Friday, May 30, 2025

The Case of Peter Dewey: A Revisit Chau Huy Ngoc, Master Candidate National University of Singapore.

PowerPoint Presentation

                      




 Life and Death (1916-1945) _ Son of Charles S. Dewey, U.S. Representative from Illinois (1941-1945) _ Educated in Switzerland, Yale, and University of Virginia _ Was a journalist for Chicago Daily News in Paris before enlisting in 1940. 

 _ Exceptional military career: + Polish Military Ambulance Corps + Liaison officer between Free French and Latin America + 1942-43: 8 intelligence missions after joining U.S. Army 

_ Joined OSS in 1943: Mission Etoile, Southern France 1944: valuable intelligence and helped to capture 400 Nazis, destroyed 3 tanks 

 _ Decorations: various incl. Croix de Guerre and Legion of Merit. 

 _ July 1945: appointed leader of Operation EMBANKMENT to Saigon. 

 _ Arrived at Saigon on September 4, killed 22 days later on September 26 

Peter Dewey in Saigon 

 _ Mission: “investigation of war crimes, prisoners of war, and the condition of (U.S.) properties…the collection of such documents and published materials…”: not a full disclosure of the team real aims. 

 _ Had close interaction with the Vietnamese, including Viet Minh leaders in South Vietnam: Trần Văn Giàu, and Phạm Ngọc Thạch 

 _ Planned for Thạch (Foreign Minister) to go to the U.S. appealing directly to President Truman 

_ Moved the OSS HQ from the center of Saigon to the outskirt: better observation of Vietnamese political “atmosphere” 

 _ Clashed with the British and French: tension grew high esp after September 23 

 _ Ordered to leave Saigon on September 26 1945 

 _ Killed when passed a roadblock 500 yards away from OSS HQ, close to the Airport 

The “myth” surrounding the death of Peter Dewey 

 _ The body has never been recovered despite much effort 

 _ Who killed?: top Viet Minh leaders denied involvement, even blame the French, sent out letters of apology, and called for investigation 

 _ 1970: the “revolution” memoir Phạm Văn Chiêu, prominent Viet Minh leader in Gia Định: Viet Minh guerrillas did. 

 Directive: “destroy the evidence, totally”, and concealed the incident from their superiors. 

 _ At the height of the Vietnam War: Peter Dewey turned into an “American advisor” and his death became a “victory” 

 Peter Dewey and the understandings of the Vietnam Wars 

 _ “Cochinchina is burning, the French and British are finished here, and we ought to clear out of Southeast Asia”: seen as an unheard warning to U.S. involvement in Vietnam 

 _ Access to his dispatches would provide greater knowledge on his ideas regarding the future role of the U.S. in Viet Nam: another possible answer to the question Why Vietnam? Why did a French sympathizer switch to anti-French and pro-Viet Minh? 

 _ The 1s and 2nd Vietnam Wars: failure due to misunderstanding? May help to prevent further cases? 

 _ What was the real mission of Dewey’s team? _ Urgent need for writing a history of Peter Dewey’s team in Saigon; Vietnamese version and effort to “clear” his name in Viet Nam historiography 

 _ History from below and micro history? + Voice of the unheard: postwar-early Cold War transitional generation: OSS men and women + American ideologies as reflected in Peter Dewey + Multi voices from U.S. military.

Thursday, May 29, 2025

 

Chiến Đoàn B/TQLCVN hành quân An Lão 1967

MX Tôn Thất Soạn

I. Tổng quát:

Thung lũng An Lão thuôc tỉnh Bình Định, nối dài với thung lũng Vĩnh Thạnh rồi đi qua đèo An Khê, hoặc đổ ra Tam Quan, thuôc quận Bồng Sơn để ra tận bờ biền ở phía Đông. Vì địa thế có vị trí chiến lược quan trọng, nên QLVNCH đã cho thành lập Chi Khu An Lão, cách quận lỵ Bồng Sơn 25 cây số về hướng Tây Bắc; mục đích ngân chận sự xâm nhập của các lực lượng cộng sản từ các mật khu ở ngã ba Biên Giới, mật khu Đỗ Xá ... xuống vùng đồng bằng trù phú và đông dân cư của tỉnh Bình Định.


Chấp hành chủ trương của Bộ chính trị ngày 11-10-1964, các lực lượng cộng sản được lịnh mở chiến dịch mùa khô hay Thu Đông 1964-1965.

Song song với trận Bình Giả ở tỉnh Phước Tuy, tại tỉnh Bình Định, lực lượng cộng sản trong đếm 6-12-1964 đã tấn công đồng loạt cao điểm 193 (nơi đặt vị trí 2 khẩu pháo binh 105 ly), các đồn Địa Phương Quân (ĐPQ) Vạn Khánh, Hội Long và Mỹ Thành...
Qua ngày hôm sau, Sư Đoàn 22 Bộ Binh đã tổ chức cuộc hành quân tiếp viện gồm cánh Trực Thăng Vận, Thiết Quân Vận có Bộ Binh tùng thiết và cánh di chuyển bộ xuất phát từ Bồng Sơn... Ba cánh quân đều chạm địch. Cả hai phía đều bị thiệt hại. Lực lượng cộng sản trước tình hình bất lợi nên đã rút lui trong ngày 9-12. Về phần QLVNCH, thấy không đủ lược lượng để bảo vệ một khu vực với địa thế phức tạp và cô lập này, nên sau cùng cũng đã bỏ rơi vùng An Lão này.


Giữa năm 1965, Chiến Đoàn A-TQLC của Trung Tá Nguyễn Thành Yên CĐT, và Thiếu Tá Cổ Tấn Tinh Châu TMT/CĐ, cùng với Tiểu Đoàn 1/TQLC do Thiếu Tá Tôn Thất Soạn TĐT và Tiểu Đoàn 3/TQLC của Thiếu Tá Nguyễn Thế Lương TĐT, đã tham dự cuộc hành quân tìm và diệt địch tại thung lũng An Lão. TĐ1 đã tiến chiếm mục tiêu đồi 193, có tên địa phương là đồi Thánh Giá, vì có xây cất một Thánh Giá kích thước rất lớn bằng bê-tông cốt-sắt, sơn màu trắng xóa, sừng sửng trên cao, giữa nền xanh biết của núi non, hiểm trở.

Ngày 28-1-1966, QLVNCH phối hợp hành quân với các lực lượng của 1st CAV (Sư Đoàn 1 Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ hay gọi tắt Không Kỵ Hoa Kỳ) mở cuộc hành quân có tên là Masher / White Wing, còn được gọi là Chiến Dịch Bồng Sơn. Chiến dịch kéo dài trong 42 ngày tại quận Đức Phổ tỉnh Quảng Ngải với lực lượng TQLC Hoa Kỳ tại thung lũng An Lão và thung lũng Kim Sơn thuộc tỉnh Bình Định với KBKV-HK.

Tổng kết về thiệt hại nhân mạng gồm 1,342 quân cộng sản tử trận, 635 tù binh, 1087 tình nghi bị bắt giữ... Tuy nhiên đã khiến 3,421 dân chúng trở thành nạn nhân chiến cuộc.

II. Tổ chức lực lượng Chiến Đoàn B/TQLC/VN

A. Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn:
- Chiến Đoàn Trưởng: Trung Tá Tôn Thất Soạn (Sài-Gòn)
- Cố Vấn Trưởng: Thiếu Tá Larry Gaboury
- Cố Vấn Phó: Đại Úy John Grinalds 
(1)
B. Tiểu Đoàn 2/TQLC:
- Tiểu Đoàn Trưởng: Thiếu Tá Ngô Văn Định (Đồ-Sơn)
- Tiểu Đoàn Phó: Đại Úy Nguyễn Kim Đễ (Đà-Lạt)
- ĐĐT/ĐĐ/CH: Trung Úy Trần Kim Đệ
- ĐĐT/ĐĐ1: Đại Úy Trần Kim Hoàng
- ĐĐT/ĐĐ2: Trung Úy Trần Văn Thuật
- ĐĐT/ĐĐ3: Trung Úy Đinh Xuân Lãm
- ĐĐT/ĐĐ4: Trung Úy Trần Văn Hợp
- Cố Vấn Trưởng: Đại Úy Thomas Campbell
C. Tiểu Đoàn 3/TQLC:
- Tiểu Đoàn Trưởng: Thiếu Tá Nguyễn Năng Bảo (Bắc-Ninh)
- Tiểu Đoàn Phó: Đại Úy Phạm Văn Sắt
- ĐĐT/ĐĐ/CH: Trung Úy Nguyễn văn Bằng
- ĐĐT/ĐĐ1: Trung Úy Dương Văn Hưng
- ĐĐT/ĐĐ2: Trung Úy Lê Bá Bình
- ĐĐT/ĐĐ3: Trung Úy Hoàng Đôn Tuấn
- ĐĐT/ĐĐ4: Trung Úy Vũ Mạnh Hùng (Tử trận Tết Mậu Thân, cầu Bình Lợi)
- Cố Vấn Trưởng: Đại Úy Mac Dube 
(2)
D. Pháo Đội 105 ly TQLC:
- Pháo Đội Trưởng: Đại Úy Trần Thiện Hiệu
 


III. Phương tiện yểm trợ:

- Pháo Binh: Ngoài pháo đội 105 ly TQLC đặt tại phi trường Đệ Đức, còn có thêm 2 khẩu 155 ly của SĐ22/BB đặt tại phi trường Bồng Sơn và còn có những pháo đội 105 ly của Kỵ Binh Không Vận (KBKV) HK đặt rải rác trên các cao điểm trong vùng hành quân để yểm trợ cho CĐ-B/TQLC khi có yêu cầu.
- Không Quân: Có L-19 US-FAC bao vùng và hướng dẫn các phi tuần của Không Quân HK cũng như trực thăng của Kỵ Binh Không Vận HK khi nhận được yêu cầu qua hệ thống Cố Vấn Mỹ.

IV. Nhiệm vụ của CĐ-B/TQLC:

Vào ngày N giờ G của trung tuần tháng 3-1967, CĐ-B/TQLC tổ chức cuộc hành quân “Tìm và Diệt” các đơn vị CSBV cấp tiểu đoàn đang ẩn núp trong khu vực thung lũng An Lão, tiếp theo sau khi đơn vị 1st CAV (KBKV) HK rời khỏi vùng An Lão.
Nhiệm vụ kế tiếp là di chuyển tất cả dân cư trong khu vực An Lão đem về định cự tại các trại tỵ nạn cộng sản ở khu vực Bồng Sơn.

V. Diễn tiến:

Lúc 4 giờ sáng ngày N, Chiến Đoàn xuất phát từ vị trí đóng quân đêm ở phí Bắc Quận Lỵ Bồng Sơn di chuyển về hướng Bắc, dọc theo sông An Lão. TĐ3 cánh trái, TĐ2 cánh phải của bờ sông. BCH/CĐ di chuyển cùng với TĐ2. Hai cánh quân di chuyển song song và theo thế chân vạc để yểm trợ lẫn nhau.
Khi các cánh quân sắp sửa vào vùng mục tiêu (MT) đầu tiên, thì L-19 Mỹ với FAC (Sĩ Quan điều không tiền tuyến) Larry Pritchett báo cho Đại Úy Mac Dube:
- Hãy cẩn thận, có người di chuyển ở dãy triền đồi trước mặt của các anh.
Vừa nói xong, thì TĐ3 bị các tràng đạn của địch từ cao điểm bắn xuống. Bắc-Ninh liền điều động các Đại Đội tìm chỗ ẩn nấp dọc theo rặng cây và hốc đá sát chân núi..., tránh những nơi cát trống ngoài bờ sông. Lúc này TĐ2 còn cách mục tiêu trước mặt lối 400m và cách 600m về phía Đông của TĐ3. TĐ3 bắt đầu gọi pháo binh bắn vào cao điểm có địch bố trí, và tiếp đến là các phi tuần cánh quạt được FAC hướng dẫn đánh tiếp vào mục tiêu.

TĐ3 bắt đầu tiến quân sát chân núi, chẳng được bao lâu thì bị địch ở các cao điểm khác tác xạ xuống đoàn quân bằng thượng liên và súng trường... Địch có lợi thế vì chúng nấp và các hang động, mỏm tảng đá, mỗi khi ta bắn pháo binh hay oanh kích, không có hiệu quả!?
Lúc này, dân chúng trong làng bên hông của TĐ2 bắt đầu gồng gánh đồ đạt và bồng bế trẻ con ra khỏi làng và xuôi Nam về hướng Bồng Sơn. Đồ-Sơn gởi một Trung Đội đến chận xét và hỏi han thì được báo là có một đơn vị chính quy cộng sản đang bố trí trong làng phía trước mặt TĐ2. Vì sợ bom đạn của hai bên sẽ đánh nhau, nên họ phải tránh về vùng an ninh để khỏi bị thiệt hại.
Mặc dù di chuyển đội hình rất cẩn thận, nhưng TĐ3 vẫn bị các chốt của địch trên đồi cao bắn chận nhiều lần khiến ta có vài quân nhân bị thương.

Để tránh thiệt hại về nhân mạng, TĐ3 được lệnh bố trí tại chỗ, chờ trời tối tìm cách tiến quân để tránh sự quan sát của địch và tìm cách bộc hậu chúng... Đồng thời TĐ2 cũng được lệnh bố trí tại chỗ, chờ pháo binh và không quân bắn tiêu diệt vào mục tiêu có đơn vị địch bố trí trước khi có lệnh tấn công, lục soát...
Sài-Gòn yêu cầu Thiếu Tá Gaboury can thiệp để xin không quân HK (KQHK) oanh kích vào mục tiêu cho cánh TĐ2. L-19 FAC của KQHK tận tình điều chỉnh 20 phi tuần dội bom xuống các vị trí nghi ngờ địch bố trí trong mục tiêu. Trời bắt đầu tối, FAC điều động thêm “con rồng lửa” AC-130 tàn sát mục tiêu, tiếp bằng các tràng đại liên và thả hỏa châu để phi cơ oanh kích rõ các nơi có địch. Chấm dứt các phi tuần yển trợ, pháo binh KBKV được điều chỉnh bắn quấy rối suốt đêm để ngăn chận địch tẩu thoát về hướng Bắc.
Trời bắt đầu hừng sáng của ngày N + 1, TĐ2 đã xin bắn 1 loạt pháo 105 ly đạn khói để làm màn che giữa bìa mục tiêu và vị trí dàn quân chuẩn bị tấn công của các chiến sĩ Trâu Điên. Màn khói vừa chấm dứt, các Trâu Điên đã tràn lên xung phong vào mục tiêu. TĐ2 chiếm mục tiêu một cách dễ dàng vì đã bị bỏ trống, chỉ còn những chốt cố thủ của địch rải rác trong mục tiêu. Tiến súng nổ vẫn thỉnh thoảng nổ liên hồi, xen kẻ giữa tiếng AK47 và M16 cũng như tiếng lựu đạn của quân ta ném vào hầm hố phòng thủ của địch. Có nơi quân ta phải đánh cận chiến với địch vì chúng liều chết không chịu đầu hàng.
TĐ2 có tất cà 17 quân nhân bị thương và tử thương, trong đó 1 sĩ quan tử trận. Tiếng súng đã ngừng hẳn vào trưa ngày N + 1. Trực thăng tải thương của KBKV đã nhanh chóng bốc 3 chuyến là hoàn tất. Các Đại Đội bắt đầu phân tán lục soát kỹ hầm hố của địch. Kết qủa ta bắt sống 3 tù binh bị thương, 10 tên bỏ xác tại chỗ, tịch thu 12 khẩu súng cá nhân cùng vật dụng và tài liệu của địch. Một trong số tử thi có cuốn sổ nhật ký, đương sự là Đại Đội Trưởng ĐĐ Phòng Không CSBV. Sổ nhật ký nghi rõ, ĐĐ đã bị mất 2 khẩu 12 ly 7 trong tháng trước khi bị một đơn vị “Lính Thủy Đánh Bộ Mỹ” hành quân chận đánh ở Quận Đức Phổ, Tỉnh Quảng Ngải.
Địch phân tán lực lượng để tẩu thoát về hướng Bắc, chỉ để lại 16 tên với cán bộ Đại Đội Trưởng (ĐĐT) này để cầm chân đơn vị QLVNCH, và quyết tử thủ cho đến viên đạn cuối cùng.
Khi các chiến sĩ Trâu Điên xung phong vào vị trí cố thủ của tên ĐĐT này, thì y đứng bật dậy, chỉa khẩu K54 bắn chết 1 TQLC và làm bị thương 2 TQLC khác, trước khi y bị các Cọp Biển bắn hạ... Sau đó, Đồ-Sơn ra lệnh cho anh em chôn cất các tử thi địch một cách tử tế.
TĐ2 tiếp tục lục soát các mục tiêu cuối về hướng Bắc, không còn gặp sự kháng cự nào của địch. Tuy nhiên, ta phát giác đường di chuyển của địch và rơi rớt các quân dụng và băng bó có dính máu, chứng tỏ chúng rút chạy có mang theo thương binh...
TĐ2 được lệnh trở lại lục soát tiếp các MT cũ và bố trí quân tại MT sáng ngày N + 1 để yểm trợ TĐ3 bắt đầu tiến quân lục soát các MT được chỉ định theo phóng đồ.
 

Sáng sớm ngày N + 1, sau khi TĐ3 lợi dụng bóng đêm ngày N, đã bọc hậu sau lưng vị trí chốt của địch, và tiến lên lục soát MT mà đã được pháo binh và không quân oanh kích trong ngày N đầu tiên. TĐ3 tìm thấy 3 tử thi VC tạm nguyên dạng và vài tử thi khác nát từng mảng, ước lượng khoảng 1 tiểu đội. Không tìm thấy vũ khí, chỉ thấy những mảnh kim loại của các vũ khí cá nhân... Ngoài ra còn 2 vị trí khác không thể ước lượng vì những đợt bom đã đè sập các hốc đá... TĐ3 tiếp tục tiến quân vào các MT nghi ngờ kế tiếp. Khi TĐ3 đi ngang hàng so với vị trí của TĐ2 đang bố trí phía bờ Đông của sông An Lão, thì có L-19, do Trung Úy phi công Phil Jones (3) bay vào không phận để làm việc với Cố Vấn Chiến Đoàn B. Thiếu Tá Larry Gabaury, đã chuyển cho Đại Úy Mac xử dụng. Sau khi trao đổi tình hình, Mac yêu cầu Phil quan sát kỷ trên đồi trước mặt của TĐ3 đang tiến quân!
L-19 vừa đảo một vòng thấp để quan sát MT, bổng có những loạt phòng không 12 ly 7 nổ dòn từ hướng đỉnh đồi lên phi cơ. Tiếng máy động cơ L-19 bổng nghe nổ “lụp bụp” như muốn “khựng” lại, sau đó là tắt hẳn, không nghe gì cả!? Im lặng trong chốc lát, bổng có tiếng nói hốt hoảng của Phil vang lên trên máy truyền tin không-lục:
- Phi cơ đã bị trúng đạn! Tôi đang đáp xuống đây!
Phil đáp khẩn cấp xuống bải cát trống và bằng phẳng bên bờ sông, đàng sau đoàn quân TĐ3 đang di chuyển. Mặc dù Phil cố gắng điều khiển máy bay bị tắt máy xuống an toàn, nhưng vì lao xuống quá mạnh, 2 bánh xe lún xuống bải cát, nên sức bật đã làm máy bay lật ngược phần đuôi và thân bật ra đằng trước! Có khói bốc ra từ động cơ, nhưng may mắn chưa bắt lửa! Cảnh tượng này đột ngột xảy ra trước mắt các Cọp Biển, vì 2 bên bờ sông là những bải cát trống trải không có cây cối nào cả. Phil hơi bị “sốc” một chút, nhưng vẫn còn tỉnh tảo và an toàn.
Lập tức Đ/U Mac và Hạ Sĩ Cước, hiệu thính viên truyền tin hộc tốc chạy đến nơi L-19 rơi. Tiếp theo đó, Bắc -Ninh liền cho một tiểu đội chạy theo để bảo vệ Mac và Phil cùng chiếc L-19. Chốt địch trên đồi cao tiếp tục bắn sẻ xuống khu vực có L-19 rớt, may mắn chưa có ai bị trúng thương cả. Để tránh địch bắn vào toán cứu nạn L-19, Đồ-Sơn và Bắc-Ninh ra lệnh cho vài khẩu đại liên M60 và súng cối 80 ly thỉnh thoảng bắn đàn áp lên đỉnh đồi để địch không ngóc đầu lên được. Khi đến sát chiếc L-19, Mac lưu ý Phil cởi bỏ chiếc nón bay màu trắng ra, vì đó là mục tiêu dễ nhìn của toán bắn sẻ VC. Mac đồng thời loay hoay tháo gỡ 4 hỏa tiển còn gắng trên L-19 để khỏi lọt vào tay địch. Chúng có thể lấy và biến chế làm mìn bẩy sau này... Khoảng nửa giờ sau được cấp báo từ CĐ-B, 1 chiếc CH47 đến câu chiếc L-19 bị nạn; Mac và Phil phụ móc dây vào thân L-19 để câu về phi trường Bồng Sơn an toàn... Chẳng bao lâu thì có 1 trực thăng tản thương đến bốc Phil. Sẵn dịp này, Mac cũng nhận được lệnh của Thiếu Tá Gaboury cho Mac cùng lên máy bay với Phil để về Bồng Sơn. Lý do là Mac đã nhận được lệnh mãn nhiệm kỳ sau 1 năm phục vụ ở Việt Nam, trước 1 ngày khi có lệnh hành quân của Chiến Đoàn B. Tuy nhiên vì chưa có sĩ quan thay thế nên Mac tình nguyện đi theo TĐ3 cho hết cuôc hành quân An Lão này. Nhưng nay đã có người thay thế Đ/U Mac... Hôm nay là một ngày trọng đại  đối với CV Mac Dube USMC, trong nhiệm kỳ phục vụ ở VN. Ngoài ra phải khâm phục sự hăng say nhiệt tình trong phận sự và lòng can đảm của một quân nhân TQLC-HK như Mac, khi bất chấp các lằn đạn bắn sẻ của địch từ trên đỉnh đồi cao, vẫn  nhanh nhẹn chạy đi cứu phi công Phil, vẫn bình tĩnh đứng phụ móc dây "cáp" để CH47 câu chiếc L-19 bị nạn, vẫn thong thả đứng tháo 4 hỏa tiển gắn chặt trên L-19, hòng sợ lọt vào tay địch...
Sau đó, CĐ-B xin các phi tuần đến oanh kích vào các cao điểm địch đống chốt, tiếp theo là những đợt pháo binh bắn đạn nổ chậm, và cuối cùng là đợt đạn khói để làm màn che, không cho địch quan sát xuống; Đoàn quân TĐ3 tiếp tục tiến quân lục soát về hướng Bắc và không còn bị địch tác xạ nữa...
TĐ2 và TĐ3 tiếp tục lục soát các MT xóm làng, đồng thời hô hào dân chúng di tản khỏi khu vực An Lão theo lệnh hành quân của SĐ22/BB. Đa số dân chúng sau khi được các đơn vị TQLC tập trung từ khu vực, được CH-47 của KBKV lần lượt không tải về phi trường Bồng Sơn, ở đấy đã có các toán tiếp đón của Quận hành chánh Bồng Sơn phụ trách. Dân chúng được đưa vào tạm trú tại các nơi được gọi là “trại định cư tỵ nạn chiến tranh”. Có 1 giai thoại đáng kể lúc này là có 1 bà già, miệng ăn trầu cau, vừa khóc lóc và từ chối lên máy bay chở đi. Bà ta kể lể: “Thà bị bắn chết tại chỗ, còn hơn bị lùa vào trại tỵ nạn”. Hiện bà ta “tứ cố vô thân”, không muốn lìa xa quê hương xứ sở, mồ mả ông bà! Có 2 anh em Mũ Xanh đứng gần đó, giải thích với bà ta và vội vàng đở bà ta lên trực thăng để làm tròn nhiện vụ “bắt buộc nhưng không vui tí nào!”
Cuộc hành quân chấm dứt vào ngày N+2, sau khi CĐ-B đã hoàn thành nhiệm vụ “di chuyển toàn thể cư dân trong thung lũng An Lão ra định cư ở Bồng Sơn”. Chiến Đoàn di chuyển bộ, lục soát dọc theo sông An Lão, xuôi Nam để ra vùng tập trung ở Quận Lỵ Bồng Sơn.

VI. Nhận Xét:

1. Thung lũng An Lão, luôn luôn là mục tiêu tranh chấp giữa ta và địch trong suốt cuôc chiến tranh vừa qua; Được bao bọc giữa 2 dãy núi cao, là đường xâm nhập từ các mật khu Đỗ Xá, Ba Biên Giới ở Tây Nguyên... xuyên qua Tam Quan để đi ra tận vùng duyên hải ở phía Đông. CSVN đã tự hào rằng trong suốt 9 năm chiến tranh Việt-Pháp, An Lão là một mật khu an toàn nhất của chúng. Chúng thường truyền khẩu trong dân địa phương rằng: “Suối Đỏ ai qua là bỏ mạng!”, ý muốn nói không sống mà trở về được; Con suối này chảy vào đầu nguồn của sông An Lão.
2. Không riêng gì các chiến sĩ TQLC đều biết rằng tình Bình Định nguyên thuộc Liên Khu 5 trong thời chiến tranh Việt-Pháp, từ lâu là vùng nổi tiếng chịu ảnh hưởng của cộng sản; Đến nỗi những quân nhân thuôc đơn vị KBKV Mỹ cũng thốt lên rằng vùng thung lũng An Lão và thung lũng Kim Sơn là những hiểm địa đã từng xảy ra các trận đụng độ ác liệt với quân đội VNCH và đã gây tổn thất nặng nề cho cả hai phía.
3. Sau chiến thắng Phụng Du ngày 7/4/65 của Chiến Đoàn A TQLC cùng với TĐ1 và TĐ2, thì từ đó cho đến năm 1967, hai Chiến Đoàn A & B TQLC hầu như luân phiên nhau, thường trực hoạt động hành quân ở vùng đồi 10, Tam Quan, An Lão, Bồng Sơn... Đặc biệt trong đầu năm 1967, CĐ-B hoạt động ở vùng Dương Liểu, Đầm Trà Ổ thuộc quận Phù Mỹ đã được sự yểm trợ dồi dào của 1st CAV về trực thăng vận cũng như không pháo yểm trợ.
4. Sư Đoàn 3 Sao Vàng VC đã nếm mùi thất bại khi đụng độ với các đon vị Cọp Biển, như trận Phụng Du năm 1965, cho nên chúng thường né tránh như cuộc giải vây áp lực địch ở quận Hoài Ân năm 1966 của CĐ-B/TQLC.
5. Trong trận An Lão lần này, trước khi dàn quân vào MT đầu tiên, Đồ-Sơn quan sát thấy 1 đơn vị địch đang di chuyển từ trên triền núi xuống. Đồ-Sơn xin Sài-Gòn cho bắn pháo binh, nhưng vì núi có nhiều hốc đá, nên bắn pháo binh không có hiệu quả bao nhiêu. CĐ-B yêu cầu hệ thống CV Mỹ cho không quân oanh kích, nhưng cũng không được thỏa mãn. Lý do, FAC không thấy súng phòng không địch bắn lên!?
Sau khi chiếm MT ở An Lão, TĐ2 bắt được một số tù binh thuộc đơn vị chính quy Bắc Việt.
6. Đêm ngày N, BCH/TĐ2 đóng quân trong MT xóm nhà dân, khi đon vị lục soát xong, Đồ-Sơn trải tấm “poncho” ngủ trong một căn nhà lá. Nửa đêm nghe tiếng động dưới mặt đất, lúc đầu tưởng là chuột chạy! Nhưng cũng sinh nghi, vội gọi “đệ tử” vào lục tìm xem! Thì phát giác ra được 1 nắp hầm bí mật được ngụy trang khéo léo dưới gầm giường. Bật nấp hầm lên, thì ra là 1 tên lính CQBV, mặc quân phục màu xanh dương trốn dưới hầm. May quá, nếu tên này có sẳn vũ khí, hay lựu đạn mang theo bên mình thì thật là nguy hiểm!.
7. Trưa ngày N + 1, sau khi TĐ2 thanh toán và lục soát xong MT mà có địch bố trí phòng thủ để chận đường tiến quân của ta; thì cánh B/TĐ2 được lệnh tiến quân lục soát tiếp các xóm làng về hướng Bắc. Nhưng một lúc sau thì thấy các Trâu Điên bỏ chạy tán loạn ngược về hướng Nam, Đồ-Sơn lấy làm ngạc nhiên, vội bốc máy hỏi thì được Đà-Lạt, TĐP báo cáo là có tổ ông “vò vẽ” đang rượt đánh các Trâu Điên. Trâu Điên mà gặp ông vò vẽ thì cũng đành chịu thua luôn...!
8. Cuộc hành quân càn quét địch ở thung lũng An Lão với mục đích đưa dân ra định cư ở vùng an ninh Bồng Sơn, trong các trại định cư tỵ nạn cộng sản đã không mang lại kết quả tốt đẹp như mong muốn. Mặc dù có ngân khoản của Mỹ đài thọ cho chương trình định cư tỵ nạn chiến tranh, nhưng số lượng rất hạn chế và chỉ tạm thời trong một thời gian ngắn. Sau đó, vì không được chính quyền địa phương chăm sóc chu đáo, nên những người dân này lần lượt trở về lại quê hương xóm làng cũ để sinh sống; Mặc dù họ biết rồi đây sẽ phải gánh chịu một cổ mà hai tròng - Cộng Sản lẫn Quốc Gia!.

MX Tôn Thất Soạn
Iowa City, 2005

Tài liệu tham khảo:
1. Dr. Phương Nguyễn, Chiến tranh VN toàn tập, NXB Làng Văn 2000
2. Col. Thomas Campbell, USMC Ret., My War.... Vietnam, 2005

Phụ chú:
(1) - John Grinalds:
Tháng 3 năm 1967, Đại Úy USMC John Grinalds là Cố Vấn phó Chiến Đoàn B/TQLC của Trung Tá Tôn Thất Soạn, tham dự cuộc hành quân An Lão. John có cuộc đời binh nghiệp rất sáng chói. John có sở trường giải quyết mọi khó khăn trong công việc một cách khéo léo và ổn thỏa kỳ lạ. John có tính kiên nhẫn và có tài điều hợp mọi vấn đề. John giải ngủ với cấp bậc Thiếu Tướng (Major General). Bà vợ Norwood có biệt tài về nấu nướng...
(2) – Marcel (Mac) Jacques Dube:
Năm 1967, Đại Úy Mac Dube, USMC là Cố Vấn trưởng TĐ3/TQLC cho Thiếu Tá Nguyễn Năng Bảo. Tham dự cuộc hành quân An Lão, Bồng Sơn tỉnh Bình Định, Việt Nam cùng với Chiến Đoàn B/TQLC. Mac Dube là một trong hai người dũng cảm nhất mà tôi (Campbell) biết được. Mac từng phục vụ 4 hoặc 5 năm trong thời gian chiến tranh tại Việt Nam với nhiều nhiệm sở khác nhau. Mac và tôi cũng từng phục vụ với nhau tại trường chỉ huy và Tham Mưu TQLC Mỹ (US Marine Corps Command & Staff College) tại Quantico, Virginia. USA. Mac về hưu ở cấp bậc Đại Tá và về định cư ở 29 Palms; California. Từ đó, anh ta theo học trường Luật một thời gian và trở thành Thị Trưởng xuất sắc và làm cố vấn cho Thành Phố!
Mac kết hôn với Pat trong hạnh phúc...
(3) – Phil Jones:
Trung Uý phi công USAF lái L-19 trong cuộc hành quân An Lão cùng CĐ-B năm 1967. Về sau Phil giải ngủ và lái máy bay cho hãng Delta Airlines; Sau cùng là lái máy bay tuần tra biên giới Mỹ (
Border Patrol Official)
 

 

South Viet Nam: A Success & A Promise

3 minute read
TIME

The territory was familiar to the fighting men of the U.S. 1st Cavalry (Airmobile). From late January through mid-March, they had swept the scrub-grown slopes and rocky ridges of the An Lao Valley in a furious, 41-day string of fights that killed 1,342 Communist soldiers and netted 250 enemy weapons. The Reds moved back in when the Air Cav left, but last week—on the foggy coastal plain east of An Lao—they received an encore. “Operation Davy Crockett” proved as sharp-eyed as its namesake.

Stiffened Morale. Though the three Communist regiments in the An Lao Valley were reluctant to fight, the Air Cav’s superb mobility forced them to.

Swooping in from north, south and west, the heliborne Americans hammered the Reds down onto an anvil of South Vietnamese motorized troops. One battalion was run to ground near the village of Tham Son, ten miles north of Bong Son. Red machine guns forced back an assault by troopers of one Air Cav battalion. The Americans dug in behind 2-ft. paddy walls and called for air strikes. Flights of fighter-bombers screeched in with napalm followed by bombs to spread the flaming jellied gasoline. Toll: 146 dead Reds.

After that, it was merely a question of mopping up. As the fleeing Communists were pinned down at every turn by helicopter-hopping Air Cav and South Vietnamese troops, the count mounted to 446 dead, 389 captured.

“We Will Fight.” Whether or not his mood was affected by the military success, Premier Nguyen Cao Ky seemed to be in a freer and firmer state of mind about the political picture. Clad in a canary-yellow flight suit and sipping Jim Beam bourbon from a paper cup, he held an impromptu press conference at the Mekong Delta town of Can Tho. Ky said it would be at least a year before the new civilian government demanded by the Buddhists could be legally elected—and added that he expected to remain in power for that period. “Elections for a constituent assembly will be held as scheduled, some time in September,” Ky explained. “The assembly will draw up a constitution. The congress must be chosen in another election, some time in 1967. So if the sky and the airplane—and particularly my wife—don’t force me to resign, I’ll be in power at least one more year. Why not?”

One possible reason why not could be the “baby Turks”—junior field officers who were rumored to be angry at Ky for caving in to Buddhist demands, and hence might be plotting a coup. An other could be Buddhist Leader Thich Tri Quang, who seems unlikely to endorse Ky’s one-year timetable. Whatever the case, Ky made it clear that although he will honor his pledge to relinquish power to civilians, he will not tolerate a Communist or neutralist regime. “I don’t think the elections will result in a Communist or neutralist government,” said Ky. “But if they do, we will fight. I don’t care if they are elected or not, we’ll fight.” And with the 400 warplanes of the South Vietnamese air force still behind him, Ky could doubtless make good on the promise.


Wednesday, May 28, 2025

 TRẬN AN LÃO 7-9/12/1964

              



 
"Sau 1 tấn công bằng hơi cay của không quân và trực thăng, lính của sđ 1 không kỵ đã vào thung lũng An Lão bằng đường bộ. Ở đây họ đã bắt tù binh trẻ từ các bunker, chụp 29/8/1967". Theo kinh nghiệm, có lẽ họ thuộc dân Hre, chứ ko phải người VN, vì họ sống ở thung lũng này nhiều đời. Ảnh dưới: một lính Mỹ đang lục soát ở vùng An Lão.
   


Trận đánh bắt đầu bởi những tấn công phối hợp bởi quân CSBV và du kích VC khi chúng chiếm chi khu An Lão trong tỉnh Bình Định, khoảng 300 dặm đông bắc của SG. Trong ba ngày, lực lượng phối hợp này đã thành công khi đẩy lui những đợt phản công của quân nam VN. Đây là trận đánh ĐẦU TIÊN tại vùng phía bắc của Nam VN và Cao nguyên Trung phần vì quân csbv và VC "đã dùng chiến thuật mới khi phối hợp các lực lượng chánh quy với lực lượng địa phương và du kích." Trận đánh kết thúc với 150 lính csbv và VC chết, 300 lính VNCH chết và bị thương, và ba người Mỹ chết. Vì hành động dũng cảm khi cứu lính VN bị thương trong ngày đầu của trận đánh, đại úy Peter Coggins, phi công trực thăng của lục quân Mỹ, đã được trao huy chương Ngôi Sao Bạc của Mỹ và Anh dũng Bội tinh với Ngôi Sao Bạc của VNCH.

Là một thành phần của thay đổi chiến lược của csbv (nhằm kết hợp quân csbv và du kích VC để tiến hành các cuộc tấn công phối hợp), trận An Lão đã bắt đầu vào sáng sớm của ngày 7/12/196, khi lực lượng CS tấn công một vị trí của quân VNCH trên một đỉnh đồi phía bắc của chi khu An Lão. Trận đánh đã kéo dài trong ba ngày. Phóng viên của hãng UPI đã mô tả cuộc tấn công này là một cột mốt (milestone) của VC, "một cuộc tấn công được dàn dựng kỹ lưỡng (set-piece attack) bởi du kích quân kể từ lúc bắt đầu của nội chiến này." (NÓI THÊM: sau trận An Lão là trận Bình Giả xảy ra vào cuối tháng 12/1964, cũng được dàn dựng kỹ lưỡng bởi quân chính quy Bắc Việt và du kích địa phương. Họ đã áp dụng chiến thuật công đồn đả viện bằng cách tấn công làng Bình Giả và rải quân chung quanh làng để phục kích các TĐ Biệt động quân, TQLC và thiết giáp -- ND). 

Quân CS đã bắt đầu nổ súng dữ dội vào quân đồn trú khoảng 50 lính ĐPQ và NQ tại An Lão, sau đó bao vây bằng súng không giựt và cối 81 ly. (Theo Wiki, có khoảng 100 quân tại BCK chi khu An Lão -- ND).

Vào năm 1964, nhiều trực thăng của Lục quân Mỹ thường ko võ trang. Thiết kế của UH-1 Huey gồm 13 chỗ ngồi, hay 4 hành khách với 6 băng-ca, nhưng chưa có xạ thủ . Hậu quả, trực thăng của phi công Coggins 31 tuổi đã ko võ trang khi ông đáp xuống 1 con đường ở trước quận lỵ để cứu các thương binh VNCH. Dù có hai gunship loại  UH-1 võ trang đại liên 7.62 ly và rocket, bay trên đầu, trực thăng của Coggins bị bắn dữ dội. Coggins kể cho phóng viên UPI," Ngay sau khi tiếp đất, một quả 60 ly nổ cách đuôi 30 feet về phía trái... khi chúng tôi chuẩn bị cất cánh, một quả khác ở cách mủi máy bay 90 feet." Coggins kể lại rằng y bay vòng trên khẩu cối của VC trong khi một sĩ quan VNCH cầu cứu qua máy, "Xin đáp xuống. Chúng tôi có nhiều thương binh." Coggins nói, "Tôi nghĩ (guess) rằng cảm xúc của chúng tôi đã vượt qua lý trí," và ông đã đáp xuống trở lại, lần này bên trong tiền đồn.

Tiền đồn đang bị tấn công dữ dội từ các đồi chung quanh và máy bay của ông đã trúng đạn nhiều lần. 

Lính VNCH ở tiền đồn này đang hoảng loạn và ko còn tổ chức, do vậy theo bản năng (instinctively) Coggins đã nắm quyền chỉ huy trong tình hình nguy kịch này trong lúc nhiều lính ào tới trực thăng để thoát khỏi vòng vây; ông nhớ lại, "Chúng tôi đã đáp xuống, và trời ơi là trời, 

Merveille et évasion

L'expression "c'était comme si les collines s'étaient ouvertes devant nous" est une expression métaphorique qui évoque un sentiment de merveille et d'évasion. Elle suggère que l'expérience est si spéciale et surnaturelle qu'elle donne l'impression que les collines elles-mêmes ont révélé un secret caché ou un chemin.

Lính VNCH được dìu tới hay mang trên vỏng (sling) hay mang trên cánh cửa... một số họ ko thực sự bị thương, do đó chúng tôi xô họ ra để có chỗ cho người bị thương nặng." Ông đã cất cánh khi 1 quả cối rơi gần, Coggins và phi hành đoàn đã tải thương 11 người.

Đêm đó bộ tư lịnh của Mắc-Vi (MACV, chỉ huy mọi hoạt động quân sự Mỹ tại Việt Nam - ND) đã loan tin VC đã tràn ngập tiền đồn trên đồi 193, đe dọa trực tiếp BCH của chi khu An Lão, và cố thủ trong khu vực để chiến đấu. Hai đ.đ. VNCH đã mất liên lạc. (NÓI THÊM: Theo các tài liệu của QK 5 của CS, họ đã dùng trung đoàn 2 bộ đội chủ lực, TĐ 409 đặc công (thuộc quân khu), một đ.đ. của tỉnh, 8 trung đội của các quận huyện và du kích các xã.

Quân VNCH có 884 người, gồm hai đ.đ. và hai trung đội bảo an, 12 trung đội dân vệ, 1 trung đội pháo cối và 1 trung đội biệt kích. Ngoài việc bảo vệ chi khu, quân VNCH còn đóng ở Núi Một, còn gọi là cao điểm 193, phía bắc cầu An Lão, án ngữ đường nối chi khu với phía tây bắc; Núi Mít ở Long Thạnh; và Suối Bà Nhỏ ở Hội Long. Dân quanh vùng ở trong 8 ấp chiến lược, mỗi ấp có 1 trung đội dân vệ. Tại núi một có 1 đ.đ. bảo an, một trung đội cối 106 ly, 1 trung đội biệt kích và 1 trung đội dân vệ.

Trưa hôm sau, ngày 8/12, một TĐ viện quân đã di chuyển bộ, "bảo vệ trước sau bởi thiết vận xa M-113." Trong lúc di chuyển trên con đường chật hẹp và uốn khúc giữa thung lũng An Lão, họ đã bị phục kích bởi csbv và vc từ những đồi chung quanh. Hỏa lực mạnh làm hư năm xe M-113, làm bị thương 1 cố vấn Mỹ và khiến chuyên viên bậc 5 William Hamlin mất tích.

Hamlin là một huấn luyện viên thiết giáp 25 tuổi, nhập ngũ 4 năm, thuộc toán cố vấn số 2, phục vụ tại trung đoàn 33. Hai ngày sau, 11/12/1964, xác ông được tìm thấy và nhận dạng. Ông đã chết vì chấn thương nặng và phỏng khắp người - do thiết vận xa bị cháy. Có lẽ (presumably), ông đã bị bỏ lại tại 1 trong 5 xe M-113 bị phá hủy.

Cũng ở toán cố vấn số 2 và cố vấn trung đoàn 33 là thiếu úy James G. Dunton. Dunton đã chết vì mảnh B-40 khi quân tấn công tràn ngập tiền đồn. Là một sĩ quan bộ binh có bằng BĐQ, ông đã nhập ngũ năm sau khi tốt nghiệp năm 1962 từ ĐH Harvard. Ông là con của chuẩn đô đốc hồi hưu Lewis Dunton Jr., và em song sinh của đ.u. hải quân hồi hưu Lewis Dunton III.

Binh nhứt Arthur Shelton 21 tuổi vào QĐ chưa tới 1 năm, nhưng đã tình nguyện đến VN năm 1964 như là một xạ thủ trực thăng. Đây là 1 chương trình huấn luyện Tối Mật, bắt đầu năm 1963, để huấn luyện binh sĩ làm xạ thủ. Vì lúc đó lính Mỹ sang VN để làm cố vấn, chứ ko phải chiến đấu. Chỉ đến năm 1965, các đ.đ. trực thăng của lục quân Mỹ được phép có xạ thủ, theo bản cấp số.

Chính thức, Shelton phục vụ cho sđ 25 bộ binh (Tia chớp Nhiệt đới) mà BTL đặt ở Hawaii, nhưng ngày 8/12, ông là xạ thủ trên 1 gunship của đ.đ. 119 trực thăng tấn công. Đ.đ. này và đ.đ. 117 trực thăng tấn công đã dùng 21 trực thăng để chở lính VNCH tái chiếm lãnh thổ đã bị VC chiếm ở thung lũng An Lão. Với yểm trợ của không quân VN, trực thăng của Shelton tấn công liên tục hai bên sườn của thung lũng An Lão, mà tình báo cho biết đầy VC. Một viên đạn 7.62 ly bắn từ dưới đất đã trúng Shelton, khiến ông đã chết trên đường tới Nha Trang.

NÓI THÊM: Theo hồi ký Trận An Lão và Đời bay Bổng của 1 phi công L-19 dự trận này thì bộ binh của trung đoàn 40 của sđ 22 bộ binh, có M-113 dẫn đầu, đã tiến rất chậm vì bị bắn trả dữ dội bằng B-40 và súng cối. Ông bèn bay rất thấp thì thấy chúng rất đông và ngụy trang kỹ lưỡng, nên đã dùng đạn khói để hướng dẫn Skyraider. Quân CS đã bị thiệt hại nặng... ND.

Cuối cùng, vào ngày thứ ba của trận chiến, ba TĐ bộ binh, quân số khoảng 1000, đã có thể tái chiếm thung lũng An Lão và quận lỵ. Một TL cấp sđ của VNCH cho biết chiến thắng này có được nhờ không quân Mỹ. Những cuộc ném bom dữ dội xuống một ngọn đồi từng khống chế chi khu, ám chỉ đồi 193. Kế đó quân VNCH, dưới yểm trợ phi pháo, đã tái chiếm đối này.

Trong trận này, ngoài Duntom, Hamlin và Shelton, còn có khoảng 300 lính VNCH thương vong, và khoảng 700 dân làng tạm thời tản cư khỏi chiến địa. Quân CSVN đã xem trận đánh này là 1 chiến thắng, nhấn mạnh rằng bây giờ chiến lược của họ ở miền nam là "tấn công, tấn công, và chỉ có tấn công." Dưới quan điểm của bắc VN, trận An Lão đã đánh dấu bắt đầu chính thức của chiến tranh việt nam. (NÓI THÊM: Trước trận này, chỉ có trận Ấp Bắc năm 1963 là trận lớn. Quân VN bị thiệt hại tái ấp bắc do thiếu tin tức tình báo, nên bị thiệt hại nặng. Chứ quân CS tại Ấp Bắc chỉ là du kích, trang bị yếu kém. Trong khi trận An Lão có tham dự của trung đoàn 2 bộ đội chủ lực, sau này là trung đoàn 2 của sđ Sao Vàng + một TĐ đặc công, và quân địa phương và du kích. Vào cuối tháng 12/64, xảy ra trận Bình Giã, cũng là quân chủ lực miền, trang bị hùng hậu, áp dụng chiến thuật công đồn đả viện; sang giữa năm 1965 là trận Đồng Xoài, cũng qui mô và chiến thuật như vậy khiến 1 TĐ của sđ 5 và TĐ 7 Dù gần như tan hàng, TĐ 52 BĐQ bị thiệt hại nặng. -- ND).

Vì các hành động dũng cảm dưới hỏa lực đối phương và di tản nhiều thương binh ngày 7/12, Coggins đã được trao huy chương Ngôi Sao Bạc của Mỹ và huy chương cao quí thứ nhì của VNCH -- Anh dũng Bội tinh với Ngôi Sao Bạc. Phi hành đoàn của Coggins gồm thiếu úy Pauls Hinds, trung sĩ Calvin Ross, và binh nhứt Mario Pizzi, mỗi người nhận Ngôi Sao Đồng, và anh dũng bội tinh với Ngôi Sao Bạc.

 

The Battle of An Lao, Dec 7-9, 1964

This map of South Vietnam includes the Binh Dinh Province and the cities of Bong Song and Qui Nhon in the II Corps tactical zone, from where reinforcements were air-assaulted, and to which helicopters evacuated casualties. SUMMARY:  The Battle of An Lao was initiated by offensive actions conducted jointly by North Vietnamese Army (NVA) forces and Viet Cong (VC) guerrillas when they captured the An Lao district headquarters in the coastal Binh Dinh province within the II Corps tactical zone, about 300 miles northeast of Saigon. For three days, this joint enemy force successfully repelled large numbers of counterattacking South Vietnamese Army (ARVN) troops. This battle was the first time in northern South Vietnam and the Central Highlands that the NVA and VC "used the new tactic of coordinating main force units with local and guerrilla forces." The battle resulted in 150 NVA and VC killed, 300 ARVN casualties, and deaths of three Americans. For his heroic actions while rescuing wounded Vietnamese soldiers on the first day of the battle, U.S. Army helicopter pilot, Captain Peter R. Coggins, earned both the Silver Star medal and the South Vietnamese Order of Gallantry with Silver Star.

FULL STORY:  As part of a North Vietnamese strategy change, which incorporated North Vietnamese Army and Viet Cong (VC) guerrilla units conducting joint offensive operations, the An Lao battle commenced early in the morning on December 7, 1964, when Communist forces attacked a South Vietnamese Army (ARVN) position on a hilltop north of the An Lao district headquarters.  The battle raged for three days. The United Press International (UPI) identified the offensive as a milestone for the VC, “the first set-piece attack launched by the guerrillas since the beginning of the current civil war.” The Communists poured harassing fire into An Lao’s little garrison of about 50 militiamen, which immediately reported it was surrounded and under heavy recoilless rifle and 81mm mortar fire.

In 1964, many U.S. Army helicopters routinely flew unarmed. The UH-1 Huey configuration designs accommodated 13 passenger seats, or 4 passengers with 6 litters installed, but adding door gunners was an afterthought. Consequently, 31-year-old Army Captain Peter Coggins’ helicopter was unarmed when he set down on a road in front of the garrison to rescue wounded ARVN soldiers. Despite two gunships overhead – UH-1 Huey helicopters armed with heavy machine guns and rockets – Coggins’ helicopter drew a rash of enemy fire. Coggins told the UPI, “We no sooner touched down than a 60mm mortar went off about 30 feet from our left tail. …as we started to move out, another one came in about 30 yards ahead of us.” Coggins recalled that he circled over the mortar fire as an ARVN commander pleaded by radio, “Please come in. We have many, many sick people.” Coggins surmised, “I guess our emotions got the better of us,” and he brought the Huey down again, this time inside the besieged outpost.

The outpost was receiving heavy enemy fire from the surrounding hills and his helicopter had sustained several hits. ARVN soldiers at the outpost were in a state of panic and disorganization, so Coggins instinctively took command of the critical situation as many soldiers rushed the Huey to flee the siege and recalled, “We landed, and good Lord, it was like the hills had opened upon us. [ARVN soldiers] were walking or in slings or carried on doors… some of them weren’t really wounded, so we had to throw them off and make room for the more serious ones.” He lifted off just as another mortar round landed inside the garrison. Coggins and his crew were able to evacuate 11 wounded men.

That night MACV headquarters reported the VC had overrun the command post on hill 193, were threatening An Lao’s subsector headquarters, and remained in the area to fight. Two ARVN companies were missing.

The following afternoon, on December 8, an ARVN battalion of reinforcements arrived on foot, “protected fore and aft by armored personnel carriers.” As the reinforcements snaked their way up the narrow An Lao valley road they were ambushed by NVA and VC attackers in the surrounding hills. Heavy weapons fire wrecked five of the armored vehicles, wounding one U.S. Army advisor and leaving another, Specialist 5 William R. Hamlin, missing.

Hamlin was a 25-year-old Armor Crewman instructor from Seattle, Washington. He had been in the Army four years, and was assigned to MACV’s Advisory Team 2, attached to the 33 ARVN Regiment. In the aftermath of the chaotic ambush, Hamlin was unaccounted for and the unit’s commander reported him missing in action. Two days after the battle, December 11, his body was recovered and identified. He had died as a result of massive trauma and extensive body burns suffered when the NVA/VC ambushed the unit of reinforcements. Presumably, he had been left behind inside one of the five destroyed armored personnel carriers.

Also assigned to Advisory Team 2 and advising the 33d ARVN Regiment 2 was U.S. Army First Lieutenant James G. Dunton.  Dunton was mortally wounded by shrapnel when attackers armed with grenade launchers overran the outpost. A Ranger-qualified infantry officer from Melrose, Massachusetts, he entered the Army following his 1962 graduation from Harvard University.  Dunton was the son of retired U.S. Navy Rear Admiral Lewis W. Dunton Jr., and twin brother of retired U.S. Navy Captain Lewis W. Dunton III. 

Private First Class Arthur A. Shelton was a 21-year-old infantryman from Loyalton, California. Shelton had been in the Army for less than a year, but he volunteered to go to Vietnam as a “shotgun rider,” which in 1964 was a competitive, Top Secret, 90-day temporary duty assignment in which infantrymen were trained as door gunners. The Shotgun program, begun in 1963, was Top Secret because of the sensitivity associated with having combat troops in Vietnam. At the time, the only troops in Vietnam the U.S. Government acknowledged were its “non-combatant” advisors. It was not until 1965 that Army helicopter companies were authorized door gunners as part of their Table of Organization and Equipment.

Officially, Shelton was assigned to the 25th Infantry Division in Hawaii, but on December 8, he was flying “shotgun” as a door gunner on a gunship with the 119th Assault Helicopter Company. The 119th and her sister helicopter company, the 117th AHC, had grouped together 21 helicopters to airlift ARVN troops to regain territory lost to the Communist attackers in the An Lao valley. Along with air support from the Vietnamese Air Force, Shelton’s helicopter repeatedly attacked the sides of the An Lao valley, said to be saturated with enemy. Tragedy struck when single a .30 caliber round from enemy ground fire struck Shelton. He died en route to the hospital at Nah Trang. 

Finally, on the third day of fighting, three battalions of ARVN reinforcements – perhaps 1,000 men – were able to retake control of the An Lao valley and the district headquarters. An ARVN division commander credited U.S. air power with saving the day. Intensive air attacks softened up the NVA and VC forces, bombarding An Lao from a hill overlooking the town. Then ARVN troops, under heavy fire, recaptured the hill.

During the Battle of An Lao, in addition to Dunton, Hamlin, and Shelton, there were roughly 300 ARVN casualties, and as many as 700 villagers were temporarily forced to abandon their homes. The North Vietnamese considered the assault a success, insisting in its aftermath that the strategy in the South was now “attack, attack, and only attack.” From a North Vietnamese perspective, the Battle of An Lao marked the official beginning of the Vietnam War.

For his gallant actions while under enemy fire and evacuating numerous ARVN soldiers on December 7, 1964, Coggins was awarded the U.S. military’s Silver Star medal and South Vietnam’s second-highest award for valor, the Order of Gallantry with Silver Star. Coggins’ crew, First Lieutenant Paul Hinds, Sergeant Calvin Ross, and Private First Class Mario Pizzi, each received a Bronze Star medal, and the Order of Gallantry with Bronze Star. Dunton, Hamlin, and Shelton were each posthumously awarded the Purple Heart medal. Shelton also earned two Air Medals, each one accounting for 25 hours of flying in combat. Dunton, Hamlin, and Shelton are memorialized on the Vietnam Veterans Memorial, panel 1E, lines 74 and 75.1


1Pierre Asselin, Hanoi's Road to the Vietnam War, 1954-1965 (Berkeley, CA: University of California Press, 2013), pp. 22 and 204-5; “U.S. Casualties in Vietnam Rise; Reds Fall Back in 3-Day Battle,” New York Times (AP), December 10, 1964, accessed www.nytimes.com/1964/12/10/archives/us-casualties-in-vietnam-rise-reds-fall-back-in-3-day-battle.html; “Pilot Decorated for Daring Rescue in Face of Red Fire,” and Department of the Army, General Orders No. 85 (December 15, 1969), “Peter Coggins Silver Star Recipient,” The Hall of Valor Project (Sightline Media Group), accessed December 7, 2020; “Command History, 1964,” Headquarters, Military Assistance Command, Vietnam, Appendix V, 193; The Coffelt Database of Vietnam Casualties (The Coffelt Group); “Melrose Rites Planned for Viet War Victim,” Boston Globe, December 17, 1964, p. 56; Bob Jones, “3 Schofield GIs Killed, 59 Hurt 'Riding Shotgun',” The Honolulu Advertiser, December 30, 1964, p. 4, https://www.newspapers.com/clip/15252737/19641230-ha-3-schofield-gis-killed/; Brock P. Mauldon and Thomas W. Wright, “The History of the 119th Aviation Company (Air Mobile Light) - 1964,” 52d Aviation Battalion, (U.S. Army Support Command, Vietnam, 1965), www.vhpa.org/unit/119AHC1964.pdf; John Stewart Bowman, The Vietnam War: An Almanac (New York, NY: World Almanac Pub, 1985), 100, accessed December 4, 2020.


Previous This Week in History Articles

 

2025

The U.S. Army Medal of Honor imageWeek of
May 17
In early 1969, the Vietnam War was rapidly changing. The 1968 Tet Offensive had shocked the American public, which increasingly demanded an end to the U.S. role in the conflict. At the same time, the number of Americans deployed to Southeast Asia was at its height. ...
The U.S. Navy Cross medalWeek of
May 10
The Que Son Valley was one of the keys to controlling the northern provinces of South Vietnam, and consequently became the location for numerous engagements between American and Communist troops. The valley was rural but highly populated, with dozens of villages scattered ...
Photo of a C-130 delivering supplies to a Marine Corps base in South Vietnam, circa late 1960s.Week of