Friday, January 6, 2023

 Sự thật về trận Ia Drang 2 với quân đội VNCH


Năm 1965, ngày 18-11, lúc sáng sớm, 5 tiểu đoàn Nhảy Dù của VNCH được đổ xuống phi trường Pleiku, do Trung Tá Ngô Quang Trưởng chỉ huy. Trung Tá Trưởng đang là Tham Mưu Trưởng của Lữ đoàn Nhảy Dù VNCH. 5 tiểu đoàn được chia thành 2 chiến đoàn: Chiến đoàn 1 gồm các tiểu đoàn 3, 5, 6 và Chiến đoàn 2 gồm các tiểu đoàn 7, 8.

Buổi sáng, Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu, Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2 VNCH, thuyết trình hành quân cho ban tham mưu của Trung Tá Trưởng về cuộc hành quân mang tên Thần Phong 7; mục đích của cuộc hành quân là truy kích 2 tiểu đoàn CSVN thuộc Trung đoàn 32 còn lẩn quẩn trong vùng thung lũng Ia Drang. Trung Tá Trưởng chọn Thiếu Tá Schwarzkopf làm Cố vấn cho Lữ đoàn Dù trong cuộc hành quân Thần phong 7. Thiếu Tá Schwarzkopf đang phục vụ trong đoàn cố vấn của Quân khu 2 VNCH, đã từng “đụng chạm” với Tướng Vĩnh Lộc trong trận Đức Cơ. (sau này Schwarzkopft là Đại Tướng Tư Lệnh Quân đội Hoa Kỳ tại chiến trường Vùng Vịnh năm 1990).

Lúc 3 giờ chiều, Chiến đoàn 1 Nhảy Dù được trực thăng vận đến một bãi đáp ở phía Bắc sông Ia Drang. Tiều đoàn 3 Dù tiến về hướng Tây để đến làng Plei The. Tiểu đoàn 6 Dù tiến song song với Tiểu đoàn 3 nhưng hơi chếch về hướng Nam để đến làng Plei Leo.

Lúc chiều tối, Trung Tá Trưởng được báo cáo rằng có 1 tiểu đoàn CSVN đang bám theo Tiểu đoàn 3 Dù. Đây là lối lẫn trốn hay nhất của quân CSVN, cứ bám theo sau lưng địch để không bao giờ bị địch bắt gặp mà cũng không bị phi pháo (thường thì Phi Pháo dọn đường phía trước trục tiến quân chứ không bao giờ bắn sau đuôi đoàn quân. Cho tới khi nào địch bắt đầu vòng trở về thì đơn vị CSVN sẽ rời hướng tiến của địch mà thoát khỏi khu vực hành quân).

Ngày 19-11, lúc 11 giờ, Trung Tá Trưởng ra lệnh cho Tiểu đoàn 3 Dù đi chậm lại trong khi Tiểu đoàn 6 Dù vựợt lên trước để chuẩn bị bãi phục kích tiểu đoàn CSVN đang bám theo Tiểu đoàn 3 Dù.

Ngày 20-11, lúc 2 giờ 40 trưa, tiểu đoàn CSVN lọt vào trận địa phục kích của Tiểu đoàn 6 Dù. Tiểu đoàn 3 quay trở lại tấn công chính diện trong khi Tiểu đoàn 6 tấn công ngang hông. Gần 200 quân CSVN bị giết, đây là Tiểu đoàn 365 thuộc Trung đoàn 32 CSVN.

Buổi chiều, hai Tiểu đoàn Dù tiếp tục lục soát, khám phá 3 trung tâm huấn luyện của CSVN, 1 kho quân cụ và 75 căn lán trại.
Lúc 5 giờ 45 chiều, Tiểu đoàn 8 Dù được trực thăng vận đến một bãi đáp bên bờ Bắc sông Ia Drang, đối diện với ngọn núi Chư Pong ở bờ phía Nam. Chiến đoàn 1 Dù được lệnh di chuyển về hướng Nam để gặp Tiểu đoàn 8 Dù.

Ngày 21-11, Tiều đoàn 8 Dù vựợt sông Ia Drang để lập đầu cầu phía Nam sông Ia Drang.

Ngày 22-11, Lúc 11 giờ sáng, Ban chỉ huy chiến đoàn 2 Dù và Tiểu đoàn 7 Dù được trực thăng vận đến địa điểm của Tiểu đoàn 8 bên bờ sông Ia Drang.

Lúc 1giờ 50 trưa, Chiến đoàn 1 Dù gồm 3 tiểu đoàn đến bờ sông Ia Drang gặp Chiến đoàn 2.

Buổi chiều 2 chiến đoàn Dù vượt sông, chiếm lĩnh đỉnh núi Chư Pong.

Ngày 23-11, toàn bộ 5 tiểu đoàn Dù chiếm lĩnh các cao điểm dưới triền núi Chư Pong, rải theo hướng từ Tây sang Đông, trên đoạn mặt núi hướng xuống sông Ia Drang. Tiểu đoàn 3 Dù đóng quân ở bìa phía Tây, và Tiều đoàn 5 Dù đóng quân ở bìa phía Đông.

Ngày 24-11, lúc mờ sáng, Trung Tá Trưởng cho lệnh tiến quân từ triền núi đổ xuống sông Ia Drang, hai cánh quân bìa là Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 5 tiến xuống trước để hoàn thành hai nút chận hai đầu tại bờ sông phía Nam của sông Ia Drang. Trong khi đó Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8 dàn hàng ngang từ Tây sang Đông tiến xuống đoạn giữa hai nút chận.

Lúc 8 giờ 45 sáng, Tiểu đoàn 3 chạm địch ngay tại bờ sông, chiếm lĩnh trận địa, làm thành nút chận phía Tây của sông Ia Drang.
Lúc 10 giờ 50 sáng, Tiểu đoàn 5 chạm địch tại bờ sông, chiếm lĩnh trận địa, làm thành nút chận phía Đông của sông Ia Drang. Trung Tá Lưỡng cho Pháo Binh bắn dọn dọc theo bờ sông, khoảng giữa hai nút chận. Sau đó cho lệnh Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8 tiến xuống bờ sông.

Kết quả đếm được 65 xác CSVN, bắt sống 10, thu 58 súng. Cuộc hành quân chấm dứt chiều hôm đó. Quân Dù vựợt sông trở về nghỉ đêm tại bờ phía Bắc sông Ia Drang và ra khỏi vùng hành quân vào sáng hôm sau.

* Chú giải:
Tướng Ngô Quang Trưởng: Có thể nói trận Ia Drang 1 với Tiểu đoàn 1/7 Không Kỵ Hoa Kỳ là trận đánh lớn nhất của quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam bởi vì bị thương vong cao nhất (chết 79, bị thương 125). Sau này người cựu chỉ huy Tiểu đoàn 1/7 là Trung Tướng Harold Moore đã viết một cuốn sách kể lại trận này với tựa đề “We Were Soldiers Once.. and Young”. Và được dựng thành phim với tựa đề “We Were Soldiers” rất nổi tiếng.

Còn trận Ia Drang 2 với Lữ đoàn Dù VNCH cũng nổi tiếng sau khi Tướng Schwarzkopf viết hồi ký kể lại cuộc hành quân Ia Drang với một nhân vật mà ông rất khâm phục là Trung Tá Ngô Quang Trưởng, người sau này trở thành Tư Lệnh Quân đoàn 1 VNCH. Cuốn sách phát hành năm 2002 với tựa đề “It Doesn’t Take a Hero”. Tướng Shwarzkopf viết:
“Chúng tôi đã đáp xuống phiá Bắc, và Trưởng ra lệnh cho các tiểu đoàn băng qua sông Ia Drang và đóng chốt dọc theo rặng núi Chu Prong với những sườn núi cao chạy hướng về phiá Nam. Thật là hấp dẫn quan sát cách Trung Tá Trưởng hành quân. Đang khi chúng tôi lần bước, ông bỗng ngừng lại nghiên cứu bản đồ, và thỉnh thoảng ông lại chỉ ngón tay trên bản đồ và nói, “tôi muốn anh cho nã pháo vào đây”. Thoạt tiên tôi ngờ vực, nhưng vẫn cứ kêu gọi Pháo Binh bắn theo lời yêu cầu; khi chúng tôi tới vùng đó, chúng tôi thấy xác địch nằm ngổn ngang. Chỉ bằng cách hình dung địa thế và dựa vào 15 năm kinh nghiệm đánh giặc, ông chứng tỏ khả năng đặc biệt tiên đoán ý đồ địch.

Khi bộ chỉ huy lập trại đóng quân đêm đó, Trưởng mở bản đồ ra, châm một điếu thuốc, và phác họa kế hoạch chiến trận của mình. Khoảng rừng giữa vị trí chúng tôi đang đóng quân tại các sườn núi và con sông, Trưởng giải thích, tạo nên một hành lang thiên nhiên - con đường Bắc Quân thể nào cũng chui đầu vào. Trưởng nói, “Tảng sáng, chúng ta sẽ phái một tiểu đoàn tới địa điểm này, về phiá trái, làm lực lượng nút chận giữa sườn núi và con sông. Vào khoảng 8 giờ sáng ngày mai, tiểu đoàn này sẽ đụng độ mạnh với địch quân. Tiếp đó tôi sẽ gửi một tiểu đoàn khác tới địa điểm này, về phiá phải. Tiểu đoàn này sẽ chạm địch vào khoảng 11 giờ. Tôi muốn anh ra lệnh Pháo Binh sẵn sàng nã vào vùng này, về phiá trước mặt chúng ta,” Trưởng nói, “và rồi chúng ta sẽ tấn công với tiểu đoàn thứ ba và thứ tư của chúng ta đánh xuống mạn sông”.


"Tôi chưa từng nghe thấy điều lạ lùng như vậy tại West Point." Tôi nghĩ bụng,“Cái gì mà 8 giờ rồi 11 giờ? Làm sao mà có thể hoạch định thời khóa biểu cho trận đánh như vậy được?”…

Sau khi ban bố các lệnh tấn công, Trưởng ngồi nghiên cứu bản đồ với điếu thuốc lá trên môi. Chúng tôi duyệt đi duyệt lại kế hoạch thâu đêm, mường tượng mọi diễn tiến của trận đánh. Khi trời hừng sáng, chúng tôi phái Tiểu Đoàn 3 tiến quân. Họ tới vị trí và, y như là, đúng 8 giờ sáng, họ gọi điện về báo cáo đụng địch mạnh. Trưởng phái Tiểu Đoàn 5 tiến về hướng phải. Vào 11 giờ, họ báo cáo chạm địch mạnh. Đúng như Trưởng tiên đoán, trong khu rừng phiá dưới chúng tôi, địch đụng đầu với Tiểu Đoàn 3 tại ven bờ và quyết định,“Tụi mình không thể thoát ngã này. Tụi mình sẽ lộn trở lui.” Quyết định này trái nguyên tắc căn bản của thế tháo lui và lẩn tránh, tức là chọn con đường bất tiện nhất để giảm thiểu nguy cơ chạm trán với địch quân đang nằm chờ. Nếu chúng chọn leo rặng núi Chu Prong ra khỏi thung lũng thì có lẽ chúng thoát được nạn. Trái lại, chúng đã lần theo thung lũng, đúng như Trưởng tiên đoán, và do đó bị chúng tôi đóng vào hộp. Trưởng nhìn tôi và nói,“Hãy cho nã Pháo của anh” Chúng tôi pháo nửa tiếng. Tiếp đó Trưởng ra lệnh hai tiểu đoàn còn lại đánh xuống sườn đồi; súng ống khai hỏa rất nhiều trong khi chúng tôi theo đoàn quân tiến xuống.

Vào khoảng 1 giờ trưa, Trưởng tuyên bố, “Ô-kê, chúng ta dừng chân tại đây.” Trưởng chọn một bãi quang xinh xắn, và chúng tôi ngồi xuống ăn trưa cùng với ban tham mưu! Đang ăn nửa chừng, Trưởng bỗng đặt bát đũa xuống và ra lệnh vào máy phát thanh. “Trung Tá làm gì vậy?” tôi hỏi. Trưởng ra lệnh cho binh sĩ lục lạo chiến trường để thu lượm súng ống: “Chúng ta triệt hạ nhiều địch quân, những đứa thoát chết vứt bỏ lại súng ống khi tháo chạy.” Lạ nhỉ, Trưởng có nhìn thấy cái quái gì đâu! Mọi điều đều bị rừng cây che đậy. Nhưng chúng tôi ở nán lại bãi quang trọn ngày còn lại, và quân lính ôm về từng bó súng ống chất thành đống trước mặt chúng tôi. Tôi khoái quá - chúng ta đã gặt hái một chiến công hiển hách! Nhưng Trưởng thì lại ngồi yên, thản nhiên hút thuốc”(do Nguyễn Văn Tín trích dịch).


Năm 2008, ông Nguyễn Văn Tín là em trai của Tướng Nguyễn Văn Hiếu đã đăng bài viết “Nét ngây ngô của Tướng Schwarzkopf trong trận đánh Ia Drang”. Trong đó ông Tín cho rằng:

(1). Trung Tá Trưởng được các toán Thám Báo của Lực Lượng Đặc Biệt VNCH chỉ điểm vị trí của CSVN cho nên ông Trưởng kêu Pháo Binh trúng ngay chóc chứ ông không thể nào “tiên tri” được vị trí có quân CSVN.

(2). Trung Tá Trưởng cũng được các toán Thám Báo của LLĐB/ VNCH báo cáo tình hình các đơn vị CSVN tại bờ sông cho nên Trung Tá Trưởng mới “chặn đầu chặn đuôi” chứ ông không thể tiên tri họ ở đâu, tiến về hướng nào để mà chặn.

(3). Trung Tá Trưởng đượcThám Báo của LLĐB cho biết có một tiểu đoàn CSVN bám theo Tiều đoàn 3 Dù cho nên ông mới ra lệnh phục kích chứ ông không thể nào đánh hơi ra tiểu đoàn CSVN được.

(4). Trung Tá Trưởng được các toán Thám Báo LLĐB chỉ cho biết chỗ giấu vũ khí chứ làm sao ông ta đang ngồi ăn mà “đoán” ra ở đâu có vũ khí đựơc.

(5). Trung Tá Trưởng được Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu (Tham Mưu Trưởng Quân Khu 2) chỉ huy phía sau, cho các thông tin cần thiết và cho các mệnh lệnh cần thiết chứ Trung Tá Trưởng mới từ Sài Gòn lên không thể “đánh hơi” thấy địch quân mà tiên đoán hay tính toán được.

Rất tiếc là ông Nguyễn Văn Tín không phải là một quân nhân, và cũng không phải là một sĩ quan Tham Mưu cho nên những suy đoán của ông hoàn toàn sai trật so với tập quán hành quân trong quân đội. Một định nghĩa đầu môi của sinh viên sĩ quan VNCH, và cả các nước khác trên thế giới, là: “Chỉ huy là tiên liệu”. Tất cả những hành động của Trung Tá Ngô Quang Trưởng mà Schwarzkopf trông thấy được đều là do tiên liệu:

Trung Tá Trưởng từ Sài Gòn nhận được lệnh sẽ chỉ huy hành quân tại Tây Nguyên. Lẽ dĩ nhiên lúc nhận lệnh ông chẳng hề được biết ông sẽ chỉ huy hành quân ở khu vực nào trong thời gian nào và tình hình ra sao. Vì thế việc trước tiên sau khi ông bước chân xuống phi trường Pleiku là phải nhận được văn bản “lệnh hành quân” do Quân Khu 2 thiết lập. Trong đó phải nói rõ khu vực hành quân nào, tình hình giữa ta và địch ra sao, nhiệm vụ của Lữ đoàn Dù do Trung Tá Trưởng chỉ huy là gì. Đơn vị yểm trợ cho ông về Truyền Tin và Tiếp Vận là đơn vị nào, đơn vị yểm trợ Pháo Binh và Không Quân là đơn vị nào. Và cuối cùng là mục Trung Tá Trưởng sẽ chỉ huy trực tiếp các đơn vị tham dự hành quân, trong khu vực hành quân.

Kề từ khi ông nhận trong tay lệnh hành quân thì ông là ông vua của cuộc hành quân, không có một chỉ thị nào của cấp trên hay từ đằng sau có thể can thiệp vào các quyết định tại mặt trận do ông chỉ huy. Do đó, nếu có một đơn vị tình báo của Lực Lượng Đặc Biệt cùa VNCH hay Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ có mặt trong khu vực hành quân thì bắt buộc đơn vị đó phải được ghi rõ trong lệnh hành quân và đặt dưới quyền điều động của người chỉ huy trực tiếp cuộc hành quân là Trung Tá Trưởng. Điều này là bắt buộc bởi vì có thể các toán quân của ông Trưởng sẽ kêu Pháo Binh và máy bay oanh kích vào nơi nào mà họ nghi ngờ có địch, cho nên rất có thể họ sẽ bắn lầm vào vị trí của các toán Thám Báo nếu các toán này không được ghi trong lệnh hành quân. Ngoài ra các đơn vị hành quân cũng có thể gặp và nổ súng vào các toán Thám Báo vì Thám Báo thường mặc áo quần và mang vũ khí của CSVN.

Một khi Trung Tá Trưởng nắm được lệnh hành quân bằng tiếng Việt với đầy đủ các tin tức cần thiết thì Thiếu Tá Cố vấn Schwarzkopf cũng nhận được một lệnh hành quân y như vậy nhưng bằng tiếng Anh. Các đơn vị Pháo Binh, Không Quân Hoa Kỳ cũng nhận được 1 lệnh hành quân y như vậy. Và tất cả các đơn vị trưởng VNCH tham gia hành quân cũng nhận được lệnh hành quân đó. Vì vậy nếu có một tin tức tình báo nào trong vùng hành quân đều phải báo về cho Bộ chỉ huy Hành Quân của Trung Tá Trưởng chứ không thể báo cho nơi nào khác, ngay cả tin Tình Báo có giá trị bậc nhất là tin của phi cơ quan sát cũng được báo thẳng xuống đất cho Trung Tá Trưởng bằng máy vô tuyến. Và khi máy vô tuyến của Trung Tá Trưởng nhận được thì máy vô tuyến của Thiếu Tá cố vấn Schwarzkopf cũng nhận được.

Do đó Thiếu Tá Schwarzkopf biết hết mọi thông tin và mọi tính toán của Trung Tá Trưởng, từ đó ông mới suy ra tài năng điều quân của Trung Tá Trưởng. Chính vì vậy mà ông khâm phục Trung Tá Trưởng và viết vào sách. Khi viết sách (năm 2002) thì Tướng Schwarzkopf đã nổi danh với cương vị Tư Lệnh Quân đội Hoa Kỳ trong cuộc chiến Vùng Vịnh năm 1990. Năm đó ông đã đủ kinh nghiệm để tính toán suy nghĩ như Trung Tá Trưởng, hoặc có thể còn hơn Trung Tá Trưởng; nhưng ông ghi lại chỉ để nói lên kinh nghiệm của ông đã được thu thập như thế nào. Chính tấm gương chỉ huy của Trung Tá Trưởng đã kích thích ông quyết tâm tìm hiểu và học hỏi để trở thành một người chỉ huy tài năng.

Những lời nhận xét không được đẹp của ông Tín về Tướng Schwarzkopf đã bị giới nghiên cứu quân sự chê trách bởi vì ông Tín đưa ra một phán đoán về vấn đề hành quân trong khi ông Tín chẳng biết gì về quân đội.. Thực ra những tính toán giống như ảo thuật của Trung Tá Trưởng không có gì thần bí cả. Mà có thể mọi sĩ quan chỉ huy xuất sắc đều làm được như Ngô Quang Trưởng.

(1) Bất cứ một tiểu đoàn quân chiến đấu nào cũng có một trung đội thám báo và một tiểu đội tình báo. Mỗi khi di chuyển trong vùng có địch thì trung đội thám báo đi đầu và cách xa tiểu đoàn để mở đường; và tiểu đội tình báo đi chót, cũng cách xa tiểu đoàn để đề phòng địch bám theo. Trong trường hợp Trung Tá Trưởng gọi Pháo Binh bắn đúng vào nơi có địch có thể là do hai nguồn: Thứ nhất là Thám Báo của Tiểu đoàn đi đầu báo có địch xuất hiện hoặc nghi ngờ có địch. Và thứ hai là viên tiểu đoàn trưởng của Tiểu đoàn đi đầu nhìn vào địa thế mà nghi ngờ có địch nên xin tác xạ pháo binh để dọn đường. Nhưng Thiếu tá Schwarzkop đi bên cạnh Trung Tá Trưởng mà không thấy máy Truyền Tin của Trung Tá Trưởng báo một tin tức gì, chỉ thấy ông Trưởng nhìn bản đồ, nhìn địa thế, rồi gọi Pháo Binh. Như vậy cũng là rơi vào trường hợp thứ hai, nghĩa là thay vì ông Tiểu đoàn Trưởng nhìn địa thế mà xin Pháo Binh thì chính Trung Tá Trưởng nhìn địa thế mà gọi Pháo Binh. Trường hợp này thì 50 ăn, 50 thua bởi vì có thể là có địch mà cũng có thể là không có địch. Nhưng người chỉ huy càng kinh nghiệm thì xác xuất “ăn” càng cao, có thể lên đến 75 hoặc 90%.

(2) Trong ngày 23-11-1965 Trung Tá Trưởng đứng trên sườn phía Bắc của núi Chư Pong mà nhìn về phía Bắc thì sông Ia Drang chảy ngang trước mặt Trung Tá Trưởng, từ Đông sang Tây. Trong khi đó tại chỗ Trung Tá Trưởng đang đứng, đội quân của Lữ đoàn Dù đang dàn hàng ngang tên sườn Bắc của núi Chư Pong song song với sông Ia Drang, cũng từ Đông sang Tây, kéo dài 2 cây số. Lúc đó Trung Tá Trưởng biết rằng nếu đội quân của ông dàn hàng ngang tiến xuống thì các đơn vị CSVN sẽ bị lùa tới bờ sông, và khi đụng phải bờ sông thì họ sẽ chạy vẹt sang hai bên để thoát khỏi tầm truy kích của đoàn quân. Do đó ông dự tính sẽ cho hai cánh quân đi bìa tiến nhanh xuống trước rồi các cánh quân đi giữa mới từ từ tiến sau. Hai cánh quân bìa sẽ chiếm bờ sông trước và làm nút chận ở hai đầu để cho quân CSVN ở giữa không thế men theo sông mà thoát ra ở hai đầu.

Với ý đồ như vậy, Trung Tá Trưởng nhìn địa hình và ước lượng thời gian đội quân “bìa phía Tây” tời bờ sông là bao lâu và đội quân “bìa phía Đông” tời bờ sông là bao lâu, sau đó ông cho lệnh khởi hành lúc mờ sáng, canh làm sao cho hai cánh quân đến bờ sông lúc trời sáng tỏ để có thể phát hiện các toán quân CSVN đang chạy trốn. Cánh quân bìa phía Tây là Tiểu đoàn 3 chạm bờ sông lúc 8 giờ 45 trong khi ông Trưởng phỏng chừng là 8 giờ. Và cánh quân bìa phía Tây là Tiểu đoàn 6 phải đi xa hơn cho nên tới bờ sông lúc 10 giờ 50 trong khi ông Trưởng phỏng chừng là 11 giờ. Lúc 2 Tiểu đoàn Dù đến bờ sông là lúc quân CSVN hết đường chạy cho nên họ phải quay mặt lại mà nổ súng. Thời điểm chạm súng gần như hoàn toàn đúng với dự đoán của ông Trưởng, tức là dự đoán mỗi cánh quân đi bao lâu thì tới nơi. Đó là kinh nghiệm của người sĩ quan chỉ huy; ngay trong trường Võ Bị, người sinh viên sĩ quan phải biết một tiểu đoàn, với 1 cấp số đạn và 3 ngày lương khô mà đi trong rừng rậm thì di chuyển trung bình bao nhiêu cây số một giờ, trên đồng bằng là bao nhiêu, trên đường lộ là bao nhiêu,…. Do đó tính toán thời điểm chạm địch của Trung Tá Trưởng chỉ đơn giản là tính toán thời gian di chuyển từ trên sườn núi đến bờ sông của mỗi cánh quân, không có gì là “quỷ khốc thần sầu” như ông Nguyễn Văn Tín đã nghĩ.

(3) Chuyện Trung Tá Trưởng dụ cho Tiểu đoàn CSVN lọt ổ phục kích cũng không có gì là lạ. Toán Tình Báo của Tiểu đoàn 3 phát hiện có địch bám theo phía sau lưng tiểu đoàn cho nên thông báo về Bộ chỉ huy Hành Quân của Trung Tá Trưởng. Lúc đó Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 6 cùng tiến quân song song cho nên Trung Tá Trưởng ra lệnh cho Tiểu đoàn 3 đi chậm lại để Tiểu đoàn 6 vượt lên trước chuẩn bị trận địa phục kích. Sau đó tiểu đoàn 6 chờ cho Tiểu đoàn 3 qua khỏi thì nổ súng vào đoàn quân CSVN bám theo sau. Đồng thời Tiểu đoàn 3 cũng quay lại trực diện với địch. Cách điều quân như vậy không có gì là bí hiểm hay thần kỳ, bất cứ một sĩ quan chỉ huy nào cũng xử trí y như vậy bởi vì đây là bài học căn bản của môn chiến thuật.

Chẳng qua là vì ông Tín đọc sách “Why Pleime” của Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu mà trong đó nói rõ Tiểu đoàn 3 ND phát hiện có địch bám theo như thế nào, rồi Tiểu đoàn 6 ND phục kích ra sao, kết quả bao nhiêu quân CSVN bị giết. Vì thế ông Tín cho rằng Đại Tá Hiếu đã biết được mọi sự diễn ra trên chiến trường từng chi tiết nhỏ, chứng tỏ ông Hiếu đã được thám báo của LLĐB thông tin và ông đã cấp thời ra lệnh cho Trung Tá Trưởng bố trí phục kích.

Ông Tín đã suy luận ngược quy trình nên mới nói như vậy. Ông cho rằng những gì Schwarzkopf thấy và viết ra đã giống y như những gì Đại Tá Hiếu đã viết trong sách Why Pleime, chứng tỏ Đại tá Hiếu tuy ngồi ở nhà nhưng ông biết hết mọi diển biến trên chiến trường qua các báo cáo của các toán thám báo thuộc Lực lượng đặc biệt.

Nghĩ như vậy là hoàn toàn lầm lẫn. Thực ra, sau mỗi cuộc hành quân người chỉ huy cuộc hành quân bắt buộc phải lập một bản “báo cáo kết quả hành quân” để gởi lên giới chức đã ra lệnh hành quân. Trong trường hợp này thì Trung Tá Trưởng phải gởi “báo cáo kết quả hành quân” cho BTL/Quân Khu 2, trong đó tường trình đầy đủ mọi diễn tiến của cuộc hành quân. Ví dụ như xuất phát lúc mấy giờ, di chuyển theo đội hình nào, lúc mấy giờ thì phát hiện địch, lúc mấy giờ thì ra lệnh tấn công, lúc mấy giờ ra lệnh thu quân, v.v…Rồi cũng nói rõ đã xử trí ra sao khi tình huống nào đã xảy ra, v.v… Chính nhờ đọc báo cáo của Trung Tá Trưởng mà Đại Tá Hiếu mới có đủ mọi chi tiết diễn biến của cuộc hành quân mà viết vào sách Why Pleime chứ không phải ông Hiếu ngồi ở nhà nghe báo cáo của các toán thám sát LLĐB mà biết hết mọi chuyện rồi viết thành sách.

(4) Lúc Trung Tá Trưởng dừng quân giữa rừng đề ăn trưa, ông và Thiếu Tá Schwarzkopf không trông thấy gì nhưng binh sĩ của ông phát hiện giấu vết chứng tỏ đó là nơi đóng quân của CSVN trước khi xảy ra trận đánh với quân Hoa Kỳ trước đó 10 ngày (hầm tránh bom, hố chiến đấu, lò đất nấu bếp…). Vì vậy Trung Tá Trưởng cho lệnh lục soát kỹ bởi vì thường thường các binh sĩ CSVN bị thua trận ưa vác súng của bạn bè đã chết chạy trở về nơi đóng quân của đơn vị để tập trung tàn quân, sau đó họ sẽ giấu bớt các súng thừa tại nơi đó để rảnh tay mà chạy tiếp, sau này có muốn trở về tìm lại cũng dễ tìm vì nơi đó quá quen thuộc và đã có sẵn hầm hố. Thiếu Tá Schwarzkof ngạc nhiên chẳng qua là vì Schwarzkopf không có kinh nghiệm về thói quen hoạt động của quân CSVN chứ không phải Trung Tá Trưởng có tài tiên tri.

(5) Ông Nguyễn Văn Tín căn cứ vào một tài liệu kinh nghiệm chiến trường của CSVN, trong đó nói rằng các cánh quân Việt-Mỹ luôn luôn phối hợp với các toán Thám Báo của Lực Lượng Đặc Biệt VNCH trong các cuộc hành quân tấn công cũng như hành quân lục soát. Vì thế ông Tín kết luận rằng trận đó chắc chắn phải có sự tham gia của các toán Biệt kích thuộc Lực Lượng Đặc Biệt VNCH. Tuy nhiên theo sách “Lực Lượng Đặc Biệt” của Trung Tá Phan Bá Kỳ cho thấy trong cuộc hành quân đó không có toán Thám Báo nào của Lực Lượng Đặc Biệt. Hơn nữa, Trung Tá Kỳ cũng cho biết trong trận Pleime trước đó 1 tháng thì Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt là Đại Tá Đoàn Văn Quảng có điều động 4 toán Thám Báo Delta và 2 đại đội Biệt Kích tiếp ứng lên Pleiku để giải vây cho căn cứ Pleime bởi vì đây là một trại Biệt Kích củaLực Lượng Đặc Biệt (Việt Nam và Hoa Kỳ). Đoàn quân do Thiếu Tá Phạm Duy Tất chỉ huy đã vào được đồn và cùng với quân trong đồn tiếp tục chống trả để chờ viện binh của Quân Khu 2 phái tới. Suốt thời gian chờ viện binh, đoàn quân của Thiếu Tá Tất đã lập công rất lớn, giữ vững cho căn cứ Pleime không bị tràn ngập, tịch thu 4 súng đại liên 7 ly 62; 2 đại liên 12 ly 7; 1 súng cối 82 ly và nhiều súng AK.47.

Sau khi trận chiến kết thúc đích thân Đại Tá Đoàn Văn Quảng đáp trực thăng xuống Trại Pleime để quan sát và khen thưởng quân Biệt Kích phòng thủ căn cứ cũng như Lực Lượng Đặc Biệt tiếp ứng. Ông làm phiếu trình đề nghị thăng thưởng cho các quân nhân có công và gởi về Bộ Tổng Tham Mưu bởi vì Lực Lượng Đặc Biệt trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Nhưng không ngờ Tướng Tư Lệnh Quân Khu 2 là Chuẩn Tướng Vĩnh Lộc đã báo cho Bộ TTM hủy bỏ đề nghị của Đại Tá Quảng với lý do ông ta là Tư Lệnh của cuộc hành quân giải tỏa Pleime cho nên ai đáng được thưởng ai đáng bị phạt phải do ông. Vì thế không có một quân nhân nào thuộc Lực Lượng Đặc Biệt VNCH được tưởng thưởng mặc dầu họ có công rất lớn. Chuyện này đưa đến sự gay cấn giữa ông Tướng và Đại Tá Quảng cũng như đưa tới sự bất mãn của sĩ quan, binh sĩ thuộc Lực Lượng Đặc Biệt bởi vì sau đó Tướng Vĩnh Lộc được thăng Thiếu Tướng và nổi danh là người đã chỉ huy tiêu diệt 3 trung đoàn quân CSVN. Trong khi đó các sĩ quan và binh sĩ thuộc Lực Lượng Đặc Biệt đã bị tước công một cách oan uổng.

Rồi cũng vì chuyện bất mãn đó mà 1 tháng sau Tướng Vĩnh Lộc ký lệnh hành quân cho Lữ đoàn Dù nhưng không có sự phối hợp của Lực Lượng Đặc Biệt bởi vì Lực Lượng Đặc Biệt hoạt động độc lập, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, không dưới quyền điều động của các Tư Lệnh Quân Khu hay các Tiểu Khu Trưởng. Ngay cả BTTM cũng chỉ có thể chỉ thị Bộ tư lệnh/LLĐB tăng phái một vài toán Thám Báo cho một cuộc hành quân lớn nào đó, và dĩ nhiên các toán phải dưới quyền điều động của ông Chỉ huy Trưởng của cuộc hành quân. Thực ra trước trận Mậu Thân 1968, mọi sự điều động các đơn vị trực thuộc Lực lượng Đặc biệt VNCH đều do sự phối hợp giữa Bộ chỉ huy Liên đoàn 5 LLĐB/HK tại Nha Trang và Bộ Tư Lệnh LLĐB/VNCH tại Nha Trang.
Theo tài liệu của LLĐB do Trung Tá Phan Bá Kỳ biên soạn thì các toán Thám Báo của Lực Lượng Đặc Biệt không có tham gia trận Ia Drang. Và sách Why Pleime của Đại Tá Hiếu cũng cho thấy cuộc hành quân Pleime và Ia Drang là do Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2 tổ chức chứ không có sự chỉ đạo của BTTM. Như vậy có thể kết luận rằng mọi chứng minh của ông Nguyễn Văn Tín về tài năng của Tướng Ngô Quang Trưởng hoàn toàn sai trật do vì ông Tín không rành về hệ thống làm việc của quân đội. Trong khi đó thì Đại Tướng Schwarzkopf rất rành về quân đội, cho nên những gì ông viết ra không hề “ngớ ngẩn” như ông Tín đã nghĩ.

Hậu quả của trận Pleime, Ia Drang 1 và Ia Drang 2
Hồi ký của Thượng tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp ghi lại rất rõ mọi chi tiết cụ thể sau trận đó, những chi tiết này đã được ông ghi lại trong 40 quyển sổ ghi chép của ông để rồi sau này viết thành sách “Ký Ức Tây Nguyên”. Trong ghi chép của ông chỉ nói tới trận Pleime và trận Ia Drang 1 của quân đội Hoa Kỳ chứ không có trận Ia Drang 2 của Lữ đoàn Dù bởi vì thực ra cuộc hành quân của Lữ đoàn Dù chỉ là thanh toán nốt đám tàn quân của 3 Trung đoàn CSVN bị tan tác sau khi đụng độ với các đơn vị VNCH và Hoa Kỳ.

Theo ghi chép của Tướng Đặng Vũ Hiệp thì : “Từ 19 tháng 10 đến 26 tháng 11 năm 1965, trung đoàn 320 (tức là trung đoàn 32) hy sinh 166, bị thương 197; Trung đoàn 33 hy sinh 170, bị thương 232, mất tích 121; Trung đoàn 66 hy sinh 208, bị thương 146” (trang 115). Như vậy tổng cộng đã có ít nhất 1.240 chiến sĩ CSVN thực sự bị loại khỏi vòng chiến đấu mà phía CSVN ghi nhận được. Đặc biệt Tướng Hiệp chỉ nêu con số mất tích của Trung đoàn 33 mà không nêu con số mất tích của Trung đoàn 320 và Trung đoàn 66. Chứng tỏ ngoài số bị chết và bị thương thì 2 trung đoàn này không còn quân, nghĩa là toàn bộ số còn lại đã mất tích hết, nghĩa là hoàn toàn tan rã.

“Mất tích” có nghĩa là chết không tìm được xác do bị bỏ lại trận địa hay bị bom B.52 vùi lấp, hoặc là bị bắt làm tù binh, hoặc bỏ ra hồi chánh với quân đội VNCH hoặc là đào ngũ chạy ngược về Bắc ( Thuật ngữ CSVN gọi những người này là “B quay”, tức là những người vào Nam chiến đấu nhưng đào ngũ quay ngược về Bắc. Một bài viết của Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh trên báo Quân đội Nhân dân năm 2005 cho thấy các binh sĩ B quay đã xúi các binh sĩ đang trên đường vào Nam hãy tháo các lưỡi lê trên súng AK.47 và vứt đi để khi vào Nam không bị lệnh bắt buộc phải chiến đấu với quân Mỹ chỉ bằng lưỡi lê của súng AK ).
Trong số “mất tích” của 2 trung đoàn CSVN gồm có những xác đã bỏ lại chiến trường mà quân VNCH và quân Hoa Kỳ đã đếm đựơc: Trận Đức Cơ ngày 9-8-1965, quân VNCH đếm được 556 xác và bắt 27. Trận Pleime, ngày 24, 26 -10-1965, quân VNCH đếm được 400 xác, bắt 5. Trận Ia Drang 1, ngày 1,3,6-11-1965, quân HK đếm được 209 xác, bắt 19; ngày 14,15,16, quân HK đếm được 634 xác, bắt 6; ngày 17-11-1965, quân HK đếm được 406 xác. Trận Ia Drang 2, ngày 20,24, quân VNCH đếm được 265 xác, bắt 10. Tổng cộng trong số mất tích của 2 trung đoàn CSVN có 2.470 bỏ xác tại chiến trường, 40 bị bắt. Số còn lại là bỏ xác trong rừng do bị thương, bị chết đói hoặc bị bom B.52; và sau hết là số rã ngũ.

Cộng con số chết và bị thương 1.240 người do CSVN đếm được với con số 2.510 người do VNCH và HK đếm được thì ít nhất 3 trung đoàn CSVN đã bị mất 3.750 người.

Hồi ký của Tướng Đặng Vũ Hiệp ghi lại thực trạng của quân đội CSVN tại Tây Nguyên sau trận Ia Drang:
“Sau chiến thắng Pleime - Ia Drang (sic, chiến thắng!), một phần do tính chất ác liệt của cuộc chiến, thương vong của quân ta cao, một phần do sau một thời gian hành quân liên tục dài ngày đến chiến trường bước vào chiến đấu ngay nên bộ đội xuống sức rất nhanh, thêm vào đó ăn uống kham khổ, thuốc men thiếu thốn bộ đội bị suy dinh dưỡng nghiêm trọng, bệnh tật phát triển, nhất là bệnh tê phù và sốt rét ác tính. Quân số chiến đấu của các đơn vị chỉ còn một nửa. Có trung đoàn số anh em sốt rét, tê phù lên đến 400 người. Cá biệt có đại đội 115 người chỉ còn 33 người tương đối khỏe mạnh…”

“Mọi người tỏ ra mệt mỏi, ngán ngẩm. Khi ăn cơm thấy bộ đội vợi hẳn, nhiều anh em khóc. Một số đơn vị có đến hai phần ba số quân suốt ngày nằm võng, bàn tán đủ chuyện tiêu cực. Có người mặt nũi bẩn thỉu, ở gần suối cũng không chịu rửa. Có những lá thư gửi về gia đình khẳng định trước sau gì mình cũng thương vong, không vì đạn thẳng thì cũng vì pháo và bom địch, không vì đói thì cũng vì sốt rét ác tính…”

“Anh em nói với nhau: “Có mà không ăn là có tội với dạ dày”, nên cơm tiêu chuẩn 2 ngày họ ăn có 1 bữa”. (khẩu phần của 6 bữa mà họ ăn có 1 bữa, chứng tỏ tiêu chuẩn cơm của họ chỉ bằng 1/6 tiêu chuẩn cơm bình thường phải có để sống).
“Trong khi đó một số cán bộ có hành động quân phiệt gây nên trạng thái tâm lý căng thẳng giữa cán bộ và chiến sĩ… …Do đấu tranh kém, ý thức tự tôn, tự trọng kém dẫ đến một số làm ngơ và đồng tình trước những vi phạm phẩm chất, khí tiết : ăn cắp của nhau, lấy chuối, bắt gà của dân, đi lại, bắn súng bừa bãi…”


Diễn biến tâm lý của chiến sĩ xoay quanh:

Ba lo : Lo bom giặc, lo đạn giặc, lo ốm bệnh.
Hai ngán : Ngán chiến trường Tây Nguyên, ngán lâu dài.
Một bực : Bực cán bộ ăn ở bạc bẻo, quân phiệt.(trang 116-117).


Những điều ghi nhận của Tướng Đặng Vũ Hiệp chứng tỏ các chiến sĩ CSVN cũng là những con người, biết lo lắng, biết buồn bực và cũng biết suy nghĩ, chứ không phải là những con chó săn lúc nào cũng hừng hực khí thế sẵn sàng nhảy vô gai để cắn xé con mồi theo lệnh của chủ.

Không phải sau khi thất trận các chiến sĩ CSVN mới có biểu hiện phản kháng trước nghịch cảnh do lãnh đạo ĐCSVN đưa tới. Ghi nhận của Tướng Hiệp trong buổi họp kiểm thảo chiến dịch Pleime : “ Công tác giáo dục và tổ chức cho bộ đội ý thức thu hồi chiến lợi phẩm, nhất là vũ khí trang bị chưa đầy đủ. Chưa tận dụng lấy vũ khí địch để diệt địch, còn nặng về lấy thức ăn. Có đồng chí đang đánh nhau vẫn ngồi ăn Lại có anh em diệt địch xong, lấy thuốc lá vừa hút vừa xông lên đánh tiếp” (trang 110).
Cám ơn Tướng Đặng Vũ Hiệp đã để lại cho đời những hình ảnh chứng minh rằng các chiến sĩ CSVN cũng là những con người với những suy nghĩ rất đời thường. Và hành động của họ rất đáng yêu, rất chân thực; khác hẳn với những hình ảnh kỳ dị mà hệ thống tuyên truyền CSVN đã vẽ ra để lừa bịp thanh niên Việt Nam ( Trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng ).
(hết trích)

Đôi lời của Bùi Anh Trinh
Chắc quý vị nào từng xem phim We Were Soldiers cũng bực mình vì đạo diễn cho thấy toàn là hình ảnh quân CSVN trợn mắt xông vào phía quân Mỹ mà không bắn phát nào. Những ai đã từng đánh nhau ngoài chiến trường đều cho rằng đạo diễn quá dốt, không thể nào có chuyện cầm súng chạy đuổi theo quân địch mà không bắn, trong khi địch có súng đạn đầy đủ.

Thực ra đạo diễn đã nghiên cứu rất nhiều báo chí thuật lại lời kể của các chiến binh HK đã từng tham dự trận Ia Drang; nhưng tất cả đều nói y như vậy, cho nên đạo diễn đã dựng thành phim với những hình ảnh giống như hoang đường… Và rồi giờ đây chỉ có hồi ký của Tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp mới cho thấy sự thực rất thực nhưng vô cùng đau xót.

Tôi trích ra đoạn này là để nói với người Việt Nam rằng: Những chiến binh CSVN là những nạn nhân vô cùng chua xót của chế độ CSVN. Suy ra nhân dân Miền Bắc cũng vậy. Do đó nhân dân Miền Bắc và nhân dân Miền Nam đều là anh em một lòng, cùng chịu chung một hoàn cảnh bất hạnh của đất nước; chẳng qua là Miền Bắc bị nạn trước Miền Nam mà thôi.

Người Miền Bắc đã bị mất hết đất đai tài sản và mất quyền làm con người từ năm 1954. Còn người Miền Nam chỉ bị sau tháng 4 năm 1975. So ra người Miền Bắc đáng thương hơn.


Bùi Anh Trinh

   

         



ĐẠI TÁ TRƯỞNG, THAM MƯU TRƯỞNG CỦA LỮ ĐOÀN
 DÙ, LÀ MỘT TRONG NHỮNG CHỈ HUY GIỎI NHỨT MÀ
 TÔI ĐÃ BIẾT. ẢNH CHỤP SAU MỘT CHIẾN THẮNG LỚN
 Ở THUNG LŨNG IA DRANG, THÁNG 11/1965.




Thursday, January 5, 2023

 Hành Quân Thần Phong 7 ( từ 18/11/1965 đến 26/11/1965 ) 

 Chiến Đoàn Đặc Nhiệm Nhảy Dù Việt Nam tham chiến ( giai đoạn 3 từ ngày 18 đến ngày 26/11/1965 ) 

Theo tài liệu tổng kết của BTL/Quân Đoàn II: Trong năm ngày liên tiếp, từ 15 đến 19 tháng 11, các phóng pháo cơ B52 đã bay tổng cộng 96 phi vụ. Từng khu vực một, các khu vực của rặng núi Chu Prông - mỗi khu 20 dậm vuông - tuần tự trải qua một cơn động đất từ Tây sang Đông. Các công sự và hầm hố trước nay đã từng không ãnh hưởng đến các cuộc không tập hay pháo tập bắt đầu bị các trái bom 750 cân anh trực tiếp đánh sập. Lớp cây lá rừng rậm không còn hữu hiệu cho công việc ẩn núp lẫn bao che. "Cửa hậu" vào Căm Bốt bị đóng lại và để trốn thoát, tàn quân Việt Cộng chỉ còn lại thung lũng eo hẹp của Ia Drang. Hao mòn bởi những thất bại và tổn thất liên 16 tiếp, hậu cứ tại Chu Prông lại đang bị B52 phá hủy, cuối cùng Việt Cộng thôi cố gắng và phân tán thành từng toán nhỏ rút lui về hướng biên giới. Ước tính tình báo về khả năng địch, thực hiện vào ngày 17 tháng 11 do các toán Biệt Cách Dù hành quân tàng hình giữa lòng địch, bám theo sát địch quân trong khi chúng di chuyển và hành động như tai mắt của QL-VNCH báo cáo thường xuyên tất cả mọi vị trí và di chuyển của địch quân, cho thấy là gần 2/3 lực lượng của họ bị tiêu hao trong những trận giao tranh ở giai đoạn I và giai đoạn II. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II sau khi nghe báo cáo kết quả từ phía Hoa Kỳ tại trận đánh X-Ray trong thung lũng Ia-Drang, nên quyết định tung Lực Lượng Đặc Nhiệm Nhảy Dù trừ bị gồm 5 Tiểu Đoàn Nhảy Dù thiện chiến của QL-VNCH để càn quét nhắm vào hai tiểu đoàn Việt Cộng 635 và 344 cùng các thành phần còn lại của mười hai tiểu đoàn thuộc ba trung đoàn 32, 33 và 66 CSBV và buộc địch phải sa vào bẫy các lực lượng của ta giăng ra và xô đẩy họ vào các lộ trình rút lui mà chúng ta đã dự liệu, chiến dịch mang tên Thần Phong-7. Lần này nỗ lực chính là hai Chiến Đoàn Nhảy Dù QL-VNCH với sứ mạng ngăn chận và tiêu diệt các đơn vị CSBV bị đánh bại trong thung lủng Ia Drang đang tìm cách đào thoát sang Kampuchea đồng thời triệt hủy tất cả các cơ sở của chúng xung quanh thung lũng. Sư Đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ trước nay gánh chịu sự tấn công, sẽ tiếp tục tạo áp lực từ Đông sang Tây và cung ứng pháo yểm cho hai Chiến Đoàn Nhảy Dù. Cuộc hành quân "Thần Phong 7" khởi sự từ chiều ngày 18 tháng 11 khi hai Chiến Đoàn Nhảy Dù Đặc Nhiệm VNCH gồm 5 Tiểu Đoàn đươc Phi Đội C130 của Phi Đoàn 7 KQHK đã vận chuyển khẩn cấp từ các nơi khác nhau, như Sài Gòn, Biên Hòa, Vũng Tàu, Phú Yên và đưa tới sân bay vùng đất đỏ Đức Cơ và từ đó trực thăng vận xuôi Nam xuống vùng thung lũng hành quân. Chiến Đoàn Nhảy Dù khởi sự do Trung Tá Trương Quang Ân làm Chiến Đoàn Trưởng với 1500 chiến binh được không vận đến vùng hành quân vào ngày 1/11/12965: * Tiểu Đoàn 3ND do Thiếu Tá Trương Kế Hưng làm Tiểu Đoàn Trưởng. * Tiểu Đoàn 5ND,Thiếu Tá Nguyễn Khoa Nam làm Tiểu Đoàn Trưởng. * Tiểu Đoàn 6 ND, Đại Úy Nguyễn Văn Minh làm Tiểu Đoàn Trưởng. Về sau, Trung Tá Ngô Quang Trưởng được Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh SĐND chỉ định Chỉ Huy Lực Lượng Đặc Nhiệm Nhảy Dù và tăng cường thêm hai Tiểu Đoàn 7 & 8 Nhảy Dù, cấp tốc được không vận đến phi trường Đức Cơ trong ngày 20/11/1965: * Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù do Thiếu Tá Nguyễn Bá Trước làm TĐT. * Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù do Thiếu Tá Nguyễn Văn Thọ làm TĐT. 17 Phóng đồ hành quân Thần Phong 7 (theo General H. Norman Schwarzkopf 1992) Ngày 18/11/1965 Lử Đoàn 3 KBKV trực thăng vận đổ TĐ2/5 Khinh Kỵ xuống bãi đáp Crook thiết lập căn cứ hỏa lực Pháo Binh để yểm trợ cho Chiến Đoàn Dù VNCH vào vùng hành quân. Ngày 19/11/1965 Tiểu Đoàn 1/5 Không Kỵ cũng được lệnh thiết lập và giữ an ninh bãi đổ quân Golf. Ngày 20/11/1965 Đại Tá Thomas “Tim” Brown bàn giao vùng trách nhiệm chiến dịch cho Đại Tá W.R Lynch Lữ Đoàn Trưởng LĐ2KBKV, BCH Lữ Đoàn đóng tại Trại LLĐB Đức Cơ để phối hợp hành quân với BCH Chiến Đoàn Nhảy-Dù VN. Bộ Chỉ Huy hành Quân Chiến Đoàn Nhảy Dù đã cho pháo binh tác xạ vào những nơi nghi ngờ Cộng Quân trú ẩn, sau đó cho các đơn vị Nhảy Dù trực thăng vận đáp xuống tại các trảng trống phía Bắc của Sông Ia Drang và từ đó tung quân băng qua sông đóng chốt dọc theo triền núi Chư Prong. Trong khi di chuyển, các đơn vị Nhảy Dù đã nhìn thấy rất nhiều xác địch chết ngổn ngang do đạn pháo binh tác xạ. Trong mười ngày "tìm và diệt" - từ ngày 18 đến 26 tháng 11 - nhiều cuộc giao tranh xảy ra trong thung lũng sông Ia Drang giữa các đơn vị Dù và địch. Nhưng phần đông là những cuộc đụng độ nhỏ với các phần tử Việt Cộng tản mác. Tình trạng tan vỡ của các đơn vị địch đã được một Trung đội trưởng của Trung Đoàn 32 BV mô tả trong cuốn sổ nhật ký như sau: 18 "Tôi vừa được bổ nhiệm làm trung đội trưởng vài ngày thì thình lình quân lính dù địch được tung vào gần vùng chúng tôi đóng quân. Chúng tôi bắt đầu di chuyển vào đêm 18 tháng 11. Chúng tôi tiếp tục di chuyển để ra khỏi vòng vây địch ngày hôm sau, qua một đêm và tới ngày 20 tháng 11. Vào lúc 01.30 giờ ngày 21 tháng 11, chúng tôi được lệnh sẵn sàng cho một cuộc tiến công. Vào lúc 07.00 giờ chúng tôi tới một xóm làng... và lúc 07.30 giờ tới khu tập trung. Chắc địch mới oanh tạc khu vực này vì mặt đất loang lổ những hố to. Chúng tôi không khỏi lấy làm ái ngại. Chúng tôi vừa phân tán thì thình lình phi cơ địch lại xuất hiện và ria đạn vào vị trí chúng tôi. Trung đội của tôi có ba đồng chí bị giết. Chúng tôi cũng thiệt hại một số lớn đạn dược và quân cụ..." Cuộc giao tranh lớn nhất trong giai đoạn nầy xảy ra vào lúc 14.40 giờ ngày 20 tháng 11, tại phía Bắc sông Ia Drang. Lần này là lần thứ hai trong trận Ia Drang Việt Cộng rơi vào ổ phục kích của ta và hứng chịu tổn hại nghiêm trọng (phục kích lần thứ nhất vào ngày 3 tháng 11, bởi Tiểu Đoàn 1/9 của Sư Đoàn 1 Không Ky). Trung Đoàn 32 CS Bắc Việt cố tình ém quân trong suốt đợt hai, cuối cùng bị tìm thấy và buộc phải chiến đấu, mặc dù cố né tránh đụng độ càng nhiều càng tốt. Sáng ngày 20 tháng 11, TĐ3ND được lệnh di chuyển từ vị trí (191100 trên bản đồ) về hướng Nam để giao tiếp với Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù (tại vị trí 201440H gân LZ Golf như ghi trên bản đồ). Cả hai đơn vị đã thực hiện một cuộc truy lùng kỹ càng tại hai trục khác nhau từ bãi đổ bộ về hướng Tây. Trong khi di chuyển, Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù bị một đơn vị địch cấp Tiểu đoàn âm thầm theo dõi. Nhưng một khi cuộc giao tiếp hoàn tất giữa hai Tiểu Đoàn Nhảy Dù, đơn vị Việt Cộng này bị lọt vào trong xạ trường của Tiểu Đoàn 6 và ngay trọng tâm của ổ phục kích. Tiểu Đoàn 6 Dù khai hỏa, Cộng quân bị tấn công bất ngờ, không nơi ẩn núp bỏ chạy tán loạn làm bia cho các chiến sĩ Dù tác xạ. Sau khoảng một giờ giao tranh, lực lượng cộng quân bỏ chạy, gần 200 Việt Cộng bị hạ sát tại chổ. Sau Chiến thắng nầy, Thiếu Tướng Vĩnh Lộc, Tư Lệnh chiến trường đã bay ngay tới mặt trân trao gắng cấp bậc đặc cách mặt trận cho Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Văn Minh và cấp bậc Đại Úy cho 4 Đại Đội Trưởng cùng tưởng thưởng cho tất cả quân nhân ghi chiến tích trong TĐ6ND. Trong ngày 20/11, vào lúc 1745G, Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù được trực thăng vận thả vào Thung Lũng Ia Drang tại bải đáp Tee. Ngày 22/11, vào lúc 1100G, Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn Đăc Nhiệm và Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù cũng được trực thăng vận từ Đức Cơ thả xuống cùng địa điểm. Ngày 22/11, vào lúc 1330G, tại BCH hành quân, Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn Đặc Nhiệm đã thảo hoạch hành động chung cho các đơn vị Nhảy Dù. Ngày hôm sau 23/11 lúc 11.00 hai Tiểu Đoàn 7 và 8 dàn quân án ngữ mặt Bắc bờ sông Ia Drang. Trong khi đó Chiến Đoàn 2 dàn quân từ trên đỉnh núi về phía Nam sông Ia Drang, (tại bãi đáp Mary 231115H như ghi trên bản đồ). TĐ3ND được điều động lục soát về phía tay trái và Tiểu Đoàn 5 được phái về phía phải. Như vậy, lực lượng Nhảy Dù đã thiết lập trận thế để dẩn dụ địch quân vào các đường lối mà chúng ta đã dự liệu. Sáng ngày 24/11 Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù tiến quân về cánh trái, lục soát dọc theo khoảng giữa sườn núi và con sông Ia Drang. Lúc 08.45 giờ Tiểu Đoàn này báo cáo chạm mạnh với Tiểu Đoàn 635 thuộc Trung đoàn 32 tại ven bờ sông (tại 240845H như ghi trên bản đồ) Trong khi đó, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù tiến về phía phải đánh xuống mạn sông, đến lúc 1030giờ Tiểu Đoàn này cũng bắt đầu đụng độ với Tiểu Đoàn 334/32 CSBV (tại 241030H như ghi trên bản đồ) Sau cùng Tiểu Đoàn 6 còn lại từ trên lưng chừng đồi đánh thẳng xuống bờ sông. Cuộc giao tranh của các chiến sĩ Nhảy Dù và tàn quân của CSBV kéo dài tới 1 giờ trưa, địch quân tháo chạy. Những đứa thoát chết vứt bỏ lại súng ống vào bụi cây dọc theo đường mòn hay xuống lòng suối, quân sĩ ôm về từng bó súng ống chất thành đống. 19 Sau đó, Chiến Đoàn Nhảy Dù đã mở cuộc lục soát lùng kiếm các cơ sở địch trong vùng hành quân, Chiến Đoàn Nhảy Dù đã phá hủy 3 trung tâm huấn luyện, một kho dấu quân cụ và 75 căn nhà. Cuộc hành quân tiếp tục tìm và diệt cũng được thực hiện dọc theo sông Ia Drang tới biên giới Miên Việt nhưng chỉ có những đụng độ nhỏ với các phần tử Việt Cộng tản mác. Ngày 26/11/1965 vì không còn đụng độ với địch, Lực lượng Nhảy Dù rút ra khỏi vùng hành quân, chiến dịch Thần Phong 7 chấm dứt với 265 tên CS bỏ xác tại trận, bắt sống 10 tù binh, tịch thu 58 vủ khí đủ loại. Cuối cùng Mặt Trận B3 CSBV của Tướng VC Chu Huy Mân với ba Trung đoàn bị đánh vùi dập và xứt mẻ rút lui trong thế bại trận, bỏ lại hàng ngàn xác chết tại rặng núi Chu Prông và tại thung lũng Ia Drang. Trong số ba trung đoàn nầy, Trung Đoàn 33 là xấu số nhất và hứng chịu thất bại cay chua nhất: trung đoàn này cho mãi tới ngày 2 tháng 10 mới hoàn tất xâm nhập từ Bắc Việt (ngày khởi hành là khoảng từ 22 đến 25 tháng 7 năm 1965)! Trung Đoàn 66 bị chận đánh từ ngày 3 tháng 11 trong một ổ phục kích khi vừa mới bước chân vào Nam Việt Nam có hai ngày. Trung Đoàn 32 với kinh nghiệm chín tháng chiến đấu tại vùng Cao Nguyên cũng không tránh khỏi bị đánh bại mặc dù tìm cách lẩn trốn trong suốt cuộc săn đuổi của Sư Đoàn 1 Không Kỵ trong giai đoạn II Các Chiến Binh Nhảy Dù lùng và diệt địch trong rừng già Ia Drang Tổng kết tổn thất của Việt Cộng từ lúc khởi đầu chiến dịch 28/10 đến 26/11 năm 1965 tại Chu Prông đến Ia Drang là 2004 cộng quân bỏ xác tại trận, 2270 ước lượng xác mang đi, 1293 bị thương, 179 tù binh. Vũ khí bị tịch thu 169 súng cộng đồng ( chưa kể 2 khẩu đại liên và hai khẩu pháo cối 82 ly có chân đế sắt do Nhảy Dù bắt được lần đầu tiên) 1027 súng cá nhân.( Không kể 400 vũ khí khác bị phả hủy tại bãi đáp X-ray và Albany ). 20 Về phía Hoa Kỳ: tại X-Ray 79 chết, 121 bị thương. Tại Albany: 155 chết 124 bị thương. Tính chung cho chiến dịch Ia Drang ( không chỉ riêng cho các trận đánh nêu trên): 305 chết, 524 bị thương. Lần đầu tiên từ trận Điện Biên Phủ, các quân lính Cộng Sản không còn huênh hoang mình "vô địch" và hứng chịu một thất trận thê thảm trên chiến trường. Cũng là lần đầu tiên sự cuồng tín của quân lính Cộng Sản Bắc Việt bị bẻ gãy bởi một tình trạng suy thoái tâm thần nghiêm trọng. Một tù binh của tiểu đoàn 8 thuộc Trung Đoàn 66 (xâm nhập sau cùng) báo cáo là sau lần giao tranh ngày 17 tháng 11, đơn vị anh ta bị 30 chết, 50 bị thương và quan trọng hơn cả, 50 đào ngũ. Những tù binh khác của Trung Đoàn 32 vào cuối tháng 11 thú nhận là họ nghĩ là họ đã thua trận chiến. Các cán bộ của Trung Đoàn 33, bực dọc vì bị không yểm của ta nhắm bắn chính xác đã hội họp để điều tra điều gì khiến cho các phi vụ không kích chính xác và liên tiếp xảy ra: kết luận là chỉ có thể là gián điệp trà trộn trong bộ đội cung cấp cho các lực lượng của ta vị trí và di chuyển của các đơn vị trong trung đoàn.(thật sự là do các toán Biệt Cách Dù hành quân tàng hình giữa lòng địch, bám theo sát địch quân trong khi chúng di chuyển ) Chiến dịch Ia Drang đã đập nát tiềm năng quân sự của địch nhưng kết quả quan trọng nhất gặt hái được là đánh tan mộng chiến thắng và quyết tâm chiến đấu của địch quân. Tài liệu tham khảo : - Why Pleime - April 1966 ( Đòn Kết Liễu Tại Ia Drang ) của Thiếu Tướng Vĩnh Lộc trên trang nhà generalhieu.com - Thung lủng IA DRANG của Hà Kỳ Lam trên trang nhà Nguyệt San Đoàn Kết. - The Battle of Ia Drang From Wikipedia last modified 23:16, 29/11/2007. - Chiến tranh VN toàn tập 1963-1975 của Tiến Sỉ Nguyễn Đức Phương, Làng Văn xuất bản 2001. - It Doesn't Take A Hero cùa General H. Norman Schwarzkopf 1992 - Trận Đánh Thung Lũng Ia Drang? Trận Nào? của Nguyễn Văn Tín ngày 06/ 03/ 2008 trên trang nhà generalhieu.com - Phỏng vấn các chiến hữu Nhảy Dù.

Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật ở Mỹ: ví dụ ko có những 
làn đường dành riêng cho xe hơi như VN. Vì người đi xe máy cũng 
đóng thuế cầu đường như người đi xe hơi, do đó họ cũng có quyền 
lợi và trách nhiệm như người đi xe hơi. Riêng xe đạp phải chạy trên
 làn sát lề hay làn dành cho người đi xe đạp.Trên freeway, xe máy 
phân khối nhỏ ko được chạy vì chạy chậm, còn xe phân khối lớn 
thì OK.


 

Friday, December 30, 2022

Nhà Nước Pháp Quyền thời cổ Hy Lạp 

(Đọc để thấy cách đây trên 2.500 năm, nhà nước pháp quyền đã được áp dụng tại vùng đất nay là Hy Lạp; có những điều mà VN ngày nay chưa thể áp dụng vì sợ mất đặc quyền đặc lợi của giai cấp cầm quyền.-- Người dịch (ND).

Tạm dịch từ trang 5-7 của:

http://worldjusticeproject.org/…/history_and_importance_of_…

. . . 

Bằng chứng đầu tiên về một xã hội Âu Châu cai trị bởi luật - nghĩa là một xã hội trong đó luật lệ dưới dạng (ascribe) văn bản lâu bền/vĩnh cữu và công khai - đã có từ thời cổ Hy Lạp ở cuối TK thứ bảy và đầu TK thứ sáu trước công nguyên (cách đây khoảng 2022 + 600 = 2.622 năm -- ND). Một khi được viết ra giấy và mọi người dễ dàng truy cập (publicicly accessible), luật lệ của Hy Lạp không còn là đối tượng của diễn dịch tùy tiện (arbitrary) bởi một giai cấp có đặc quyền (giống như ĐCSVN -- ND). Một khi luật đã được viết xuống, người Hy Lạp đặt ra những trở ngại đáng kể cho những ai muốn thay đổi luật, và các tòa án Hy Lạp bị buộc phải áp dụng các văn bản về luật ngay cả đứng trước sự đối kháng/xung đột của những cân nhắc có vẻ hợp lý, ngang ngửa (even in the face of countervailing equitable considerations). 

Ít nhứt về lý thuyết, người Hy Lạp đã tin rằng luật pháp nên phổ thông và tổng quát (universal and general). Solon được nói đã lập một nhà nước tại Athens cung cấp "bình đẳng về luật pháp cho mọi hạng người," và nhà nước này được quản lý/cai trị bằng cách áp dụng những luật quen thuộc.

Mô tả một nhà nước Athens (thủ đô của Hy Lạp - ND) sau đó, Pericles nói rằng, "về mặt luật pháp, mọi người đều có địa vị như nhau đối với những tranh cải (dispute) riêng tư/cá nhân." Cuối cùng, người Hy Lạp ít nhứt đã công khai cấm đoán việc ban bố những luật lệ nhắm vào những cá nhân đặc trưng (specific individual) (giống như điều 88 của luật hình sự đối với các nhà hoạt động dân chủ tại VN -- ND).

Vừa hãnh diện và tuân thủ những luật lệ của họ, Herodotus đã khẳng định, "mặc dù tự do, người Hy Lạp đã ko tự do trong mọi thứ: họ có một ông chủ, đó là luật pháp," khiến họ sợ luật pháp hơn dân Ba-Tư sợ vị vua độc tài Xerxes của họ. "Sự tuân thủ/tôn trọng này đã bắt nguồn từ tư duy thực tế của người Hy Lạp rằng pháp quyền là cần thiết để thiết lập một xã hội thịnh vượng và công bằng. Plato đã mô tả một xã hội trong đó luật lệ trở nên bất lực khi đối diện sự suy đồi/thoái hóa (đang xảy ra tại VN ngày nay -- ND), tương phản với những điều tốt đẹp dành cho những xã hội trong đó "các quan tòa là đầy tớ của luật pháp" (chỉ xảy ra ở những nhà nước pháp quyền.-- ND). Demosthenes, nhấn mạnh sự nối kết giữa an ninh cá nhân của quan tòa, và thiện ý của họ nhằm duy trì luật lệ nhân danh kẻ khác. 

Aristotle còn nhấn mạnh rằng trong khi một thế giới hoàn hảo ko cần luật pháp, trong một thế giới ko hoàn hảo, công lý "chỉ có thể tồn tại giữa những con người mà quan hệ qua lại của họ điều tiết bởi luật pháp." Người Hy Lạp đã tin rằng mục đích chính của luật pháp nhằm thăng tiến điều tốt phổ quát (common good) (áp dụng cho mọi người-- ND), mặc dù họ đã công nhận rằng luật lệ, khi thực hành/áp dụng, thay vào đó, cũng thường được viết để đem lợi ích (advantage) cho những giai cấp có đặc quyền của xã hội. 

Các định chế chính trị của Hy Lạp đã giúp hỗ trợ pháp quyền. Ít nhứt, trong các đô thị dân chủ (democratic city), luật pháp đã xuất phát từ sự đồng thuận của người dân (popular consent). Dựa vào luật thành văn đã được ban bố rộng rãi trong dân, người Hy Lạp đã áp dụng để điều hành nhà nước. Hơn nữa, họ còn dựa vào một chính phủ liên hiệp (mixed) -- trong đó quyền lực phân chia giữa những nhóm đại diện cho những giai cấp khác nhau của quần chúng -- để tránh sự tập trung tất cả quyền lực vào một thực thể (một đảng hay một nhóm hay một phe phái .-- ND) và chận trước sự chuyên chế (absolutism). Nếu điều đó ko đạt được, người Hy Lạp công nhận tính chính đáng (legitimate) của việc chống đối sự chuyên chế (tyranny). (Nghĩa là dân có thể nổi dậy chống lại chính quyền .-- ND) 

. . . 

Aristotle nhấn mạnh rằng, vì những sai lầm ko thể tránh khỏi (inevitable infirmity) của người cầm quyền; luật pháp là tối hậu/tối cao: "Chúng ta ko cho phép một người nào đó cai trị dân ngoài luật pháp."

Lý thuyết của Aristotle về luật pháp rằng "luật pháp, chứ ko phải là người," đã đòi hỏi các quan tòa phải có một cá tính như sau - tính tình kiên định để hành động công bằng và theo đúng luật pháp . (Điều này khó áp dụng cho quan tòa dưới chế độ CS-- ND).

 Còn tiếp 

. . . 

Ngày 29/12/2016.

Ảnh 1: Đế quốc La Mã thừa kế những gì người Hy Lạp để lại. 

Hình 2-3: mô hình của thành phố La Mã thời đế quốc La Mã.

Hình 4: chú thích về các đền đài và lăng tẩm thời đó.

Hình 5: sân vận động Colosseum, xây vào thời hoàng đế Vespasian 72 sau công nguyên và hoàn thành năm 80 sau CN dưới thời Titus. Sức chứa từ 50 tới 80.000 khán giả, dùng làm nơi thi giác đấu (gladitorial test), tái phục các trận thủy chiến, trình diễn các vở kịch thần thoại cổ điển, v.v... Dù bị hư hại nhiều do động đất hay kẻ trộm tháo gỡ gạch đá, Colosseum vẫn là biểu tượng của La Mã thời Đế Quốc.

                                 





Dec 30 2016.

Hiệu đính ngày 30/12/2022. 

Wednesday, December 28, 2022

  

  My Authors

1 of XVIII: The Vietnam conflict wore many faces. One was the big battle (Hamburger Hill, Long Khanh, Khe Shan, etc.) amidst a campaign aimed at winning over the South Vietnamese people at the village and hamlet level.
2 of XVIII: While WWII was, in part, a collection of big battles, most of the Vietnam war was a daily attrition campaign marked by small engagements.
3 of XVIIII: Many accounts of that war overstate the impact of the fighting in the Au Sau Valley to the broader campaign.
4 of XVIII: The big battles such as Hamburger Hill, however, are relevant to our understanding of that war//Tuy nhiên, những trận lớn như Hamburger Hill lại thích hợp với hiểu biêt của chúng ta về cuộc chiên này.
5 of XVIII: Generals Westmoreland and Abrams recognized that the South could not be pacified or stabilized as long as main force North Vietnamese units continued to fight in the South.
6 of XVIII: Thus, big battles in which the North Vietnamese troops were forced to fight were important.
7 of XVIII: By now, hopefully (hy vọng rang) you’re seeing that the Ap Bia Mountain battle ran afoul (chạm vào)  of a fundamental warfighting principle.
8 of XVIII: Almost 150 years before @TheRakkasans climbed Hill 937, Prussian military theorist Carl von Clausewitz emphasized that war is controlled by its political object. See Uncle Carl’s quote on this. [In this case, the war's political object was a free & independent South]
9 of XVIII: The expenditure of effort at Hamburger Hill exceeded the value the American people attached to a free & independent South Vietnam in 1969. Remember, much of the public turned against the war in early 1968 during and after the Tet Offensive.
10 of XVIII: There were good reasons for the operation on Dong Ap Bia and we’ve outlined all of them here over the past few days (the biggest reason: the linkage of the Au Shau Valley to Laos & the Ho Chi Minh trail). [image c/o of @erikhistorian]
11 of XVIII: A stable South probably could not be realized w/o US and ARVN forces taking Au Shau Valley from the North. Some historians argue that the area was likely to serve as a jumping off point for another Northern offensive.
[image c/o of @erikhistorian]
12 of XVIII: Remember, the North Vietnamese regulars had used the valley for years as a marshaling area, logistics depot and jumping-off place for attacks against Hue, Danang and the coastal towns and villages of South Vietnam.
13 of XVIII: Early on in the fighting, the @101stAASLTDIV found evidence of a sophisticated communications system & a network of bunkers. They also found documents indicating that the 29th PAVN Regiment's command and control center was on the hill.
14 of XVIII: Given all of this context, @USArmy leaders can hardly be faulted for investing in the hill.

The subsequent criticism leveled at the command may be overstated. So, too, may be the importance we place on Hamburger Hill in shaping President Nixon's decisions.
15 of XVIII: The claim that intense public reaction to Hamburger Hill forced Nixon to end of major tactical ground operations exaggerated. Pressure was building on Nixon to end the war since he took office in Jan. 1969. Also, Tet was much more damaging to US support for the war.
16 of XVIII: That pressure gained strength almost 2 years after Hamburger Hill with the @NYTimes’ publication of front-page articles on the Pentagon Papers in January 1971.
17 of XVIII: We should not overstate Hamburger Hill’s significance in forcing an end to US support for the war. After all, American troops remained in Vietnam for almost 4 years after abandoning the hill.
XVIII of XVIII: The legacy of Hamburger Hill – like much of that war itself - is encrusted in myths and covered in inaccuracies. We hope to have corrected some of those here.
5/ Các tướng Westmoreland và Abrams đã nhìn nhận rằng miền Nam ko thể bình định hay ổn định một khi (as long as) các đơn vị chánh qui của Bắc VN tiếp tục chiến đấu ở miền Nam.6/ Do đó (thus), những trận đánh lớn mà các đơn vị Bắc VN bị-buộc-phải- chiến-đấu rất quan trọng.7/ Giờ đây, hy vọng rằng (hopefully) các bạn sẽ thấy trận Núi Ấp Bia chạm vào (run afoul) một nguyên tắc căn bản của chiến đấu.8/ Gần 150 năm trước khi các Rakkasan* trèo lên Đồi 937, lý thuyết quân sự người Phổ Carl von Clausewitz đã nhấn mạnh rất chiến tranh được khống chế bởi các mục tiêu chánh trị. (Trong trường hợp này, mục tiêu của chính trị của cuộc chiến này là một miền Nam độc lập và tự do).* Trung đoàn 187 của sđ 101 Dù có biệt danh Rakkasan (tiếng Nhật có nghĩa là "nhảy dù"). Đây là đv duy nhứt đã nhảy dù xuống Okinawa năm 1945. 9/ Phí tổn của cố gắng chiến tranh ở Đồi Thịt Bầm đã vượt quá giá trị mà dân Mỹ đặt ra cho một Nam VN tự do và độc lập năm 1969.Nên nhớ, phần lớn công chúng Mỹ đã chống đối cuộc chiến vào đầu 1968 trong và sau Tổng công kích Tết.