Saturday, February 24, 2018

LÃNH ĐẠO TÔN GIÁO HAY CHÍNH TRỊ HƯ HÕNG , THOÁI HÓA PHẦN LỚN DO CẤP DƯỚI . 
- Tôi ko sợ kẻ thù mà sợ cấp dưới thấy tôi có sai lầm mà ko dám nói ra . -- Hoàng đế Napoléon . 
Tôi xin kể 2 VD : 
1/ Ba tôi có 1 ng bạn , ông này có con trai , tu học tại Tích Lan (Sri Lanka) lên tới Đại đức . Về VN được giao trụ trì 1 chùa tại 1 quận ngoại thành . (Bên PG thời đó , muốn trở thành ĐĐ phải qua nhiều thử thách , trong đó có chấp nhận chịu đau khi ng ta dùng nhang (đang cháy) chích vào đỉnh đầu , thành sẹo , v.v...) . Thời đó , khoảng thập niên 1980 , các Phật tử , đặc biệt là nữ , thường quá chăm lo , săn sóc các thày bằng món ngon vật lạ . . . chưa kể , do vô tình hay cố ý , ăn mặt ko kín đáo (mặc đồ bộ - giống như đồ ngủ - thay vì áo nâu sòng khi đi chùa) . Như vậy , thày làm sao ko bị cám dỗ và sa ngã . (Thày cũng là ng chứ đâu là thánh) . Thế là ông này hủ hoá với 1 đệ tử và đã bị giáo hội lột áo , đuổi khỏi chùa .
Một hai năm đầu , ông được ông già vợ giao trông coi 1 KS ở SG . . . sau đó vài năm thì nghe nói đi tu trở lại và đang tu học tại Mỹ . Ít ng như ông , đã hoàn tục , lấy vợ đẹp , công việc ngon lành mà lại từ bỏ để trở về đạo .
2/ Theo ông Nguyễn văn Hanh , cựu Thống đốc NH dưới thời ông Diệm , Thiệu thì : ông Diệm đạo đức , thanh liêm nhưng cấp dưới , phần lớn quỳ lụy , khép nép khi gặp ông . Cũng do sự nịnh bợ này , ông đã có cái nhìn sai lạc về tình hình đất nước vì phần lớn cấp dưới đã dối gạt ông .
Là 1 người từng làm việc dưới chế độ cũ , tôi thấy 1 số cấp trên của tôi cũng như vậy . Như sếp mình mới Chuẩn tướng mà cứ gọi ông là Thiếu tướng . . . . Cũng do văn hóa luồn cúi như vậy , họ đã dấu cái xấu , chỉ nói cái tốt , dẫn đến cấp lãnh đạo có cái nhìn sai lạc về tình hình .
Chính những kẽ xu nịnh , luôn cố gắng làm đẹp các báo cáo , che dấu sự thực , v.v... để vui lòng cấp trên đã làm các lãnh đạo hư hỏng , thoái hóa , v.v... đưa đất nước đến sụp đổ hay tụt hậu so với láng giềng .
Tại sao Mỹ và Anh là điểm đến của di dân LẬU (chứ ko phải là Pháp hay Úc) ?
Nhờ các dân Parisienne như Nhu Lanon nhận xét ý kiến của tôi về nhập cư tại Pháp , vì có thể 1 số info đã lỗi thời . Cám ơn .-- Tài .
1/ Với Hiến Pháp , viết bởi các người hết lòng vì nước vì dân như Jefferson . . . và được tu chính nhiều lần , nước Mỹ vẫn là ĐIỂM ĐẾN của mọi sắc dân trên TG dù tôn giáo , văn hóa , ngôn ngữ khác nhau . . .họ giống nhau ở điểm : ở đó họ có thể phát huy tài năng của mình , con cháu có nền GD miễn phí và đẳng cấp , mọi người bình đẳng và có CƠ HỘI ĐỒNG ĐỀU , luật pháp nghiêm minh , v.v...
Người Mỹ nói , thể chế của họ CHƯA hoàn toàn (perfect) nhưng họ chưa tìm thấy 1 thể chế nào tốt hơn .
2/ Nếu ko được dẫn dắt , soi đường hay PHÙ HỘ bởi các nhà thông thái (sage) tức các quốc phụ của Mỹ , thì làm sao họ luôn dẫn đầu thế giới về KT , GD, VH . . . với các ĐH hàng đầu , bằng Nobel , phát minh về KHKT (như computer hay internet) , phim ảnh , v.v...
Một GS Đức , được mời làm Viện trưởng 1 ĐH tại Đức nhưng ko nhận , nhưng lại làm GS tại 1 ĐH Mỹ . Lý do : ở đó , ông được tiếp cận những thành tựu hàng đầu về KHKT - mà ở Đức ko có được !
CND , có ngôn ngữ , văn hóa , tài nguyên thiên nhiên , v.v... giống hay dồi dào hơn Mỹ , nhưng vẫn là người chị em khiêm nhường (của Mỹ) . Nhiều nghệ sĩ về âm nhạc , điện ảnh , v.v... nổi tiếng của CND sống tại Mỹ như Céline Dionne , Avril Lavigne , Justin Bieber , Jim Carrey , . . .coi nước Mỹ là quê hương của họ . . . Tại sao ? Ở Mỹ , tài năng của họ mới phát triển vượt bực . . . vì nước này là BỆ PHÓNG của họ . Johnny Hallyday , ca sĩ nổi tiếng Pháp , gần như định cư tại Hollywood với cô vợ ng mẫu Laeticia và 2 con nuôi gốc VN .
Không phải do tôi ở Mỹ nên tô hồng nước Mỹ , nhưng đây chỉ là những nhận xét về lý do của sự VƯỢT TRỘI của họ so với nước khác .
3/ Đây là một đất nước mà : a/mọi người đều là DI DÂN , (không phân biệt sinh sống nhiều đời hay mới sang) , b/có cơ hội đồng đều trong GD , XH , YT . . . c/ và bình đẳng trước pháp luật .
Tôi thấy yếu tố a đã hấp dẫn ng ta đến Mỹ vì các nước như CND , Úc đều có yếu tố b và c ; nhưng yếu tố a không được khẳng định hay rỏ ràng = Mỹ .
Ngoài Mỹ , tôi thấy, có Anh vẫn là điểm đến của di dân LẬU vì Anh cũng có yếu tố b và c và cả a : họ không khắc nghiệt với DDL như Pháp hay Úc . . . Ở Pháp DDL bị tống giam * , chờ đủ người cho 1 chuyến bay thì bị tống xuất về nước . Ở Úc , DDL (bằng đường biển) , bị giam tại 1 đảo , mà số này chỉ vài trăm người !
Nói thêm : nước Mỹ có khoảng 11,7 triệu di dân LẬU (trong khi Canada có khoảng 100 ngàn , chưa bằng 1/100 của Mỹ , theo New York Times), còn được gọi là undocumented immigrant (di dân ko giấy tờ hợp lệ) , thế mà con cái dưới 18 được đi học và chăm sóc miễn phí (phụ nữ sanh đẻ và có con dưới 18 được chăm sóc free) . . . họ có thể làm các nghề như (bán kem dạo , làm vườn , thu hoạch trong nông trại , v.v.. nhưng ko được nhận vào công sở vì luật pháp ko cho phép), miễn đừng phạm pháp là ko bị CS "hỏi thăm" . Ngoài đường , ko có vụ CS xét giấy để kiểm tra quốc tịch * như ở Pháp . Con cái của họ , sau khi học xong TH thì ko được vào ĐH (gây tốn kém cho CP) - một số DB đề nghị bải bỏ điều này .
* Nhận xét của tôi về Pháp đều dựa vào thông tin cũ , ko biết hiện nay có khác ko ?

Plato: Ngụ ngôn về cái hang

Posted by admin on June 1, 2016
Nguồn : http://sieusangtao.net/2016/06/01/plato-ngu-ngon-ve-cai-hang/

“Điều gì đã hoàn thành rồi sẽ bắt đầu lần nữa, điều gì đã được làm xong rồi sẽ được làm xong lần nữa; dưới ánh mặt trời, không có thứ gì hoàn toàn mới.”-- Vua Solomon 


Plato (Athen- Hi Lạp 427 TCN – 347 TCN) được xem là triết gia có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến nền văn minh phương Tây. Ông là học trò của Socrates, và nhờ ông chúng ta có những thông tin quan trọng về Socrates. Ông đã thành lập trường đại học đầu tiên – Academy. Aristotle cũng là một học sinh của học viện này. Công trình nổi tiếng nhất của Plato là cuốn “Cộng Hòa”, trong đó ông viết về mô hình của một xã hội lý tưởng được điều hành bởi những nhà triết học. Plato đã để lại dấu ấn sâu sắc lên sự phát triển của rất nhiều tư tưởng sau ông. Và điều đó còn kéo dài đến tận ngày nay ở xã hội phương Tây hiện đại.

Ngụ ngôn về cái hang
Plato đã giải thích tri thức của mình bằng câu chuyện ngụ ngôn về một cái hang. Chuyện ngụ ngôn này được tìm thấy trong cuốn thứ bảy của tác phẩm “Cộng Hòa”. Nó rất sống động và thường được trích dẫn như một ví dụ quan trọng.
Plato bảo chúng ta hãy tưởng tượng ra một cái hang. Bên trong, có nhiều người đang bị xiền xích, bọn họ chỉ nhìn vào vách đá trước mặt và không thể xoay người để nhìn qua hướng khác. Bởi vì những sợi xích, họ không thể nhìn thấy bất kỳ ai ở bên cạnh cũng như lối ra của cái hang ở ngay sau lưng mình. Nguồn sáng duy nhất bên trong hang là một đám lửa trại. Ở giữa mọi người và đám lửa có một màn che, phía sau màn che, những người khác đang qua lại như thể làm việc gì đó. Những người này mang theo nhiều bức tượng như tượng đàn ông, đàn bà và các loại thú vật được tạo ra từ đá và gỗ. Một số trong bọn họ cũng nói chuyện với nhau trong khi bước đi. Những người đang bị xích nhìn thấy bóng của chính họ và những gì đang diễn ra sau lưng mình trên vách đá trước mặt. Và vì âm thanh giọng nói vang dội bên trong hang động, họ nghĩ rằng những cái bóng là thực thể và chúng còn đang nói chuyện với nhau. Vì không có gì làm ngoại trừ việc nói về những cái bóng, những người đang bị xích tìm cách đoán xem hình ảnh nào sẽ diễn ra tiếp theo, và chúng diễn ra theo thứ tự nào. Những ai dự đoán chính xác hơn đều nhận được sự ngưỡng mộ, tôn trọng và tiếng hoan hô từ những người khác.
plato-allegory-of-the-cave
Nguồn : Bài Allegory of the Cave of Plato trên wiki 

Trong ẩn dụ của mình, Plato so sánh con người chúng ta với những kẻ bị xích trong cái hang này. Ông chỉ ra rằng chúng ta tin tưởng mình thấy được thực tại bằng cách nhìn vào những cái bóng trên vách đá. Ông nhấn mạnh, chúng ta nên xem xét khả năng có một người có thể thoát khỏi xiền xích để đứng lên và nhìn thấy ánh sáng nơi cửa hang. Ánh sáng mặt trời đó có thể gây tổn hại đến anh ta vì anh đã quá quen với bóng tối. Vì vậy, anh ta không thể có cái nhìn rõ ràng. Tuy nhiên, nếu anh ta trở nên quen với ánh sáng đó và nhìn thấy những gì thật sự diễn ra đằng sau màn che, một sự thấu suốt về những ảo tưởng sẽ đến- Một ánh sáng rực rỡ của sự hiểu biết.
Ngụ ngôn về cái hang của Plato được dùng để diễn tả cuộc đời của mỗi cá nhân. Chúng ta dành cả đời để học tập và hiểu biết bằng cách sử dụng những giác quan nhưng cuối cùng lại bị chính các giác quan này giới hạn và không thể nhìn thấy thực tại như nó vốn là. Thoát khỏi cái hang có nghĩa là sự vươn lên của tư tưởng để thoát khỏi thế giới giáo điều và để tiếp xúc với những nguồn ý tưởng độc đáo và hoàn toàn mới lạ. Điều này có thể đạt được bằng quá trình học tập có chính kiến và một tư tưởng nhận thức rõ ràng về các ảo tưởng.
Plato kết thúc câu chuyện ngụ ngôn bằng các câu hỏi: Liệu điều gì sẽ xảy ra cho anh chàng đã thoát khỏi xiền xích, ra ngoài hang và nhìn thấy mặt trời? Điều gì xảy ra tiếp theo khi anh ta cố gắng giải thích cho những người đang bị xích điều thực sự đang diễn ra – hình dáng thật sực của thực tại. Có vẻ như những người bị xích sẽ không thể hiểu nổi sự thấu suốt đó – họ sẽ xem anh ta là một kẻ điên. Và có thể một nổ lực nhằm mang những người này ra khỏi hang sẽ dẫn đến cái chết cho anh chàng hiểu biết đó. Plato sử dụng câu chuyện ngụ ngôn này nhằm đề cập đến số phận của người thầy –Socrates – người đã bị thành Athen hành quyết bằng một chén thuốc độc.

Cái hang ở thế kỷ 21

Bây giờ, chúng ta hãy tiếp cận chủ đề này từ một góc nhìn khác – một góc nhìn của thế kỷ 21. Liệu câu chuyện ngụ ngôn về cái hang có còn phù hợp trong thời đại của chúng ta?
Câu trả lời là chắc chắn nó còn phù hợp. Vua Solomon từng nói “Điều gì đã hoàn thành rồi sẽ bắt đầu lần nữa, điều gì đã được làm xong rồi sẽ được làm xong lần nữa; dưới ánh mặt trời, không có thứ gì hoàn toàn mới.”
Câu hỏi bạn cần đặt ra là liệu bạn là kẻ bị xiền xích hay là người “thấy” những thứ đang trói buộc mình? Cho dù bạn “thấy” những xiền xích, nếu  trên vách hiện ra những hình ảnh vô cùng rực rỡ của một cuộc đời hoàn hảo, liệu bạn có muốn tin đó chỉ là ảo ảnh? Và đây là câu hỏi khác – bạn có muốn thay đổi? Bạn có đủ can đảm để bước một bước táo bạo ra khỏi vùng thỏa mái của bản thân?
Luôn luôn có một lối ra khỏi hang dành cho những người dũng cảm và táo bạo. Tuy nhiên, thật không may, điều này không đơn giản như cách nhân vật Neo trong bộ phim Ma Trận uống viên thuốc màu đỏ. Nó là một quá trình tự thử thách, tự hoàn thiện của mỗi cá nhân. Nhờ hàng  giờ tìm kiếm, học tập, kiểm chứng và mang kiến thức mới tìm được áp dụng vào thực tế. Mọi kiến thức đều vô dụng nếu nó không được dùng bền bỉ và có mục đích.
Bước đầu tiên là tự đánh giá. Nhìn thấy và chấp nhận tất cả những khiếm khuyết và vấn đề trong tính cách. Tiếp theo, loại bỏ và kiên trì tiết chế các ham muốn vật chất. Bước thứ ba là dành cái nhìn khiếm tốn và nhẹ nhàng cho tất cả các tạo vật và biến cố trong cuộc đời. Tính cao thượng sẽ theo đó mà nảy sinh. Bước thứ tư là hãy yêu quý từng khoảnh khắc được tồn tại và làm cho từng khoảng khắc đó trở nên độc nhất. Bước thứ năm – Tôi sẽ dành để bạn tự khám phá …
Hãy bước ra khỏi chiếc hang để đắm mình trong ánh sáng và đừng bao giờ ngừng kể cho người khác những điều bạn trãi nghiệm ở bên ngoài. Thay đổi bản thân và rồi bạn sẽ thay đổi thế giới.
(learning-mind.com – Dịch: Viết Nguyên- Ảnh nguồn Internet)

Mời bạn share bài viết
TwitterFacebookGoogle+

Paris phong cách Haussmann : Dấu ấn thời hoàng đế Napoléon III

Thùy Dương , đài RFI Việt 

Avenue de l'Opéra , một trong những đại lộ mới tạo ra bởi Napoléon III và Haussmann . Những tòa nhà mới trên những đại lộ này được yêu cầu phải có cùng chiều cao , thiết kế mặt tiền giống nhau , dùng đá có màu kem , tạo cho trung tâm thành phố vẻ hài hòa riêng biệt .


MỘT TÒA NHÀ TẠI PARIS XÂY THEO KIẾN TRÚC HAUSSMAN NHƯNG LẠI SIÊU MỎNG
    Paris mang dáng dấp hiện đại như ngày nay, với những đại lộ trải dài, rộng thênh thang, những công trình kiến trúc hoành tráng, không gian xanh rải rác khắp nơi … là thành quả 17 năm quy hoạch của nam tước - luật sư Haussmann, từ năm 1853 đến năm 1870, dưới triều hoàng đế Napoléon III, thời Đệ Nhị Đế Chế Pháp. Haussmann đã tạo cho Paris một dấn ấn riêng hiếm có. « Paris Haussmannien », tạm dịch là « Paris theo phong cách Haussmann » đã góp phần không nhỏ đưa Paris lên tầm thành phố tráng lệ nhất thế giới.
Nhìn lại lịch sử, cho tới thế kỷ XIX, kinh thành Paris vẫn giữ cấu trúc cũ từ thời Trung Cổ, với các con phố nhỏ hẹp, ngoằn ngoèo, các tòa nhà chen chúc, chật chội, nhiều khu phố ngột ngạt, xấu xí. Cơ sở hạ tầng dần xuống cấp nghiêm trọng, toàn thành phố chỉ có 100km cống thoát nước, đường phố bẩn thỉu, dân cư nhiều nơi sống trong cảnh bần cùng. Thêm vào đó, nhiều người từ nông thôn đổ về Paris kiếm kế sinh nhai, khiến dân số Paris tăng nhanh, cơ sở hạ tầng không đáp ứng được nhu cầu của dân cư. Điều kiện vệ sinh tồi tệ đã góp phần không nhỏ khiến đại dịch hạch thế kỷ XIX (1832-1834) tàn phá Paris.
Vào năm 1848, nước Pháp bước sang Đệ Nhị Đế Chế, Louis-Napoléon Bonaparte lên ngôi hoàng đế. Đã từng trải qua một thời gian tại Luân Đôn, bị mê hoặc bởi các khu vườn và sự thoáng đãng trong các khu phố của thành phố này, hoàng đế Napoléon III thấy Paris thực sự cũ kỹ, tối tăm và không đảm bảo vệ sinh, nhất là sau dịch hạch 1849.
Napoélon III đã nghĩ tới một dự án quy hoạch lại Paris cho sạch đẹp, sáng sủa, nhằm cải thiện điều kiện sinh sống cho người dân thành phố, mở nhiều trục lộ giao thông mới, thúc đẩy giao thương phát triển, tạo nhiều công ăn việc làm và giúp người dân đi lại được thuận tiện. Ngoài ra, xây dựng một Paris hiện đại, đẹp bậc nhất châu Âu cũng nhằm góp phần khẳng định, minh chứng uy lực của hoàng đế.
Thực ra, hoàng đế Napoélon III không phải người đầu tiên tính đến việc cải tạo bộ mặt của Paris. Hoàng đế Napoléon I đã từng có một dự án lớn quy hoạch lại Paris, nhưng chưa có thời gian và chưa hội tụ đủ điều kiện thực hiện mong muốn đó. Trong giai đoạn 1815-1830, khi chế độ quân chủ được tái lập và dưới nền Quân Chủ tháng Bảy - giai đoạn 1830 -1848, chính quyền cũng đã đầu tư cải tạo Paris : lắp đặt nhiều đài nước ở nơi công cộng, cải thiện hệ thống chiếu sáng đường phố, …
Nhưng phải đến thời Napoléon III, công cuộc tái quy hoạch thực sự Paris mới được tiến hành. Vào năm 1853, hoàng đế bổ nhiệm nam tước, luật sư George-Eugène Haussmann, 44 tuổi, người vùng Alsace, làm tỉnh trưởng tỉnh Seine (nay là Paris) và giao cho Haussmann nhiệm vụ mở rộng, cải tạo kinh thành Paris, đưa Paris trở thành một trong những đô thành đẹp nhất châu Âu.
Trong bối cảnh hòa bình, kinh tế phát triển khả quan, hoàng đế Pháp nắm nhiều thực quyền, thêm vào đó, với lòng trung thành tuyệt đối, nam tước Haussman đã được sự ủng hộ vô điều kiện của hoàng đế Napoléon III, khiến công cuộc tái quy hoạch Paris tiến triển thuận lợi.
Các dự án cải tạo của Haussmann phải được Nhà nước thông qua và điều hành, nhưng công việc thực hiện được giao cho các công ty tư nhân, với nguồn vốn vay khổng lồ. Vào năm 1860, khoảng 8.000 doanh nghiệp tham gia dự án Haussmann sử dụng tới 31.000 thợ nề, 6.000 thợ đúc sắt, 3.500 thợ lợp mái nhà, 8.000 thợ mộc, 600 thợ sơn … Tổng cộng, 55.000 lao động tham gia công trường khổng lồ ở Paris.
Paris thay đổi bộ mặt
Xét về tổng thể, 60% bộ mặt Paris đã thay đổi hoàn toàn sau 17 năm quy hoạch dưới thời Napoléon III. Tính tới năm 1868, 18.000 ngôi nhà (hơn 50% số nhà ở của người dân) đã bị phá hủy để xây dựng đường sá mới và các khu nhà mới. Haussman mở rộng Paris bằng cách cho sáp nhập một số làng mạc ở ngoại ô, chẳng hạn Passy, Auteuil, Monceau, Monmartre, Charonnne, Bercy ... Từ 12 quận, Paris được mở rộng thành 20 quận. Ngoài tòa thị chính thành phố, mỗi quận đều có tòa chính riêng của mình. Diện tích Paris tăng từ 3.000 ha lên thành 6.000 ha, dân số tăng từ 800.000 người lên thành 2 triệu người.
Một trong những thay đổi lớn đầu tiên là về giao thông. Haussman đã cho phá nhiều công trình cũ để mở những tuyến đường mới, những đại lộ dài rộng, thẳng tắp, thông thoáng theo hai trục bắc - nam, đông - tây (boulevard Sébastopol, de Strasbourg, Magenta, Voltaire, Diderot, Saint Germain, Malesherbes, Saint Michel, avenue Kléber, Foch, Victor Hugo, Carnot, Niel, Iéna …) và những con phố khang trang (rue de Rivoli, Soufllot, Réamur, rue du Quatre-Septembre, de Rennes, des Ecoles …). Tổng cộng, 175 km đường lộ mới được hình thành.
Thêm vào đó, Haussmann cho xây dựng các ga xe lửa lớn : Gare de Lyon (1855), Gare du Nord (1865) và Gare Saint Lazare (1885). Kiến trúc sư Pierre Rinon giải thích : « Napoléon III có một câu nói rất hay về các ga xe lửa. Ông nói rằng nhà ga là cánh cửa mới của thành phố. Hoàng đế nói rằng giao thông đường bộ cơ bản sẽ biến mất. Con người sẽ đi lại và vận chuyển hàng hóa chủ yếu bằng đường sắt và đến Paris tại các ga xe lửa ». Cho đến nay, các ga này vẫn là các ga lớn với lưu lượng tàu xe rất cao. Gare du Nord và Gare Saint Lazare hiện là hai ga có số hành khách đi lại hàng ngày nhiều nhất châu Âu.
Các không gian xanh bao quanh thành phố được phân bố đều: rừng Boulogne nằm ở phía tây và rừng Vincennes ở phía đông, ngoài ra còn có hai công viên lớn là Buttes-Chaumont ở phía bắc và Montsouris ở phía nam. Trong trung tâm thành phố có công viên Monceau … Ngoài ra, còn có rất nhiều vườn hoa công cộng, công viên nhỏ trong các khu dân cư.
Để khắc phục tình trạng vệ sinh yếu kém của thành phố, Haussmann cho cải tạo và xây dựng mới hệ thống cấp và thoát nước. Nước sạch được dẫn đến từng tòa nhà. Từ năm 1865 đến năm 1900, Paris có thêm 600 km đường ống dẫn nước sạch, nhiều đường ống quy mô lớn gọi là aqueduc, dẫn nước từ những nguồn nước từ các nơi xa về thành phố. Haussmann còn cho xây bể chứa nước lớn nhất thế giới vào thời đó ở nội thành, gần công viên Montsouris, phía nam Paris, để trữ nước sạch dẫn từ vùng ngoại ô Vannes về.
Song song với hệ thống cấp nước sạch, 500 km cống thoát nước cũng được lắp đặt. Dưới mỗi con phố, đều có hệ thống cống ngầm. Các ống cống ngầm đều có kích cỡ đủ lớn để công nhân dễ dàng di chuyển và bảo dưỡng, nạo vét lòng cống. Nước đã qua sử dụng từ các tòa nhà phải được dẫn vào hệ thống cống ngầm chứ không được đổ ra cống lộ thiên trên phố như trước đó. Cả hai hệ thống cấp và thoát nước trên sau Đệ Nhị Đế Chế đều được tiếp tục mở rộng và hiện vẫn duy trì hoạt động.
Kỹ sư về cấp thoát nước, ông Olivier Jacques, giải thích : « Trong những năm đầu thế kỷ XIX, các vấn đề vệ sinh ngày càng nghiêm trọng. Dân số lại tăng đáng kể, nên thường xảy ra dịch bệnh. Hàng trăm ngàn người đã chết vì bệnh dịch trong nửa đầu thế kỷ XIX. Với quy hoạch của Haussmann, Paris mới thực sự có một hệ thống thoát nước hoàn chỉnh. Một mục tiêu khác là cung cấp nước sạch tới mọi tòa nhà ở Paris. »
Phong cách kiến trúc Haussmann
Dấu ấn Haussmann còn hiện hữu rõ nhất cho đến bây giờ qua kiến trúc nổi bật của các tòa nhà được gọi là « immeubles haussmanniens ». Hàng chục ngàn tòa nhà kiến trúc Haussmann đã được xây dựng, kể cả sau khi Đệ Nhị Đế Chế sụp đổ. Hiện nay, 60% số tòa nhà trong Paris có kiến trúc Haussmann. Đặc trưng kiến trúc Haussmann thể hiện rõ nhất ở mặt tiền tòa nhà. Các tòa nhà trong cùng một tuyến phố phải có chiều cao bằng nhau, gồm tối đa 6 tầng, cùng phong cách trang trí mặt tiền, tạo sự thống nhất về tổng thể kiến trúc. Độ cao của các tòa nhà tỉ lệ thuận với bề rộng của con phố.
Quy định thiết kế mặt tiền phải được tuân thủ chặt chẽ, chỉ nhà ở tầng hai và tầng năm (tầng ba và tầng sáu nếu tính theo kiểu Việt Nam) là có balcon. Mái nhà thường dốc 45o. Tường phía mặt tiền tòa nhà thường được xây bằng đá đẽo chất lượng cao, lấy từ các mỏ đá Saint-Maximin, vùng Oise và mỏ Petit-Montrouge ngay tại Paris. Tường đầu hồi và tường phía mặt hậu cũng được cũng được xây bằng đá đẽo nhưng chất lượng kém hơn.
Kiến trúc sư Pierre Rinon giải thích : « Mặt tiền tòa nhà bắt buộc phải được xây bằng đá khối. Đó là một điều khoản bắt buộc được ghi trong hợp đồng chuyển nhượng đất. Đó là điều Haussmann làm. Vào thời kỳ đó, chưa có giấy phép xây dựng. Khi một người mua một mảnh đất để xây khu nhà, người ta ghi rõ loại đá khối và cả khu khai thác đá. Người ta cũng nói rõ các tòa nhà phải ngay hàng thẳng lối, tạo thành sự hài hòa, thống nhất. Một số người không thích phong cách này thì coi sự đồng nhất đó là nhàm chán, tẻ nhạt. Ý định của Haussmann là tòa nhà đầu tiên được xây dựng trong khu phố trở thành hình mẫu cho các tòa nhà kế tiếp. Thiết kế các tòa nhà được lặp lại và tạo sự đồng nhất ».
Tầng trệt thường dành cho việc buôn bán, trừ tại các tòa nhà được gọi là « de haute bourgeoisie », có nghĩa là dành cho giới quý tộc giàu sang, chẳng hạn ở khu phố Monceau. Thời đó, do chưa có thang máy, tầng hai (tầng ba theo cách tính của người Việt Nam) là tầng « có giá nhất », dành cho các gia đình giàu có, vì không cao quá nên việc trèo thang bộ không quá bất tiện, nhưng tầng hai lại đủ cao để ngắm được quang cảnh xung quanh. Các căn hộ ở tầng này cũng có độ cao lớn nhất so với các tầng còn lại, ô cửa sổ cũng được trang trí cầu kỳ hơn. Tầng áp sát mái thường dành cho người nghèo. Như vậy là giữa các tầng nhà đã có sự phân hóa xã hội lớn.
Suốt một thời gian dài, các tòa nhà Haussman được coi là hình mẫu nhà ở lý tưởng, tiện ích, với không gian thông thoáng, sáng sủa nhờ các ô cửa sổ lớn. Cho đến nay, sau 150 năm xây dựng, các căn hộ này vẫn được ưa chuộng và có giá cao.
Chi phí khổng lồ
Công cuộc quy hoạch tiến triển thuận lợi cho đến năm 1867, khi ngày càng có nhiều lời than phiền về chi phí quá tốn kém cho dự án. Quốc Hội Pháp quyết định tái lập việc giám sát công việc của tỉnh trưởng Haussmann, điều nam tước không hề mong muốn. Quả thực, tổng số tiền chi cho sự án của Haussmann lên tới 2,5 tỉ franc, tăng 2,27 lần so với số tiền 1,1 tỉ franc dự kiến ban đầu.
Việc bội chi đặc biệt nghiêm trọng đã khiến tiền thuế người dân Paris phải đóng cũng tăng chóng mặt. Chẳng hạn, vào năm 1852, trước khi có quy hoạch, chính quyền Paris thu 52 triệu franc tiền thuế. Con số này là 232 triệu franc vào năm 1869 (tăng gần 4,5 lần), nhưng một phần cũng do dân số Paris đã tăng hơn 2,5 lần.
Quy hoạch cũng khiến nạn đầu cơ ngày càng nghiêm trọng, giá bất động sản ở Paris tăng chóng mặt khiến sự phân tách về không gian sống giữa các tầng lớp xã hội ngày càng lớn. Tới năm 1870, chỉ vài tháng trước khi Đệ Nhị Đế Chế sụp đổ, Haussmann vẫn hy vọng được bổ nhiệm làm bộ trưởng để có thể mở rộng quy hoạch tầm quốc gia, nhưng cuối cùng ông bị cách chức vào ngày 05/01/1870 và để lại một món nợ lớn cho ngân sách Nhà nước.
Vào những tháng ngày cuối của Đệ Nhị Đế Chế, nam tước Haussmann là nhân vật bị công chúng chế giễu, đả kích nhiều nhất. Thậm chí, Jules Ferry còn viết một bài văn đả kích nối tiếng có tiêu đề « Sự chi tiêu quái dị của Haussmann ».
Giờ đây, sau gần 150 năm, khi nhìn lại lịch sử, bất chấp những mặt trái trong quá trình mở rộng, cải tạo Paris, không ai có thể phủ nhận giá trị lớn lao của công cuộc cải tạo kinh đô Paris của « bộ đôi » Napoléon III - Haussmann. Nếu không có 17 năm quy hoạch đó, liệu Paris có được sự hiện đại, tráng lệ như bây giờ ? Chẳng ai dám chắc là nếu không có « bộ đôi » lừng danh đó, Paris có trở thành một trong những thành phố lộng lẫy nhất thế giới, một điểm đến mơ ước của du khách quốc tế./.
Đọc thêm : 1 căn hộ tân trang trong 1 tòa nhà xây theo kiến trúc Haussman có giá gần 2 triệu euro !
http://www.finefrenchproperty.com/property/renovated-top-floor-apartment-in-a-haussmann-building-paris/
Pháp văn , thày Tùng , francophone , francophile , 
https://www.facebook.com/trananhtu19/posts/2322556674424812?comment_id=2324751207538692

Friday, February 23, 2018

Sáng nay 1 láng giềng cầu cứu : anh muốn xóa FB vì quá nhiều phiền toái .
Tôi vào Settings , Account Settings , General , Manage Account , chọn Deactivate (vô hiệu hóa) và nhập mật mã . Tới đây tôi gặp trở ngại vì ông ko nhớ mật mã , số phone trên account cũng là số cũ - ko còn xài . 
Tôi phải nhập số phone mới , nhấp vào Forgot Password ; FB gửi một mật mã 6 số , dùng 1 lần . Sau khi nhập 6 số này , tôi tạo mật mã mới và dặn ông ghi vào sổ . Sau đó tôi nhấp vào Deactive . FB cho biết việc vô hiệu hóa thành công .
Tôi cho ổng biết : sau này muốn dùng lại , chỉ cần đăng nhập và chọn Activate (kích hoạt) thì FB sẽ được phục hồi .
Katherine Holden, daughter of photographer Philip Jones Griffiths:



This picture was taken by my father, Philip Jones Griffiths, in Vietnam in 1968 during the battle for Saigon. This is not a normal “war” photograph. It is not often you see “enemies” cradling each other. However, the American GIs often showed compassion toward the Viet Cong. This sprang from a soldierly admiration for their dedication and bravery — qualities difficult to discern in the average government soldier.

This particular Viet Cong had fought for three days with his intestines in a cooking bowl strapped onto his stomach. Francis Ford Coppola was so inspired by this image that he included a scene in his 1979 film Apocalypse Now with the famous line, “Any man brave enough to fight with his guts strapped on him can drink from my canteen any day.”