Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Thursday, January 14, 2021
Wednesday, January 13, 2021
Tiền đã lưu thông trong hệ thống ngân hàng Mỹ như thế nào ?
. . .
Mỗi ngày làm việc trong tuần , lúc 11:15 sáng , ngân hàng dự trữ liên bang (Federal Reserve Bank , gọi tắt là Fed) của New York - nhận chỉ thị từ tổng hành dinh của Fed đặt tại Washington , D.C. - để mua các chứng khoán/CK (securities) của CP từ các ngân hàng (NH) và công ty môi giới (brokerage house) lớn ; và bán một số - thường là tín phiếu kho bạc (treasury bill) Mỹ , có giá trị/hiệu lực như trái phiếu/giấy ghi nợ (promissory note) của CP .
Ví dụ hôm nay Fed mua 100 triệu đô tín phiếu kho bạc từ các công ty lớn về môi giới , (các cty này) dự trữ rất nhiều để trao đổi với công chúng . Khi Fed trả tiền cho các công ty môi giới này , 100 triệu đô sẽ được thêm vào nguồn tiền của quốc gia , bởi số tiền này sẽ được ghi (will be credited) vào các NH của họ - giờ đây tiền ký gửi có nhiều hơn .
Nhưng Fed đã lấy 100 triệu từ đâu ?
"Chúng tôi đã tạo ra nó," một viên chức Fed nói . Có nghĩa là , mỗi lần NH trung ương viết một check , nó đã tạo ra tiền . "Dù trước đó tiền này KHÔNG tồn tại " ông nói .
Có hạn chế gì ko ?
"Không hạn chế . Chỉ dựa vào phán đoán đúng và lương tâm của nhân viên có trách nhiệm của Fed."
Và họ có thẩm quyền này từ đâu ?
"Được ủy thác (delegate) cho họ theo Federal Reserve Act năm 1913 , dựa trên Khoản I , điều 8 của Hiến pháp . "Quốc hội có quyền . . . in tiền , điều chỉnh giá trị của nó . . . "
Giờ đây hảy xem đồng tiền này của Fed đã giúp cho hệ thống NH thương mại của chúng ta tạo thêm nhiều tiền hơn .
Fed yêu cầu các NH phải trích/để riêng (put aside) 1 phần tiền ký gửi (deposit) của khách hàng làm dự trữ (reserve) . VD tỉ lệ là 10/100 - như vậy mỗi 1.000 đô ký gửi , NH phải giử lại 100 đô để làm dự trử nhưng có thể cho vay phần lại , nghĩa là 900 đô .
Trong sổ sách của NH , 900 đô này được xếp vào tài sản (asset) , hưởng lời cho tới khi trả hết (pay off) . Khách hàng vay 900 đô , ví dụ để mua 1 xe cũ với giá 900 đô . Người bán xe ký gửi check 900 đô vào NH của ông ta , lúc đó (NH) có thêm 900 đô dự trữ (additional $900 in reserve) và có thể cho vay 90/100 của số tiền đó - 810 đô . Và tiếp tục như vậy đến khi 1.000 đô ban đầu bỏ vào (original $1.000 put into) một NH nào đó có thể cho phép hàng chục NH cho vay tổng cộng 9.000 đô.
. . .
(Dịch từ trang 83-84 của Nat Geo Jan 1993) .
NHẬN XÉT : Tôi không rỏ hệ thống NH của VN ngày nay hoạt động thế nào nhưng điều tôi biết chắc rằng : dân ko tin tưởng vào NH - trong khi người dân miền Nam đã tin tưởng vào hệ thồng NH của chế độ cũ , đã hoạt động bình thường cho tới khi Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng . Hơn nữa , số giám đốc NH bây giờ đi tù , nhiều "như quân Nguyên" đến nỗi không ai nhớ tên họ .
San Jose ngày 13/1/16 lúc 1:54 PM .
CÓ AI BIẾT . . . TRUNG ÚY LƯU LẬP TRUNG, Khóa 6/68 THỦ ĐỨC, Trưởng ban 4 Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân... chồng của BĐQ HỒ THỊ MỸ HƯƠNG???!!!
Tuesday, January 12, 2021
Bãi biển Non Nước: Một kết thúc tức tưởi, oan nghiệt
MX Lê Đình Đơn
Khoảng giữa tháng 3 năm 1975 Lữ Đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) với các Tiểu Đoàn 2, Tiểu Đoàn 6 và Tiểu Đoàn 9 di chuyển đến Thường Đức, Đà Nẵng để thay thế các đơn vị Nhảy Dù. Cổ Thành và các vị trí đóng quân ở phía Tây Quốc Lộ 1 bàn giao lại cho Biệt Động Quân và các Tiểu Đoàn Địa Phương Quân trấn giữ.

Nhìn đoàn quân xa chuyển quân cùng các đơn vị Truyền Tin, Pháo Binh nối đuôi nhau theo Quốc Lộ 1 (QL1 ) xuôi Nam người dân Quảng Trị đã thảng thốt kêu lên: Thủy Quân Lục Chiến rút khỏi Quảng Trị rồi! Đường từ thị xã Huế đến chân đèo Hải Vân đông nghẹt xe cộ. Những chiếc xe đò chất đầy khách trong xe, đồ đạc cao ngất ngưởng trên mui, đang hối hả, chen chúc, chờ qua đèo.

Đại đội của tôi được lệnh sẽ thay thế vị trí đóng quân của đại đội Nhảy Dù đang trấn đóng ở cao điểm 1062.

Đoàn xe đưa chúng tôi đến điểm đổ quân ngay trên con đường ủi sát chân núi chạy dài theo hướng Tây Nam mà từ xa đã nhìn thấy. Từ đó chúng tôi sẽ di chuyển theo con đường này cho đến khi gặp đơn vị Dù. Báo cáo xuống xe, bố trí, chờ lệnh di chuyển, thì ngay tức khắc địch quân đã chào đón bằng những tràng thượng liên dòn dã cùng những quả súng cối rải rác rất gần. Bám theo từng mô đá, bụi cây sát chân núi, đại đội di chuyển thật chậm, nắng chiều đã tắt, địch ngưng bắn, chúng tôi đến được điểm đóng quân thì trời đã tối.
Tôi cho đại đội bố trí dọc theo đường tiến quân, vào gặp đại đội trưởng để nhận vị trí bàn giao. Đại đội trưởng Đại Đội 2 Tiểu Đoàn 6 Dù là một niên trưởng khóa 22 VKTĐ. Thật nhanh, anh cho tôi biết đã chuẩn bị sẵn những liên lạc viên của 15 vị trí để thay thế cùng những cao điểm trọng yếu đã được đánh dấu trên bản đồ. Anh nói: “Tôi biết quân số đại đội của bạn dư sức để trám tuyến đại đội của tôi và anh cũng cho biết thêm với kinh nghiệm hoán đổi nhau nhiều lần ở đây, địch quân lúc nào cũng sẵn sàng rình rập tìm cơ hội phản công, đặc biệt là những lần đổi quân.”
Các trung đội, từng toán lần lượt theo liên lạc viên đến vị trí bàn giao với lời dặn : việc trước tiên là phải báo động tại vị trí tác chiến, không được làm gì khác, quan sát động tĩnh, canh gác cẩn thận đề phòng địch tấn công bất ngờ. Một cao điểm vô cùng quan trọng ở xa, là nơi địch luôn quấy phá, được tăng cường gấp đôi quân số (14 người ) có máy truyền tin được giao cho trung sĩ Điểu, một hạ sĩ quan dày dạn kinh nghiệm đảm trách.
Bàn giao hoàn tất, người đại đội trưởng Dù bắt tay từ giã “Chúc bạn may mắn, chúng tôi được lệnh về Sàigòn” . Người về hậu phương yên bình, kẻ vào vùng binh lửa hiểm nguy đối với chúng tôi quá quen thuộc. Biết bao lần hoán đổi như thế này trong những ngày tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị giữa các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) với nhau và giữa TQLC và Nhảy Dù.
Nhưng người niên trưởng Dù không về Sàigòn như anh nói, đơn vị của anh đổ vào Khánh Dương, Nha Trang, quần thảo khốc liệt cùng địch quân và anh may mắn thoát hiểm trở về được Vũng Tàu gặp lại tôi khi đại đội tôi chịu trách nhiệm tuần tiễu thị xã Vũng Tàu.
Tiểu Đoàn 6 TQLC đóng giáp tuyến với tôi về phía Tây Nam đụng nặng. Địch quân tấn công mỗi đêm. Người bạn cùng khóa Võ Đăng Tâm vào được tần số nội bộ của đại đội tôi cho biết “tình hình không được sáng sủa, mày với tao ráng giữ liên lạc để có gì còn cứu nhau!”. Tôi cho biết tình hình chỗ tôi vẫn yên tĩnh, địch cố bám sát, thăm dò nhưng bị phát giác, giao chiến nhỏ rồi rút lui, không có tổn thất. Tuy nhiên chúng nhảy vào tần số truyền tin của mình khiêu khích, tuyên truyền, hăm doạ, mặc dù mình thay đổi tần số nhiều lần vẫn bị chúng bám theo. Trong những giờ phút thật rảnh rang chờ địch, bỗng dưng chợt nhớ: hôm nay là ngày 27 tháng 3, sinh nhật của người mình thương yêu! Thật buồn! Nhưng biết làm sao bây giờ!
Người hiệu thính viên báo cáo tiểu đoàn vừa ra lệnh tất cả các đại đội sẵn sàng giấy bút nhận công điện. Nghe và ghi chép thật kỹ, không được gọi lại hỏi tới, lui! Tôi linh cảm sẽ có chuyện quan trọng xảy đến. Công điện nhận được gần nửa trang giấy. Chi tiết của một Lệnh rút quân!
Tuyến phòng thủ Tiểu Đoàn 6 TQLC lại đụng nặng, tôi nghe được tiếng đạn nổ liên tục. Tôi cũng biết pháo binh, không yểm rất khó khăn, hạn chế trong lúc này!
Còn 2 tiếng nữa đúng giờ G, tôi sẽ kéo Trung Đội 2 ở xa nhất về đại đội. Khó khăn nhất là vị trí của trung sĩ Điểu. Địch từ những cao điểm gần đó luôn canh chừng, theo dõi, quấy phá, để tìm cách nhổ cho được trọng điểm tiền đồn này. Phải làm cách nào để địch không phát giác được. Chỉ có cách duy nhất là dùng liên lạc viên để chuyển lệnh đến từng trung đội trưởng rồi cứ theo đó tiến hành, tuyệt đối không được dùng máy truyền tin. Còn vị trí của trung sĩ Điểu đành phải bỏ lại lều chõng!
Thời gian như dài thêm từng giây phút từ lúc trung đội 2 bắt đầu di chuyển. Sự yên lặng, căng thẳng hiện trên từng khuôn mặt, bất cứ một tiếng súng nổ nào từ hướng đó là dấu hiệu kế hoạch rút quân bị lộ.
Tôi thở dài nhẹ nhõm khi người khinh binh trung đội 2 vừa đến tuyến đại đội. Xiết chặt tay Th/u Lê Kim Minh Cảnh, người trung đội trưởng trẻ nhưng quá phong trần, đêm nào cũng trắng đêm chờ địch tại giao thông hào, tôi cho trung đội vượt qua đại đội bố trí tại điểm tiếp tế chờ đại đội.
Trung đội 3 của Ch/u Hào cũng đã đến trám vị trí đại đội.
Bây giờ Trung đội 1 của Th/u Lê Viễn Hồng trở thành tuyến đầu, sẵn sàng khi có lệnh sẽ đoạn hậu, rồi nối đuôi theo đại đội. Tôi cũng đã chuẩn bị sẵn toán quân sẽ quay ngược lại chiến đấu cùng Trung đội 1 và đại đội sẽ phòng thủ chu vi tại điểm tiếp tế để chờ Trung đội 1 nếu bị tập kích.
Rất may, đúng theo lệnh rút quân, toàn bộ đại đội rút ra khỏi vùng đóng quân suông sẻ. Giờ đây nếu đối mặt giao chiến với địch quân, tôi có toàn bộ đại đội để đánh nhau chứ không phải phân tán hơn 15 vị trí, mỗi một vị trí chỉ khoảng 8 đến 10 người!
Rời vị trí đóng quân được khoảng 3 cây số thì được lệnh tiểu đoàn tìm một chỗ đóng quân gần đường rồi gởi số nhà về tiểu đoàn. Qua đêm, tình hình vô sự, chúng tôi được lệnh tiếp tục di chuyển về Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn (BCHLĐ) 369.
Đến chiều vượt qua vị trí đóng quân của đại đội Trương Chí Công Tiểu Đoàn 9 đang giữ mấy khẩu pháo dọc theo đường. Thấy tôi anh nói : “Anh chơi vậy, chơi với ai, đi trước bỏ đàn em ở lại.” Nhưng đấy chỉ là giỡn chơi với nhau mà thôi. Cảnh gặp nhau như thế này, kẻ ở lại chịu trận, người rút ra vùng an toàn đối với chúng tôi như một chấp nhận rất tự nhiên. Thản nhiên như đến phiên trung đội lãnh trách nhiệm đi đầu trong thời gian hành quân ở Giồng Trôm, Kiến Hòa. Mìn bẫy khắp nơi, dẫm theo bước chân người khinh binh mở đường mà đi. Chệch một bước chân có thể đạp lên khối nổ của trái đạn 105 ly.
Đại đội đến BCHLĐ 369 thì trời vừa sập tối. Toàn bộ lữ đoàn đã di chuyển. Tôi được lệnh đóng quân tại vị trí BCHLĐ. Vừa hoàn tất rải quân trám tuyến phòng thủ thì được báo Tiểu Đoàn 9 đang đến. Tôi gặp Tân An (Đ/u Đoàn Văn Tịnh) Trưởng Ban 3 Tiểu Đoàn 9. Anh nói “bạn sắp di chuyển, cho tôi gởi mấy thằng em theo, tụi nó bị thương đi không nổi.” Tôi nói chưa được lệnh, thì lập tức ngay sau đó tiểu đoàn báo sẵn sàng tại chỗ, xe sẽ đón ra Đà Nẵng.
Ngày 29 tháng 3 năm 1975
Xe chạy suốt đêm, vào thành phố Đà Nẵng khoảng 3 giờ sáng. Tiểu đoàn cho biết tôi sẽ gặp tiểu đoàn tại bãi biển Non Nước.
Cầu Trình Minh Thế đã bị giật sập, chúng tôi phải lên tàu nhỏ để đến bãi biển. Khi đại đội tập trung đầy đủ thì trời vừa sáng. Trời càng sáng tỏ, tôi thảng thốt khi nhìn thấy suốt dọc theo bãi biển đông nghẹt là người! Quân lính đủ mọi binh chủng, dân chúng đông không đếm xuể.

Có một chiếc tàu cặp sát bờ khoảng 100 mét đang kéo một số người lên tàu bằng lưới, xong từ từ lui ra biển. Trên bờ số đông nhốn nháo đang lội theo, một đợt sóng lớn dập tới đánh bật mọi người té lăn trở lại bãi!

Một chiếc thiết vận xa chìm nghỉm còn nhô pháo tháp cách bờ khoảng 100 mét, sợi giây thừng từ pháo tháp kéo vào bờ vẫn còn dập dềnh trên mặt nước.
Tàu đã rời xa bãi biển, thả neo, im lìm, bất động.
Người trong bờ ngóng nhìn, mong đợi!
Một chiếc trực thăng xuất hiện, đảo một vòng bãi biển, ai cũng thấy rõ phi công ở trần, mặc quần đùi. Trực thăng bay thấp gần tàu, cả phi công và trực thăng đều lao xuống biển!
Đại bác 130 ly đã pháo tới. Đạn rớt ngoài biển, trên bờ ,mọi người chạy tới, chạy lui vô cùng hỗn loạn.
Tôi nhìn thấy Đại Bàng Phúc Yên ( Trung tá Nguyễ Xuân Phúc ) LĐT/LĐ369. Đại Bàng Thái Dương ( Trung tá Đỗ Hữu Tùng ) LĐP/LĐ369. Đại Bàng Hà Nội (Thiếu tá Trần Văn Hợp ) TĐT/TĐ2 đang ngồi trên bãi biển, cạnh một chiếc xe jeep, đang viết, vẽ những gì trên bãi cát. Tôi tiến lại gần chào, các vị ngẩng đầu nhìn tôi im lặng.
Tôi đã từng phục vụ dưới quyền chỉ huy của Đại Bàng Thái Dương khi ông giữ chức vụ Tiểu đoàn phó Tiểu Đoàn 5. Đại đội tôi có lần về trình diện Đại Bàng Phúc Yên để nhận trách nhiệm phòng thủ Lữ Đoàn. Cho nên cả hai vị đều biết tôi.
“Thưa Thiếu tá, pháo đã bắn tới nơi, xin cho tôi đem đại đội đi tìm chỗ bố trí!”
Cả 3 vị đều im lặng, cho đến khi Thiếu tá Hợp bảo tôi: “Ông muốn làm gì thì làm!”
Bây giờ thì tôi đã hiểu rõ. Tàu sẽ không bao giờ vào bờ để đón người nữa vì sóng gần bờ quá lớn. Người phải bằng cách nào ra tới ngoài kia, nơi tàu đang bỏ neo để lên tàu!
Tôi nhìn đại đội vẫn còn đang tập họp trong đội hình để chờ lên tàu mà ứa nước mắt. Bao nhiêu gian khổ, khó nhọc, còng lưng để mang đủ vũ khí, đạn dược, mặt nạ, áo giáp…một chốc nữa đây sẽ vất bỏ tất cả xuống biển.
Từng toán trở ngược lại phi trường Non Nước để lấy ruột xe làm phao. Có toán đi dọc theo biển đến xóm chài đế tìm thuyền.
Trên mặt biển nhấp nhô không biết bao nhiêu người. Pháo đã được điều chỉnh chính xác hơn. Tiếng kêu la, than khóc vang dội!

Trung úy Hiền rủ tôi tìm phao bơi ra tàu. Tôi nói tàu xa quá tôi chỉ biết bơi bì bõm chắc ra không nổi! Anh bảo “ đừng lo, tôi sẽ cột phao ông chung với phao tôi, tôi là dân miền biển bơi rất giỏi, chúng ta sẽ bơi được ra tới tàu.” Chúng tôi 4 người, Tôi,Tr/u Hiền, Dũng, Nam, đi dọc theo bãi biển về phía xóm chài, xa chỗ tập trung đông người khoảng hơn cây số thì gặp một anh công binh TQLC đang loay hoay với chiếc xuồng đã bị lật úp gần bờ. Anh đang cố gắng lật trở lại nhưng không nổi. Chúng tôi phụ lật trở lại, tát nước và kéo lên bờ. Anh cho biết sáng nay toán công binh 6 người dùng xuồng để ra biển nhưng mấy lần không qua nổi đợt sóng gần bờ, lần nào cũng bị sóng đánh lật úp! Các bạn của anh nản chí đã bỏ đi hết rồi!
Chúng tôi rủ anh mình làm thử lần nữa biết đâu thoát được. Cũng may, ngoài tôi ra ai cũng bơi rất giỏi. Tất cả đồng ý cho tôi lên trước ngồi ở giữa xuồng, còn lại mỗi bên 2 người, bơi đẩy xuồng cố gắng vượt qua được đợt sóng lớn rồi mới lên xuồng. Sóng dập mạnh phủ chụp lên xuồng, con xuồng lắc lư sắp lật mấy lần, nhưng nhờ các anh kềm nổi, chúng tôi qua được đợt sóng lớn, tất cả reo lên: thoát rồi! Cả bọn thi nhau tát nước, mỗi bên một chèo, thay phiên chèo tay hướng về tàu, anh công binh thì cố gắng để sửa máy tàu.
Trời đã về chiều, khoảng cách đến tàu còn quá xa. Nhưng lại một lần nữa, sự may mắn lại đến với chúng tôi, cuối cùng máy đã nổ, chiếc xuồng phăng phăng lướt sóng đến tàu.
Lên được tàu, chúng tôi được hướng dẫn thẳng xuống hầm tàu đã đông nghẹt lính. Chỉ khác với chúng tôi, họ còn quân phục chỉnh tề, giày trận đầy đủ. Tôi không biết họ lên tàu lúc nào và bằng cách nào!
Xa xa nhấp nhô trên mặt biển rất nhiều người đang ôm phao bơi đến. Những chiếc thuyền nhỏ không biết phát xuất từ nơi nào trên bãi biển, đưa người ra tàu rồi quay trở lại để tiếp tục làm chuyến khác. Đèn pha trên tàu bật sáng cả một vùng biển, là cái đích để mọi người đang bơi trên biển tìm tới.
Cho đến khuya thì không còn thấy ai nữa!
Tàu nhổ neo xuôi Nam. Bãi biển Non Nước, thành phố Đà Nẵng xa khuất dần cho đến khi mất hẳn!
Bộ đồ trận thấm ướt nước biển đã khô, toàn thân vô cùng ngứa ngáy khó chịu. Tôi được cho vào phòng tắm để tắm rửa, giặt bộ đồ duy nhất để mặc lại. Các bạn Hải Quân trên tàu đã lo cho mọi người thật chu đáo, từ ăn uống, tắm rửa, vệ sinh với một số người quá đông đảo. Tôi và Hiền len lỏi trong đám đông người để tìm kiếm có ai trong đại đội, tiểu đoàn lên được tàu. Tôi gặp Trần Đình Công ĐĐT/ĐĐ4, tôi hỏi người bạn cùng khóa: “mày có gặp được ai khác?”. Có Đại úy Nghiêm ĐĐT/ĐĐCH và Thiếu tá tiểu đoàn trưởng. Nó đã quần khắp mọi nơi tìm kiếm nhưng không còn ai khác!
Tiểu đoàn 2 TQLC đã tan tác rồi! Không đánh nhau mà tan hàng trong nỗi cay đắng, uất nghẹn!
Trên đường từ Thường Đức di chuyển ra Đà Nẵng, Trung úy Thanh ĐĐT/ĐĐ1 liên lạc với tôi nhờ báo với tiểu đoàn là đại đội của anh lạc mất tiểu đoàn và giờ này còn kẹt trong núi. Anh đã cố gắng liên lạc với tiểu đoàn và các đại đội khác mà không được. Tôi báo ngay cho tiểu đoàn biết và liên lạc nhiều lần với anh sau đó nhưng không được!
Thiếu tá Tiểu đoàn phó, Đại úy Huỳnh Văn Trọn ĐĐT/ĐĐ5 chắc còn kẹt lại trên bãi biển.
Tàu đổ xuống quân cảng Cam Ranh tiếp nhận tân binh, vũ khí, quân trang, quân dụng.
Tiểu đoàn 2 TQLC bây giờ chỉ có tiểu đoàn trưởng, trưởng ban 3 và 2 đại đội trưởng.
Bãi biển Non Nước: Một kết thúc tức tưởi, oan nghiệt!

MX Lê Đình Đơn
Monday, January 11, 2021
Huỳnh Ngọc Thương dấn thân vào Biệt Kích Quân
Lâm Hoài Thạch
(NV) – Những Biệt Kích Quân có nhiệm vụ đi nhảy toán ngoài biên giới. Họ còn được danh xưng là Biệt Kích Lôi Hổ. Nhiệm vụ của họ chỉ đi lẻ tẻ từ bốn đến sáu người vào lòng địch để thu thập tin tức, chiếm giữ tài liệu hay bắt sống địch quân.

Họ là những chiến sĩ vô danh, những bóng ma biên giới, một lần đi không hẹn ngày về! Nhưng nhiệm vụ ấy vẫn thôi thúc nhiều chàng trai trẻ tham gia, trong đó có ông Huỳnh Ngọc Thương.
Năm 1965, ở tuổi 19, chàng trai Huỳnh Ngọc Thương tình nguyện vào đơn vị Biệt Kích Quân của Hoa Kỳ đóng ở căn cứ Mỹ tại Phú Bài (FOB-1) còn gọi là đơn vị Tiền Danh 1 là một trong năm căn cứ tiền danh của FOB (Forward Operating Base).
Sở dĩ ông chọn Phú Bài vì nơi này thuộc Huế, là nơi ông sinh ra và lớn lên. Ngoài Tiền Doanh 1, FOB còn bốn căn cứ khác là FOB-2 đóng tại Non Nước, FOB-3 đóng tại Ái Tử, FOB-4 đóng tại Khe Sanh, và FOB-5 đóng tại Nông Sơn.
Ông Thương kể: “Lúc đó, tại FOB-1 Phú Bài, với sự chỉ huy của các sĩ quan như Đại Úy Ngụy Hiền, Đại Úy Đoàn Kim Tuấn, Đại Úy Lê Minh, Đại Úy Phạm Văn Hy, Trung Úy Nguyễn Cao Vỹ, Trung Úy Tống Hồ Huấn… Từ năm 1965, tại miền Nam đã từng xảy ra phong trào ‘phản chiến,’ vì một số dân miền Nam biểu tình chống các ông Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ và Trần Thiện Khiêm. Trước đó, tôi đang là một sinh viên y khoa (Đông y), nhưng bị bãi khóa vì biến động của phong trào ‘phản chiến,’ nên đường học vấn của tôi bị trở ngại.”
Khi chính phủ miền Nam ra lệnh tổng động viên, ông Thương rơi vào tài nguyên Sinh Viên Sĩ Quan Khóa 21 Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức, nhưng ông không nhập khóa này, vì ông đang là một Biệt Kích Quân.
Lúc đó, Bộ Chỉ Huy Biệt Kích Quân Lôi Hổ lập một danh sách để trình lên Bộ Quốc Phòng Miền Nam, nên những quân nhân này được Bộ Quốc Phòng cho miễn dịch lệnh tổng động viên, vì họ đang thi hành nhiệm vụ nhảy toán cho đơn vị Biệt Kích Quân Lôi Hổ. Vì thế, ông Thương được miễn tội là một sinh viên sĩ quan bất phục tùng của Nha Quân Pháp Miền Nam.

Những cuộc hành quân ban đầu
Biệt Kích Quân Huỳnh Ngọc Thương và đồng đội có rất nhiều cuộc hành quân ngoài biên giới miền Nam.
Ông kể: “Trong năm 1967, chúng tôi đã nhảy toán nhiều lần. Phần nhiều, điểm xuất phát là từ Nam Đông, Huế. Nơi này cũng có một căn cứ Biệt Kích của Hoa Kỳ yểm trợ cho chúng tôi. Từ căn cứ Nam Đông chúng tôi vượt biên sang Hạ Lào, Cambodia, nhiều nhất là ở vùng Tam Biên, Krachie. Trong những cuộc hành quân này, phần nhiều chúng tôi không nổ súng, vì nhiệm vụ toán Biệt Kích chỉ xông vào lòng địch để thám sát hoặc lấy tài liệu về cho bộ chỉ huy. Hơn thế nữa, nếu khi chạm địch, bắt buộc chúng tôi phải nổ súng, thì 90% chúng tôi không thể toàn vẹn trở về, vì địch quá đông mà toán chúng tôi cao nhất chỉ có sáu người.”
Ngoài ra, toán của ông cũng đã từng nhảy ra Bắc Việt.
“Đầu năm 1968, toán chúng tôi được lệnh nhảy xuống Quảng Bình. Lúc đó, tôi là trưởng toán cùng với năm đoàn viên. Vì địa điểm hành quân là một cồn cát ở Quảng Bình cập bên bờ sông Nhật Lệ, nên lực lượng Biệt Kích Hoa Kỳ đã trang bị cho chúng tôi những mặt nạ bằng nhựa có ống hơi để thở khi chúng tôi ẩn nắp dưới cồn cát. Trong cuộc hành quân này, toán Biệt Kích Quân xâm nhập bằng đường không vận lúc đêm tối trời. Đến khi trời sáng, vì sợ lộ diện nên chúng tôi phải đào hố để nằm dưới cát, và chỉ được thở bằng những ống hơi được ngụy trang như những ống cỏ gắn liền với mặt nạ đặc biệt này. Ngoài ra, chúng tôi còn được trang bị những loại thuốc đặc biệt dùng thoa lên quần áo và vũ khí để tránh muỗi hoặc tránh những mùi của quân trang mà loài chó thuộc Quân Khuyển của địch có thể phát giác,” ông kể tiếp.

“Mục tiêu gần một đồn Công An Biên Phòng của địch quân. Nơi này, chúng tôi phát hiện ra những chiến tàu Hải Thuyền của Hải Quân Bắc Việt, nhiệm vụ của những chiếc tàu này là xâm nhập vào Nam để tiếp tế cho quân Giải Phóng Miền Nam. Và, nhiệm vụ của chúng tôi là phải đặt mìn hoặc sử dụng súng cối M-60 để tiêu diệt đoàn Hải Thuyền của địch. Nhưng trong chuyến hành quân này chúng tôi không thành công. Sau đó, trung tâm hành quân Biệt Kích Lôi Hổ mới giao nhiệm vụ này cho đơn vị Biệt Hải, với sự chỉ huy của Hải Quân Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại,” ông kể thêm.
Khi nhắc đến đơn vị Biệt Hải của Biệt Kích Lôi Hổ, ông Thương chia sẻ: “Đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ lúc đó có năm sở, bao gồm Sở Liên Lạc có ba chiến đoàn, và Sở Công Tác có năm đoàn, gồm Đoàn 11, Đoàn 68, Đoàn 71, Đoàn 72 và Đoàn 75, những đoàn này đều có nhiệm vụ hành quân tác chiến như Sở Liên Lạc, và tôi thuộc Sở Liên Lạc. Sở thứ ba là Sở Tâm Lý Chiến, sở này gồm có hai đài radio, đó là ‘Đài Gươm Thiêng Ái Quốc’ và ‘Đài Mẹ Việt Nam.’ Thứ tư là Sở Không Yểm, trong đó có hai Phi Đoàn 219 và 110 được biệt phái cho Nha Kỹ Thuật để đi thả toán Biệt Kích Lôi Hổ. Sở thứ năm là Sở Phòng Vệ Duyên Hải trong đó có lực lượng Biệt Hải, lực lượng này khác với lực lượng Biệt Hải của Hải Quân.”
Gần cuối năm 1968, Không Quân Hoa Kỳ đưa toán của ông Thương gồm sáu người nhảy dù xâm nhập vào Đèo Ngang, Nghệ An, rồi từ đó toán của ông vượt biên sang Lào, với nhiệm vụ duy nhất là đặt mìn để tiêu hủy đoàn xe của địch trên đường di chuyển từ Bắc Việt xuống miền Nam theo đường biên giới của Lào.

Ông Thương kể: “Khi đến mục tiêu, chúng tôi được lệnh đặt hai trái mìn vô tuyến chỉ lớn bằng cục xà bông tại điểm đầu và điểm cuối cách nhau khoảng trên năm cây số để phá hoại đoàn xe này. Ngoài hai trái mìn vô tuyến ở hai đầu mục tiêu, chúng tôi còn phải đặt thêm nhiều mìn, mỗi trái mìn được cài đặt cách nhau khoảng 25-30 mét theo lối đăng chéo của hai bên đường. Tất cả những loại mìn này được điều khiển bằng đường vô tuyến, mà chỉ có bộ chỉ huy của lực lượng Biệt Kích Hoa Kỳ mới cho kích hoạt được.”
Khi xong nhiệm vụ đặt mìn thì trực thăng của Không Quân Hoa Kỳ đến “bốc” toán của ông về Bắc Xế, trên đất Lào. Khi đến Bắc Xế thì một sĩ quan vô tuyến của Hoa Kỳ cho ông Thương vào phòng kín có bày biện nhiều máy vô tuyến.
Ông Thương nói: “Vị sĩ quan Hoa Kỳ cho tôi xem trên màn ảnh vô tuyến để xác nhận những gì chúng tôi đã thực hiện trong chuyến công tác này. Không bao lâu, trên màn ảnh vô tuyến hiện ra đoàn xe của quân Bắc Việt đã hoàn toàn lọt trọn vào mục tiêu mìn bẫy của toán Biệt Kích Quân đã cài đặt. Vì hệ thống vô tuyến lúc đó con thô sơ, nên trên màn ảnh chỉ hiện ra hai chấm đỏ của hai trái mìn vô tuyến đặt tại hai đầu mục tiêu, và ngay khoảng giữa có nhiều vạch nhỏ màu trắng hiện ra, đó là đoàn xe của của địch. Ông sĩ quan vô tuyến Hoa Kỳ mới bấm vào một nút đỏ trên bàn điều khiển vô tuyến, thì những điểm đỏ và trắng trên màn ảnh bị nổ tung tóe trước khi bị xóa sạch. Sau đó vị sĩ quan này cho chúng tôi biết là mìn đã nổ và đoàn xe đã bị hủy.”
“Đến ba ngày sau, chúng tôi được lệnh tái xâm nhập mục tiêu để chụp hình và tịch thu những tài liệu quan trọng. Sở dĩ toán chúng tôi đến ba ngày sau mới xâm nhập vào mục tiêu, vì nếu đến ngay hiện trường thì có thể toán chúng tôi chạm địch khi chúng đang tải thương hay mang xác chết của bộ đội Bắc Việt đi nơi khác. Khi chúng tôi đến nơi thì xác của trên 10 chiếc xe đã bị hủy hoại vẫn còn đó, nhưng thây người và thương binh của họ đã chuyển đi nơi khác. Đây là sự thành công cuối cùng của tôi lúc còn là một Biệt Kích Quân,” ông Thương nhớ lại.

Được trở về nhiệm sở cũ
Năm 1968, sau trận chiến Mậu Thân, Huế, ông Huỳnh Ngọc Thương được lệnh về trình diện nhập khóa 4/69 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Nhập khóa vào đầu năm 1969, ra trường khoảng cuối năm 1969, với tổng số sinh viên sĩ quan trên 1,000 người.
Vì trước đó ông là một quân nhân của đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ, nên khi ra trường, một số sĩ quan chỉ huy tiền nhiệm của FOB-1 đến quân trường Thủ Đức đón tân Chuẩn Úy Huỳnh Ngọc Thương về đơn vị Sở Liên Lạc Biệt Kích Lôi Hổ. Lúc này, Sở Liên Lạc gồm có ba chiến đoàn. Quân số của một chiến đoàn có trên 1,000 Biệt Kích quân, và số sĩ quan, hạ sĩ quan có khoảng trên dưới 150 người. Những quân nhân này được liệt kê vào danh sách của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, với nhiệm vụ là chỉ huy, huấn luyện các đại đội xung kích của Lôi Hổ.
Ông Thương cho biết: “Khi tôi về trình diện đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ thì năm căn cứ của FOB đều được di chuyển về căn cứ FOB-2 tại Non Nước, Đà Nẵng. Địa danh này là CCN [CC có nghĩa là Trung Tâm Chỉ Huy và Kiểm Soát, N là North, là Bắc, cũng là trung tâm của Chiến Đoàn 1 Xung Kích Lôi Hổ] và hai căn cứ nữa đó là CCC ở Kon Tum [C có nghĩa là center, CCC là Trung Tâm Chỉ Huy Ở Vùng Trung (giữa)] thuộc Chiến Đoàn 2 Xung Kích Lôi Hổ, và tại Ban Mê Thuột là CCS [S là South, là vùng Nam] thuộc Chiến Đoàn 3 Xung Kích Lôi Hổ.”
Chuẩn Úy Thương thuộc Chiến Đoàn 1, dưới sự chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Tuấn Minh.

Theo ông Thương, mỗi chiến đoàn có một đại đội phòng vệ được gọi là Đại Đội C (công vụ), quân số trên 300 người để phòng thủ doanh trại; hậu cần về quân trang quân dụng, ẩm thực…, và hai Đại Đội A và B là hai đại đội tác chiến, mỗi đại đội với quân số trên 200 người. Ngoài ra, hai đại đội A và B còn những đơn vị trừ bị xung kích như A1, A2…, và B1, B2…
Những đơn vị trừ bị xung kích này, ngoài những chiến sĩ người Việt còn có những chiến sĩ người Nùng, người Thượng kể cả những người Cambodia hay người Lào… Những sĩ quan và các cán bộ huấn luyện các đại đội xung kích này gồm những người lo về văn phòng, hành chánh, truyền tin, huấn luyện… và họ còn nhiệm vụ đặc biệt là đi theo những toán nhảy vào lòng địch mỗi khi cần thiết.
Mỗi chiến đoàn cũng có những đơn vị hậu cần như những đơn vị của các quân, binh chủng khác như Phòng 1 lo về quân số, Phòng 2 lo về tình báo, Phòng 3 lo về hành quân, nhưng không có Phòng 4 lo về tiếp liệu, quân trang, quân dụng… vì tất cả những điều cần thiết này đều do đơn vị Biệt Kích Hoa Kỳ Green Beret (Mũ Xanh) yểm trợ tối đa. Ngoài ra, Chiến Đoàn 1 còn liên hệ với đơn vị Sở Tâm Lý Chiến ở Thanh Lam và Cồn Tẻ, Huế có đài radio được trực thuộc vào Đài Gươm Thiêng Ái Quốc và Đài Mẹ Việt Nam.

Trưởng toán Xung Kích Lôi Hổ thuộc Nha Kỹ Thuật
Sau Trung Tá Nguyễn Tuấn Minh thì Thiếu Tá Hồ Châu Tuấn về làm chỉ huy trưởng kế nhiệm của Chiến Đoàn 1 Xung Kích Lôi Hổ.
Chuẩn Úy Thương nói: “Sau này, Chiến Đoàn 1 CCN còn biệt danh là Chiến Đoàn 1 Xung Kích Sở Liên Lạc Nha Kỹ Thuật trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, do Sở Liên Lạc được sáp nhập với Nha Kỹ Thuật. Vì trước đó, Sở Liên Lạc là tiền đề Sở Liên Lạc của Phủ Tổng Thống dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Lê Quang Tung. Sau khi Đại Tá Tung quá vãng trong trận binh biến, thì Sở Liên Lạc này được tách rời ra ngoài và được thành lập Bộ Chỉ Huy Nha Kỹ Thuật. Bộ chỉ huy này có tiền nhiệm của chương trình OP-43, OP-45 (Operation Plan) của Hòa Kỳ.”
“Trước đó nữa, chương trình OP còn có ngụy danh là ‘Nha Khai Thác Điền Địa,’ sau đổi thành ‘Liên Đoàn Quan Sát Số 1,’ trong đó có danh hiệu Sở Bắc là tiền thân của Biệt Kích Lôi Hổ. Sau này, những cuộc hành quân Sở Bắc được hủy bỏ, vì có khoảng trên 30 toán hành quân Sở Bắc đều bị chính quyền Bắc Việt bắt giữ, trong đó có Đại Úy Luyện (người tù kiệt sức, bất khuất), Đại Úy Kiên (người tù điên),” ông nói thêm. (Lâm Hoài Thạch) [qd]
Kỳ cuối: Biệt Kích Lôi Hổ Huỳnh Ngọc Thương và những lần tham chiến
Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/huynh-ngoc-thuong-dan-than-vao-biet-kich-quan/



