Thursday, August 23, 2018

Cuộc tháo chạy bi thảm của quân đội Sài Gòn (Bài 1): Sai lầm không thể cứu vãn
Thứ Năm, 14/6/2018 07:22 GMT+7
Tài Trần : sau đây là nhận định của phe CS về cuộc rút quân khỏi QK2 của quân đội VN đăng trên : http://baophapluat.vn/…/cuoc-thao-chay-bi-tham-cua-quan-doi…
======
"Thiên tài quân sự thế giới Napoleon có nói đến hai điều áp dụng rất đúng cho sự tan rã của quân lực VNCH mùa xuân năm 1975. Một là “không có những trung đoàn tồi mà chỉ có những đại tá tồi”. Hai là “trong chiến tranh, tinh thần cần thiết hơn vũ khí theo tỷ lệ bốn trên một”.
(PLO) - Trước sức mạnh của Quân Giải phóng miền Nam (QGP) trong Chiến dịch Tây Nguyên (từ 4/3 – 3/4/1975), những nỗ lực tái chiếm Buôn Ma Thuột của Quân lực Việt Nam Cộng hòa (VNCH) trong các trận phản công đều thất bại.
Cuộc tháo chạy bi thảm của quân đội Sài Gòn (Bài 1): Sai lầm không thể cứu vãn
Những đoàn xe khổng lồ tháo chạy khỏi Cao nguyên
Ngày 14/3/1975, Nguyễn Văn Thiệu đã có một bước đi hết sức sai lầm khi ông ta quyết định rút quân trên toàn địa bàn Tây Nguyên để về giữ miền duyên hải Trung bộ. Ba ngày sau đó, hầu như toàn bộ Quân đoàn II quân VNCH tử trận và tan rã trong cuộc rút quân hỗn loạn trên con đường số 7 định mệnh.
Cuộc triệt thoái này của quân đội Sài Gòn đã tạo nên một lỗ hổng rất lớn trong tuyến phòng thủ quân sự, mở đầu cho những thất bại quân sự không thể cứu vãn nổi của VNCH. Ngay trong hồi ký, hồi ức của những sĩ quan VNCH và các nhà bình luận quân sự, điều này đều được thừa nhận.
Đọc quân sử thế giới, người ta thấy một định nghĩa chung về “hành quân triệt thoái”: Đó là hình thức hành quân khó nhất và nản lòng nhất. Đội quân nào được kể là thiện chiến nhất trên thế giới cũng vẫn e ngại khi phải thực hiện hành quân triệt thoái khi đang giao tranh với đối phương.
Kế hoạch triệt thoái thiết lập thật tỉ mỉ, sự thi hành kế hoạch phải thật nghiêm chỉnh và đúng. Phải có sự lưu thông rất cao. Đó là những đòi hỏi căn bản để thực hiện tốt đẹp một cuộc triệt thoái.
Trên bản đồ thì triệt thoái chỉ có nghĩa là một vài nét vạch bằng viết chì giải thích nhu cầu gom quân lại để có thêm lực lượng dự bị, để rút ngắn đường tiếp tế hòng lập một kế hoạch phòng thủ hữu hiệu hơn, hoặc một mục đích khác.
Nhưng áp dụng VNCH năm 1975, các nhận xét trên đây không dùng được. Cuộc triệt thoái được thiết kế thật tồi tệ, thời gian triệt thoái sai lầm một cách tai hại, thi hành kế hoạch thật nghèo nàn từ cấp lãnh đạo cao nhất ở Sài Gòn cho đến cấp tiểu đoàn.
Thiên tài quân sự thế giới Napoleon có nói đến hai điều áp dụng rất đúng cho sự tan rã của quân lực VNCH mùa xuân năm 1975. Một là “không có những trung đoàn tồi mà chỉ có những đại tá tồi”. Hai là “trong chiến tranh, tinh thần cần thiết hơn vũ khí theo tỷ lệ bốn trên một”.
Lệnh triệt thoái vô trách nhiệm với cấp dưới
Hãy nhìn lại cuộc triệt thoái từ cao nguyên đến Tuy Hòa 7 ngày 7 đêm trên quãng đường 300km này. Ai ra lệnh triệt thoái? Triệt thoái để làm gì? Cuộc triệt thoái được thi hành như thế nào?
Lúc 11h32’ ngày 14/3/1975, Nguyễn Văn Thiệu chủ tọa một phiên họp tại Cam Ranh, trong tòa nhà màu trắng nguy nga như một lâu đài. Tòa nhà này từng được làm trong thời gian cực ngắn, tốn phí một triệu USD để tổng thống Mỹ London Johnson tới làm việc và nghỉ có đúng một đêm.
Nhật ký hành quân của thiếu tá VNCH Phạm Huấn, sĩ quan tùy viên của tướng Phạm Văn Phú, ghi có những nhân vật sau đây dự buổi họp với Thiệu: Tướng Trần Thiện Khiêm (Thủ tướng VNCH), tướng Cao Văn Viên (Tổng tham mưu trưởng quân lực VNCH), tướng Đặng Văn Quang (Phụ tá An ninh Quân sự của Thiệu) và tướng Phạm Văn Phú (Tư lệnh Quân khu 2 và Quân đoàn 2).
Một binh sĩ VNCH gục đầu chán nản
Buổi họp kéo dài từ 11h32’ đến 13h29’. Vẫn theo nhật ký của thiếu tá Phạm Huấn, Thiệu đã ra những chỉ thị quái gở sau đây trong buổi họp.
Thiệu ra lệnh cho tướng Phú: “Tôi ra lệnh cho các anh mang chủ lực quân, chiến xa, đại bác, máy bay về phòng thủ duyên hải và tổ chức hành quân tái chiếm Ban Mê Thuột.
Có nghĩa là các lực lượng Địa phương quân vẫn ở lại chiến đấu. Các cơ sở hành chính ba tỉnh Pleiku, Kontum, Phú Bổn (trước 1975 VNCH chia Pleiku ra hai tỉnh Pleiku và Phú Bổn. Từ năm 1976, tỉnh được nhập vào tỉnh Đắk Lắk, sau đó phần lớn diện tích lại được nhập sang tỉnh Gia Lai - Kon Tum - NV) vẫn tiếp tục làm việc cùng với tỉnh trưởng, quận trưởng như thường lệ.
Quyết định mang tất cả chủ lực quân, chiến xa, pháo binh, máy bay của quân đoàn 2 khỏi Pleiku, Kontum, tôi đã thảo luận với các tướng lãnh. Đây cũng là một quyết định chung của Hội đồng Tướng lãnh như quyết định hôm qua cho tướng Trưởng ngoài Quân đoàn I”.
Tướng Phú bỗng hỏi Thiệu:
“Thưa tổng thống, nếu chủ lực quân thiết giáp, pháo binh rút đi, làm sao địa phương quân chống đỡ nổi khi đối phương đánh? Còn hàng chục ngàn dân, gia đình anh em binh sĩ?.
Thiệu trả lời:
“Tôi “cho” đối phương số dân đó. Với tình hình nặng nề hiện tại, mình phải lo phòng thủ, giữ được những vùng dân cư đông đúc, màu mỡ… hơn là bị kẹt quá nhiều quân trên vùng cao nguyên”.
Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm và Đặng Văn Quang đều im lặng, cái im lặng mặc nhiên xác nhận sự đồng lõa của họ trong quyết định liều lĩnh kiểu “điếc không sợ súng” của Thiệu.
Khi bàn về lộ trình rút, tướng Phú đề nghị cho liên tỉnh lộ số 7 để rút quân vì ông cho rằng trên trục lộ ấy, “hiện không có chủ lực quân của đối phương”.
Tổng tham mưu Cao Văn Viên trả lời như sau, khi được Thiệu hỏi ý kiến về sự lựa đường số 7 để rút: “Trình Tổng thống, nếu sử dụng được tỉnh lộ 7, sẽ có yếu tố bất ngờ và hi vọng thành công hơn Quốc lộ 19, nối liền Pleiku - Qui Nhơn”.
Và đây là chỉ thị chót của Thiệu cho tướng Phú: “Thiếu tướng Phú, tôi cho anh toàn quyền tổ chức và quyết định về cuộc hành quân để mang tất cả chủ lực quân, chiến xa, pháo binh, máy bay của Quân đoàn 2 về phòng thủ duyên hải, và tái chiếm Buôn Mê Thuột.
Vì tính cách vô cùng quan trọng của cuộc hành quân này, và để giữ được yếu tố bất ngờ với đối phương, anh chỉ cho các tướng lãnh, cấp chỉ huy biết từng phần của lệnh này, và ra lệnh tuyệt đối giữ bí mật với dân chúng”.
Kế hoạch sơ sài, người chỉ huy thiếu kinh nghiệm
Cần nhắc lại rằng lúc Thiệu ban hành lệnh triệt thoái một cách rất vô trách nhiệm này thì trên lãnh thổ Quân đoàn 2, quân lực VNCH còn có quân số tới 179 ngàn người. Trong số này, có sư đoàn 22 Bộ binh, sư đoàn 23 Bộ binh, sáu Liên đoàn Biệt Động quân, bốn Trung đoàn Kỵ binh Thiết giáp, và 12 tiểu đoàn pháo binh. Số quân xa tổng cộng lên tới 4000 chiếc lớn nhỏ. Đó là chưa kể số máy bay của Không quân VNCH.
Tướng Phú làm thế nào mà giữ được bất ngờ nếu cả trăm ngàn quân sĩ và 4000 quân xa đủ loại kia ào ào kéo nhau di chuyển trên liên tỉnh lộ 7? Phải chăng ông ta tin rằng đối phương sẽ ngồi yên cho phía VNCH an toàn mang chủ lực Quân đoàn 2 về duyên hải, và lại cũng sẽ ngồi yên cho Quân đoàn ấy tổ chức hành quân tái chiếm Buôn Mê Thuột, như lời Thiệu đã nói trong cuộc họp tại Cam Ranh buổi trưa 14/3/1975?
Tầm vóc và kích thước nỗi bi thảm của sự sụp đổ mau lẹ của VNCH càng ngày càng hiện rõ trước các lệnh mới của Thiệu, và trước các hành động của cấp thừa hành.
Một thông tin khác cũng do thiếu tá Phạm Huấn, sĩ quan tùy viên tướng Phú nêu ra, đã giúp người ta hiểu được một phần lý do đã đưa tới sự tan rã mau lẹ của cả một Quân đoàn:
“...Lại thêm một cái lệnh, một biến chuyển vô cùng quan trọng nữa mà tôi không thể hiểu nổi. 23h đêm 11/3/1975, tổng thống Thiệu gọi cho tướng Phú để chỉ thị tránh sa lầy, sử dụng quá nhiều quân vào một mặt trận. Toàn quyền linh động, có thể bỏ Ban Mê Thuột.
Nhưng ngay sáng hôm sau, 12/3/1975, các hệ thống truyền thanh, truyền hình và báo chí khai thác tối đa lệnh tái chiếm Ban Mê Thuột của tổng thống Thiệu. Tất cả lực lượng trực thăng bốn quân khu của VNCH đã được tập trung để thực hiện cuộc đổ quân tăng viện tái chiếm Ban Mê Thuột, rồi thất bại. Và rồi ngày 14/3/1975, tổng thống Thiệu bay ra Cam Ranh cùng với Hội đồng tướng lãnh gần như bắt buộc Tư lệnh Quân đoàn 2 phải rút bỏ cao nguyên...
Tướng Phú trong buổi họp tại Cam Ranh, và trên đường về, nói với tôi, thề quyết sẽ tử thủ Pleiku. Nhưng chỉ mấy giờ sau, ông họp Bộ Tham mưu thiết kế lệnh triệt thoái. Và sáng hôm nay, ông đã bỏ đi như một người chạy trốn, một cấp chỉ huy không có trách nhiệm”.
Ở đoạn trên, thiếu tá Phạm Huấn đã nói đến lực lượng trực thăng gom từ bốn Quân khu về Pleiku để đổ quân tăng viện trong cái ý định gọi là tái chiếm Ban Mê Thuột. Thế nhưng phân tích chi tiết này, người ta sẽ thấy chưa bao giờ sự yếu kém của quân VNCH hiện rõ như lúc này. Phải mất gần ba ngày, quân lực VNCH mới chuyển được gần sáu tiểu đoàn tới sân bay Phước An.
Một con số khác cũng cần được nhắc lại ở đây để làm rõ thêm số phận của một quân đội được huấn luyện theo binh pháp nhà giàu, rồi bỗng bị bỏ rơi một mình ôm cái lý thuyết nhà giàu ấy để áp dụng bằng những phương tiện nhà nghèo: Chỉ riêng trong trận Ia Drang, quân lực Mỹ đã dùng tới toàn thể 450 chiếc trực thăng của Sư đoàn Kỵ binh Không vận Mỹ, chưa kể hàng trăm vận tải cơ lớn nhỏ của không lực Mỹ để chở cùng một lúc sáu tiểu đoàn dù VNCH nhảy xuống vùng biên giới ranh giới tỉnh Pleiku.
Nhật ký hành quân của Quân đoàn 2 ghi rằng kế hoạch triệt thoái được thảo xong trong vòng có hai ngày. Mọi nguyên tắc căn bản và sơ đẳng để thiết kế và điều khiển một cuộc hành quân triệt thoái cấp chiến lược đã hoàn toàn bị gạt sang một bên.
Khu vực trung tâm Kontum nhìn từ máy bay đầu năm 1975
Sĩ quan được chọn lựa để điều khiển cuộc hành quân lịch sử này là đại tá Phạm Duy Tất (chỉ huy trưởng các đơn vị Biệt động quân của Quân khu 2). Không ai chối cãi rằng đại tá Tất là một sĩ quan cấp tá giỏi và can đảm, nhưng ngoài nhiệm vụ chỉ huy các liên đoàn ở cấp quân khu, ông ta chưa có vinh dự thử lửa để điều khiển một cuộc hành quân cấp sư đoàn và cấp cao hơn nữa.
Binh sĩ tức giận bắn lên máy bay Tư lệnh mặt trận
Buổi chiều 14/3/1975, tướng Phạm Văn Phú họp Bộ Tham mưu Quân đoàn, long trọng “thừa ủy nhiệm Tổng thống, Tổng Tư lệnh Tối cao Quân lực VNCH” đặc cách thăng cấp Chuẩn tướng cho Đại tá Phạm Duy Tất (lúc ấy là Tư lệnh Mặt trận Kontum). Gắn lon cho Đại tá Tất xong, tướng Phú chỉ định chuẩn tướng Tất điều khiển tổng quát cuộc triệt thoái.
Vụ gắn lon cấp tướng theo tinh thần khẩn cấp này làm buồn lòng không ít sĩ quan trong bộ tham mưu của tướng Phú. Nhưng mọi người đã tìm được một lời giải thích không mấy vẻ vang: “Ai cũng biết đại tá Tất trước kia cùng ở Lực lượng Đặc biệt, và là đàn em thân tín của tướng Phú.”
Tình trạng vô kỷ luật bắt đầu diễn ra từ đây. Khi được chỉ định làm tân tư lệnh sư đoàn 23 Bộ binh, Tỉnh trưởng Nha Trang là đại tá Lý Bá Phẩm từ chối. Sau đó, ông ta lại được tướng Phú ra lệnh “chịu trách nhiệm về quốc lộ 21 từ Khánh Dương về Nha Trang, và tổ chức tuyến phòng thủ thứ 3 tại Dục Mỹ. Người ta có thể đoán trước số phận của “tuyến thứ 3” sẽ ra sao trong tình thế này rồi.
Vào buổi chiều ngày đầy hỗn loạn này, viên tổng lãnh sự Mỹ ở Nha Trang đến gặp tướng Phú. Phía Mỹ đã biết là VNCH muốn rút bỏ cao nguyên, nhưng họ phàn nàn là “không được thông báo và không được sự hợp tác của phía VNCH”. Do đó họ đành phải “tự lo liệu di tản nhân viên và các hồ sơ mật tại ba tỉnh Kontum, Pleiku và Phú Bổn.”
Một đoàn xe tăng VNCH tìm đường rút quân
Trước khi cuộc triệt thoái bắt đầu, nhật ký hành quân của Quân đoàn 2 ghi những chi tiết này:
1. Hai Liên đoàn Biệt động quân của Quân đoàn 2 (mang số 25 và 47) đang phòng thủ ở tuyến xa nhất của mặt trận nam Pleiku thì được lệnh rút mà không được bảo vệ. Tướng Tất gọi về Quân đoàn xin oanh tạc để yểm trợ cuộc rút của hai liên đoàn kia.
Một sĩ quan cùng ngồi trên chiếc trực thăng chỉ huy của tướng Tất tiết lộ rằng “khi Tư lệnh Mặt trận bay trên đầu cánh quân này, phía dưới đã bắn lên. Tất cả các cấp của hai liên đoàn này đều rất tức giận vì cuộc rút quân diễn ra mau quá, họ cảm thấy như bị bỏ rơi”.
2. Lúc gần chiều tối, phi trường Cù Hanh ở Pleiku bị pháo, nhưng báo cáo lại khác nhau. Phụ tá hành quân của tướng Phú và tham mưu trưởng của Quân đoàn 2 báo cáo rằng sân bay chỉ bị pháo nhẹ, trong khi Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân lại báo cáo rằng sân bay bị pháo nặng.
Phi trường rất hỗn loạn. Tại Pleiku, khi tướng Phú đi rồi, bốn người có quyền hành nhất là tướng Tất, tướng Cẩm, tướng Sang và đại tá Lý. Không ai phục ai. Mọi việc đều được quyết định theo kiểu tự do và chỉ có mục đích có lợi cho phe nhóm, cho em út dưới quyền.
3. Khoảng 20h. Tướng Phú gọi Tư lệnh Sư đoàn 23 và Tỉnh trưởng Nha Trang ra lệnh phải bảo vệ tối đa quốc lộ 21 (Khánh Dương - Nha Trang) không để cho đối phương đóng chốt, và đề phòng sự xáo trộn, hỗn loạn trong thị xã.
4, Sau đó, tướng Phú ra lệnh cho tướng Cẩm ủy nhiệm các tỉnh trưởng Kontum và Pleiku phải giữ hai tỉnh ấy sau khi Bộ Tư lệnh Quân đoàn đã rút đi.
5, Tướng Phú ra lệnh cho tỉnh trưởng tỉnh Quảng Đức (địa bàn tỉnh Quảng Đức gần như là địa bàn tỉnh Đắk Nông ngày nay - NV) là phải giữ tỉnh ấy “bằng mọi giá,” dầu cho có phải chết tại đó.
Người ta có thể tóm tắt lệnh của tướng Phú như sau: “Quân đoàn rút đi, còn các tỉnh địa đầu như Kontum, Quảng Đức phải tử thủ. Các đơn vị Địa phương quân tuy chỉ được trang bị toàn súng hạng nhẹ lại được giao trọng trách ở lại đương đầu với lực lượng chủ lực của QGP, chưa kể là QGP còn được tăng cường nhiều đơn vị chiến xa và pháo binh”.
Tình cảnh “thượng bất chính, hạ tắc loạn”
Tin Quân đoàn 2 rút khỏi cao nguyên chẳng còn gì gọi là bí mật nữa. Hai ngày trước khi cuộc triệt thoái bắt đầu, những người sống ở thị xã Pleiku (dân cũng như quân) đều biết. Hậu quả đầu tiên và không tránh được là cướp phá, bắn giết và hỗn loạn ở trong và ngoài thị xã.
Tình hình hỗn loạn không kém tại các phi trường
Trong cái không khí đượm màu bại trận ấy, người ta còn phải chứng kiến sự chia rẽ, bất mãn và thù hận lẫn nhau trong Bộ Tham mưu Quân đoàn 2 trước và trong lúc triệt thoái.
Thiếu tá Phạm Huấn ghi lại các báo cáo “chọi” nhau của các giới hữu trách quân đội VNCH. Tham mưu trưởng của Quân đoàn 2 (đại tá Lê Khắc Lý) báo cáo về phòng 3 Bộ Tổng Tham mưu rằng Pleiku rất hỗn loạn trong ngày 16/3/1975. Dân chúng và gia đình binh sĩ tràn vào sân bay Cù Hanh dữ dội quá đến nỗi lực lượng an ninh không cản được.
Nhưng Tỉnh trưởng Pleiku là đại tá Nhu lại báo cáo với tướng Phú (lúc này có mặt tại Nha Trang) rằng tình hình có rối loạn nhưng không trầm trọng lắm.
Vì Tỉnh trưởng Pleiku được coi như tiếng nói chính thức đại diện cho tướng Phạm Duy Tất (Tư lệnh cuộc triệt thoái) nên tướng Phú tin ở báo cáo của ông ta và tường trình với phòng 3 Bộ Tổng Tham mưu rằng “đại tá Lý mất bình tĩnh nên báo cáo không đúng sự thật”.
Nhân chứng Phạm Huấn nhận xét rằng, đại tá Lý là một sĩ quan tham mưu tài giỏi, nhưng ông ta bất mãn vì đã từng được tướng Phú hứa cho thăng cấp tướng, rồi lại chứng kiến cảnh cho thăng cấp tướng “khẩn cấp” cho đại tá Tất. Vì sự bất mãn này, cho nên sau khi tướng Phú đi khỏi Pleiku, đại tá Lý đã bất chấp mọi mệnh lệnh của những cấp chỉ huy trực tiếp của ông.
Nhân chứng Phạm Huấn làm cho người đọc có thể hiểu lầm rằng đại tá Lý quá bất mãn về vụ không được thăng cấp tướng nên đã bất phục tùng, nhưng Thiếu tá Phạm Huấn đã cho người ta một cái nhìn thẳng thắn về sự bối rối của toàn thể bộ tham mưu của Quân đoàn 2, từ Tư lệnh Quân đoàn Phạm Văn Phú cho đến Tham Mưu trưởng Lê Khắc Lý và các sĩ quan cao cấp khác.
Từ nhận xét của Phạm Huấn, người đọc sẽ nhận ra một cuộc triệt thoái chiến lược lại được thiết kế một cách cẩu thả gần như vô trách nhiệm như vậy. Cấp lãnh đạo Quân đoàn lại còn mắc vào cái lỗi sơ đẳng là “thượng bất chính, hạ tắc loạn” nữa.
Ảnh minh họa cho cuộc rút quân tại QK 2 .

Cuộc tháo chạy bi thảm của quân đội Sài Gòn (Bài 1): Sai lầm không thể cứu vãn





Mời bạn đọc đón đọc tiếp kỳ sau.



Cuộc tháo chạy bi thảm của quân đội Sài Gòn (Bài 1): Sai lầm không thể cứu vãn


Những đoàn xe khổng lồ tháo chạy khỏi Cao nguyên
 Một binh sĩ VNCH gục đầu chán nản
Khu vực trung tâm Kontum nhìn từ máy bay đầu năm 1975
Một đoàn xe tăng VNCH tìm đường rút quân
Tình hình hỗn loạn không kém tại các phi trường  
Mời bạn đọc đón đọc tiếp kỳ sau.

Tuesday, August 21, 2018

Phone LG X ko khởi động (LG X phone won't turn on) .
Có lần một láng giềng nói : phone LG X của tôi ko khởi động , màn hình tối đen .
Đặt câu hỏi "LG X won't turn on" thì có giải đáp :
1/ Ấn và giữ nút Volume Down và nút Power một luợt trong 10 giây hay hơn .
Nếu ko thành công thì .
1/ Ấn và giữ nút Volume Down
2/ Ấn và giữ nút Power trong khi vẫn giữ nút Volume Down
3/ Giữ như vậy trong 10 giây hay nhiều hơn .
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=2049222928424856&set=a.197514143595753&type=3
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=2659716387375504&set=a.197514143595753&type=3
https://www.facebook.com/trananhtu19/posts/2049245791755903

Monday, August 20, 2018

Trận đánh sau cùng tại Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận Tiểu Khu Phước Tuy

16 Tháng Mười Một 201112:00 SA(Xem: 599)
Trận đánh sau cùng tại Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận Tiểu Khu Phước Tuy


51Vote
40Vote
30Vote
22Vote
10Vote
33
Đã mấy hôm nay toàn tỉnh Phước tuy rất xôn xao náo động. Theo đài BBC loan tin, sau khi chiếm được Long Khánh, Việt cọng đang tập trung lực lượng hùng hậu bộ binh, thiết giáp, pháo binh tiến đánh Phước tuy.



Hôm ấy, thứ Bảy, 27 tháng 4 năm 1975, khoảng gần 5 giờ chiều, khi tôi sửa soạn về nhà ở Vũng tàu, Trung Tá Chỉ huy trưởng Đỗ Duy Nhượng gặp tôi và ra lệnh: “Hễ toán phát lương nào về, phải cho gom tiền bạc, sổ sách giao cho hai sĩ quan thủ quỹ Địa phương quân và Nghĩa quân, bỏ tất cả vào két, khóa và niêm phong lại.” Xong Trung Tá về nhà. Khi các toán phát lương về, tôi chuyển lệnh Trung Tá lại cho họ và ra về thì viên Hạ sĩ quan coi việc phân phối Sĩ quan trực chạy đến báo cho tôi biết: “Các Sĩ quan trực chính đều đã vắng mặt, tuy Đại úy chưa đến phiên (vì mới mãn ca ngày hôm trước), nhưng tình hình hiện tại cần phải có sĩ quan trực và Trung Tá Chỉ huy trưởng yêu cầu Đại úy trực cho.” Tôi rất lưỡng lự vì đã phần nào đoán biết sự việc sẽ xảy ra trong ca trực này như thế nào? Hiện tại quận Đức Thạnh và quận Xuyên mộc đã mất. Nhiều Sĩ quan và binh sĩ đã rời Trung tâm từ mấy hôm rồi. Sáng nay có người bạn làm việc tại tòa Lãnh sự Mỹ ở Phước tuy tìm gặp và báo cho tôi hay, 6 giờ chiều nay Việt cọng sẽ tấn công vào tỉnh lỵ Phước Tuy. Ông ấy đã xin cho tôi và gia đình được di tản theo. Hãy đem gia đình đến nhà ông ấy, khoảng 10 giờ sáng sẽ có xe đến đón cùng với gia đình ông vào tòa Lãnh sự để được trực thăng vận ra tàu chiến Mỹ đang đậu ngoài khơi Vũng tàu. Nghĩ lại những sự việc người Mỹ đã làm trước đây, tự ái nổi lên và tôi không đem gia đình đến điểm hẹn. Tôi định từ chối ca trực ra về nhưng một số anh em binh sĩ gia đình ở xa không về được kẹt lại Trung Tâm đang hốt hoảng lên. Sau ít phút suy nghĩ, tôi thấy cần đặt tinh thần trách nhiệm lên hàng đầu nên đã đồng ý chấp nhận lời yêu cầu của Trung Tá. Tôi biểu viên Hạ sĩ quan hãy viết biên bản bàn giao, tôi đi ăn cơm và sẽ trở về trại ngay. Vẫn mặc bộ quân phục có đeo lon, tôi leo lên chiếc xe gắn máy Honda chạy ra chợ mới Phước Tuy. Trên đường đi thấy ông bạn đang đứng trước cổng tòa Lãnh sự đón tôi lại hỏi: “Gia đình ở đâu? Tại sao sáng nay lại không có mặt ở nhà tôi?” Và ông bảo: “Hãy quăng xe mà đi, trực thăng chuyến chót đang đợi, sẽ cất cánh ngay vì Việt cọng đã đến nơi. Gia đình còn lại thì sẽ tính sau.” Tôi cám ơn ông bạn và từ chối không đi. Ông giận quá mắng tôi mấy câu rồi chạy vào trong bước lên phi cơ và phi cơ cất cánh. Khi tôi đến chợ thì toàn chợ đang ồn ào hoảng loạn cả lên! Ai nấy lo thu xếp tiệm rồi tranh nhau bỏ chạy. Tìm đến một tiệm ăn quen, tiệm này cũng đang gấp rút thu dẹp đồ đạc, nhưng theo lời yêu cầu của tôi, họ vét nồi, vét chảo đưa ra nửa đĩa cơm và bảo họ chỉ còn bấy nhiêu nữa thôi, rồi nói nhỏ với tôi: “Hãy ăn nhanh và đi ngay, Việt Cọng đã về đầy chung quanh đây!” Mặc cho trong lòng rất lo lắng, tôi vẫn giữ bình tĩnh, vừa ăn vừa quan sát tình hình. Quả thật, có nhiều dấu hiệu bất thường. Ăn hết đĩa cơm, tôi trả tiền nhưng chủ tiệm không lấy và giục: “Hãy đi nhanh lên!”

Trở về đơn vị, thấy anh em binh sĩ đang nháo nhác, hoang mang. Tôi trấn an họ và bảo: “Hãy an tâm, tôi ở lại đây với anh em.” Sau khi ký sổ trực, giao cho viên Sĩ quan trực phụ ở lại phòng chỉ huy để liên lạc với Tiểu khu và có gì thì báo ngay cho tôi, rồi bắt đầu kiểm điểm quân số. Có 26 người thuộc đơn vị cơ hữu, 10 người thuộc hậu cứ Long Khánh di tản, tạm trú tại đây, do một Thiếu úy cầm đầu. Tôi liền cấp tốc bố trí các vị trí chiến đấu. Hậu cứ Long Khánh đảm trách hai lô cốt và tường thành phía sau. Các binh sĩ cơ hữu trách nhiệm mặt trước gồm cổng chính ra vào, 2 lô cốt ở 2 góc và 2 tường thành hai bên hông, thiết trí mới một cụm 3 ụ súng cối: 1 ụ 81 ly, 2 ụ 60 ly. 3 ụ cối này chỉ có 4 người phụ trách nên đặt gần nhau và gần Bộ chỉ huy để yểm trợ hổ tương cho nhau. 4 lô cốt chính đều được trang bị đại liên M60. Sử dụng tối đa lựu đạn để chống chiến thuật biển người. Ngoài ra còn nhiều M72 và mấy khẩu M69. Khi tới kho lấy vũ khí để phân phối ra các điểm thì có chút trở ngại. Lúc đó Đại úy trưởng khối Tiếp liệu đang niêm phong các kho tàng lại. Tôi hỏi: “Ông đang làm gì thế?” Ông không trả lời. Hỏi lần thứ hai, ông gắt lên: “Việc tôi, tôi làm, anh đừng hỏi.” Thấy một Hạ sĩ quan Tiếp liệu đi sau ông ấy tôi hỏi người này và được trả lời: “Đại úy cần niêm phong các kho lại để chuẩn bị bàn giao.” Tôi bốc giận nhưng vẫn giữ thái độ bình tĩnh, ôn tồn bảo: “Xin Đại úy mở kho để lấy vũ khí trang bị cho anh em chiến đấu.” Ông ấy trả lời: “Tôi là Trưởng khối tiếp liệu, chỉ có Chỉ huy trưởng và Chỉ huy phó có thể ra lệnh cho tôi, anh không đủ tư cách.” Tôi nói: “Nếu thế, xin Đại úy đảm nhận Sĩ quan trực hôm nay thay cho tôi và Đại úy có toàn quyền.” Ông ấy không nhận, lấy lý do ông chỉ biết về tiếp liệu, không quen tác chiến. Tôi liền bảo: “Chỉ huy trưởng và Chỉ huy phó vắng mặt, tôi là Sĩ quan trực, trong tình hình này tôi cần Đại úy mở kho ngay cho.” Ông ấy nhất định không chịu nên tôi rút khẩu Colt ra. Thấy tôi mặt hằm hằm, tay cầm khẩu súng, ông ấy la lên: “Anh không được làm ẩu, để tôi mở cửa kho cho.” Rồi ông ấy nhanh nhẹn mở kho và hướng dẫn anh em vào trong lấy những vũ khí theo yêu cầu của tôi. Sự thật khi ấy tôi chỉ có ý định rút khẩu súng ra để bắn phá ổ khóa cho anh em vào lấy vũ khí, nhưng có lẽ Đại úy trưởng khối Tiếp liệu lại hiểu nhầm mới la hoảng như thế. Chuẩn bị các vị trí phòng thủ xong, tôi đi một vòng cùng khắp Trung tâm, kiểm tra lại, hướng dẫn những điều cần rồi về hầm chỉ huy. Chỉ ít phút sau, những trận mưa pháo của địch đổ vào Tỉnh lỵ Phước Tuy và đơn vị chúng tôi là một trong những điểm chịu trận nặng nề nhất. Qua mấy tiếng pháo nổ đầu, đường giây điện thoại Trung tâm đã mất liên lạc với Tiểu khu, còn lại một máy truyền tin của hầm chỉ huy, sử dụng cây anten 292 liên lạc được ra ngoài. Mấy phút sau nữa thì cây anten trúng pháo, bị gãy và chiếc máy truyền tin duy nhất cũng bị trở ngại không còn sử dụng được. Một binh sĩ cho biết, còn một máy ANPRC-25 ở phòng ngủ Chỉ huy phó, nhưng không một ai chịu bước ra khỏi cửa hầm. Tôi liền chạy đi lấy, đến nơi ,  cửa khóa phải tông phá cánh cửa để mang chiếc máy về hầm chỉ huy. Trong lúc chúng tôi đang cố gắng dựng lại cây anten và tìm cách nối lại liên lạc với tiểu khu thì đạn pháo rớt xuống như mưa. Sau này tôi mới biết, vì mất liên lạc, tiểu khu nghĩ trung tâm và các kho tàng địch đã tràn ngập và pháo binh Sư đoàn Dù đặt ở Chu Hải cách 5km được lệnh bắn hủy diệt. Đồng thời, Việt Cọng cũng chưa xâm nhập vào được nên dùng hỏa tiễn 122 ly ở núi Thị vải bên kia sông bắn sang và các loại pháo khác cũng thi nhau nhả đạn vào chúng tôi. Tiếng đạn pháo lúc này còn hơn tiếng liên thanh, nổ dòn dã. Hầu như không một giây nào mà không có tiếng nổ, không một thước đất nào không có một trái pháo rơi xuống. Nhà cửa, xe cộ và mọi thứ bốc cháy ngùn ngụt. May thay, qua nhiều cố gắng trong tuyệt vọng, cuối cùng chúng tôi đã mở lại được liên lạc với Tiểu khu và Trung tá Chỉ huy trưởng của trung tâm YTTV, lúc này ông đang ở nhà. Sau đó tiếng pháo thưa dần, Trung tá yêu cầu chuẩn bị mở cổng chính và ông sẽ vào ngay. Ai nấy đều hết sức vui mừng khi thấy chiếc Jeep của Trung tá xuất hiện. Dưới lằn mưa đạn, ông đầu đội nón sắt, thân mang áo giáp đã đến nơi an toàn. Rủi thay, khi ông bước chân vào khỏi cửa hầm Chỉ huy thì té xỉu vì ông bị tiểu đường rất nặng và khi ra đi quá vội vàng đã quên uống thuốc mà cũng không mang thuốc theo. Sau khi y tá săn sóc cho, ông khỏe lại, ngồi dậy được và ủy lạo tất cả mọi người. Ông gọi những người có mặt ở hầm chỉ huy lúc bấy giờ và những binh sĩ ở gần có thể ghé vào được, tuyên bố: “Kể từ giây phút này Đại úy Báu là Chỉ huy phó của tôi, tôi giao quyền chỉ huy chiến đấu cho Đại úy Báu. Mọi người phải nghe theo ông ấy.” Và lệnh được truyền đi khắp đơn vị. Rồi ông quay lại nói với tôi: “Nếu trận chiến này qua đi, tôi bảo đảm anh sẽ được thưởng huy chương cao quí và được thăng cấp Thiếu Tá ngay.” Tôi trả lời: “Cám ơn Trung tá đã có lòng ưu ái với tôi. Phần tôi, tôi chỉ mong chúng ta giữ được đơn vị này và quân dân niềm Nam giữ được phần đất còn lại. Việc tưởng thưởng huy chương hay thăng cấp thì không quan trọng lắm đối với với tôi.”



Ngay lúc đó, ở vòng phòng thủ mặt hông nhìn ra sân vận động báo cáo: “Có sáu cái đèn mắt mèo từ hướng Long Lễ trên cánh đồng trống đang tiến thẳng gần đến chúng ta, có thể là sáu chiếc T-54 của địch.” Sự kiện quan trọng này lập tức được báo cáo cho Tiểu khu. Trong khi chúng tôi chuẩn bị phương án tác chiến thì Tiểu khu (không rõ nhân vật nào) ra lệnh không được bắn, phải để cho chúng đi qua và bảo đó là các xe M-113 của Sư đoàn Dù đang hoạt động ở vùng này. Chúng tôi an tâm không phải lo lắng nhiều nhưng vẫn đề cao cảnh giác, sẵn sàng trong tư thế chiến đấu. Khi sáu chiếc tăng đến đơn vị chúng tôi, chúng dừng lại trên con đường nhựa sát liền với tường thành phía trước và cả sáu chiếc đều nằm lọt giữa hai lô cốt chính ở hai góc, trọn vẹn trong tầm đạn hai khẩu đại liên. Tôi bò ra bờ rào phía trước, hôm đó trời tối đen như mực, mặc dầu chỉ cách các tăng này khoảng 4-5 mét nhưng không thấy gì cả, chỉ nghe toàn tiếng bộ đội trẻ miền Bắc ngồi đầy trên mấy chiếc tăng, nói chuyện ồn ào như chốn không người. Chúng có ngờ đâu tử thần đang sắp ập xuống trên đầu của chúng. Tôi bò về hầm Chỉ huy, chỉ cách các tăng này khoảng 30m, báo cáo cho Trung tá Chỉ huy trưởng biết tình hình nghiêm trọng như vậy. Sau khi so sánh lực lượng hai bên: quân số, vũ khí và tinh thần chiến đấu của binh sĩ, thấy không thể nào đối đầu với địch được, Trung tá có ý phân vân nên hỏi tôi: “Bây giờ anh tính thế nào? Có cách gì hay không?” Tôi đề nghị: “Tiên hạ thủ vi cường. Chúng ta đối với địch, lực lượng thì quá chênh lệch nhưng địch coi bộ không phải là thiện chiến, chúng hoàn toàn không rõ địa hình, địa vật, trời lại tối đen không thấy gì. Chúng ta dùng cú đánh phủ đầu thì phần thắng nghiêng về chúng ta.” Nghe nói thế Trung tá bảo: “Vậy tôi giao công việc tác chiến cho anh quyết định.” Trước hết lệnh sẵn sàng chiến đấu được ban ra cho toàn đơn vị: “Các khẩu cối và tất cả mọi người không được dùng trái sáng để tránh các vị trí chiến đấu bị lộ, địch sẽ quan sát địa thế rõ ràng. Trời tối chúng ta có lợi thế hơn.” Hai lô cốt trước được lệnh khi nghe tiếng nổ sẽ bắn chéo nhau càn quét tiêu diệt đám bộ binh Cọng sản đang ngồi đặc kín trên sáu chiếc T- 54, đúng ngang tầm cao của đại liên. Thêm mấy binh sĩ nữa được điều động tăng cường mặt trước và lựu đạn sẵn sàng để sử dụng tối đa. Tôi thấy Trung tá lo lắng nhiều nên ngỏ lời khích lệ ông: “Là những Sĩ quan được huấn luyện tốt và có lời thề với Tổ quốc, chúng ta quyết sống mái với địch. Dù có chết thì cũng chết một cách cho oanh liệt, bắt địch phải trả giá xứng đáng.” Trung tá giơ tay ngoéo tay tôi và hai người thề quyết giữ vững đơn vị cho đến cùng. Khi tôi trở lại bờ rào phía trước với những khẩu M-72, có hai Trung sĩ 1 đi theo. Phát M-72 đầu tiên được nhắm vào hông trái chiếc T-54 thứ 5. Nó đã bị hạ. Các trái M-72 kế tiếp được bắn tới tấp vào mấy chiếc tăng đi đầu, trong khi hai khẩu đại liên thi nhau ào ào nhả đạn. Đám bộ đội Cộng sản trên 6 chiếc T-54 này người tử thương, người bị thương, những tên sống sót nhảy xuống bờ đường phía ngoài, vì bờ đường nơi đây quá dốc, chúng đều lăn tuột tới bờ rào kho xăng phía dưới và bị chặn lại. Một trận mưa lựu đạn được tung ra, đám bộ đội này hoàn toàn im tiếng. Ít nhất cũng đến hơn 50 tên Việt cọng bỏ xác nơi đây. Bốn chiếc tăng đi đầu không biết đường nào mà phản ứng bỏ chạy thẳng về trước, hướng tới Tiểu khu, chiếc thứ 6 lui lại góc sân banh nấp sau đám lùm cây lum dum để dấu mình tránh đạn. Ba anh em chúng tôi quyết hạ nốt chiếc tăng này nên đi ra phía bờ tường sau lưng hang đá và tượng Đức Mẹ. Vì bị che khuất bụi cây và trời tối quá không nhìn thấy rõ nên phát M72 bắn ra bị hụt, chiếc T-54 lùi lại phía xa sau khi tặng chúng tôi một quả đại pháo nhức đầu, long óc. Phát đạn này làm Trung sĩ 1 Ninh đứng liền bên phải tôi tử thương. Trung sĩ 1 Tư phía trái tôi thì bị mất một phần quai hàm dưới phía phải, tôi đứng giữa chỉ bị tức ngực khó thở, lông mày và tóc phía trên trán quăn lại, da mặt nám đỏ, thái dương trái bị một vết thương nhẹ. Tôi trở về phòng chỉ huy, được giúp làm hô hấp nhân tạo cho dễ thở, còn hai anh em kia được băng bó tạm. Đến quá nửa đêm, một chiếc T-54 ở ngoài Tiểu khu quay lại, hình như để tìm kiếm chiếc đã mất liên lạc? Tôi có Binh 1 Đông đi theo với 2 khẩu M-72 ra phục sẵn, đợi chiếc tăng này đến gần lô cốt khoảng 20m thì nhả đạn. Trúng phát M72 đầu tiên nó bị loạng quạng, rơi xuống mương sâu bên cửa vào Trung Tâm Thẩm Vấn nhưng vẫn cố ỳ ạch muốn bò lên, đến phát M72 kế tiếp nó mới chịu nằm im tại chỗ không còn nhúc nhích cựa quậy nữa. Như thế trong đêm 27 rạng ngày 28/04/1975, chúng tôi với 26 binh sĩ cơ hữu và 10 anh em chiến hữu thuộc hậu cứ Long khánh di tản tạm trú tại đây đã chống lại với 6 tăng T54 và số chiến binh Cọng sản đông gần gấp 2, diệt 2 T-54 và sát thương khoảng hơn 50 tên Cọng sản, giữ vững đơn vị. Phần chúng tôi: 1 chết, 1 bị thương nặng và 1 bị thương nhẹ.




Sáng ngày chủ nhật 28/4 nhịp độ pháo địch giảm bớt, Trung tá Chỉ huy trưởng cho người ra trại gia binh gần đó điều động thêm được 10 binh sĩ vào tăng cường, anh em trong trại bây giờ tinh thần lên cao, tràn ra chiếc T54 bị hạ sau, lục soát. Sau khi cạy được nắp pháo tháp, có tiếng rên từ trong phát ra, Thượng sĩ 1 Kha hăng hái định nhảy vào ngay, tôi cản lại và bảo hãy thảy vào một quả lựu đạn trước đã. Ông này là người có lòng nhân ái, hỏi tôi: “Trong có người bị thương chưa chết, chúng ta vào cứu họ chớ sao lại làm như vậy?” Tôi bảo: “Tùy Thượng sĩ, muốn thảy lựu đạn vào trước rồi mới vào hay cứ nhảy vào ngay để rồi khi mới ló nhìn vào cửa hầm thì một loạt AK xối xả tuôn ra và cái đầu nát bấy của ông sẽ được đưa về tặng cho bà vợ và các con! Ông hãy chọn đi!” Nghe nói thế, ông rút lựu đạn ra không phải một mà là hai quả liên tiếp thảy vào trong, xong đâu đó ông nhảy vào. Vừa vào đã thấy ông trồi người lên kêu “ghê quá”, hai tay bưng hai cái đùi dính liền nhau nhưng chỉ còn từ thắt lưng quần trở xuống, hai bàn chân còn đi giày, thẩy một cái “đệt” ra ngoài và bảo: “Đùi ếch đây, ai muốn chiên, xào, nấu gì tùy ý, cứ đem về mà làm!” Nhìn cặp đùi tên bộ đội, tôi đứng lặng người không nói lời nào, trong khi tâm hồn bị xúc động nhớ đến hình ảnh trước đây khi tôi còn làm ở Bộ chỉ huy quân sự Bình giã, một người lính dưới quyền trúng một trái B-40 của địch, nửa thân mình phía trên bị tan biến như cám và cũng chỉ còn 2 cái đùi như thế. Sau đó, một cái “ba lô” dính bê bết máu được quăng ra. Khui “ba lô” này chúng tôi có được lá thơ của một chiến binh Cọng sản viết về cho người chị và gia đình ngoài Bắc mà chưa kịp gởi, trong thơ anh nói, hôm về phép tháng trước, anh có làm quen với một thiếu nữ trong làng, hai người yêu nhau và có hứa hẹn, anh sắp phải đi chiến dịch, nếu được bằng yên trở về, kỳ nghỉ phép tới anh sẽ làm đám cưới với cô, yêu cầu bà chị và gia đình ở nhà đối xử tốt với cô ấy. Anh còn xin cầu nguyện nhiều cho anh, vì anh được biết các chiến dịch trước đây anh em bộ đội chỉ có đi mà không có về, và chiến dịch lần này còn nguy hiểm hơn các chiến dịch trước. Đọc thơ này nước mắt tôi tự nhiên chảy ra và trao thơ lại cho Trung tá chỉ huy trưởng, ông đọc xong nét mặt cũng trở nên tư lự và thở dài một tiếng. Có lẽ lòng ông đang xúc động. Nhờ lá thơ, chúng tôi biết được tên đơn vị thiết giáp tấn công vào Phước tuy và một số tin tức tình hình địch. Đi tiếp ra mặt trước trại, máu me bê bết đã khô đọng trải đầy đường nhựa và trên cỏ, nhưng xác các tên bộ đội hồi hôm không rõ bằng cách nào, sáng ra chúng đã đem đi đâu mất, chỉ còn lại một cái cánh tay và mấy mảng đầu đầy tóc, chiếc tăng bắn hồi hôm còn đó nhưng không ai buồn lục soát tiếp nữa.




Khi trở vào trong trại thì Đại úy Công, Sĩ quan tài chánh Địa phương quân, lái xe Jeep vào. Tôi bận phải tiếp tục đi quan sát, củng cố tuyến phòng thủ sau một đêm bị pháo nặng nề có nhiều chỗ bị hư hao, chú ý các lô cốt chính và các ụ chiến đấu hai bên hông trại, bổ sung quân số lại cho thích hợp và chuyển thêm vũ khí đạn dược đến những chỗ cần nên không kịp chuyện trò thăm hỏi anh. Công việc xong đâu đó, tôi trở ra cổng chính để xem có cách nào tăng cường thêm khả năng cản địch tại đây không? Ngay lúc đó Đại úy Công lái xe đi ra muốn vượt qua cổng trại, tôi chào hỏi và nói: “Anh định đi đâu vậy? Giờ này rất là nguy hiểm, phải cẩn thận lắm đó.” Anh Công nói: “Tôi cần trở lại gia đình một chút.” Thấy tôi đứng ở cổng, tay vẫn cầm khẩu M-16 và nói chuyện với Đại úy Công, có lẽ Trung tá nghĩ tôi ngăn cản anh Công không cho xuất trại nên từ hầm chỉ huy cách khoảng 20m gọi lớn ra: “Anh Báu, anh Công có việc cần về một chút, vợ con anh đang ở nhà cả đó, để anh ấy về đi.” Tôi cho mở cổng và khi Đại úy Công vượt ra ngoài tôi thực sự lo ngại cho sự an toàn của ông bạn, nên còn gọi với theo: “Hãy cẩn thận nhé!” Và từ đó về sau, mãi đến khi họp mặt Hành Chánh Tài Chánh ở Mỹ tôi mới gặp lại người anh em này.

Nói về trận chiến, pháo địch chỉ giảm bớt trong thời gian ngắn, sau đó lại tiếp tục nã đạn vào chúng tôi. Lúc bấy giờ một số binh sĩ có phần nao núng, một Trung sĩ 1 dẫn đầu toán 11 người mang vũ khí cá nhân và chiếc máy truyền tin của hậu cứ Long khánh vượt bờ rào phía sau bỏ trại ra ngoài, các binh sĩ ở phòng tuyến gọi mãi không trở lại mà còn quay súng bắn vào anh em nên bị bắn hạ tại bờ rào. Mười người đi theo đã quay về tiếp tục chiến đấu. Sự việc này làm cho Trung tá Chỉ huy trưởng rất đau lòng.
Cuộc chiến cho đến quá trưa thì tình hình trở nên hết sức căng thẳng, thêm mấy binh sĩ nữa tử thương, một số bị thương vì pháo địch, bộ đội Cọng sản bao vây chặt chúng tôi, nhìn khắp chung quanh chỗ nào cũng có chiến binh Cọng sản. Chúng tôi liên lạc trực tiếp với Đại tá Tỉnh trưởng hiện đang ở Vũng tàu xin cho tiếp viện và được trả lời: “phải hoàn toàn tự lập, bộ binh, pháo binh, không quân đều không còn lực lượng nào để yểm trợ, tiếp cứu,” và Đại tá cho phép “Tùy nghi quyết định.” (Đây là lệnh cho phép rút quân). Trung tá Chỉ huy trưởng nói với tôi: “Đêm qua chúng ta đã cùng nhau thề quyết sống chết gì cũng ở lại giữ trại, nhưng bây giờ tất cả các đơn vị thuộc tiểu khu Phước tuy đã không còn nữa, Đại tá tỉnh trưởng bay xuống Vũng tàu rồi, dù chúng ta có ở lại cũng không ích lợi gì, vậy chúng ta hãy chuẩn bị rút về Vũng tàu.”

Lệnh được ban ra, tất cả các binh sĩ chuyển lần về khu vực Bộ chỉ huy, mỗi người mang theo súng M16, hai cấp số đạn, ít nhất hai trái lựu đạn và một súng M72. Phải bình tĩnh, im lặng và trật tự. Khi sắp ra đi tôi nhìn thoáng qua coi quân số đã đủ chưa thì không thấy Trung úy Quí, Sĩ quan thủ quỹ Địa phương quân, sợ anh không biết tin rút lui bị kẹt lại nên cho người tìm kiếm mãi không thấy, thì ra anh đã rời trại từ trước. Sau khi bàn thảo, mặt trước không thể đi ra bằng cổng chính, sẽ bị lộ. Mặt hông phía sân vận động dày đặc Cọng sản từ nhà máy nước trở ra. Mặt sau Việt Cộng đã đặt chốt chặn ở lô cốt sập ngã ba Xóm cát, chỉ còn hướng mặt hông, đi qua Trung Tâm Thẩm Vấn, vượt qua một đám ruộng trống tương đối không lớn lắm và đi vào đường mương hai bên trồng chuối sau trại gia binh là có thể được. Tuy nhiên cũng rất gay go vì phải đi qua khu vực Trung đội Cơ giới Tiểu khu, tin cho biết hiện có một T-54 đang án ngự nơi này và khi đến khu vực sau bệnh viện tỉnh là vùng Cọng sản đã xâm nhập. Cuối cùng thì cũng phải đi về hướng này vì đây là sinh lộ duy nhất, có hy vọng sẽ thoát ra ngoài được. Đến việc phá bờ rào dẹp đường ra ngoài, ai cũng ngán vì sợ khi mới ra tới bờ rào thì một loạt AK gần đâu đó đã không cho mình cơ hội ra khỏi trại nữa. Cuối cùng rồi một quãng bờ rào cũng phải sập xuống, bắc được mấy tấm ván để bước đi qua. Anh em nhanh nhẹn rút ra ngoài, Trung tá Chỉ huy trưởng yếu quá không đi được phải nhờ hai người dìu hai bên và khó khăn lắm mới ra ngoài được. Tôi giữ tấm ván cho mọi người đi và ra sau cùng. Ra khỏi trại, tôi đi lên trước dẫn đầu toán quân di tản. Khi vượt qua quãng ruộng trống tiến vào trại gia binh, thật là nguy hiểm! Việt cọng từ chốt lô cốt sập bắn ra xối xả. May không ai chết hay bị thương. Vào đến ẩn đạo, chúng tôi theo hướng bệnh viện tỉnh tiến tới. Đến gần chỗ Trung đội Cơ giới Tiểu khu thì chẳng thấy chiếc cơ giới nào của ta mà như tin đã nhận được, chỉ có một T-54 tại đây mà thôi. Tôi tiến lên để bắn chiếc T54 này nhưng Trung tá cản lại bảo: “Thôi mình tránh nó đi, sợ lên bắn nó, chưa đến gần để bắn được, nó đã thấy và hạ mình trước! Mà dù có hạ được nó thì bộ binh Cọng sản đang tràn ngập vùng này sẽ quay vào bao vây và chúng ta sẽ không chống nổi.” Lúc này Việt cọng từ chốt lô cốt sập lại bắn về phía chúng tôi liên tục, tôi bò lần theo bờ chuối tiến gần đến chốt này hơn, khi nó đã lọt vào tầm đạn, hai trái M72 liên tục được nhả ra. Đạn chính xác, hai tiếng nổ vang lên và từ đây tiếng súng ở chốt này im bặt. Chúng tôi vượt qua bệnh viện tỉnh, vùng này nhà cửa bị sập đổ tan tành vì pháo binh Cọng sản. Đến con đường Thành Thái, nhìn về phiá rạp Thành Thái, có hai chiếc M-113 của lực lượng Dù đang trấn giữ tại đây. Tiếp tục đi nữa, chúng tôi đến phía sau chợ mới Phước Tuy. Nhiều anh em nghĩ, đến đây chắc đã an toàn có thể thong thả vượt qua con đường nhựa mà vào chợ. Tôi cản lại, vì trong hoàn cảnh này không biết chỗ nào là an toàn, chỗ nào là không, phải cẩn thận đề phòng tối đa. Để Trung tá cùng nửa số anh em nằm lại yểm trợ, tôi dẫn một nửa băng qua đường trước. Khi vừa nằm xuống ở mép đường bên kia, hàng loạt AK chói chang từ trong chợ bắn thẳng vào chúng tôi. Lập tức chúng bị phản công dữ dội, các loại súng thi nhau nhả đạn, những khẩu M72 và M60 tỏ ra rất hữu hiệu. Tiếng súng địch đã im bặt, nhìn ra khoảng trống từ chợ đến con đường dọc bờ sông, khoảng ba, bốn chục bộ đội Cọng sản đang vội vàng tháo chạy. Mặc cho bao nhiêu khẩu M16 bắn xối xả, chúng đã thoát khỏi tầm đạn chúng tôi, về nấp ở bên phía bờ sông. Vừa đẩy lui được Việt cọng thì tai họa khác lại đến với chúng tôi. Hai chiếc M113 trước rạp Thành Thái nghe tiếng súng bắn nhau của chúng tôi và Việt Cọng, chạy đến vòng vòng quanh trong chợ, bắn đại liên tới tấp, chúng tôi lợi dụng gầm các sạp hàng trong chợ để ẩn đạn. Khá lâu, hai chiếc M113 này vẫn đứng đó và bắn tứ tung. Lo sợ bị phát hiện lầm là địch và bị tấn công, Trung tá chỉ huy trưởng ra lệnh dùng M72 bắn hạ hai chiếc M113 này. Nhìn mỗi chiếc xe có hàng chục lính Dù đứng trên đó, nếu bắn thì các binh sĩ này sẽ chết hoặc bị thương hết, tôi đề nghị cứ để vậy, khi họ không thấy gì là sẽ rút lui, bằng không thì cuối cùng hãy bắn. Trung tá chỉ huy trưởng đồng ý và chúng tôi tiếp tục ẩn nấp. Ít lâu sau, hai chiếc M113 chạy trở lại rạp Thành Thái. Chờ thêm mấy phút xem động tĩnh thế nào, thấy yên chúng tôi tiếp tục lên đường, băng qua quãng trống trước chợ, vượt qua con đường nhựa, đi xuống đám ruộng bên lề đường. Một cảnh tượng ghê rợn hiện ra trước mắt. Dọc theo mép đường về hướng Vũng Tàu, hố chiến đấu cá nhân của bộ đội Cọng sản dày đặc, hố nào cũng có một xác chết bê bết máu, có xác không toàn thây, xác nằm gục dưới hầm, xác chỏng cọng trên miệng hố không biết bao nhiêu mà kể. Nhìn lên giữa đường, ôi chao! Bạc đâu mà nhiều thế, toàn là bạc 500 xanh đang nguyên cục, mỗi cục như thế theo cách gói bạc của ngân hàng là 500 ngàn. Có đến khoảng gần 20 cục, thứ rách đổ trải đầy đường không kể. Các anh em binh sĩ ai cũng thèm thuồng muốn chạy lên kiếm một vài cục nhưng không ai dám vì bên kia đường, từ bờ sông, Việt cọng đang rải rác bắn lên, và chính trong anh em mình, nếu có gói bạc trong người, liệu có giữ được tính mạng an toàn hay không? Ngay lúc đó, một chiếc xe dân sự từ hướng Long điền chạy đi Vũng tàu, trên chật ních người, già trẻ lớn bé đủ loại. Vì Trung tá Chỉ huy trưởng quá yếu không thể đi được nên tôi đón chiếc xe lại, những người ngồi trên xe có vẻ hoảng hốt nhưng tôi ôn tồn bảo người lái xe: “Không có chuyện gì đâu, tôi chỉ xin ông cho gởi một người về Vũng Tàu.” Ông ấy hỏi ai? Tôi vẫy tay, hai người dìu Trung tá lại, thì ra ông này là Trưởng ty Điền địa tỉnh Phước Tuy, với Trung tá là chỗ quen thân nên ông lập tức xếp chỗ cho Trung tá lên. Ngồi trên xe rồi, Trung tá chỉ tôi và nói với ông Trưởng Ty: “Đây là Đại úy Báu ở đơn vị tôi, xin ông cho ông ấy đi theo với.” Ông Trưởng Ty liền kêu mọi người cố ngồi chen chúc lại để dành cho tôi một chỗ và Trung tá nắm tay tôi kéo lên xe. Tôi có ý chần chờ không chịu bước lên, Trung tá bảo: “Anh hãy bước lên và chúng ta đi thôi, tình hình cho thấy không còn gì nữa đâu, đất nước này rồi cũng sẽ không còn nữa!” Câu nói của Trung tá làm tôi quá đau lòng và tôi đã khóc lớn. Cho đến bây giờ viết đến đây tôi cũng lại khóc. Những người ngồi trên xe nhìn tôi, có mấy người cũng khóc theo! Tôi cố lấy lại bình tĩnh và trả lời: “ Trung tá đau yếu hãy đi trước, còn tôi, tôi phải ở lại đi với anh em, tôi sẽ dẫn anh em về Vũng tàu gặp Trung tá sau.” Khi toán quân chúng tôi vẫn giữ đội ngũ hành quân một cách trật tự về tới cầu Rạch hào thì bị chặn lại. Toán kiểm soát yêu cầu chúng tôi giao nạp vũ khí. Tôi không bằng lòng và nói với họ: “Đơn vị tôi, Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận Tiểu Khu Phước Tuy có kỷ luật và định về tiếp tay với các đơn vị bạn, yêu cầu cho chúng tôi giữ vũ khí và đi qua cầu.” Họ không chịu và nói: “Lệnh cấp trên, các binh sĩ bất cứ ai, cấp bậc gì muốn xuống Vũng tàu đều phải giao nạp vũ khí tại đây. Xuống Vũng tàu rồi gặp các cấp chỉ huy và muốn tiếp tục chiến đấu sẽ được tái trang bị.” Tôi bắt buộc phải cho anh em binh sĩ giao nạp vũ khí và nói với họ: “Kể từ đây chúng ta không còn vũ khí thì cũng không còn trách nhiệm, mọi người ai nấy tự lo cho mình. Nếu có cơ hội, chúng ta sẽ gặp lại nhau ở Vũng tàu.” Khi giao nạp vũ khí xong thì toán kiểm soát thay đổi thái độ, không cho bất cứ người nào được qua cầu. Trong khi đó pháo địch tiếp tục rót đạn dày đặc vào chúng tôi. Cùng quá tôi chạy xuống “sác” nấp. Một phi cơ trực thăng ở Vũng tàu lên lại theo bắn truy sát chúng tôi, có lẽ tưởng nhầm là bộ đội Cọng sản chăng? Đến khi tôi thoát được ra bờ sông thì mặt mày, mình mẩy lấm đầy bùn vì những lằn đạn từ trực thăng bắn xuống, may mắn không trúng người nhưng phải hứng chịu những đám bùn dày đặc văng lên kín hết thân mình. Sau đó tôi lột bỏ nón sắt, áo giáp và giày ra để bơi qua sông. Vì lúc này đã thấm mệt, yếu đi nhiều, phần thì bơi lội không được giỏi, nước sông lại chảy xiết nên tôi suýt chết đuối. Trong lúc nguy khốn, tôi nhớ đến lời hứa với vợ con: “Bất cứ việc gì xảy ra cũng về đến Vũng tàu gặp gia đình.” Như có gì khích lệ, sức mạnh tự nhiên tăng lên và phải cố gắng lắm mới qua được bờ bên kia. Lên khỏi bờ sông, tôi nghỉ một lát cho đỡ mệt rồi tiếp tục chạy lên đường quan lộ để về Vũng tàu. Pháo binh Cọng sản vẫn bắn truy đuổi sau lưng. Chạy được một quãng chưa xa, một tốp lính “rằn ri” chặn tôi lại lục soát vì thấy tôi trên áo có thêu lon và huy hiệu Hành Chành Tài Chánh, có lẽ họ nghĩ tôi có tiền. Sau khi lục soát không có gì, họ để tôi đi. Được một quãng đường nữa lại gặp đám “rằn ri” thứ hai và lục soát rồi, họ cũng để tôi đi, đến lần thứ ba, sau khi họ cho đi, tôi thấy mặc cái áo này chỉ gây thêm phiền phức và nguy hiểm cho mình nên cởi vứt nó đi. Về đến Cát Lở, tôi hầu như kiệt sức không chạy nổi nữa, may mắn gặp được anh xe ôm, anh đi đón người nhà nhưng không gặp và đồng ý chở tôi về Vũng tàu với giá 5 ngàn đồng. Khi về đến nhà trong sân bay Vũng tàu thì vợ tôi, một bà Soeur em tôi và các con đang đứng nháo nhác trước nhà, nhìn về hướng Phước tuy tràn đầy khói lửa, trông mong tôi. Thấy tôi về được, tất cả chạy lại ôm chầm lấy, mầng rỡ và khóc òa lên om sòm. Tôi cảm động và cũng khóc theo. Nhớ đến trước đây, khi tôi đề nghị gia đình xuống Vũng tàu ở, vợ tôi nhất định không đi và nói: “Tình hình gay go, nếu Việt cọng tấn công, gia đình đi hết, sẽ không có người giúp anh.” Tôi bảo gia đình hãy cứ đi trước, một mình ở lại đây khi xảy chuyện sẽ nhẹ gánh lo và tự bảo vệ cho mình dễ hơn, bà ấy vẫn do dự không chịu đi, đến khi tôi hứa với bà: “Nếu có xảy sự, bất luận thế nào tôi cũng sẽ về được với gia đình.” Khi nghe tôi nói thế bà ấy mới chịu đi. Tôi nói câu này để cho bà ấy yên tâm đem gia đình xuống Vũng tàu mà cũng do lòng tự tin mạnh mẽ của một Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cọng Hòa. Hôm nay tôi đã giữ được lời hứa ấy.

Tôi còn nhớ hôm tôi về là chiều tối Chủ Nhật 28 tháng 4, thấy ở trong phi trường rất nguy hiểm, sợ bị pháo kích, tôi đem gia đình về bãi Sau tạm trú tại một chỗ quen. Ngày hôm sau Việt cọng lại pháo kích vào khu bãi Sau làm gia đình hết sức lo sợ. Ngày 30 tháng 4 tôi đem gia đình về bãi Trước tạm trú ngoài hiên khu vực dòng Thánh Giuse và được chứng kiến một người quen, ông Đại úy Cẩn, phó ty An ninh Quân đội Phước tuy chết thảm. Số là ông Cẩn và ông Trung úy Đang cũng là bạn tôi, hai người kêu tôi hùn nhau cùng thuê bao một chiếc thuyền đưa gia đình ra tàu chiến Mỹ ngoài khơi Vũng tàu. Tôi không đi và nói với hai ông: “Ngày 27 tháng 4 tòa Lãnh sự Mỹ ở Phước tuy cho tôi và gia đình theo trực thăng ra tàu Mỹ, tôi đã không đi vì tôi không có gì bảo đảm khi sang đến Mỹ sẽ được đối xử thế nào và tôi thấy người Mỹ đã mấy lần không tốt với người Việt nam như khi tổ chức giết anh em Tổng Thống Diệm, rồi bây giờ lại bỏ Việt nam chúng ta mặc cho Cọng sản mà không chút tiếc thương! Vậy hai anh đi đi, tôi quyết ở lại, sống được thì sống, bằng có chết thì xác cũng được nằm trên đất nước tổ quốc thân yêu của mình.” Khi thấy Việt cọng pháo vào Vũng tàu, ông Cẩn cho thuyền ra xa ngoài khơi bãi Trước, tưởng là an toàn, nào ai học được chữ ngờ, một trái đạn pháo bay lạc ra trúng ngay giữa thuyền và ông Cẩn đã chết.

Ngày 1 tháng 5 khi Việt cọng đã chiếm được Vũng tàu cũng như toàn miền Nam Việt nam, các Sĩ quan quân đội miền Nam phải ra trình diện, điều ngạc nhiên gây ngỡ ngàng cho tôi là những người ngồi ở ghế quân quản Việt cọng để anh em Sĩ quan quân đội miền Nam trình diện và được cấp giấy xác nhận đa số trước đây là các Hạ Sĩ Quan thuộc Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận và các phòng ban bên Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Phước tuy. Khá quen thuộc! Khi xếp hàng để trình diện, tôi và người em đi với tôi là một Trung úy đứng nửa hàng đầu nhưng khi đến lượt mình thì họ loại tôi và người em ra khỏi hàng và bảo đứng chờ. Tôi rất sốt ruột khi thấy những người khác được trình diện và đem đi, còn mình cứ phải chờ mãi. Lâu lắm, một anh trong nhóm quân quản quen thuộc đó đi ra bảo nhỏ tôi: “Anh cứ chờ đi, tụi em sẽ lo cho anh.” Nói xong, anh ta trở lại phòng tiếp tục công tác. Khi hàng dài những người trình diện đã hết, họ đã được đem đi đâu tôi không rõ, cuối cùng đến hai anh em chúng tôi, một người trong nhóm làm việc, trước đây là Thượng sĩ 1 thuộc phòng 1 Tiểu khu Phước tuy hỏi tôi: “Người đi sau anh là ai?” Tôi bảo: “Đây là người em út của tôi, Trung úy Lê Minh Ngọc, làm việc ở Tiểu khu Bình tuy.” Một lát sau chúng tôi nhận được hai giấy xác nhận đã trình diện và cho về quê quán sinh sống. Thật là một điều mừng bất ngờ. Tối hôm đó chúng tôi theo một chiếc ghe trở về Bình Tuy.

Về đến nhà rồi, tôi và gia đình chuẩn bị tinh thần đón nhận một cuộc sống hoàn toàn thay đổi; đầy cam go dưới chế độ Cọng sản. Ngày 7 tháng 5 tôi đi một vòng Sài gòn, Biên hòa, và Phước tuy, có ý định tìm kiếm anh em đi lập chiến khu chống lại Cọng sản. Công việc không thành nên tôi trở về lại Bình tuy và sẳn sàng đón nhận những gì sẽ đến.

Costa Mesa, California, 27/4/2011
Lê Ngọc BáuCựu Đại Úy Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận Phước Tuy