Tuesday, March 13, 2018

Lời dạy của nhà thơ La-Mã Horace 
(65 trước CN - 8 trước CN)  gửi tới 
chúng ta.
- Hãy nhớ  rằng ngày nào cũng đều 
có thể là ngày cuối  cùng  của  bạn.
- Đi  sau  tội  ác  là  sự  trừng  phạt.
- Hãy chừng  mực  trong  mọi   thứ.
- Không ai bằng lòng với đời mình,
 ai   cũng   ganh   tỵ  với  phần  của 
người khác. 
Đây cũng là bài học cho mọi người.

Giáo hội Miền Bắc dưới thời cộng sản từ 1954 đến nay (kỳ II)

Thứ Năm, 07-07-2016 | 08:59:54
2. Dấu ấn của một thời
a. Những ký ức buồn thảm
Giáo hội Miền Bắc kiệt quệ không chỉ vì cuộc di cư lớn lao năm 1954.
Với số lượng giáo dân ít ỏi còn ở lại, kể từ đây, Giáo hội Công giáo Miền Bắc bắt đầu phải đối diện với những khó khăn từ chính sách thù nghịch Công giáo của người cộng sản.
Theo Stephen Denney, vì luôn coi Giáo hội Công giáo là “lực lượng cạnh tranh với chế độ mới” nên ngay khi nắm chính quyền, những người cộng sản, một mặt tìm cách hạn chế tầm ảnh hưởng của Giáo hội, mặt khác tìm cách biến Giáo hội thành một thứ “công cụ của nhà nước, trung thành với ý thức hệ và luật pháp của chế độ”.
Thực tế, trong lúc Hiệp định Geneva ký kết còn chưa ráo mực, cuộc di cư hai miền Nam – Bắc còn đang tiến hành, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cấp tốc thành lập cái gọi là “Ủy ban Liên lạc những người Công giáo yêu nước và yêu hòa bình”, nhằm “tuyên truyền chính sách của chính quyền đối với người Công giáo và động viên các tín hữu ủng hộ chế độ Cộng sản”.
Hội nghị đầu tiên của Ủy ban được nhóm họp lần đầu tại Hà Nội từ ngày 8-11/3/1955, với 191 đại biểu trong đó có 46 linh mục, 8 tu sĩ và 137 các vị đứng đầu ban hành giáo các giáo xứ. Hội nghị bầu ra một ủy ban chấp hành, đứng đầu là một nhóm nhỏ các linh mục ủng hộ Việt Minh gồm có Cha Vũ Xuân Kỷ (65 tuổi, xuất xứ tỉnh Nam Định) làm chủ tịch, Cha Hồ Thành Biên (65 tuổi, xuất xứ tỉnh Sóc Trăng) làm phó chủ tịch. Các linh mục khác đảm nhiệm các vai trò nổi bật trong ủy ban gồm có Cha Nguyễn Thế Vịnh (tỉnh Ninh Bình) và một người miền Nam tập kết, Cha Võ Thành Trinh (người em của ông này là sq VNCH ở tù cùng buồng với tôi tại trại Nam Hà.-- Tài) . Mục tiêu của ủy ban này, như được hội nghị dự kiến, là giúp xây dựng chủ nghĩa xã hội và nhằm “giải thoát người Công giáo Việt Nam khỏi ảnh hưởng chủ nghĩa đế quốc ngõ hầu phục hồi tư cách xứng đáng cho Mặt trận Tổ Quốc và quốc gia”. Một xuất bản phẩm hằng tuần, tờ Chính Nghĩa, được Ủy ban thành lập, truyền thông suốt ba thập niên sau đó các quan điểm của người Công giáo “tiến bộ” và chỉ trích các giám mục và linh mục bị phán đoán là quá bảo thủ. (x. Pedro Ramet… “Catholicism and Politics in Communist Societies – Công Giáo Và Đời Sống Chính Trị Trong Các Xã Hội Cộng Sản”, pp. 270-295).
Ông Hồ Chí Minh với các đại biểu dự cái gọi là Đại hội đại biểu những người Công giáo yêu tổ quốc, yêu hòa bình, tháng 3/1955
Ông Hồ Chí Minh với các đại biểu dự cái gọi là Đại hội đại biểu những người Công giáo yêu tổ quốc, yêu hòa bình, tháng 3/1955
Việc thành lập cái gọi là Ủy ban Liên lạc những người Công giáo Việt Nam yêu nước, mà di chứng và những hậu quả của nó để lại còn lâu mới xóa nhòa trong ký ức của người Công giáo Việt Nam, thực ra, mới chỉ là khúc dạo đầu trong chính sách hạn chế sự phát triển của Công giáo tại Miền Bắc của nhà nước cộng sản.
Theo Stephen Denney, cuộc “cải cách ruộng đất long trời lở đất” mà cộng sản áp dụng từ năm 1953 và đỉnh cao là năm 1956, cùng với chiến dịch “Cải tạo Công Thương nghiệp” sau đó, mới là cú đánh kinh hồn gây chia rẽ giữa một bộ phận giáo dân Công giáo và các chủ chăn của họ. Trong giai đoạn này, nhiều linh mục đã bị bắt giam. Các giáo dân nhiệt thành cũng chịu chung số phận với các chủ chăn của họ. Nhiều cơ sở tôn giáo bị cướp đoạt cách trắng trợn. Chủng viện bị đóng cửa. Đất đai, tài sản của Giáo hội bị tịch thu, chỉ riêng tại thành phố Hà Nội đã có khoảng gần 100 cơ sở bị nhà cầm quyền cưỡng chiếm cách trái pháp luật (x. Ibid.).
Song song với việc cưỡng chiếm tài sản hợp pháp của Giáo hội, chính quyền cộng sản, ngay từ những năm 1954, đã bắt đầu chiến dịch tuyên truyền đả kích Giáo hội, nhiều nhà văn, nhà thơ được huy động làm bồi bút cho chế độ và đích nhắm là đánh phá Giáo hội Công giáo. Những câu nói như: “Vì đạo mà mất nước”, “theo đạo là theo Tây”, “theo đạo là phản động”, “đạo Công giáo vứt bỏ bàn thờ ông bà”… là những câu nói cửa miệng của những cán bộ tuyên huấn và ngay cả những người được gọi là trí thức của chế độ đang giảng dạy tại các trường đại học. Nhiều tác phẩm văn học công kích Giáo hội Công giáo như Bão Biển của Chu Văn hay Vỡ đê của Nguyễn Khải… được đưa vào sách giáo khoa tại các trường phổ thông trung học. Có thể nói, chế độ cộng sản đã huy động một hệ thống tuyên truyền đồ sộ, với các loại hình khác nhau, từ rỉ tai tuyên truyền tới công khai thách thức, từ sách vở báo chí, cho tới phim ảnh truyền hình, bằng những ngón nghề xảo quyệt, vẽ lên hình ảnh Giáo hội Chúa Kitô ở Việt Nam là “phản động”, cần phải loại trừ ra khỏi đời sống xã hội. Và họ đã thành công khi tạo ra được trong con mắt người dân Việt Nam nói chung một cái nhìn thiếu thiện cảm đối với đạo Công giáo.
Đối với những người Công giáo, trước những tuyên truyền của chế độ, phần đông các tín hữu tại giáo tỉnh Miền Bắc mang nơi mình thứ mặc cảm về niềm tin của mình mà di lụy của nó còn kéo dài cho tới tận hôm nay, khi nhiều người vẫn không dám tự tin nhận mình là tín hữu Công giáo ở những nơi công cộng hay khi gặp gỡ bạn bè. Có lẽ, phải còn lâu lắm, Giáo hội Công giáo Miền Bắc mới có thể xóa nhòa được những hệ quả khủng khiếp mà chính quyền cộng sản đã gây ra cho xã hội Việt nam nói chung và Giáo hội Chúa ở Miền Bắc nói riêng.
Sau khi đã thành công trong chiến dịch tuyên truyền đả phá Giáo hội, chính quyền cộng sản đã không dừng lại, Trái lại, họ tìm cách cô lập những người công giáo, biến những làng công giáo sau di cư thành những “làng lương” trong đó người công giáo chỉ còn là thiểu số. Những làng công giáo ít người di cư, nhà cầm quyền dùng chính sách “đi kinh tế mới” đẩy họ tới các tỉnh biên giới nơi không có bất cứ bóng dáng của những giáo đường. Người công giáo bị xếp vào thành phần “những công dân hạng hai” trong xã hội, những thành phần cần thiết phải bị lưu đầy.
Mặt khác, với quyền lực trong tay, chính quyền cộng sản còn tìm mọi cách “luật hóa” những sinh hoạt của Giáo hội bằng những thứ nghị định, nghị quyết hay pháp lệnh, với những thứ phép tắc mà thực chất là những cấm đoán bất kể điều đó có vi phạm tới tự do tôn giáo của người dân hay không. Có thể thấy rõ, những lãnh vực mục vụ trước đây vốn thuộc về thế mạnh của Giáo hội như giáo dục, y tế, bác ái thì bị cấm đoán. Nhiều chức vụ xã hội, người Công giáo cho tới tận hôm nay, vẫn không thể bước chân vào nếu không tuyên bố bỏ đạo, như ngành công an, ngoại giao…
Bên cạnh những thứ gọi là “văn bản luật”, chính quyền cộng sản đã ngang nhiên tìm đủ mọi cách ngăn chặn các Giám mục, linh mục tới phục vụ con chiên ngay trong địa hạt quản lý mà Giám mục giáo phận ủy thác cho họ. Thực tế, tại Giáo phận Hưng Hóa, mãi tới năm 1987, lần đầu tiên, Đức Giám mục Giáo phận Hưng Hóa mới được phép đến thăm mục vụ và ban Bí tích Thêm sức cho một giáo xứ tại tỉnh Phú Thọ, mà linh mục chính xứ khi đó đang là ủy viên hội đồng nhân dân tỉnh. Câu chuyện Đức Giám mục Vinhsơn Phạm Văn Dụ, Giám mục Giáo phận Lạng Sơn – Cao Bằng, phải 19 năm sau khi được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục Chính tòa năm 1960, trên đường chạy loạn cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung (1979), mới được Đức Hồng y Phaolô Phạm Đình Tụng, phong chức “Giám mục chui” tại Nhà nguyện Tòa Giám mục Bắc Ninh, là minh chứng hùng hồn cho chính sách “siết chặt” mà nhà cầm quyền Hà Nội áp đặt lên Giáo hội Công giáo Miền Bắc.
Thái Hà, ngày 5 tháng 7 năm 2016
Lm. Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong, C.Ss.R
(còn tiếp)
Nguồn : http://chuacuuthe.com/giao-hoi-mien-bac-duoi-thoi-cong-san-tu-1954-den-nay-ky-ii/
Đọc thêm kỳ 1 ở :http://chuacuuthe.com/thoang-nhin-ve-su-hien-dien-day-kho-khan-cua-giao-hoi-mien-bac-duoi-thoi-cong-san-tu-1954-den-nay-ky-i/ 

Monday, March 12, 2018

CNN Coverage of Crisis in Moscow (Oct 1993)

Chừng nào giới trí thức VN ra thư ngỏ như vầy ?
(Sau khi quân đội ủng hộ TT Yeltsin tấn công vào tòa nhà QH - đã chiếm cứ bởi những người định phục hồi chủ nghĩa CS . . . -Tài) .
. . .
"Ngày 5/10/93 , báo Izvestiya (Tin Tức) đăng thư ngỏ , gửi tới CP và Tổng thống , mang tên "Các nhà văn yêu cầu CP có các hành động dứt khoát" , được ký bởi 42 nhà trí thức Nga và vì vậy được gọi Lá thư của Bốn Mươi Hai Người
. Lá thư được viết do phản ứng với những sự kiện trước đó và chứa đựng 7 yêu cầu :
1/ Mọi loại đảng , mặt trận , hay hội của cộng sản hay chủ nghĩa dân tộc phải bị giải tán và cấm bởi 1 sắc luật của TT .
2/ Mọi nhóm hay hội đoàn bán quân sự hay võ trang bất hợp pháp , dù với danh nghĩa nào (a fortiori) , phải bị nhận dạng và giải tán , kể cả chịu trách nhiệm hình sự nếu vi phạm pháp luật .
3/ Nên bắt đầu soạn thảo các văn bản luật pháp nhằm chế tài mạnh mẽ : a/ đối với sự tuyên truyền cho CN phát-xít , CN sô-vanh , thù hận chũng tộc , b/ đối với những kêu gọi bạo động , hành động hung ác (brutality) . Các công tố viên , điều tra viên , thẩm phán liên quan đến các các tội ác nguy hiểm đến xã hội này phải bị đuổi việc ngay lập tức .
4/ Các cơ quan báo chí , trước đây hàng ngày cổ vỏ sự thù hận , kêu gọi bạo động và , theo quan điểm của chúng tôi , là 1 trong những người tổ chức hay thủ phạm (perpetrator) chính của thảm kịch vừa qua (và là thủ phạm tiềm năng của nhiều thảm kịch trong tương lai) , như là báo Den (Ngày) , Pravda (Sự Thật) , Sovetskaya Rossiya (Sô viết của Nga) , Literaturnaya Rossiya (Văn học của Nga) (cũng như CT truyền hình mang tên 600 Giây) và 1 số khác , phải bị đóng cửa cho khi có phiên tòa mở ra .
5/Các hoạt động của các cơ quan thuộc thẩm quyến Soviet đã từ chối tuân lịnh của thẩm quyền lập pháp của nước Nga phải bị đình chỉ .
6/Chúng ta cùng nhau ngăn ngừa phiên tòa xử những người tổ chức và tham gia thảm kịch đẩm máu này tại Moscow để nó trở thành trò hề nhục nhã được gọi là "phiên xử của Bè lủ Tám tên" .
7/ Chẳng những chúng tôi không công nhận Đại hội Đại biểu Nhân dân , Hội đồng Tối cao , mà ngay cả các cơ quan (bao gồm Tòa Hiến pháp) được tạo bởi ĐH và HĐ này đều là bất hợp pháp ".
Tạm dịch từ : On October 5, 1993, the newspaper Izvestiya published the open letter "Writers demand decisive actions of the government" to the government and President signed by 42 well-known Russian literati and hence called the Letter of Forty-Two. It was written in reaction to the events and contained the following seven demands:[48]

All kinds of сommunist and nationalist parties, fronts, and associations should be disbanded and banned by a decree of the President.
All illegal paramilitary and a fortiori armed groups and associations should be identified and disbanded (with bringing them to criminal responsibility when it is bound by a law).
Legislation providing for heavy sanctions for propaganda of fascism, chauvinism, racial hatred, for calls for violence and brutality should finally begin to work. Prosecutors, investigators, and judges patronizing such socially dangerous crimes should be immediately removed from their work.
The organs of the press, which from day to day inspire hatred, call for violence and are, in our opinion, one of the main organizers and perpetrators of the tragedy (and potential perpetrators of a multitude of future tragedies), such as Den, Pravda, Sovetskaya Rossiya, Literaturnaya Rossiya (as well as the television program 600 Seconds) and a number of others, should be closed until the judicial proceedings start.
The activities of bodies of the Soviet authority which refused to obey the legitimate authority of Russia should be suspended.
We all together must prevent the trial of the organizers and participants of the bloody drama in Moscow from becoming similar to that shameful farce which is called "the trial of the Gang of Eight."
Recognize not only the Congress of People's Deputies, the Supreme Council but also all bodies (including the Constitutional Court) formed by them as nonlegitimate.
Tạm dịch từ nguồn : 1993 Russian constitutional crisis trên Wikipedia .

 https://en.wikipedia.org/wiki/1993_Russian_constitutional_crisis

ĐAI ĐỒNG HUYNH ĐỆ: Ảnh sưu tầm 40 năm cuộc hành quân hạ Lào "Lam Sơn ...


 https://huynhdedaidong.blogspot.com/2012/05/anh-suu-tam-40-nam-cuoc-hanh-quan-ha.html
Ảnh sưu tầm về hành quân Lam Sơn 719 hay trận Hạ Lào (CS gọi là trận đường 9 Nam Lào) .
Suy nghĩ về dân tộc tính của VN và Tây phương .
1/Nước Việt Nam rất lạ lùng và ko giống ai vì được cai trị bởi những ng phần lớn chỉ giỏi về binh đao khói lửa hay con cháu họ (bọn CCCC) , chứ ko bởi những người có kỷ năng về quản trị hay các ngành chuyên môn khác .
Chẳng hạn như Nguyễn tấn Dũng , Phùng quang Thanh hay Đinh thế Huynh , Nguyễn chí Vịnh (con Nguyễn chí Thanh) , Võ văn Thưởng (con Võ văn Kiệt) v.v... Kể ra ba ngày ko hết . Họ sống và chìm đắm hay nghiện ngập trong hào quang của quá khứ . Nếu vứt bỏ hào quang này , họ chỉ là con số KHÔNG vĩ đại .
2/ Người Tây phương lại rất khác chúng ta : họ chỉ để ý đến HIỆN TẠI . Lấy một VD nhỏ : họ thích ai thì họ cưới , không cần biết hay để ý đến QUÁ KHỨ (của ng đó) hay gia đình vợ (hay chồng) như thế nào ; và cũng ko bị ảnh hưởng/tác động bởi gđ của họ (vì họ TỰ quyết định cuộc đời của họ) !
Cũng như vậy , trong chiến tranh VN , ng Mỹ đã trọng dụng các hồi chánh viên sau khi các ng này đã trải qua giai đoạn thử thách và hội nhập tại trung tâm chiều hồi cấp tỉnh . (Theo các cựu binh Mỹ viết trên mạng , các HCV đã làm việc HẾT MÌNH * với quân đội mỹ (mỗi SĐ có ít nhứt là 100 HCV) như giúp đở họ tránh mìn bẫy , biết rõ cách thức hoạt động của chiến binh CS , biết rõ địa hình , v.v... nhờ vậy đã giảm thiểu thiệt hại rất nhiều . Theo một số thống kê , có khoảng 100.000 ng đã hồi chánh và chỉ từ 1967-70 đã có 300 HCV tử trận và hơn 1.000 bị thương . Khi phục vụ trong QĐ Mỹ thì họ có lương cao , ăn uống đầy đủ , v.v... có mặt ở cấp đại đội để thông dịch khi bắt hay tra hỏi tù binh .
Nếu phục vụ trong QLVNCH thì họ hưởng mọi quyền lợi và được đối xử bình đẳng như mọi quân nhân khác ; ở đơn vị tôi có dùng HCV .
3/ Qua tiếp xúc với ng Mỹ , tôi thấy họ chỉ khuyến khích con họ học chứ không làm bài rồi cho con chép lại . Họ tập cho trẻ tính TỰ LẬP từ nhỏ . Trong khi đó , có phụ huynh VN làm bài tập cho con rồi để con chép lại nộp cho thầy : họ nghĩ rằng , khi làm như vậy , con họ sẽ được điểm cao : họ ko biết rằng làm như vậy họ đã làm hõng tính tự lập của con mình .
4/ Nạn CCCC ở VN cũng xuất phát từ dân tộc tính này . Các phụ huynh VN phần lớn quá BẢO VỆ/BẢO HỘ (protective) con cái quá mức . Dù con đã trưởng thành , họ vẫn còn lo chúng từng ly từng tý . . .Trong khi ở Mỹ , trẻ em đủ 18 là bay đi luôn , họa hoằn lắm chúng chỉ nhớ đến cha mẹ vào các ngày Father's Day , Mother's day , Christmas hay Thankgivings . . . TNS McCain , khi là phi công của HQ , vẫn bay vào lửa đạn dù bố là đô đốc , TL lực lượng Mỹ tại Thái bình dương (CINCPAC) . Trong khi đó , tôi thấy rất ít con các ông lớn của hai phe quốc-cộng ở đơn vị tác chiến . Phần lớn chúng đi học ở nước Pháp , Mỹ , Úc , CND hay các nước Đông Âu và LX . Blogger Hiệu Minh , hiện làm cho World Bank , cho biết , trong thập niên 1960 , anh đi du học ở Ba Lan cùng với bọn CCCC hay còn gọi là HẠT GIỐNG ĐỎ như Nguyễn Thế Thảo ( cựu chủ tịch HN) ; hay Nguyễn v Bình , học LX , từng làm Thống đốc NHNN.
Anh cho biết , trong khi xe lửa chở anh và bọn CCCC đi du học thì ở xe lửa kế bên chở đầy thanh niên xuôi nam để chiến đấu ở chiến trường miền Nam .
Chính nhờ sự hy sinh của các thanh niện này mà bọn CCCC mới có địa vị như ngày nay!
* Một Thiếu tá cố vấn tại một tỉnh miền trung cho biết , nếu ko sự lanh trí của HCV , ông đã chết . Hôm đó ông đi HQ cùng với 1 đv của VNCH . Khi đi ngang 1 làng quê , bất ngờ HCV này đã xô ông ngả để tránh loạt đạn bắn đi từ một du kích VC ! Anh HCV này đã được huy chương Mỹ vì đã cứu sống ông trong gang tấc .
singapore , lý quang diệu , yingluck , phép lạ kinh tế của singapore ,

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1340210509326105&set=pcb.1340209072659582&type=3