Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Thursday, June 4, 2020
Trận Ấp Bắc (2 tháng 1, 1963) Ký ức của một quân y sĩ .
Lời nói đầu: Trận Ấp Bắc xẩy ra cách đây 40 năm, là một bại trận của Quân đội Quốc Gia. Vâng, một bại trận, vì không có một danh từ nào khác để đánh giá trận này. Quân Cộng sản do Hanoi điều khiển, xưa nay vẫn chỉ quen du kích chiến, đã giám đương đầu trong suốt một ngày với Quân đội Quốc Gia đông người và nhiều phương tiện hơn, đã thắng trận này và đã bảo toàn được lực lượng khi rút lui. Thất bại này của phe ta, hoàn toàn do sự bất tài bất lực của cấp chỉ huy. Lý do chính là việc dùng người của Tổng thống Ngô đình Diệm, không tin những ai thật sự yêu Nước và có khả năng, mà chỉ vì ưa nịnh và sợ đảo chính, đã cho giai cấp gia nô khiếp nhược nắm hầu hết chức vụ then chốt trong Quân đội. Trường hợp điển hình là việc điều quân một cách bết bát ngoài sức tưởng tượng trong trận Ấp Bắc, khiến chúng ta đáng lẽ thắng lớn, mà đành phải chịu thua một địch quân yếu hơn chúng ta nhiều. Trận Ấp Bắc còn có một ảnh hưởng chiến lược lớn lao: trước hết Ðồng minh Hoa Kỳ đánh giá lại khả năng của Quân đội Quốc Gia và mượn cớ này để sửa soạn đổ quân ào ạt vào miền Nam, điều mà chính Tổng thống Ngô đình Diệm không muốn chút nào! Thứ hai là bộ máy tuyên truyền của Hanoi mở hết tốc lực thổi phồng chiến thắng Ấp Bắc lên như một Stalingrad của phe Cộng sản, vận động tinh thần quân cán và gửi thêm nhiều người và khí cụ vào miền Nam từ sau trận này. Tôi viết bài này để tưởng nhớ đến những quân nhân của Quân đội ta đã hy sinh trong ngày 2 tháng 1 năm 1963 tại Tân Thới - Ấp Bắc vì họ đã không được chỉ huy, và đặc biệt 18 chiến binh của TÐ8ND đã cùng chúng tôi nhẩy xuống vùng đồng lầy nước đọng này chiều tối hôm đó, và đã bỏ mình một cách oan uổng vì sự kém cỏi cũng như tính toán ngu xuẩn của những người chỉ huy đương thời.
Trong bài này, đôi khi tôi ôn lại những kỷ niệm cũ không liên quan gì với đề tài chính, mong những mẩu chuyện ngoài đề đó giúp các chiến hữu đọc giả nhớ lại quãng đời chúng ta đội mũ đỏ phục vụ Quê Hương.
Lời nói đầu: Trận Ấp Bắc xẩy ra cách đây 40 năm, là một bại trận của Quân đội Quốc Gia. Vâng, một bại trận, vì không có một danh từ nào khác để đánh giá trận này. Quân Cộng sản do Hanoi điều khiển, xưa nay vẫn chỉ quen du kích chiến, đã giám đương đầu trong suốt một ngày với Quân đội Quốc Gia đông người và nhiều phương tiện hơn, đã thắng trận này và đã bảo toàn được lực lượng khi rút lui. Thất bại này của phe ta, hoàn toàn do sự bất tài bất lực của cấp chỉ huy. Lý do chính là việc dùng người của Tổng thống Ngô đình Diệm, không tin những ai thật sự yêu Nước và có khả năng, mà chỉ vì ưa nịnh và sợ đảo chính, đã cho giai cấp gia nô khiếp nhược nắm hầu hết chức vụ then chốt trong Quân đội. Trường hợp điển hình là việc điều quân một cách bết bát ngoài sức tưởng tượng trong trận Ấp Bắc, khiến chúng ta đáng lẽ thắng lớn, mà đành phải chịu thua một địch quân yếu hơn chúng ta nhiều. Trận Ấp Bắc còn có một ảnh hưởng chiến lược lớn lao: trước hết Ðồng minh Hoa Kỳ đánh giá lại khả năng của Quân đội Quốc Gia và mượn cớ này để sửa soạn đổ quân ào ạt vào miền Nam, điều mà chính Tổng thống Ngô đình Diệm không muốn chút nào! Thứ hai là bộ máy tuyên truyền của Hanoi mở hết tốc lực thổi phồng chiến thắng Ấp Bắc lên như một Stalingrad của phe Cộng sản, vận động tinh thần quân cán và gửi thêm nhiều người và khí cụ vào miền Nam từ sau trận này. Tôi viết bài này để tưởng nhớ đến những quân nhân của Quân đội ta đã hy sinh trong ngày 2 tháng 1 năm 1963 tại Tân Thới - Ấp Bắc vì họ đã không được chỉ huy, và đặc biệt 18 chiến binh của TÐ8ND đã cùng chúng tôi nhẩy xuống vùng đồng lầy nước đọng này chiều tối hôm đó, và đã bỏ mình một cách oan uổng vì sự kém cỏi cũng như tính toán ngu xuẩn của những người chỉ huy đương thời.
Trong bài này, đôi khi tôi ôn lại những kỷ niệm cũ không liên quan gì với đề tài chính, mong những mẩu chuyện ngoài đề đó giúp các chiến hữu đọc giả nhớ lại quãng đời chúng ta đội mũ đỏ phục vụ Quê Hương.
Thật tình cờ mà tôi lại dự trận Ấp Bắc chiều ngày mồng 2 tháng 1 năm 1963. Binh chủng Nhẩy dù hồi đó là lực lượng tổng trừ bị duy nhất của quân đội, chiến trận chưa đến nỗi sôi bỏng như các năm về sau, hoạt động địch quân hầu hết là du kích chiến hơn là trận điạ chiến. Lữ đoàn nhẩy dù năm 1963 gồm 5 Tiểu đoàn tác chiến cùng các đơn vị tiếp vận, đảm trách nhiệm vụ �lính cứu hỏa � cho toàn quốc, chỗ nào có chuyện gây cấn là được Tổng Tham Mưu gọi đi chữa cháy.
Ngoài những đơn vị đi hành quân xa, tại Saigon ngày nào cũng có 2 tiểu đoàn ứng trực: một tiểu đoàn trực hành quân bộ (ground alert), với một đoàn xe GMC đậu sẵn trong doanh trại, có lệnh là lên xe đi. Một tiểu đoàn trực hành quân không vận, được gọi là air alert : đơn vị ra nằm sẵn tại phi trường Tân sơn Nhất, khi hữu sự thì lên máy bay đi can thiệp những nơi dầu sôi lửa bỏng. Nếu từ sáng đến chiều không có chuyện gì xẩy ra, thì chúng tôi chỉ nằm dài bên cạnh những bộ dù được xếp ngay ngắn ngay tại sân bay, chúng tôi tán gẫu để giết thời giờ, đọc sách báo hay đôi khi đánh �boule� cũng gọi là �pétanque� (một trò chơi của quân đội Viễn chinh Pháp để lại) Binh sĩ TÐ1ND mà tôi làm y sĩ trưởng trong suốt 4 năm trời, rất chuộng trò chơi này. Họ còn đánh ăn tiền hay nhậu la ve hết giờ nọ qua giờ kia và những tay �thiện xạ� ném boule là nhũng chuyên viên uống bia Larue miễn phí. Hồi tôi mới về Dù, khu Chí hoà là nơi đóng quân của 3 đơn vị: cácTiểu đoàn 1, 3 và 6ND. Mỗi Tiểu đoàn có một sắc thái riêng biệt. TD1ND đa số là người gốc Miên, lính rất chì, rất trung thành, da sạm đen, huy chương và thâm niên công vụ đầy người. Hồi đầu tôi có cảm tưởng họ toàn anh em với nhau vì tên họ đều là Thạch, Sơn hay Lý . TÐ3ND đóng ngay ngã tư Bảy Hiền là giang sơn của người Nùng. Lính cũng rất chì, có lối ăn nói đặc biệt và khi đụng trận súng mới nổ, đã thấy mấy que hương khói nghi ngút buộc ở đầu súng, không hiểu được đốt lên từ lúc nào? Trước mặtTÐ3 là doanh trại TÐ6ND, đơn vị nhẩy dù cuối cùng được thành lập trước khi ký kết hiệp định Genève. Tiểu đoàn này đa số là dân Việt chính cống, ông Tiểu đoàn trưởng là đại úy Ðỗ kế Giai, người điềm đạm, chậm rãi ít nói ít cười, được anh em tặng cho cái biệt danh là Hoàng Tử, sau này là Thiếu tướng chỉ huy binh chủng Biệt Ðộng Quân. Ông Tiểu đoàn phó, giáng dấp thư sinh, là đại úy Lê nguyên Vỹ, đã tuẫn tiết ngày 30/4/75 trong khi giữ chức vụ Tư lệnh SÐ5BB. Với số quân nhân đông đảo như vậy, các quán cà phê ăn uống xung quanh rất sầm uất. Có một quán mà bà chủ, (tôi nghi đã có một dĩ vãng me tây hoặc chị em ta, trừ khi là cả hai!..) rất am hiểu tâm lý và sinh lý mấy anh đực rựa sung sức này. Bà ta thách đố anh nào có đủ tửu lượng uống hết 4 chai Larue cổ cao trong hai tiếng đồng hồ, mà phải ngồi ở bàn không được đứng dậy. Nếu cầm cự được mà không đứng dậy đi tiểu, thì bà ấy sẽ đãi tất cả miễn phí, kể cả đồ nhắm (tôm khô, củ kiệu, thịt bò khô)! Theo các � nạn nhân � kể lại, không anh nào cầm cự nổi hai tiếng mà không phải đứng dậy trước, và trong trường hợp này lẽ dĩ nhiên là phải trả tiền tất cả những gì mình đã dùng. Kết quả là rất nhiều binh lính mũ đỏ đã mất tiền cho bà này. Ði qua ngã tư Bảy Hiền là đến trại Hoàng Hoa Thám, nơi bộ Tư lệnh của Binh chủng và các đơn vị trợ chiến.
Kiểm điểm các đơn vị ND hồi đó mà không nói đến TÐ5ND đóng tại Thủ Ðức, là một thiếu sót. Tiểu đoàn này đã dự trận Ðiện biên Phủ và đã chiến đãu tới phút chót cùng 5 Tiểu đoàn ND khác của Quân đội Viễn Chinh Pháp; đơn vị đã được bổ xung lại sau hiệp định Genève.Người Tiểu đoàn trưởng khét tiếng cua TD5ND là đại úy Ngô xuân Soạn, một con người sống cho chiến tranh và vì chiến tranh. Thành tích chiến trận của ông, từ ngoài Bắc vào đến trong Nam lừng danh trong hàng ngũ chúng tôi. Tiếc thay ông bị sát hại khi đảo chính 11-11-60 bất thành. Tiểu đoàn chót là TD8ND, tham dự trận Ấp Bắc mà tôi sắp kể, doanh trai đặt ngay trong can cứ Hoàng hoa Thám/ TSN . Chính tôi cũng đã có công trong việc thành lập Tiểu đoàn này. Ðầu năm 1960, bác sĩ Của, xếp của tôi, chỉ thị cho tôi mang một toán y tá ra Huế để tuyển mộ binh sĩ thành lập thêm một TÐND. Nghĩ phảỉ ra nằm ụ nơi đất Kinh mấy tuần lễ, mặc dầu nhiều thi vị xong xa gia đình và Sài thành hoa lệ, tôi đã nói ngay với anh Của: tại sao phải ra tận Huế mới kiếm được lính nhẩy dù? Anh cho tôi mang loa ra quảng cáo ngay ngã tư Bảy Hiền và ngã ba Ông Tạ, chỉ trong không đầy một tháng tôi sẽ kiếm đủ quân để thành lập hai ba tiểu đoàn chứ một tiểu đoàn thì thấm gì! BS Của lắc đàu, nhăn đôi lông mày nói lại với tôi: toa chả hiểu gì cả, đây là lệnh trên! Cụ , ám chỉ Tổng thống Ngô đình Diệm, chỉ tin người Trung và muốn có một TÐND toàn lính Trung! Tôi đành lắc đầu ra Huế mộ đủ binh sĩ để về thành lập thêm TÐ8ND. Hồi xẩy ra cuộc đảo chính 11-11-60, một số lính Trung do tôi tuyển mộ, trên nguyên tác phải trung thành với Cụ, đã không ngần ngại tuân lệnh cấp chỉ huy bắn vào dinh ÐộcLập ! Sau đây tôi xin quay lại trận Ấp Bắc.
Ngày 2 tháng 1 năm 1963, TÐ8ND có nhiệm vụ ứng trực không vận ở phi trường Tân sơn Nhất, một ngày trực có vẻ êm ả vì lúc đó đã đến gần 5 giờ chiều; chỉ độ hơn một tiếng nữa là mọi người có quyền roméo (tục ngữ nhà binh có nghiã là rút lui, đi về) về hậu cứ. Thì đùng một cái, có lệnh nhẩy hành quân. Trong những năm đó, bác sĩ có bằng dù chỉ đếm trên đầu ngón tay; vì nhu cầu quân vụ, vài bác sĩ không tình nguyện nhẩy cũng bị chỉ định về Quân Y nhẩy dù. Mấy đồng nghiệp đó chỉ chân trước chân sau, hễ có người thay thế là �dọt � Ðó là trường hợp TÐ8ND chỉ có một bác sĩ đi bộ mà thôi. Tại Bộ Tư lệnh, lúc đó có mình tôi. Bác sĩ Văn văn Của, Y sĩ trưởng Lữ đoàn, đang hành quân vùng Tây Ninh trong một chiến dịch khác. Vì tình thế cấp bách, tôi phải chạy vội sang phi trường TSN để đi cùng TÐ8. Lúc đó gần 6 giờ chiều và một quang cảnh thật là hấp tấp diễn ra trước mặt tôi, các sĩ quan thì vừa nhận được lệnh hành quân và bản đồ đang quay đầu bàn bạc với nhau, binh sĩ thì mạnh ai nấy mang dù chứ ít được huấn luyện viên kiểm soát như trong những lần nhẩy bồi dưỡng hay nhẩy trận mà tôi đã từng tham dự. Tôi nhớ chỉ đủ thời giờ nói vài câu với ông bác sĩ của TÐ và chỉ kịp gặp anh y tá trưởng, tôi không tiếp xúc được với tất cả các y tá khác để biết phương tiện cấp cứu ra sao ( thời đó yểm trợ của Hoa Kỳ chưa được dồi dào nên vật liệu y tế còn thô sơ hơn là sau 1965). Chính thân tôi lúc lên máy bay mà dù bụng còn cầm trong tay! Thêm vào đó, ông cố vấn trưởng Lữ đoàn là đại tá Triplett đứng nhìn chúng tôi leo lên phi cơ mà cứ lắc đầu: too late! too late! Trễ quá, trễ quá...
Phi cơ thả chúng tôi là 7 chiếc C123 Fairchild với phi hành đoàn Hoa Kỳ, thả dù bằng hai cửa, khác với C47 Dakota chỉ có một cửa. Mỗi chiếc C123 thả được 40-45 quân nhân trong khi C47 chỉ chở được 25 người tối đa. Sau khi cất cánh, một sĩ quan cho tôi biết là sẽ nhẩy xuống ruộng và tôi nhớ là trong suốt chuyến bay tôi cứ vo viên một miếng giấy nhét vào họng khẩu súng carbine báng gấp, vì chỉ sợ nước hay bùn chui vào nòng súng..!
Rồi đến lúc nhẩy. Dù vừa bọc thì tôi nghe như có mưa rào lên nón sắt, tôi ngửa mặt lên thì thấy cánh dù mở to như thường lệ và tôi thầm nghĩ là nếu có mưa đi nữa thì làm sao hạt nước mưa có thể rơi vào nón sắt tôi được. Liền sau đó tôi nhìn xuống đất thì mới thấy cảnh hãi hùng: đạn lửa chằng chịt như một mạng nhện, bắn tứ phiá và bắn lên chúng tôi! Hoá ra những tiếng mưa trên nón sắt chỉ là tiếng súng dưới đất vang lên và bị lá dù cho dội lại mà thôi. Bình thường khi nhẩy dù bồi dưỡng, ai cũng muốn rớt thật chậm để hưởng những giây phút thú vị lơ lửng trên không, lần này sao mà tôi thấy mãi không xuống tới đất! Mà càng xuống gần đất, tiếng súng nổ càng chát chúa, đến khi đáp xuống bùn ruộng thì đạn bay vèo vèo, chỉ còn một nước là nằm úp mặt xuống đất, hay núp sau các bờ ruộng để khỏi bể sọ. Lúc đó khoảng 18giờ30, trời bắt đầu tối, tầm nhìn xa bắt đầu giới hạn. Một trực thăng �trái chuối� H21 vừa đáp sau lưng chúng tôi độ 300 thước bị một tia đạn lửa từ trong làng bắn ra và kịp thời bay đi. Ðã thử lửa đôi lần khi hành quân, nghe đạn bay là thường, song khi quá nhiều đạn bay như kỳ này, tôi có cảm tưởng là cả một bầu không khí rung chuyển xung quanh. Lần đầu tiên tôi chứng kiến một người bị trúng đạn cách tôi có 5 thước, tôi nghe rõ thấy như một quả đấm vào người lính đó trước khi anh ta lăn quay ra. Trong khoảnh khắc sau khi đáp xuống ruộng trước xã Ấp Bắc, đã có 3 binh sĩ bi thuong chung quanh tôi, tôi đã lấy 3 băng cá nhân tôi có trên người, một trên mũ sắt, hai trong túi áo saut lấy vội ở hậu cứ trước khi đi, để mà băng cho họ, may mà 3 thương binh này không bị nặng lắm. Một anh còn nói chuyện với tôi suốt đêm, hai ngưoi núp sau một cái mả. Có một lúc anh ấy hỏi tôi có thuốc chích cho anh ấy bớt đau không, tôi rất buồn phải trả lời là trong tay tôi không có một thứ thuốc nào để có thể làm cho anh ấy bớt đau hết. Vừa trả lời nguời thương binh vừa lo cho số phận mình, chẳng may bị thương thì ai săn sóc mình đây, trong tay không còn đến một cuộn băng. Y tá của tôi thì giờ này ở đâu? Cứ tính với đà nhẩy trung bình, thì khi xuống đất mỗi người phải cách nhau ít nhất 50 thước; vậy toán y tá khoảng 20 người đi theo bác sĩ ở Ðại đội Chỉ huy phải rải rác trên dưới một cây số, cần ít nhất 30 phút để tập họp trong điều kiện bình thường. Nay trời đã tối, địch trong các điạ điểm làm sẵn trong xã Ấp Bắc, nhìn thấy chúng tôi rất rõ và không cho phép chúng tôi tập họp để lấy đội hình tấn công, ai nấy nằm bẹp tại chỗ. Báo hại thỉnh thoảng lại có một quả hỏa tiêu chiếu sáng từ đâu bắn tới, làm tất cả bãi ruộng sáng như ban ngày, và địch thừa thế từ trong làng cứ bắn sẻ hoặc bắn ra như mưa. Dần dần, tôi thấy chừng ba bốn sĩ quan trong đó có đại úy Tiểu đoàn phó, đứng cách chỗ tôi độ vài chục thước, bàn tính cách đối phó trong tình cảnh nguy hiểm này.Trời đã tối hẳn, chạy từ thương binh này sang thương binh kia, tôi cũng được các vị này cho biết là chỉ có nửa tiểu đoàn nhẩy mà thôi, phần còn lại cùng ông Tiểu đoàn trưởng kẹt lại phi trường TSN vì trời tối máy bay không thả được nữa. Tình thế lúc đó thật là éo le: một nửa TÐ8ND nằm dài trên một cây số ngoài đồng ruộng, tập hợp rất khó khăn, không có yểm trợ phi pháo, hoả lực cơ hữu ngoài vũ khí cá nhân chỉ có mấy khẩu đại liên 30, súng cối của đơn vị (60 hay 81 ly) một mặt tản mát, một mặt ruộng xình lầy không đặt bàn tiếp hậu được. Tôi hiểu qua các đàm thoại của mấy ông Ðại đội trưởng, là với quân số tập trung lại được, hai ba cuộc tấn công lẻ tẻ của ta vào làng đều bị đẩy lui. Trong tình thế rối beng đó, một vị đại đội trưởng, đại úy Phạm huy Sảnh thì phải, gặp tôi và nói:� bác sĩ ơi, ở bià làng bị thương nhiều lắm, bác sĩ lên đó coi xem sao� Tôi nhớ có trả lời đại úy Sảnh: đại úy muốn tôi lên thì tôi lên ,song trong tay tôi không còn một thứ gì để săn sóc thương binh cả, y tá của tôi không có lấy một người, tôi làm gì được bây giờ?...� Phân vân không biết xử trí ra sao, rồi nghĩ biết đâu với hai bàn tay trắng, may ra tôi có thể làm được một cái gì chăng?..Lúc đó một anh lính ngơ ngác đi qua, tôi vội chộp lấy anh ấy: �nếu cậu không biết đi đâu thì cậu đi với tôi đến gần làng xem có ai bị thương, mình có thể di tản về khu tương đối an toàn sau mấy gò mả này�. Trời tối đen, thỉnh thoảng có vài viên đạn lửa bay trên đầu, tôi và anh binh sĩ mò mẫm bò theo các bờ đê nhỏ tiến về phiá làng cách xa độ hai ba trăm thước. Lết được một lúc, không biết bao xa, không gặp một thương binh nào hết, tôi có cảm tưởng là chúng tôi đang ở cái no man�s land giữa bạn và địch, đêm thì tối om... Hai chúng tôi đồng quyết định quay về vị trí cũ vì ở chỗ này nguy hiểm quá! Và cứ như thế cho đến sáng, tôi cứ thấy mấy ông sĩ quan xem bản đồ và bàn kế to nhỏ với nhau. Tôi quả quyết là suốt đêm đó, không một quả đại bác nào được bắn vào đám địch quân đóng trong làng trước mặt chúng tôi. Cũng may là chúng không có súng cối hay súng không giật (SKZ) bắn ra. Tôi giám cam đoan là lúc đó chỉ cần pháo binh bạn yểm trợ vài chục quả 105 vào bià làng là chúng tôi có thể tấn công và có triển vọng thanh toán mục tiêu mặc dầu quân số chỉ có nửa tiểu đoàn. Vậy pháo binh Tiểu khu, pháo binh SÐ7BB đâu? Tôi không thấy có tiền sát viên pháo binh tiền tuyến, và nếu tôi không nhầm thì TÐ8 chẳng có liên lạc gì được với Bộ Tư lệnh Hành quân ở Tân Hiệp hay Mỹ Tho. Khi trời tờ mờ sáng thì tiếng súng thưa thớt rồi im hẳn. Lúc đó tôi gặp anh đại úy Mỹ cố vấn của Tiểu đoàn, bị thương ở cánh tay. Tôi hỏi ông ta có cần tôi làm băng lại không vì đám y tá của tôi bắt đầu đến, vị đại úy này lắc đàu và thở dài một cách chán nản. Chúng tôi thận trọng vào làng thì địch đã rút, chỉ còn mấy chỗ đặt súng đại liên cùng các hố chiến đãu cá nhân và ít vỏ đạn. Chúng tôi thu tập được mấy binh sĩ nhẩy dù rớt vào làng bị địch giết, người còn đeo đai dù nhưng lá dù thì đã bị địch cắt mang đi. Thấy cảnh này, tôi thật hồi hộp nghĩ lại chuyến nhẩy tối hôm qua: theo tục lệ, lúc nào sĩ quan hay cán bộ chỉ huy cũng nhẩy đầu. Trong trường hợp này vì nhẩy đầu nên tôi đáp xuống ruộng ở ngoài làng, còn binh sĩ nhẩy sau, một vài người không may đã rớt lạc vô làng và bị sát hại. Giá phi cơ thả ngược hướng, thì sĩ quan hoặc cán bộ sẽ có triển vọng rớt vô làng rồi...Sau khi kiểm điểm sơ tổn thất, 18 tử thương và độ 30 bị thương, TÐ8 rút bằng đường bộ và chiều ngày hôm đó ra tới đường cái đi lục tỉnh, xe đò chở hành khách chạy ngược xuôi như trong thời bình.
Ðã chọn đời sống ngang dọc với một binh chủng khét tiếng chiến đấu, tôi không có quyền lo sợ hay ta thán khi gặp nguy hiểm, song xuýt chết trong một cuộc hành quân lãng nhách làm tôi bực bội và nghĩ ngợi liên miên trên con đường rút quân. Các sĩ quan khác chắc cũng cùng một mối ưu tư như tôi, nên chẳng ai nói với ai cho đến khi Tiểu đoàn về tới hậu cứ .
Ngày hôm sau, tôi sang TYV Cộng Hoà thăm các thương binh TÐ8ND và tạt luôn vào US 3rd Field Hospital tọa lạc ngay trước Bộ TTM, để thăm viên đại úy cố vấn bị thương. Vì thoát hiểm cùng với nhau và có lẽ tính tôi thích nói chuyện quân sự, nên chúng tôi có cảm tình ngay với nhau và thẳng thắn trao đổi ý kiến về cuộc hành quân ly kỳ này. Anh đại úy này cùng chia sẻ lập trường của tôi về cách sử dụng TÐ8ND và tất cả những thiếu sót trong việc phối hợp điều hành trận đánh. Tôi còn nhớ thỉnh thoảng anh ta cứ lắc đầu với câu � number ten...� (hạng chót), tục ngữ nhà binh Mỹ mô tả cái gì bết bát bê bối, (ngược lại với câu �number one� - số dách - để chỉ những gì hay ho, đáng khen đáng phục). Hai chúng tôi cũng hứa với nhau là sẽ cho nhau biết thêm tin tức về trận đánh này, anh ấy dò la bên phiá cố vấn Mỹ, tôi thì tìm hiểu bên phiá VN. Chúng tôi còn gặp nhau vài lần sau đó và được biết tình hình ngày hôm đó đại để như sau: trong những ngày cuối năm 1962, tin tức tình báo và cơ quan kiểm thính cho biết tại xã Tân Thới và Ấp Bắc, hai thôn nhỏ nằm cạnh nhau, có một đài phát thanh VC hoạt động với sự hiện diện của độ hơn 100 du kích võ trang. Tướng Huỳnh văn Cao, vừa được chỉ định làmTư lệnh V4CT, mở cuộc hành quân tảo thanh hai mục tiêu này với sự yểm trợ của trực thăng Hoa Kỳ. Cuộc hành quân khởi diễn sáng sớm ngày 2 tháng 1, 1963: một TÐ bộ binh của SÐ7 (Ðại tá Bùi đình Ðạm vừa được cử làm Tư lệnh), được trực thăng vận đến phiá bắc xã Tân Thới, để đánh chiếm xã này, hai tiểu đoàn Bảo An được điều động đến phiá nam Ấp Bắc để tảo thanh Ấp này và tiến lên nắm tay đon vị từ phiá bắc đánh xuống. Một đon vị thiết giáp gồm 13 chiếc M113 tiến đánh hai xã này từ phiá Tây, mỗi chiếc xe bọc sắt M113 chở thêm một tiểu đội lính, những binh sĩ này sẽ nhẩy ra khỏi xe để phối hợp tấn công khi hữu sự. Các M113 đều trang bị đại liên 50 (12ly7) với tầm bắn hữu hiệu và độ phá hơn đại liên 30 rất nhiều, có một chiếc còn gắn thêm súng phun lửa. Yểm trợ hỏa lực của ta, ngoài pháo binh còn có phi cơ khu trục và lần đầu tiên trực thăng võ trang �Hueys� (HU 1 B). Ba tiểu đoàn của ta gặp sự kháng cự mạnh của địch cố thủ trong Tân Thới và Ấp Bắc. Quân số địch không phải một đại đội mà là một tiểu đoàn, sẵn sàng chống cự các cuộc tấn công của ta (Cộng quân đã theo rõi được tất cả việc điều quân của ta qua hệ thống truyền tin). Các đơn vị bộ binh không vào được Tân Thới cũng không vào được Ấp Bắc và bị thiệt hại nặng về nhân mạng. Ðại đội M113, vì xình lầy và hỏa lực địch, cũng bị thiệt hại nhân mạng (các xạ thủ đại liên 50 chưa được bảo vệ bởi lá chắn đạn thép gắn trước súng đã lần lượt bị thương hay tử thương) và không yểm trợ gì được cho quân bạn và cũng không chọc thủng được phòng tuyến của địch. Yểm trợ phi pháo ít chính xác, nếu không phải vô hiệu vì địch ẩn náu rất kỹ. Ðến 15giờ ngày hôm đó, tình hình được coi như sau: một Tiểu đoàn VC trấn giữ Ấp Bắc đã đẩy lui các đơn vị bộ binh của SÐ7 cùng một đại đội thiết giáp M113, mặc dầu có Pháo binh và Không quân yểm trợ; Hoa Kỳ còn mất 5 trực thăng, vừa H21 vừa HU 1 B. Về phiá ta, không lúc nào một cấp chỉ huy cao cấp có mặt tại trận địa (Tư lệnh Vùng, Trung đoàn, Sư doàn ,Tiểu khu...) để kịp thời có quyết định thích ứng, và chỉ theo rõi diễn tiến và ra chỉ thị tại bộ tư lệnh hành quân ở Tân Hiệp, phó mặc các cán bộ cấp úy lo liệu tại chỗ. Thấy tình hình không ổn, tướng Cao mới gọi Nhẩy dù xuống tiếp viện, song quá muộn và trong điều kiện vô cùng bất lợi. Ðược biết trong cuộc hành quân này, đã có sự bất đồng ý giữa VN và các cố vấn Mỹ ngay tại cấp Quân đoàn. Ông đại úy cố vấn TÐ8ND cho biết là các cấp trên của ông đánh giá rất thấp tài năng chỉ huy của VN trong cuộc HQ này. Không hiểu chuyện này có đến tai đại tá Cao văn Viên Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Nhây dù không?
Sau 1975, di cư ra nước ngoài tôi được đọc nhiều sách báo về chiến tranh Việt Nam, sách của phiá Mỹ thường bất lợi cho miền Nam Tự do. Tuy nhiên, sau cái thảm họa vô tiền khoáng hậu của Ðất Nước, tôi nghĩ mình phải nhìn lại chiến sử một cách khách quan chứ không nên lúc nào cũng cho mình phải và đổ lỗi lên đầu người khác. Riêng về trận Ấp Bắc, tôi được biết thêm là có sự hiềm khích và bất đồng ý kiến giữa tướng Cao và cố vấn Trung tá JP Vann: ngày hôm đó, ông này thường xuyên bay trên Ấp Bắc bằng phi cơ L19 để quan sát và đốc thúc các đơn vị dưới đất, trong khi đó tướng Cao chỉ ở Bộ tư lệnh hành quân. Những đề nghị của JP Vann ít khi được chấp nhận thi hành, từ việc điều khiển các đơn vị bộ binh cho đến việc xử dụng TÐ8ND quá trễ và không đúng chỗ (nếu thả sớm hơn, trước 16 giờ, thì còn đủ thời giờ thả cả một tiểu đoàn chứ không phải 1/2 tiểu đoàn trong điều kiện vô cùng bất lợi và nhất là phải cho quân nhẩy dù đáp xuống phiá đông Ấp Bắc để chặn đường rút của địch, chứ không phải ở phiá tây đã có mặt quân ta). Quả nhiên tối hôm đó địch đã rút lui một cách ngon lành về phía đông mang theo chết ( chắc chắn ít hơn ta) và bị thương. Cũng được biết là quân số VC là 350 người, chỉ có vũ khí cá nhân và đại liên 30, sau này mới được biết thêm chúng có một súng cối 60. Nói về lãnh đạo chỉ huy, nếu các sĩ quan cao cấp bên ta chịu khó đến ngay mặt trận đôn đốc binh sĩ, giám liều bay thám sát trận địa để lấy quyết định nhanh chóng tại chỗ, thì Ấp Bắc chắc chắn phải là một thắng lợi lớn của Quân đội Quốc Gia.
Người ta đã nói nhiều về JP Vann, cố vấn SÐ7BB, sau này là cố vấn trưởng tại Cao nguyên Trung phần. Anh này mang tiếng là thực dân, hống hách, độc tài, lúc nào cũng muốn chỉ huy...Tôi không được biết và không hề gặp người sĩ quan đồng minh này, song theo sách vở kể lại thì JP Vann đã xả thân trong trận Ấp Bắc để cố kéo chiến thắng về phiá ta . Và đã không ngớt lời chỉ trích các tướng tá Viêt Nam sau trận này. Trong đời binh nghiệp, tôi đã có cơ hội làm việc nhiều với các cố vấn Mỹ, từ cấp nhỏ (Tiểu đoàn) đến cấp lớn (Tổng tham mưu). Tôi khẳng định không một người cố vấn nào sách nhiễu tham nhũng, khinh miệt hoặc bắt chúng tôi phục vụ cá nhân họ. Có cố vấn hiền hậu vui tính, có cố vấn căn cơ tỉ mỉ, cũng có vài cố vấn khó tính khó ưa, song người nào cũng chỉ muốn giúp cho Quân đội ta khá lên mà thôi. Tôi chỉ xin đặt lại một câu hỏi : trong ngày 2-1-1963, có vị chỉ huy cao cấp VN nào bay cùng JP Vann trên bầu trời Ấp Bắc không? Có vị nào lấm bùn đôi giầy trận, nghe đạn bay trên đầu với các binh sĩ trước xã Tân Thới và Ấp Bắc không?
Mới đây, tôi được đọc một bài của Trung tướng Tôn thất Ðính viết về Ấp Bắc. Bài khá dài, đọc đi đọc lại mới rút tiả được hai kết luận:
1/ Chúng ta đa thua trận Ấp Bắc
2/ Ông Ngô đình Nhu, nhân vật quan trọng trong chính quyền hồi đó, rất xung khắc với người Mỹ, và đã làm đủ mọi cách để tỏ cho người Mỹ biết là họ không thể thắng trận nếu họ cứ muốn chỉ huy.
Nếu đúng như vậy, Tướng Cao, người đảng Cần Lao tuyệt đối trung thành với nhà Ngô, đã theo đường lối đó và không bao giờ đếm sỉa đến ý kiến của Mỹ, tức cố vấn JP Vann hồi bấy giờ. Cộng thêm cái tài năng chỉ huy thấp kém, luôn luôn sợ sệt bị thất sủng nếu phải báo cáo lên Cụ tổn thất của phe ta, ông đã dâng cho VC một chiến thắng mà chúng không ngờ.
Bác sĩ Hoàng Cơ Lân
Cựu Y sĩ trưởng SÐND/ QLVNCH
Chụp khoảng cuối TN 1980 tại nhà đường Yersin Sài Gòn .
Từ phải qua trái : bà ngoại , tôi , má tôi , và cô GV của chương trình Professeurs Sans Frontières (Thày Giáo Ko Biên Giới) tại SG *. Cô này trước đây dạy Pháp ngữ cho thuyền nhân VN tại đảo Galang (Indonesia) - được định cư tại các nước nói tiếng Pháp . Em tôi , nhờ là cựu HS của Taberd nên làm việc và ngủ tại VP của trường , sau đó y đi Canada . Cô này , sau đó về VN để giúp đỡ cho các thuyền nhân bị-buộc-phải-hồi-hương để họ hội nhập với cuộc sống trên quê hương , như dạy nghề , cho vay tiền để làm ăn , v.v... Các nước EU quan niệm "thà tốn tiền để giúp TN hội nhập còn hơn cho họ định cư ở nước họ vì họ đã gặp nhiều vấn đề khi tiếp nhận TN trong TN 1970 và 80" .
* Lúc đó cô ở 1 biệt thự tại đường Trương Minh Giảng .
Từ phải qua trái : bà ngoại , tôi , má tôi , và cô GV của chương trình Professeurs Sans Frontières (Thày Giáo Ko Biên Giới) tại SG *. Cô này trước đây dạy Pháp ngữ cho thuyền nhân VN tại đảo Galang (Indonesia) - được định cư tại các nước nói tiếng Pháp . Em tôi , nhờ là cựu HS của Taberd nên làm việc và ngủ tại VP của trường , sau đó y đi Canada . Cô này , sau đó về VN để giúp đỡ cho các thuyền nhân bị-buộc-phải-hồi-hương để họ hội nhập với cuộc sống trên quê hương , như dạy nghề , cho vay tiền để làm ăn , v.v... Các nước EU quan niệm "thà tốn tiền để giúp TN hội nhập còn hơn cho họ định cư ở nước họ vì họ đã gặp nhiều vấn đề khi tiếp nhận TN trong TN 1970 và 80" .
* Lúc đó cô ở 1 biệt thự tại đường Trương Minh Giảng .
Thủ tục để mở 1 TK ngân hàng dành cho ng không phải là thường trú nhân (resident) hay có thẻ xanh (green-card holder) Mỹ .
"A/ Individual Non Business Requirements (Đòi hỏi dành cho cá nhân ko kinh doanh) :
- Name (tên)
- Date and place of birth (ngày và nơi sanh)
- Residence address and mailing address if different (PO Box alone will not be acceptable) (địa chỉ cư trú và địa chỉ thư tín nếu khác , hộp thơ PO Box ko giá trị) .
- If the individual is a U.S. person, the individual’s social security number (Nếu cá nhân này là 1 người Mỹ , chỉ cần số an sinh) . IF the individual is a NON-U.S. PERSON all of the following that the individual possesses (minimum of one required) (Nếu cá nhân này ko phải người Mỹ , y chỉ cần có 1 trong các thứ sau đây) : 1/ a U.S. taxpayer identification number (số ID của người đóng thuế Mỹ) ; 2/ a passport number and country of issuance’ and alien identification card number (số hộ chiếu và nước cấp phát hộ chiếu và số CMND của người nước ngoài) ; 3/ number and country of issuance of any other government-issued document evidencing nationality or residence and bearing a photograph or similar safeguard (số và nước cấp phát của bất cứ giấy tờ khác do CP cấp phát chứng tỏ quốc tịch và nơi cư trú và mang 1 ảnh hay tương tự) .
- Official issued identification number (e.g. Social Security Number, Employee Identification Number or Individual Taxpayer Identification Number) (Số ID được cấp phát chính thức , ví dụ số An Sinh , số thẻ đang đi làm hảng xưởng hay số ID khai thuế)
- Current Drivers License (photograph required) (bằng lái xe , phải có hình) .
- Current Armed Forces Identification (photograph required) (Thẻ chứng minh quân nhân có hình)
- Valid Passport (photograph required) (Hộ chiếu giá trị , có hình) .
- Current Alien Identification (current photograph required) (CMND mới nhứt của người nước ngoài) .
- Valid Social Security Number (số An Sinh giá trị)
- Valid Employee Identification Number (thẻ ID nhân viên giá trị)
Each bank will have its own policies and procedures drafted to comply with the requirements above (Mỗi ngân hàng sẽ có chánh sách và thủ tục riêng được thiết kế để tuân thủ với đòi hỏi trên) . Most institutions choose to draft policies and procedures more strenuous than those required by law (Phần lớn các định chế chọn thiết kế các chính sách và thủ tục khó khăn hơn các chính sách và thủ tục đòi hỏi bởi luật) .
- Name (tên)
- Date and place of birth (ngày và nơi sanh)
- Residence address and mailing address if different (PO Box alone will not be acceptable) (địa chỉ cư trú và địa chỉ thư tín nếu khác , hộp thơ PO Box ko giá trị) .
- If the individual is a U.S. person, the individual’s social security number (Nếu cá nhân này là 1 người Mỹ , chỉ cần số an sinh) . IF the individual is a NON-U.S. PERSON all of the following that the individual possesses (minimum of one required) (Nếu cá nhân này ko phải người Mỹ , y chỉ cần có 1 trong các thứ sau đây) : 1/ a U.S. taxpayer identification number (số ID của người đóng thuế Mỹ) ; 2/ a passport number and country of issuance’ and alien identification card number (số hộ chiếu và nước cấp phát hộ chiếu và số CMND của người nước ngoài) ; 3/ number and country of issuance of any other government-issued document evidencing nationality or residence and bearing a photograph or similar safeguard (số và nước cấp phát của bất cứ giấy tờ khác do CP cấp phát chứng tỏ quốc tịch và nơi cư trú và mang 1 ảnh hay tương tự) .
- Official issued identification number (e.g. Social Security Number, Employee Identification Number or Individual Taxpayer Identification Number) (Số ID được cấp phát chính thức , ví dụ số An Sinh , số thẻ đang đi làm hảng xưởng hay số ID khai thuế)
- Current Drivers License (photograph required) (bằng lái xe , phải có hình) .
- Current Armed Forces Identification (photograph required) (Thẻ chứng minh quân nhân có hình)
- Valid Passport (photograph required) (Hộ chiếu giá trị , có hình) .
- Current Alien Identification (current photograph required) (CMND mới nhứt của người nước ngoài) .
- Valid Social Security Number (số An Sinh giá trị)
- Valid Employee Identification Number (thẻ ID nhân viên giá trị)
Each bank will have its own policies and procedures drafted to comply with the requirements above (Mỗi ngân hàng sẽ có chánh sách và thủ tục riêng được thiết kế để tuân thủ với đòi hỏi trên) . Most institutions choose to draft policies and procedures more strenuous than those required by law (Phần lớn các định chế chọn thiết kế các chính sách và thủ tục khó khăn hơn các chính sách và thủ tục đòi hỏi bởi luật) .
B/ The following is examples of additional information that might be required (Sau đây là các ví dụ về thông tin thêm có thể được yêu cầu cung cấp):
- Secondary ID (photograph not required Credit or Debit Card)
Proof of Address (Title, Lease, or Utility Bill) (Thẻ tín dụng hay ghi nợ ko cần có hình , bằng chứng về địa chỉ như giấy chủ quyền , giấy thuê nhà hay hóa đơn điện/nước/điện thoại) .
- Account Opening Process be done in person and originals of documentation be viewed (Quá trình mở TK của người nộp đơn và bản chánh của các giấy tờ này sẽ được nhân viên ngân hàng xem)
- If the account owner is a non-U.S person without a U.S. ITIN then an IRS Form W8-BEN will be required (Nếu người chủ TK ko phải là dân Mỹ (và lại ko có mã số ITIN*) thì họ cần có mẫu IRS Form W8-BEN) .
* Mã số ITIN là số để xử lý thuế do sở thuế cấp . Mã số này được cấp cho ai cần số khai thuế , nhưng họ ko có , và họ ko đủ điều kiện để có số an sinh .
- Secondary ID (photograph not required Credit or Debit Card)
Proof of Address (Title, Lease, or Utility Bill) (Thẻ tín dụng hay ghi nợ ko cần có hình , bằng chứng về địa chỉ như giấy chủ quyền , giấy thuê nhà hay hóa đơn điện/nước/điện thoại) .
- Account Opening Process be done in person and originals of documentation be viewed (Quá trình mở TK của người nộp đơn và bản chánh của các giấy tờ này sẽ được nhân viên ngân hàng xem)
- If the account owner is a non-U.S person without a U.S. ITIN then an IRS Form W8-BEN will be required (Nếu người chủ TK ko phải là dân Mỹ (và lại ko có mã số ITIN*) thì họ cần có mẫu IRS Form W8-BEN) .
* Mã số ITIN là số để xử lý thuế do sở thuế cấp . Mã số này được cấp cho ai cần số khai thuế , nhưng họ ko có , và họ ko đủ điều kiện để có số an sinh .
Sunday, May 31, 2020
Tướng Ngô Quang Trưởng
(Bùi Đức Lạc)
Có nhiều tác giả viết vể đề tài này, hôm nay không may cho tôi, phải đọc thêm những dòng chữ viết về ông, không mấy chỉnh cho lắm, ai mà biết được lòng người. Tôi không muốn nêu tên những tác giả này vì không đáng cho người lương thiện, phải đề cập đến họ. Có ông viết Thường Đức nằm trên đường mòn HCM. Chao ôi!
Năm 1961; tôi là pháo đội phó cho Trung úy Phan văn Phúc, (sau này ông ấy là Chỉ huy trưởng pháo binh SĐ1BB), pháo đội A tiểu đoàn 2 pháo binh, dẫn hai khẩu đội lưu động tại Quảng Ngãi, mỗi lần hành quân như vậy, dọc đường thường là tự bảo vệ, nhưng đôi khi cũng được đại đội Biệt Động Quân của trung úy Nguyễn thừa Du bảo vệ dọc đường, tới vị trí đóng quân chúng tôi tự phòng thủ, yểm trợ hỏa lực cho cuộc hành quân, đại đội BĐQ của trung úy Du tấn công vào mục tiêu, cuộc hành quân đôi lúc do Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh chỉ huy, có khi do Tiểu Khu Quảng Ngãi chỉ huy, khi chấm dứt hành quân lại kéo súng về rạng nhãn cạnh tòa án Quảng Ngãi nghỉ dưỡng quân. Cứ như vậy, ban ngày tiếp tục ứng trực hành quân, lên đường 15 phút sau khi nhận được lệnh, vì vậy ban ngày súng luôn mắc sau xe, đêm đến hạ súng xuống, để phòng thủ vị trí, vì đêm không có nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực.
Sau đó tôi được lệnh làm pháo binh vị trí, nói cho vui là đi đóng đồn, tại những vị trí này không có đơn vị bộ binh bảo vệ, vị trí pháo binh đầu tiên tôi thiết lập trên đồi cầu Cộng Hòa, Nghĩa Hành; tại vị trí này tôi được tướng tư lệnh quân đoàn khen thưởng, Tướng tư lệnh quân đoàn đưa nguyên đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga lên vị trí trên đồi cầu Cộng Hòa trình diễn thưởng cho đơn vị, lúc đó Đại úy Nguyễn văn Thiệu làm tiểu đoàn trưởng, Đại úy Lê văn Thân chỉ huy trưởng pháo binh sư đoàn, Thiếu tá Phan đình Soạn chỉ huy trưởng pháo binh quân đoàn, sau đó làm vị trí pháo binh đầu tiên cho đồi Minh Long, thuộc quận Minh Long, Quảng Ngãi.
Ngày 12 tháng 11 năm 1961. Tại đồi Minh Long tôi nhận được lệnh về làm pháo đội trưởng Pháo Đội B /TĐ2PB, do ý của tư lệnh sư đoàn, thay thế nhiệm vụ của Trung úy Trương duy Tài, (K4TĐ) trung úy Tài có lệnh thuyên chuyển đi đơn vị khác. Lúc đó mỗi sư đoàn bộ binh chỉ có một tiểu đoàn pháo binh (12 khẩu súng 105 ly kiểu M101) mà thôi, như vậy mỗi pháo đội chỉ có 4 khẩu đội. Tiểu đoàn 2 Pháo binh trước năm 1954 là 5me GAVN, sau năm 1954 mới có tên là TĐ2PB và trực thuộc SĐ2BB từ đó, sau năm 1963 được đổi tên là TĐ21PB. Đọc (Nhật ký Hành Quân của đơn vị). Pháo đội B của 5me GAVN năm 1951 bắn về làng tôi, (Xuân Bảng, Xuân Trưởng, Nam Định) thi hành tác xạ theo lệnh của secteur (tiểu khu) Hành Thiện, căn cứ trên báo cáo của tình báo địa phương, địch quân đang đồn trú tại làng tôi một đơn vị lớn, thực tế không có một đơn vị nào của địch, tin tình báo gì lạ vậy, mà chỉ có dân lành nằm chết khắp nơi trong làng! Dưới cơn mưa pháo, mẹ tôi ôm chúng tôi dưới gầm giường, hy vọng che chở mảnh đạn pháo binh không làm hại cho đàn con dại, mẹ Việt Nam vùng quê đơn giản suy nghĩ như vậy đó, thời gian qua mau, không ngờ đúng 10 năm sau tôi lại chỉ huy pháo đội này. 1/2 quân số đơn vị đã tham dự cuộc pháo kích năm 1951, vẫn còn tại hàng.
Vừa nhận bàn giao xong, sau không đầy một tuần làm quen đơn vị, mùa đông bắt đầu, cái lạnh giá buốt hành hạ, lần đầu tiên trong đời tôi thấy em bé gầy gò khoảng 6 tuổi, cõng một em khoảng 2 tuổi, cả hai không có đủ áo chống lạnh, oái oăm là cả hai cùng ngậm điếu thuốc cì gà rất lớn (Cẩm Lệ), hai điếu thuốc đang bốc khói, trông hai em rất hạnh phúc, cõng nhau đi ngoài trời gió lạnh tại ga xe lửa Tam Kỳ.
Tôi bắt đầu nhập cuộc trở lại. Rồi cũng lại kéo hai khẩu súng đại bác của pháo đội B lưu động tại tỉnh Quảng Nam, ai cũng sợ phải làm nhiệm vụ lưu động, vì sợ phải gần Đại Tá tư lệnh, tôi lại bằng lòng với nhiệm vụ lưu động, vì dù sao tối đến cũng hay được ở thành phố, chính vị tiểu đoàn trưởng Đại úy Nguyễn văn Thiệu, cũng muốn tôi làm nhiệm vụ này, ai cũng muốn được vô sự, tôi luôn mang vô sự đến cho ông.
Được lệnh đóng vị trí tại chân núi Bà Nà yểm trợ hỏa lực cho trung đoàn Địa Phương (?) trung đoàn phó là Đại úy Nguyễn văn Ngơi, vì Đại úy Ngơi là trưởng phòng an ninh Quân đội của SĐ5BB, lúc tôi là pháo đội phó pháo đội A tiểu đoàn 5 súng cối, hơn nữa ông hay sang pháo đội uống cà phê nên mới nhớ tên ông, thật sự quên tên vị trung đoàn trưởng, hình như là Đại úy Tất, cuộc hành quân chưa chấm dứt. Nhận lệnh kéo súng về hậu cứ, ngày hôm sau, lại nhận lệnh kéo súng đi Thường Đức, không có hộ tống dọc đường, đóng quân tại Thường Đức, yểm trợ trực tiếp cho Tiểu Đoàn 1, trung đoàn 4 (hay 6 ?) thuộc SĐ 2 BB do Đại Uý Võ Mạnh Đông làm tiểu đoàn trưởng, đơn vị này đang hành quân tại vùng Ben Hiên, Ben Hiên nổi tiếng là vùng nước độc, người ta đồn rằng: Qua suối là rụng hết lông chân, dưới lòng suối nước trong vắt, nhìn thấy từng viên sỏi dưới đáy suối, trông giòng suối thật hiền hòa, nào có ai biết giông bão đang chờ, hôm tiểu đoàn 1 băng qua suối, ba đại đội đầu vượt suối bình yên, nước chỉ tới trên đầu gối một chút mà thôi, không có một hiện tượng gì là nguy hiểm, nên an toàn, vô sự. Lúc đó Thiếu úy Nguyễn văn Lước là sĩ quan tiền sát của tiểu đoàn này, mỗi tiểu đoàn chỉ có một sĩ quan pháo binh đi để điều động hỏa lực pháo binh.
Đại đội sau cũng vừa bắt đầu băng suối, chỗ sâu nhất chỉ tới háng mà thôi. thì thình lình nước chảy cuồng loạn, đúng là như thác đổ, cuốn mất một trung đội, mà lúc đó trời đang trong sáng, sau mới biết là do mưa lũ từ thượng nguồn, nước trào dâng, tràn về nhanh như vậy, cuối cùng trung đội này chỉ bị chết đuối mất 2 người.
Tôi có lội xuống suối thử một lần, thấy không rụng lông chân, mà nhổ lông chân không cảm thấy đau. Đ/U Đông lúc ra trường về TĐ5ND, rồi luân lưu về SĐ2BB dưới quyền trung đoàn trưởng Thiếu Tá Võ Hữu Thu kiêm tỉnh trưởng Quảng Nam, cả hai ông này đều là anh ruột của anh hùng Võ Đại Tôn. Đó là thời Đại Tá Lâm Văn Phát Tư Lệnh SĐ2BB, ba trung đoàn trưởng kiêm ba tỉnh trưởng Quảng Nam Thiếu Tá Thu, sau này Quảng Tín Đại Uý Thọ, vì năm 1961 chưa có tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi Thiếu Tá Tụ. Sau đó tôi kéo súng về Bến Giàng phía Tây của Thường Đức, cách Thường Đức khoảng 10 cây số đường chim bay, nhưng đi đường bộ thì khoảng 14 cây số, rồi lại được lệnh kéo súng về Khâm Đức hướng Tây của Bến Giàng khoảng 10 cây số đường chim bay, đường bộ khoảng 15 cây số.
Tại đây tôi gặp Đại Uý Vũ văn Giai, chi khu trưởng chi khu Khâm Đức, lại Tây tiến nữa Ngoktavak cách Khâm Đức khoảng 11 cây số đường chim bay, khoảng 16 cây số đường bộ, đây mới là vị trí nằm ngay trên đường mòn HCM. Ngoktavak nơi khỉ ho cò gáy, chúng tôi gặp Đại Đội trưởng Bộ Binh, Thiếu Úy Bùi Đức Cẩn khoá 17 võ bị Đà Lạt, mới ra trường, hiện nay tại San Jose. Lúc đó có Thiếu Úy Ninh (k10TĐ) sĩ quan trong đơn vị tôi; từ Ngoktavak tới ngã ba biên giới khoảng 15 cây số đường bộ. Tại đây tôi thiết lập vị trí pháo binh rất quy mô, vì nó nằm ngay trên đường mòn HCM. Phải rất thận trọng ấm ớ, là (chuối đó cưởng). Vị trí này nếu bay trên trời quí vị chỉ thấy vị trí hai khẩu pháo, trơ trọi trên đỉnh đồi, không thấy các cơ quan khác. Như nhà ở của các pháo thủ, hay hầm đạn đều nằm dưới mặt đất v v. Nhờ vậy tôi được tư lệnh sư đoàn khen thưởng.
Tôi nói vòng vo Tam Quốc như vậy để quí vị đọc giả hiểu rõ tác giả, dù ở cấp bậc nào, viết về tướng Trưởng, không biết đọc bản đồ nào, mà lại viết Thường Đức nằm trên đường mòn HCM, trong khi Thường Đừc nằm cách xa ĐM/HCM, khoảng gần 50Km, tôi không muốn biết tác giả có cấp bậc gì , trình độ nào, nhưng viết như vậy, thì bài viết này khả tín bao nhiêu? Tác giả viết nhiều điều buồn hơn vui, nhưng một điều hơi đè nặng trên vai vị tướng có nhiều điểm tốt hơn điểm xấu, tôi sợ nhiều người hiểu sai, không nên vì hằn học với hiện tại, mà làm mất đi sự cảm mến của hậu thế với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một vị tướng có nhiều điểm tốt hơn xấu mà bị bôi trét như vậy có chỉnh hay không? Ngay con cháu chúng ta, có còn coi trọng chúng ta hay coi thường chúng ta.
Ôi một vị tướng có điểm cao, mà còn vô trách nhiệm như vậy, vậy các quân nhân khác, sẽ bê tha tới mức nào đây! ! Đó chính là nguyên nhân tôi thấy phải có trách nhiệm viết, có đoạn tác giả viết đại để như thế này:
(Khi nhận được tin nóng từ máy bay quan sát cho biết từ điểm X một đoàn xe địch rất đông đang từ đó di chuyển về hướng Quân Đoàn II).
Tư Lệnh Quân Đoàn I, lạnh lùng trả lời:
- Hãy để cho nó đi !
Lời nói nhẹ nhàng! Nhưng nó biểu lộ một sự lựa chọn vô trách nhiệm, nhất là nó phát ra từ lồng ngực của một quân nhân có tinh thần trách nhiệm cao, tinh thần kỷ luật cao, mà còn vô trách nhiệm như vậy! Ôi! Có thể như vậy sao? Ông Trời tuy xa vời vợi, khó với tới, nhưng rất dễ cho mọi người cảm nhận được, trời ở nơi nao? Lời văn độc ác trời có thể thấy rất rõ, thấy rất chi tiết, thấy rất công bằng và phán xét rất công minh.
Ra ngoại quốc ai mà không khắc khoải nhớ về quê hương thân yêu, tôi hoàn toàn chới với giữa giòng đời chen chúc bởi lòng vòng trong ghen tị, ôi chao với kẻ thù cũng có mà với bạn bè cũng khá nhiều, nhưng với bạn thì chan chứa độc ác, phát xuất từ ganh tỵ, cái ta cao chót vót, không dung tha một người nào, càng nhiều danh vọng, càng lắm tên bay, đạn lạc.
Cả hàng tá tổ chức phục quốc, tôi không biết phải làm gì với sự mong muốn hèn mọn của mình, sau một thời gian suy diễn lung tung, tôi chỉ còn thấy tổ chức của ông Nguyễn ngọc Huy là chỗ dựa tinh thần vừa phải, nên phải bước vào lắng nghe, xem thực hư thế nào, một buổi chiều thứ tư đẹp, tháng tư, năm 1986.
Thật lòng mà nói, trước năm 1975 tôi nhìn tướng Trưởng với con mắt thật bình thường, không ác cảm, mà cũng không có nhiều cảm mến.
Trung tá Nguyễn văn Viên người anh quí mến của tôi, năm 1954 là quyền tiểu đoàn trưởng TĐ5ND lúc đó tướng Trưởng mới ra trường là trung đội trưởng, anh Viên rất tốt với ông Trưởng, mời về nhà dùng cơm nhiều lần. Nhưng rồi đường binh nghiệp của anh Viên lắm chuyện không hay, nên anh phải tự chọn con đường giải ngũ......Sau này lúc tướng Trưởng (1 sao) làm tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, anh Viên bị gọi tái ngũ với cấp bậc Thiếu Tá làm việc tại địa phương, chi khu, dưới quyền tướng Trưởng, anh Viên không muốn gặp ai cả, lại còn mặc cảm thông thường thế nhân, bất ngờ tướng Trưởng tới thăm đơn vị, nên anh Viên đành phải trình diện. Tướng Trưởng nhận ra cấp chỉ huy cũ của mình, nên tướng Trưởng mời gặp tại văn phòng lúc 11:00 ngày hôm sau.
Anh Viên rất thận trọng, đến trước giờ ấn định, nhưng vẫn không được như ý, anh bắt buộc phải ra về, anh hơi buồn rồi bỏ luôn. Anh nghĩ rằng tướng Trưởng rất khó sắp xếp cho mình, anh rất thông cảm hoàn cảnh éo le, anh không muốn nhờ vả một ai, nếu anh muốn làm việc tại Sài gòn lúc bị gọi tái ngũ, cũng không khó khăn. Không may nay gặp phải tình trạng này, nên anh buộc lòng phải gọi về Sài gòn, gặp bạn cũ, xin về vùng lV, với mục đích chính, xa hẳn ảnh hưởng của tướng Trưởng. Trước khi đáo nhận đơn vị mới anh Viên có cùng chúng tôi hàn huyên tại Sài gòn. Anh không hề nói gì về việc anh xin thuyên chuyển. Mãi sau này khi gặp tướng Chinh tôi mới biết. Tướng Chinh cũng như tướng Giai đều nói, nếu biết anh Viên bị tái ngũ, thì anh Viên muốn về đâu, hai vị này đều có thể lo cho anh Viên được như ý.
Anh Viên được như ý, thuyên chuyển về quân đoàn lV, không may tướng Trưởng lại về vùng lV, lần này may mắn không phải như trước do thời gian ngắn ngủi, nên chưa gặp mặt trực tiếp. Tướng Nam thay thế Tướng Trưởng. Tướng Nam muốn cất nhắc anh Viên. Anh từ chối và xin tướng Nam cho anh được an phận. Anh Viên lên Trung Tá thường niên rồi mất nước.
Năm 1976 anh Viên xin được một chiếc máy đánh chữ và một chiếc máy quay ronéo, cả hai máy đều đã quá cũ, từ Tướng Đỗ kế Giai, (tướng Giai nổi tiếng như cụ Vương hồng Sển) anh in được một số truyền đơn, rải tại Sài gòn và Bà Rịa, không may bị lộ, Việt Cộng đã xử bắn anh Viên tại bến xe đò Bà Rịa năm 1976 - sau 1 tháng tra tấn dã man.
Việc trên đây do tướng Đỗ kế Giai kể lại, cho tôi tại San Jose, có bác sĩ Trần lữ Y và Văn văn Của cùng nghe. Tại bàn tướng Giai không uống rượu, còn hai vị bác sĩ thì khỏi phải nói, tôi là bệnh nhân của bác sĩ Trần lữ Y tại Sài gòn, trước năm mất nước.
Chúng tôi có được buổi gặp mặt, tại tư gia anh NQV, anh NQV là một người bạn tốt, mà còn là một thành viên cốt cán của giáo sư Huy, anh cư trú tại phía nam thành phố San Jose, tôi cố ý đến sớm hơn mọi người, để được nói vài câu chuyện, xa xưa, may mắn được gặp tướng Trưởng tại đây đúng như ý.
Tôi (Bùi đức Lạc) uống bia, còn tướng Trưởng uống theo sở thích của ông, căn phòng rộng thênh thang, chỉ có hai chúng tôi. Đương nhiên tôi biết ông đã lâu, từ lúc sư đoàn Nhảy Dù thành lập Trung tâm huấn luyện quân sự, lúc đó thì tôi chưa đội nón Đỏ, cũng như chưa có tiểu đoàn Vương mộng Hồng, tinh thần làm việc của ông, tôi không sao có thể so sánh với bất kỳ một ai, riêng sức chịu đựng làm việc thì tôi có thể theo chân ông được. Theo sau thôi!
Chúng tôi cũng có những câu xã giao với nhau thường lệ, như mọi người. Sức khỏe của ông lúc đó không có gì khác cho lắm, nhưng hình như ông bắt đầu vào thời kỳ suy thoái, là con người ai mà không phải chịu cảnh sinh, lão, bệnh, tử! Tôi nghĩ rằng: Lúc này đất nước còn đang cần những người như ông, tôi biết ông sẵn lòng đóng góp, thật tình không biết tổ chức nào, có sức hấp dẫn với ông.
Mới đây một người bạn không thân thiết, so sánh tướng Trưởng với tướng Nguyễn chánh Thi, nhưng anh ta nặng đầu óc địa phương quá! Tôi mỉm cười cho qua chuyện, không bao giờ tôi lại đi so sánh hai vị niên trưởng, ở những lúc không cần thiết, tranh luận vô bổ, một người thì bày, một người thì dọn dẹp, một người thì to miệng, một người thì bé mồm; hãy để cho thế nhân bình luận cũng đủ lắm rồi!
Thưa niên trưởng tôi có một thắc mắc, niên trưởng có thể trả lời, nếu không muốn niên trưởng có thể không trả lời.
Cái gì mà nghiêm trọng vậy?
Lúc sắp mất nước, Không Quân quan sát thấy...Tôi vừa nói tới đó, ông dơ tay cắt ngang, ông thở dài chậm rãi nói:
Tôi hiểu rồi! Tôi tưởng việc gì trọng đại, tôi nghĩ việc này anh phải biết rồi chứ, pháo binh phải hiểu hơn ai hết...... Sau hiệp định Ba Lê quân đội ảnh hưởng nặng nề nhất, pháo binh chỉ được bắn mỗi ngày 20 viên đạn /một khẩu, trước đó bắn không hạn chế. Không phải chỉ có như vậy là thôi đâu, đến cuối năm thì chỉ còn 10 viên, rồi 5 viên...một khẩu..... Không Quân còn bi đát hơn nữa, hạn chế các phi vụ, hạn chế xăng nhớt, hạn chế bom đạn, nếu mình cho đánh bom đạn bừa bãi thì là hành động tự sát. Vì khi các Thành phố, cứ điểm của ta bị tấn công, lấy hỏa lực ở đâu để yểm trợ cho các đơn vị này, chúng ta bó tay, chịu đựng hay sao?
Vấn đề này Quân đoàn đã tiên liệu từ lâu, nếu có sự kiện xảy ra như vậy, Quân đoàn có nhiệm vụ phải báo cáo ngay cho Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nơi đây có trách nhiệm điều động hỏa lực tiêu diệt lực lượng đich, như vậy việc tiêu diệt địch di chuyển bằng xe hay là di chuyển băng đồng, nếu không có đụng độ trực tiếp với các đơn vị cơ hữu của Quân đoàn, thì đều do sự điều động hỏa lực của BTTM/QLVNCH. Quân đoàn bó tay, những sự kiện này xảy ra nhiều lúc rất đau đầu, tôi thấy đây cũng chính là một trong những lý do đưa chúng ta đến mất nước, lưu vong như ngày hôm nay. Vì thấy địch mà không được đánh, từ đâu ra nông nỗi này. Nhiều người không hiểu đã ăn nói bừa bãi, gây đau lòng nhau, không ích lợi gì, mà chỉ có lợi cho lòng tự tôn, tự đại của họ mà thôi, tôi thấy thương họ, hơn là oán hận họ, lúc này là giai đoạn cần phải thận trọng, thêm bạn bớt thù, đó mới chính là mục tiêu hàng đầu của chúng ta.
Đã là con người ai cũng có những lúc lầm lẫn, tôi biết chính tôi đã có những lời nói, việc làm gây tổn thương người khác. Trong thời gian đó trăm ngàn dâu đổ đầu tằm, tôi chỉ còn biết công vụ và công vụ mà thôi; nội công vụ đã làm tôi quên hết mọi việc, gia đình xã hội tôi đều mắc lỗi, lỗi nặng, tôi rất ân hận vô cùng, xin gia đình, xin các chiến hữu hiểu, thông cảm và tha thứ tất cả hành động không vừa ý của tôi đã đối với họ . Tôi xin ngẩng cao đầu chịu tội. Trưởc linh hồn các chiến hữu đã khuất, trước ý chí cương cường các chiến hữu còn nuôi ý định quang phục quê hương, trước gia đình thân yêu của họ và của tôi.
Cho nên khi Không Quân xin oanh tạc, tôi đành phải cắn răng mà nói, như anh đã nghe. Không lẽ mỗi khi có sự kiện xảy ra đau lòng như vậy! Tôi phải giải thích với từng người; về hoàn cảnh ê chề của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, như vậy hay sao? Thú thật tôi không có thì giờ, tôi cô độc lắm. Hoàn cảnh khó khăn, tàn độc mà chúng mình phải chịu chi có những người chung số phận, mới hiểu được, còn những vị chuyên ăn trên ngồi trốc làm sao hiểu được, họ là những người chuyên (ăn tục... nói phét..... Mà thôi! Càng không nên tranh luận với những người này). Lúc đó tôi có trăm ngàn việc phải lo, đâu phải chỉ có những việc đơn giản như vậy đâu! Chúng ta hãnh diện là những quân nhân vào sanh ra tử, không trốn tránh trách nhiệm khi đất nước cần đến sự hy sinh xương máu của chúng ta, không lẽ bây giờ chúng ta lại trốn tránh trách nhiệm với đồng bào ruột thịt của chúng ta, tôi không muốn lên tiếng vì tôi thấy khó chịu khi phải nói chuyện với những chuyên viên như vậy!!! Anh nên cẩn thận khi nói chuyện với họ! Tôi không quên toán tiền trạm năm Mậu Thân, do anh điều động thay anh Lưỡng đã giải tỏa áp lực địch cho tôi.
Thưa Niên trưởng, đó là chuyện bình thường thôi!
Thưa quí vị, sở dĩ có việc này là do, Tết năm Mậu Thân, Cộng quân tấn công vào Huế, vì bất ngờ, nên đặc công đã chọc thủng hàng rào phòng thủ của trại Mang Cá, rồi lần mò vào tới sân cờ của BTL/SĐ1BB. Các đơn vị cơ hữu của SĐ1BB đều không thể điều động được.
Tướng Trưởng không liên lạc được với Chiến Đoàn 1 Nhảy Dù, tất cả hệ thống liên lạc chỉ huy của Chiến Đoàn Nhảy Dù, cũng như nhiều hệ thống chỉ huy khác trong vùng đều bị phá, không liên lạc được, bắt đầu từ thời điểm đó, hệ thống liên lạc, cũng như vũ khí, đồ trang bị của địch, hơn hẳn ta!
Nhưng trên hệ thống tác xạ của Pháo Binh, vì máy GRC5 dùng bình điện xe, ăn-ten dù 292 nên công xuất mạnh, nhờ vậy tổng đài của pháo binh vẫn liên lạc tốt, do đó tôi mới làm trung gian (nhận lệnh và chuyển lệnh) toán tiền trạm đã nhận lệnh của Chiến Đoàn Trưởng, do tôi chuyển lệnh, nhờ vậy toán tiền trạm đã có mặt kịp thời trợ giúp cho BTLSĐ1BB, tránh được điều đáng tiếc xảy đến. (xin xem Cơn Uất Hạ Lào. Cùng tác giả )
Tôi nhìn tướng Tưởng mờ mờ qua giòng lệ hiếm hoi, tôi tự thấy mình đã có điểm sai, tôi không còn đủ can đảm hỏi ông điều nào nữa. Chúng tôi như đang ôn lại thế ra cửa máy bay, dấu giầy saut in đậm trên áng mây trắng rất hiền hòa miền Hậu giang, miền Đông..v..v.. Trận mạc đâu còn ý nghĩa gì, hãy quên đi, nhưng thế ra cửa phi cơ phải khắc ghi trong tủy sống. Tiếng thở dài không biết phát xuất từ lồng ngực nào, hãy tha thứ cho họ, hãy vui đi, hãy cười lên, cho dù là nụ cười muộn màng, héo hon. Lúc đó mới.....Chợt nhận ra:
Người làm nhiều điều vô vụ lợi cho tha nhân! Là người ngu đần, dại dột. Người hy sinh nhiều! Là người u mê nhất trần gian.
Người giúp đỡ nhiều người! Là người muốn tự hủy hoại mình.....
Vì hậu quả sẽ nhận lại, chỉ có đắng cay mà thôi, chắc chắn sẽ được bồi hoàn không thiếu một chỉ ! ! ! Đời sống là như vậy đó, càng oán hận lại càng u u minh minh. Người quên ơn, là người bất nghĩa, liệu đường mà đi , không được oán hận, mà phải đón nhận. Vui cười mà đi.
Đừng buồn chi ! Ai ơi ! ! ! Tôi không đủ can đảm nhìn lại bóng ngày qua .,.
Bùi đức Lạc năm 2018
(Bùi Đức Lạc)
Có nhiều tác giả viết vể đề tài này, hôm nay không may cho tôi, phải đọc thêm những dòng chữ viết về ông, không mấy chỉnh cho lắm, ai mà biết được lòng người. Tôi không muốn nêu tên những tác giả này vì không đáng cho người lương thiện, phải đề cập đến họ. Có ông viết Thường Đức nằm trên đường mòn HCM. Chao ôi!
Năm 1961; tôi là pháo đội phó cho Trung úy Phan văn Phúc, (sau này ông ấy là Chỉ huy trưởng pháo binh SĐ1BB), pháo đội A tiểu đoàn 2 pháo binh, dẫn hai khẩu đội lưu động tại Quảng Ngãi, mỗi lần hành quân như vậy, dọc đường thường là tự bảo vệ, nhưng đôi khi cũng được đại đội Biệt Động Quân của trung úy Nguyễn thừa Du bảo vệ dọc đường, tới vị trí đóng quân chúng tôi tự phòng thủ, yểm trợ hỏa lực cho cuộc hành quân, đại đội BĐQ của trung úy Du tấn công vào mục tiêu, cuộc hành quân đôi lúc do Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh chỉ huy, có khi do Tiểu Khu Quảng Ngãi chỉ huy, khi chấm dứt hành quân lại kéo súng về rạng nhãn cạnh tòa án Quảng Ngãi nghỉ dưỡng quân. Cứ như vậy, ban ngày tiếp tục ứng trực hành quân, lên đường 15 phút sau khi nhận được lệnh, vì vậy ban ngày súng luôn mắc sau xe, đêm đến hạ súng xuống, để phòng thủ vị trí, vì đêm không có nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực.
Sau đó tôi được lệnh làm pháo binh vị trí, nói cho vui là đi đóng đồn, tại những vị trí này không có đơn vị bộ binh bảo vệ, vị trí pháo binh đầu tiên tôi thiết lập trên đồi cầu Cộng Hòa, Nghĩa Hành; tại vị trí này tôi được tướng tư lệnh quân đoàn khen thưởng, Tướng tư lệnh quân đoàn đưa nguyên đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga lên vị trí trên đồi cầu Cộng Hòa trình diễn thưởng cho đơn vị, lúc đó Đại úy Nguyễn văn Thiệu làm tiểu đoàn trưởng, Đại úy Lê văn Thân chỉ huy trưởng pháo binh sư đoàn, Thiếu tá Phan đình Soạn chỉ huy trưởng pháo binh quân đoàn, sau đó làm vị trí pháo binh đầu tiên cho đồi Minh Long, thuộc quận Minh Long, Quảng Ngãi.
Ngày 12 tháng 11 năm 1961. Tại đồi Minh Long tôi nhận được lệnh về làm pháo đội trưởng Pháo Đội B /TĐ2PB, do ý của tư lệnh sư đoàn, thay thế nhiệm vụ của Trung úy Trương duy Tài, (K4TĐ) trung úy Tài có lệnh thuyên chuyển đi đơn vị khác. Lúc đó mỗi sư đoàn bộ binh chỉ có một tiểu đoàn pháo binh (12 khẩu súng 105 ly kiểu M101) mà thôi, như vậy mỗi pháo đội chỉ có 4 khẩu đội. Tiểu đoàn 2 Pháo binh trước năm 1954 là 5me GAVN, sau năm 1954 mới có tên là TĐ2PB và trực thuộc SĐ2BB từ đó, sau năm 1963 được đổi tên là TĐ21PB. Đọc (Nhật ký Hành Quân của đơn vị). Pháo đội B của 5me GAVN năm 1951 bắn về làng tôi, (Xuân Bảng, Xuân Trưởng, Nam Định) thi hành tác xạ theo lệnh của secteur (tiểu khu) Hành Thiện, căn cứ trên báo cáo của tình báo địa phương, địch quân đang đồn trú tại làng tôi một đơn vị lớn, thực tế không có một đơn vị nào của địch, tin tình báo gì lạ vậy, mà chỉ có dân lành nằm chết khắp nơi trong làng! Dưới cơn mưa pháo, mẹ tôi ôm chúng tôi dưới gầm giường, hy vọng che chở mảnh đạn pháo binh không làm hại cho đàn con dại, mẹ Việt Nam vùng quê đơn giản suy nghĩ như vậy đó, thời gian qua mau, không ngờ đúng 10 năm sau tôi lại chỉ huy pháo đội này. 1/2 quân số đơn vị đã tham dự cuộc pháo kích năm 1951, vẫn còn tại hàng.
Vừa nhận bàn giao xong, sau không đầy một tuần làm quen đơn vị, mùa đông bắt đầu, cái lạnh giá buốt hành hạ, lần đầu tiên trong đời tôi thấy em bé gầy gò khoảng 6 tuổi, cõng một em khoảng 2 tuổi, cả hai không có đủ áo chống lạnh, oái oăm là cả hai cùng ngậm điếu thuốc cì gà rất lớn (Cẩm Lệ), hai điếu thuốc đang bốc khói, trông hai em rất hạnh phúc, cõng nhau đi ngoài trời gió lạnh tại ga xe lửa Tam Kỳ.
Tôi bắt đầu nhập cuộc trở lại. Rồi cũng lại kéo hai khẩu súng đại bác của pháo đội B lưu động tại tỉnh Quảng Nam, ai cũng sợ phải làm nhiệm vụ lưu động, vì sợ phải gần Đại Tá tư lệnh, tôi lại bằng lòng với nhiệm vụ lưu động, vì dù sao tối đến cũng hay được ở thành phố, chính vị tiểu đoàn trưởng Đại úy Nguyễn văn Thiệu, cũng muốn tôi làm nhiệm vụ này, ai cũng muốn được vô sự, tôi luôn mang vô sự đến cho ông.
Được lệnh đóng vị trí tại chân núi Bà Nà yểm trợ hỏa lực cho trung đoàn Địa Phương (?) trung đoàn phó là Đại úy Nguyễn văn Ngơi, vì Đại úy Ngơi là trưởng phòng an ninh Quân đội của SĐ5BB, lúc tôi là pháo đội phó pháo đội A tiểu đoàn 5 súng cối, hơn nữa ông hay sang pháo đội uống cà phê nên mới nhớ tên ông, thật sự quên tên vị trung đoàn trưởng, hình như là Đại úy Tất, cuộc hành quân chưa chấm dứt. Nhận lệnh kéo súng về hậu cứ, ngày hôm sau, lại nhận lệnh kéo súng đi Thường Đức, không có hộ tống dọc đường, đóng quân tại Thường Đức, yểm trợ trực tiếp cho Tiểu Đoàn 1, trung đoàn 4 (hay 6 ?) thuộc SĐ 2 BB do Đại Uý Võ Mạnh Đông làm tiểu đoàn trưởng, đơn vị này đang hành quân tại vùng Ben Hiên, Ben Hiên nổi tiếng là vùng nước độc, người ta đồn rằng: Qua suối là rụng hết lông chân, dưới lòng suối nước trong vắt, nhìn thấy từng viên sỏi dưới đáy suối, trông giòng suối thật hiền hòa, nào có ai biết giông bão đang chờ, hôm tiểu đoàn 1 băng qua suối, ba đại đội đầu vượt suối bình yên, nước chỉ tới trên đầu gối một chút mà thôi, không có một hiện tượng gì là nguy hiểm, nên an toàn, vô sự. Lúc đó Thiếu úy Nguyễn văn Lước là sĩ quan tiền sát của tiểu đoàn này, mỗi tiểu đoàn chỉ có một sĩ quan pháo binh đi để điều động hỏa lực pháo binh.
Đại đội sau cũng vừa bắt đầu băng suối, chỗ sâu nhất chỉ tới háng mà thôi. thì thình lình nước chảy cuồng loạn, đúng là như thác đổ, cuốn mất một trung đội, mà lúc đó trời đang trong sáng, sau mới biết là do mưa lũ từ thượng nguồn, nước trào dâng, tràn về nhanh như vậy, cuối cùng trung đội này chỉ bị chết đuối mất 2 người.
Tôi có lội xuống suối thử một lần, thấy không rụng lông chân, mà nhổ lông chân không cảm thấy đau. Đ/U Đông lúc ra trường về TĐ5ND, rồi luân lưu về SĐ2BB dưới quyền trung đoàn trưởng Thiếu Tá Võ Hữu Thu kiêm tỉnh trưởng Quảng Nam, cả hai ông này đều là anh ruột của anh hùng Võ Đại Tôn. Đó là thời Đại Tá Lâm Văn Phát Tư Lệnh SĐ2BB, ba trung đoàn trưởng kiêm ba tỉnh trưởng Quảng Nam Thiếu Tá Thu, sau này Quảng Tín Đại Uý Thọ, vì năm 1961 chưa có tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi Thiếu Tá Tụ. Sau đó tôi kéo súng về Bến Giàng phía Tây của Thường Đức, cách Thường Đức khoảng 10 cây số đường chim bay, nhưng đi đường bộ thì khoảng 14 cây số, rồi lại được lệnh kéo súng về Khâm Đức hướng Tây của Bến Giàng khoảng 10 cây số đường chim bay, đường bộ khoảng 15 cây số.
Tại đây tôi gặp Đại Uý Vũ văn Giai, chi khu trưởng chi khu Khâm Đức, lại Tây tiến nữa Ngoktavak cách Khâm Đức khoảng 11 cây số đường chim bay, khoảng 16 cây số đường bộ, đây mới là vị trí nằm ngay trên đường mòn HCM. Ngoktavak nơi khỉ ho cò gáy, chúng tôi gặp Đại Đội trưởng Bộ Binh, Thiếu Úy Bùi Đức Cẩn khoá 17 võ bị Đà Lạt, mới ra trường, hiện nay tại San Jose. Lúc đó có Thiếu Úy Ninh (k10TĐ) sĩ quan trong đơn vị tôi; từ Ngoktavak tới ngã ba biên giới khoảng 15 cây số đường bộ. Tại đây tôi thiết lập vị trí pháo binh rất quy mô, vì nó nằm ngay trên đường mòn HCM. Phải rất thận trọng ấm ớ, là (chuối đó cưởng). Vị trí này nếu bay trên trời quí vị chỉ thấy vị trí hai khẩu pháo, trơ trọi trên đỉnh đồi, không thấy các cơ quan khác. Như nhà ở của các pháo thủ, hay hầm đạn đều nằm dưới mặt đất v v. Nhờ vậy tôi được tư lệnh sư đoàn khen thưởng.
Tôi nói vòng vo Tam Quốc như vậy để quí vị đọc giả hiểu rõ tác giả, dù ở cấp bậc nào, viết về tướng Trưởng, không biết đọc bản đồ nào, mà lại viết Thường Đức nằm trên đường mòn HCM, trong khi Thường Đừc nằm cách xa ĐM/HCM, khoảng gần 50Km, tôi không muốn biết tác giả có cấp bậc gì , trình độ nào, nhưng viết như vậy, thì bài viết này khả tín bao nhiêu? Tác giả viết nhiều điều buồn hơn vui, nhưng một điều hơi đè nặng trên vai vị tướng có nhiều điểm tốt hơn điểm xấu, tôi sợ nhiều người hiểu sai, không nên vì hằn học với hiện tại, mà làm mất đi sự cảm mến của hậu thế với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một vị tướng có nhiều điểm tốt hơn xấu mà bị bôi trét như vậy có chỉnh hay không? Ngay con cháu chúng ta, có còn coi trọng chúng ta hay coi thường chúng ta.
Ôi một vị tướng có điểm cao, mà còn vô trách nhiệm như vậy, vậy các quân nhân khác, sẽ bê tha tới mức nào đây! ! Đó chính là nguyên nhân tôi thấy phải có trách nhiệm viết, có đoạn tác giả viết đại để như thế này:
(Khi nhận được tin nóng từ máy bay quan sát cho biết từ điểm X một đoàn xe địch rất đông đang từ đó di chuyển về hướng Quân Đoàn II).
Tư Lệnh Quân Đoàn I, lạnh lùng trả lời:
- Hãy để cho nó đi !
Lời nói nhẹ nhàng! Nhưng nó biểu lộ một sự lựa chọn vô trách nhiệm, nhất là nó phát ra từ lồng ngực của một quân nhân có tinh thần trách nhiệm cao, tinh thần kỷ luật cao, mà còn vô trách nhiệm như vậy! Ôi! Có thể như vậy sao? Ông Trời tuy xa vời vợi, khó với tới, nhưng rất dễ cho mọi người cảm nhận được, trời ở nơi nao? Lời văn độc ác trời có thể thấy rất rõ, thấy rất chi tiết, thấy rất công bằng và phán xét rất công minh.
Ra ngoại quốc ai mà không khắc khoải nhớ về quê hương thân yêu, tôi hoàn toàn chới với giữa giòng đời chen chúc bởi lòng vòng trong ghen tị, ôi chao với kẻ thù cũng có mà với bạn bè cũng khá nhiều, nhưng với bạn thì chan chứa độc ác, phát xuất từ ganh tỵ, cái ta cao chót vót, không dung tha một người nào, càng nhiều danh vọng, càng lắm tên bay, đạn lạc.
Cả hàng tá tổ chức phục quốc, tôi không biết phải làm gì với sự mong muốn hèn mọn của mình, sau một thời gian suy diễn lung tung, tôi chỉ còn thấy tổ chức của ông Nguyễn ngọc Huy là chỗ dựa tinh thần vừa phải, nên phải bước vào lắng nghe, xem thực hư thế nào, một buổi chiều thứ tư đẹp, tháng tư, năm 1986.
Thật lòng mà nói, trước năm 1975 tôi nhìn tướng Trưởng với con mắt thật bình thường, không ác cảm, mà cũng không có nhiều cảm mến.
Trung tá Nguyễn văn Viên người anh quí mến của tôi, năm 1954 là quyền tiểu đoàn trưởng TĐ5ND lúc đó tướng Trưởng mới ra trường là trung đội trưởng, anh Viên rất tốt với ông Trưởng, mời về nhà dùng cơm nhiều lần. Nhưng rồi đường binh nghiệp của anh Viên lắm chuyện không hay, nên anh phải tự chọn con đường giải ngũ......Sau này lúc tướng Trưởng (1 sao) làm tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, anh Viên bị gọi tái ngũ với cấp bậc Thiếu Tá làm việc tại địa phương, chi khu, dưới quyền tướng Trưởng, anh Viên không muốn gặp ai cả, lại còn mặc cảm thông thường thế nhân, bất ngờ tướng Trưởng tới thăm đơn vị, nên anh Viên đành phải trình diện. Tướng Trưởng nhận ra cấp chỉ huy cũ của mình, nên tướng Trưởng mời gặp tại văn phòng lúc 11:00 ngày hôm sau.
Anh Viên rất thận trọng, đến trước giờ ấn định, nhưng vẫn không được như ý, anh bắt buộc phải ra về, anh hơi buồn rồi bỏ luôn. Anh nghĩ rằng tướng Trưởng rất khó sắp xếp cho mình, anh rất thông cảm hoàn cảnh éo le, anh không muốn nhờ vả một ai, nếu anh muốn làm việc tại Sài gòn lúc bị gọi tái ngũ, cũng không khó khăn. Không may nay gặp phải tình trạng này, nên anh buộc lòng phải gọi về Sài gòn, gặp bạn cũ, xin về vùng lV, với mục đích chính, xa hẳn ảnh hưởng của tướng Trưởng. Trước khi đáo nhận đơn vị mới anh Viên có cùng chúng tôi hàn huyên tại Sài gòn. Anh không hề nói gì về việc anh xin thuyên chuyển. Mãi sau này khi gặp tướng Chinh tôi mới biết. Tướng Chinh cũng như tướng Giai đều nói, nếu biết anh Viên bị tái ngũ, thì anh Viên muốn về đâu, hai vị này đều có thể lo cho anh Viên được như ý.
Anh Viên được như ý, thuyên chuyển về quân đoàn lV, không may tướng Trưởng lại về vùng lV, lần này may mắn không phải như trước do thời gian ngắn ngủi, nên chưa gặp mặt trực tiếp. Tướng Nam thay thế Tướng Trưởng. Tướng Nam muốn cất nhắc anh Viên. Anh từ chối và xin tướng Nam cho anh được an phận. Anh Viên lên Trung Tá thường niên rồi mất nước.
Năm 1976 anh Viên xin được một chiếc máy đánh chữ và một chiếc máy quay ronéo, cả hai máy đều đã quá cũ, từ Tướng Đỗ kế Giai, (tướng Giai nổi tiếng như cụ Vương hồng Sển) anh in được một số truyền đơn, rải tại Sài gòn và Bà Rịa, không may bị lộ, Việt Cộng đã xử bắn anh Viên tại bến xe đò Bà Rịa năm 1976 - sau 1 tháng tra tấn dã man.
Việc trên đây do tướng Đỗ kế Giai kể lại, cho tôi tại San Jose, có bác sĩ Trần lữ Y và Văn văn Của cùng nghe. Tại bàn tướng Giai không uống rượu, còn hai vị bác sĩ thì khỏi phải nói, tôi là bệnh nhân của bác sĩ Trần lữ Y tại Sài gòn, trước năm mất nước.
Chúng tôi có được buổi gặp mặt, tại tư gia anh NQV, anh NQV là một người bạn tốt, mà còn là một thành viên cốt cán của giáo sư Huy, anh cư trú tại phía nam thành phố San Jose, tôi cố ý đến sớm hơn mọi người, để được nói vài câu chuyện, xa xưa, may mắn được gặp tướng Trưởng tại đây đúng như ý.
Tôi (Bùi đức Lạc) uống bia, còn tướng Trưởng uống theo sở thích của ông, căn phòng rộng thênh thang, chỉ có hai chúng tôi. Đương nhiên tôi biết ông đã lâu, từ lúc sư đoàn Nhảy Dù thành lập Trung tâm huấn luyện quân sự, lúc đó thì tôi chưa đội nón Đỏ, cũng như chưa có tiểu đoàn Vương mộng Hồng, tinh thần làm việc của ông, tôi không sao có thể so sánh với bất kỳ một ai, riêng sức chịu đựng làm việc thì tôi có thể theo chân ông được. Theo sau thôi!
Chúng tôi cũng có những câu xã giao với nhau thường lệ, như mọi người. Sức khỏe của ông lúc đó không có gì khác cho lắm, nhưng hình như ông bắt đầu vào thời kỳ suy thoái, là con người ai mà không phải chịu cảnh sinh, lão, bệnh, tử! Tôi nghĩ rằng: Lúc này đất nước còn đang cần những người như ông, tôi biết ông sẵn lòng đóng góp, thật tình không biết tổ chức nào, có sức hấp dẫn với ông.
Mới đây một người bạn không thân thiết, so sánh tướng Trưởng với tướng Nguyễn chánh Thi, nhưng anh ta nặng đầu óc địa phương quá! Tôi mỉm cười cho qua chuyện, không bao giờ tôi lại đi so sánh hai vị niên trưởng, ở những lúc không cần thiết, tranh luận vô bổ, một người thì bày, một người thì dọn dẹp, một người thì to miệng, một người thì bé mồm; hãy để cho thế nhân bình luận cũng đủ lắm rồi!
Thưa niên trưởng tôi có một thắc mắc, niên trưởng có thể trả lời, nếu không muốn niên trưởng có thể không trả lời.
Cái gì mà nghiêm trọng vậy?
Lúc sắp mất nước, Không Quân quan sát thấy...Tôi vừa nói tới đó, ông dơ tay cắt ngang, ông thở dài chậm rãi nói:
Tôi hiểu rồi! Tôi tưởng việc gì trọng đại, tôi nghĩ việc này anh phải biết rồi chứ, pháo binh phải hiểu hơn ai hết...... Sau hiệp định Ba Lê quân đội ảnh hưởng nặng nề nhất, pháo binh chỉ được bắn mỗi ngày 20 viên đạn /một khẩu, trước đó bắn không hạn chế. Không phải chỉ có như vậy là thôi đâu, đến cuối năm thì chỉ còn 10 viên, rồi 5 viên...một khẩu..... Không Quân còn bi đát hơn nữa, hạn chế các phi vụ, hạn chế xăng nhớt, hạn chế bom đạn, nếu mình cho đánh bom đạn bừa bãi thì là hành động tự sát. Vì khi các Thành phố, cứ điểm của ta bị tấn công, lấy hỏa lực ở đâu để yểm trợ cho các đơn vị này, chúng ta bó tay, chịu đựng hay sao?
Vấn đề này Quân đoàn đã tiên liệu từ lâu, nếu có sự kiện xảy ra như vậy, Quân đoàn có nhiệm vụ phải báo cáo ngay cho Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nơi đây có trách nhiệm điều động hỏa lực tiêu diệt lực lượng đich, như vậy việc tiêu diệt địch di chuyển bằng xe hay là di chuyển băng đồng, nếu không có đụng độ trực tiếp với các đơn vị cơ hữu của Quân đoàn, thì đều do sự điều động hỏa lực của BTTM/QLVNCH. Quân đoàn bó tay, những sự kiện này xảy ra nhiều lúc rất đau đầu, tôi thấy đây cũng chính là một trong những lý do đưa chúng ta đến mất nước, lưu vong như ngày hôm nay. Vì thấy địch mà không được đánh, từ đâu ra nông nỗi này. Nhiều người không hiểu đã ăn nói bừa bãi, gây đau lòng nhau, không ích lợi gì, mà chỉ có lợi cho lòng tự tôn, tự đại của họ mà thôi, tôi thấy thương họ, hơn là oán hận họ, lúc này là giai đoạn cần phải thận trọng, thêm bạn bớt thù, đó mới chính là mục tiêu hàng đầu của chúng ta.
Đã là con người ai cũng có những lúc lầm lẫn, tôi biết chính tôi đã có những lời nói, việc làm gây tổn thương người khác. Trong thời gian đó trăm ngàn dâu đổ đầu tằm, tôi chỉ còn biết công vụ và công vụ mà thôi; nội công vụ đã làm tôi quên hết mọi việc, gia đình xã hội tôi đều mắc lỗi, lỗi nặng, tôi rất ân hận vô cùng, xin gia đình, xin các chiến hữu hiểu, thông cảm và tha thứ tất cả hành động không vừa ý của tôi đã đối với họ . Tôi xin ngẩng cao đầu chịu tội. Trưởc linh hồn các chiến hữu đã khuất, trước ý chí cương cường các chiến hữu còn nuôi ý định quang phục quê hương, trước gia đình thân yêu của họ và của tôi.
Cho nên khi Không Quân xin oanh tạc, tôi đành phải cắn răng mà nói, như anh đã nghe. Không lẽ mỗi khi có sự kiện xảy ra đau lòng như vậy! Tôi phải giải thích với từng người; về hoàn cảnh ê chề của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, như vậy hay sao? Thú thật tôi không có thì giờ, tôi cô độc lắm. Hoàn cảnh khó khăn, tàn độc mà chúng mình phải chịu chi có những người chung số phận, mới hiểu được, còn những vị chuyên ăn trên ngồi trốc làm sao hiểu được, họ là những người chuyên (ăn tục... nói phét..... Mà thôi! Càng không nên tranh luận với những người này). Lúc đó tôi có trăm ngàn việc phải lo, đâu phải chỉ có những việc đơn giản như vậy đâu! Chúng ta hãnh diện là những quân nhân vào sanh ra tử, không trốn tránh trách nhiệm khi đất nước cần đến sự hy sinh xương máu của chúng ta, không lẽ bây giờ chúng ta lại trốn tránh trách nhiệm với đồng bào ruột thịt của chúng ta, tôi không muốn lên tiếng vì tôi thấy khó chịu khi phải nói chuyện với những chuyên viên như vậy!!! Anh nên cẩn thận khi nói chuyện với họ! Tôi không quên toán tiền trạm năm Mậu Thân, do anh điều động thay anh Lưỡng đã giải tỏa áp lực địch cho tôi.
Thưa Niên trưởng, đó là chuyện bình thường thôi!
Thưa quí vị, sở dĩ có việc này là do, Tết năm Mậu Thân, Cộng quân tấn công vào Huế, vì bất ngờ, nên đặc công đã chọc thủng hàng rào phòng thủ của trại Mang Cá, rồi lần mò vào tới sân cờ của BTL/SĐ1BB. Các đơn vị cơ hữu của SĐ1BB đều không thể điều động được.
Tướng Trưởng không liên lạc được với Chiến Đoàn 1 Nhảy Dù, tất cả hệ thống liên lạc chỉ huy của Chiến Đoàn Nhảy Dù, cũng như nhiều hệ thống chỉ huy khác trong vùng đều bị phá, không liên lạc được, bắt đầu từ thời điểm đó, hệ thống liên lạc, cũng như vũ khí, đồ trang bị của địch, hơn hẳn ta!
Nhưng trên hệ thống tác xạ của Pháo Binh, vì máy GRC5 dùng bình điện xe, ăn-ten dù 292 nên công xuất mạnh, nhờ vậy tổng đài của pháo binh vẫn liên lạc tốt, do đó tôi mới làm trung gian (nhận lệnh và chuyển lệnh) toán tiền trạm đã nhận lệnh của Chiến Đoàn Trưởng, do tôi chuyển lệnh, nhờ vậy toán tiền trạm đã có mặt kịp thời trợ giúp cho BTLSĐ1BB, tránh được điều đáng tiếc xảy đến. (xin xem Cơn Uất Hạ Lào. Cùng tác giả )
Tôi nhìn tướng Tưởng mờ mờ qua giòng lệ hiếm hoi, tôi tự thấy mình đã có điểm sai, tôi không còn đủ can đảm hỏi ông điều nào nữa. Chúng tôi như đang ôn lại thế ra cửa máy bay, dấu giầy saut in đậm trên áng mây trắng rất hiền hòa miền Hậu giang, miền Đông..v..v.. Trận mạc đâu còn ý nghĩa gì, hãy quên đi, nhưng thế ra cửa phi cơ phải khắc ghi trong tủy sống. Tiếng thở dài không biết phát xuất từ lồng ngực nào, hãy tha thứ cho họ, hãy vui đi, hãy cười lên, cho dù là nụ cười muộn màng, héo hon. Lúc đó mới.....Chợt nhận ra:
Người làm nhiều điều vô vụ lợi cho tha nhân! Là người ngu đần, dại dột. Người hy sinh nhiều! Là người u mê nhất trần gian.
Người giúp đỡ nhiều người! Là người muốn tự hủy hoại mình.....
Vì hậu quả sẽ nhận lại, chỉ có đắng cay mà thôi, chắc chắn sẽ được bồi hoàn không thiếu một chỉ ! ! ! Đời sống là như vậy đó, càng oán hận lại càng u u minh minh. Người quên ơn, là người bất nghĩa, liệu đường mà đi , không được oán hận, mà phải đón nhận. Vui cười mà đi.
Đừng buồn chi ! Ai ơi ! ! ! Tôi không đủ can đảm nhìn lại bóng ngày qua .,.
Bùi đức Lạc năm 2018
Labels:
BẾN HIÊN,
GIÀNG,
khâm đức,
NGÔ QUANG TRƯỞNG,
QL 14,
THƯỜNG ĐỨC
Saturday, May 30, 2020
Subscribe to:
Posts (Atom)






