hãy còn qúa nhỏ, việc gì mà phải quá giữ ý như vậy!
Những ngày về sau, tuy rằng không có chuyện gì xẩy ra thêm nữa nhưng chúng tôi vẫn phải ở lại cái đất Dầu Tiếng này chờ các quan trên tìm quyết định. Chúng tôi, nói đúng hơn là Pháo Đội của chúng tôi, rốt cuộc đã phải ăn Tết ở trên Dầu Tiếng này.
Trong một tháng trước Tết, chúng tôi có nhận đựơc một Công Điện từ Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh đánh lên, nói là: “Sĩ Quan nào muốn sang Pháo Binh Dù thì ghi tên”. Quên rằng mình đã nộp đơn xin giải ngũ từ mấy tháng trước, tôi vội gọi ngay cho Hiệu Thính Viên của Tiểu Đoàn yêu cầu ghi tên tôi vào danh sách đó nhưng anh ta vừa cười vừa nói rằng: “Thiếu úy cần gì phải sang Pháo Binh Dù nữa, thiếu úy dù từ lâu rồi còn gì”.
Qua Tết được vài ngày, tôi nhận được Ccông điện gọi về trình diện tiểu đoàn để nhận lệnh thuyên chuyển sang Tiểu Đoàn 221 Pháo Binh tại KonTum. Điều đó có nghĩa là tôi không được sang Pháo Binh Dù mà phải ra Vùng II.
Thế là tôi tìm cách theo một cái trực thăng nào đó, dời Pháo Đội để về Tân Sơn Nhất, chứ không về ngay tiểu đoàn ở Phú Lợi.
tvvn.org

Monday, February 25, 2019

Tháp chuông nhà thờ Fatima Bình Triệu

Tháp chuông này trước 1975 thuộc nhà thờ Fatima Bình Triệu : người CS đã phá nhà thờ để xây ĐH Luật , như hình chụp , nhưng đã không thể phá bỏ gác chuông .