Wednesday, August 7, 2024

Một người Mỹ luôn tưởng nhớ các chiến hữu VN.

Cựu đại úy Dennis S.Q. Kim là một người Mỹ có gốc gác Hàn Quốc và Trung Hoa, từng gia nhập quân đội Mỹ từ 12/6/1964. Sau khi học khóa Căn bản Sĩ quan Bộ binh, các Trường Nhảy dù và BĐQ, Kim đã phục vụ hai nhiệm kỳ tại VN. Nhiệm kỳ 1 từ tháng sáu 1966 tới tháng sáu 1967 làm cố vấn phó của TĐ 38 BĐQ VNCH, và cố vấn trưởng của TĐ 34 BĐQ VNCH. Trong nhiệm kỳ 2, Kim được chỉ định làm cố vấn trưởng của Khối Chiến thuật tại Trung tâm Huấn luyện BĐQ Dục Mỹ.

Trong ảnh 1 chụp trước khi TĐ 34 BĐQ trực thăng vận vào Chiến khu D, Kim đứng kế TĐ trưởng, Thiếu tá Nguyễn văn Xiển. (Vì chữ Xiên trong bản gốc ko có dấu, nên tôi tạm thời dùng chữ Xiển -- ND).                      


Dù sống hạnh phúc ở tuổi hưu tại thiên đường hạ giới Hawaii, Kim vẫn nhớ những chiến hữu VN, đặc biệt là BĐQ. Trong nhà ông, có hàng chục (nếu ko nói hàng trăm) những món đồ kỷ niệm mà ông sưu tầm nhiều năm.

Tháng tư vừa qua, Kim đã thăm VN trong một tuần. Ko giống như những du khách khác chỉ đến VN để ngoạn cảnh hay trải nghiệm văn hóa VN, Kim đã đến VN để thăm những người bạn cũ mà ông quen biết từ hơn 50 năm, đã từng chiến đấu và chia sẻ với ông những giây phút kề cận cái chết.

Ở đó, ông đã bỏ thời gian và tiền bạc để thăm nhiều nơi khác nhau, như Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, mộ của anh em cố tổng thống Ngô Đình Diệm, xem hình 2. Ông cũng ghé thăm mộ của cố Chuẩn tướng Trần văn Hai và cố trung tá Nguyễn văn Xiển. Kim đã gặp Tướng Hai khi ông là chỉ huy trưởng của BĐQ. Trung tá Xiển là TĐ trưởng của TĐ 34 BĐQ mà lúc đó người cố vấn trẻ này đã ngưỡng mộ ông ta như cha mình.                         

Kim cũng thăm viếng một khu mộ tập thể của các chiến sĩ VNCH đã chết vào những ngày cuối cùng của chiến tranh. Người dân sống tại khu vực này đã thu nhặt hài cốt của các người lính và lập ngôi mộ tập thể trong miếng đất mà nay chánh quyền CS sắp sửa dùng cho một dự án về địa ốc. 

Trong ngày thứ hai của chuyến thăm, Kim và các chiến hữu VN đã đi phía nam để thăm một phụ nữ, con của một người bạn cũ mà ông đã biết khi cô mới 6 tuổi. Trong hồi ký, Kim bày tỏ tình cảnh sâu đậm trước cuộc sống khó khăn của gia đình này, cũng như các gia đình của các cựu chiến sĩ VNCH do sự khó dễ và phân biệt đối xử của chế độ CS. Ông đã viết trong hồi ký: Mọi người đã đau khổ dưới chế độ hiện hành, và đã tiếp tục đau khổ dưới gót giày của kẻ chiến thắng. Dù ai nói gì đi nữa, GIỜ ĐÂY tôi đã thấy và hiểu rõ hơn những gì mà họ và gia đình đã chịu đựng trong 44 năm qua.

Trong ngày thứ sáu của chuyến thăm, Kim đã thăm viếng mộ của Tướng Hai và Trung tá Xiển, hình 3. Ông đã bày thức ăn và rượu giống như truyền thống VN. Ông cũng cho tiền những người sống chung quanh khu vực và nhờ họ chăm sóc mộ.                                

Cuộc viếng thăm ngắn ngủi đã để lại trong ông những kỷ niệm vui buồn. Tại Sài Gòn, ông đã gặp một nhóm thuộc một sắc dân thiểu số ở miền bắc, mà ông mô tả là thành thật và dễ thương.

Trước khi rời VN, ông đã nhận 1 món quà đặc biệt mà người ta đã cho ông 3 năm nay nhưng ông ko biết làm thế nào để mang ra khỏi VN. Đó là một tượng thu nhỏ của Tượng đài BĐQ tại Ngã Sáu Sài Gòn trước 1975, xem hình 4. Ông cũng được tặng 1 nón sắt từ một cựu chiến sĩ Nhảy Dù. Kỷ niệm cảm động nhứt khi Kim thấy hai chữ "You Me" trên tường, của 1 trường học ở Châu Đốc, xem hình 5. Nó giống là 1 lời chào mừng đối với ông. 


Sau khi đọc dòng trạng thái trên trang Facebook của ông, thành thật mà nói, chúng tôi rất xúc động. Một người lính Mỹ, cũng là 1 cố vấn, đã ko quên những những chiến hữu từ cách đây nửa thế kỷ! Trong khi đó, rất nhiều cựu chiến sĩ VNCH, giờ đây là công dân Mỹ, đã trở lại VN để đầu tư, hợp tác với kẻ thù, lấy vợ mới, sống hưởng thụ cạnh các cô gái trẻ và các bữa ăn thịnh soạn.

Chúng tôi rất biết ơn về những gì ông làm, Dennis Kim. Ông là người bạn rất trung thành của chúng tôi./.

Texas, Ngày lễ Trận vong -- 20/5/2020.

Chuyển ngữ từ: https://vacusa.wordpress.com/2020/05/27/there-is-such-man-with-big-heart/

Monday, August 5, 2024

 TRẬN CHIẾN TRÊN CÁC SƯỜN ĐỒI - ĐỒI 1338.

Lời mở đầu.

Đầu tháng sáu, lính của lữ đoàn 173 Dù mà TL là tướng Deane tới Dak To. Tình báo cho biết một lực lượng địch ko rõ quân số đã tấn công các căn cứ Mỹ và DSCĐ bằng cối và rocket trong giai đoạn từ 17-21 tháng 6/1967. Đối phương ở trong khu vực tách nhiệm, viết tắt là AO của TĐ 2/503 của lữ đoàn. 

NHIỆM VỤ: TÌM VÀ DIỆT

TĐ 2/503, mà chỉ huy là trung tá Partain, có nhiệm vụ như trên nhắm vào các lực lượng địch ở nam của trại LLĐB Dak To. Theo kế hoạch, đ.đ. A hay Alpha và đ.đ. C hay Charlie sẽ được trực thăng vào khu vực trong các ngày 18 và 20/6. Đ.đ. B hay Bravo được giữ làm trừ bị, sẵn sàng tham chiến khi có lịnh.

Từ 18 - 21, hai đ.đ. đều ko đụng địch, và lúc 5 g chiều của 21 tây, Alpha được lịnh trở về căn cứ Dak To bằng đường bộ. Chỉ huy của Alpha đã chọn một đường cho phép về đến trại ko trể hơn 3g chiều ngày 22. 

Thông tin tình báo cho thấy lực lượng địch trước khi HQ gồm có thành phần của trung đoàn 24 csbv, TĐ 304 VC, TĐ 200 pháo binh VC và TĐ H-15. Địch có thể tấn công cấp trung đoàn, bảo vệ và tăng cường với quân số như trên, và rút lui với thời gian và địa điểm mà họ đã chọn lựa.

Quân Dù đã tới khu vực Dak To với rất ít thông tin về đối phương. Vào đầu tháng sau, có thông tin vững chắc rằng thành phần chủ yếu (bulk) của các trung đoàn của mặt trận B-3 của tướng Hoàng Minh Thảo chuyển từ Lào và Cam-bốt vào Cao nguyên Trung phần dưới quyền chỉ huy của sđ 1 csbv mà TL là Nguyễn Hữu An. Đây là những người lính huấn luyện kỹ và dày dạn chiến trận. 

Ngày 21/6, đ.đ. Alpha và Charlie đã đóng quân chung trên một sống núi thẳng góc và cách xa Dak To khoảng 2.000 mét. Trong lúc lập chu vi phòng phòng thủ, họ lập tức gửi những toán nhỏ tuần tiểu phía trước và chung quanh chu vi phòng thủ, để chắc chắn ko có quân địch có mặt chung quanh họ trong đêm tối. Ngay sau khi toán tuần tiểu trở về chu vi, Cook, chuyên viên bậc 4, của Charlie, sau khi ra ngoài chu vi để đi tiểu tiện, lúc trở về đã bị bắn lầm bởi một binh sĩ. (Nói thêm: khu vực chung quanh Dak To đầy rừng rậm, muổi vắt, che phủ bởi những cây to có ba từng lá, nên trời gần như âm u và ảm đạm (dready) kể cả ban ngày -- ND).

Buổi sáng ngày 22/6, các đ.đ. trưởng nhận lịnh: Charlie tiếp tục lùng và diệt và Alpha trở về căn cứ Dak To bằng đường bộ. Đêm hôm trước, lính tráng nghe tin họ sẽ về Dak To bằng con đường mà họ đã lục soát mấy ngày qua. Có một nguyên tắc trong chiến đấu là ko bao giờ xử dụng đường cũ. Địch quân xảo quyệt (crafty) thường gài mìn bẫy hay phục kích trên con đường. Thực tế, đại úy Milton có rất ít chọn lựa: khu vực mà họ đóng quân có nhiều sườn dốc, bao phủ rừng rậm âm u, nên nếu chọn đường mới sẽ tốn vài ngày để vượt qua khi phải liên tục chặt cây mở đường. Ông dặn dò kỹ các sĩ quan và hạ sĩ quan (HSQ) trước khi di chuyển.

Milton cắt cử trung đội 2 của trung úy Judd đi đầu của đ.đ. Kế là trung đội 3 của trung úy Hood. BCH của Milton đi kế, và sau họ là trung đội vũ khí nặng. Trung đội 1 của trung úy Sexton được lịnh đổ chất gây cay mắt hay CS trên bãi đáp và vị trí đóng quân trước khi đi sau đ.đ.  

Lúc 0625 sáng, trung đội của Judd khởi hành. Ngay khi người cuối trung đội này mất hút trong rừng, trung đội của Hood tiếp bước. 18 người của trung đội vũ khí, ngồi trên nón sắt dọc đường mòn, chờ tới lượt di chuyển. Trung đội của Sexton đã mang mặt nạ và đang rải hơi cay quanh bãi đáp.

Khi các đ.đ. di chuyển khỏi vị trí đóng quân đêm, chuyên viên bậc 4 John Leppelman là người đi đầu hay xích hầu của Charlie. Y kể lại, "khi chúng tôi di chuyển và đi ngang các vị trí của Alpha, chúng tôi đã trò chuyện vui vẻ với các đồng đội, nhiều người trong họ đã học nhảy dù với chúng tôi hay cùng đến VN với chúng tôi.

Chúng tôi tiếp tục nhiệm vụ tìm và diệt từ sống núi tới sống núi khác, trong khi Alpha xuống núi để tới căn cứ Dak To, cách đó khoảng 2km. Vài giờ sau đó, thành phần đi đầu của Charlie bị bắn sẻ và chỉ trong 20 phút đã có 3 bị thương, trong đó có một trúng đạn ở cổ.

Ở khu vực này rừng có ba tán lá và bên dưới đầy bụi rậm, dầy đến nỗi để tạo bãi đáp, chúng tôi phải khiêng thương binh bằng băng-ca tạm bợ. Chúng tôi phải chặt 2 cây nhỏ và luồn qua một poncho đủ rộng cho 1 người nằm lên trên poncho. Chúng tôi tiếp tục di chuyển tới khu vực trách nhiệm, và đột nhiên được Alpha báo tin bị tấn công bởi 1 lực lượng bắc quân có công sự kiên cố. Ngay sau đó chúng tôi nhận lịnh của trung tá Partain, tiểu đoàn trưởng của 2/503, phải trợ giúp Alpha.

Một tiểu đội của Alpha trong khi xuống núi gần một đường mòn nhẳn thín, đã đụng khoảng 5 hay 6 bắc quân đang vượt đường mòn này và bị bắn trả. Lúc đó là 6:58 g. 

Khu vực này rất ít ánh sáng vì rừng 3 tán lá, tre dầy, và đầy bụi rậm. Tiếng súng đã vang dội khu vực rừng núi Dak To.

Đại úy Milton gọi Judd, chỉ huy trung đội đi đầu. Vị trung úy trẻ báo cáo rằng tiểu đội đi đầu đã chạm mặt với 10 tới 15 lính BV đi ngược chiều trên cùng đường mòn. Địch nổ súng trước, làm bị thương vài lính của trung đội. Judd ko biết bao nhiêu người và nặng nhẹ thế nào, nên ra lịnh lập ngay chu vi phòng thủ.

Đ.đ. trưởng Milton gọi về trung tâm hành quân hay TOC của TĐ và báo cáo với đại úy Ken Smith.

ĐT Partain và trưởng ban ba của ông, thiếu tá Glenn Watson, lúc đó có mặt ở TOC. Trong Partain và Smith gọi pháo binh yểm trợ, Watson trên máy với Miton. 

Watson nói với Milton hãy "giữ vững trận địa và báo cáo đầy đủ."

Do đụng độ bất ngờ hay tao ngộ chiến nên địch đã chống trả ko hiệu quả, do đó Milton ra lịnh trung đội 2 phải tiếp cứu. Và trung đội khi xuống núi tiếp viện, đã bị tấn công mạnh mẻ ở phía trước và bên hông.

Sau khi nắm tình hình, Milton ra lịnh trung đội 2 rút lui, và xin pháo binh bắn chặn hậu cho trung đội này. Pháo binh có hiệu quả thấp do địch quân rất gần lính Dù. Trung đội 3 được lịnh bắt tay trung đội 2 và giúp họ tìm vị trí phòng thủ tốt hơn.

Cả hai trung đội đi ngược lên đồi khoảng 75 m và lập chu vi phòng thủ dọc đường sống núi, với trung đội 2 ở phía tây và trung đội 3 phía đông.

Lúc 08:10, các thành phần của 2 trung đội bị tấn công từ phái bắc bởi khoảng 1 trung đội cộng, nghĩa là trên 1 trung đội bắc quân. Tấn công bị đẩy lui, nhưng tái tục với cường độ gia tăng. Sau đó nửa giờ, Milton báo cáo TĐ rằng hai trung đội của y đụng nặng. 

ĐT Partain gọi không quân. Pháo binh phải ngừng bắn để nhường chỗ cho không quân.

Không quân kém chính xác hơn pháo binh, vì bắc quân biết rằng, nếu họ ở gần quân Mỹ, họ sẽ an toàn hơn. 

Thiếu tá Watson cũng biết điều đó. Khi có lịnh gọi máy bay, y nghĩ đó là 1 sai lầm. "Không được," y trả lời yêu cầu pháo binh ngừng bắn.

Tướng Deane, có mặt trong khu vực, đã ra lịnh pháo binh rời vùng để máy bay làm việc.

Từ 0820 tới 0825, các phản lực đã ném bom dọc bờ trái của sống núi. Lúc 0835, các trực thăng võ trang đã tới. Để đánh dấu vị trí để yểm trợ cận phòng, trung úy Judd và Hood yêu cầu lính ném lựu đạn khói.

Tuy nhiên, do rừng rậm dầy đặc đã làm loảng khói nên gunship ko thể bắn chính xác.

Chưa kể lựu đạn khói đã gây tác hại cho lính Mỹ vì địch đã biết vị trí của họ. Chuyên viên Patterson đã thấy địch gia tăng súng nhỏ. Giây lát sau, cối địch bắt đầu rơi vào chu vi, gây thương vong cho lính Mỹ. Giữa các tiếng kêu "Y tá!", còn có tiếng kêu "Ngừng lưu đạn khói. Ngừng lựu đạn khói." Nhưng đã quá trễ vì địch đã bắn chính xác vào vị trí lính Mỹ.

Trong khi gunship bắn bừa bải vào rừng rậm chung quanh quân Mỹ, bắc quân đã tập hợp để tấn công lần hai. Lúc 0850, trung úy Judd gọi cho đ.đ. trưởng Milton, "Đích thân, chúng tôi chuẩn bị đối phó một tấn công tổng lực. Khoảng 100 tên chuẩn bị tấn công chúng tôi."

Trước khi Milton trả lời, y nghe trên máy toàn đạn M16. Y ko biết hai trung đội sẽ làm được gì sau khi chiến đấu gần 2 g. 

Cuộc tấn công bị đẩy lui với thiệt hại nặng cho cả hai bên. Quân CSBV tiếp tục tiến tới bất chấp thiệt hại. 

Phi, pháo, và trực thăng võ trang tiếp tục suốt trận đánh, bao gồm napalm ở phía bắc của chu vi phòng thủ. Lúc 0900, đ.đ. trưởng Milton ra lịnh trung đội 1 giảm nhẹ áp lực cho trung đội 2 và 3, cùng lúc Milton ra lịnh trung đội vũ khí nặng đưa thương binh lên BCH ở trên đồi. 

Trung đội 1 phải tấn công xuyên phòng tuyến của bắc quân để tới chu vi của trung đội 2 và 3. Lính của trung đội vũ khí nặng ko thể đến gần trận địa để tản thương. Vào lúc này, bắc quân đã bao vây khu vực và tiếp tục tấn công chu vi dù bị thiệt hại nặng.

Khi ba trung đội của Alpha bị bao vây mà ko được tiếp tế hay tăng viện, Milton báo cáo rằng đv của y nguy ngập cần trợ giúp lập tức. 

TL của lữ đoàn 173 Dù đã tới TOC của lữ đoàn. Dựa vào báo cáo của Miton và quan sát từ trên không của TĐ trưởng Partain, TL đã phỏng đoán (surmise) rằng Alpha đã ko lọt vào một phục kích đã chuẩn bị sẵn mà đã tao ngộ chiến với 1 đv CSBV ko rõ quân số. TL nghĩ rằng thành phần chánh của đv này sẽ tiếp tục kéo đến trong khi kềm chân Alpha. 

Ông nhìn bản đồ, nhận dạng đường tiến quân của địch, và chuyển tọa độ đến sq liên lạc pháo binh. Người này chuyển tiếp thông tin trên đến trung tâm điều khiển hỏa lực hay FDC của 3/219 pháo binh. Đạn 105 ly đã rơi xuống khu vực, nhắm vào bắc quân đang rút lui. 

Khi TĐ trưởng Partain báo cáo với TL rằng 2 trực thăng bị trúng đạn từ dưới bắn lên, TL đã cho TĐ trưởng mượn trực thăng của ông để tiếp tục điều quân. Trước đó TĐ trưởng đã ra lịnh Bravo dời căn cứ Dak To để trực thăng vận tới 1 bãi đáp ở phía bắc của nơi mà trung đội của Alpha đang chiến đấu sống còn.

Đ.đ. trưởng của Charlie cũng báo cáo địch chuyển quân ồ ạt tới phía trước và cạnh sườn, mang theo kẻ chết và bị thương, mặc dù chuyển quân rất chậm. TĐ ra lịnh Charlie ko để ý điều đó mà hãy di chuyển nhanh chóng để cứu Alpha. 

Trung tá Steverson, trưởng ban 3 lữ đoàn, đã báo động đ.đ. B của 2/503, đang là trừ bị của TĐ 2/503, trở lại Dak To. Họ được lịnh chuẩn bị hành quân, dù nơi đụng độ ko thể tiếp cận bằng trực thăng, cũng ko bãi đáp gần đó (vì nơi đụng độ là sườn núi). 

Khoảng 1000, những thành phần đi đầu của Alpha đã đụng nặng với bắc quân, báo cáo chỉ còn 15 người. Mọi trung đội trưởng đều tử trận, mọi tiểu đội trưởng đều bị thương, có người mấy lần.

Trung sĩ và các HSQ còn sống của trung đội 2 ra lịnh cho lính bị thương hay khỏe mạnh phải rút về sống núi, hướng tới BCH của đ.đ. Nhưng trước khi lịnh này được thực hiện, liên lạc vô tuyến bị đứt, và lúc 1030, Milton báo cáo rằng y mất liên lạc với các thành phần này. Cùng lúc, y yêu cầu TĐ ngừng oạnh kích bằng napalm và rocket các đường tiếp cận phía tây tới các thành phần đi đầu của đ.đ., đã kể ở trên, và thay bằng pháo binh. Vào lúc này, BCH của Milton, tuy ko bị bắn phá, nhưng tập trung cứu chữa thương binh. 

Đ.đ. Bravo xuống 1 bãi đáp nhỏ, từng chiếc 1. Cuộc đổ quân khó khăn do lửa từ cỏ tranh (kunai grass), do bắt lửa từ lưu đạn khói. Trung đội 2 của Bravo rời bãi đáp tới chiến trường cách đó 300 mét về phía nam. Họ bị bắn bằng đạn nhỏ nhưng ko ai thương tích. Các thành phần khác của Bravo cũng xuống và cố gắng bắt tay với trung đội 2 đang hướng dẫn pháo để tấn công bắc quân.

Các thành phần của Alpha báo cáo đ.đ. trưởng rằng địch chuyển quân về phía tây bắc của chu vi. Lúc 1030 và 1100, Milton báo cáo với TĐ và yêu cầu yểm trợ. 

 2-503_vn_issue_29.pdf (daktomemories.com)

 LIÊN QUÂN VIỆT-MỸ PHẢN CÔNG, NGÀY 7-15 THÁNG 11 NĂM 1967.

Yên tỉnh đã trở lại thung lũng Dak Klong, phía nam Dak To, vào ngày thứ bảy kể từ lúc phát động cuộc hành quân (HQ) đã cho tướng Peers, TL của sđ 4 bộ binh Mỹ một cơ hội để chuyển BCH và các thành phần yểm trợ của lữ đoàn 173 Dù từ Ben Het tới sân bay cũ của Dak To, ở phía tây của thị trấn Tân Cảnh. Dù xa thung lũng Dak Klong, nếu so với trại Ben Het, Dak To I rộng rải hơn, có một kho dự tiếp tế lớn hơn, và tiếp tế dễ dàng hơn vì ko dựa vào TL 512, con đường cũ kĩ, có từ thời Tây, dễ bị phục kích, chạy từ Tân Cảnh đến Bên Hét. (Nói thêm: Tân Cảnh nguyên là 1 làng Thượng có tên Kon Hơ Jao, có từ thời Pháp. Sau 1954, TT Diệm đã đưa dân di cư Công giáo đến lập nghiệp và lập quận lỵ Tân Cảnh. Ngoài Tân Cảnh, di dân Công giáo cũng ở rất nhiều tại Diên Bình  Kon Hơ Ring,  phía đông nam Tân Cảnh, trên QL-14. Thập niên 1970, ở Tân Cảnh có chợ búa, rạp hát, v.v... vì lính Mỹ thuộc sđ 4 và lữ đoàn 193 Dù cũng như của trung đoàn 42 sđ 22 VNCH ở phía tây thị trấn kéo đến ăn uống vui chơi. Riêng quận lỵ Dak To thì nằm chính bắc của thị trấn Tân Cảnh. -- người dịch (ND).

dùng tin tức tình báo mà sđ thu thập trong vài ngày vừa qua, peers đã chia chiến trường ở nam của tl 512 thành hai khu vực hành quân. khu vực phía đông giao cho lữ đoàn 1 của đt johnson, chạy từ ql-14 và sông dak hodrai, trong đó có rặng hỏa tiển và cụm núi ngok dơ lang, nơi mà các tđ 3/8 và 3/12 của lữ đoàn này, đang tìm kiếm trung đoàn 32 và tđ 31 của trung đoàn 40 pháo binh csbv. khu vực phía tây giữa núi dak hoải và biên giới việt-miên thuộc lữ đoàn 173 nhảy dù, đã từng tìm kiếm trung đoàn 66 ở thung lũng dak klong. trung đoàn 174 của sd 1 csbv của tướng an chưa xuất hiện. 

Friday, August 2, 2024

 CHU = 356 = 14 = 5

TẤT = 414 = 9

 TIẾN = 4154 = 14 = 

Monday, July 29, 2024

 The fighting spread across II Corps on the night of 23–24 August when enemy mortar and rocket crews shelled more than thirty locations, among them An Khe, Bong Son, Phan Thiet, and Phan Rang. That same evening, the 66th Regiment from the 1st Division plus the 20th Sapper Battalion and several heavy weapons units converged on Duc Lap, a small village in west ern Quang Duc Province approximately seven kilometers from Cambodia. The division’s 320th Regiment established a blocking position on Highway 14 northeast of Duc Lap to intercept allied ground units coming from Ban Me Thuot. The 95C Regiment stayed back near the Cambodian border with the division’s headquarters and support units. The Dak Sak Special Forces camp, a collection of log and sandbag bun kers manned by two mobile strike force companies, a South Vietnamese Special Forces team, U.S. Special Forces Detachment A–239, and a few Australian advisers, lay approximately five kilometers southeast of the larg est hamlet in Duc Lap village. Highway 14 bisected the community, extending southwest toward Cambodia and northeast toward Ban Me Thuot. Inside the main hamlet was a subdistrict headquarters, a wood and earth fortification not much larger than a football field defended by a half-dozen or so Special Forces advisers and a Regional Forces company. Another Regional Forces company manned the Bon Sar Pa outpost, located three kilometers to the southwest on a knoll overlooking Highway 14.35 The attack began in the early morning hours of 24 August when two squads from the 20th Sapper Battalion crept up to the Duc Lap subsector head quarters and cut through several layers of protective wire without alerting the 34 ORLL, 1 Aug–31 Oct 68, 23d Inf Div, p. 10; AAR, Opn Burlington trail, 1st Sqdn, 1st Cav, n.d., pp. 3–4, box 31, AARs, Asst Ch of Staff, J–3, MACV, RG 472, NACP. 35 AAR, Battle for Duc Lap, I FFV, 24 Sep 68, pp. 4–5, box 29, AARs, Asst Ch of Staff, J–3, MACV, RG 472, NACP. 658 Thwarting the Third Wave guards. They stormed into the compound and began throwing satchel charges, while a North Vietnamese infantry company stationed outside the wire raked the compound with covering fire. One of the satchel charges partly collapsed the advisory team headquarters, wounding five of the Americans who were sleeping inside. When they emerged to rally the Montagnard defenders, heavy enemy fire killed one of the advisers and drove the rest back (Map 47).36 Trapped in their headquarters, the advisers in the subsector compound radioed the Dak Sak camp for help, only to learn that it, too, was under heavy attack. North Vietnamese troops had penetrated the wire and occu pied part of the northern hill inside the camp. Nevertheless, the command group at Dak Sak promised to send a company of mobile strike force soldiers when daylight came. In the meantime, an AC–47 Spooky gunship arrived to suppress enemy mortar and machine-gun positions beyond the reach of the defenders’ weapons.37 At General An’s headquarters in Ban Me Thuot, the South Vietnamese commander met with Generals Peers and Stone to discuss the relief of Duc Lap and the security of the provincial capital. To shore up the latter, Peers ordered General Allen to airlift the 4th Battalion of the 503d Infantry, 173d Airborne Brigade, from Tuy Hoa to Ban Me Thuot where it would join the newly created Task Force sPoiler . Commanded by Col. Herbert J. McChrystal, the task force included his 2d Brigade, 4th Division, as well as the 1st Squadron, 10th Cavalry, two troops from the 7th Squadron, 17th Air Cavalry, and seven artillery batteries. General An ordered a battalion from the 47th Infantry Regiment to redeploy from Phu Yen Province to Ban Me Thuot. The South Korean Expeditionary Force offered to provide additional troops should the need arise.38 Turning to the relief of Duc Lap, General An dispatched two battal ions from the 45th Regiment that were currently patrolling Highways 14 and 21 near Ban Me Thuot. General Stone arranged for the 1st Squadron, 10th Cavalry, to defend the highways during their absence. General An also received permission from his corps commander to fly in several mobile strike force companies from the coastal lowlands. They and the two South Vietnamese battalions would receive direct 105-mm. artillery support from Colonel McChrystal’s 2d Brigade, 4th Division. After establishing a new fire base three kilometers southwest of the Dak Sak camp, McChrystal agreed to fly in Battery A from the 4th Battalion, 42d Artillery, and two platoons from the 2d Battalion, 35th Infantry, organized as Task Force lanCe. Peers provided additional help to the Duc Lap defenders with five B–52 arC light strikes that bombed the surrounding hills later that day.39 36 Ibid., p. 16. 37 Ibid., pp. 13, 19–22. 38 ORLL, 1 Aug–31 Oct 68, 7th Armd Sqdn, 17th Air Cav, 11 Aug 68, p. 8, box 60; ORLL, 1 Aug–31 Oct 68, 4th Inf Div, pp. 2–3, Encl 1, box 25. Both in ORLLs, 1966–1971, Cmd Historian, HQ, USARV, RG 472, NACP. Msg, Peers NHT 1125 to Abrams, 6 Aug 68, Abrams Msg files, CMH. 39 AAR, Battle for Duc Lap, I FFV, pp. 25–26. 659 Staying the Course 66(-) PAVN I I I 66(-) PAVN I I I 66(-) PAVN I I I BREACH ZONE BREACH ZONE 25 Aug 1000 hours 24 Aug BREACH ZONE BREACH ZONE 562d Co Ammunition Dump 563d Co Headquarters 563d Co Ammunition Dump 561st Co Headquarters 561st Co Ammunition Dump Tactical Operations Center 564th Co Ammunition Dump 564th Co Headquarters Camp Perimeter 24–25 August 1968 SKETCH NOT TO SCALE ATTACK ON DUC LAP SPECIAL FORCES CAMP Enemy Limit of Advance, Date Area under Enemy Control MaP 47 On the morning of 24 August, U.S. helicopters airlifted a mobile strike force company into Duc Lap, landing them outside the wire of the main camp. Fighting its way into Dak Sak, the Montagnard unit attacked the enemy-held hill on the northern side of the compound. The assault failed with heavy losses. U.S. helicopters tried to land on the airfield to retrieve the dozens of Montagnard casualties, but North Vietnamese machine guns on the hill shot down four of the aircraft, discouraging further attempts for the moment. The allied situation at Duc Lap began to improve late that afternoon when helicopters positioned the South Vietnamese 2d Battalion, 45th 660 Thwarting the Third Wave Regiment, into a landing zone near the subsector headquarters in Duc Lap village. Enemy fire brought down two helicopters, but the other aircraft got the battalion on the ground before nightfall. Around dusk, another flight of helicopters deposited two mobile strike force companies into a clearing three kilometers south of the Special Forces camp, securing the site for Task Force lanCe set to arrive the next day.40 The twenty-fifth of August proved to be the turning point in the battle for Duc Lap. The North Vietnamese renewed their attack against the subsector headquarters, now down to 61 troops out an original complement of 118, but the defenders held out until relieved by the South Vietnamese 2d Battalion, 45th Regiment. After rescuing the compound, General An’s battalion swept the high ground to the north where the attack had originated and forced the North Vietnamese to retreat from the village of Duc Lap entirely. The situation that day at the Dak Sak Special Forces camp was more precarious. The attacking North Vietnamese infantry took complete control over the small hill that dominated the northern end of the compound, forcing the defenders—three depleted mobile strike force companies plus their U.S., South Vietnamese, and Australian advisers—to withdraw to a second, larger hill at the southern end of the camp where the main command post and most of the advisory buildings were located. Help arrived just in time. Once the artillery battery from Task Force lanCe deployed at its designated landing zone three kilometers to the south of Dak Sak, the two mobile strike force companies that had secured the position the night before headed north and fought their way into the Special Forces camp at around 1300 on 25 August. The Montagnards broke up a North Vietnamese attack, hitting the enemy from the flank as Communist soldiers advanced across the runway toward the southern hill. After push ing the foe back to the northern hill, the two Montagnard units, joined by a fresh mobile strike force company that had just arrived from Pleiku, waited for air and artillery strikes to soften up the position before they assaulted the summit. North Vietnamese fire cut down dozens of the attackers, killing three U.S. advisers who led the charge, but the remaining irregulars swept to the top of the hill. By 1900, the entire Dak Sak Special Forces camp was back in allied hands.41 The intensity of the fighting diminished on the twenty-sixth. The South Vietnamese 2d Battalion, 45th Regiment, continued to battle enemy troops in the hills just north of the subdistrict headquarters, but the 66th Regiment made no effort to renew its siege of the Dak Sak Special Forces camp. By 27 August, the crisis in the Duc Lap area appeared to be over. General An flew in the South Vietnamese 1st Battalion, 45th Infantry Regiment, just as a precaution, but the government troops found little trace of the 1st Division in the days that followed.42 40 Ibid., pp. 28–29. 41 Ibid., pp. 31–35. 42 Periodic Intel Rpt no. 35-68, I FFV, 25–31 Aug 68, 31 Aug 68, p. 4, Historians files, CMH. 661 Staying the Course Allied casualties for the battle of Duc Lap came to 114 killed and 238 wounded. Seven of the dead were U.S. advisers. The I Field Force estimated that over 700 North Vietnamese soldiers had perished, most from air and artillery strikes. Allied commanders later learned that the 1st Division had ended the campaign prematurely due to a lack of trained replacements, food shortages, sickness magnified by the rainy conditions, and a scarcity of arms and ammunition.43 U.S. commanders praised the performance of the South Vietnamese at Duc Lap. General Peers singled out the 1st and 2d Battalions of the 45th Infantry Regiment, which in his words had “demonstrated professional ism and a fighting spirit equal to that of any unit in the history of the war.” Abrams called the performance of the South Vietnamese “magnificent” and said that General An had handled the Duc Lap battle “with consummate skill.” Tragically, an air accident claimed the life of An and his wife on 8 September. He was posthumously promoted to major general and awarded the highest decoration in the Vietnamese Army.44


Thursday, July 25, 2024

 Tài Trần: Sở dĩ rất nhiều Phật tử ở Việt Nam và hải ngoại bị "dắt mủi" bởi các "thượng tọa" như Thích Nhật Từ vì họ chưa bao giờ nghe những LỜI KHUYÊN sau đây của Phật.

LỜI PHẬT VẪN HỢP VỚI KHOA HỌC, DÙ ĐÃ CÓ TRÊN 2.500 NĂM.
- Có lẽ Phật là một trong những ông tổ của chủ nghĩa HOÀI NGHI.-- Tài.
"1/ Không tin tưởng vào bất cứ điều gì chỉ vì bạn nghe nói tới điều đó (you have heard it).
2/ Không tin tưởng vào bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy được nói (it is spoken), hay đồn đại (rumoured) bởi nhiều người.
3/ Không tin tưởng vào bất cứ điều gì bởi vì điều đó được viết trong các sách của tôn giáo của bạn (found written in your religious books).
4/ Không tin tưởng vào bất cứ điều gì đơn thuần (merely) vì được nói bởi các sư phụ (teachers) hay huynh trưởng (elders) của bạn.
5/ Không tin tưởng vào những truyền thống (tradition) bởi vì những truyền thống đó đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ (have been handed out for many generations).
6/ Nhưng chỉ sau khi quan sát và phân tích, khi bạn thấy bất cứ điều gì hợp với lẽ phải (reason) và điều này dẫn tới (conductive) điều tốt (the good) và ích lợi (benefit) cho mọi người (of all and all/everyone), khi ấy bạn hảy chấp nhận và sống với điều đó (accept and live up to it)".
Trên đây là lời Phật - được dịch từ quyển Mindfullness-Based Cancer Recovery của Linda Carlson, Ph.D., R.Psych và Michael Speca, Psy.D., R. Psych. Lời mở đầu của Zindel Segal, Ph.D. Sách dày 187 trang. Xuất bản năm 2010 bởi Nhà xuất bản New Harbinger Publications, Inc.
Nhận xét : dù Phật sống cách đây trên dưới 2.500 năm (563 - 483 trước công nguyên) nhưng tư tưởng trên đây của ngài rất hợp với tinh thần khoa học ngày nay.