- BS NGUYỄN TẤN TỜI .( Minh họa cho hình ảnh trên, trích tự truyện của Quân Y sĩ Nguyễn Tấn Tờn) Cuối cùng nhóm chúng tôi cũng lên được boong tàu Hải Vận Hạm 09, lên được boong tàu bằng dây thừng thòng xuống biển không phải dể, nhất là anh Quang phải giúp vợ, giúp đứa con trai 3 tuổi và con chó nhỏ, lên đến nơi ai cũng mệt lả. Tôi thì khá hơn vì còn trẻ. Nhóm chúng tôi “chụm” lại một góc tàu, nhìn toàn cảnh trên boong tàu: Vô số người di tản, người già trẻ con ngồi la liệt. Không hiểu tàu vớt người từ các cảng nào ở rải rác miền Trung để neo trạm cuối tại biển Nha Trang? Vớt tiếp những người còn rơi rớt trên biển, trong đó có nhóm chúng tôi? Chúng tôi lên được boong tàu, sau 1 giờ thì tàu nhổ neo vào miền Nam. Trên tàu có lẻ đã chứa hàng ngàn người. Nhóm chúng tôi chẳng ai nghĩ đến ăn uống, thôi thì phó mặc cho tàu. Ra đi không ai đem theo gì để ăn uống cả! Tàu đi xa bờ, trong 3 ngày đầu, chúng tôi không thấy đất liền, không thấy núi. Toàn biển, biển, biển êm đềm “Tháng 3 bà già đi biển”. Vấn đề vệ sinh trên tàu thật gay go, đàn ông chúng tôi thì dễ, nếu muốn “tè” thì cứ xả ra biển, bên mạn tàu, còn vợ Quang? Chị cứ ngồi như thế chịu đựng, đứa bé thì sợ quên cả quấy rối, nó ôm con chó đen không rời, con chó cũng sợ đến nỗi cứ rúc đầu vào đứa bé! Tôi không biết vợ Quang “tè” bằng cách nào? Tôi cũng quên mất, lúc đó chúng tôi ăn uống bằng gì? Có lẻ tàu có phát “gạo sấy” và ít nước ngọt cầm hơi?
Sáng ngày thứ 3 có tiếng loa phóng thanh từ đài chỉ huy: “Yêu cầu các Bác sĩ Quân, dân y tị nạn trên tàu đến đài chỉ huy gặp hạm trưởng để bàn kế hoạch giúp đỡ dân tị nạn trên tàu, có nhiều người bị bệnh”. Loa kêu gọi nhiều lần, tôi cứ phớt lờ, tôi cũng yếu rồi, ngồi một góc trên boong tàu dưới cái nắng như thiêu đốt đã 2 ngày làm sao không yếu? Một lát sau loa phóng thanh lại dục dã gọi các Bác sĩ Quân, dân y đến gặp hạm trưởng gấp! Tôi không phớt lờ được nữa, tôi nói với Quang và Trạm “Tôi phải đến xem sao?” Tôi đi loạng choạng, dò từng bàn chân để khỏi đạp vào vô số người nằm, ngồi trên boong tàu. Trên đường đi người đầu tiên tôi gặp là Y Tá trung sỹ Ninh cùng gia đình, trước đây tôi và anh ta cùng làm việc tại Quân Y Viện Nguyễn Huệ Nha Trang. Tôi rủ anh ta đi cùng tôi, theo lời kêu gọi của đài chỉ huy. Anh nói “Ông thầy khoẻ thì cứ đi lo cho họ, tôi không làm nổi”. Tôi ngao ngán quá, không nói gì thêm, đâu đó tôi thấy Bác Sĩ Cương (cùng khóa với tôi), ông ta bắt gặp ánh mắt tôi cũng xoay chổ khác. Tôi chẳng nghĩ ngợi gì nữa, cứ len từng bước đến đài chỉ huy: Tôi nói với viên sỹ quan hải quân thường trực về lý do có mặt của tôi. Ông ta dẫn tôi xuống phòng hạm trưởng: Căn phòng khá bề thế, hai hàng ghế đệm quanh chiếc bàn dài bóng loáng, phòng họp chứa hàng chục chỗ ngồi. Ông hạm trưởng đang có mặt trong phòng. Ông mang “lon” đại tá hải quân, Ông còn trẻ nhưng dáng bệ vệ, vẻ mặt phúc hậu? Viên sỹ quan trực giới thiệu tôi với ông, ông chỉ ghế tôi ngồi gần đó, lịch sự xin lỗi tôi đợi một chút. Ông đang nói chuyện với 3 quân nhân khác cũng có mặt trong phòng họp; Hai trong 3 ông ấy mang “lon” đại tá bộ binh. Ông nói với họ: “Tàu của chúng tôi đi trên biển đã hơn một tháng, chưa được vào đất liền, lương thực sắp cạn mà phải chu cấp hàng ngàn người tị nạn nên không thể giúp gì hơn cho các ông!” Ba ông sĩ quan xin xỏ gì đó tôi không nhớ và không quan tâm vì việc tôi lên gặp ông hạm trưởng là “chẳng đặng đừng” do “loa” gọi rát quá, tôi không thể không đến! Tôi thấy ông hạm trưởng gọi sỹ quan trợ lý đem đến vài bao “Gạo sấy” đưa cho 3 vị sỹ quan cấp tá rồi tiễn họ. Công việc chỉ thoáng chốc; Ông xoay qua tôi, ánh mắt đã dịu. Tôi tự giới thiệu về mình một chút. Có lẻ ông thấy dáng đi xiêu vẹo lúc tôi bước vào phòng nên ông nói với tôi: “Bác Sĩ phải tự cứu mình trước khi cứu người”. Thế rồi ông nhờ tôi điều trị cho một bệnh nhân đặc biệt!. - Bacsi Nhaque Chẳng có người tị nạn nào trên tàu bị bệnh như “loa” kêu gọi cả! Ông gọi sỹ quan thường trực dẫn tôi xuống phòng quân y ăn uống, lấy lại sức rồi dẫn tôi đến khám bệnh và điều trị cho “người bệnh đặc biệt”. Họ đưa tôi vào một căn phòng sạch sẽ khoảng 3m*3m, trong phòng có một giường chiếc trải ra trắng, có một người đàn bà khoảng 30 – 40 tuổi, vẻ mặt xanh xao, nhăn nhó, có vẻ đau đớn, khó chịu? Bà ta đang được tiếp dịch truyền, loại dịch DW 5% của quân đội Mỹ ! Tôi được viên sỹ quan đi theo giới thiệu bệnh nhân là vợ Đại Úy Hiệp cơ khí trưởng của tàu (sau này tôi mới biết trên tàu cơ khí trưởng là nhân vật quan trọng, chỉ sau hạm trưởng, mặc dầu cấp bậc sau các hạm phó?). Tôi khám bệnh cho bà ấy: Tôi sợ nhất là bệnh nhân đau bụng, dù đơn giản là viêm ruột thừa thì cũng không biết phải làm thế nào? Phòng y tế của tàu chỉ xử lý những trường hợp đơn giản! Nhưng thật may là tôi khám kỹ bụng của bà ta không có dấu hiệu gì phải can thiệp ngoại khoa! Huyết áp bệnh nhân hơi thấp, buồn nôn nhiều lần, không ăn được nên cơ thể suy nhược. Bệnh nhân có vẻ say sóng và dị ứng thứ gì đó? Tôi có đem theo mấy ống Hydrocortison, ít viên thuốc an thần, thuốc kháng histamin và ít thuốc chống co thắt (spasmavérin), tôi sử dụng thận trọng nhưng đủ liều…Vài giờ sau bà ấy đỡ hơn, sắc mặt “hồng” hơn, chuyền hết chai DW 5% là bà ấy gần như khoẻ hẳn?
Từ đó ông Đại tá hạm trưởng tín nhiệm và cảm tình với tôi, ông đề nghi tôi ở hẳn phòng quân y. Tôi đến phòng quân y của tàu, phòng có 3 y tá, trong đó có một ông y tá thượng sỹ già. Thời quân đội Sài Gòn thượng sỹ quân y là những người có tay nghề khá, lăn lộn chiến trường lâu năm, có người có nhiều công trạng, được cấp trên tín nhiệm. Ông thượng sỹ nhìn tôi qua ánh mắt thiếu thiện cảm và khinh khỉnh! Thế nhưng lệnh của Hạm trưởng ông phải chấp hành. Tôi được ăn cơm nấu chín, có cá, có nước trà uống! Thế nhưng ông y tá thượng sỹ già khó chịu quá! Ông không ưa tôi ra mặt, không nói, không rằng nếu có nói gì đó thì ông gọi tôi là “Trung úy” điều mà trong ngành quân y chế độ cũ người ta không gọi như thế! Thường thì họ gọi “Ông thầy” hay “Bác Sĩ”, hồi đó cái trật tự thông thường là như thế?! Đặc biệt ông thượng sỹ và 2 đàn em của ông không buồn nói chuyện với tôi! Thế thì thôi vậy! Tôi cũng muốn trở lại cái góc boong tàu chịu nắng gió, đói khát với gia đình Quang và Trạm. - Bacsi Nhaque Nhưng một chuyện không ngờ lại đến: Ngày thứ hai tôi ở phòng quân y tàu, có một chị từ Pleiku, không hiểu sao lưu lạc di tản trên con tàu này lại đến ngày sanh, họ đưa chị vào phòng quân y khoảng 9 giờ sáng. Ông thượng sỹ già thì biết gì về sản khoa, ông chỉ biết các vết thương chiến tranh sơ sài, các bệnh tật xoàng xỉnh của các anh lính. Có bệnh khó thì đã được đem về bệnh viện hải quân hoặc có tàu y tế? Ông thượng sỹ bối rối trước “Bà bầu” sắp đẻ! Mặt khác ông muốn thử tôi? Sản phụ con so, tôi khám thấy chị khoẻ mạnh, thăm cổ tử cung thấy đã nở 6 phân, cơn go tốt, mạch, huyết áp tốt; Lý tưởng để chuẩn bị sanh; Lúc đó là 9 giờ sáng, tôi nói với ông thượng sỹ chuẩn bị dụng cụ: Tôi yêu cầu đơn giản chỉ cần 2 cái kẹp, 1 cái kéo, 1 sợi chỉ, tôi nói “chỉ may áo quần cũng được!” và nước sạch. Tôi nói thêm là khoảng 12 giờ trưa thì sanh! “Hay không bằng hên”: Sau 3 giờ chờ đợi chị ta “đau bụng dục sanh”, tôi thăm dò âm đạo lần cuối; Cổ tử cung đã xoá hoàn toàn. Đúng 12 giờ trưa ngày 2-4-1975 tôi đỡ cháu bé gái chào đời, mẹ tròn con vuông. Tôi không thấy mừng vì một mình tôi làm túi bụi: Cột rốn, cắt rốn, chốc ngược đứa bé vỗ vỗ vào mông cho nó khóc “oe oe”, tắm rửa cho nó…nửa giờ sau tôi lấy nhau, may quá, nhau đầy đủ, sản phụ mạnh khoẻ, nét mặt chị ta vui vẻ như ở nhà, tôi bế đứa bé để nằm bên chị. Ông thượng sỹ già nhìn tôi khác hẳn, ông nói “Ông thầy” giỏi quá! Nói 12 giờ sanh là đúng y chang! Tôi nói: “Có gì đâu, sanh đẻ là tự nhiên mà, mình chỉ đỡ giúp đứa bé ra thôi”. Thế nhưng thái độ của ông thì khác hẳn; Buổi chiều hôm đó ông cùng 2 đệ tử dùng cơm với tôi, ông còn gắp đồ ăn cho tôi, nói cười vui vẻ! Tôi thấy hơi ngượng nhưng cố chịu. Tôi “gồng mình” xin phép ông thượng sỹ cho tôi một ít cơm nóng, ít nước trà đem lên boong cho vợ chồng Quang và Trạm. Họ vui mừng lắm; Đã hơn 3 ngày nay họ chỉ ăn ít “Gạo Sấy” uống ít nước để sống cầm hơi! Tôi lại đem vợ Quang xuống “tè” dưới phòng quân y tàu, sướng quá, mấy ngày nay vợ Quang “nín” tài thật! Quang và Trạm còn nói giỡn: “Một người làm quan cả họ được nhờ”; Nhưng chỉ là do vận may của tôi: “Chó ngáp phải ruồi”.
Gần tối tôi lên phòng hạm trưởng báo với ông về công việc tại phòng quân y, đề nghị ngày mai ông cố gắng xuống phòng quân y đặt tên cho cháu bé. Ông đồng ý. Sáng hôm sau ông xuống thăm sản phụ và cháu bé duy nhất ra đời trên tàu của ông. Ông đặt tên cho cháu là Đỗ Thị Cần Thơ, ông nói hải vận hạm 09 có tên khác là tàu Cần Thơ.
Sau đó tôi gặp ông nhiều lần, ông nói “Ông sẽ đề nghị với Bộ tư lệnh hải quân (chế độ Nguyễn Thiệu) cấp cho tôi cái hải vụ bội tinh!”, lúc đó tôi chẳng thiết tha gì! Tôi là một người lính “Bất đắc dĩ”, đi lính 3 năm nay chẳng có bằng khen, giấy khen gì đâu?.
Tàu đi hơn một tuần trên biển, ông cho tôi biết không “cập” tàu đâu được, ở đâu cũng từ chối, Vũng Tàu tràn ngập dân tị nạn; Sài Gòn không có chỗ cho tàu vào, tình hình rất lộn xộn! Ông phải cho tàu ra Phú Quốc. Mười một ngày lênh đênh trên biển tàu cũng đến được cảng An Thới Phú Quốc chiều ngày 10-4-1975. Hạm trưởng mời tôi lên phòng của ông để cho tôi biết đã đến lúc tất cả người di tản trên tàu đều được đưa về trại tập trung, riêng tôi ông hỏi có yêu cầu gì trong phạm vi có thể được ông đều giải quyết. Tôi xin ông gọi điện cho bạn tôi là Bác Sĩ Lê Huy Thụy bệnh xá trưởng Phú Quốc, cho Thụy biết có tôi trên tàu và nói với Thụy đón tôi tại cầu tàu. Tôi xin ông cho tôi đem theo một người bạn là thiếu tá Trạm, anh ta quá yếu đuối, có nhiều bệnh tật, đi với tôi để tôi giúp ông khỏi vào trại tập trung. Hạm trưởng đồng ý, ông bảo tôi về phòng quân y chờ ông sắp xếp xong sẽ có “loa” mời. Vài phút sau trên loa có tiếng: “Mời Bác Sĩ Tờn và ông bạn lên phòng hạm trưởng để sắp xếp vào đất liền”. Thế là tôi và Trạm như trúng số, giả từ tàu, xuống ca nô vào cầu cảng, ở đó đã có Bác sĩ Lê Huy Thụy đón chúng tôi bằng xe Jeep do anh lái. Chúng tôi vào trạm xá khoảng 4 giờ chiều ngày 10-04-1975. Thụy dẫn chúng tôi đi thăm trạm xá, rồi anh có điện phải lên bộ tư lệnh để nhận chỉ thị mới? Chúng tôi chờ Thụy ở trạm xá, đến tối anh về đãi chúng tôi ăn phở ở quán Bò Vàng, anh nói với tôi: Chế độ Nguyễn Văn Thiệu sắp xoá sổ. Tư lệnh đã sắp xếp để đoàn tùy tùng và Thụy lên máy bay di tản sang Mỹ, anh nói anh đã xin Tư lệnh để tôi cùng đi, anh hỏi tôi: Thế nào? Tôi không đồng ý. Tôi xin anh cho tôi một chiếc ca nô ngày mai sang Dương Đông để mua vé máy bay về Sài Gòn. Hồi đó ở Phú Quốc chỉ có đảo Dương Đông là có phi trường dân sự, phi trường rất đơn sơ, chỉ sử dụng cho phi cơ loại nhỏ. Sáng 11 – 04 – 1975 tôi và Trạm dùng ca nô do Thụy sắp xếp qua đảo Dương Đông mua vé máy bay về Sài Gòn. Về Sài Gòn Trạm đi đâu đó ở với người thân, tôi thì “không đồng xu dính túi” tìm về tá túc tại nhà bạn thân là Kỹ sư Huỳnh Thu Nguyên ở đường Võ Di Nguy (nay là đường Nguyễn Kiệm) quận Phú Nhuận. Nguyên cưu mang tôi không thiếu thốn…
Sài Gòn những ngày đó tôi ví như cái chảo khổng lồ trên biển lửa mà con người thì cứ chạy lui chạy lại trong cái chảo càng ngày càng nóng. Tôi thì “bình thân như vại”. Cứ chờ, cứ chờ, chờ cái gì?... Cho đến ngày 30 – 04 – 1975… Rồi tôi tiếp tục sống lây lất đến tháng 6 năm 1975: chung một con tàu cùng các bạn vào trại học tập cải tạo.
04 – 09 – 2006
Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Wednesday, March 26, 2014
Tuesday, March 25, 2014
DANH SÁCH NGƯỜI VIỆT NAM NỔI TIẾNG TRONG DÒNG CHÁNH CỦA MỸ .
List of Vietnamese Americans
From Wikipedia, the free encyclopedia
-
This list is incomplete; you can help by expanding it.
Contents
Arts and entertainment
Actors
- James Duval – actor, mother is of Vietnamese-French descent
- Jonathan Ke Quan – former child actor in Indiana Jones and the Temple of Doom and The Goonies[1]
- Lance Krall – actor and star of FREE RADIO on VH1
- Hiep Thi Le – actress known for role in Heaven & Earth, third film in director Oliver Stone's Vietnam trilogy.
- Dustin Nguyen – actor[2]
- Maggie Q. – former model and actress in Mission Impossible III.[3]
- Rosie Tran – writer, actress, and comedian.
- Thuy Trang – actress known for role as The Yellow Power Ranger in the series Power Rangers[4]
Anchors
- Betty Nguyen – CBS Early Morning News anchor, former CNN anchor.[5]
- Leyna Nguyen- Emmy Award winning anchor.[6]
- Van Tieu – Anchor for KFYRTV[7]
- Thuy Vu – Emmy award-winning anchor and reporter for CBS-5 Television in San Francisco
Directors
- Doan Hoang – director and producer of the PBS documentary film about a family in the Vietnam War, Oh, Saigon.
- Steve Nguyen – director and film producer
Dance group
- Poreotics ABDC season 5 Champions
- Matthew "Dumbo" Vinh Quoc Nguyen
- Charles Viet Nguyen
- Can Trong "Candy" Nguyen
Musicians
- Chau-Giang Thi Nguyen – concert pianist and artist[8][9][10][11]
- Cuong Vu – Grammy award winning jazz trumpeter and vocalist[12]
- Thai VG – Vietnamese American rapper
- Tyga – Vietnamese and Jamaican rapper signed to Young Money and Cash Money Records
Other
- Chloe Dao – fashion designer/winner of television show "Project Runway"[13]
- Dat Phan – comedian, winner of first Last Comic Standing[14]
- Jonas Bevacqua – adopted Vietnamese American fashion designer, creator of urbanwear LRG
- Michelle Phan – YouTube beauty guru
- Hung Huynh – chef, Top Chef (season 3) winner
- Tom Vu – info-mercial icon, professional poker player and real estate investor.
- Tila Tequila – Was most popular female on MySpace. Had her own MTV show. Appeared in FHM Magazine
- Christine Ha – chef who was MasterChef (US season 3) winner
- John Eklund – time-lapse photographer known for the video Purely Pacific Northwest
Business
- Trung Dung – engineer, who sold his OnDisplay to Vignette Corporation in 2000 for $1.8 billion
- Frank Jao – pioneer behind Little Saigon, Westminster, California, and the Asian Garden Mall
- Bill Nguyen – founder of onebox.com and lala.com, sold for $850 million and $80 million respectively[15]
- David Tran – founder of Huy Fong Foods, maker of Sriracha Chili Sauce
Literature and journalism
- Aimee Phan – author of We Should Never Meet[16]
- Andrew X. Pham – author of Catfish and Mandala: A Two-Wheeled Voyage Through the Landscape and Memory of Vietnam (1999)
- Chau Nguyen – news anchor. First Vietnamese-American to be awarded a regional Emmy-award.
- Doan Van Toai – author of The Vietnamese Gulag
- Huynh Sanh Thong – author known for the An Anthology of Vietnamese Poems: From the Eleventh through the Twentieth Centuries
- Kien Nguyen – author of The Unwanted, a Memoir of Childhood.
- Lan Cao – former attorney and current law professor, author of Monkey Bridge
- Le Ly Hayslip – Author of When Heaven and Earth Changed Places, which was turned into a motion picture (Heaven & Earth) directed by Oliver Stone.
- Le Thi Diem Thuy – Award winning author of the novel, "The Gangster We Are All Looking For"
- Mong-Lan – college professor and author of Song of the Cicadas[17]
- Monique Truong- author of the Book of Salt[18]
- Nguyen Chi Thien – poet and winner of international poetry award in 1985
- Nguyen Do – poet, editor and translator. Co-author of Black Dog, Black Night Contemporary Vietnamese Poetry (Milkweed, 2008) and Beyond the Court Gate: Selected Poems of Nguyen Trai (Counterpath Press, 2010)
- Nguyen Qui Duc – essayist and radio producer and author of Where the Ashes Are: The Odyssey of a Vietnamese Family
- Nhuan Xuan Le – author of numerous Vietnamese Poems & Human Rights activist; author of "Poems by Selected Vietnamese".[19]
- Quang X. Pham – author and founder of Lathian Systems, a pharmaceutical promotions company.
- Stephanie Trong – Jane Magazine executive editor
- Trinh T. Minh-ha – author, post-colonial scholar, and filmmaker
- Ut Huynh Cong – photographer. First Vietnamese American to win the Pulitzer Prize for Spot News Photography (1973) and the World Press Award
Military
- Viet Xuan Luong – first Vietnamese American to command a Brigade in the U.S. Army.[20][21][22][23]
- Nguyễn Ngọc Loan – Brigadier General, ARVN; subject of Eddie Adam's photograph
- Tung M. Nguyen – US Army Special Forces SFC killed in Iraq War[24]
- Nguyen Van Kiet – Petty Officer Third Class in the Republic of Vietnam Navy and recipient of the US Navy Cross.
- Nguyen Quy An – Major in the Republic of Vietnam Air Force and a recipient of the United States Distinguished Flying Cross.
- Quang X. Pham – first Vietnamese American to earn naval aviator's wings in the U.S. Marine Corps, author and politician.
- Elizabeth Pham – first Vietnamese American to become a Fixed Wing Naval Aviator in the U.S. Marine Corps; later deployed to Iraq, becoming part of the first all-female F/A-18 aircrew and flying over 130 combat missions.[25]
- James Văn Thạch – only Vietnamese American to coordinate and complete a US military base named Combat Outpost Shocker in Iraq.[26]
- Ngo Quang Truong – former general of ARVN and author.
Politics and law
- Hubert Vo – Texas state representative[27]
- Janet Nguyen – Orange County Board of Supervisors.
- John Quoc Duong – President George W. Bush's appointee as Executive Director of The White House Initiative on Asian Americans and Pacific Islanders.[28]
- John Tran – First Vietnamese-American Mayor in US, Mayor of Rosemead, California[29]
- Joseph Cao – First Vietnamese-American Congressman representing Louisiana's 2nd congressional district
- Kok Ksor – president of the Montagnard Foundation, Inc.[30]
- Lan Cao – law professor, novelist.[31]
- Jacqueline H. Nguyen – US Circuit Judge. First Vietnamese-American federal judge.[32] First Asian-American woman to sit on the federal appellate court.[33]
- Madison Nguyen – San Jose City Council member and Vice Mayor of City of San Jose, California.
- Mina Nguyen – Deputy Assistant Secretary for Business Affairs and Public Liaison at the US Treasury Department.[34]
- Huu Chanh Nguyen – founder and former Prime Minister of the Government of Free Vietnam
- Phuc Buu Chanh Nguyen – president of the Vietnamese Constitutional Monarchist League, member of Vietnam's Nguyễn Dynasty[35]
- Tony Lam – first Vietnamese-American elected official. Former Westminster, California city council.
- Van Tran – California State Assemblyman[36]
- Viet D. Dinh – former United States Assistant Attorney General who drafted the USA Patriot Act[37]
- Tri Ta – Westminster's Tri Ta is nation's first Vietnamese American elected mayor[38]
Science and education
- Han T. Dinh – Director of Vehicle Engineering – United States Postal Service. Washington DC. Winner of 2006 White House "Closing Of Circle Award" .[39][40][41]
- Bui Tuong Phong – computer graphics pioneer. Inventor of Phong reflection model and Phong shading interpolation method
- Duy-Loan Le – prominent Texas Instruments engineer.
- Eugene H. Trinh – NASA astronaut, the first Vietnamese-American to travel into outer space[42]
- Hồ Thành Việt, founder of VNI Software Co., California.
- Jane Luu – astronomer, co-discoverer of Kuiper Belt and many asteroids.[43]
- Xuan Vinh Nguyen – professor of Aerospace Engineering, University of Michigan. The first Vietnamese to receive the Dirk Brouwer award (2007). Author of Pilot's Life
- Anh Duong Nguyet – responsible for the creation of the Thermobaric weapon.
- Trịnh Xuân Thuận – author of The Birth of the Universe, astrophysicist and professor of astronomy at the University of Virginia.
- Tuan Vo-Dinh – inventor, professor and Director of the Fitzpatrick Institute for Photonics of Duke University. Ranked No. 43 on a list of the world's top 100 living geniuses[44]
- Xuong Nguyen-Huu – Biology professor, University of California. Pioneer in AIDS research; invented the X-ray Multiwire Area Detector.
- Hau Thai-Tang – 2005 Ford Mustang's chief engineer; Chief Purchasing Officer Ford Motor Co.[45]
- Luong Kim Dinh, catholic priest, scholar and philosopher.
Sports
- Amy Tran – Field hockey player.
- Catherine Mai Lan Fox – Olympic swimmer with two gold medals.
- Cung Le – Kickboxer/MMA fighter, undefeated San Shou champion, and former Strikeforce champion and coach[46]
- Danny Graves – MLB baseball player[47]
- Dat Nguyen – NFL football player,[48] Dallas Cowboys assistant linebackers and defensive quality control coach
- Dat Nguyen – Pro boxing Professional boxer[49]
- David Pham – professional poker, won two World Series of Poker bracelets and has made seven final tables at the World Poker Tour[50]
- Don Nguyen- Pro skateboarder
- Howard Bach – badminton player – former world champion (2005)
- Lee Nguyen – Major League Soccer soccer player, currently plays for the New England Revolution.
- Leta Lindley- LPGA Tour golfer
- J.C. Tran – professional poker player. As of 2010, his total live tournament winnings amount to $7,996,635[51]
- Jim Parque – In 1996, he was the only left-handed pitcher on the Olympics baseball team that won a bronze medal in Atlanta.
- Men Nguyen – professional poker player. As of 2010, his total live tournament winnings exceed $9,700,000[52]
- Mimi Tran – professional poker player. As of 2008, her total live tournament winnings exceed $1,400,000[53]
- Nam Phan- MMA fighter in the UFC[54]
- Scotty Nguyen – professional poker player[55]
Religion
- Luong Kim Dinh, catholic priest, scholar and philosopher.
Monday, March 24, 2014
P.1/ SỰ
TRỔI DẬY CỦA ĐẠO PHẬT/BUDDHA RISING .
Đăng trên
nguyệt san National Geographic tháng 12 , 2005 (từ trang 92 –
108) .
Tác giả
: Perry Garfinkel
Hình ãnh : Steve McCurry
Hình ãnh : Steve McCurry
Chuyễn ngữ
: Trần anh Tú .
Tứ
Diệu Đế của đức Phật
: 1/ cuộc đời đưa đến (entail) đau khổ ; 2/ đau khổ
xuất phát từ sự vươn vấn/quyến luyến của ta đối với dục
vọng (attachment to desires) ; 3/
đau khổ sẽ chấm dứt khi sự vươn vấn/quyến luyến
này chấm dứt ; 4/ để vượt qua (transcend) những đau khổ
của cuộc đời , hảy theo Bát
Chánh Đạo (Eightfold Path) .
Một thực hành quan trọng là thiền
định .
Người đã dạy tôi nhiều nhứt về Phật giáo
không phải là một vị sư với cái đầu nhẵn thín . Ông
ta (đã) không nói tiếng Phạn và ông ta (đã) không sống
trong một tu viện ở dãy Hy mã Lạp sơn . Thực tế , ông
ta cũng chẵng phải là Phật tử . Ông ta là Carl Taylor ,
một người sống suốt đời ở San Francisco có dáng dấp
ở tuổi gần 50 . Lúc đó , ông có vẻ bị lạnh , ngồi
thẳng người trên một cái giường kê trong khu vườn của
khu dưỡng lão (1) cũa bịnh viện Laguna Honda (gần
San Francisco) . Đó là một buổi trưa hè với bầu trời
xanh , nhưng ở cái thành phố này nó lại thường lạnh
thấu xương . Carl đang sắp chết vì ung thư .
Tay tuy nắm nhưng lại tinh
thần lại buông xã (let go) , bịnh nhân ung thư
Suzanne Lewis-Abed tiếp nhận sự an ủi từ người con
gái và ông Robert Chodo Campbell , một tuyên úy Phật
giáo , ở một viện dưỡng lão ở TP New York . "
Trong đạo Phật ko có sanh hay tử , " ông Campbell
nói , " chỉ là là sự chuyễn đổi . "
|
Tôi đang trải qua một tuần với Chương
trình Dưỡng lão Thiền (Zen Hospice
Project) , một tổ chức Phật giáo mà những thiện nguyện
viên của họ đang giúp ban điều hành của khu dưỡng lão
(gồm 25 giường) của BV này , đây có lẻ là cơ sở công
cộng tại nước Mỹ chuyên chăm sóc dài hạn . Chương
trình này , được tích cực noi gương khắp thế giới ,
xử dụng hai điều giáo huấn cột trụ của đạo Phật
– chỉ suy nghĩ đến
giờ phút hiện tại và lòng thương cảm/từ bi đối với
kẻ khác – như là công cụ để
giúp tạo ra một mức độ về phẩm cách và tình nhân
loại đối với những ai đang ở giai đoạn cuối cũa
cuộc đời . Thật ko dễ chịu cho họ khi phải học những bài học này .
Tôi ngồi bên cạnh Carl , giúp chỉnh lại cái
áo khoát quá mòn , mà ông đã dùng như cái mền/tấm đắp
. Sau khi được chẫn đoán là bịnh ko chữa được ,
ông đã có thái độ chấp nhận , ung
dung tự tại . Tôi đã cố gắng
gợi chuyện , nhưng rất khó khăn . Làm sao bạn có thể
an ủi một ai đó khi họ ko còn nhiều thời gian để sống
và hiểu (sự an ủi) đó ?
“ Vậy anh đã làm nghề gì ? “
Im lặng rất lâu , ông rít một hơi thuốc lá
. Gần như một thế kỷ trôi qua trong lúc chúng tôi nhìn
một cụm mây trắng bay ngang bầu trời màu xanh .
“Tôi ko muốn nói về quá
khứ của tôi.”
Cũng được . Cảm thấy lúng túng để tiếp
tục câu chuyện , tôi lướt qua trong trí danh sách những
câu hỏi . Nếu tôi ko thể hỏi về quá khứ và cũng vô
lý khi hỏi về tương lai , vậy chỉ còn về hiện tại .
Và trong lúc này , tôi đang học một điều , rằng ko cần
đặt câu hỏi nào .
Nhưng Carl có vẻ bằng lòng khi có tôi ngồi
kế bên , sự có mặt của tôi đã giúp ông giảm bớt
phần nổi đau cũa ông . Một khi tôi đã chấp nhận
rằng ko có gì phải làm và ko có nơi nào để đi , tôi
đã thư giản . Carl quay lại nhìn tôi và cười . Cả hai
chúng tôi hiểu rằng tôi vừa học một bài học nhỏ .
Cã hai đã nhìn một đám mây trắng khác bay qua .
Tuần đó cũng có những bài học khác , lấy
ra từ Phật giáo – như bài học về tính
vô thường cũa cuộc đời , về
sự lòng tham
(attachment) , muốn mọi việc phải như ý mình , và sự
thất vọng ,
khi nhiều việc xảy ra ko như ý mình . Như bài học về
đau khổ cũa thể xác và tinh thần và bài học về giá
trị , mà đạo Phật gọi là sangha
, có nghĩa là “cộng đồng” . Nhưng trên tất cả ,
tôi đã thấy làm thế nào những bài học mà một người
đã học tại Ấn độ 2.500 năm trước lại thích ứng
với thế giới ngày nay .
Phồng lên vào mổi sáng và
xẹp xuống vào mổi đêm , Paranirvana - một tượng
Phật dài 26 bộ Anh (7.92 m) được triển lảm tại
Viện Bảo tàng Nghệ thuật ở Ohio - tượng trưng cho
sự vô thường cũa cuộc đời , nghệ sĩ Lewis deSoto
nói . Tác phẩm này mô tả vị thế cũa đức Phật
khi ngài qua đời và lên niết bàn .
(còn tiếp) . Chú thích cũa người dịch :
(1) hospice , là một loại
BV dành cho người ở giai đoạn cuối cũa một bịnh
nan y (như ung thư , v.v...) hay những người rất già .
Vì hai thành phần này ở chung nên ta ko thể gọi là
'viện dưỡng lão" được ; tôi đề nghị nên
dịch là "sinh
chung đường" (nơi trú ngụ
cuối cùng trước khi chết cũa hai thành phần này .
(2) Dân số thế giới
năm 2005 : 6,5 tỉ (hình dưới) trong đó tín đồ Phật
giáo : 379 triệu người hay 6 % .
Có 373 triệu (98 %) tín đồ sống tại Á châu . Số 6 triệu người còn lại (2%) sống tại : 3,11 triệu tại Mỹ và Canada , 1,64 triệu tại Âu châu , 0,71 triệu tại Châu mỹ La tinh , 0,5 triệu tại Châu đại dương và 0,15 triệu tại Phi châu (còn tiếp) . |
Sunday, March 23, 2014
THƯƠNG PHẾ BINH VNCH
Saturday, March 22, 2014
Nếu VNCH Thắng?
Nguồn : Góc Nhìn Alan .

GNA: Trong bài phỏng vấn Riêng Tư ngày 30/1/2014 của phóng viên Trần Lương, Alan Phan tôi có trả lời như sau về một câu hỏi:
Hỏi: Tuy nhiên, T/S có thực sự nghĩ rằng chế độ cũ của miền Nam trước 1975 có thể đem lại cho đất nước một đời sống vật chất hay văn hoá khả quan hơn cho phần lớn người dân?
Đáp: Tôi không biết. Muốn phán xét thật công bằng, phải đem cân 2 chế độ theo rất nhiều chuẩn mực; rồi phải có sự đồng thuận về giá trị của từng chuẩn mực. Nếu khả thi, thì đây phải là một nghiên cứu sưu tầm rất công phu, khoa học, tốn nhiều thập kỷ và cần sự đóng góp của cả ngàn chuyên gia tại khắp mọi lãnh vực.
Nhưng tôi nhìn nhận một điều: tôi rất hạnh phúc với môi trường sống trước 1975. Thành phố còn ít người, rác và ô nhiễm không tràn ngập, cảnh quan còn xanh đẹp với những kiến trúc nửa Âu nửa Á, con người đối xử với nhau tình tự hơn, sự khoan thai và thư giãn luôn hiện diện dù chiến tranh bao quanh…Nhiều yếu tố cấu thành có thể không khách quan; nhưng Saigon hay Đà Lạt, Nha Trang ngày xưa nơi tôi sống chứa đựng những vần thơ trong từng hơi thở; lênh láng những sắc màu đơn giản hài hoà trong mỗi bước đi.
Bây giờ, tại những nơi đó, nhất là Saigon và Hà Nội, toàn các hiện tượng văn hoá thật chướng tai gai mắt, thái độ tham lam chụp giật chen lấn hiện diện trên từng khuôn mặt, từng hành xử…cảnh quan thành phố thì lộn xộn không quy hoạch, vỉa hè bị chiếm, cây xanh bị chặt…Mỹ có thành ngữ “it’s really ugly” (thật là xấu xí)…
Một bạn đọc gởi đến bài viết này như một phản bác. Xin ghi nhận và post nơi đây một góc nhìn khác.
Tác giả: Lê Phú Nhuận 14 Mar 2014
Vừa nhận được một e-mail đề cập đến câu hỏi: “TRONG TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM CỘNG HOÀ THẮNG QUÂN CỘNG SẢN VIỆT NAM, THÌ LIỆU TÌNH HÌNH CÓ KHÁC HƠN CHÚT NÀO CHĂNG? ” Tôi là lính, nên xin trả lời rất nhanh và rất đơn giản, ngay bây giờ, và dễ nhận thấy.
1. Trước hết, dù là giả thuyết, câu hỏi sai từ trong căn bản . Miền Nam không tấn công miền Bắc, nên không thể có chiến thắng. Sau khi ký hiệp định đình chiến 1954 , miền Nam lo xây dựng đất nước, ổn định đời sống toàn dân, chỉ muốn sống trong hoà bình ..
Ngay từ lúc đó , cộng sản VN đã gài người ở lại , nằm vùng , chuẩn bị sẵn cho cuộc xâm chiếm miền Nam , với sự viện trợ tối đa của cả Nga, lẫn Tầu như đã thấy . Mầm mống chiến tranh , cội nguồn của bao tội ác , hi sinh hàng triệu sinh mạng đồng bào cả Nam lẫn Bắc , xương máu chất chồng , bom đạn khói lửa ngút trời . . . xuất phát từ kẻ chủ chiến , từ kẻ xâm lăng , không phải từ phía chống đỡ , phải tự vệ . Rõ như ban ngày !
Đặt câu hỏi theo kiểu này là một lối lập lờ đánh lận con đen, để lừa bịp, để đánh tráo , nhì nhằng giữa hai phe đánh nhau. Vì vậy phải bác bỏ câu hỏi ấy ngay từ đầu , trước khi thử đi vào giả thuyết chỉ để cho rõ bản chất của hai chế độ ..
2. Giả dụ rằng, trong trường hợp mà miền Nam thắng vào tháng Tư 1975, thì tôi đoan chắc tình hình tốt hơn nhiều, nhiều lắm, và ai cũng có thể hiểu được, không chút gì ngụy biện. Tôi nói theo kiểu lính nên rất dễ hiểu.
- Này nhé. Lúc ấy người dân miền Nam giàu hơn người dân miền Bắc rất nhiều. Dân miền Nam không thể nào có ý nghĩ quái đản là ra Bắc để vơ vét , lấy về , mà trái lại sẽ rất vui vẻ mang quà ra Bắc cho thân nhân, đồng bào mình ngoài đó. Sẽ không có cảnh đày, đồng, đạp như đã thấy. Hàng triệu dân miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 chắc chắn sẽ hối hả mang đủ thứ về quê cho bà con mình. Cuộc tương phùng sẽ rất cảm động, rất thân tình, rất vui mừng, chứ không phải ngỡ ngàng như đã thấy.
- Chính quyền miền Nam là một đồng minh trong thế giới Tự Do , tôn trọng quyền tư hữu , nên cũng sẽ không có cảnh đánh tư sản , kiểm tra , cướp của , cướp nhà như CS đã làm đối với dân miền Nam. Nếu chưa thể nâng mức thu nhập ở miền Bắc lên ngang với đời sống ở miến Nam thì cũng không có cảnh chặt ngang cho tất cả nghèo như nhau. Cũng không có cảnh đuổi dân đi vùng kinh tế mới để chiếm nhà, cướp đoạt tài sản, như đã thấy .
- Các cơ sở nhà nước, các khu vực quân sự sẽ không bị ai chiếm đoạt vì luật pháp VNCH không thừa nhận quyền sở hữu cho bất cứ cá nhân hay đảng phái nào. Do đó sẽ không có cảnh con ông, cháu cha nào chiếm đoạt công thự, đất đai nhà nước làm của riêng, như đã thấy .
- Miền Nam đang được nhiều nước tân tiến, giàu có ủng hộ, nên họ sẵn sàng viện trợ để tái thiết sau chiến tranh. Lúc ấy , nền kinh tế miền Nam tự nó đã không hề thua sút các nước tại Á Châu , lại có dịp vươn mình lên, phát triển hơn, ngay tức khắc , không hề bỏ lỡ cơ hội hàng chục năm, để dân phải thiếu cả gạo để ăn, phải ăn bo bo, bột mì . . . như đã thấy ..
- Điều quan trọng nhất là Tình Người trong thời kỳ chuyển tiếp. Sẽ không bao giờ có một tinh huống tàn nhẫn, vô nhân đạo như đã thấy. Điều này thuôc về bản chất của hai chế độ. Cộng sản là giết lầm hơn bỏ sót, đào tận gốc, trốc tận rễ, truy cứu lý lịch ba , bốn đời , dù chỉ là đứa bé mới cắp sách đi học, dù là thầy tu, dù là giáo viên, là bác sĩ, y tá . . ..
Miền Nam thì khác hẳn, nên mới có nhiều Việt cộng nằm vùng trong mọi cơ quan, ngay cả trong thời gian chiến tranh.
Thế thì miền Nam sẽ giải quyết cách nào đối với các cán binh , cán bộ miền Bắc ?
Đang khi còn chiến tranh mà miền Nam còn áp dụng chính sách Chiêu Hồi, hễ buông súng, bỏ ngũ, cam kết lương thiện làm ăn, thì tự do sinh sống như mọi người. Dĩ nhiên phải trình diện, giao nộp toàn bộ vũ khí, khai báo lý lịch để thiết lập hồ sơ cá nhân, xác định nơi cư trú và lần lượt trả về nguyên quán với gia đình, như thủ tục chiêu hồi vẫn làm trong nhiều năm, như đã thấy.
Và dù có người nào bị tạm giữ trong một thời gian chắc cũng không phải đói mờ, đói mịt , khoai sắn cũng không đủ no như dưới thời công sản. Gia đình cũng sẽ không bị cấm đoán, hạn chế việc tiếp tế thăm nuôi như đã thấy. Và chắc chắn sẽ không có màn lừa bịp mười ngày thành ba năm, rồi bảy, tám, mười, mười lăm năm, như đã thấy! Và sẽ không có hàng ngàn nhà tù từ Nam tới Bắc như đã thấy!
Cần nhấn mạnh một điểm rất nhân bản của miền Nam là thủ tục bảo lãnh người thân. Gia đình nào có người thân bị bắt vì hoạt động cho cộng sản, nếu chịu đứng ra bảo lãnh trách nhiệm, thì phần lớn sẽ được cứu xét cho về với gia đình, ngay trong lúc chiến tranh. Hầu như gia đình nào cũng có thân nhân ở bên này hay bên kia.
Sau chiến tranh, bà con miền Nam sẽ được khuyến khích đứng ra bảo lãnh cho thân nhân trong hàng ngũ cộng sản, trở về với gia đình. Chế độ cộng sản không khuyến khích thủ tục ấy, ngay cả cha-con, vợ-chồng, anh-em. Trái lại, họ khuyến khích, thúc đẩy thân nhân đi vào tù “học tập ” cho tốt , “lao động” cho giỏi , để khỏi bị đảng nghi ngờ , như đã thấy !
Nhìn sự kết hợp hai miền đông-tây của Đức , người ta có thể hình dung ra phần nào cảnh kết hợp hai miền Nam-Bắc , dù không nhất thiết phải giống y như thế .
Phần quan trọng hơn nữa là Tổ Quốc Việt Nam đã không bị mất nhiều phần lãnh thổ về tay Tầu cộng , vì không bị lệ thuộc vào “đồng chí vĩ đại” phương bắc , – kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt. Sẽ không mất ải Nam Quan, không mất một phần thác Bản Giốc , không phải dấu giếm đồng bào mình , lén lút ký kết hiệp ước biên giới với rất thiệt thòi cho dân tộc mình , như đã thấy !
Tóm lại, theo cái nhìn của một người lính già, rất đơn giản nhưng rất thật, từ đời sống vât chất đến đời sống tinh thần, theo giả thuyết trên, thì nếu miền Nam thắng , thực tế tốt hơn rất nhiều.
Tôi cố tình lập lại nhiều lần ba chữ “như đã thấy” để chứng minh đó là một thực tế rất dễ nhận thấy ..
Và nếu (vẫn nếu) như thế, thì giờ này tớ đang nghỉ hưu ở Sàigòn !./-
LÊ PHÚ NHUẬN
(GNA: Đây là ý kiến cá nhân của một người lính VNCH cũ nên xin bạn đọc nên nhìn theo một bối cảnh chủ quan của người viết. Quan điểm này không phải của Góc Nhìn Alan và không phản ảnh bất cứ comments nào của các BCA khác).
Nguồn : Góc Nhìn Alan .

GNA: Trong bài phỏng vấn Riêng Tư ngày 30/1/2014 của phóng viên Trần Lương, Alan Phan tôi có trả lời như sau về một câu hỏi:
Hỏi: Tuy nhiên, T/S có thực sự nghĩ rằng chế độ cũ của miền Nam trước 1975 có thể đem lại cho đất nước một đời sống vật chất hay văn hoá khả quan hơn cho phần lớn người dân?
Đáp: Tôi không biết. Muốn phán xét thật công bằng, phải đem cân 2 chế độ theo rất nhiều chuẩn mực; rồi phải có sự đồng thuận về giá trị của từng chuẩn mực. Nếu khả thi, thì đây phải là một nghiên cứu sưu tầm rất công phu, khoa học, tốn nhiều thập kỷ và cần sự đóng góp của cả ngàn chuyên gia tại khắp mọi lãnh vực.
Nhưng tôi nhìn nhận một điều: tôi rất hạnh phúc với môi trường sống trước 1975. Thành phố còn ít người, rác và ô nhiễm không tràn ngập, cảnh quan còn xanh đẹp với những kiến trúc nửa Âu nửa Á, con người đối xử với nhau tình tự hơn, sự khoan thai và thư giãn luôn hiện diện dù chiến tranh bao quanh…Nhiều yếu tố cấu thành có thể không khách quan; nhưng Saigon hay Đà Lạt, Nha Trang ngày xưa nơi tôi sống chứa đựng những vần thơ trong từng hơi thở; lênh láng những sắc màu đơn giản hài hoà trong mỗi bước đi.
Bây giờ, tại những nơi đó, nhất là Saigon và Hà Nội, toàn các hiện tượng văn hoá thật chướng tai gai mắt, thái độ tham lam chụp giật chen lấn hiện diện trên từng khuôn mặt, từng hành xử…cảnh quan thành phố thì lộn xộn không quy hoạch, vỉa hè bị chiếm, cây xanh bị chặt…Mỹ có thành ngữ “it’s really ugly” (thật là xấu xí)…
Một bạn đọc gởi đến bài viết này như một phản bác. Xin ghi nhận và post nơi đây một góc nhìn khác.
Tác giả: Lê Phú Nhuận 14 Mar 2014
Vừa nhận được một e-mail đề cập đến câu hỏi: “TRONG TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM CỘNG HOÀ THẮNG QUÂN CỘNG SẢN VIỆT NAM, THÌ LIỆU TÌNH HÌNH CÓ KHÁC HƠN CHÚT NÀO CHĂNG? ” Tôi là lính, nên xin trả lời rất nhanh và rất đơn giản, ngay bây giờ, và dễ nhận thấy.
1. Trước hết, dù là giả thuyết, câu hỏi sai từ trong căn bản . Miền Nam không tấn công miền Bắc, nên không thể có chiến thắng. Sau khi ký hiệp định đình chiến 1954 , miền Nam lo xây dựng đất nước, ổn định đời sống toàn dân, chỉ muốn sống trong hoà bình ..
Ngay từ lúc đó , cộng sản VN đã gài người ở lại , nằm vùng , chuẩn bị sẵn cho cuộc xâm chiếm miền Nam , với sự viện trợ tối đa của cả Nga, lẫn Tầu như đã thấy . Mầm mống chiến tranh , cội nguồn của bao tội ác , hi sinh hàng triệu sinh mạng đồng bào cả Nam lẫn Bắc , xương máu chất chồng , bom đạn khói lửa ngút trời . . . xuất phát từ kẻ chủ chiến , từ kẻ xâm lăng , không phải từ phía chống đỡ , phải tự vệ . Rõ như ban ngày !
Đặt câu hỏi theo kiểu này là một lối lập lờ đánh lận con đen, để lừa bịp, để đánh tráo , nhì nhằng giữa hai phe đánh nhau. Vì vậy phải bác bỏ câu hỏi ấy ngay từ đầu , trước khi thử đi vào giả thuyết chỉ để cho rõ bản chất của hai chế độ ..
2. Giả dụ rằng, trong trường hợp mà miền Nam thắng vào tháng Tư 1975, thì tôi đoan chắc tình hình tốt hơn nhiều, nhiều lắm, và ai cũng có thể hiểu được, không chút gì ngụy biện. Tôi nói theo kiểu lính nên rất dễ hiểu.
- Này nhé. Lúc ấy người dân miền Nam giàu hơn người dân miền Bắc rất nhiều. Dân miền Nam không thể nào có ý nghĩ quái đản là ra Bắc để vơ vét , lấy về , mà trái lại sẽ rất vui vẻ mang quà ra Bắc cho thân nhân, đồng bào mình ngoài đó. Sẽ không có cảnh đày, đồng, đạp như đã thấy. Hàng triệu dân miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 chắc chắn sẽ hối hả mang đủ thứ về quê cho bà con mình. Cuộc tương phùng sẽ rất cảm động, rất thân tình, rất vui mừng, chứ không phải ngỡ ngàng như đã thấy.
- Chính quyền miền Nam là một đồng minh trong thế giới Tự Do , tôn trọng quyền tư hữu , nên cũng sẽ không có cảnh đánh tư sản , kiểm tra , cướp của , cướp nhà như CS đã làm đối với dân miền Nam. Nếu chưa thể nâng mức thu nhập ở miền Bắc lên ngang với đời sống ở miến Nam thì cũng không có cảnh chặt ngang cho tất cả nghèo như nhau. Cũng không có cảnh đuổi dân đi vùng kinh tế mới để chiếm nhà, cướp đoạt tài sản, như đã thấy .
- Các cơ sở nhà nước, các khu vực quân sự sẽ không bị ai chiếm đoạt vì luật pháp VNCH không thừa nhận quyền sở hữu cho bất cứ cá nhân hay đảng phái nào. Do đó sẽ không có cảnh con ông, cháu cha nào chiếm đoạt công thự, đất đai nhà nước làm của riêng, như đã thấy .
- Miền Nam đang được nhiều nước tân tiến, giàu có ủng hộ, nên họ sẵn sàng viện trợ để tái thiết sau chiến tranh. Lúc ấy , nền kinh tế miền Nam tự nó đã không hề thua sút các nước tại Á Châu , lại có dịp vươn mình lên, phát triển hơn, ngay tức khắc , không hề bỏ lỡ cơ hội hàng chục năm, để dân phải thiếu cả gạo để ăn, phải ăn bo bo, bột mì . . . như đã thấy ..
- Điều quan trọng nhất là Tình Người trong thời kỳ chuyển tiếp. Sẽ không bao giờ có một tinh huống tàn nhẫn, vô nhân đạo như đã thấy. Điều này thuôc về bản chất của hai chế độ. Cộng sản là giết lầm hơn bỏ sót, đào tận gốc, trốc tận rễ, truy cứu lý lịch ba , bốn đời , dù chỉ là đứa bé mới cắp sách đi học, dù là thầy tu, dù là giáo viên, là bác sĩ, y tá . . ..
Miền Nam thì khác hẳn, nên mới có nhiều Việt cộng nằm vùng trong mọi cơ quan, ngay cả trong thời gian chiến tranh.
Thế thì miền Nam sẽ giải quyết cách nào đối với các cán binh , cán bộ miền Bắc ?
Đang khi còn chiến tranh mà miền Nam còn áp dụng chính sách Chiêu Hồi, hễ buông súng, bỏ ngũ, cam kết lương thiện làm ăn, thì tự do sinh sống như mọi người. Dĩ nhiên phải trình diện, giao nộp toàn bộ vũ khí, khai báo lý lịch để thiết lập hồ sơ cá nhân, xác định nơi cư trú và lần lượt trả về nguyên quán với gia đình, như thủ tục chiêu hồi vẫn làm trong nhiều năm, như đã thấy.
Và dù có người nào bị tạm giữ trong một thời gian chắc cũng không phải đói mờ, đói mịt , khoai sắn cũng không đủ no như dưới thời công sản. Gia đình cũng sẽ không bị cấm đoán, hạn chế việc tiếp tế thăm nuôi như đã thấy. Và chắc chắn sẽ không có màn lừa bịp mười ngày thành ba năm, rồi bảy, tám, mười, mười lăm năm, như đã thấy! Và sẽ không có hàng ngàn nhà tù từ Nam tới Bắc như đã thấy!
Cần nhấn mạnh một điểm rất nhân bản của miền Nam là thủ tục bảo lãnh người thân. Gia đình nào có người thân bị bắt vì hoạt động cho cộng sản, nếu chịu đứng ra bảo lãnh trách nhiệm, thì phần lớn sẽ được cứu xét cho về với gia đình, ngay trong lúc chiến tranh. Hầu như gia đình nào cũng có thân nhân ở bên này hay bên kia.
Sau chiến tranh, bà con miền Nam sẽ được khuyến khích đứng ra bảo lãnh cho thân nhân trong hàng ngũ cộng sản, trở về với gia đình. Chế độ cộng sản không khuyến khích thủ tục ấy, ngay cả cha-con, vợ-chồng, anh-em. Trái lại, họ khuyến khích, thúc đẩy thân nhân đi vào tù “học tập ” cho tốt , “lao động” cho giỏi , để khỏi bị đảng nghi ngờ , như đã thấy !
Nhìn sự kết hợp hai miền đông-tây của Đức , người ta có thể hình dung ra phần nào cảnh kết hợp hai miền Nam-Bắc , dù không nhất thiết phải giống y như thế .
Phần quan trọng hơn nữa là Tổ Quốc Việt Nam đã không bị mất nhiều phần lãnh thổ về tay Tầu cộng , vì không bị lệ thuộc vào “đồng chí vĩ đại” phương bắc , – kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt. Sẽ không mất ải Nam Quan, không mất một phần thác Bản Giốc , không phải dấu giếm đồng bào mình , lén lút ký kết hiệp ước biên giới với rất thiệt thòi cho dân tộc mình , như đã thấy !
Tóm lại, theo cái nhìn của một người lính già, rất đơn giản nhưng rất thật, từ đời sống vât chất đến đời sống tinh thần, theo giả thuyết trên, thì nếu miền Nam thắng , thực tế tốt hơn rất nhiều.
Tôi cố tình lập lại nhiều lần ba chữ “như đã thấy” để chứng minh đó là một thực tế rất dễ nhận thấy ..
Và nếu (vẫn nếu) như thế, thì giờ này tớ đang nghỉ hưu ở Sàigòn !./-
LÊ PHÚ NHUẬN
(GNA: Đây là ý kiến cá nhân của một người lính VNCH cũ nên xin bạn đọc nên nhìn theo một bối cảnh chủ quan của người viết. Quan điểm này không phải của Góc Nhìn Alan và không phản ảnh bất cứ comments nào của các BCA khác).
1. Thấy chết thì đứng xem, hoặc la inh ỏi chớ không dám cứu. Lấy nhục làm vinh lâu thành quen.
2. Không cần một nghề, thích ngồi quán làm cò xe, cò đất.
3. Phải loanh quanh chốn lầu xanh, hú hí với em út.
4. Ai chết mặc ai, tiền thầy bỏ túi.
5. Bỏ vốn lớn khi nào có lợi. Sẵn sàng lật kèo hủy chữ tín để khỏi chết.
6. Ma chay, giỗ quảy thật lớn để tỏ lòng có hiếu. Khi còn sống không dám cho ăn nào ai biết.
7. Sao chép của người để hiện đại hóa, đón đầu.
8. Có rượu mới có bạn. Không rượu thui thủi không ai chơi, nên sẵn sàng với bạn bỏ mặc công việc.
9. Phải tin vào sự sáng suốt.
10. Nếu không cha truyền con nối thì phải chạy chức, chạy bằng.
Người Hoa tại Phi luật Tân .
Theo thông báo của Thượng viên Phi năm 2013 thì :
"Ngày nay , người TQ chính gốc khoảng 1,35 triệu trong khi ng Phi có gốc TQ chiếm 22.8 triệu .
Ng Phi gốc TQ , đã có ảnh hưởng đáng kể trong nước về phương diện nhân lực , dịch vụ cộng đồng , ngân hàng và tài chánh .
Trong năm 2011 , TQ vẫn là thị trường XK lớn thứ ba của Phi với XK đạt 6,237 tỉ đô trong 2011 và thị trường NK lớn thứ 3 của Phi với 6,085 tỉ đô" .
Hình 2 và 3 : các chính khách và nghệ sĩ Phi gốc Hoa trong đó có TT Corazon Aquino , Ferdinand Marcos và hồng y Sin .
Nhận xét : Tại sao "với người TQ chính gốc khoảng 1,35 triệu trong khi ng Phi có gốc TQ chiếm 22.8 triệu" , nhưng cộng đồng này lại KHÔNG LÀ mối đe dọa cho an ninh quốc gia của Phi trong khi số người Hoa chánh gốc và người Việt gốc Hoa ở VN THẤP HƠN nhưng lại là đề tài bàn luận của báo chí , gồm lề phải lẫn trái ? . Tất cả là vì thái độ hay chánh sách e dè , thậm chí khiếp nhược của CPVN đối với các lấn lướt về biển đảo hay xâm lăng về kinh tế , văn hóa , vv...của TQ .
Theo thông báo của Thượng viên Phi năm 2013 thì :
"Ngày nay , người TQ chính gốc khoảng 1,35 triệu trong khi ng Phi có gốc TQ chiếm 22.8 triệu .
Ng Phi gốc TQ , đã có ảnh hưởng đáng kể trong nước về phương diện nhân lực , dịch vụ cộng đồng , ngân hàng và tài chánh .
Trong năm 2011 , TQ vẫn là thị trường XK lớn thứ ba của Phi với XK đạt 6,237 tỉ đô trong 2011 và thị trường NK lớn thứ 3 của Phi với 6,085 tỉ đô" .
Hình 2 và 3 : các chính khách và nghệ sĩ Phi gốc Hoa trong đó có TT Corazon Aquino , Ferdinand Marcos và hồng y Sin .
Nhận xét : Tại sao "với người TQ chính gốc khoảng 1,35 triệu trong khi ng Phi có gốc TQ chiếm 22.8 triệu" , nhưng cộng đồng này lại KHÔNG LÀ mối đe dọa cho an ninh quốc gia của Phi trong khi số người Hoa chánh gốc và người Việt gốc Hoa ở VN THẤP HƠN nhưng lại là đề tài bàn luận của báo chí , gồm lề phải lẫn trái ? . Tất cả là vì thái độ hay chánh sách e dè , thậm chí khiếp nhược của CPVN đối với các lấn lướt về biển đảo hay xâm lăng về kinh tế , văn hóa , vv...của TQ .
Labels:
ABC về biển Đông,
BIỂN ĐÔNG,
CHỈ XẢY RA Ở MỸ,
CHINA
Subscribe to:
Posts (Atom)









