Sunday, May 7, 2017

How to restore contacts from iCloud to your iPhone or iPad/Chuyển danh bạ từ iCloud sang iPhone hay iPad . 

iMore Allyson Kazmucha  Jul 30,  2014

Friday, May 5, 2017

Bí mật vụ hành quyết Nicolae Ceauşescu

(Quốc phòng) - Điệp vụ phối hợp của CIA, KGB, GRU và tình báo Hungary nhằm lật đổ nhà lãnh đạo Rumani đã lần đầu tiên, được một sĩ quan tình báo quân sự Liên Xô trực tiếp tham gia âm mưu của các cơ quan đặc vụ tiết lộ.Đó là Roman, người từng là sĩ quan trẻ nhất của Cục Tình báo Cụm quân phía Nam của Hồng quân tại Budapest, thủ đô Hungary. Roman được trọng dụng và thăng tiến nhanh nhờ lợi thế rất giỏi ngoại ngữ. Roman nói thạo tiếng Đức và Pháp, còn tiếng Hungary và Rumani với anh là tiếng mẹ đẻ giống như tiếng Nga. Bởi lẽ, anh sinh ra và lớn lên ở Mukachevo, Zakarpatie (Liên Xô). Chính Roman cũng chẳng rõ có bao nhiêu máu Hungary và Rumani chảy trong huyết quản của mình. Khác với Hungary, thời đó ở Rumani, không có quân đội Liên Xô trú đóng. Do đó, Roman rất khó thu thập tin tức về chương trình hạt nhân của Rumani. Anh chỉ còn cách thực hiện những chuyến đi ngắn đến Transylvania (vùng đất từng thuộc Hungary, sát nhập vào Rumani năm 1918) để gặp gỡ những người Hungary ở Rumani. Tại Timişoara, Rumani, tình báo Liên Xô có một

Ông Nicolae Ceausescu (26/1/1918-25/12/1989) giữ chức Tổng bí thư Đảng Cộng sản Rumani từ năm 1965-1989, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Rumani từ 1967, và Chủ tịch Rumani từ năm 1974-1989.
Những kẻ đạo đức giả chính trịLà dân tình báo chuyên nghiệp thực thụ, sau hơn 20 năm, Roman kể về những chi tiết chưa được biết đến về điệp vụ thủ tiêu vợ chồng Nicolae và Elena Ceauşescu. Người thúc đẩy ông làm việc này chính là … Mikhail Gorbachev, vị tổng thống đầu tiên và cuối cùng, không lấy gì làm vinh quang của Liên Xô.Vào dịp Gorbachev tròn 80 tuổi, báo chí phương Tây đã phát động cả một chiến dịch náo động tung hô ông ta. Cá nhân Gorbachev thì cố giữ hình ảnh một ông lão tốt bụng.Nhưng cựu sĩ quan tình báo Liên Xô Roman thừa nhận, ông đã thấy phát buồn nôn khi mùa xuân năm ngoái nghe Gorbachev phát biểu ở Bucharest lên án việc xử bắn vợ chồng Ceauşescu vào tháng 12/1989. Gặp gỡ các phóng viên, cựu lãnh đạo Liên Xô “giở trò mèo khóc chuột” nói rằng, họ đã bị bắn giết “như những con vật” và việc đó lẽ ra không được làm “dù tình hình trong nước có khó khăn đến đâu”. Trong chuyến thăm cá nhân tới Rumani, cựu tổng thống Liên Xô đã gặp cựu tổng thống Rumani Ion Iliescu. Chắc là họ có nhiều điều để nhớ lại.- Việc xử bắn Ceauşescu và vợ ông ấy bên tường nhà vệ sinh của binh sĩ chính là họ phải chịu trách nhiệm, - Roman khẳng định.Tháng 11-12/1989, sĩ quan tình báo trẻ Roman đã phải làm phiên dịch cho các chỉ huy cao cấp từ Moskva đến với sứ mệnh bí mật. Các tướng tình báo GRU (Tổng cục Tình báo Bộ Tổng tham mưu quân đội Liên Xô và Nga sau này) đã họp hằng giờ với các chỉ huy tình báo Hungary. Roman còn nhớ rõ các vị khách từ Moskva nhiều lần nhấn mạnh rằng, họ làm việc theo ủy quyền không chỉ của Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô mà còn của chính Gorbachev. Hồi đó, chỉ có bản thân Tổng bí thư mới có thể ra lệnh lật đổ nguyên thủ một quốc gia khác. Do thận trọng, các tướng tình báo quân sự Nga đã quyết định mượn tay các cơ quan đặc vụ Hungary để hạ thủ.Chiến dịch “Gây mất ổn định”Thủ tướng Hungary hồi đó Miklós Németh, trong cuộc phỏng vấn mới đây với báo Magyar Hírlap ở Budapest, thú nhận, các cơ quan đặc vụ Hungary, ngay trước các sự kiện ở Rumani, đã cung cấp vũ khí cho phe đối lập Rumani, còn các toán chiến đấu của lực lượng đối lập thì được huấn luyện tại các trại của Hungary. Gần 2 thập niên qua, đây là một trong những bí mật được giữ gìn cẩn mật nhất.Tham gia cùng các chuyên gia Hungary huấn luyện cho những kẻ nổi loạn tương lai Rumani còn có các cố vấn Liên Xô từ lữ đoàn đặc nhiệm của Cụm quân phía Nam của Hồng quân.Sự việc không chỉ dừng ở đó. Tình báo Liên Xô và các cơ quan đặc vụ Hungary còn tuyển mộ được nhiều quan chức trong bộ máy đảng và nhà nước Rumani. Tổ trưởng tình báo của Tổng cục I, KGB (Ủy ban An ninh Nhà nước) Liên Xô là người trực tiếp làm việc với Iliescu, bạn của Gorbachev, nhà hoạt động đảng khi đó và tổng thống tương lai của Rumani.GRU thì lo phần quân đội Rumani. Trong số các điệp viên tuyển được có cả tướng Victor Stănculescu, Bộ trưởng quốc phòng Rumani tương lai trong chính phủ đầu tiên của Iliescu. Hồi đó, ông ta còn là "sủng thần" của bà Elena Ceauşescu. Bản thân ông Nicolae Ceauşescu cũng hoàn toàn tin tưởng người tình của vợ mình.Nhưng dẫu , thì đóng vai trò chủ chốt trong tổ chức các hành động phá hoại ở Rumani không phải là KGB hay GRU và tất nhiên cũng không phải các cơ quan đặc vụ Hungary. Vai chính trong âm mưu của các cơ quan đặc vụ thuộc về CIA.Trưởng phòng Đông u của CIA Milton Borden nay thừa nhận là “nhìn chung” tất cả những hành động này được điều khiển từ Washington.Vậy "công nghệ thay đổi chế độ" ở Rumani là gì? Ở giai đoạn đầu là bôi nhọ Ceauşescu. Với mục đích đó, hàng chục điệp viên của các cơ quan đặc vụ đã cố gắng để càng nhiều càng tốt các tài liệu “tố cáo” Ceauşescu và giới thân cận xuất hiện trên báo chí thế giới. Ví dụ, các tờ báo viết rằng, tổng tư lệnh quân đội Rumani Nicolae Ceauşescu phong quân hàm đại tá cho con chó nhỏ bằng nhung yêu thích của mình.Ở giai đoạn 2 của chiến dịch là cần PR cho những người có thể kế nhiệm Ceauşescu. Chẳng hạn, trên báo chí bắt đầu thấp thoáng những tin tức nói rằng, Ion Iliescu sẽ là người nhiều khả năng nhất thay thế Ceauşescu.Ở giai đoạn 3 của cuộc chiến tranh thông tin, chủ yếu dựa vào các thủ đoạn thao túng thông tin về các sự kiện ở thành phố Timişoara, nơi được cho là nhiều dân thường đã chết khi đụng độ với các nhân viên an ninh Securitate (*).Roman nhớ lại rằng, tử thi của “những người chết” những ngày đó được các kênh truyền hình thế giới phát đi hình ảnh thực ra được đưa đến nơi ghi hình từ các nhà xác ở địa phương. Đó là xác của những người chết vì nguyên nhân bình thường… Người Mỹ đã trả cho các y tá 100 USD cho mỗi xác chết. Đối với Rumani thời đó thì đây là khoản tiền lớn.“Đả đảo bọn phản bội!”Dịp Giáng sinh, đời sống ở Hungary lặng đi. Còn ở Transylvania của Rumani, nơi khi đó có mặt Roman, tình hình đang sôi sục căng thẳng. Đêm 26, rạng sáng 27/12, truyền hình Rumani phát cảnh phiên tòa xét xử vợ chồng Chủ tịch Ceauşescu.Phiên tòa thật ngắn ngủi. Ceauşescu bị buộc tội về cái chết của 60.000 người. Nay chúng ta có những số liệu gần đúng, theo đó trên các đường phố của Bucarest và Timişoara đã có gần 1.000 người hoặc nhiều hơn thế một chút bị chết. Nhưng có một chi tiết quan trọng không thể bỏ qua là tổn thất của phía quân đội và các cơ quan sức mạnh khác của Rumani. Tổn thất đó là 325 người chết và 618 người bị thương. Đây rõ ràng là việc làm của các toán chiến đấu được huấn luyện tại các căn cứ bí mật ở Hungary.Ngoài ra, lần đầu tiên ở Rumani đã xuất hiện các vận động viên bắn súng nước ngoài. (Nên nhớ là khi xảy ra khủng hoảng chính trị ở Nga vào tháng 10/1993, từng có những tay súng bắn tỉa nã súng vào cả Nhà Trắng (Tòa nhà Quốc hội Nga khi đó) và vào đơn vị đặc nhiệm Vympel ở Moskva). Mà lúc đó thì ở Rumani không hề có giải đấu quốc tế nào. Còn sau ngày 25/12, 257 nam xạ thủ trẻ đã rời khỏi Bucharest bay sang một nước Cận Đông.
Vợ chồng ông Nicolae Ceausescu.
…Sau khi tuyên án, vợ chồng bị cáo bị đưa ra một cái sân, tới bức tường nhà xí của binh lính. Hiểu rằng, giờ phút cuối cùng đã đến, Nicolae Ceauşescu bất ngờ cất cao giọng hát Quốc tế ca, sau đó ông thét to: “Đả đảo bọn phản bội!”.Những loạt đạn vang lên từ 3 khẩu súng trường tự động. Ba sĩ quan binh chủng dù Rumani đã nã vào Ceauşescu và vợ ông cả băng đạn súng AKM, tất cả là 90 viên. Chuyện này diễn ra lúc 14h50, ngày 25/12. Khi các hình ảnh này sau đó được phát trên truyền hình, phát thanh viên đọc: “Kẻ phản chúa đã bị giết vào ngày Chúa giáng sinh!”Kẻ tổ chức phiên tòa xử Ceauşescu chính là viên tướng trung thành một thời Victor Stănculescu. Không lâu sau khi giành được quyền chỉ huy quân đội Rumani, Stănculescu, kẻ vốn là điệp viên cùng lúc cho mấy cơ quan tình báo nước ngoài này, đã chính thức chạy sang phe âm mưu.Nhưng không chỉ có một ông ta. Cả nhóm cầm đầu các cơ quan đặc vụ Rumani cũng đã phản bội Ceauşescu. Nếu không thì làm sao mà trong quá trình điều tra chống chủ nhân toàn năng của Securitate là tướng Juluan Vlad lại không có một nhân chứng nào cung cấp lời khai, còn những tay chân trung thành của Ceauşescu là các tướng Virgil Măgureanu và Victor Stănculescu lập tức giữ các vị trí lần lượt là Giám đốc Cục Thông tin SRI, cơ quan kế thừa Securitate, và bộ trưởng trong chính phủ mới của Rumani.Nỗi sợ hãi trước bom nguyên tửCuối năm 1988, “vấn đề Rumani” đã bắt đầu có vị trí quan trọng trong các cuộc hội đàm của Gorbachev, Shevardnadze và Yakovlev với các nước phương Tây. Và vấn đề không phải ở chỗ Ceauşescu bị báo chí Liên Xô gọi là “nhân vật Stalinist” và kẻ thù của cải tổ. Mặc dù tại đại hội Đảng Cộng sản Rumani, Ceauşescu quả thực đã tuyên bố: “Thà để sông Danube chảy ngược còn hơn để diễn ra cải tổ ở Rumani”.Dẫu sao thì vấn đề cũng phải ở sự thù ghét của cá nhân Gorbachev đối với Ceauşescu. Trong nền chính trị lớn không có chỗ cho cảm xúc mà chỉ có lợi ích. Bush cha và Gorbachev khi đó có một điểm đồng - đó là không cho phép Rumani trở thành cường quốc hạt nhân. Trước mắt họ vẫn sờ sờ một Trung Quốc bất trị sở hữu vũ khí nguyên tử.Roman cho biết, Bucharest bắt đầu dự án vũ khí nguyên tử của mình từ cuối năm 1976. Để thực hiện chương trình này, Rumani đã thành lập một nhóm nhà vật lý hạt nhân làm việc ở trung tâm bí mật ở thành phố Magurel.Giống như ở Iran hiện nay, tất cả đã được thực hiện trong khuôn khổ chương trình năng lượng hạt nhân. Những thành công trong quá trình thực hiện dự án cho phép Ceauşescu chính thức tuyên bố vào tháng 5/1989 rằng, từ góc độ kỹ thuật, Rumani đã có khả năng sản xuất vũ khí hạt nhân. Tháng 12/1989, Ceauşescu đã bị lật đổ và xử bắn. Ông đã khoe khoang một cách vô ích. Rumani còn cần thêm khoảng 10 năm nữa cho đến khi chế tạo được bom nguyên tử.Roman nhớ lại rằng, 2 viên tướng GRU sau khi Ceauşescu bị giết đã không bay về Moskva. Họ cùng với một nhóm cán bộ tình báo quân sự của Cụm quân phía Nam quân đội Liên Xô đã chuyển từ Budapest (Thủ đô Hungary) tới Bucharest (Thủ đô Rumani). Họ bắt đầu tìm kiếm các mối quan hệ trong số các nhà vật lý hạt nhân Rumani.Dĩ nhiên, mục đích của các tình báo viên Liên Xô không phải là các bí mật bom nguyên tử của Rumani. Việc họ phải làm là ngăn chặn công nghệ hạt nhân bị rò rỉ khỏi nước Rumani đang bất ổn. Và với sự tiếp tay của CIA, nhiệm vụ này đã hoàn thành.Thế là chưa đầy 2 năm sau, vào năm 1991, chính phủ mới của Rumani đã chấp nhận đặt các cơ sở hạt nhân và các trung tâm nghiên cứu hạt nhân của nước này dưới sự kiểm soát hoàn toàn của IAEA. Nhưng 13,5 kg uranium làm giàu cao (80%) vẫn ở lại Rumani một thời gian dài. Vì vậy, năm 2003, CIA và SVR đã phối hợp tiến hành một chiến dịch bí mật đưa số nhiên liệu này về Nga để tái chế thành nhiên liệu không thể dùng làm vũ khí. Số nhiên liệu này được ô tô quân sự chở về Bucharest, chất lên một máy bay vận tải quân sự hạng nặng Il-76 của Nga và đưa tới Nhà máy nhiên liệu hạt nhân NZKhK ở Novosibirsk.Việc vận chuyển được thực hiện theo đơn đặt hàng của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế và được tài trợ bằng tiền của Bộ Năng lượng Mỹ. Cơ quan gửi hàng là Ủy ban quốc gia về kiểm soát hoạt động hạt nhân Rumani. Bộ Năng lượng nguyên tử Nga làm nhiệm vụ điều phối chung việc tiến hành chiến dịch. Các chuyên gia Mỹ cũng tham gia giám sát chiến dịch.Các cuộc thanh tra do IAEA tiến hành đối với các cơ sở hạt nhân Rumani cho thấy, kể từ năm 1985, Rumani đã tiến hành các thí nghiệm bí mật về tách plutonium dùng làm vũ khí. Theo tính toán của các nhà khoa học, bom nguyên tử của Ceauşescu sẽ ra đời trước năm 2000. Nhưng âm mưu của các cơ quan tình báo Mỹ và Liên Xô đã ngăn cản được việc đó.
(*) Securitate (trong tiếng Rumani có nghĩa là “an ninh”), có tên chính thức là Cơ quan An ninh quốc gia của Rumani thời XHCN.

Cơ quan đặc vụ này được thành lập ngày 30/8/1948, nhưng chỉ dưới thời Ceauşescu mới trở thành một cơ quan thực sự có quyền lực vô thượng, tuyệt đối và không trực thuộc ai trừ chính Ceauşescu.

Vị chỉ huy cuối cùng của Securitate - viên tướng lịch sự, luôn ăn mặc chỉnh tề Julian Vlad nằm trong “giới thân cận” của Ceauşescu, nhưng sau đó đã phản chủ.

Theo thông tin chính thức, bộ máy Securitate chỉ có vẻn vẹn 8.400 sĩ quan hoạt động. Nhưng theo thông tin của tên đào ngũ Ion Mihai Pacepa, năm 1978, quân số của nó đã lên tới 70.000 người.

Nhưng rõ ràng đây là con số phóng đại. Thông tin giả xuất sắc điển hình nhất là tin đồn mà Securitate phát ra nói rằng, cứ 4 người Rumani thì có 1 người cung cấp tin của họ.
DÂN MIỀN NAM TRỐN CHẠY CS * , QUA TỚI MỸ VẪN CHƯA YÊN , VÌ VẪN CÒN GẶP CS TẠI MỸ .
- Hòa giải hòa hợp gì khi KẺ CƯỚP tiếp tục CHIẾM GIỬ của cải của nạn nhân .
Tôi biết 1 bà gốc nữ sinh Đà Nẳng : trước 1975 , bà có anh chị theo VC . Sau 75 , họ vào "giải phóng" Sài Gòn , cướp đoạt NHIỀU BIỆT THỰ của người bỏ đi nước ngoài , sĩ quan cấp thiếu tá trở lên v.v... Các anh chị bà bán rẻ các nhà này cho bà : bà sửa thành KS nhà vườn , VP sang trọng cho thuê .
Bà cho con trai du học tại Mỹ , (sau đó lấy VK và bảo lãnh vợ chồng bà), bà du lịch Hàn , Nhật , v.v... như đi chợ , mua nhà và mở tiệm nail tại San Jose . Luật Mỹ rất dễ , chỉ cần là di dân/thường trú nhân (green card holder) là có quyền mua xe , mua nhà . Thành phần như bà rất nhiều tại Mỹ , họ sống hợp pháp , ko có bất cứ hoạt động chính trị nào cả ; ngu gì ra mặt thân cộng để "ăn đòn" vì dân Việt ở Mỹ phần lớn là tị nạn CS .
* Còn được CSVN gọi là bọn thích bơ thừa sữa cặn của Mỹ hay bọn ôm càng trực thăng (sic) !!!
Tôi rất mong bài viết này SẼ LỌT VÀO MẮT BÀ ĐỂ BÀ SỚM CẢNH TỈNH VÌ KẺ ÁC SẼ ĐỀN TỘI dù bà có che dấu , lẫn tránh với bất cứ hình thức này vì :
Quả báo lúc nào cũng đến , chỉ có sớm hay muộn mà thôi .
========
Tôi đã còm như trên sau khi đọc bài viết của Khanh Lam Nguyen đăng ngày 5/5/2016 :
"Thực tế có đúng như thế này không? Bạn đừng vội chửi phản động hay không phản động.
Hãy nhìn cuộc sống xung quanh bạn. Thực tế có đúng thế này không.. Nếu bạn hỏi 10 người VN thì có đến 9 người muốn có quốc tịch Mỹ, tại sao lại như vậy?
Người Mỹ là dân chủ, là nhân bản, nước Mỹ là nhân đạo, hùng mạnh, khi các nước có vấn đề về tranh chấp, cần can thiệp người ta nghĩ ngay đến Mỹ chứ không bao giờ là Nga hay Trung Quốc. Tại sao đồng đô la Mỹ đứng vững bởi vì đó là uy tín của nước Mỹ.
Dù là kinh tế , tài chính hay chính trị thì nước Mỹ vẫn là số 1 thế giới với cơ chế dân chủ Đa Nguyên Đa Đảng. Nước Mỹ có cơ chế ưu việt chứ không phải là người Mỹ ưu việt . Cơ chế độc Đảng sẽ dung túng và tha hóa bất kỳ con người nào . Và đó là lý do TÔI ĐẤU TRANH ĐÒI CHẾ ĐỘ ĐA ĐẢNG VÀ TAM QUYỀN PHÂN LẬP.
Bởi vì tôi muốn VN được như nước Mỹ chứ không phải vì 3 xu lẻ của Việt Tân. That"s all"
Khanh Nguyen
Ảnh của Khanh Lam Nguyen

Thursday, May 4, 2017

"Sợ hãi là kẻ thù lớn nhất của con người, và nó biểu hiện qua nhiều hình thức như xấu hổ, ghen tuông, giận dữ, xấc xược, kiêu ngạo... Nguyên nhân gây ra sự sợ hãi? Thiếu đi sự tự tin vào chính bản thân." .
-----
 "Tôn giáo duy nhất nên được truyền bá là tôn giáo của sự không sợ hãi." -- Triết gia Krishnamurti .
"Trong suốt quãng thời gian qua tôi đã đi đến kết luận rằng sự sợ hãi chính là nguyên nhân gốc rể của tất cả những nỗi bất hạnh và bất ổn đang bao vây mỗi cá nhân trong xã hội mà chúng ta đang sống. Nếu chúng ta có thể chinh phục được nỗi sợ của chính bản thân, chúng ta không những có thể thay đổi chính bản thân mà còn có thể đem đến hòa bình trong cộng đồng của chúng ta. Chúng ta được sinh ra “không biết sợ,” xã hội và giáo điều đã làm chúng ta trở nên sợ hãi" .-- 
Swami * Prajnanpad . 
* Swami : thầy tâm linh đạo Hindu

Đọc đầy đủ ở : http://forum.triethocduongpho.com/t/topic/335
-----------------------
Nhận xét của tôi : 
Tôi đã viết nhiều lần : vì sợ chết , sợ khổ , sợ đủ thứ , chúng ta trở nên ÍCH KỶ , VÔ CẢM trước nổi đau của đồng loại . Do đang sống những NGÀY THÁNG cuối cùng của cuộc đời , tôi thấy cái chết kề cận với mình , không tha thứ một ai kể cả vua chúa . Khi nghĩ như vậy , tôi đã MẠNH MIỆNG nói lên suy nghĩ của mình , không sợ những hậu quả về sau như ko được về VN vì chửi CS quá nhiều , v.v... - như rất nhiều VK đã nghĩ như vậy . Tôi nói với họ , nếu ai cũng như anh , CSVN sẽ ĐỜI ĐỜI NGỰ TRỊ trên đất nước này , sau khi đã chuyển tài sản sang Âu châu , Mỹ hay CND . Chỉ khi nào VN biến thành SA MẠC , CS mới từ bỏ việc cai trị .
SỨC SỐNG MÃNH LIỆT HỒI SINH TỪ ĐỐNG TRO TÀN .
Phần lớn hình chụp tại núi lửa St Helens ở bang Washington sau đợt phun trào năm 1980 , phần còn lại chụp ở núi lửa ở Hawaii và các cuộc đốt rừng có kiểm soát . Có hình chụp chỉ 1 tuần lễ sau cháy rừng .























Friday, April 28, 2017



Sau Phần Lan, Hà Lan và TP San Francisco, bang California - Mỹ, tỉnh Ontario ở Canada có kế hoạch chi trợ cấp hằng tháng cho người dân, được gọi là thu nhập cơ bản.


Hệ thống này sẽ được triển khai tại 2 khu vực của tỉnh Ontario. Hôm 25-4, Thủ hiến Kathleen Wynne đã công bố các chi tiết mới trong chương trình Thu nhập Cơ bản Ontario, dự kiến bắt đầu vào cuối mùa xuân này và kéo dài trong 3 năm.

Có tổng cộng 4.000 người tại 3 khu vực ở Ontario sẽ bắt đầu nhận thu nhập cơ bản dựa theo mức lương hiện tại của họ. Mỗi người có thể nhận được số tiền lên tới 16.989 USD/năm nhưng 50% của bất kỳ khoản thu nhập cá nhân nào khác đều bị trừ vào con số đó. Ví dụ, nếu một người kiếm được 10.000 USD/năm từ công việc làm của mình, họ sẽ nhận được thêm số thu nhập cơ bản là 11.989 USD, nâng tổng thu nhập lên 21.989 USD.

Tiêu chuẩn để được tham gia chương trình là ứng viên phải nằm trong độ tuổi 18-64 và có thu nhập thấp. Sau đó, họ sẽ được lựa chọn ngẫu nhiên.


Tỉnh Ontario - Canada sẽ thử nghiệm chương trình thu nhập cơ bản. Ảnh: Kush Tourism
Tỉnh Ontario - Canada sẽ thử nghiệm chương trình thu nhập cơ bản. Ảnh: Kush Tourism
Bà Wynne cho biết mục tiêu của chương trình là trấn an người dân rằng chính phủ luôn hỗ trợ họ. "Chính phủ và Ontario luôn ở bên bạn" - bà Wynne nói.

Tiền đề của chương trình thu nhập cơ bản rất đơn giản: người dân nhận được kinh phí hằng tháng giúp họ trang trải các chi phí cho sinh hoạt như thực phẩm, đi lại, quần áo và các tiện ích khác mà không bị tra hỏi gì.

Ngoài Canada, còn khá nhiều nước khác đang thử nghiệm chương trình thu nhập cơ bản. Hồi tháng 1, chính phủ Phần Lan đã bắt đầu hỗ trợ 2.000 người thất nghiệp 590 USD/tháng/người. Tại nhiều thành phố ở Hà Lan, 250 người dân sẽ sớm nhận được khoản hỗ trợ 1.100 USD/tháng/người trong 2 năm.

Chương trình thử nghiệm ở Ontario sẽ bắt đầu tại TP Hamilton và TP Thunder Bay, sau đó đến TP Lindsay vào mùa thu. "Mọi người sẽ được hưởng lợi từ sự phát triển kinh tế của Ontario. Thu nhập cơ bản sẽ hỗ trợ người dân trong tỉnh của chúng ta, những người đang nỗ lực để có cuộc sống tốt hơn" - bà Wynne nói.

Bảo Hạnh (Theo Independent)

(Vnmoney)

Monday, April 24, 2017

Mối thâm thù Thiệu – Kỳ làm Sài Gòn sụp đổ

Print Friendly
Nguồn: Sean Fear, “The Feud That Sank Saigon”, The New York Times, 03/03/2017.
Biên dịch: Trịnh Ngọc Thao | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Phật giáo đối đầu Công giáo. Người miền Bắc chống lại người miền Nam. Dân sự đụng độ quân sự. Nội đô khinh rẻ ngoại thành. Người Kinh bài xích người dân tộc thiểu số. Năm 1967, nhà nước chống cộng Nam Việt Nam là một chảo lửa chứa đầy những sự kình địch chồng chéo, thúc đẩy và làm trầm trọng thêm sự hỗn loạn chính trị đang phá hủy đất nước sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát năm 1963 trong một cuộc binh biến.
Nhưng xét ở góc độ chính trị cấp cao, chính cuộc tranh đấu giữa hai kình địch là tướng Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu mới là điều gây chú ý nhất đối với các nhà quan sát chính trị. Cả hai người đều trẻ tuổi và đầy tham vọng, đều là những tay lèo lái xảo quyệt các âm mưu ám độc và đảo chính vốn lan tràn trong giới quân đội cầm quyền Nam Việt Nam.
Và sau nhiều năm đấu đá, xây dựng liên minh, họ cùng hướng đến một cuộc đối đầu trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1967. Cuộc bầu cử có ý nghĩa đối với tính chính danh chính trị của chính nhà nước Nam Việt Nam, điều có vai trò cốt yếu trong việc lật ngược tình thế trong cuộc đấu tranh kéo dài chống lại lực lượng Cộng sản.
Năm 1967, chỉ mới 37 tuổi, Nguyễn Cao Kỳ đã nắm giữ chức vụ Thủ tướng ít quyền lực. Là một trong những sĩ quan đầu tiên tham gia lực lượng không quân quốc gia do Pháp tài trợ, Kỳ đã được thăng cấp nhanh chóng sau cuộc chiến cùng người Pháp chống lại quân đội của Hồ Chí Minh trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954). Đến năm 1964, Kỳ là Tư lệnh lực lượng không quân, vị trí cho phép ông ta chủ mưu nhiều âm mưu đảo chính quân sự sau đó.
Lớn hơn đối thủ của mình 7 tuổi, Nguyễn Văn Thiệu cũng nổi danh vào đầu những năm 1950, đấu tranh với quân Việt Minh do cộng sản dẫn dắt tại vùng đồng bằng Sông Hồng của Việt Nam. Với cương vị tư lệnh của Sư đoàn 5 có tầm quan trọng chiến lược đóng quanh Sài Gòn, Thiệu cũng là một nhân vật quan trọng trong các cuộc đảo chính dự kiến, nhưng phản đối chúng cho tới khi âm mưu chống lại Ngô Đình Diệm dường như chắc chắn thành công trước khi dẫn đầu cuộc tấn công vào Phủ Tổng thống. Vận may của Thiệu suy giảm sau một vụ đấu đá với Nguyễn Khánh, vị tướng mới nhất trong chuỗi các tướng lĩnh muốn đoạt ngai vàng. Thiệu rất hằn học khi Khánh ủng hộ Kỳ bằng việc bảo trợ và cho Kỳ thăng chức. Tuy nhiên sau đó Thiệu đã quay trở lại sau khi Khánh và một loạt các tướng lĩnh cao cấp khác bị thanh trừng vào mùa xuân 1965, nắm chắc vị trí Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia do quân đội dẫn dắt vào tháng 6.
Ngoài những điểm chung trong cuộc đời binh nghiệp, Thiệu và Kỳ hầu như hoàn toàn khác biệt. Xấc láo, màu mè, bốc đồng, Kỳ để tóc theo kiểu một tên giang hồ, khoác lên mình một khăn hàng hiệu màu tím và cặp kính hàng không, kè kè bên mình bà vợ hai, vốn là một tiếp viên hàng không với phong cách lòe loẹt và sở thích giải phẫu thẩm mĩ. Kỳ thường được biết đến như là một tư lệnh táo bạo liều lĩnh, với niềm đam mê cờ bạc và đá gà.
Ngược với Kỳ, Thiệu luôn cẩn trọng và sống khép kín; xây dựng hình tượng bản thân là người đàn ông chuẩn mực của gia đình với sở thích khiêm tốn, ông tránh xa ánh đèn sân khấu, thích đứng sau hậu trường vạch ra các kế hoạch của mình.
Nhưng sự ganh đua giữa Thiệu và Kỳ vượt xa ngoài khác biệt đó. Không chỉ xung đột về tính cách, mối thâm thù Thiệu – Kỳ đại diện cho và làm trầm trọng hơn các mâu thuẫn sâu sắc trong xã hội, ngay cả khi quốc gia lún sâu hơn vào chiến tranh.
Tính cách thích giao du của Kỳ giúp ông ta lấy lòng của các sĩ quan trẻ trung thành, đặc biệt là các đồng hương người miền Bắc – hầu hết là dân Công giáo, những người chống Cộng kịch liệt đi vào Nam sau khi Việt Nam chia cắt năm 1954. Nhưng tính bốc đồng, kiêu căng và bám lấy viện trợ của Mỹ đã khiến Kỳ bị xem là kẻ đầu cơ chính trị trong mắt những người bảo thủ và người miền Nam. Lo sợ quyền lực chính trị của người miền Bắc và nạn tham nhũng bắt nguồn từ sự can thiệp về kinh tế và quân sự của Mỹ, những địa chủ lớn tuổi có khuynh hướng thân Pháp rút lui khỏi xã hội mới bẩn thỉu vốn nổi lên như một sự tất yếu trong giai đoạn mới của cuộc chiến.
Trong bối cảnh đó, Thiệu, một hình mẫu về con người có trách nhiệm và đáng kính chính là tấm lá chắn hoàn hảo chống lại biểu tượng xấu xa của Kỳ. Tuy nhiên, các Phật tử chiếm đa số và phe Công giáo thiểu số vẫn đề phòng sự cải đạo sang Công giáo gần đây của Thiệu, và xuất thân từ một thị trấn nhỏ miền Trung cũng cản trở Thiệu giành được sự ủng hộ rộng rãi của người dân. Sống giản dị và tách biệt, Thiệu không có được thứ sức hút của Kỳ, và những người ủng hộ Thiệu thường chọn Thiệu là vì ghét Kỳ hơn là vì thực sự tôn kính Thiệu.
Mối thâm thù này đã thâm nhập khắp giới chính trị Nam Việt Nam vào giữa những năm 1960, với việc bộ máy quân sự và dân sự chia rẽ nội bộ, và các sĩ quan hay công chức bị ép phải tuyên bố trung thành với một bên. Đại sứ Nam Việt Nam tại Mỹ tuyên bố là người của Kỳ, cùng với Bộ trưởng Quốc phòng, Giám đốc Cảnh sát quốc gia, Đô trưởng Sài Gòn, và nhiều người khác. Không để bị lép vế, nhóm của Thiệu tuyên bố hai trong số 4 tư lệnh vùng và tham mưu trưởng quân đội đứng về phía họ.
Sau hậu trường, các phe phái từ cả hai nhóm đều bận rộn với các âm mưu, thủ đoạn, giành lấy các chức vụ trong một môi trường mà các cáo buộc và việc “đâm sau lưng” trở nên phổ biến. Chẳng hạn, Cựu Tư lệnh đồng bằng sông Cửu Long (người được Thiệu đỡ đầu) – tùy vào người được hỏi – có thể là một kẻ cướp buôn lậu heroin khét tiếng hoặc là một con người chân thành bị bôi xấu bởi những đối thủ vô liêm sỉ của người bảo trợ ông.
Đến 1967, năm trọng yếu trong nền chính trị Nam Việt Nam, cuộc đấu cuối cùng tiến đến giai đoạn khủng hoảng. Hơn 12 tháng qua đã chứng kiến các cuộc đấu đá quân sự mới giữa người miền Bắc và người miền Nam, và cuộc nổi dậy lần thứ hai của Phật giáo, khiến chính quyền phải mất nhiều tuần liền chiến đấu trên các con phố ở miền Trung để phục hồi quyền kiểm soát của Nhà nước. Đối mặt với các đòi hỏi cải tổ từ trong nước và Washington, cuối cùng quân đội đã chấp nhận một hiến pháp mới, bầu cử Tổng thống và khôi phục Quốc hội.
Dù nhằm để hợp pháp hóa hơn là hất cẳng sự cai trị của quân đội – điều vốn được Nhà Trắng xem là lợi ích thiết yếu của Mỹ – nhưng cuộc bầu cử năm 1967 đã đánh thức lực lượng dân sự đối lập vốn lâu nay bị trấn áp. Thực vậy, “không ai tin cuộc bầu cử sẽ được tiến hành trung thực”, một nhà báo nhớ lại. Tuy nhiên, dù người ta biết chắc ai sẽ là người chiến thắng trước khi cuộc bầu cử bắt đầu, thì các cải tổ năm 1967 cũng làm dấy lên hi vọng về một chính quyền quân sự có trách nhiệm giải trình và đáp ứng tốt hơn các đòi hỏi, tiếp thu các ý kiến của người dân và thượng tôn pháp luật.
Thế nhưng, sự lạc quan thận trọng đó bị che mờ bởi những đồn đoán khắp nơi về xung đột giữa Thiệu và Kỳ sắp tới. Dù Sài Gòn lúc đó rất hỗn độn nhưng lại khá tự do về báo chí, các mục tiêu cao quý của cuộc bầu cử đã phải nhường chỗ cho các tin đồn chính trị. Trong khi đó, Kỳ đã nắm bắt thế chủ động nhiều tháng trước khi chiến dịch tranh cử chính thức bắt đầu, thông qua thứ mà CIA mô tả là biến các niềm tin của mình thành hành động rõ ràng bằng cách sử dụng các nguồn lực của chính phủ” để thúc đẩy nỗ lực tranh cử của mình. Việc này bao gồm các hình thức như đe dọa, kiểm duyệt báo chí, quấy rối có chủ đích và điều chuyển những người ủng hộ các đối thủ của mình đến các khu vực do Cộng sản kiểm soát. Ngoài ra, Kỳ cũng bảo trợ cho các nhân vật chủ chốt của các tôn giáo và sắc tộc để đổi lại việc họ sẽ cử người đến các điểm bỏ phiếu ủng hộ ông.
Các âm mưu lén lút đó càng gây hoài nghi hơn nữa về sự bền vững và tính chính danh mà người ta muốn cuộc bầu cử mang lại. Giận dữ với tính hai mặt của đối thủ, Thiệu đã lên án Kỳ mạnh mẽ trong một cuộc trao đổi gay gắt với Đại sứ Mỹ, Ellssworth Bunker; cảnh báo về một cuộc đảo chính không thể tránh khỏi nếu công chúng mất niềm tin vào tiến trình bầu cử, Thiệu đưa ra một đe dọa đầy ngụ ý nhưng đúng đắn về việc sẽ tự tay mình giải quyết mọi vấn đề, qua đó đưa ra cảnh báo cho Bộ Ngoại giao Mỹ. Sự lộn xộn của người Mỹ càng tăng lên trong Tổng hành dinh quân đội Nam Việt Nam, với việc đấu đá Thiệu – Kỳ làm các công việc của quân đội bị đình trệ.
Cuối cùng, khi thời hạn chót để gửi hồ sơ ứng viên đến gần, giới chóp bu quân sự Nam Việt Nam quyết định đối mặt với bế tắc này, yêu cầu sắp xếp một cuộc họp bí mật để giải tỏa tình thế. Cuộc họp đã diễn ra trong vài ngày, kết thúc với những chỉ trích, buộc tội lẫn nhau và những giọt nước mắt. Khi tất cả được dàn xếp, Thiệu nổi lên là người chiến thắng, làm giật mình giới quan sát khi đứng đầu liên danh tranh cử tổng thống toàn người của giới quân sự. Kỳ chấp nhận xuống nước với đề cử cho chức Phó Tổng thống. Mặc dù các chi tiết của cuộc họp vẫn mù mờ, một nhân chứng kể lại rằng thời khắc quyết định diễn ra khi một người trung thành của Kỳ phản bội, thừa nhận sự thất vọng với sự gian dối quá đà trong chiến dịch tranh cử của Kỳ.
Không đúng với dự định dân sự tham gia chính quyền như ban đầu, kết quả bầu cử đều toàn người của quân đội chiến thắng được Nhà Trắng đánh giá là “thảm họa” về mặt quan hệ công chúng. Vốn đã không mong đợi nhiều vào cuộc bầu cử, các tướng lĩnh xem chính quyền rõ ràng là chiến thắng của họ, mặc dù chỉ giành được 35% số phiếu – một sự bác bỏ nghiêm khắc của công chúng nếu xét đến bộ máy quan liêu và các gian lận bầu cử của họ chống lại một lực lượng dân sự đang bị cố tình chia rẽ.
Bị qua mặt một cách ngoài mong đợi, Kỳ vẫn duy trì được sự ủng hộ trong giới quan chức quân đội chóp bu và sự quý mến trong hàng ngũ binh lính các cấp. Mặc dù Thiệu giành được chức Tổng thống vào tháng 10/1967, vị trí của ông ta vẫn chưa được đảm bảo. Bị ám ảnh về bóng ma của một cuộc đảo chính khác, một công cụ hàng đầu của Kỳ, Thiệu tìm cách vô hiệu hóa đối thủ của mình bằng cách giành sự ủng hộ người Mỹ. Đóng vai một chính khách có trách nhiệm và tuyên bố giữ vững hiến pháp mới, Thiệu nâng vị thế của mình với một Nhà Trắng vốn lo sợ rằng các mưu đồ mới ở Sài Gòn sẽ làm mất đi sự ủng hộ của công chúng đối với cuộc chiến. Mặt khác, Thiệu cũng tập hợp được một nhóm người ủng hộ trong Quốc hội mới, thông qua việc nhấn mạnh các lợi ích chung hoặc đánh vào lòng ham muốn hối lộ theo yêu cầu. Sau đó, lợi dụng chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 của Cộng sản vào tháng 2/1968, Thiệu có cớ để thay thế các tay chân thân cận của Kỳ trong quân đội, tại sân bay, hải quan và các hãng tàu – các vị trí cốt yếu trong các đường dây buôn lậu vàng và thuốc phiện của cả hai phe.
Cú hạ đo ván đến từ một tai nạn lạ lùng: Vào tháng 6, một tàu pháo Mỹ có trực thăng tuần tra khu vực phố Tàu ở Sài Gòn bắn nhầm một quả tên lửa, thiêu rụi em rể của Kỳ, các chỉ huy cảnh sát của Sài Gòn và Chợ Lớn cùng 4 quan chức cảnh sát cấp cao khác – tất cả đều là những mắt xích quan trọng trong các mạng lưới ngầm và chính trị của Kỳ. Vụ tấn công gây phản ứng mạnh chống lại việc xả đạn tùy tiện của người Mỹ và biến Thiệu thành người của Mỹ trong mắt của những người Việt Nam vốn thích thuyết âm mưu.
Với việc các quyền lực công khai và bí mật đều bị kiềm chế, Kỳ đành dựa vào trò đả kích chính trị, cáo buộc Thiệu lãnh đạo yếu kém và thờ ơ với nạn tham nhũng và sự băng hoại xã hội. “Mười lãnh đạo thì có đến chín người tham nhũng”, ông than phiền với nhà báo Ý Oriana Fallaci. “Chúng ta cần một cuộc cách mạng. Chúng ta cần những đạo luật mới đem quyền lực đến cho dân nghèo”.
“Nhưng đó là những gì Hồ Chí Minh nói,” Fallaci đáp lại.
Các chiêu trò mị dân đó của Kỳ rất phong phú, vì chính Kỳ không lạ gì với các thủ đoạn chính trị. Không giống như các đồng nghiệp của mình, những người tích trữ tiền bạc để đi shopping và mua sắm biệt thự tại Châu Âu, Kỳ tham gia các âm mưu chủ yếu nhằm thăng tiến về chính trị hơn là đạt được các mục đích cá nhân. Định cư tại California sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ, Kỳ sống đạm bạc dựa vào thu nhập từ một cửa hiệu buôn bán rượu của gia đình (ông mất vào năm 2011).
Trong bất kỳ trường hợp nào thì sự khiêu khích của Kỳ cũng làm trầm trọng thêm tính hoang tưởng bản năng của Thiệu. Ngày càng bị cách biệt trong dinh tổng thống và được vây quanh bởi các cố vấn trẻ xảo trá và nhiều tham vọng, Tổng thống Thiệu đã trở thành nạn nhân của chính những nghi ngờ đen tối của mình. Tháng 10/1968, một tờ báo Công giáo đăng tải tiên đoán của một thầy bói nổi tiếng, cảnh báo rằng một cuộc đảo chính sẽ xảy ra vào cuối tháng. Hoảng sợ về ý nghĩ Kỳ và Công giáo cộng tác với nhau, Thiệu đặt quân đội vào tình trạng báo động cao lần thứ 3 trong nhiều tháng, bắt giữ các chủ báo và tu sĩ hàng đầu của phe Công giáo, và đe dọa đóng cửa các tờ báo nếu họ dám tiết lộ phản ứng của ông ta.
Từng trực tiếp tiến hành các cuộc đảo chính trong suốt thời kỳ hỗn loạn sau khi Diệm bị ám sát, sự nhạy cảm của Thiệu có lẽ cũng dễ hiểu. Nhưng các phản ứng quá mức gây hại trong cuộc bầu cử Tổng thống lần thứ hai, năm 1971, đã chấm dứt việc thử nghiệm Hiến pháp tại Nam Việt Nam, khiến Thiệu và nền dân chủ Nam Việt Nam mất uy tín không thể cứu vãn nổi.
Có uy thế với quân đội nhưng bị ám ảnh với nỗi lo sợ trước đối thủ vốn hiện đã khá yếu ớt, Thiệu lợi dụng việc kiểm soát Tòa án tối cao và Quốc hội để áp đặt các quy định bầu cử ngoại trừ việc cấm cản sự tham gia của Kỳ. Ngoài ra, văn phòng của Thiệu còn gửi thư hướng dẫn gian lận bầu cử đến các tư lệnh quân đội các tỉnh, khiến một quan chức phải ca thán rằng Thiệu đã “viết ra những điều chỉ nên truyền miệng”. Khi thủ đoạn của Thiệu cuối cùng bị lộ, cả Kỳ và cựu tướng Dương Văn Minh đều đã rút tư cách ứng cử viên để phản đối.
Không chùn bước, Thiệu đã gây sốc các quan sát viên người Mỹ và Việt Nam bằng cách tiến hành một cuộc tranh cử không có đối thủ, định hình cuộc bầu cử thành một cuộc trưng cầu dân ý về sự cai trị của ông ta. Sau khi thắng cử, Thiệu sử dụng chiến dịch Xuân Hè năm 1972 của Cộng sản làm cái cớ để áp dụng các chính sách hạn chế khắc nghiệt lên các đảng phái chính trị và truyền thông độc lập.
Đại sứ Nam Việt Nam tại Washington nhớ lại, cuộc bầu cử năm 1971 đánh dấu thời khắc “việc tìm kiếm một mục tiêu quốc gia giàu sức sống cuối cùng đã bị thải loại để nhường chỗ cho sức mạnh của kẻ chuyên quyền.” Nó đã đánh mạnh vào xã hội dân sự chống Cộng từng bùng nổ của Nam Việt Nam, với sự nhiệt tình đáng kể thời năm 1967 phải nhường chỗ cho sự hoài nghi và thất vọng.
Ngoài các hậu quả tức thời, sự kiện năm 1971 cũng phản ánh thất bại của Nam Việt Nam trong việc vượt ra khỏi nền chính trị ô dù và của những nhân vật cá tính lớn. Đặc biệt, các cải tổ năm 1967 đã dự định cung cấp một mô hình quản trị mới, trong đó thẩm quyền không bắt nguồn từ vũ lực mà từ sự chính danh trong mắt cử tri, và là nơi các đảng đối địch nhau giải quyết các tranh luận một cách ôn hòa hơn là lệ thuộc với số phận của những lãnh đạo mạnh.
Thay vì kiềm chế các tướng lĩnh bằng luật lệ, các cuộc bầu cử 1967 và 1971 lại bị lu mờ bởi mối thù hằn Thiệu – Kỳ, một nhân tố không nhỏ góp phần vào thất bại chết người của chính quyền quân sự trong việc giành được tính chính danh về chính trị trong mắt công chúng. Mặc dù chỉ được các sách vở tiếng Anh về cuộc chiến miêu tả như là các âm mưu nhỏ nhặt trong một chế độ bù nhìn, sự đấu đá nội bộ trong chính quyền Nam Việt Nam đã lý giải cho sự sụp đổ của nhà nước này từ bên trong, rõ ràng và không thể đảo ngược, nhiều năm trước khi chiến tranh kết thúc.
Sean Fear là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Trung Tâm Dickey về Nghiên cứu Quốc tế tại Đại  học Dartmouth.
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2017/04/25/moi-tham-thu-thieu-ky-lam-sai-gon-sup-do/#sthash.0tlL63Io.dpuf