Sunday, March 16, 2014

Floppy disk .
Thưa chị ,
Thập niên 1980-90 , đã có máy tính , nhưng ở giai đoạn tiền sử  ; đã có thẻ , xem hình , để Save các document . Nếu chị còn giử được các thẻ đó và đặt câu hỏi trên mạng thì có thể có ng giúp chị .

FLOPPY DISK , TÔI ĐÃ DÙNG NÓ ĐỂ SAVE CÁC DOCUMENT . NẾU TÔI KO LẦM , BÂY GIỜ CÓ BÁN READER ĐỂ GIÚP TA CÓ THỂ ĐỌC CÁC ĐỈA NÀY .




Tuy qua Mỹ từ năm 1994 nhưng đến năm 2001 tôi mới xài máy tính , (chạy Windows 2000 hay NT) của thư viện . Tôi còn nhớ vẫn có thể bỏ dấu nhờ Unikey . Viết bài xong , tôi lưu vào đỉa hình vuông và mang về nhà .
Sau đó tôi sắm máy tính chạy Win XP ; do máy cũ , bị hư hoài , tôi vào thư viện đọc sách hay mua sách trên Amazon hay đặt câu hỏi trên mạng . Nhờ vậy mà biết sửa chữa máy tính . tôi chĩ thua ng ta là ko viết được program . Hiện nay , do lớn tuổi , tôi ko còn sửa máy tính nhưng vẫn tư vấn cho bạn bè về máy tính .
Chào chị ,

ĐỪNG CÓ MƠ VIỆT NAM SẼ NHƯ UKRAINA

Bài đọc liên quan:
Cuộc cách mạng xã hội ở Ukraina làm nhiều người Việt hào hứng, tưởng tượng, mong đợi và háo hức nó sẽ diễn ra ở nước Việt. Nhưng khi họ nói chuyện với tôi, tôi đã nói, đó là một giấc mơ không có thực ở Trung Hoa, Việt Nam, Lào, Bắc Hàn, Cu Ba và Cambodia.
Khi một số người bảo rằng, do dân trí Việt chưa đủ để hiểu biết và làm cách mạng xã hội. Tôi hỏi, thế dân trí Việt thời 1945 có bằng bây giờ không mà vẫn có cách mạng xã hội ở Việt Nam? Nên dân trí không phải là yếu tố quyết định để có cuộc cách mạng.
Một số người khác lại bảo, do ở Việt Nam chưa có lãnh tụ nào xuất hiện ở phía đối lập với đảng cầm quyền, nên chưa có cuộc cách mạng như dân mong mỏi. Tôi lại trả lời rằng, hiến pháp đâu cho có bất kỳ một lãnh tụ nào xuất hiện để thành lập lực lượng đối lập với đảng cầm quyền ở Việt Nam? Chưa xuất hiện là đã bị nghiền nát bằng tù đày, và bao lao khổ khác, không chỉ bản thân, mà còn gia đình vì hiến pháp và pháp luật hiện nay là để bảo vệ đảng cộng sản cầm quyền.
Một số người lại cho rằng dân mình hèn, ngu dốt như 2 câu thơ của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu viết vào năm 1927 trên An Nam Tạp Chí về chủ đề chống tham nhũng: "Cũng bỡi thằng dân ngu quá lợn/Cho nên quân nó mới làm quan". Tôi lại cho rằng không phải dân ngu, dân hèn mà nhìn tổng quan thì, dân Việt đã mất hết dân khí để đấu tranh, trong hoàn cảnh bị chia rẻ từ chính bản thân người dân, và nhà cầm quyền.
Nếu đem so sánh cuộc cách mạng xã hội ở Ukraina với chuyện nước Việt có thể có cách mạng xã hội hay không, thì cần có cái nhìn tổng thể cả khách quan và chủ quan của nước Việt. Không thể có một cái nhìn cảm tính, duy tình, yêu ghét mà có những sai lầm. Những phân tích khách quan sau đây dù đau đớn cho trí thức và nhân dân yêu nước Việt, nhưng phải nhìn sự thật khách quan của sự vật hiện tượng ở mặt bản chất của vấn đề.

Cùng giống như Ukraina là phên giậu của Nga, thì Việt Nam là phên giậu của Trung Hoa, nhưng lại có những sự khác biệt giữa 2 phên giậu của 2 cường quốc cánh tả này. Việt Nam không thể có được cách giải quyết như Ukraina.
Về chủ quan thì có 3 vấn đề lớn khác biệt giữa Ukraina và Việt Nam
Khác biệt thứ nhất là văn hóa, văn hóa duy lý của phương Tây luôn có sự dứt khoát, mà không trù trừ, đa đoan như văn hóa duy tình của phương Đông trong giải quyết một vấn đề.
Khác biệt thứ hai là quan trọng nhất là, Ukraina là một quốc gia tự do, dân chủ, đa nguyên sau khi đã thoát khỏi chế độ đơn nguyên, độc tài cầm quyền bỡi Liên Xô cũ từ 1990. Trong khi đó, Việt Nam vẫn còn chế độ đơn nguyên, độc tài của cộng sản cầm quyền, mà còn hơn thế nữa, một kiểu đầu thì phong kiến tập quyền, nhưng tay chân mình mẩy là tự bản hoang dã, tham lam và tàn độc.
Khác biệt về mặt dân khí là dân Ukraina đã từng làm cuộc cách mạng nhung để thoát khỏi Liên Xô. Họ đã quen với quán tính tư duy động trong chính trường. Ngày nay, họ sống trong bầu không khí đa nguyên, quân đội chỉ để bảo vệ biên cương lãnh thổ, cảnh sát chỉ để bảo vệ an ninh khu phố. Quân đội và cảnh sát không bảo vệ chính quyền và đảng phái chính trị như các nước cộng sản xưa kia và ngày nay còn tồn tại. Nên khi dân chúng xuống đường, Yanukovic đã kêu gọi quân đội đàn áp, thì quân đội làm ngơ. 
Chính nhờ một hình thái chính trị xã hội đa nguyên, tự do, dân chủ, của dân, do dân và vì dân như thế, nên dân Ukraina đã lật đổ một lãnh đạo tham nhũng và độc tài, chỉ trong 4 năm đã tẩu tán tài sản quốc gia đến 70 tỷ đô la không dấu vết. Còn ở các nước cộng sản thì quân đội và cảnh sát chỉ trung thành với đảng và giai cấp cầm quyền để ăn chia trên tài nguyên và máu của đồng bào mình. Nhà tù và súng đạn của các quốc gia có đảng cộng sản độc quyền cai trị, họ thừa nhẫn tâm như Thiên An Môn đẫm máu. Cho nên khó có thể diễn ra một cuộc cách mạng ôn hòa như Ukraina, mà hầu hết phải giải quyết bằng con đường đẫm máu như Libya hoặc Syria.
Vấn đề khách quan cũng có 2 vấn đề lớn Ukraina khác biệt với Việt Nam
Thứ nhất và quan trọng nhất là Nga ngày nay không là một quốc gia đơn nguyên và độc tài như xưa, nên Nga không thể mộ tay che cả bầu trời Đông Âu theo kiểu chuyên chính vô sản ngày xưa. Vì Putin sẽ bị các đảng đối lập lên án, và đánh vào tử huyệt khi tranh cử lần tới. Hơn nữa, nước Nga sau bạo bệnh, sức cùng lực kiệt của một con gấu già nua, không đủ để có thể thâu tóm Ukraina như đã từng thâu tóm Tiệp Khắc, Bungaria hồi thập niên 1950.
Thứ hai còn quan trọng hơn nữa là, Trung Hoa ở cạnh nước Việt vẫn còn hình thái chính trị xã hội đơn nguyên độc tài toàn trị, và các chính khách Việt của đảng cộng sản cầm quyền đang đi theo con đường của Trung Hoa cả chính trị lẫn kinh tế. Áo mặc không thể qua khỏi đầu, và kiếp chư hầu toi mọi phải đành chịu để tiếp tục ăn chia trên tài nguyên của tổ quốc, và máu của đồng bào mình, mặc dù nó đã cạn kiệt, vẫn hơn là làm cuộc đổi thay có khi lại mất trắng cả dòng tộc như Gaddafi và Saddam Hussein.
Kết
Ngàn năm và vạn thế hệ sau tổ quốc và dân tộc Việt Nam cũng không thể thoát được chế độ cộng sản cầm quyền. Vì điều kiện cần muốn có cách mạng dân tộc, dân chủ thì chính các chính khách Việt đang là đảng cộng sản phải có tư tưởng và hành động vì quốc gia dân tộc chứ không vì đảng ăn chia. Còn điều kiện đủ để Việt Nam có cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ thì cộng sản Trung Hoa phải sụp đổ, hoặc phải thay đổi đa nguyên trước như Liên Xô đã làm thời Gorbachev và Elsin, thì Việt Nam mới dám làm theo.
Asia Clinic, 17h56' Chúa nhựt, 16/3/2014

Saturday, March 15, 2014

VĂN BẢN WORD :  CÁCH XEM , IN VÀ CHÉP NGAY CẢ BẠN KHÔNG CÓ WORD TRÊN MÁY .
View, print and copy Word documents, even if you don't have Word installed. This download is a replacement for Word Viewer 2003 and all previous Word Viewer versions. Xin click vào link :
 http://www.microsoft.com/en-us/download/details.aspx?id=4

Details


Version:
Date Published:
1 9/26/2007
File name:
File size:
wordview_en-us.exe 24.5 MB
View, print and copy Word documents, even if you don't have Word installed. This download is a replacement for Word Viewer 2003 and all previous Word Viewer versions.

The Word Viewer, together with the Microsoft Office Compatibility Pack for Word, Excel, and PowerPoint File Formats, allows you open Word documents saved in the following formats:
  • Word Document (.docx)
  • Word Macro-Enabled Document (.docm)
  • Rich Text Format (.rtf)
  • Text (.txt)
  • Web Page formats (.htm, .html, .mht, .mhtml)
  • WordPerfect 5.x (.wpd)
  • WordPerfect 6.x (.doc, .wpd)
  • Works 6.0 (.wps)
  • Works 7.0 (.wps)
  • XML (.xml)

With Word Viewer and the Compatibility Pack, you can view, print, and copy document contents to another program. However, you cannot edit an open document, save a document, or create a new document. This download is a replacement for Word Viewer 2003 and all previous Word Viewer versions.

NOTE: If you comply with the other license terms for the Word Viewer, you may distribute this viewer without a document created in Microsoft Office.

If the document you want to view is stored on Windows Live SkyDrive, you don’t need to download a viewer. SkyDrive includes Word Web App, which enables you to open the document in your web browser. If you have permission, you can even edit the document in your browser. For more information about Word Web App, see Introduction to Word Web App.

Friday, March 14, 2014

Nhật Tuấn : 30 THÁNG TƯ – CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ.(em ruột của Nhật Tiến)

http://nhattuan2011.blogspot.com/2013/04/30-thang-tu-chuyen-bay-gio-moi-ke.html

    

    Sáng 30 tháng 4 năm 1975, tôi đang ở cuối đường 14 cũ và đầu đường Trường Sơn mới, tức sông A Vương, tỉnh Quảng Đà (cũ). Lúc đó tôi nghe BBC kể về một bức biếm hoạ đăng trên báo Mĩ, vẽ ngôi mộ có bia khắc dòng chữ "VNCH" (Việt Nam Cộng Hoà) và "nơi đây yên nghỉ một quốc gia vừa chết trong tức tưởi".

Tôi cũng nghe đài Sài Gòn đọc tuyên bố buông súng, giao lại chính quyền của ông Dương văn Minh, sau đó là bài hát Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong - "ngoài hiên gịot mưa thu thánh thót rơi, trời vắng…u buồn…mây hắt hiu ngừng trôi", lát sau có tiếng người đọc: "Đây là tiếng nói của Quân Giải phóng khu vực Sài Gòn-Chợ Lớn" và tôi nghĩ: chiến tranh đã kết thúc.

Đêm đó nằm trên võng với ánh đèn hạt đậu, tôi ghi sổ tay :

“ Lịch sử dân tộc sang trang mới. Nghệ thuật với “tiếng lòng” cáo chung . Tiếng nhạc Đặng Thế Phong như tiếng nức nở than khóc một thực thể vừa trút hơi thở cuối cùng. Đó là tiếng kèn đưa đám  chế độ Việt Nam Cộng Hòa , tiếng thở than cuối cùng, tiếng thở hắt ra của một nền nghệ thuật tự do.

Thôi thế từ nay hết cái buồn mênh mang, hết cái sầu vạn cổ, hết cái bơ vơ trong cõi vô cùng…Mai tới là những điệu kèn đồng hối hả thúc giục lao động….Nghệ thuật, nghệ thuật và nghệ thuật…cũng đút tay vào còng..”

Sáng hôm sau xảy chuyện :

“ Bên trạm giao liên, cô Hoa đẻ non, con mới 15 ngày còn đỏ hỏn, đã phải ngồi xe tải vượt Trường Sơn ra Bắc. Cô van xin ở lại để mẹ con cứng cáp. Đâu có được. Cô và đứa con cô là biểu tượng của tội lỗi, của sự mất thanh danh tiểu đoàn, mất danh dự quân đội.

Lòng tôi như xát muối nhìn cô ẵm con lên xe , ngoái nhìn phương trời xa, bố đứa bé chưa biết mặt con vẫn đang lặn lội chiến trường.

Cô sẽ về một vùng quê nào đó, ôm con mỏi mắt đợi chờ . Nhưng cô chờ ai, người đàn ông chỉ sau một lần yêu chớp nhoáng đã lại đi vào lửa đạn. Mai sau còn sống trở về và liệu lúc đó có còn của cô ?”

10 ngày sau, tôi cùng đại úy Lê Tử Kỳ - sau này là Viện trưởng Viện thiết kế dầu khí,   chạy commăng ca về Sàigon tìm tới nhà ông anh là nhà văn Nhật Tiến, nhờ báo Thiếu Nhi tôi biết được địa chỉ 159 Thiệu Trị , cạnh cổng xe lửa số 6.

Vào một buổi chiều, một chiếc xe con quân sự đỗ xịch trước cửa, hai ông “lính chiến” quân trang quân dụng đầy mình nhảy trên xe xuống gõ cửa ầm ầm. Xấp nhỏ chạy ra, tôi hét :

“ Mở cửa…cách mạng xét nhà…” .

Ôi chao, ngày đó như thế là chuyện lớn lắm. Tôi vào phòng khách nhìn thấy hình bố mẹ treo trên tường , yên trí nhà ông anh đây rồi. Tôi hét :

“ Bố mẹ đâu rồi ?”

Xấp nhỏ sợ xanh mắt, mếu máo :

“ Bố mẹ cháu ở nhà in…”

“ Gọi điện về ngay…”

Lát sau ông Nhật Tiến chạy về.  Nhìn thấy hai ông bộ đội lù lù, ông tái mặt. Tôi lại gần ôm lấy ông anh :

“ Em Tuấn đây mà…”

Ông Nhật Tiến đẩy tôi ra :

“ Vâng vâng…mời hai ông ngồi chơi…”

Tới lúc đó ông Nhật Tiến vẫn chưa dám nhận thằng em xa cách từ năm 1954. Mãi sau khi tôi vào toa lét tắm rửa , mặc bộ pyjama bước ra, hai anh em mới ôm nhau khóc nức nở.

Chiều hôm đó sau bữa tiệc hàn huyên, tôi mặc quần tây , áo sơ mi lẻn ra lăng cha Cả tìm … “chị em ta”.

Mãi sau này tôi khó quên được cái cảnh “vui vẻ” trên giường với cô gái , nhìn vào cánh tủ gương thấy trên chiếc chiếu trải dưới đất đứa bé gái chừng 3 tuổi đang ngủ mê mệt. Tôi đoán cô gái là vợ lính cộng hòa đã nằm xuống đâu đó  để lại hai mẹ con. Khi chia tay, cô gái cười buồn :

“ Chắc anh là…bộ đội cụ Hồ ?”

Tôi trợn tròn mắt :

“ Ối trời ôi…sao em đoán hay vậy”

Cô gái lại cười  :

“Thì bị hãm trên rừng lâu ngày , riết rồi thành con chó đói….lính cộng hòa đâu có vậy !”

Tôi phải thưởng thêm cho em một tờ bạc “bác Hồ” nữa.

Tối đó mãi 10 giờ khuya chưa thấy ông em mò về , ông Nhật Tiến đánh xe hơi đi rà rà dọc đường Võ Tánh, chợt tá hỏa thấy ông em ngồi vỉa hè nói cười ngả ngớn , vỗ đùi vỗ vế mấy em đứng đường. Ông phóng vội xe đi sợ tôi “mặc cảm” .

Đêm đó tôi về khuya, ông anh đã “tế nhị” để sẵn trong toa lét một chai cồn 90 để ông em “tổng vệ sinh”. Tối hôm sau, ngồi uống càphê, hai anh em bàn chuyện chính trị, thời sự. Ông đưa ra mấy cuốn Mác Lê, mấy cuốn nghị quyết đại hội đảng  coi y‎ tôi ra sao. Tôi bật cười :

“ Thôi ông ơi, những cuốn này không nhá được đâu, đến tôi cũng còn chịu nữa ông. Tốt hơn hết ông tìm cách trốn ra nước ngoài . Người tử tế như ông sống sao được với cộng sản ….”

Ôi thôi thôi , thế là bao nhiêu thu hoạch sau đợt thành ủy Sàigòn tổ chức học tập nghị quyết  chính trị cho văn nghệ sĩ Sàigòn trôi sạch.

 Thế rồi sau mấy năm nhếch nhác làm nhà giáo, ông anh tôi mới  bước chân xuống tàu di tản sang Mỹ sau một chuyến đi trên hải đạo kinh hoàng.


30 - 4 - 2013

    ĐÍNH CHÍNH CỦA NHÀ VĂN NHẬT TIẾN :


Nhật Tiến: Vài lời đính chính :


 Nhân đọc bài “Chuyện bây Giờ Mới Kể ”,  tôi - Nhật Tiến người trong cuộc - xin được đính chính vài điều như sau :

1) Người mà Nhật Tuấn gặp đầu tiên ở nhà số 159 Thiệu Trị, Sài Gòn là nhà tôi, Đỗ Phương Khanh, khi ấy đang làm công nhân cho xưởng in Alpha ở đường Phạm Ngũ Lão Sài Gòn, lúc nhận điện thoại ở nhà gọi báo tin "có chú Tuấn ở ngòai Bắc vào" thì chạy ngay về gặp Nhật Tuấn. (Tháng 5 -1975, nhiều nhà tư nhân vẫn còn điện thoại).

 Hai chị em nhận ra nhau ngay, qua giọng nói còn ghi nhớ.

Như thế, chuyện “Nhìn thấy hai ông bộ đội ngồi lù lù, ông tái mặt” là không có.

 2) Nhật Tuấn (cùng đại úy Lê Tử Kỳ) tìm đến nhà ông anh là chuyện thật, lại rất sớm, tức chỉ 10 ngày sau khi nghe tin quân Giải phóng đã vào Sài Gòn như Nhật Tuấn đã thuật trong bài. Mà như thế thì lúc đó chưa có Khóa Bồi dưỡng chính trị cho Văn Nghệ Sĩ do Thành Ủy tổ chức, và câu nhận định của Nhật Tuấn trong bài kể trên :

 “Ôi thôi thôi , thế là bao nhiêu thu hoạch sau đợt thành ủy Sàigòn tổ chức học tập nghị quyết chính trị cho văn nghệ sĩ Sàigòn trôi sạch.” là hoàn toàn vô căn cứ.

 Lớp bồi dưỡng chính trị này chỉ mở có 2 khóa, Khóa đầu (tôi có tham dự) mãi đến khoảng tháng 6 -1976 mới khai mạc, sau khi chính quyền mới đã ruồng bắt hết các văn nghệ sĩ có tên trong danh sách cần bắt giữ như Nguyễn Mạnh Côn, Hồ Hữu Tường, Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Sĩ Tế, Dương Nghiễm Mậu, Lý Đại nguyên, Duyên Anh, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Minh Đăng Khánh, Lê Xuyên, họa sĩ Chóe…..v...v..cùng rất đông các nhà văn, nhà thơ, nhà báo khác nữa.

 Hơn nữa, dù có theo học khóa Bồi dưỡng chính trị kể trên, tôi cũng chẳng “thu hoạch” được gì hết nên làm sao lại  đến nỗi “bao nhiêu thu hoạch… bị trôi sạch”.

Trong nhiều bài viết cũng như 3 cuốn Hành Trình Chữ Nghĩa do tôi xuất bản trong năm vừa qua, tôi  cũng đã trình bầy nội dung của cái khóa học này. Nhiều độc giả chắc cũng đã biết sau  khi đọc bộ sách này.

3)  Sau 30-4 qua các đợt bắt bớ văn nghệ sĩ và các đợt Sĩ Quan, Công chức cao cấp đi trình diện cải tạo, tâm trạng mọi người đều rất bất an, ai cũng lo cho số phận của mình, thêm nữa, đời sống trước mặt cho thấy đầy bấp bênh khốn khó, vậy thì chỉ những kẻ nằm vùng mới có tâm trạng an vui và tìm sách “Mác, Lê” để đọc.  Cá nhân tôi, không thuộc loại người ấy nên không thể có chuyện “Ông đưa ra mấy cuốn Mác Lê, mấy cuốn nghị quyết đại hội đảng coi ý‎ tôi ra sao. Tôi bật cười : “ Thôi ông ơi, những cuốn này không nhá được đâu, đến tôi cũng còn chịu nữa ông. Tốt hơn hết ông tìm cách trốn ra nước ngoài. Người tử tế như ông sống sao được với cộng sản ….”

Tôi chẳng là cái thớ gì mà có được những cuốn Nghị Quyết của Đảng để đem khoe ngay sau 10 ngày Nhật Tuấn vào tìm tôi ở Sài Gòn.

Còn về mấy năm sau này, khi nhà in Alpha được cán bộ miền  Bắc giao trách nhiệm in lại mấy cuốn sách Mác, Lênin, tôi được cho mấy cuốn để đọc thì lại là chuyện khác. Quản đốc nhà in Alpha khi đó là ông Lý Thái Thuận, bạn đồng nghiệp cùng dạy Vật Lý với tôi ở nhiều tư thục Sài Gòn trước 1975. Chuyện cho sách như thế cũng là điều bình thường, chứ tôi cũng chẳng bỏ tiền ra mua.

Sự kiện  xẩy ra đã gần 40 năm, chuyện nhớ sai cũng là bình thường nhưng cũng  xin đính chính để tránh gây ngộ nhận.

 Nhật Tiến

 California ngày 30-4-2013


 
 

Thursday, March 13, 2014

Chuyện về bà Cát Hanh Long.- Nguyễn Thông

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ Năm, ngày 13 tháng 3 năm 2014

Bà Cát Hanh Long tức bà Nguyễn Thị Năm, bị cách mạng vô sản quy là địa chủ cường hào gian ác, lôi ra xử bắn năm 1953. Hôm nay 13.3, tôi may mắn được đọc trên tờ báo An ninh thế giới số mới nhất (12.3) bài viết về bà Năm của nhà báo Xuân Ba bạn tôi. Chỉ mong sao cái chính quyền này biết cúi đầu thừa nhận những sai phạm tày trời của họ để chiêu tuyết cho những nạn nhân mà họ đã đày ải oan ức khốn cùng. Nhưng tôi (và có lẽ cả bạn tôi nữa) đều hiểu rằng điều ấy rất khó.

Giờ thì anh Xuân Ba mới lên tiếng chứ tôi và em gái tôi, cô Người Làng Trà đã viết về bà Năm từ năm 2007 cơ, trong lần đi tìm mộ người chú ruột hy sinh và được chôn cất tại đồn điền của bà Năm ở Đồng Bẩm, Thái Nguyên. Chính chú tôi là một trong hàng nghìn người được bà Năm cưu mang thời kháng chiến, vì vậy gia đình tôi rất biết ơn bà.
Bà Cát Hanh Long - Nguyễn Thị Năm cùng các con
Xin biên lại đây một phần liên quan đến bà Năm trong những ghi chép ngày ấy:

Chiều 6.8, nhớ câu nói của bà cụ Vãn “những người chết tại đồn điền trong khoảng những năm 1950 - 1953 đều chôn ở khu vực ao sen” nên chúng tôi dò hỏi và tập trung tìm kiếm tại nơi này. Trên thực địa mênh mông, nhà cửa chen lẫn rừng cây, chỗ nào chẳng giống chỗ nào. Ao sen ở đâu, liệu có còn? Theo lối mòn cạnh tường rào UBND huyện Đồng Hỷ, đến nơi cách đường lớn khoảng ba bốn trăm mét chúng tôi chỉ thấy một bờ cây gai góc rậm rạp. Gặp bà cụ ngoài 70 đang chăn trâu, cụ hỏi ngay “chắc cô chú đi tìm mộ?”. Chúng tôi lại một phen kinh ngạc liền hỏi thăm bà cụ ao sen chỗ nào. Cụ chỉ tay “ngay cạnh chỗ cô chú đứng chứ đâu”. Nhìn kỹ thấy đúng là có cái ao thực, hình bầu dục, vẫn còn những bậc đá lên xuống. Phía bên phải ao, nhà cửa cây cối sầm uất, rậm rạp. Vạch cây rẽ lá, chúng tôi dò tìm quanh quẩn một lúc thì phát hiện đằng góc ao có đống đá nhỏ, trong đó một hòn to hơn và có vẻ trắng hơn. Chả biết có phải cô đồng Hà nói vậy mà mình cảm thấy vậy chăng? Nửa phân vân, nửa hy vọng, chúng tôi lại gần đống đá và thắp hương khấn mong chú Liễn về phù hộ. Đi thêm một đoạn chợt thấy ngôi nhà xây tường gạch bao quanh, chúng tôi gõ cửa. Một phụ nữ ngoài 40 đẹp hiền hậu ra mở cửa đưa chúng tôi vào nhà mặc dù chưa biết khách là ai. Nhìn những huân huy chương treo trên tường, tôi biết đây là nhà đại tá Mai Trung Lâm, nguyên tư lệnh trưởng Quân khu 2, đã mất. Sau khi con dâu (người phụ nữa ấy) vào báo tin, bà Lâm ra tiếp. Kha thưa với bà mục đích chuyến đi, bà tỏ vẻ rất xúc động khi nghe chuyện về ông Liễn bởi bà từng là cán bộ kháng chiến hoạt động tại vùng này. Hỏi về khu đồn điền, bà Lâm bùi ngùi kể cho chúng tôi về bà Cát Hanh Long - Nguyễn Thị Năm và những đóng góp to lớn của bà Năm với cách mạng; bà khuyên chúng tôi kiên nhẫn tìm kiếm, đừng bỏ dở chừng. Bà lại giới thiệu sang gặp cụ Quỳ, người thân thiết với gia đình bà Năm, nhà cũng gần đó.

Sang gặp cụ Quỳ. Chuyện trò một hồi, khi chúng tôi khoe đã gặp bà Vãn, cụ Quỳ thoáng nhíu mày, im lặng không nói gì chỉ khuyên chúng tôi nên tìm gặp ông Hanh, con trai cụ Nguyễn Thị Năm, lại cho cả địa chỉ và số điện thoại nhà ông Hanh ở Hà Nội.

Biết có ở lại Thái Nguyên cũng chưa thể tìm được mộ vì thông tin còn quá ít ỏi, hôm sau 8.8.2003 chúng tôi quay trở về Hà Nội. Đến nhà số 117 Hàng Bạc, bé tí chỉ khoảng hai chục mét vuông, may mắn gặp bà Hanh, con dâu trưởng cụ Năm. Ấn tượng đầu tiên về bà là sự gần gũi cởi mở nhưng vẫn toát lên vẻ lịch lãm sang trọng. Chúng tôi xin phép thắp hương cho cụ Năm, chạnh buồn nghĩ đến người phụ nữ mà cuộc đời gắn liền với một giai đoạn cực kỳ hào hùng nhưng cũng đầy đau thương của dân tộc. Cụ Năm là người đầu tiên bị xử bắn khi cuộc cải cách ruộng đất “long trời lở đất” năm 1953 mở màn, cái chết của “bà địa chủ” này đã thành tấn bi kịch không chỉ của một con người, một gia đình mà của cả một thời kỳ lịch sử. Mặc dù ngay sau đó Nhà nước đã tiến hành “sửa sai”, nhìn nhận lại những ấu trĩ, sai lầm của “cải cách ruộng đất” nhưng có những nỗi đau vẫn cứ dai dẳng. Trò chuyện, bà Hanh bảo: Gia đình tôi rất buồn vì đến giờ cụ (cụ Năm) vẫn chưa được công nhận là người có công với kháng chiến. Mẹ tôi nuôi dưỡng, che chở cho cả sư đoàn bộ đội, cán bộ, hiện rất nhiều người còn sống biết chuyện nhưng đều đã cao tuổi, mai sau họ mất đi thì mọi chuyện sẽ rơi vào quên lãng. Bà kể thêm, giọng đượm buồn: “Cô chú biết không, cô Đăng (tức bà Vãn mà chúng tôi đã gặp trên Thái Nguyên) là người giúp việc cho cụ Năm, cụ rất thương yêu, tin cậy. Vậy mà chả hiểu làm sao tự dưng cô ấy lại chính là người đấu tố cụ nhà tôi hăng nhất”. Tôi chợt nhớ sự im lặng, trầm ngâm của bà Quỳ lúc trên Thái Nguyên và thưa lại những điều tốt đẹp mà bà Vãn nói về cụ Năm trong cuộc gặp vừa qua, bà Hanh nghe nhưng vẫn buồn.

Sau cuộc gặp này, việc liên lạc với gia đình cụ Năm được giao lại cho Nguyễn Ngọc Trai (con anh Trác), sĩ quan đang công tác tại Cục Bản đồ (Bộ Quốc phòng). Trước đó ông Hanh có kể cho tôi nghe về chuyện tìm mộ mẹ mình. Sau khi xử bắn, người ta đã đem xác “địa chủ” Nguyễn Thị Năm đi chôn giấu nơi nào đó mà thân nhân không hề biết. Kể từ hòa bình lập lại 1954, gia đình rất nhiều lần tổ chức tìm mộ cụ nhưng không thành, thất vọng đến mức đành phải lấy tạm một ít đất ở khu vực đồn điền, nơi bà bị bắn cho vào cái tiểu sành đem về, thay cho hài cốt. Năm 1993, nghe người ta kể về nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Liên ở xã Ngọc Sơn, huyện Tứ Kỳ (tỉnh Hải Dương), ông Hanh tìm đến. Lúc ấy mặc dù rất bận nhưng ông Liên vẫn sốt sắng giúp; có lẽ với một người, một số phận như cụ Nguyễn Thị Năm chả ai nỡ từ chối. Lúc tiến hành tìm kiếm, ông Liên vẫn ở Hải Dương, chỉ hướng dẫn qua điện thoại. Cả đoàn nhất nhất làm theo lời nhà ngoại cảm, ông Liên bảo hãy đến khu vực sân bay cũ bỏ hoang, thấy cây nào có lá nhỏ nhất thì đào. Mọi người chia nhau tìm trên cả vùng rộng lớn, cây cối um tùm và thật lạ cả khu vực mấy cây số vuông chỉ duy nhất một cây phượng lá nhỏ. Chưa kịp gọi điện báo về thì nhà ngoại cảm chủ động gọi, nói chính nơi đó, ngay gốc cây, hãy đào đi. Đào xuống sâu hơn một mét quả nhiên thấy có bộ hài cốt chôn sơ sài đã nát vụn, duy chỉ còn mấy chiếc cúc áo của chiếc áo mà cụ Năm mặc khi bị bắn là con cháu nhận ra ngay. Mọi người òa khóc. Và may làm sao, không thể nào nhầm được khi lẫn trong đám xương vụn đó chiếc vòng tay ngọc thạch cụ Năm thường đeo. Cả nhà bùi ngùi xót thương đưa cụ về. Ông Hanh cùng con cháu đắp thêm đất vào gốc cây phượng. Suốt 40 năm trên nấm mồ hoang không hương khói, cây phượng vĩ vẫn nở những chùm hoa đỏ rực viếng hương hồn người đàn bà chịu nhiều oan khiên.

Tháng 8.2007

Nguyễn Thông

Monday, March 10, 2014

Có một "triết lý" đang chi phối cuộc kiếm sống hàng ngày của chúng ta(Vương trí Nhàn) 

Thời tiết oi ả, đang nóng bỗng lạnh đang lạnh bỗng nóng, nhiều nhà đêm trước vừa mở điều hoà, đêm sau đã phải lôi chăn mùa rét ra đắp, -- khí trời năm nay ở đồng bằng sông Hồng độc quá!

Chẳng những con người nhoai ra mà đến cả các giống vật cũng khó sống: ở vùng ngoại ô tôi đang ở, sáng sáng trên mặt hồ vô khối cá chết nổi lềnh bềnh. Có cá chết là có người đi vớt, bởi thứ cá này đun lên còn cho lợn cho chó ăn được.
Mấy người dạy sớm lại chuẩn bị sẵn vợt, cá vớt được dễ đến cả rổ.
Đến lượt một ông già nọ, lộc giời chẳng còn bao nhiêu, đi lui đi tới ngắm nghía mãi mới thấy một hai con sót lại. Cá thì nằm khá xa mà trong tay ông không có lấy một cái que cái sào nào cả.
Nhưng ông không chịu!

Thoạt đầu thấy ông nhặt gạch hòn to hòn nhỏ vun thành đống lùm lùm, tôi chưa hiểu để làm gì.
Bỗng nghe tũm tũm gạch ném xuống nước. Thì ra ông lấy gạch để tạo lớp sóng nhỏ, từ đó lái cho cá trôi dần vào bờ.
Liên tiếp, có đến vài chục viên gạch được sử dụng. Khi mùi cá chết nồng nặc xông lên thì cũng là lúc tôi nghe cái túi ni - lông trong tay ông gìa sột soạt.
Có thế chứ!- tôi như nghe thấy lời ông thầm nhủ - Thoát làm sao được khỏi tay ta, hỡi những chú cá không biết mới chết đêm qua hay từ hôm kia mà thân hình đã mủn cả ra trên mặt nước!

Tôi đứng nhìn ông già lấy gạch dồn cá mà nghĩ đến cách kiếm sống của con người hiện nay.
Nào ông có khác với nhiều thanh niên trai trẻ háo hức vào đời, nhất là những thanh niên nông thôn đang đổ lên đô thị:
Tay trắng lập nghiệp.
Nghề ngỗng chẳng có.
Đồ nghề không tức là công cụ không.
Có miếng ngon miếng sốt thì lớp người đi trước giành hết cả rồi.
Thành thử có gì là lạ khi họ chỉ còn cách lăn xả vào bất cứ việc gì người ta thuê mướn, dù là mồ hôi đổ ra nhiều, mà đồng bạc thu về chẳng khác mấy con cá trôi nổi trên mặt hồ.

Thế nhưng đáng sợ nhất vẫn là cái “triết lý” toát lên từ việc kiếm sống đơn giản này.
Nhìn đống gạch được ném xuống nước, tôi cứ định nói với ông già rằng như thế tức là trực tiếp phá huỷ môi trường. Ai cũng thích thì làm, hôm nay mươi viên mai vài chục viên, hỏi còn gì là cái mặt nước thân yêu ? Chẳng phải là chỉ mấy năm nay nước hồ đã đen dần vì nước cống, lòng hồ đã bồi cao lên vì các loại phế thải xây dựng và rác rưởi ?
Nhưng tôi không mở miệng nổi.
Từ cái việc mà ông già thản nhiên và hào hứng theo đuổi, tự nó đã toát ra một lời tuyên bố: để kiếm sống,con người ta có quyền làm bất cứ việc gì họ có thể làm, bất kể là có hại cho người chung quanh hoặc  môi trường sống chung quanh đến như thế nào.

Lại nhớ nhà văn Nga Tchékhov (1860 – 1904) từng có một đoản thiên kể chuyện một người mugich hồn nhiên tháo đinh bù loong trên đường sắt về rèn mấy cái đinh thúc ngựa.
Sắt ê hề ra đấy mà làm gì, tháo một vài cái có sao, không tàu hoả thì đi bộ đã chết ai?- người mugich lý sự.
Còn ở ta những năm chiến tranh có những người coi kho phá cả một cỗ máy để lấy mấy cái vít.
Xét về mặt lý lẽ mà người trong cuộc đưa ra để biện hộ, giữa những việc đó với việc người đời quanh ta đang làm
-rải đinh trên đường cao tốc,
-bán đủ các loại rau quả vừa phun thuốc trừ sâu,
-đá bóng vào lưới nhà để thực hiện hợp đồng bán độ,
Rồi chặt phá rừng vô tội vạ.
Rồi mua bán bằng cấp và chức sắc.
Rồi kê đơn cho bệnh nhân toàn những thuốc đắt tiền để ăn hoa hồng.
Rồi đưa ma tuý vào trường học rủ rê con nhà lành vào con đường nghiện ngập cốt bán được ít hàng quốc cấm...
Các việc ấy thực chất có khác nhau là bao ?
Ở đâu thì cũng cùng một lý lẽ ấy, lý lẽ của ông già ném gạch dồn cá, vốn đã bắt rễ trong tiềm thức nhiều người trong thời đại chiến tranh và cách mạng. Khi bản chất của nó chưa được thấu hiểu và mức độ tàn phá nhân tính của nó ta còn chưa cảm thấy rõ ràng thì làm sao đủ sức để chống lại?

1997
Đã in trong Nhân nào quả ấy 2003
Với nhan đề Kiếm sống với bất cứ giá nào
 Network Adapter : Update Driver cho .
Vào Control Panel , chọn Device Manager . Mở rộng Network Adapters . Chọn Realtek . . . Wireless LAN . . . Network Adapter (xem hình) . Chọn Update Driver Software . Chọn Search Automatically for Updated Driver Software .  Giải thích : vì cái driver của network adapter , nằm trên motherboard quá củ , nên ko tương thích (compatible) với network nên máy tính ko nối kết với internet . Do vậy phải update cái driver này .