Saturday, February 17, 2024

Cuộc đời của ca sĩ THIÊN KIM sanh ngày 29/8/1972.


Thay thế các chữ bằng số ta có:

               THIÊN   KIM

                45155    214

                   20         7

Rút gọn:      2          7

Vì 2 + 7 = 9, nhỏ hơn 10, nên ta phải cộng 20 với 7 = 27, đây là một số rất may mắn, mà ý nghĩa như sau.

Ý nghĩa của số 27
Gậy chỉ huy
Đây là một số xuất sắc, hài hòa, và may mắn của can đảm và quyền lực, với một nét quyến rũ (a touch of enchantment). Số này phù hộ cho người hay thực thể mà nó đại diện với một hứa hẹn về quyền lực và chỉ huy. Nó bảo đảm rằng các phần thưởng lớn sẽ đến từ những công việc hữu ích/có kết quả (productive labor), trí tuệ (intellect), và tưởng tượng, rằng những năng lực (faculty) sáng tạo đã gieo mầm tốt sẽ chắc chắn gặt hái một vụ mùa tốt (reap a rich harvest). Những ai hay thực thể đại diện bởi số 27 sẽ luôn luôn tiến hành những ý nghĩ và dự định riêng của họ, ko bị dọa nạt (intimidate) hay ảnh hưởng bởi ý kiến khác biệt hay chống đối từ kẻ khác. Đây là số do NGHIỆP TỐT, đã đạt được từ nhiều kiếp trước.
Dịch từ trang 261 của sách đã dẫn.

Wednesday, February 14, 2024

 Chiếc xà lan định mạng

https://youtu.be/oXGOxd3XOJ8?si=DR7GkqHggHVP7kMY

CÁC TRẬN ĐÁNH ĐẪM MÁU CỦA DÂN SỰ CHIẾN ĐẤU VÀ TĐ 22 BĐQ TRÊN QL-19 VÀ TRẬN KANNACK NĂM 1965.

Chuyển ngữ từ trang 92 - 96 của quyển Green Berets at War của Shelby Stanton. 

LỜI MỞ ĐẦU

"Ngày 5/1/1965, trại Trảng Sụp (ký hiệu A-411 do đại úy Healy chỉ huy) và Suối Đá (ký hiệu A-114 do đại úy Ekman chỉ huy) đã tổ chức hành quân vào Chiến khu C với 6 đại đội Dân sự Chiến đấu (DSCĐ). Sau một chạm súng ngắn ngủi với VC, các đại đội 326 DSCĐ người Campuchia và đại đội 324 DSCĐ người Việt đã mất tinh thần và rời bỏ trận địa. Hai đại đội này đã bị giải giới và giải tán (break up). Trong khi trại Phước Vĩnh (ký hiệu A-312 do đại úy Spargo chỉ huy) đã chiến thắng tại một căn cứ VC ở bìa của chiến khu D trong cùng tháng, các lính DSCĐ người Campuchia này sau đó đã từ chối hành quân cách xa trại hơn 1 dặm. Vì có đại đội 347 DSCĐ gốc Nùng rất trung thành tạm thời bảo vệ trại, nên lính Campuchia "được quyền chọn lựa giữa tuân lịnh cấp trên hay rời bỏ hàng ngũ," và lực lượng này đã được cải tổ toàn diện.

Một trong những việc xử dụng ko đúng cách và đáng buồn nhất các lực lượng dân sự chiến đấu (DSCĐ) của LLĐB Mỹ đã xảy ra trong những tháng đầu của năm 1965 dọc QL-19, con đường huyết mạch chánh nối liền bờ biển với cao nguyên miền Trung. Con đường này xuất phát từ Qui Nhơn ở ven biển và cao dần, quanh co các hẻm núi (gorge) đầy rừng rậm và các đèo cao trước khi tới Pleiku. Tướng Westmoreland, TL của BTL yễm trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam, viết tắt là MAC-V đã lo âu về khả năng VC có thể chia đôi nước này làm hai. Do đó việc bảo vệ QL-19 là một trách nhiệm quan trọng về quân sự. Ông dự định tới cuối mùa thu năm 1965 sẽ giao sđ 1 Không kỵ Mỹ trách nhiệm này. Nhưng từ đây tới ngày đó, việc hộ tống các đoàn xe và an ninh các đèo được đặt lên vai các người lính DSCĐ gốc Rha-đê kém may mắn (hapless) này của LLĐB. 

Vài trăm lính DSCĐ gốc Rha-đê đã từng tham gia cuộc nổi loạn của người Thượng (Montagard uprising), cùng với gia đình, đã buộc phải chuyển tới hai trại mới, đặt ở vị trí chiến lược ở hai ngọn đèo quan trọng là Mang Yang và An Khê. 

(Cuộc nổi loạn xảy ra từ 19 đến 28 tháng 9/1964, bắt đầu từ các trại LLĐB tại khu vực Ban Mê Thuột. Lính Thượng ở các trại này chỉ trung thành với cấp chỉ huy người Thượng và cố vấn Mỹ. Ở một số trại, họ đã giết các cố vấn LLĐB người Việt và giam giữ các cố vấn LLĐB Mỹ. Cuộc nổi loạn này đã chấm dứt nhờ sự dàn xếp của một số sĩ quan như đại tá Freund, cố vấn của quân đoàn 2 hay đại úy Gillespie, chỉ huy toán A-312 tại trại Buôn Brieng, và một số sĩ quan LLĐB Mỹ khác -- người dịch).

Trại An Khê, ký hiệu A-4 do đại úy Hendricks chỉ huy, gồm lính DSCĐ gốc Rha-đê, rất kỷ luật và trung thành, chuyển từ trại Bu Prang ở tỉnh Quảng Đức. Trại Suối Đôi, ký hiệu A-3, do đại úy Mireau chỉ huy, cũng là lính DSCĐ gốc Rha-đê nhưng tinh thần chiến đấu kém hơn. Những người này đã chuyển từ tháng 1/1964 từ trại Ban Don (tây bắc của Ban Mê Thuột) và đã chống đối kịch liệt vì cho rằng họ được dùng làm chốt thí (cannon fodder) dọc Ql-19. 

Từ lâu, QL-19 đã là một bãi chiến trường. Các đài kỷ niệm nằm rải rác ven đường giữa Đèo An Khê và Đèo Mang Yang, đánh dấu trận đánh phục kích Chiến Đoàn 100 của Pháp năm 1954. Giờ đây, mười năm sau, VC vẫn dùng chiến thuật đó. Ngày 15 tháng 2 năm 1965, một đoàn công-voa lớn của Nam VN bị phá hủy giữa đèo Mang Yang. Trại An Khê được lịnh lập hai căn cứ tiền tiêu (forward operational base), viết tắt là FOB số 1 và 2, ở phía tây của đèo vào ngày 17 tháng 2 năm 1965. (Theo thông tin trên mạng, đèo Mang Yang ở phía đông của đèo An Khê và cách nhau 22 km -- người dịch)

Ba ngày sau VC đã đồng loạt tấn công hai căn cứ này. Trong khi FOB số 2 chỉ bị thiệt hại nhẹ do địch chỉ tấn công thăm dò vào tối ngày đó, FOB Số 1 ở phía tây của FOB số 2 và gần Đèo Mang Yang bị tràn ngập. Máy bay thám thính và C-123 chuyên thả hỏa châu đã bất lực vì mây bao phủ 2 căn cứ này. Một đại đội (đ.đ.) tiếp ứng gốc dân Rha-đê, dưới chỉ huy của đại úy Hendricks đã tới FOB số 1 vào sáng ngày 21/2 sau khi vượt qua một phục kích nhỏ. Lực lượng của ông đã trở lại An Khê an toàn với người chết và bị thương từ tiền đồn này (FOB số 1). Một toán DSCĐ khác, chỉ huy bởi đại úy Em, đã ko gặp may mắn khi di chuyển bằng xe và xuất phát từ An Khê để tìm kiếm 20 DSCĐ mất tích tại FOB số 1. 

Trên đường trở về An Khê, đoàn xe của đại úy Em đã bị một trận phục kích khác lúc 5:30 chiều. Dù bị thương nhưng đại úy đã lập được một chu vi phòng thủ, cầm cự trong hai ngày với lính bắn sẻ cũng như tấn công định kỳ (periodic) của địch. Toán quân DSCĐ cứu viện của đại úy Hendricks cũng ko thể phá một nút chận mạnh mẻ của VC trên QL-19 để giúp đội quân của đại úy Em hay tới được FOB số 2. Ông buộc phải rút lui sau đó trước khi mặt trời lặn với phân nửa xe cộ bị phá hủy. 

Trung tá Lindsey Hale, chỉ huy C-2 LLĐB ở Pleiku đã có rất ít nguồn lực trước tình hình này. Lúc 11 g đêm ông ra lịnh cho đại úy (đ.u.) Mireau, chỉ huy Trại Suối Đôi, hành quân về phía đông đến Đèo Mang Yang và đặt trung đội "Diều Hâu" gồm toàn lính Rha-đê thiện chiến trong tình trạng báo động. Trung đội này đã được thành lập tại Pleiku ngày 16/10/64 với mục đích phản ứng nhanh. Ông đã tăng cường cho cuộc hành quân (HQ) này vài trực thăng võ trang, nhưng các máy bay ném bom A-1E Skyraider dự trù cho cuộc HQ này giờ chót dùng cho mục tiêu khác. 

Cũng như phần lớn các đ.đ. DSCĐ, đ.đ. 269 ở Suối Đôi đã ko huấn luyện để đánh đêm. Đ.đ. của trung úy (lieutenant) Y-Lang gốc Rha-đê đã có lịnh di chuyển từ sáng 22/2 nhưng chỉ di chuyển sau 12 g. Những người lính nhỏ thó này, với nón sắt gần như che cả mắt và ăn vận đồng phục màu olive của lính bộ binh và rằn-ri, đã khó khăn lắm mới trèo lên những xe tải với sàn xe quá cao của Mỹ. Với tổng cộng 167 người, ngồi san sát trên 6 xe tải, đoàn xe đã lên đường lúc 1245 trưa.

Lúc 3:30 chiều, đoàn xe này vừa vượt qua FOB số 1 đã bị phá hủy trước đó và bắt đầu đi vào một khúc cong. Khi họ gặp một xe đò chạy ngược chiều, thì xe đò này bị trúng B-40 và bốc cháy. Đoàn xe liền ngừng lại dưới làn đạn súng nhỏ và cối. Từ hai bên đường, VC đã tấn công đoàn xe và lính DSCĐ nhảy xuống đất tìm chỗ núp. Ba cố vấn LLĐB Mỹ đã cố gắng tập họp đ.đ. Súng liên thanh và súng nhỏ của địch từ cỏ voi cao đã phá vỡ cuộc phản công của lính DSCĐ. Chuyên viên bậc 5 Geral Rose đã chết khi cố gắng phá vòng vây (breakout) trong khi lính Rha-đê phía sau ông ko muốn chiến đấu (falter). Trong cảnh cận chiến (melee) hai bên đã dùng súng, lưỡi lê và bá súng. Trung úy Griggs đã trúng đạn ở cổ nhưng đã bắn hạ năm VC khi họ tiến gần trung sĩ Long, bị thương ở đùi (thigh). Sau đó Griggs trúng đạn ở ngực và ngất xỉu.

Một số lính DSCĐ định hàng khi hết đạn nhưng đã tập hợp lại sau khi VC tiếp tục giết kẻ bị thương. Họ đã dùng lưỡi lê, dao, và nắm đấm để phá vòng vây và chạy bộ về một tiền đồn ở Đèo Mang Yang. VC ko để ý tới trung úy Griggs vì nghĩ rằng ông đã chết. Sau đó ông tỉnh lại và bò tới một máy truyền tin, nằm bên dưới một hiệu thính viên đã chết. Ông gọi gunship tấn công VC. Gunship đã bốc trung úy Griggs và trung sĩ Long sau khi một trực thăng tải thương trúng đạn và đáp khẩn cấp xuống Suối Đôi vì phi công bị thương và buồng máy bị cháy. 

Trung đội phản ứng nhanh, còn gọi là "diều hâu" đã xuống phiá đông của trận đánh một giờ sau cuộc phục kích này bắt đầu. Năm lính LLĐB và 36 DSCĐ người Rha-đê nhảy ra khỏi máy bay khi càn trực thăng đụng đất. Khi gần tới địa điểm phục kích, họ bị trực thăng bắn lầm. Dù vậy họ vẫn tiến về đoàn xe bị phục kích, bất chấp bị bắn sẻ và đại liên của vc. 

Trung đội này được tăng viện lúc 7:30 tối ngày 22/2 bởi 60 người của đ.đ. 2 của TĐ 22 BĐQ VNCH từ Pleiku. Họ đã lập một chu vi phòng thủ và vượt qua địa điểm mà đ.đ. 269 bị phục kích vào sáng ngày hôm sau. Sau đó họ đã bắt tay với đám tàn quân gồm lính của đ.u. Em và lính của FOB số 2. Thành phần còn lại của TĐ 22 BĐQ đã đổ xuống An Khê và định di chuyển trên QL-19 để bắt tay với lực lượng trên đây vào ngày 23/2. Cuộc tiến quân đã bị đẩy lui trong một trận đánh dữ dội khiến TĐ này bị thiệt hại nặng và rút chạy (stumble back). Mọi lực lượng trừ bị của QĐ 2 đã cạn kiệt, và rất nhiều trực thăng đã huy động để bốc đội quân bị bao vây này khỏi chiến trường.

Dù trận Đèo Mang Yang đã chấm dứt khi bỏ vùng này cho VC ngày 24/2, những người lính sống sót của đ.đ. 269 DSCĐ vẫn chưa trở về đơn vị. Gia đình của họ ở Suối Đôi đã muốn tìm kiếm người chết để chôn theo truyền thống bộ lạc. Đ.u. Mireau nói với họ rằng VC đã bắn B-40 vào xe đò dân sự là chỉ dấu họ sẽ ko tôn trọng việc dùng xe đò để chỡ xác. Vào buổi tối, ông đã gửi trung sĩ nhất Scearce và trung sĩ McCann đến tiền đồn này ở đèo Mang Yang để tập hợp những kẻ sống sót trong cuộc phục kích. Họ đã bị tiếp đón lạnh nhạt (sullenly) bởi 112 lính Rha-đê mất hồn (listless) tại tiền đồn này. Trong lúc trung sĩ Scearce đang nói chuyện để cố gắng nâng cao tinh thần cho họ thì 1/3 quân số này đột ngột rời bỏ hàng quân. 

Hai trung sĩ này cuối cùng đã thuyết phục đội quân (contigent) này của Suối Đôi trở về địa điểm phục kích để thu nhặt xác chết đồng đội vào 27/2. Đội quân này đã đến Suối Đôi ngày 1/3 với những lời đe dọa của họ với trung úy Khim (có lẽ là người VN -- người dịch) của LLĐB và các cố vấn Mỹ. Ở Suối Đôi, những người Rha-đê này trở nên mệt mỏi, chán nản (lethargic) và ko hợp tác với cấp chỉ huy và ngày 10/3 đã từ chối bất cứ hành quân nào trong tương lai. Hậu quả, tất cả họ đã bị nghỉ việc và trại Suối Đôi được giao cho TĐ 3/42 thuộc sđ 22 bộ binh vào ngày 24/3/1965. BTL Mỹ tại Việt Nam hay MAC-V đã nhấn mạnh rằng việc dùng ko đúng cách DSCĐ như đã kể, ko những khiến họ thua trận, mà còn làm tiêu tan rất nhiều các cố gắng của LLĐB nhằm thu phục lòng trung thành và hổ trợ của các DSCĐ. 

VC đã ko thành công khi tấn công các trại LLĐB. Trại Kannack, ký hiệu A-231 với 550 DSCĐ do đ.u. Viau chỉ huy, nằm khoảng 12 dặm bắc của QL-19, bị tấn công bởi một TĐ VC ngày 8/3/65. Sau khi mở màn bằng đạn cối, bộ binh địch đã nhanh chóng tràn ngập 2 tiền đồn và vượt qua hàng rào kẻm gai ngoài cùng. Hai bunker nằm trên chu vi phòng thủ có bố trí súng đại liên, đã bị súng không giựt của địch phá hủy và các đặc công với mìn bangalore đã tạo lổ hổng trên vòng kẻm gai bên trong. Tinh thần chiến đấu tuyệt vời (superbe) của những người lính Thượng, chiến đấu từ những vị trí chuẩn bị kỹ lưỡng và chỉ huy dũng cảm bởi đ.u. Viau, cuối cùng đã bẻ gẫy cuộc tấn công. Đặc biệt, hai ổ súng đại liên, bị rung chuyển liên tục vì trúng đạn không giựt và các khối chất nổ, đã đầy xác chết của lính VC trước hai bunker này. Khi hừng đông xuất hiện, các oanh tạc cơ A-1E đã bắn phá và ném bom vào tàn quân VC đang rút lui, theo sau đó là một phản công của DSCĐ nhằm chiếm lại tiền đồn phía nam, nơi mà số lính Thượng vẫn còn sống. 

(Theo một YouTuber ở: https://www.youtube.com/watch?v=NID1JnQP3nIt

thì lực lượng tấn công trại gồm một TĐ đặc công thiện chiến, có sự trợ lực của một trung đoàn bộ binh. Nhưng việc điều quân của họ đã bị lộ cả tháng trước đó, nên quân phòng thủ đã chuẩn bị kỹ lưỡng chờ đợi. Do đó họ đã bị thiệt hại nặng với số người chết khoảng 500 người! Quân trú phòng phải dùng xe ủi đất để đào hố chôn các xác chết -- người dịch).

Theo báo cáo hành quân thì trận Kannack có 34 DSCĐ và 3 thường dân bị chết, 3 lính LLĐB mỹ và 32 DSCĐ bị thương; có 119 bộ đội chết dựa vào đếm xác và số lớn chết đã được kéo đi./.

Chuyển ngữ từ số báo TIME ngày Friday, Mar. 19, 1965.

https://content.time.com/time/subscriber/article/0,33009,833551,00.html.

Xem thêm: Khi trận Kannack chấm dứt: CENTRAL VIETNAM: AFTERMATH OF KANNACK CAMP BATTLE | Reuters Archive Licensing (screenocean.com)

San Jose ngày 14 Tháng 2 2024.

Tài Trần


Monday, February 12, 2024

TRẠI LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT VĨNH THẠNH TỈNH BÌNH ĐỊNH.  




CHƯƠNG 8

. . .

"Tối hôm đó, sau bữa ăn, chúng tôi đã họp toán và Durr và Emert đã nói với chúng tôi rằng họ đã biết phần nào về nhiệm vụ của chúng tôi. Chúng tôi sẽ thay Toán A-122 của đại úy Myers. Toán này đang ở Trại Tuy Phước, trên quốc lộ (QL-19). Tính tới thời điểm đó, trại Tuy Phước của toán A-122 đã tham gia nhiều trận đánh nhằm khai thông quốc lộ 19, chạy từ thành phố Qui Nhơn ven biển tới tp Pleiku ở Cao nguyên Trung phần. 

Quốc lộ 19, đặc biệt đoạn chạy ngang đèo Mang Yang nổi tiếng vì nguy hiểm, đã từng là địa điểm của nhiều trận đánh từ thời Pháp. Phần lớn các quân nhân của lực lượng đặc biệt (LLĐB) đều nghiên cứu thảm họa từng rơi xuống quân Pháp khi họ bị phục kích trên đường này năm 1954. Chỉ 7 tháng trước khi chúng tôi đến vùng này vào tháng Mười, khu vực chung quanh Mang Yang lại lần nữa là bãi chiến trường ác liệt giữa biệt kích quân của LLĐB và quân chính quy CSBV và VC. 

Trại Tuy Phước nằm ở phía đông của Đèo Mang Yang, trên một bình nguyên, trong một khu vực mà mùa hè 1965 được xếp hạng "đã bình định". SĐ 1 Không Kỵ vừa dời đến An Khê, và các phần tử của sđ Mãnh Hổ Đại Hàn đang bắt đầu tới Qui Nhơn. Trừ những cuộc phục kích có tính quấy rối thỉnh thoảng xảy ra trên QL-19, quân CSBV và VC, giờ đây đã bỏ ý định kiểm soát đường này và chuyển xa về phía bắc, sâu hơn vào núi và thung lũng. 

Nhiệm vụ của chúng tôi, đại úy Durr nói, là sẽ giao trại Tuy Phước cho quân Đại Hàn, và lập một trại mới ở một địa điểm nguy hiểm hơn ở tây bắc An Khê. Khu vực này có tên chính thức là thung lũng Vĩnh Thạnh. 

Ngày kế, toán chúng tôi tách làm hai, phân nửa bay trực thăng tới toán B ở Qui Nhơn, phần còn lại bay bằng C-130 tới toán C ở Pleiku. (Theo tổ chức của LLĐB, mỗi quân khu của VNCH có một toán C, chỉ huy các toán B đặt tại các tỉnh. Mỗi toán B chỉ huy các toán A. Mỗi toán A gồm 12 người thuộc LLĐB Việt Nam cộng tác với 12 người của Toán LLĐB Mỹ để chỉ huy trại, và các trại này được đặt gần các đường chuyển quân truyền thống của VC (như đường mòn HCM) hay Việt Minh - do vậy 1 số trại đặt tại các đồn có từ thời Pháp như Trại Gia Vực ở Quảng Ngải --người dịch). Những người tới Qui Nhơn sẽ gặp đại diện của toán A-122, để thuyết trình tại toán B, kế đó tất cả chúng tôi sẽ bay bằng trực thăng tới Pleiku, sau đó đi xe tải tới trại Tuy Phước.

Tôi đi với toán Qui Nhơn để tôi có ký một số văn kiện mật tại đó. Qui Nhơn là một tp ven biển khác, tôi đã thấy lần đầu vào mùa hè 1965, tp vẫn còn yên tỉnh, dù một vài dấu hiệu của việc đổ quân Mỹ đang diễn ra. Qui Nhơn ko đẹp như Nha Trang, nhưng phong cảnh vẫn hữu tình, với một bãi biển đẹp cát trắng.

Chúng tôi đã gặp các đại diện của A-122 gồm đại úy Myers và trung sĩ nhứt Prinn ở BCH của toán B. Toán B nằm ngay trên đường chạy dọc bờ biển và kế trụ sở của chi nhánh của Phái bộ Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam, viết tắt là MACV. (Nói thêm: Theo BĐQ Nguyễn Tiến Qua, thời điểm 1965, đại úy Từ Vấn là chỉ huy các toán LLĐB của VN trong các trại trong lãnh thổ tỉnh Bình Định. Trong hồi ký Đường Về Gia Nghĩa của thiếu tá Vương Mộng Long, năm 1974, ông Từ Vấn chỉ huy liên đoàn 24 BĐQ; năm 1975, ông là TL phó của SĐ 5 bộ binh. -- Người dịch). Muốn vào nơi làm việc của toán B LLĐB, chúng tôi phải đi qua cổng do MACV kiểm soát, và đây điều chúng tôi luôn khó chịu. Nhân viên của MACV tự coi họ là REMF, tiếng lóng trong quân đội Mỹ để mỉa mai những người lính làm việc ở văn phòng hay hậu cứ, và họ thích nghĩ rằng Qui Nhơn là một hậu cứ an toàn và ko cho phép người của họ ra vào khu vực này mà mang vũ khí. Toán B của chúng tôi, đang yểm trợ một số toán A đóng tại các khu vực rất nguy hiểm, và khi người chúng tôi về phố thị, họ mang theo súng đạn, lựu đạn, dao. Các nhân viên của LLĐB Mỹ thường tháp tùng bởi một toán lính Thượng ăn mặc lôi thôi (disreputable), võ trang đầy mình. Ít nhứt có một lần, chúng tôi nghe nói, xảy ra lộn xộn tại cổng MACV liên quan đến người của chúng tôi.

Toán A mà chúng tôi thay thế đã mướn một nơi gần biển cho các thành viên của họ ở khi họ đến tp này. Họ gọi những nơi này là "nhà an toàn" (safe house) và trung sĩ Prinn đã đưa chúng tôi đến nhà an toàn của họ, giới thiệu chúng tôi với bà chủ nhà, và chúng tôi ký hợp đồng.

Căn hộ này nằm trên tầng hai của một tòa nhà hai tầng, có rào. Bà chủ nhà và gia đình ở tầng trệt. Nhà có sân thượng và cầu thang lên sân thượng. Có một ga-ra nhỏ nơi một xe jeep có thể đậu an toàn mà ko bị đặt bom. Căn hộ có hai phòng ngủ và một nhà tắm, chứa được 2-3 người. 

Các thành viên của A-122 cũng giới thiệu vài hạ sĩ quan  làm việc cho một đv tiếp vận trong tp. Các hàng kỷ vật chiến tranh như cờ và vũ khí của VC được xem là một món hàng ưa thích nhứt ở các đv lo về hậu cần và được trao đổi để lấy thực phẩm và thuốc lá. "Chúng tôi có một thợ may ở ngay bên ngoài cổng làm cờ cho chúng tôi," Prinn nói, "do đó bạn ko bao giờ hết cờ. Bạn có thể có một thùng thịt bò hầm (steak) cho hai lá cờ."

Nhưng chúng tôi ko ngủ đêm ở Qui Nhơn, mà đi trực thăng vào buổi chiều để đến Pleiku.

Sáng hôm sau, chúng tôi thực tập nhẩy dù, và buổi chiều dự thuyết trình. Khi chờ nghe chi tiết về trại dân sự chiến đấu (DSCĐ) Tuy Phước mà chúng tôi sắp đáo nhậm, tôi đã thất vọng khi nghe rằng sẽ ko làm việc với người Thượng, như tôi hy vọng. "Trại này sẽ xa hơn về phía đông,"Myers nói. 

CHƯƠNG 9

Sáng ngày kế chúng tôi đã leo lên những xe GMC loại 2 tấn rưởi để theo quốc lộ (QL-19) về trại mới của chúng tôi. Sàn xe được lót bằng bao cát để chống mìn, và tất cả vãi bố và thành xe (sideboard) đã được gở. Một cây bằng thép (neck-wire catcher), xem hình, được hàn ở cản trước (frond end), để cắt dây kẽm do địch giăng ngang đường nhằm giết người ngồi hay đứng trên xe. Toán C đã cho một tiểu đội an ninh trại người Thượng tháp tùng chúng tôi trong chuyến đi này.

Neck-wire catcher


Chúng tôi đi ở cuối đoàn xe, vũ khí trong thế phản phục kích, xe bắt đầu hướng về phía đông đến đèo Mang Yang. Như tôi đã viết, dù đường lúc này được xem là "an toàn", thỉnh thoảng (occasionally) vẫn có những cuộc phục kích dọc đường này, và đường này từ lâu đã nổi tiếng là một cái bẫy chết người khiến chúng tôi luôn lo lắng. 

Khi chúng tôi đi ngang căn cứ An Khê nơi đặt BTL của sđ 1 Không kỵ, đường bắt đầu đổ dốc xuống đèo, nguy hiểm càng lúc gia tăng. Đây là nơi lý tưởng để phục kích. Những ngọn đồi dốc đứng và đầy cây cối bị sương mù (mist) che lấp sừng sửng hai bên đường. Có nhiều khúc cua "cùi chỏ" (switchback) và những điểm mù khác nơi mà một người với một súng chống tăng có thể chận (hold off) một đội xe cơ giới. Thỉnh thoảng, chúng tôi đi qua những gì còn lại của các trận đánh trước, mà mới nhứt là một chiếc C-123 thả hỏa châu rơi vài tháng trước đó. 

Khi qua khỏi đèo này, đường đã thẳng trở lại và lưu thông gia tăng. Chúng tôi đi ngang những toán lính chính phủ đóng ở nhiều đồn dọc theo đường, và dân địa phương ở những làng nhỏ mà chúng tôi đi qua có vẻ thân thiện, dù điều này phần nào là một ảo tưởng (illusion).

Chúng đã nghe trong một buổi thuyết trình về một biến cố (incident) gần đây liên quan đến một sĩ quan và hai hạ sĩ quan (NCO) Mỹ tại một trong những làng "thân thiện" này. Một buổi chiều cách đây vài tuần, họ đã đậu xe jeep trước một nhà hàng nằm trên đường này để ăn trưa. Khoảng nửa giờ sau, họ lên xe, chạy khoảng 200 mét thì xe nổ thành một quả cầu lửa, giết chết cả ba người. 

"Điều mà Việt Cộng đã làm," viên sĩ quan Phòng 2 nói với chúng tôi, "là dùng băng keo dán chung quanh chốt an toàn của một quả lựu đạn, và thả lựu đạn vào bình xăng của xe quân sự Mỹ. Chỉ sau một lát, xăng sẽ làm lỏng keo của băng dán và chốt an toàn được nhả ra, khiến lựu đạn nổ. Chuyển động của xe gia tăng tác động của xăng đối với băng keo, do vậy thường có ai lái khi xe bị nổ."

Để chống lại điều này, lưới được hàn ở miệng bình xăng, nhưng phải cần thời gian để làm điều này. Trong khi đó, có khuyến cáo rằng ko xe nào nên đậu ở khu dân cư, mà ko có người bảo vệ, dù dân có mỉm cười và nói, "Number-one!"

Hiệu đính ngày 19/7/2025 tại San Jose.

Tài Trần 

 

Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau

00:00/02:38

(Dân trí) - Từ ngày chuyển về ngôi biệt thự 3 tầng nằm giữa khu vườn ngập tràn sắc hoa rộng gần 400 m2, vợ chồng ông Long (Ecopark, Hưng Yên) bỗng trở thành “những người làm nông” thực thụ: sáng tưới hoa, nuôi cá, chiều hái rau, bón cây…

Thời gian hiện tại 0:00
Độ dài 1:45
Đã tải: 11.29%
 
Bỏ “đất vàng” phố cổ, chi triệu đô về ngoại ô nuôi cá, trồng rau

Năm 2015, sau khi về hưu, vợ chồng ông Long quyết định bán căn hộ và nhà đất tại phố cổ Hà Nội để chuyển về khu Ecopark, Hưng Yên. Với mảnh đất rộng khoảng 600 mét vuông, ông bà dành đến 2/3 diện tích để xây dựng sân vườn.

“Cuộc sống của hai vợ chồng tôi thay đổi hoàn toàn. Hồi trước, ngày thì mải miết đi làm, tối về quẩn quanh trong căn hộ vỏn vẹn 60 -70 m2 giữa phố xá đông đúc, lúc nào tôi và bà ấy cũng mệt mỏi, uể oải.

Thế mà từ khi sang đây được sống trong không gian rộng, thoáng mát, thêm sân vườn, cây cối,... hai ông bà U70 lại khỏe hẳn ra, tinh thần sảng khoái”, ông Long chia sẻ.

Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 1

“Mục tiêu chính của tôi là thiết kế một khuôn viên rộng trồng hoa, cây cảnh, xây bể cá để hai ông bà an hưởng tuổi già và con cháu có nơi để về nghỉ ngơi, tụ họp mỗi dịp cuối tuần”, ông Long nói thêm. 

Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 2
Toàn cảnh khu vườn nhà ông Long nhìn từ trên cao

Khu vườn phía sau nhà được hai ông bà trồng thành những luống hoa khác nhau, đủ các loại từ thược dược, violet, đến hoa trà… Những ngày cận Tết, hoa bung nở khoe sắc biến khu vườn càng trở nên rực rỡ, đẹp mắt.

Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 3
Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 4

Khu vườn rực rỡ sắc màu với đủ các loại hoa

Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 5
Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 6

Phía sau ngôi nhà là một dòng sông xanh mát. “Vì nhà nằm cạnh sông nên tôi trồng thêm một vài cây dừa. Mùa hè vừa mát vừa có quả cho các cháu uống.

Tôi cũng xây dựng thêm một cái chòi nhỏ cạnh bờ sông để cả nhà ra ngồi nghỉ ngơi, ngắm cảnh sông nước. Đây là khoảng không gian mà tôi nghĩ người Hà Nội nào cũng phải “thèm”. Trong phố sao mà có được!”, ông Long hài hước chia sẻ.

Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 7
Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 8

Kể từ khi về đây ở, cứ 6 sáng là hai ông bà đã ra vườn tưới hoa, chăm cây cảnh. Chiều đến thì chăm sóc thêm luống rau xanh và dành thời gian đi tập thể dục.

"Để khu vườn lúc nào cũng tươi xanh cũng tốn không ít công sức. Nhưng cả tôi và ông ấy vui hẳn ra, sảng khoái lắm!”, vợ ông Long chia sẻ. 

Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 9

Những luống rau trong khuôn viên nhà

Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 10
arrow_forward_iosĐọc thêm
pause
volume_off
00:00
00:03
00:43

“Tài sản vô giá” với ông Long trong khu sân vườn này chính là bể cá Koi Nhật mà ông đã tự tay chăm sóc hơn 2 năm nay. Bể cá Koi rộng khoảng 20 mét vuông với khoảng 40 con cá Koi đủ màu sắc. Mỗi con cá Koi ông Long đang sở hữu có trị giá từ 1.000 - 2.000 đô.

Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 11
Nuôi cá Koi đòi hỏi sự tỉ mỉ, kĩ lưỡng.
Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 12
Bao quanh bể cá cảnh là nhiều loại cây thủy sinh đẹp mắt.
Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 13
Hai vợ chồng ông Long thường ngồi ăn sáng, uống trà bên bể cá.
Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 14

Mọi góc trong căn nhà đều được trồng và trang trí bằng cây xanh

Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 15
Góc ban công với những chậu hoa nhỏ xinh
Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 16
Xung quanh chân tường ngôi nhà là những hàng bách diệp và hoa đồng tiền
Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 17
Hoa hồng khoe sắc bên hàng rào
Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 18
Từ căn bếp có thể nhìn ra không gian sân vườn
Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 19

Ông Long rất hài lòng với cuộc sống bên ngôi biệt thự sân vườn hiện tại.

Bỏ “đất vàng” phố cổ, vợ chồng U70 chi bạc tỷ về ngoại ô nuôi cá, trồng rau - 20

Vũ Vũ

Ảnh, video: Toàn Vũ