https://www.facebook.com/photo/?fbid=32472101379043611&set=pcb.32472102219043527
Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Wednesday, September 24, 2025
Tuesday, September 23, 2025
CON ĐƯỜNG MÀ TT DIỆM ĐÃ ĐI TỪ THƯỜNG ĐỨC TỚI HUẾ.
Như đã viết trên FB, theo lịnh ông Diệm, nhà thầu Phan Quang Khánh tự Phục, ở Đà Nẳng, khoảng năm 1956-57, đã làm con đường từ quận lỵ Thường Đức (Quảng Nam) để đến A Shau, sau đó theo TL 547 tới Huế. Theo tôi biết đường này (tỉnh lộ 548) và TL 547 đều được người Pháp xây trước 1954, nhưng sau đó bỏ hoang vì chiến tranh. Theo bản đồ của Hội Địa lý Quốc gia Mỹ, in năm 1967, đường từ Huế đến Bình Điền Thôn thì tốt, từ đó trở đi là đường đang xây dựng (các vạch đứt quảng); đoạn từ Kon Tom tới A Shau lại tốt và ngừng ở đây. Riêng tỉnh lộ 14, từ Điện Bàn chỉ chạy tới Thường Đức rồi ngừng. Từ Thường Đức tới Dak Peh thuộc QL-14 cũng bị bỏ hoang sau 1954, nghĩa là cũng có mặt trước 1954. Xe cộ chỉ chạy từ Dak Peh qua Dak To, Kontum, Plei Ku, Ban Mê Thuột, tới Đồng Xoài hay Chơn Thành thì hết QL-14.
Monday, September 22, 2025
Một tiểu đoàn Công Binh Mỹ đã phục hồi tỉnh lộ 547, có từ đời Pháp, để giúp quân Mỹ đi lại dễ dàng từ Huế vào Thung lũng A Shau.
Nguồn: http://www.19engrvn.org/Resources/KYSU%20Magazine,%20Vol1%20No3,%20Fall%201969v2.pdf
ĐỂ NGHE LIÊN TỤC 1 VIDEO TRÊN YT, CHẲNG HẠN NHƯ BẢN "HAVE YOU EVER SEEN THE RAIN".
A/ Trên máy tính.
1/ Mở video đó.
2/Nhấp phải vào màn hình để mở 1 drop-down menu.
3/ Chọn Loop. Một chữ v hiện ra, chỉ rõ video này sẽ phát liên tục.
B/ Trên phone hay MTB.
1/ Mở app YouTube và nghe video.
2/ Nhấp vào video để on-screen controls hiện ra.
3/ Nhấp vào icon Settings.
4/ Nhọn Additional settings.
5/ Nhấp vào Loop video. Một chữ v hiện ra.
Chúc bạn thành công.
Saturday, September 20, 2025
Elena = 53551 = 19 = 10 = 1
Gouliakova = 3763112761 = 37 = 10 = 1
Thursday, September 18, 2025
Sự thật cuộc chiến bảo vệ thị xã Quảng Trị từ góc độ chỉ huy cao nhất của mặt trận
13-9-2025
Bên sông Nhật Lệ sáng ấy tôi uống cafe với Hoàng Ba. Ba giới thiệu mình là con trai của đại tá Hoàng Thiện chính uỷ kiêm bí thư đảng uỷ Ban chỉ huy Mặt trận bảo vệ thị xã Quảng Trị những ngày ác liệt nhất năm 1972.
Chính uỷ Hoàng Thiện.
Tôi hỏi cuộc chiến 81 ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị à? Hoàng Ba đáp: Ba em bảo không có cái gọi là “81 ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị”, mà chỉ có “81 ngày đêm bảo vệ thị xã Quảng Trị” thôi. Em hỏi vì sao? Ba em bảo vì thành cổ rất nhỏ nằm trong thị xã Quảng Trị, không có đánh nhau trong thành cổ mà chỉ đánh nhau ở thị xã.
Em có gặp một số bạn chiến đấu của ba em bảo vệ thị xã Quảng Trị, họ đều ca ngợi ba em là vị chỉ huy có quyết định sáng suốt nhất khi ra lệnh quân ta rút lui khỏi thị xã. Nếu không có lệnh quyết đoán trái với chủ trương tiếp tục tấn công thì có thể sẽ không còn ai sống sót ở thị xã Quảng Trị.
Tôi lúc đó muốn gặp đại tá Hoàng Thiện, Ba bảo, ba em sắp 100 tuổi rồi, cụ lúc này sức khoẻ yếu lắm.
Ông Hoàng Thiện (gần 100 tuổi) gặp người cần vụ đã dìu mình vượt sông Thạch Hãn. Nguồn: Đào Xuân Kính
Thế rồi những ngày này dư luận nổi sóng về bộ phim Mưa Đỏ. Sự kiện cuộc chiến thị xã Quảng Trị được nhiều cựu chiến binh trao đổi. Hoàng Ba cho gã xem bức thư viết tay của đại tá Hoàng Thiện gửi ban viết sử về cuộc chiến này.
Tôi xin tóm tắt vài đoạn quan trọng của bức thư:
“Trước hết tôi xin mạnh dạn và thẳng thắn mà nói rằng chủ trương giữ Thị xã Quảng Trị là một sai lầm lớn về chiến lược: Duy ý chí không khoa học, không tuân thủ những nguyên lý, nguyên tắc, tư tưởng quân sự mà cha ông đã đúc kết. Nhất là trong điều kiện “Mỹ hoá chiến trường”, chủ yếu là bằng hoả lực, nó thừa hoả lực và đầy đủ các yếu tố để sử dụng tối đa hoả lực!
Tôi thấy có những đoạn của cuốn sử như là hư cấu, ví dụ các trận vận động tấn công giữa ban ngày dưới phi pháo của địch… diệt bao nhiêu địch… nghe rất chính quy, rất bài bản, như là diễn tập thực binh vậy! Ta thử tưởng tượng xem, với địa hình trơ trụi như vậy, máy bay trinh sát liên tục trên đầu, toạ độ nó đã chuẩn bị sẵn, nó thừa bom đạn, máy bay đã cài bom, đạn pháo đã lên nòng, ta tập kết quân, tổ chức chiến đấu, tổ chức hiệp đồng thế vào đây mà dám thoát ly công sự đánh vào mũi này mũi nọ. Quân ta vận động chiến đấu dưới sự yểm trợ của hoả lực cấp trên (thử xem được mấy quả pháo, mấy quả cối).
Còn tập kích ban đêm. Phải nói địa hình quân ta không thành thạo, địch ta nắm không chắc, chúng luôn né tránh, nghi binh, nó thừa biết ta là tập kích ban đêm, nó dại gì ở một chỗ cho ta tiêu diệt. Chưa nói chuyện ta tổ chức chiến đấu, tổ chức hiệp đồng xong thì trời gần sáng. Thường trong đánh Mỹ ta phải dùng bí mật bất ngờ, khéo nghi binh bám sát thắt lưng địch mà đánh mới diệt được chúng… Tình tiết thì còn nhiều vấn đề nữa”.
Tôi xin cắt khúc đoạn này để nói về lý do nào ngày 22.7.1972 trung đoàn 95 do ông Hoàng Thiện là chính uỷ được điều động vượt sông Thạch Hãn tham gia cùng trung đoàn 48 bảo vệ thị xã Quảng Trị.
Tháng 3 năm 1972 quân giải phóng tấn công và giải phóng thị xã Quảng Trị. Đây là chiến thắng của quân giải phóng tạo thế mạnh cho đàm phán hoà bình ở Paris. Quân đội VNCH đã tổ chức phản công nhưng thất bại.
Tài liệu của phía VNCH cho biết:
“Mất tỉnh Quảng Trị vào tay bộ đội Bắc Việt, chính quyền Việt Nam Cộng hoà ngay sau đó đã thay thế hai viên tướng: Hoàng Xuân Lãm (Tư lệnh Quân đoàn 1) và Lê Nguyên Khang (Tư lệnh Sư đoàn Thủy quân Lục chiến) bằng tướng Ngô Quang Trưởng và tướng Bùi Thế Lân và tăng cường thêm lực lượng Lữ đoàn 2 Nhảy Dù, Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân rồi sau đó thêm Lữ đoàn 3 Nhảy Dù và Trung đoàn 4 thuộc Sư đoàn 2 Bộ binh để phản công tái chiếm các vùng đất đã mất.
Từ ngày 11 tháng 7, dưới sự chỉ huy của Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Quân đoàn 1 được tăng cường Lực lượng Tổng trừ bị của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và được yểm trợ từ xa bởi Đệ thất Hạm đội của Mỹ ở ngoài khơi và Không quân Mỹ đã bắt đầu cuộc phản công tái chiếm Quảng Trị.
Các kế hoạch phản công của quân đội Việt Nam Cộng hoà đã hình thành nhanh chóng, tái chiếm được một số căn cứ cũ như Bastogne, Checkmate và chợ Quảng Trị, Ty Y tế, Ngân Khố, Tòa Án… để cuối cùng đánh bật bộ đội Bắc Việt ra khỏi thành cổ Đinh Công Tráng ở Quảng Trị (ngày 16 tháng 9) sau 81 ngày đêm họ cố thủ tại đây”.
Chính vì cục diện chiến trường thay đổi, ban chỉ huy Mặt trận B5 do tướng Lê Trọng Tấn chỉ huy đã tăng cường trung đoàn 95 của sư đoàn chủ lực 325 vượt sông Thạch Hãn chi viện cho bộ đội bảo vệ thị xã Quảng Trị.
Đại tá Hoàng Thiện tường thuật tiếp trong thư:
“Sau khi tôi vào Thị xã được khoảng một tuần, thì xảy ra mâu thuẫn chủ yếu giữa tôi và đồng chí Thuý(trong ban chỉ huy). Tôi thì cho rằng tình hình này chủ yếu là phải giữ chốt, còn phản kích thì chỉ khi cần thiết và có điều kiện. Đồng chí Thuý thì lại thiên về vận động tấn công ban ngày và tổ chức tập kích ban đêm. Nhưng bộ đội càng thoát ly công sự thì càng bị tổn thất và mất dần trận địa. Thực ra tôi đã từng quần với địch ở đồng bằng QK5, tiếp xúc với nhiều loại đối tượng địch (tôi ở E21 QK5) rất thấm thía là bộ binh địch không mạnh, nhưng nó luôn dựa vào hoả lực để diệt ta, bộ binh luôn né tránh và lừa ta. Suốt thời gian ở Thị xã, tôi chưa thấy được 1 trận vận động tấn công và tập kích nào có hiệu quả, có chăng chỉ dựng lên mà thôi.
Nhưng khốn nỗi trên lại nghe một chiều báo cáo của đồng chí Thuý, còn tôi luôn bị lép vế. Tôi suy nghĩ là Chính uỷ, là Bí thư Ban cán sự phải làm gì đây? Tôi đã ba lần gửi ba bức thư về sư đoàn, nói rõ thực trạng tình hình địch, ta (mỗi lá thư tôi viết cả một tờ giấy liền), lá thư thứ ba tôi có nói: Cần phải quý trọng tính mạng của người chiến sĩ: “hành quân chết, vượt sông chết, tập kết chưa có công sự chết, lạc vào địch chết,v.v.”. Thế là tôi được mang bản án đầu tiên là sợ địch, hữu khuynh, không dám tấn công, sợ chết!
Quá bức xúc, ngày 13/9 trước tình thế hiểm nghèo, tôi qua sông đến Nhan biểu để báo cáo thực trạng với đồng chí Việt tham mưu trưởng sư đoàn. Nào ngờ tôi lại được mang bản án thứ hai là “dao động, lui về sau, bỏ nhiệm vụ”.
Tôi viết thế này là để mong các đồng chí trong Tổng kết phải rút ra được kết luận về sắp xếp tổ chức, chỉ huy, lãnh đạo làm sao cho khoa học, có lý có tình để phát huy được sức mạnh. Người chỉ huy phải luôn bám thực tiễn, dám quyết đoán trước biến động mới. Vấn đề báo cáo phải trung thực và người phải tỉnh táo, phải từ nhiều phía. Hết sức lắng nghe những ý kiến trái với mình.
Về tư tưởng chỉ đạo tác chiến.
Trong bản Dự thảo nhiều đoạn các đồng chí viết về tổ chức phòng ngự và càng về sau càng có liên hoàn và có chiều sâu. Tôi cho rằng các đồng chí không bám thực tiễn lúc đó. Và tư liệu cung cấp có thể là do các đồng chí ở E48. Rõ ràng là không đúng sự thật. Tôi xin nói ở Thị xã Quảng Trị lúc bấy giờ không có khái niệm về phòng ngự. Từ “phòng ngự” là một từ huý, không ai được phát ra lời. Đụng đến từ ấy sẽ mất đầu như chơi, thì làm gì có tổ chức phòng ngự. Quảng Trị chỉ được nói tấn công, liên tục tấn công, vận động tấn công mà thôi. Trên thực tế thì có hình thành những điểm chốt, cụm chốt. Và chốt cũng để làm cơ sở cho tấn công thì làm gì có liên hoàn và chiều sâu.
Khi ra khỏi Thị xã Quảng Trị, tôi đã mang đầy đủ các tư liệu có mệnh lệnh, chỉ thị về chỉ đạo tác chiến ở Thị xã Quảng Trị để sau này tổng kết sẽ có chứng minh, nhưng tiếc thay đến khi tổng kết từ dưới lên trên tôi không được dự (không hiểu có phải có ai đó sợ tôi nói lên sự thật chăng?!).
Nếu có ý đồ phòng ngự thì với đặc điểm Thị xã như vậy, làm gì phải đem vào trên 10d bộ binh, một số đơn vị binh chủng kỹ thuật làm mồi cho bom đạn địch. Do đó tổn thất lớn cũng là từ đây, thua địch từng bước cũng là từ đây!
Trong dự thảo có nhiều đoạn mô tả ra vẻ rất bài bản, rất chính quy và bộ đội ta luôn sung sức. Thực tế luôn có nhiều loạc choạc và không có Tiểu đoàn nào trụ nổi 10 ngày đâu. Như các đồng bí biết thương vong bình quân mỗi ngày 100…! Tiểu đoàn 4E95, được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, đến khi quân số còn 7, d5 còn 15, tôi cho ra sau để thu lượm anh em để củng cố lại, thế là tôi lại được thêm một cái tội là “tự tiện và vô nguyên tắc”.
Tôi muốn nói thêm việc vận dụng lý luận quân sự Đông Tây, kim cổ và lý luận quân sự Việt Nam đã được tổng kết.
– Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng.
– Những nguyên tắc để hạ quyết tâm: Địa hình, địch – ta (và ý định cấp trên).
Thực ra ba yếu tố đó cũng luôn biến động:
– Địa hình bị bom đạn địch cày xới như vậy cũng luôn biến dạng, tang hoang có gì để che khuất, che đỡ?
– Địch “Mỹ hoá chiến tranh” đến cao độ chủ yếu là hoả lực và phương tiện kỹ thuật. Chúng thực hiện huỷ diệt để lấn chiếm. Bộ binh địch luôn dựa vào hoả lực và đi sau hoả lực. Nó làm nát các ổ đề kháng của ta rồi mới cho bộ binh vào.
Trong tình hình như vậy mà ta tổ chức lực lượng, đánh vận động tấn công để tiêu diệt 1, 2 B của địch thì thật là ảo tưởng.
– Ta cũng luôn có biến động cả lượng và chất.
Quân số liên tục hao hụt, cán bộ chỉ huy luôn bị xáo trộn, có khi cán bộ Tiểu đoàn phải chỉ huy 1B, thậm chí 1A, có khi cán bộ Trung đội lại chỉ huy Tiểu đoàn, v.v.
Lính lúc đầu vào thì sung sức, được huấn luyện tốt, càng về sau chất lượng giảm dần, có những lứa 16, 17 tuổi, vào bộ đội huấn luyện gấp được 1 tháng vào chiến trường ngơ ngơ ngác ngác, lại vào ban đêm hỏi ở đơn vị nào không biết, hỏi cán bộ Đại đội là ai… không biết. Thế mà lúc nào cũng cứ quân ta anh dũng kiên cường, quân địch hoang mang dao động!
Súng, pháo bị tiêu hao dần, đạn không có đủ. Cao xạ gần như bị tê liệt, pháo binh chi viện được tích từng quả, phương tiện thông tin, v.v. Trước thực trạng đó lãnh đạo chỉ huy phải xử trí thế nào? Hay là cứ trước sao, sau vậy.
Đề nghị với các đồng chí cũng nên đem vào Tổng kết.
Phải dám nhìn thẳng vào sự thật, dám nói đúng sự thật.
Tôi cho rằng trong chiến tranh, trong chiến đấu đặc biệt là ở Thị xã Quảng Trị thì sự tổn thất hy sinh là không thể tránh khỏi. Nhưng người lãnh đạo, người chỉ huy phải tìm đủ mọi cách để tránh được tổn thất hy sinh không đáng có. Không nên xây lầu vinh quang trên xương máu của chiến sĩ – Đây là một tội ác.
Tôi thấy cũng cần phải tổng kết để rút kinh nghiệm cho đời sau.
Là một cán bộ lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt trong Thị xã Quảng Trị, tôi luôn tự vấn mình -trước vong linh chiến sĩ, tôi tự thấy mình luôn là người có lỗi.
Tiếc rằng nhiều người còn né tránh, đổ tội cho người khác.
Đau đớn cho tôi, khi ra khỏi Quảng Trị, cấp trên coi tôi như là một phạm nhân chưa được xét xử, nhanh chóng tách tôi ra khỏi đơn vị, đến nỗi tổng kết ở E, bình công khen thưởng, nhận xét cán bộ tôi cũng không được dự. Thậm chí ra đi không kèn, không trống, không được chào hỏi, từ biệt anh em! May thay tôi vẫn luôn được cán bộ, chiến sĩ thông cảm và thương mến. Biểu hiện rõ nhất là hôm gặp ở Thành cổ vừa rồi, đã qua 32 năm nhưng họ vẫn mang một tình cảm sâu đậm.
Kiểm điểm thi hành kỷ luật tôi thì ở E không biết. Chỉ có một cuộc hội nghị Đảng uỷ F, gồm những người ngoài cuộc ngồi đằng sau đồng chí Nguyễn Công Trang Bí thư Đảng uỷ F đọc một bản tội trạng 5, 6 điểm gì đó. Sau đó phân tích phê phán (không rõ tư liệu đó lấy đâu rõ), sau đó có một vài ý kiến vụn vặt, số đông thì ẫm ờ, vì họ cũng không biết nói gì, không cho tôi trình bày gì. Sau đó đề nghị cách chức – mọi người giơ tay. Và sau đó điều tôi lên mặt trận bộ. Khi công bố kỷ luật đồng chí Hoàng Minh Thi phó chính uỷ Mặt trận gặp tôi nói xuê xoa mấy lời rồi giao quyết định”.
*
Đọc bức thư này có thể hiểu hơn sự thật không chỉ từ phía những người lính mà từ các chỉ huy. Cuộc chiến giải phóng thị xã Quảng Trị là cột mốc lịch sử của quân đội VNDCCH, nhưng cuộc chiến bảo vệ thị xã này lại là cột mốc lịch sử khác. Nó đặt ra những bài học xương máu giữa duy ý chí tiến công và thực tiễn chiến hào. Đại tá Hoàng Thiện đã bị kỷ luật, bị cho ra ngoài các cuộc bình công, đúc kết lịch sử chỉ vì ông dám nói lên sự thật về những sai lầm duy ý chí của cấp trên, vì ông trước hy sinh của lính và thực tế chiến trường đã dũng cảm quyết định rút lui, chấp nhận cuộc bảo vệ thị xã Quảng Trị thất bại.
Khi gã viết những dòng này, Hoàng Ba con trai của đại tá Hoàng Thiện gửi cho gã một tài liệu. Tài liệu này cho biết:
“Ban chỉ huy B5 lúc 13 h ngày 13-9-1972 điện thoại yêu cầu trung đoàn phó trung đoàn 48 ra nhận lệnh. Nhưng đến 1h ngày 14-9-1972 lại gọi Hoàng Thiện chính uỷ trung đoàn 95, chỉ huy mặt trận ra Nhan Biểu để cùng sư đoàn phó sư đoàn 325 “tổ chức tiến công”. Nhưng khi gặp lãnh đạo mặt trận B5 ông Thiện không nghe cấp trên, ông đề nghị rút quân ra khỏi Thành cổ… (Chính vì vậy sau này B5 báo lại ông mới bị kỷ luật). Ông Thiện chống lệnh rồi lập tức tự mình quay lại sở chỉ huy mặt trận chiều 15.9.1972. Tối 15.9.1972 ông Thiện triệu tập cuộc họp với 5 chỉ huy của mặt trận cùng ra quyết định rút quân trong đêm 15.9.1972.
Hai giờ sáng 16.9.1972 bộ đội ở thị xã bơi qua sông Thạch Hãn vì không có thuyền.
Dinh tỉnh trưởng – nơi ông Hoàng Thiện ra lệnh rút lui.
L.T.V.
Tác giả gửi BVN
Tuesday, September 16, 2025
GIÚP ĐỠ CHỦ NHÀ HẾT MÌNH ĐỂ TRẢ NỢ TIỀN KIẾP.
- Nhất ẩm nhất trác, giai do tiền định (1 cái uống, 1 cái ăn, đều có sắp xếp trước) -- Châm ngôn Tàu.
- Đến độ đã bị bạn bè cho là khùng khi ko lấy phòng cho chánh phủ cấp.
Khoảng cuối năm 1994, tôi share phòng ở nhà 1 anh HO gốc Nhảy Dù. Tôi ở chung phòng với ông già vợ của anh.
Sau đó, 1 cô con gái của ông này sắp lấy chồng, và mời tôi dự. Trong đám cưới, tôi ngồi cùng bàn của ông này và bà xui trai của ông. Sau đó 1 thời gian, vì gia đình anh HO dọn đi bang khác, nên ông cụ về ở chung với 1 con gái ở Fremont. Do vậy tôi đọc báo để tìm chỗ share phòng. Cuối cùng tìm được 1 chỗ ở đường Singleton gần Đền Thánh Tử Đạo ở San Jose.
Đây là một căn nhà (mà người chủ tên L.) có một master-bedroom và 2 phòng ngủ dùng chung 1 restroom. Tôi và anh Sĩ (quen biết từ VN) share chung một phòng. Tôi còn được biết phòng này trước đây có 1 bà già ở, nay bả về ở với con gái ở đường McKee.
Một hôm, cậu của chủ nhà đến thăm. Ông này hóa ra là anh C. rể của ông cụ mà tôi đã từng ở chung trước đây. Nghĩa là trước đây tôi ở phòng của ông xui gái, và nay ở phòng của bà xui trai.
Khoảng năm 1998, anh L. dọn về căn nhà số 2301 đường M. ở gần trung học Independence, đường Jackson. Đây là một căn townhouse, có vườn cây kế nhà (vì nhà ở đầu dãy, sát đường Jackson). Do còn khỏe (51 tuổi), tôi suốt ngày dọn dẹp, quét dọn lá cây sạch sẻ, chùi rửa toilet, hàng tuần đẩy thùng rác dơ dáy ra đường và sau đó rửa thật sạch, v.v...; đã vậy nhiều lần tôi còn khoe với bạn bè của chủ nhà, tôi là "quản gia của anh L.".
Khoảng năm 1998, tôi được cán sự xã hội cho 1 căn hộ lịch sự, nhưng tôi trả lời lập tức "cho người khác đi, vì tôi chưa cần." Bạn bè cho tôi là khùng vì lúc đó tôi đang ngủ ở phòng khách. Số là tôi và anh Sĩ share 1 phòng ở nhà này. Vì ảnh ngáy to, nên mỗi tối tôi phải kéo tấm nệm to ra phòng khách để ngủ. Lúc đó, khó kiếm người share phòng đàng hoàng. Nhiều khi họ chỉ trả tiền đàng hoàng trong vài tháng đầu, sau đó họ ko trả tiền vì thất nghiệp. Chủ nhà đuổi họ và đăng báo, nhiều khi mấy tháng mới có người thuê. Ko như bây giờ, thời đại của chủ nhà, đăng báo là người vào thuê trong vài ngày. Biết như vậy, nên trước đó vài tháng, tôi nói với bạn bè, chánh phủ cho nhà tôi cũng ko lấy, vì tôi sợ anh chủ nhà kiếm ko ra người thuê phòng.
NÓI THÊM: Vợ ông Sĩ, khoảng năm 1988, rất thân với tôi, làm phát ngân viên của hợp tác xã XD của ba tôi. Vì vợ chồng anh ly dị nên anh Sĩ, cũng là HO, đi Mỹ 1 mình (vì vợ con ko cùng hộ khẩu). Qua Mỹ, qua bạn bè tôi mới biết anh Sĩ và quen với ảnh từ đó.
Thời gian làm cho công ty Đại Dương của bầu Đức (1981-2), tôi quen với anh trưởng công trường (cũng dân HO). Khoảng đầu thập niên 1990, khi làm cho Pháp, tôi đến thăm 1 đồng nghiệp (cũng làm thông dịch như tôi). Khi đến nhà bả, tôi lại gặp anh trưởng công trường -- hóa ra là chồng chị này, nhưng đã ly dị, lâu lâu mới ghé nhà.
Qua câu chuyện, bạn sẽ thấy, giai đoạn đầu ở Mỹ, tôi ở phòng của ông xui gái, sau đó dọn về nhà khác, ở ngay phòng của bà xui trai.
Đối với anh Sĩ, tôi quen vợ ảnh từ năm 1988, nhưng tới khi qua Mỹ vào năm 1994, lại gặp người chồng. Còn với đồng nghiệp làm cho Pháp, thì quen chồng trước, sau đó lại quen vợ.
Sau này nghĩ lại, có lẽ kiếp trước tôi đã chịu ơn anh L., nên dù chỉ là người share nhưng phòng đã hết lòng với anh với mọi việc trong nhà. Đến độ đã bị bạn bè cho là khùng, vì ở trả tiền mà sao giúp chủ nhà quá sức như vậy.
SJ ngày 26/9/25, lúc 0444 pm.
Tài Trần





