TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN CỦA CANADA (CANADIAN NATURAL RESOURSES).
=========================
PHẦN ĐỌC THÊM:
Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
nhạc sĩ LÊ VĂN KHOA
LÊ = 35 = 8
VĂN = 615 = 12 = 3
KHOA = 2571 = 15 = 6
Lê Văn Khoa, người hòa nhạc Việt Nam vào dòng nhạc thế giới (voatiengviet.com)

Trong tháng Giêng, Hai năm 1971, tôi theo chân tiểu đoàn 23/BĐQ lên phòng thủ trại biên phòng Polei Kleng, một căn cứ nằm nơi cuối thung lũng Plei Trap, gần biên giới Miên và cách vùng tam biên (biên giới Việt-Miên-Lào) khoảng 50 cây số về hướng nam, đông nam. Khu vực có vị trí chiến thuật, ngăn chặn đường xâm nhập của các đơn vị chính quy Bắc Việt trên hệ thống đường mòn HCM, nên đã xẩy ra nhiều trận đánh trước đây. Tiểu đoàn 23/BĐQ được đưa từ Pleiku lên trại Polei Kleng và phòng thủ căn cứ.
Trong khi chúng tôi vào đóng quân trong căn cứ, ở bên ngoài một cuộc hành quân cấp lớn đang diễn ra, bao gồm các đơn vị thuộc: sư đoàn Không Vận (Air Cav) Hoa Kỳ, hai pháo đội A và B, Tiểu đoàn 1/92 Pháo Binh Hoa Kỳ (175 ly), bốn tiểu đoàn Bộ Binh QLVNCH. Ba trong số bốn tiểu đoàn Việt Nam là Bộ Binh và tiểu đoàn 22/BĐQ. Những khẩu đại bác 175 ly cơ động (gắn trên xe thiết giáp) bố trí ngay bên ngoài hàng rào phòng thủ trại. Sư đoàn Không Kỵ Hoa Kỳ lập bãi tiếp tế đạn dược, tiếp vận trên phi đạo (các trại LLĐB thường có một phi đạo ngắn để tiếp tế). Với đủ loại máy bay, phi cơ trực thăng Chinooks, Hueys và Cobras trên bầu trời, trại LLĐB Polei Kleng trông như một tổ ong. (Quân đội Hoa Kỳ rất hãnh diện về Sư đoàn Không Vận ‘Đệ Nhất Sư Đoàn Kỵ Binh Không Vận – First Air Cavalry’. Sư đoàn này chứng tỏ sức mạnh cơ động, với rất nhiều trực thăng đủ loại để chuyển quân, cùng đồ tiếp vận).

Tin tức tình báo, Sư đoàn Không Kỵ thâu thập được cho biết, có đơn vị Bắc Việt hiện diện trong vùng. Chúng tôi biết địch quân đang hoạt động trong khu vực giữa Polei Kleng và biên giới Miên. Tuy nhiên các sĩ quan tình báo vẫn chưa đoán ra được ý định của địch. Trong khi đó hai pháo đội thuộc Tiểu đoàn 1/92 Pháo Binh Hoa Kỳ bắn yểm trợ hằng đêm.
Chỉ được lệnh bảo vệ căn cứ, Tiểu đoàn 23/BĐQ không phải ra ngoài tham dự cuộc hành quân. Chúng tôi bỗng dưng trở thành… khán giả bất đắc dĩ, theo dõi hai võ sĩ trên võ đài.
Tôi vào trong lều thuyết trình hôm Chuẩn Tướng Wear (Tướng văn phòng của MACV), Cố vấn Trưởng Quân Đoàn II cùng với vị tư lệnh quân đoàn, làm một quyết định mà làm thay đổi tất cả. Ông Tướng Việt Nam ra lệnh cuộc hành quân phải được đưa lên phiá Bắc thung lũng Plei Trap, tiến quân về hướng trại LLĐB Ben Het (tiếng đồng âm là Been Hit, đã bị trúng đòn), trong vùng Tam Biên, một điểm nóng (có nhiều dấu hiệu các hoạt động của địch).
Khi ông Tướng Tư lệnh Quân đoàn nói sẽ xử dụng trực thăng đưa bốn tiểu đoàn Bộ Binh Việt Nam lên Ben Het, câu trả lời của Chuẩn Tướng Wear, tôi sẽ không bao giờ quên “Tại sao lại phí phạm phương tiện không trợ? Ra lệnh cho họ LỘI BỘ trong thung lũng lên đến Ben Het!” Lộ trình di chuyển từ Polei Kleng lên đến Ben Het dài 40 cây số, xuyên qua những cánh rừng rậm và ngang qua những nhánh nhỏ trong hệ thống đường mòn HCM. Ngoài ra, một vấn đề quan trọng khác là họ (quân Việt Nam) đã ra khỏi tầm tác xạ yểm trợ của Pháo Binh Hoa Kỳ. Điều này làm xuống tinh thần các binh sĩ VNCH, và rất nguy hiểm cho họ.
Tôi ra bãi đáp trực thăng, trên phi đạo, đón Dubbeld và Duncan khi họ được trực thăng đưa vào vùng hành quân, và cũng là người chứng kiến họ được một trực thăng chuyển quân khác đưa vào Tiểu đoàn 22/BĐQ, lúc đó đang “lội” trong thung lũng Plei Trap. Trung Úy Dubbeld không được vui, anh ta đã gần hết thời gian phục vụ… sao lại phải tham dự cuộc hành quân này…? Tôi sẽ không bao giờ gặp lại cả hai người Dubbeld và Duncan.
Bạn có thể tiên đoán, chuyện gì sẽ xẩy ra. Tiểu đoàn 22/Biệt Động Quân cùng với ba tiểu đoàn Bộ Binh Việt Nam di chuyển bộ trong thung lũng Plei Trap lên hướng Bắc (Ben Het), đúng vào nơi đóng quân của ba trung đoàn chính quy Bắc Việt, 28, 40 và 66. Địch đang tập trung trong thung lũng để chuẩn bị tấn công trại LLĐB Ben Het. Ba tiểu đoàn Bộ Binh Việt Nam bị “tàn sát”, có thể nói họ “biến mất” trong quân sử.

Tuy vậy, Tiểu đoàn 22/BĐQ vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu gắn bó của đơn vị, đánh xuyên qua tuyến phục kích cấp trung đoàn của địch, tiếp tục tiến lên hướng Bắc thung lũng Plei Trap. Lúc đó, tiểu đoàn Biệt Động Quân Việt Nam đã ra khỏi tầm mức liên lạc truyền tin của các đơn vị bạn, chỉ còn liên lạc được với phi cơ bay bao vùng. Rừng núi rập rạp cũng làm trở ngại vấn đề liên lạc qua máy truyền tin, xin không trợ hay trực thăng võ trang yểm trợ cho tiểu đoàn. Một phi cơ “Hỏa Long” lên bắn yểm trợ được một lúc, rồi sau đó phải bay về mà không rõ lý do.
Đêm ngày 3 tháng Ba năm 1971, Tiểu đoàn 22/BĐQ phá được trận phục kích, đến một ngọn đồi nơi hướng Nam trại LLĐB Ben Het, tổ chức phòng thủ đêm. Không “tiêu diệt” được tiểu đoàn Biệt Động Quân, quân Bắc Việt pháo kích như mưa lên ngọn đồi, hàng trăm quả đạn súng cối trong vòng một tiếng đồng hồ. Một quả rơi vào hố chiến đấu của Dubbeld và Duncan.

Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II, vội vã đưa Tiểu đoàn 23/BĐQ (bằng xe!) từ Pleiku lên Tân Cảnh, rồi từ đó sẽ tiến về hướng Ben Het bắt tay với Tiểu đoàn 22/BĐQ. Để tiếp cứu đơn vị bạn, Tiểu đoàn 23/BĐQ chạy đua với thời gian, từ Tân Cảnh, tới Dak To, rồi xuống tới Ben Het.
Khi vào đến trại LLĐB Ben Het, quân đội Bắc Việt đang pháo kích vào căn cứ, nhiều đám bụi bay lên rải rác, đó đây. Chui vào hầm trung tâm hành quân trại Ben Het, tôi được nghe những lời đối thoại của nhân viên trên hệ thống truyền tin “Đây là Ben Het. Thưa đúng, chúng tôi đang bị pháo kích… Thưa không. Ngay bây giờ. Tôi lập lại ‘Thưa tôi không phải thằng nói láo’…”
Không tới một tiếng đồng hồ sau, trước khi trời xập tối, Tiểu đoàn 23/BĐQ ra khỏi trại LLĐB Ben Het, tiến về hướng Nam, để bắt tay với Tiểu đoàn 22/BĐQ. Tiểu đoàn di chuyển rất thận trọng, nên không có chuyện gì xẩy ra. Đến lúc rạng đông ngày hôm sau, chúng tôi bắt tay với tiểu đoàn bạn, rồi cả hai đon vị, gấp rút quay trở lại trại LLĐB Ben Het.
Sau đó tiểu đoàn 22/BĐQ được một đoàn trực thăng đến đưa về Pleiku. Còn lại tiểu đoàn 23/BĐQ khoảng 300 binh sĩ nằm giữ căn cứ Ben Het. Chúng tôi được biết khoảng mười ngàn quân Bắc Việt đang có mặt trong vùng Tam Biên. Trại LLĐB Ben Het nằm ngoài tầm tác xạ yểm trợ của Pháo Binh… Không yểm cũng không được quyền ưu tiên. Dubbeld và Duncan đã hy sinh… có thể sẽ đến phiên chúng tôi…
TIỂU ĐOÀN 23 BIỆT ĐỘNG QUÂN BEN HET, ĐẦU NĂM 1971
… Chúng tôi cảm thấy rất cô đơn, mặc dầu trong trại Lực Lượng Đặc Biệt biên phòng Ben Het có khoảng ba trăm Biệt Động Quân.
Tiểu đoàn 23 Biệt Động Quân được gửi lên vùng Tam Biên, nơi đầu thung lũng Plei Trap để bắt tay với Tiểu đoàn 22/BĐQ đang hành quân trong vùng. Tiểu đoàn 22/BĐQ cũng được lệnh tiến lên phiá Bắc thung lũng. Đối đầu với ba trung đoàn 28, 40 và 66 quân đội Bắc Việt. Tiểu đoàn 22/BĐQ phá vỡ trận phục kích cấp trung đoàn của địch, tiếp tuc tiến về hướng tiền đồn Ben Het. Tiểu đoàn chịu tổn thất hai cố vấn Hoa Kỳ, Trung úy Orie Dubbeld, Trung sĩ Nhất James Duncan vì đạn súng cối và một số binh sĩ Biệt Động Quân.
Tiểu đoàn 23/BĐQ trong đó có tôi, từ Ben Het di chuyển vào trong rừng, thiết lập tuyến phòng thủ đêm, nơi hướng nam căn cứ. Chúng tôi đã đề phòng cẩn thận, không có chuyện gì xẩy ra trong đêm và sáng sớm hôm sau, chúng tôi bắt tay với Tiểu đoàn 22/BĐQ. Cả hai tiểu đoàn cùng di chuyển vào bên trong trại LLĐB Ben Het, để chỉnh đốn hàng ngũ.
Sau đó tiểu đoàn 22/BĐQ, được đưa về hậu cứ ở Biển Hồ, Pleiku vì đã bị tổn thất trong trận phục kích vừa qua. Tiểu đoàn 23/BĐQ được lệnh nằm lại, chống giữ trại LLĐB, trong khi các binh sĩ trong trại đã được đưa về trung tâm huấn luyện BĐQ Dục Mỹ để tái bổ xung, huấn luyện. (Thực ra, lúc đó trại LLĐB Ben het đã được cải tuyển sang Tiểu đoàn 95 Biệt Động Quân Biên Phòng và được đưa về Dục Mỹ huấn luyện).
Trong căn cứ Ben Het lúc đó chỉ có khoảng 300 binh sĩ BĐQ tiểu đoàn 23 và BCH liên đoàn 2/BĐQ. Ở bên ngoài, ba trung đoàn chính quy Bắc Việt đang siết chặt vòng vây. Trại LLĐB biên phòng này nằm gần khu vực ba biên giới, Lào, Miên và Việt Nam , nơi cuối con đường cũ do người Pháp xây trước đây, xa hơn trại LLĐB Dak To. Nói theo văn chương, Ben Het ở cuối con đường, hỏa ngục của các trận đánh đẫm máu. Phiá bên kia biên giới là những nhánh nhỏ trong hệ thống đường mòn HCM.
Xem xét lại tình hình bạn và địch, chúng tôi biết rằng cán cân nghiêng về phiá địch quân. Biệt động quân có hai khẩu 105 ly, cơ hữu của căn cứ và một pháo đội 175 ly của tiểu đoàn 1/92 Pháo Binh Hoa Kỳ. Ngoài ra có vài quân nhân LLĐB còn sót lại, họ thuộc đại đội công vụ, lo trông nom, giữ gìn doanh trại.
Sau khi Tiểu đoàn 22/BĐQ vừa đi khỏi, địch quân cắt đứt con đường duy nhất lên Ben Het. Nhóm cố vấn chúng tôi vội vã yêu cầu chuẩn bị cho vấn đề không yểm khi cần thiết, nhưng được trả lời “Không trợ đã được dành cho những mặt trận khác có độ ưu tiên cao hơn”. Chúng tôi có lẽ được một chiếc trực thăng đơn độc đến thăm, đem theo vị sĩ quan tình báo từ Pleiku. Ông ta sẽ di chuyển những chấm đỏ (địch) trên bản đồ và cho chúng tôi biết, trong vùng hành quân có… hàng chục ngàn quân CSBV.
Hai ngày sau, Trung Tá Bùi Văn Sâm, Liên đoàn Trưởng LĐ2/BĐQ, đại úy Nguyễn Văn Phương, Tiểu đoàn Trưởng TĐ23/BĐQ quyết định, đưa một đại đội lên chiếm đóng đồi 880. Ngọn đồi chiến lược quan sát toàn khu vực Ben Het và đường xâm nhập của địch quân nằm bên kia biên giới. Tôi cùng với trung sĩ nhất Acoba đi theo đại đội biệt động quân. Trên đường di chuyển, chúng tôi thấm mệt, lên xuống những hố bom khổng lồ trước khi lên tới đỉnh đồi. Lần leo núi này mệt nhất trong đời, mặc dầu trước đây, tôi đã trải qua hai tuần lễ nơi “Căn Cứ Núi, Ranger Mountain Camp” ở Dahlonga, tiểu bang Georgia, trong khóa huấn luyện Biệt Động Quân Hoa Kỳ. Ngọn đồi này có vị trí chiến lược, là nơi có những trận đánh đẫm máu cho cả đôi bên. Trên đỉnh đồi không có một thân cây nào còn nguyên vẹn, chỉ còn lại mầu đất đỏ cùng với hầm hố, giao thông hào chiến đấu.

Đại đội Biệt Động Quân lên tới đỉnh đồi cũng nằm thở dốc, sau đó rải quân xung quanh ngọn đồi thiết lập tiền đồn phòng thủ. Trên đỉnh đồi hoang tàn, nắng cháy, vấn đề nước uống rất cần thiết. Vài binh sĩ BĐQ lấy nước từ trong hố bom, đục ngầu để uống, kết qủa nằm ôm bụng. Sĩ quan Biệt Động Quân đến quan sát hố bom, dùng gậy khuấy lên mới biết, trong hố bom có xác chết mục rữa, chỉ còn xương. Có lẽ xác của một cán binh Bắc Việt, chết trong trận đánh năm ngoái (vùng tam biên, năm nào đến mùa khô, khoảng tháng Ba địch quân thường mở những trận tấn công lớn). May mắn, lúc đó đang có một trực thăng Hoa Kỳ đậu trong căn cứ, các cố vấn Hoa Kỳ gọi máy xin trực thăng tiếp tế nước uống cho đại đội Biệt Động Quân tiền đồn.
Chiếc trực thăng đem nước cho Biệt Động Quân cất cánh đúng lúc địch quân pháo kích vào trại LLĐB Ben Het bằng hỏa tiễn 122 ly. Trên đỉnh đồi 880, chúng tôi quan sát rất rõ, nhìn thấy được vị trí đặt hỏa tiễn của địch. Tôi vào tần số báo cáo vào trong căn cứ. Một giọng nói lạ như hét lên, cho biết họ đang bị pháo kích, yêu cầu tôi ra khỏi hệ thống để họ làm việc. May thay, trung tá Toner, Cố vấn Trưởng Liên đoàn 2/BĐQ nhận ra được giọng của tôi, chen vào. Ông ta ra lệnh cho tôi gọi không yểm, ông ta quên rằng, tôi đã xin nhưng không được ưu tiên… phải chờ!
Một “chốt” Biệt động quân nằm dưới chân đồi cũng báo cáo lên cho biết, họ trông thấy lính Bắc Việt đi chặt gỗ trong rừng. Đó là một dấu hiệu không tốt cho BĐQ, điều đó chứng tỏ địch quân vẫn ung dung, không màng tới đơn vị BĐQ đang hiện diện trong vùng hành quân. Chắc chắn quân đội Bắc Việt phải có một đơn vị cỡ lớn trong thung lũng Plei Trap. Biết rõ tình hình địch, đại đội BĐQ đang đóng trên đồi đành nằm chịu, vì không thể bỏ tiền đồn, kéo xuống tấn công mấy tên địch lẻ tẻ… Biết đâu, địch quân chơi trò “điệu hổ ly sơn”. Mắc mưu là kể như vừa mất vị trí chiến lược, vừa bị rơi vào trận phục kích. Tôi gọi không yểm… và một lần nữa bị từ chối. Tôi cùng với trung sĩ nhất Acoba ngủ một “đêm dài” nơi tiền đồn cùng với đại đội BĐQ. May thay, không có chuyện gì xẩy ra trong đêm. Theo sự ước đoán… Địch quân bắt buộc phải… lấy lại vị trí chiến lược bằng mọi giá. Những cảnh hoang tàn đổ nát trên đỉnh và xung quanh ngọn đồi đã chứng minh sự suy luận của tôi.

Sáng hôm sau, một trực thăng đến đón, đưa tôi và Acoba trở vào trong trại LLĐB Ben Het. Những điều tôi đoán đã trở thành sự thực. Đại đội BĐQ chiến đấu anh dũng trong tuyệt vọng. Căn cứ Ben Het đã bị địch bao vây, pháo kích, không thể đưa quân ra ngoài tiếp cứu được, vả lại lội bộ cũng mất mấy tiếng hồng hồ (phải xử dụng trực thăng tiếp tế nước, đưa đón cố vấn Hoa Kỳ). Lính Bắc Việt xung phong lên đỉnh đồi, tràn vào tuyến phòng thủ của đại đội biệt động quân. Hai bên đánh cận chiến bằng lưỡi lê và lựu đạn… trước khi mất liên lạc với BCH tiểu đoàn 23/BĐQ trong căn cứ Ben Het.
Bên trong căn cứ Ben Het, tình hình rất căng thẳng, trong vùng tam biên có những đơn vị chính quy Bắc Việt cấp lớn. Quân lực VNCH tăng cường thêm quân lên Dak To và thiết lập một căn cứ hỏa lực trên một ngọn đồi nằm giữa Ben Het và Dak To. Bên trong trại LLĐB Ben Het, đồ tiếp liệu, lương thực, đạn dược cần được tiếp tế hàng ngày bằng xe từ Tân Cảnh. Ngày nào xe tiếp tế cũng bị bắn quấy rối, khi vừa qua khỏi Dak To. Cuối cùng, nhu cầu không yểm cho căn cứ được đáp ứng. Trung tá Toner ra lệnh cho tôi: “Fee, mình được biệt phái trực thăng võ trang Cobra bay bao vùng cho xe tiếp tế. Anh đi theo máy bay, quan sát coi tụi nó phục kích ở đâu, rồi điều động Cobra làm thịt”.
Được biết khu vực không được an toàn, phi công trực thăng bay là trên đầu ngọn cây dọc theo con đường để tránh hỏa lực phòng không của địch. Từ trên không nhìn xuống một ngọn đồi nhỏ trước mặt, thay vì bay vòng để tránh, viên phi công tiếp tục bay thẳng, lên cao tránh ngọn đồi, rồi lại xà thấp xuống. Chúng tôi nhìn rõ trận phục kích ở dưới, ngay trước mắt là một chiếc xe GMC chở đạn đại bác đang bốc cháy và sẽ nổ tung không biết lúc nào. Viên phi công hốt hoảng bay lên cao. Chúng tôi quan sát lại cho kỹ tình hình ở dưới, có khoảng ba chiếc xe trúng đạn bốc cháy, binh sĩ VNCH hộ tống đoàn xe, nằm rải rác dọc theo con đường đang chống trả đám lính Bắc Việt từ hai bên đường, đang sửa soạn tiến lên chỗ đoàn xe đang nằm kẹt trên đường.
Tôi báo cáo về Ben Het, và được bốn chiếc Cobra bay theo đội hình hàng dọc lên bao vùng. Tôi cho họ biết vị trí của địch rồi theo dõi các trực thăng võ trang “làm việc” để báo cáo. Chợt có một chiếc máy bay quan sát FAC (Phi cơ điều không tiền tuyến, Forward Air Control) lên bao vùng.
Viên phi công FAC này tôi quen trong phi trường Cù Hanh ở Pleiku, lên tiếng hỏi.
– Tôi giúp được gì không?
– Chắc chắn. Bạn có những gì?
– Loại “bay nhanh” (phản lực). Trên đường “vượt rào” trở về (vượt biên thả bom trên đất Miên).
– “Đồ chơi” (bom) cỡ nào?
– 500 cân Anh.
– Ồ “bạn hiền” (oh, man!). Để tôi cho mấy chiếc Cobra ra khỏi vùng.
Xin cám ơn Thượng Đế. Tôi đang kiếm “bạc cắc” đào được “vàng”. Sau khi các trực thăng Cobra làm cú chót, tôi nói họ bay về hướng quân bạn. Viên phi công FAC cũng khuyên tôi “Bạn cũng nên ra khỏi khu vực luôn”. Biết gặp “thứ dữ”, tôi nói viên phi công trực thăng, đưa tôi trở lại căn cứ Ben Het. Trung Tá Sâm, Liên đoàn Trưởng LĐ2/BĐQ vui vẻ cho biết, trận phục kích đã thất bại và đoàn xe tiếp tế sắp vào đến căn cứ.

Tôi đi theo Trung Tá Sâm, Trung Tá Toner, mấy sĩ quan BĐQ leo lên nóc pháo đài, dùng ống nhòm theo dõi trận oanh kích. Sau khi máy bay quan sát FAC bắn đạn khói chỉ điểm mục tiêu, hai phản lực F-4 Phantom chúi xuống thả bom. Trận đánh kết thúc nhanh chóng. Một đại đội biệt động quân được lệnh ra ngoài căn cứ, truy kích đám tàn binh của địch đang trên đường rút lui.
Biệt Động Quân đem về ba tù binh. Một trong ba người cấp bậc Hạ sĩ Quan, anh ta có cuốn sổ tay ghi tên và vũ khí trang bị cho các cán binh trong trung đội. Cuốn sổ tay còn cho biết vị trí nhận tiếp tế cho đại đội anh ta. Các tù binh bắt được cùng tài liệu được trực thăng đến đưa về Pleiku. Một điều đáng nói là binh sĩ biệt động quân, đối xử với tù binh rất tốt, cho họ ăn uống và thuốc lá.
Sau trận phục kích, địch quân dường như đã rút quân ra khỏi khu vực tam biên. Có nhiều giả thuyết, có người cho rằng quân đội Bắc Việt dự định tấn công trại LLĐB Ben Het bất ngờ. sau đó đụng Tiểu đoàn 22/BĐQ trong thung lũng Plei Trap, rồi được biết có thêm TĐ23/BĐQ vào vùng hành quân, nên địch quân bỏ kế hoạch tấn công.
Vùng Tam Biên với trại LLĐB Ben Het là điểm nóng trên vùng Cao Nguyên. Căn cứ hỏa lực vừa mới thiết lập giữa Dak To và Ben Het, chỉ được ít hôm bị địch tràn ngập. các ngọn đồi xung quanh đều thấm máu của cả hai bên. Cho đến mùa Hè năm 1972, vùng này hoàn toàn lọt vào tay địch quân.
Theo tài liệu: Patrolling, Fall 2009, trang: 67-69
Dallas, Texas
Vũ Đình Hiếu
NGUYỄN = 7
VĂN = 615 = 12 = 3
THÀNH = 45155 = 20 = 2
TRẬN QUẾ SƠN NĂM 1972
. . .
Cũng đã có đụng độ quanh khu vực Huế trong khi quân VNCH đã đẩy mạnh tấn công, và ngày 26/7/1972, căn cứ Bastogne lại lần nữa đổi chủ, lần này bị chiếm bởi VC, nhưng đã bị tái chiếm bởi quân VNCH ngày 22/8. Tuy nhiên, thất bại tệ hại nhứt của VNCH vẫn chưa đến (was yet to come), khi vào đầu tháng Tám, sđ quân csbv, đã ở từ trước tại thung lũng Quế Sơn, phía nam của Đà Nẳng, từ tháng Ba, đã chuyển qua thế công, và vào ngày 19, đã chiếm quận lỵ Quế Sơn và căn cứ Ross, cách quận hai dặm. Tin cho biết trung đoàn VNCH này đã rút chạy trong hoảng loạn, bỏ lại 40 súng, và nhiều trang bị khác. Quế Sơn thất thủ đã mở đường tới Đà Nẳng, giờ đây bị liên tục pháo kích. Một cuộc phản công mà chủ lực là BĐQ, đã vào ngoại vi của quận lỵ Quế Sơn ngày 25. Vào 1/9, quận lỵ đã được quân chánh phủ làm chủ, và căn cứ Ross được tái chiếm hôm 8. Trong trường hợp này, quân VNCH đã phản ứng nhanh chóng để rửa hận." . . .
Dịch từ trang 172 của The Wars In Vietnam by Edgar O'Ballance.

Nguồn: Joseph Nye, “Putin’s Rules of Attraction“, Project Syndicate, 12/12/2014.
Biên dịch: Phan Việt Hưng | Biên tập: Bùi Thu Thảo
Hành động gây hấn ngầm của Tổng thống Nga Vladimir Putin ở Ukraina vẫn tiếp tục và các biện pháp trừng phạt của phương Tây đối với Nga cũng vậy. Tuy nhiên nền kinh tế không phải là thứ duy nhất đang bị đe dọa; quyền lực mềm của Nga đang bị suy yếu, với những hậu quả có tiềm năng gây tổn hại tới đất nước.
Một đất nước có thể buộc các nước khác thúc đẩy lợi ích của mình bằng 3 cách chính: thông qua ép buộc, mua chuộc, hay thu hút. Putin đã cố gắng ép buộc và gặp phải các biện pháp trừng phạt ngày càng cứng rắn. Thủ tướng Đức Angela Merkel, người đối thoại chính của châu Âu với Putin, đã bày tỏ sự thất vọng về chính sách của Nga đối với Ukraine bằng những lời lẽ ngày càng gay gắt.
Cho dù những hành động của Putin ở Ukraine có mang lại lợi ích ngắn hạn gì đi nữa thì chúng cũng không thể đủ bù đắp cho (thiệt hại trong) dài hạn, khi mà Nga mất quyền tiếp cận với các công nghệ của phương Tây mà nước này cần để hiện đại hóa nền công nghiệp và mở rộng thăm dò năng lượng tại các vùng Bắc Cực xa xôi.
Với một nền kinh tế Nga trì trệ, Putin sẽ ngày càng khó khăn trong việc sử dụng công cụ quyền lực thứ hai: mua chuộc. Ngay cả dầu mỏ và khí đốt – những tài nguyên quý giá nhất của Nga – cũng không thể cứu vãn nền kinh tế, điều này đã được chứng minh bởi thỏa thuận gần đây của Putin về việc cung cấp khí đốt cho Trung Quốc trong 30 năm với giá rẻ.
Chỉ còn lại sự thu hút – một nguồn quyền lực mạnh mẽ hơn người ta tưởng. Trung Quốc là một ví dụ, nước này vẫn đang sử dụng quyền lực mềm để gây dựng một hình ảnh ít đe dọa hơn – một hình ảnh mà họ hy vọng sẽ làm suy yếu, và thậm chí ngăn chặn, những liên minh đang xuất hiện để đối trọng với sức mạnh kinh tế và quân sự đang nổi lên của họ.
Quyền lực mềm của một đất nước dựa trên ba nguồn chính: một nền văn hóa hấp dẫn, các giá trị chính trị mà nó kiên định ủng hộ, và chính sách đối ngoại thấm nhuần tính đạo đức. Thử thách nằm ở việc kết hợp ba nguồn lực này với các tài nguyên quyền lực cứng như sức mạnh kinh tế và quân sự để chúng có thể bổ trợ cho nhau.
Mỹ đã thất bại trong việc đạt được sự cân bằng này trong cuộc xâm lược Iraq năm 2003. Trong khi sức mạnh quân sự Mỹ đủ để đánh bại quân đội của Saddam Hussein một cách nhanh chóng, nó đã gây nên sự sụt giảm sức hút của Mỹ tại nhiều nước khác. Giống như vậy, việc thành lập Học viện Khổng tử ở Manila để dạy người Philippines về văn hóa Trung Quốc có thể giúp gây dựng quyền lực mềm của Trung Quốc, tuy nhiên ảnh hưởng của việc này sẽ bị hạn chế sâu sắc nếu Trung Quốc cùng lúc sử dụng quyền lực cứng của họ để bắt nạt Philippines trong tranh chấp bãi cạn Scarborough.
Vấn đề của Nga là họ có quá ít quyền lực mềm để có thể sử dụng. Thật vậy, như nhà phân tích chính trị Sergei Karaganov đã lưu ý vào năm 2009, sự thiếu hụt quyền lực mềm chính là thứ đã khiến cho Nga hành xử một cách hung hăng – như trong cuộc chiến với Gruzia vào năm 2008.
Chắc chắn là trong lịch sử, Nga từng có một quyền lực mềm đáng kể, do nền văn hóa của họ có đóng góp to lớn đối với nền nghệ thuật, âm nhạc và văn học. Hơn nữa, ngay sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Liên Xô trở nên hấp dẫn đối với nhiều người ở Tây Âu, phần lớn nhờ vào sự lãnh đạo của họ trong cuộc chiến chống phát xít.
Nhưng những người Liên Xô đã lãng phí những quyền lực mềm này bằng việc xâm lược Hungary năm 1956 và Tiệp Khắc năm 1968. Đến năm 1989, họ chỉ còn lại chút ít quyền lực mềm. Bức tường Berlin không sụp đổ dưới sự oanh tạc của pháo binh NATO, mà dưới tác động của những chiếc búa và máy ủi đất của những người đã thay đổi suy nghĩ của họ về hệ tư tưởng Xô-viết.
Giờ Putin đang phạm phải sai lầm giống như những bậc tiền nhân thời Xô-viết của ông. Dù đã tuyên bố vào năm 2013 rằng nước Nga nên tập trung vào việc “vận dụng khôn khéo” quyền lực mềm, Putin đã không thể tận dụng được cú hích quyền lực mềm dành cho nước Nga khi tổ chức Thế vận hội Mùa đông 2014 tại Sochi.
Thay vào đó, ngay khi Thế vận hội đang diễn ra, Putin đã phát động một cuộc can thiệp quân sự bán bí mật vào Ukraine, hành động này cùng với việc ông nói về chủ nghĩa dân tộc Nga đã gây ra mối lo ngại mạnh mẽ, nhất là ở các nước thuộc Liên Xô cũ. Điều này đã hủy hoại chính mục tiêu được Putin tuyên bố là xây dựng một Liên minh Á – Âu do Nga đứng đầu để cạnh tranh với Liên minh Châu Âu.
Với việc rất ít người nước ngoài xem phim Nga, và chỉ có một trường đại học của Nga đứng trong top 100 thế giới, Nga có rất ít lựa chọn để lấy lại sức hấp dẫn của mình. Vì vậy, Putin đã quay sang sử dụng việc tuyên truyền.
Năm ngoái, Putin đã cải tổ lại cơ quan thông tấn RIA Novosti, sa thải 40% số nhân viên, gồm cả ban quản trị tương đối độc lập của họ. Trong tháng 11, lãnh đạo mới của cơ quan thông tấn là Dmitry Kiselyov đã thông báo về việc thành lập “Sputnik”, một mạng lưới các trung tâm tin tức được chính phủ tài trợ tại 34 nước, với 1.000 nhân viên sản xuất các nội dung phát thanh, truyền thông xã hội, và tin tức qua Internet bằng tiếng bản địa.
Nhưng một trong các nghịch lý của quyền lực mềm là việc tuyên truyền thường phản tác dụng do chúng thiếu đi độ tin cậy. Trong Chiến tranh Lạnh, các cuộc giao lưu văn hóa mở – như Hội thảo Salzburg, cho phép giới trẻ giao lưu với nhau – đã chứng minh rằng tiếp xúc giữa nhân dân mang lại nhiều ý nghĩa hơn.
Ngày nay, phần lớn quyền lực mềm của Mỹ được tạo ra không phải bởi chính phủ mà bởi xã hội dân sự, bao gồm các trường đại học, tổ chức và nền văn hóa đại chúng. Thật vậy, xã hội dân sự không bị kiểm duyệt của Mỹ, và sự sẵn sàng chỉ trích các nhà lãnh đạo, cho phép đất nước bảo tồn quyền lực mềm của mình ngay cả khi các nước khác không đồng ý với các hành động của chính phủ Mỹ.
Giống như vậy, ở Vương quốc Anh, đài BBC giữ được uy tín của mình vì họ có thể chỉ trích chính phủ – những người trả tiền cho họ. Tuy nhiên Putin vẫn nhất quyết hạn chế vai trò của các tổ chức phi chính phủ và xã hội dân sự.
Có thể Putin hiểu rằng quyền lực cứng và quyền lực mềm bổ sung cho nhau, nhưng ông vẫn tỏ ra bất lực trong việc áp dụng sự hiểu biết này vào các chính sách. Do vậy, nếu không dùng cách ép buộc hay mua chuộc, khả năng thu hút các quốc gia khác của nước Nga sẽ tiếp tục suy giảm.
Joseph S. Nye, cựu trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ và cựu chủ tịch Hội đồng Tình báo Quốc gia Mỹ, là giáo sư tại Đại học Harvard và là thành viên của Hội đồng Nghị sự Toàn cầu về Tương lai của Chính phủ thuộc Diễn đàn Kinh tế Thế giới. Gần đây nhất, ông là tác giả của cuốn sách Presidential Leadership and the Creation of the American Era [Lãnh đạo của Tổng thống và sự sáng tạo nên kỷ nguyên Mỹ].