Tuesday, November 14, 2023

BIỆT KÍCH BẮC-VIỆT NAM

Lời nói đầu: Trong bài Làm Dê Tế Thần: TĐ 6 Dù Nhảy Xuống Tư Lệ có viết về những đv biệt kích nhỏ do người Pháp chỉ huy nhưng hoạt động đơn độc và nhiều ngày trong những vùng rộng lớn mà VMCS kiểm soát, như Xứ Thái hay Xứ Mường, v.v... Họ là những người dân bản địa, tình nguyện vào các đv này, do rành địa thế và con người trong khu vực, nên dù trang bị nhẹ, nhưng lại rất hữu ích trong công tác tìm kiếm phi công lâm nạn, những người lính bị thất lạc khi đv của họ tan hàng; phá hủy các căn cứ hay kho chứa đạn dược và tấn công quấy rối đường chuyển quân hay tiếp tế của VM, v... Thời đó chưa dùng trực thăng nhiều như sau này nên họ phải lập bãi thả dù (DZ) nếu muốn nhận tiếp tế. 

Hôm nay tôi xin giới thiệu một bài về tổ chức, nhiệm vụ, và những chiến tích độc đáo của những đv biệt kích này. Nên nhớ: vào lúc đó, trong khu vực này, quân VMCS đã có những sđ trang bị đầy đủ, có pháo binh và phòng không, trong khi chủ lực của Pháp chỉ tập trung bảo vệ các thành phố lớn hay các khu đông dân, do vậy đã để những khu vực rừng núi và ít dân cho VM kiểm soát và tha hồ di chuyển như chỗ ko người.

Chuyển ngữ từ bài "de Lattre's Line Commandos Nord-Vietnam" của David Galster, đăng ngày 25-2-2021.

=========

"Các chiến hữu của tôi,

Một "Lực lượng Đặc biệt" của Pháp được tổ chức bởi tướng de Lattre (đơ-lát-trờ) năm 1951. Lực lượng này đã được đặt tên là "BIỆT KÍCH BẮC-VIỆT NAM". Bài này cung cấp hiểu biết sâu sắc hơn (more insight), và liên quan của lực lượng này với Đoàn Biệt kích Dù Hỗn hợp, viết tắt là GCMA, chỉ huy bởi ĐT Roger Trinquier (Rô-giê Tran-ki-ê).

NGUỒN GỐC CỦA BIỆT KÍCH (BK) BẮC VIỆT NAM

Tướng de Lattre đã nhận ra (realize) rằng phải cần có một lực lượng BK. Ông đã thấy cần một lực lượng phi qui ước, và đã muốn cải tiến về trang bị, võ khí, và điều kiện ăn ở của những người lính Việt Nam bản xứ (indigenous) này. Do VN có nhiều sắc dân thiểu số nên lực lượng có thể tuyển mộ lính từ những sắc dân thiểu số này, ví dụ những đơn vị biệt kích người Mường hay người Thái -- người dịch.  Dựa trên kinh nghiệm kháng chiến chống Nhật, và cũng như kinh nghiệm của các đv BK hải quân của giang đoàn xung phong (Dinassaut), ông đã muốn những đv nhẹ phần lớn phần lớn là phụ lực quân (auxiliairy), chỉ huy bởi vài người Âu, họ là những kẻ tình nguyện đầy quyết tâm, được huấn luyện đặc biệt về đánh đêm và rừng núi, để chống lại Việt Minh, bằng cách dùng phương pháp của họ. Đây cũng được xem như một cách để lấy lại lòng tin của dân VN, sống ở đồng bằng hay rừng núi, để cổ võ họ tin tưởng vào người Pháp.

Do đó, ngày 2/7/1951, tám đv BK được thành lập ở bắc VN. Dựa trên quyết định số 1546/EMIFT/1-- EMIFT là viết tắt của État-Major Interarmées et de Forces Terrestres (Bộ Tham Mưu Liên Quân và Lục Quân). Ngày 10/7/1951, lực lượng này đã tăng lên 30 toán, và sau đó lên 45 toán vào ngày 19/11/1951. (Quyết định số 802/EMIFT/3/SC).

ĐT Louis Fourcade (lu-i-z fo-cát-đờ) được chỉ định làm tư lịnh của lực lượng này. Ông được biết dưới tên "ông chủ lớn" (Big Boss). Trước đây, vào năm 1945, ông đã chỉ huy Toán BK Conus, chiến đấu ở Nam Kỳ, Cam-bốt, và Lào. Toán này từng hoạt động với lữ đoàn Dù 1 SAS của ĐT de la Bolladière (đờ-la bô-la-đi-e-rờ). Khi về Mẩu quốc, ông chỉ huy trường đào tạo biệt kích GITCM ở Frejus (Phờ-rê-dút) tại Pháp.

Các người lính BK Dù, viết tắt là GCMA (Groupe Commando Mixte Aéroporté), là những sắc dân thiểu số VN hay dân quân người Thượng ở Lào, chỉ huy bởi sĩ quan Dù của cơ quan tình báo Pháp, viết tắt là SDECE. ĐT Roger Trinquier (Rô-dơ Tran-ki-e) từng là một lãnh đạo huyền thoại của binh chủng này. Một số sĩ quan của ĐT Rô-dơ Tran-ki-e được chọn làm cán bộ khung của lực lượng BK Bắc VN. Nhưng đây là hai đv biệt lập: lực lượng BK Bắc VN chỉ hoạt động ở khu vực châu thổ của Bắc Kỳ, hay rộng hơn một chút. Trong khi đó lực lượng GCMA hoạt động khắp Đông Dương.

HUY HIỆU CỦA BIỆT KÍCH BẮC VN

CẤU TRÚC CỦA LỰC LƯỢNG

Mỗi toán có quân số một đại đội, và được đánh số và đặt tên, ví dụ, như toán 24 BK. Một số đv này lại có tên dựa theo tên của người chỉ huy của họ, như toán BK "Rusconi" (Rús-cô-ni). Một số đv khác có biệt danh, như toán "Hắc Hổ" (Tigre Noirs). 

Ban chỉ huy của toán thường gồm 9 quân nhân Pháp, phần lớn từ binh chủng Dù Thuộc Địa. Toán trưởng là một sĩ quan hay chuẩn úy (adjudant- chef). Bốn hạ sĩ quan sẽ chỉ huy các trung đội, và một người sẽ là toán phó (executive officer). Ông này sẽ chỉ huy toán trong trường hợp toán trưởng đi vắng hay tử thương hay bị thương -- người dịch. Hai hạ sĩ quan làm hiệu thính viên, và hai người khác làm y tá.

Số còn lại là lính gốc dân bản xứ, quân số tới 120 người mỗi toán. Những người lính này đều là tình nguyện từ các đại đội phụ lục quân (auxiliaire) đã có sẵn, hay dân quân (militia) từ các làng mạc, hay những thanh niên VN. Phụ lực quân là những người hỗ trợ quân đội và cảnh sát nhưng ko phải là lực lượng chánh quy. Không giống như lực lượng chánh quy, họ ko cần được huấn luyện đầy đủ hay có cấp bậc như lính chính quy, và có thể tích hợp hay sát nhập (integrated) thành một lực lượng chiến đấu. Tuy nhiên, một số phụ lực quân, là dân quân (militia) bao gồm những người đã đi quân dịch hay nghĩa vụ, và dĩ nhiên họ đã được huấn luyện và kinh nghiệm chiến đấu tốt hơn những người đang là lính chính quy. Những người lính phụ lực quân này, viết tắt là CLSM là thành phần cốt lõi của nhiều Toán BK. Những phụ lực quân này, thường thường được dùng để canh giữ phòng tuyến của de Lattre, nhưng phải huấn luyện thêm.

Cũng có những người là cựu tù binh, gọi tắt là PIM, đã bị bắt vì tình nghi trong các cuộc HQ, nhưng nay họ thích đi chiến đấu cho quân Pháp hơn là làm dân công, còn gọi là cu-li, làm việc khổ nhọc trong các công trường. Một số Toán BK còn tuyển cựu bộ đội VMCS. Những người này thường nhiều kinh nghiệm trong chống du kích, nhưng lòng trung thành của họ ko luôn luôn bảo đảm.

CÁC LOẠI NHIỆM VỤ

Các đv biệt kích được tổ chức, trang bị, và huấn luyện cho một trong ba nhiệm vụ: Xung Kích, BK Hải Quân, và Du Kích Quân.

BK Xung Kích là thành phần trừ bị có nhiệm vụ đột kích sâu trong vùng VM kiểm soát, nhằm phá hủy căn cứ địch, và tổ chức lãnh thổ của VM. Họ còn làm gián đoạn đường tiếp tế và viện quân của VM. Họ hành động độc lập hay kết hợp với những chiến đoàn trong các HQ có qui mô lớn như Artois (Ác-toa-z), Gerfaut (Ghét-phô), v.v...

BK Hải quân thường hoạt động với các đv Hải quân trong các nhiệm vụ đổ bộ lên bờ biển hay dọc các sông rạch của vùng châu thổ, như trong các HQ Rochefort (rốc-sơ-pho), Grasse (gờ-rát-sờ), v.v...

Cuối cùng, các toán BK Khu vực (Zone Commando) có nhiệm vụ thu lượm tin tức tình báo, và dùng du kích chiến để đánh VM, phần lớn trong khu vực của họ. Họ cung cấp hỗ trợ cho tiểu khu trưởng trong các cuộc HQ lục soát hay HQ cảnh sát. Vì là người sống lâu năm tại địa phương nên họ rất rành địa hình địa vật cũng như biết ai theo quốc gia, ai theo CS, nên rất hữu ích trong các cuộc HQ cảnh sát -- người dịch.

ĐỒNG PHỤC VÀ VÕ KHÍ

Đồng phục tác chiến thường là đồng phục M47 của Pháp hay "đồng phục bà-ba đen," với giày da của lục quân Pháp, hay giày đi rừng nhẹ hơn, có tên là "pataugas," (pa-tô-gà-z) hay giày thể thao để chơi bóng rổ. Trong lúc HQ, họ thể đội mũ nồi đen, nếu là lính dù thì đội mũ đỏ, nón đi rừng của Pháp, cũng như nón cối VM.

Lính BK được trang bị nhẹ với súng Thompson, MAT-49, MAT-36, các-bin M1, và đôi khi vài khẩu cối 50 hay 60 ly. Máy truyền tin là một SCR690, ba tới bốn SCR300, và bốn tới năm SCR536 cho mỗi đại đội BK. Nói thêm: Trung liên kiểu 1924/M29 hay MAC 24/29, được thiết kế bởi một công ty Pháp. Súng có khẩu kính 7.5 ly, được dùng như trung liên tiêu chuẩn của Lục quân Pháp từ 1925 đến 1979 và vẫn dùng từ 1956 đến 2008 trong Vệ binh Quốc gia của Pháp. Nghĩa là đã xử dụng 93 năm. Có 190.400 khẩu được sản xuất. Trọng lượng 8,9 kí, dài 1,08 m, nòng súng dài 0,5 m, tốc độ 450 viên/phút, tầm bắn hữu hiệu 1.250 m, tầm tối đa 3.950 m, hộp đạn tròn có 25 viên. Ảnh một lính của trung đoàn nhảy dù lê-dương số 1 (1st BEP) đang xử dụng FM 24/29 trong một cuộc phục kích của VM năm 1952. Như đã nói trong bài trước, lính Lê-dương đủ mọi quốc tịch, kể cả cựu binh của Đức quốc xã. Khi phục vụ đủ 3 năm hay bị thương, họ sẽ là dân Pháp -- người dịch.                        

TOÁN 9 BIỆT KÍCH Ở BẮC NINH, BẮC VN 

HUẤN LUYỆN

Do đa đạng trong tuyển người, ĐT Phuốc-ca-đờ đã lập Trường Vạt Cháy vào năm 1951, với đại úy Legrand (Lơ-gờ-rân) là chỉ huy.     

Tập bắn thiện xạ ở Trường Vạt Cháy

Toán 24 BK của Vandenberghe (Văn-đen-béc-gờ) là một trong những Toán BK nổi tiếng và một trong tám toán thành lập đầu tiên. Chuẩn úy Văn-đen-béc-gờ đã tổ chức đv này từ đội phụ lực quân số 11. Tiền thân của đv này đã dự Chiến dịch Sông Đáy tại Ninh Bình.

Ông sanh tại Paris ngày 27/10/1927 trong một môi trường rất bình thường. Cha ông đã bị lao phổi, và mẹ một người Tây ban nha theo đạo Do Thái (Spanish Jew), đã vất vả để lo cho gia đình. Cùng với người anh, Văn-đen-béc-gờ đã học một trường công, nơi mà ông đôi khi thách đố chánh quyền. Năm 1939, cha ông chết, và năm 1943, mẹ ông đã bị Đức quốc xã bắt.

Ông đã tham gia Kháng chiến chống Đức quốc xã, và đã ở một đv trinh sát trên biên giới Pháp-Tây ban nha. Khi thế chiến 2 chấm dứt, ông đã vào Quân đội Pháp tháng 1/1947, lên tàu cùng trung đoàn 49 bộ binh, đi Đông Dương. Sau đó ông được chỉ định về đại đội 10, trung đoàn 6 bộ binh. Ông thăng cấp trung sĩ và chỉ huy một trung đội phụ lực quân (suppletif) người Việt. Nói thêm: Tác giả Michel Bodin cho rằng trong khi phụ lực quân phục vụ bên cạnh lính chính quy, dân quân (partisan) có nhiệm vụ canh giữ làng xã và có thể xem họ như nhân dân tự vệ (self-defense militia). Tại chiến trường Lào, chữ 'dân quân' được dùng đầu tiên vào 1945, sau đó được thay thế bởi 'Soum', tiếng Lào để chỉ 'nhóm' vào 1948 và cuối cùng là phụ lực quân từ 1950 trở về sau -- người dịch.

Năm 1949, ông bị trúng đạn ở ngực và phải về Pháp. Ông đã sống sót và hồi phục. Ông được Bắc đẩu bội tinh (the Knight of the Legion of Honour) về công trạng này ở tuổi 21. Vài tháng sau, ông trở lại Đông Dương, tiếp tục làm trung đội trưởng. Đến năm 1951, ông ở đại đội 5 của trung đoàn 6 thuộc địa, đóng ở Nam Định.

Chuẩn úy Roger Vandenberghe

VĂN-ĐEN-BÉC-GỜ Ở NINH BÌNH

Khi VM tấn công Ninh Bình ngày 29/5/1951, quân Pháp đã dốc toàn lực để đưa viện quân vào trận địa. Ngày 30/5, toán trinh sát của ông đã thám sát cho chiến đoàn 1 để tái chiếm một dốc đá lởm chởm (crag) phía nam của Ninh Bình. Đây cũng là lúc thi thể của Bernard de Lattre (béc-na đơ lát-trờ) được tìm thấy. Béc-na là con trai của tướng Đơ-Lát-trờ và chỉ huy chi đoàn 8 của trung đoàn 1 thiết kỵ (1er Regiment Chasseurs de Cheval).

THÀNH LẬP TOÁN BK 24

Tiếp sau Chiến dịch Sông Đáy, toán phụ lực quân số 11 được Văn-đen-béc-gờ tổ chức thành Toán BK 24. Họ được huấn luyện, trang bị và ăn mặc như VM để thám sát và hoạt động trong vùng địch.                        

Toán 24 biệt kích, ăn mặc như Việt Minh.

Trong một sứ mạng sâu trong vùng địch, ông đã đóng vai một tù nhân, và dẫn giải bởi binh sĩ dưới quyền, giả dạng như VM, để công khai đi tới một chính ủy VM. VM quá cả tin (gullible), và vào lúc thuận lợi, những người lính của Toán 24 đã xung phong và nổ súng. Họ đã tịch thu võ khí và tài liệu, bao gồm những lịnh cho một cuộc tấn công sắp xảy ra (impend) của VM. Thành tích này đã khiến toán 24 BK mang danh hiệu "Hắc Hổ" (Tigres Noirs).

Toán 24 BK đã dự chiến dịch Hòa Bình cuối 1951. Họ đã phối hợp với chiến đoàn 2 của ĐT de Castries (đờ cát-tri-z). (Sau này là TL tại Điện Biên Phủ).

Nhưng thảm kịch đã đến với ông vào đêm 5/1/1952. Vì một số cựu bộ đội VM, từng được tuyển làm BK, đã phản bội. Ở tuổi 24, Văn-đen-béc-gơ đã bị giết trong giấc ngủ bởi Nguyễn Tịnh Khôi, một cựu chỉ huy của đv xung kích thuộc trung đoàn 36 VM. Vân-đen-béc-gơ đã được truy thăng một Bắc đẩu Bội tinh khác với nhành dương liễu (palms). Ảnh dưới: huy hiệu của toán BK 24 là đầu cọp với khẩu hiệu tiếng Việt: "Thà Chết Hơn Là Chịu Nhục" (Plutôt la mort que la honte). 

                     


TOÁN 25 BK "ROMARY" (RÔ-MA-RỲ)

Đơn vị này được thành lập từ toán phụ lực quân số 170, và lúc đầu chỉ huy bởi trung úy Michel Romary (Mít-xen Rô-ma-rỳ). Là một đơn vị BK của hải quân, họ đã tham gia chiến dịch sông Đáy. 

Ngày 30/5, toán 25 đã đổ bộ lên Yên Cư Hạ để tăng cường cho quân trú phòng ở đó. Đồn này đã được bảo vệ bởi tự vệ Công giáo và dân quân Hưng Yên. Ngày 5/6, trung đoàn 88 VMCS đã tấn công dữ dội vị trí này trong hai giờ với súng ko giựt và cối. Đây cũng là lần đầu tiên VM dùng đạn lân tinh trắng (WP). Các đặc công quyết tử đã dùng khối nổ lõm (hollow load) để phá hàng rào, và đợt xung phong chánh đã tràn ngập vị trí, nhưng đã đổi chủ bốn lần. 

Trong lúc một nhóm nhỏ chiến sĩ, chỉ huy bởi trung úy Rô-ma-rỳ (đã bị thương vì 2 viên đạn và nhiều miểng) đã nhận ra rằng tình hình tuyệt vọng, toán phụ lực quân số 6 của giang đoàn xung phong xuất hiện trên Sông Đáy, và nổ súng. Điều này đã đẩy lui địch quân, và tạo cơ hội cho viện binh của TĐ 7 Nhảy Dù Thuộc địa (7BPC) và TĐ 4 của trung đoàn bộ binh 7 (4/7RTA) -- toàn lính người An-giê-ri, đổ bộ. Trung úy Romary sau này được ân thưởng Anh dũng Bội tinh (Legion d'Honneur).                           

Tướng de Lattre trao tặng Anh dũng Bội tinh cho trung úy Romary

Trung úy Besnard (Béc-na) đã thay thế trung úy Rô-ma-rỳ chỉ huy Toán BK 25. Toán này đã tiếp tục HQ trong khu vực châu thổ Bắc kỳ".

                             

Trung úy Besnard và toán 25 BK

San Jose ngày 30/11/2023, cập nhật ngày 8/8/2024.

Tài Trần 




Monday, November 13, 2023

 

Campaign Series Vietnam | de Lattre's Line

Mes amis des jeux de guerre,

A French “Special Forces” was organized by General de Lattre in 1951. It was named “COMMANDOS NORD-VIETNAM.” This article provides more insight, and its relationship to the larger GCMA or Groupe Commandos Mixte Aeroporte, commanded by Colonel Roger Trinquier.

Origin of COMMANDOS NORD-VIETNAM

General de Lattre realized that a commando force was needed. He saw the need for unconventional forces, and wanted to improve equipment, weaponry, and living conditions for the indigeneous Vietnamese troops. Based on experience with Japanese resistance, and also that of the Marine and Dinassaut units, he wanted light units made up mainly of auxiliaries supervised by a few Europeans,  determined volunteers, specially trained in night and jungle combat, to strike at the Viet Minh, using their same methods. This was seen as a way to regain confidence of the Vietnamese people, of the “rice fields or the mountains,” to encourage them to return to French loyalty.

So, on 2 July, 1951, eight auxiliary commandos were created in North Vietnam. This was signed under “Decision N° 1546 / EMIFT / 1. (EMIFT =  État-Major Interarmées et des Forces Terrestres.) On 10 July,1951, this was increased to thirty, and later forty-five on 19 November, 1951.

(Decision N° 802 / EMIFT / 3 / SC)

Colonel Louis Fourcade was assigned as commander of the entire COMMANDOS NORD-VIETNAM. He was known as the “le grande Patron.” (Big Boss) Previously, Fourcade had in 1945 led Commando Conus, fighting in Cochinchina, Cambodia, and then in Laos. This unit was in liaison with Colonel de la Bollardière’s 1st SAS parachute brigade. Upon his return to Metropole in 1946, he commanded the GITCM Commando School in Frejus, France.

The GCMA airborne commandos (Groupe Commando Mixte Aéroporté,) were Vietnamese ethnic minorities or Laotian montagnard partisans led by paratrooper officers of the SDECE French intelligence agency. Colonel Roger Trinquier was the legendary leader of this rather large organization. Some of them would be used as cadres in COMMANDO NORD-VIETNAM. But, these were still two separate organizations. COMMANDO NORD-VIETNAM operated in the Tonkin Delta areas, and perhaps a little beyond. GCMA operated all over Indochina.

Insignia, COMMANDOS NORD-VIETNAM

Insignia, COMMANDOS NORD-VIETNAM

Organization Structure

Each “Commando” was a company sized unit, and numbered and named, for example, like Commando 24. Some of these were alternatively referred to by the commander name such as Commando “Rusconi.” Some commandos had nicknames, such as “Tigres Noirs,” or “Black Tigers.”

Leadership usually consisted of nine French soldiers, mostly from the “Parachutistes Coloniaux.” The commander was an officer or or Adjudant Chef or Adjudant  (warrant officer). Four NCOs would lead the sections, with one acting as the executive officer. Two junior ranks were radiomen, and two others were medics.

The remainder were indigenous troops, numbering up to 120 men per Commando. These troops were volunteers that come from companies of existing auxiliaries, or from militias in villages, or from young Vietnamese civilians. The auxiliaries or Légères de Supplétifs Militaires, (CLSM) were companies that formed the basis for many Commandos. These CLSM had typically served as garrison troops on the de Lattre line, but with additional training.

There were also former PIMs (Prisonniers et internés militaires) arrested as suspects during operations, preferring to fight rather than hang out as “coolies” in labor camps. Some commando leaders recruited former Viet Minh soldiers. These were often experienced guerilla fighters, but their loyalty was not always certain.

Mission Types

Commando units were organized, equipped, and trained for one of three mission types: Shock (Choc,)  Marine, and Guerilla.

‘Shock Commandos’ were reserves that carried out deep raids, with a view to destroying enemy bases, and the Viet Minh territorial organization. They disrupted logistics and reinforcements. They acted alone or in cooperation with mobile groups in large-scale operations (ARTOIS, GERFAUT, etc.)

The group of “Landing Commandos” or “Marines”, were called upon to work frequently in liaison with Navy formations for landing missions on the coasts or along the rivers and arroyos of the delta. (OPERATIONS GRASSE, ROCHEFORT, etc.)

.Finally, the group of so-called Zone Commandos, were oriented towards the search for intelligence, and the actions of “guerrilla – counter-guerrilla” warfare, mainly in their areas. They provided assistance for the Zone or Sector Commanders, helping with clean-up or sweeping operations.

Uniforms and Weapons

Combat uniforms were often French M47 uniforms or “black pajama uniforms,” with French army leather army boots, jungle boots called “pataugas,” or the civilian trainers called “baskets”. Head gear was black beret, (red beret was tolerated for paratroopers,) the French bush hat, (Le Chapeau de Brousse,) as well as Viet Minh helmets (sun hats) were often worn on operations.

The Commandos were lightly armed with Thompson, MAT 49, MAS 36, M1 carbine, and FM24/29 with sometimes a few 50 or 60mm Mortars. Radios were one SCR690, three to four SCR300, and  four to five SCR536 per Commando company.

Commando 9, Bac Ninh, North Vietnam

Commando 9, Bac Ninh, North Vietnam

Training

Given the diversity of recruitment, Col. Fourcade planned to involve “Commandos” in a training and cohesion course. Ecole de Vat Chay was set up for this purpose in 1951, with Capitaine Michel Legrand commanding. Operational requirements did not allow everyone to participate. New recruits were trained by their officers.

Marksmanship Training at Ecole Vat Chay

Marksmanship Training at Ecole Vat Chay

Commando 24 “Vandenberghe”

This was one of the more well-known Commandos and was one of the original eight formed in July 1951. Roger Vandenberghe, I’adjudant‐chef, (Chief Warrant Officer) organized this unit from the 11e CLSM. A precursor to this unit participated in the Day River Campaign at Ninh Binh.

Vandenberghe was born in Paris on October 27, 1927 in an extremely modest environment. His father suffered from turberculosis, and his mother, a Spanish Jew, struggled to support the family. With his brother, Vandenberghe was placed in a public boarding school, where he sometimes defied the authorities. In 1939, his father died, and in 1943, his mother was arrested by the Nazis.

Roger joined the Resistance, and was in a surveillance unit on the Franco-Spanish border. When WWII ended, he joined the French Army.  In January 1947, he embarked with the 49th Infantry Regiment, headed to Indochina. He was later assigned to the 10th Company, 6th Colonial Infantry Regiment. He rose to the rank of Sergeant and commanded a section of Vietnamese “suppletifs.”

In 1949, Vandenberghe was hit in the chest with a bullet, and repatriated to France. He survived and recovered. His actions earned the Knight of the Legion of Honour, at age 21. Returning to Indochina a few months later, he continued as section leader. Then in 1951, he was in the 5th Company of the 6th Colonial Regiment, stationed around Nam Dinh

Roger Vandenberghe, I'adjudant‐chef

Roger Vandenberghe, I’adjudant‐chef

Vandenberghe at Ninh Binh

At the time of the Viet Minh attack on Ninh Binh on 29 May 1951, the French were scrambling to get reinforcments into the battle. On 30 May, Vandenberghe’s reconnaissance group scouted for Groupe Mobile No 1, that retook the high crag south of Ninh Binh. This was when the body of Bernard de Lattre was found. He was the son of General de Lattre, and had commanded the 8th armored squadron of the 1er Regiment Chasseurs de Cheval.

Formation of Commando 24

Subsequent to the Day River Campaign, the 11e CLSM was reorganized by Vandenberghe, as Commando 24. Modeled on the “guerilla” type of units, they were trained and equipped for reconnaissance and covert operations. Their uniforms were similar to Viet Minh, so they could confuse the enemy.

Commando 24 on Patrol - Note similarity to Viet Minh Uniforms

Commando 24 on Patrol – Note similarity to Viet Minh Uniforms

In one mission into a deep enemy zone, Vandenberghe himself pretended to be a prisoner, and was led by his troops, disguised as Viet Minh, to openly march to a VM Commissar. The Viet Minh were too gullible, and at the right moment Commando 24 soldiers emerged and opened fire. They retrieved weapons and documents, including communications of an impending VM attack. This type of operation earned Commando 24 the name of “Tigres Noirs” or “Black Tigers.”

Commando 24 took part in the Hoa Binh Campaign in late 1951. They operated with Groupe Mobile No. 2, under Colonel Christian de Castries. (Later, the Dien Bien Phu Commander)

But, tragedy struck on the night of 5 January, 1952. Since former Viet Minh regulars were recruited as part of the Commando, occasional betrayal happened. At age 24, Roger Vandenberghe was murdered in his sleep by Nguien Tinh Khoi, former assault unit commander in the Viet Minh 36th Regiment.  Vandenberghe was posthumorously awarded yet another Croix de Guerre with palms.

Commando 24 Insignia Motto: "Tha Chet Hon La Chiu Nhuc" (Plutôt la mort que la honte) (Death before dishonor)

Commando 24 Insignia

Motto: “Tha Chet Hon La Chiu Nhuc”

(Plutôt la mort que la honte)

(Death before dishonor)

Commando 25 “Romary”

This unit was formed from the 170e CLSM, and initially commanded by Lt. Michel Romary. Organized as a Marine Commando, it participated in the Day River Campaign.

On 30 May, Commando 25 landed at Yen Cu Ha to reinforce the garrison there. This poste had been defended by Catholic Militia and Hung Yen partisans. On 5 June, the Viet Minh 88th Regiment attacked. Viet Minh gunners bludgeoned the position for two hours with “SKZ” (Sung Khong Zat: Chinese guns without recoil,) and mortars. This was also the first time they used WP, white phosphorus shells. Suicide sappers, called “death volunteers” undermined the walls with hollow loads,  and the general assault overwhelmed the position, but it changed hands four times.

As the handful of fighters, led by Lt. Romary (injured by two bullets and multiple shrapnel,) realized their desperate situation, LSSL No. 6 of Dinassaut “A” appears on the River Day, firing machine guns. This pushes the enemy back, and allows room for the reinforcements from 7BPC and 4/7RTA to land. The wounded Lt. Romary was later awarded the  Légion d’Honneur.

Lt. Romary awarded Legion of Honor by Gen. de Lattre

Lt. Romary awarded Legion of Honor by Gen. de Lattre

Lt. Besnard succeeded Lt. Romary as chef of Commando 25. This unit continued operations in the Tonkin delta region.

Lt. Besnard with Commando 25

Lt. Besnard with Commando 25

Commando 25 Insignia

Commando 25 Insignia

References

Commandos Nord Vietnam, A. Lebreton

http://archive.wikiwix.com/cache/index2.php?url=http%3A%2F%2Fwww.acuf.fr%2FArticle%2FCommandos%2520Nord%2520Vietnam.htm

COMMANDOS NORD-VIETNAM 1951-1954,  Jean-Pierre Pissardy, Casemate Publishers, 2003 (hardcopy only)

French Indochina Website

http://www.gia-vuc.com/indo/INDOCHINE%20commandos.htm

Héros de la guerre d’Indochine

http://unacitaistres.n.u.f.unblog.fr/files/2015/01/vandenberghe.pdf

Les Partisans et Supplétifs Website

https://indochinefrancaise.xooit.com/t601-Les-Partisans-et-Suppletifs.htm


 TRÂN = 4215 = 12 = 3

HÙNG = 5653 = 19 = 10 = 1

CHIẾN = 35155 = 19 = 1 


 1951 11 10 La Bataille D Hoa Binh Cho Ben | PDF | Légion étrangère français | Artillerie (scribd.com)

Sunday, November 12, 2023

 CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH TỪ 10/11/1951 TỚI 25/2/1952           


         




Lời nói đầu: Trước đây các bạn đã nghe bài về Chiến dịch Hòa Bình của Bernard Fall, hôm nay cũng đề tài này nhưng được đăng 
trên Historynet ngày 12/06/2006. Bài viết này rất công phu và nhiều chi tiết hơn, có lẽ dựa vào tường trình sau hành quân (after-action report). Bản đồ và hình ảnh lượm lặt từ các bài của cựu chiến binh (CCB) Pháp và trên mạng.
. . . 

"Hòa Bình là thủ phủ của người thiểu số Mường. Nằm khoảng 62 km tây tây nam của Hà Nội, thị xã này nằm trên bờ tây của Sông Đà, nơi mà sông bẻ cong về hướng bắc để nối với sông Hồng phía trên Sơn Tây. Với thủy lộ dài 134 km đi theo Sông HồngSông Đà, tàu sẽ đi qua Sơn Tây, Việt Trì, La Phú (bây giờ gọi là La Hào - Phú An), Núi Đức Bà (giờ là Chợ Chẹ). Phần lớn khoảng cách này an toàn cho lực lượng giang thuyền, nhưng 21 km cuối cùng giữa Núi Đức Bà và Hòa Bình có những núi cao và những vạch rừng hẹp ven bờ, và thỉnh thoảng là những khối đá nằm giữa sông. 

Về đường bộ, Hòa Bình cách Hà nội khoảng 67 km bằng đường thuộc địa số 6Ở 35 km đầu tiên, đường chạy tới Xuân Mai; từ đây đường có độ dài 31 km đi ngang các núi Việt Nam và núi Chàm, có nhiều đoạn cùi chỏ tại một khu vực có tên Bến Ngọc. Năm 1946, Pháp thả quân Dù tái chiếm Hòa Bình, nhưng đã bỏ vào tháng 10/1950 sau tin chiến thắng của Giáp tại Đường Thuộc địa số 4.

Giai đoạn đầu của chiến dịch, một cuộc HQ rất qui mô, có tên Hoa Tulipe, khai diễn ngày 10/11/1951, để chiếm Đèo Chợ Bến và mở rộng kiểm soát của Pháp vượt khỏi Tỉnh Lộ 21, còn gọi là Đường Nhượng Bộ (concessions). Trong khi Task Force North với nhiều xe thiết giáp của ĐT de Castries (đờ-Cát-tri) đã tấn công về phía nam để bảo vệ hành lang đường 21 tại Chợ Bến, một thị xã ở bờ tây của Sông Đà, các đv bộ binh thuộc Task Force Center của ĐT Clements (Cờ-lê-mân) đã tấn công về phía tây từ vùng Nam Dương, hướng tới Sông Đáy, và đã bắt tay với TĐ 1 Nhảy Dù Lê-Dương (1st BEP), đã được thả xuống những ruộng lúa ngập nước kế cận Chợ Bến lúc 0910 sáng đó. Kết hợp với các mủi này, là các task force khác hoạt động ở đông và nam của Chợ Bến. 

VMCS đã bỏ thị xã Chợ Bến sau khi chống cự yếu ớt (token resistance), nhưng trận chiến dọc đường 21 đã chứng tỏ ngày càng dữ dội hơn khi hai TĐ của trung đoàn 64, ba đại đội của TĐ 164 địa phương, và lực lượng VM địa phương tham chiến. Quân Pháp có thuận lợi nhờ vượt trội về không quân, lưu động tính và hỏa lực. Nói thêm: HQ Tulipe là một HQ lớn, có tham dự của nhiều task force; mỗi task force gồm nhiều TĐ thuộc nhiều binh chũng khác nhau, thường do một ĐT chỉ huy -- người dịch.

Lúc 1430 chiều đó, TĐ 1 Dù Thuộc địa, các đv biệt kích của Vandenberghe (Vân-đen-be-gờ), và các đv tăng phái cho Chiến đoàn 2 đã đi qua phòng tuyến TĐ 1 Dù Lê-dương để tới các mục tiêu của họ hai km bắc Chợ Bến. Với đầu cầu (toehold) này ở vùng Cao nguyên của dân Mường, Đờ-lát đã chuyển sang Giai đoạn 2.  

Sau khi chiếm Chợ Bến, ông đã tái cấu trúc các đv của ông thành ba lực lượng HQ và ra lịnh cho họ tái chiếm Hòa Bình bằng đường bộ, đường không và đường sông. Lực lượng phía bắc gồm Chiến đoàn 7 của ĐT Dodelier (Đô-đờ-li-ê) và một đv giang thuyền xung phong, gồm có sáu TĐ bộ binh, ba TĐ pháo, một TĐ công binh và một trung đoàn xe bọc sắt sẽ lục soát về phía nam từ cửa Sông Đà tại Tu Vũ, vì từ chỗ này của sông tới thị xã Hòa Bình bị khống chế bởi nhiều núi cao hai bên sông. Lực lượng phía nam của ĐT Bollardiere (Bô-la-đi-e) sẽ đẩy các TĐ Mường thuộc chiến đoàn 3 do ĐT Vanuxem chỉ huy tiến về phía tây theo đường thuộc địa số 6 để bắt tay với một task force gồm 3 TĐ Dù đã thả xuống Hòa Bình. Liên lạc giữa hai gọng kìm này được phụ trách bởi BCH chiến đoàn 2, vì quân số của chiến đoàn đã giảm do tạm thời tăng phái 2 TĐ bộ binh và một TĐ pháo cho một đv khác.

Tướng Ra-un Sa-lăng, TL quân đội Pháp tại VN, hàng ngày theo dỏi sát sao cuộc HQ này, trong khi tướng Gông-za-lét đờ Li-na-rét chỉ huy quân Pháp ở miền Bắc. Lực lượng giang thuyền và bộ binh đã bắt đầu di chuyển vào ngày 13/11. Khi đêm xuống, lực lượng phía bắc đã tiến tới ngã tư Ấp Đá Chồng dọc sông Đà, nhưng toán liên lạc của Cờ-lê-mân đã bị sa lầy (bog down) trong rừng rậm. Kế đó, trong những giờ đầu của ngày 14/11, quân Mường của lực lượng phía nam của Vanuxem đã tới Đèo Kẽm trên Đường Số 6. 

Sương mù đã bao phủ Sông Đáy gần Hòa Bình sáng hôm đó, nhưng lúc 1230 sương đã tan nên Pháp thả TĐ 2 Dù thuộc địa (2nd BPC), một trung đội công binh Dù, một pháo đội Dù và một BCH nhỏ. Lúc 1410, TĐ 1 Dù thuộc địa (1st BPC) được thả xuống và lúc 1730 là TĐ 7 Dù thuộc địa (7th BPC). Họ đã chiếm mục tiêu mà gần như ko gặp chống cự, nhưng có 4 lính Dù bị thương do mìn và một mất tích. Ba VM bị bắt.

Trong khi đó, lực lượng phía nam, với chiến đoàn 3 dẫn đầu, đã tiếp tục lục soát VM dọc đường 6, trong khi hai TĐ công binh bắt đầu sửa đường. Vào buổi tối, lính Mường của Vanuxem đã vượt sông Đà để bắt tay với quân Dù. Hòa Bình đã chính thức được giải phóng.  

Ngày 19/11, Đờ-lát đã bay tới thị xã này để khen thưởng đoàn quân chiến thắng. Quân Pháp chết 8 và 9 bị thương tại Chợ Bến và Hòa Bình, đổi lại VM ước khoảng có 608 chết. Ngày 22/11, HQ kết thúc. Quân Dù trở về Hà Nội, chỉ còn TĐ 1 Dù thuộc địa ở lại giữ ngã tư Ấp Đá Chồng.

Dù chiến thắng, nhưng để chuẩn bị trận chiến sắp tới, ông đã chia khu vực này thành ba tiểu khu (TK), giao cho quân thiện chiến chiếm giữ: TK đường số 6 cho chiến đoàn 2 của Cờ-lê-mân, bảo vệ đoạn đường từ Xuân Mai đến Xóm Phéo; TK sông Đà, cho chiến đoàn 7 của Đô-đờ-li-ê, bảo vệ từ La Phú đến Tu Vũ; và TK Hòa Bình cho chiến đoàn 3 của Vanuxem, giữ TP, sân bay và các bến phà. TK Sông Đà và Đường số 6 gồm một số đồn bót cấp đại đội, yểm trợ bởi pháo và lực lượng phản ứng lưu động, mà nhiệm vụ là giữ giao thông thông suốt. 

Nhiệm vụ của TK Hòa Bình là thành lập và duy trì một cụm cứ điểm ở 2 bên sông Đà và một tiền đồn, và đặt BCH ở sân bay Hòa Bình. Lực lượng bên trong thị xã gồm TĐ 3 của bán lữ đoàn hay trung đoàn 13 lính Lê-dương ở phía nam, và TĐ 2 Dù thuộc địa làm trừ bị. Chiến đoàn 3 gồm TĐ 1 và 2 Mường, di chuyển trong TK, được hỗ trợ bởi một trung đội tăng M-26 Chafe (cũ hơn M-41), ba pháo đội 105 ly và một đại đội công binh.

Việc Pháp chiếm Hòa Bình đã ko ảnh hưởng nhiều đến các dự định của VM nhằm tấn công nhiều nơi trong châu thổ Sông Hồng, nhưng đã buộc Giáp phải dùng một số đv để đối phó đe dọa mới này của Pháp. VM đã có 5 sđ vào cuối năm 1951, mà sđ thâm niên nhứt chỉ mới một tuổi. Ngày 21/11, Giáp ra lịnh sđ 304, chỉ huy bởi ĐT Hoàng Minh Thảo, mà mùa hè 1972, đã chỉ huy mặt trận B-3 tại Tây Nguyên -- người dịch, và sđ 312, của ĐT Lê trọng Tấn, di chuyển tới Hòa Bình. Sđ 304, trong các trận đánh ở Sông Đáy quanh Ninh Bình đã làm con trai của Đờ-lát tử trận, trong khi sđ 312 VMCS đã ko đến đúng hạn, do TĐ 3 gồm toàn người Thái, đã tiến vào hậu phương của sđ này ngày 7/11. Trung đoàn 165 của VM ngày 24/11 đã chia cắt TĐ Thái, kềm chân hai đại đội và BCH TĐ, trong khi phần còn lại chạy về đồn bạn. Sau đó trung đoàn 165 tấn công 2 đại đội kể trên, nhưng phải chia lực lượng để chống TĐ 7 Dù thuộc địa, được thả xuống cách đó 35 km để cứu lính Thái. Lính Dù và lính Thái bắt tay ngày 30/4, sau khi trung đoàn 165 đoạn chiến và trở về sđ gần Hòa Bình.

Giáp lần đầu tiên đã chấp nhận thách thức quân Pháp dọc theo sông Đà, nơi mà 7 căn cứ của Pháp rải rác từ sông Hồng xuống phía nam. La Phú, nơi xa nhứt ở phía bắc, nằm trên bờ tây của sông Đà, kế đến là Đan Thế, Ấp Đá Chồng, Xóm Bu, Ấp Phú Tô, và Núi Đức bà (Rocher Notre-Dame) ở bờ đông, và cuối cùng là Tu Vũ, ở bờ tây, đối diện với Núi Đức Bà. Vì rặng núi hùng vĩ ở bờ tây đã khống chế những hạ lưu (lower reach) của sông Đà, nên người Pháp đã lập nhiều đồn bót ở bờ đông lẫn bờ tây, trong đó có Tu Vũ. Từ những vị trí này, phi pháo của Pháp có thể tấn công bất cứ đv của VM đe dọa các đoàn giang thuyền tiếp tế. Vấn đề của Pháp là địa thế ở bờ đông giữa Đan Thế và Ấp Đá Chồng chỉ ít nguy hiểm hơn cho lực lượng phòng thủ so với các vị trí bên kia sông. Từ Đan Thế tới Ấp Đá Chồng, rừng Ba Trại và địa thế ko bằng phẳng kéo dài về phía đông tới Yên Khôi và Yên Cư. Phía nam của con đường từ Yên Cư đến Ấp Đá Chồng, Núi Ba Vì và những đỉnh núi gần đó cao tới 1. 296 mét. Giữa những núi này và một ngọn đồi cao 709 mét ở hướng chính tây của Núi Đức Bà là một thung lũng (depression) có tên Xóm Sùi. Phía nam của Núi Đức Bà là một dãy đất hẹp gồm đầm lầy, những đụn cát lớn (sandbar) và những ruộng lúa, chia cắt bởi các sông rạch, rộng ra vài km về phía đông để gặp rừng Ba Trại cho tới khi nó đến gần núi Chàm, từ đó nó đi vào tiểu khu đường 6 và cao 409 m. Nằm 2 bên của Sông Đà, Chiến đoàn 7 của Đô-đờ-li-ê có bốn TĐ bộ binh canh giữ các yếu điểm ở Núi Đức Bà, Tu Vũ, Đan Thế và La Phú, được yểm trợ bởi TĐ 1 Dù thuộc địa như là trừ bị của tiểu khu (TK) ở Ấp Đá Chồng. 

Vào ngày 4/12, các thành phần của các sđ của ĐT Lê trọng Tấn và Hoàng Minh Thảo (ông này năm 1972 là TL mặt trận B-3 tại QK-2 của VNCH -- người dịch) đã di chuyển vào vị trí để từ đó họ có thể bao vây chia cắt TĐ Dù kể trên ở Ấp Đá Chồng. Các sĩ quan VM bị bắt đã nói với Pháp rằng bước đầu tiên của họ là cô lập Ấp Đá Chồng, sau đó họ sẽ tấn công các đường giao thông và yếu điểm. Hai trung đoàn của sđ 312 VMCS, đã được nhận diện trong khu vực đông của Núi Đức Bà, đã xác nhận đe dọa này là có thật. 

Sự xuất hiện ngày càng gia tăng của VM trong khu vực đã khiến chiến đoàn của Đô-đờ-li-ê tăng cường cho Thủ Pháp với các thành phần của TĐ 1 Dù thuộc địa trong khi mở một cuộc tấn công nhằm giảm nhẹ đe dọa đối với Núi Đức Bà. Chiến đoàn 4 của ĐT Thomazo (Tô-ma-dồ) tiến hành cuộc tấn công này ngày 9/12/1951 kết hợp với lính của tiểu khu và TĐ 7 Dù thuộc địa của thiếu tá Moulie (Mu-lì). Chiến đoàn phải lục soát sườn phía nam của núi Ba Vì và con đường giữa Chai Kai và Thụy Cơ.

Ngày 10/12, quân của Tô-ma-zô đã tiến từ Vân Mộng và Yên Lê để xuyên qua khu vực gần núi Ba Vì. Tuy nhiên, cuộc tấn công đã chậm lại (bog down) do mưa lớn, khiến một đv khác thuộc Task Force North đảm trách một tấn công chánh. TĐ 1 Dù thuộc địa của thiếu tá Moretti (Mo-rét-ti), tiến về hướng đông, đã đụng với 4 hay 5 TĐ của trung đoàn 209 VM tại thung lũng Xóm Sui. Trận đánh ác liệt (vicious) và trở thành cận chiến. Chỉ có yểm trợ tiếp cận của các chiến đấu cơ mới giúp TĐ 1 Dù thuộc địa đoạn chiến. Trung đoàn 209 VM đã rút lui vì hỏa lực vượt trội của không quân Pháp, nhưng TĐ 1 Dù thuộc địa chỉ lấy được 15 xác.  87 lính Dù đã mất tích. Sự hy sinh của lính Dù đã khiến ĐT Tấn hủy bỏ cuộc tấn công Núi Đức Bà. 

Tuy nhiên, VM vẫn mở một tấn công đồng loạt vào Núi Đức Bà và Tu Vũ. Đạn cối lớn đã rơi như mưa xuống Tu Vũ lúc 2130 đêm đó, theo sau là các xung phong biển người. Dưới ánh sáng lung linh (flicker) của hỏa châu, hai đại đội lính bộ binh Ma-rốc và một trung đội xe tăng đã đẩy lui các đợt xung phong biển người của VM. Lúc 0340 ngày 11/12, các thành phần của trung đoàn 88 VM đã xuyên qua chu vi bên trong. Dưới yểm trợ của xe tăng, bị phá hủy hết trong trận chiến sau đó, lính Ma-rốc đã rút về một đụn cát ở giữa sông Đà trong khi ba pháo đội ở Núi Đức Bà bên kia nả pháo vào đồn. Khi hừng đông thành phần còn lại của trung đoàn 88 rút lui, để lại 250 xác trên kẽm gai và 150 xác rải rác khắp trận địa. Một cuộc tấn công nhỏ hơn vào một pháo đội ở Xóm Bu cũng bị đẩy lui. 

Ngày 11 và 12, khi chiến đoàn 4 tiến dần về Núi Đức Bà, VM đã đổi chiến thuật. Thay vì tiếp tục tấn công các yếu điểm, với sự phối hợp chặt chẽ của hỏa lực phòng thủ, mìn, và phi pháo, họ đã quyết định tấn công các đường giao thông, do vậy đã chọn một địa hình mà họ có thể giao chiến với quân Pháp. Với mục đích này, Tấn ra lịnh cho trung đoàn 165 và 209 xâm nhập vào các vị trí ở Ba Trại và một khu vực bắc của Ba Vì. Chiến đoàn 4 của Tô-ma-zồ chẳng bao lâu đã đụng nặng với một đv VM đang cắt đường giữa Yên Chữ và Ấp Đá Chồng. Ở Xóm Bùi, Pháp đã kêu yểm trợ tiếp cận của máy bay, nhưng lần này VM cố thủ.

Một cuộc tấn công của TĐ 5 dù thuộc địa của thiếu tá Orsini (Ót-si-ni), yểm trợ bởi một chi đoàn chiến xa Sherman thuộc trung đoàn xe tăng thuộc địa Viễn Đông (RBCEO) cũng ko thể bứng chúng. Khi trời tối của ngày 12/12, đường vẫn bị cắt. Tô-ma-zô ra lịnh cho Ót-si-ni rút quân, nhưng TĐ dù ko thể đoạn chiến. Một TĐ của trung đoàn 165 VM đã phục kích một đại đội, giết 34 lính dù và làm bị thương 66. Ba người chết là trung đội trưởng. Nói thêm: Chiến xa hạng trung Sherman M-4, sản xuất năm 1942, xa đoàn có 5 người; nặng 30-38 tấn, trang bị 1 đại bác 75 ly (90-104 viên) hay 76 ly (71 viên) hay 105 ly (66 viên). Ngoài ra còn có 1 đại liên 12.7 ly (300-600 viên) hay 2 đến 4 đại liên 7.62 ly (6000-6.750 viên) tuy kiểu xe. Tầm hoạt động 160 -240 km trên đường lộ, từ 97-161 km chạy băng đồng. 

Ngày 13 và 14/12, sđ 312 đã giảm áp lực. Tô-ma-zồ đã rút chiến đoàn 4 từ Núi Đức Bà và tiến về bắc để lục soát khu vực Trung Hà-Yên Khôi trong khi thượng cấp tăng cường cho tiểu khu Sông Đà của Đô-đờ-li-ê với chiến đoàn 1, chi đoàn 1 thiết giáp, TĐ 1 Dù Lê-dương, và TĐ 1 xe tăng của trung đoàn xe tăng Viễn Đông. Kết hợp với chiến đoàn 4 của Tô-ma-zồ, các lực lượng này đã mở HQ để quét sạch sđ 312 khỏi vùng Ba Trại và sườn tây của núi Ba Vì.

ĐT Đô-đơ-li-ê đã quyết định tập trung các nổ lực đầu tiên là quét sạch VM khỏi rừng Ba Trại. Để làm điều đó, lực lượng của ông cần tới Ấp Đá Chồng vòng qua Đan Thế trong khi duy trì kiểm soát con đường giữa Yên Cư và Ấp Đá Chồng. Điều này sẽ cắt đường rút lui của sđ 312 vượt qua Sông Đà hay về nam vào khu vực núi Ba Vì. Để ngăn chận đường rút lui phía bắc, ông chỉ định chi đoàn 1, tăng cường bởi một TĐ của chiến đoàn 4, tới các vị trí án ngữ trên con đường giữa Cam Đài và Đan Thế. Trách nhiệm kiểm soát đường giữa Yên Cư và Âp Đá Chồng được giao cho một task force của trung tá Ducournau (Đúa-cô-nồ) gồm TĐ 1 Dù Lê-dương, TĐ 5 Dù thuộc địa và một trung đội tăng thuộc TĐ của trung đoàn tăng Viễn Đông. Lính Bắc Phi của chiến đoàn 1 của ĐT Edom (Ê-đầm) sẽ lục soát con đường ở phía đông đi vào Ba Trại. 

Những lực lượng án ngữ phía bắc và phía nam sẽ chiếm các vị trí đầu tiên của họ vào 15/12. Trong khi chiến đoàn của Ê-đầm lục soát những đường tiến sát phía đông vào rừng Ba Trại, đv này đã đụng các thành phần của sđ 312 gần Xóm Đôi. Lính Bắc Phi đã đẩy lui VM, nhưng sau đụng lại ở Đồi 116, một km tây bắc của Xóm Đôi. Sđ 312 đã chiến đấu dữ dội nhưng phi pháo của Pháp đã thắng (carry the day). Vào buổi chiều, chiến đoàn đã chiếm các cao điểm. 

Các thành phần của tiểu khu sông Đà tiếp tục tiến dù gặp khó khăn để tới các đồi nhìn xuống Sông Đà, trong khi lính dù của Đúa-cô-nồ tiến về tây trên con đường tới Ấp Đá Chồng. Khi đêm xuống, lính dù đã kiểm soát con đường. Một đụng độ xảy ra, khiến phi pháo can thiệp, khiến 1 lính Pháp chết và 26 bị thương. VM chuyển quân suốt đêm khiến tình báo Pháp tin rằng sđ 312 đang rút về phía tây Sông Đà. 

Với rừng Ba Trại tạm thời an ninh và các lực lượng án ngữ vào vị trí, Đô-đơ-li-ê chuyển hướng vào các sườn phía tây của Ba Vì, nơi mà VM vẫn còn đe dọa Núi Đức Bà. Ngày 17/12, Pháp đã mở một tấn công gọng kèm. Lực lượng gồm có TĐ 1 Dù Lê- dương, TĐ 2/6 bộ binh Ma-rốc, và TĐ 2/1 bộ binh An-giê-ri, tấn công từ phía tây của núi Ba Vì để dọn sạch thung lũng Làng Gi, trong khi TĐ 2 dù Lê-dương tiến về nam từ con đường Ấp Đá Chồng đi Yên Cự để lục soát các cao điểm này dưới sự yểm trợ của TĐ 3/4 bộ binh Ma-rốc và TĐ 5 Dù thuộc địa. Hai task force này đã bắt tay mà ko gặp trở ngại nào lúc 1500, để lại TĐ 1 Dù lê-dương, TĐ 5 Dù thuộc địa và TĐ 3/4 bộ binh Ma-rốc kiểm soát con đường tới Ấp Đá Chồng. Trong khi TĐ 2 Dù Lê dương chiếm các vị trí trên đồi 564, chiến đoàn của Ê-đờm, cùng với đv thiết giáp số 1, rút khỏi tiểu khu. Task force còn lại của Đô-đờ-li-ê phải bắt tay với những cứ điểm ở phía nam, đã mất liên lạc từ 11/12.

Lại một lần nữa, Đô-đơ-li-ê đã cần tới task force Dù của ĐT Đua-cuốc-nồ. Để thực hiện nhiệm vụ này, Đua-cuốc-nồ đã tăng cường hai TĐ Dù lê-dương cho TĐ 5 Dù thuộc địa, TĐ 3/4 bộ binh Ma-rốc, và đại đội biệt kích 35 gồm lính Pháp-Việt. Ngày 19/12, với TĐ 1 Dù lê-dương xuất phát từ Ấp Đá Chồng và TĐ 2 Dù lê-dương từ đồi 564, task force này đã tiến về nam để bắt tay với Núi Đức Bà. VM đã chống cự yếu ớt. Hai TĐ Dù này đã tiếp tục lục soát thung lũng Xóm Sui ngày 20/12, thu nhặt lính chết của TĐ 1 Dù thuộc địa để lại khoảng 10 ngày trước.

Với khu vực tạm thời an ninh, người Pháp nghĩ rằng trận đánh Sông Đà đã xong. Bộ tham mưu của task force Dù, TĐ 3/4 bộ binh Ma-rốc, TĐ 2 Dù lê-dương, TĐ 1 Dù thuộc địa đã trở về Hà Nội làm tổng trừ bị. 

Tuy nhiên, Giáp đã ra lịnh cho sđ 308 của ĐT Vương Thừa Vũ đến Sông Đà để tăng cường cho sđ 312 của ĐT Tấn. Ngày 21/12, trung đoàn 102 và 36 đã trở lại rừng Ba Trại.

Lúc 1100 g ngày 21/12, đại đội biệt kích 35 đã gặp (stumble across) một nơi đóng quân VM ở nam của con đường từ Yên Cư đi Ấp Đá Chồng. Một giờ sau, một toán tuần tiểu của TĐ 5 Dù thuộc địa đã đụng một đại đội có vũ khí nặng trên đồi 82. Dưới hỏa lực nặng của địch, quân Dù cố gắng đoạn chiến, nhưng lại đụng độ lúc 1700, nên gọi máy bay yểm trợ để đoạn chiến và rút lui. Ngày 22/12, đại đội biệt kích 35 và TĐ 5 Dù thuộc địa đã bị tấn công dữ dội ở đồi 564 và 82 và gần như bị tràn ngập.

Một toán thám sát đã bị phục kích ở đông của Lũng Phú và Tạch Xã, và TĐ 1 Dù lê-dương lại bị phục kích ở khoảng 3 km nam Xóm Bu. Quân Dù phải gọi 2 trung đội xe tăng Sherman và máy bay mới có thể đoạn chiến. 

Đối diện với đe dọa mới này, tướng Sa-lăng đã tăng cường cho tiểu khu Sông Đà một task force Dù gồm TĐ 2 Dù lê dương, TĐ 1 Dù VN, chiến đoàn 1 của Ê-đờm, và 2 pháo đội. TĐ Dù VN đã thả một đại đội xuống Núi Đức Bà ngày 23/12, sau đó phần còn lại của TĐ dưới quyền của đại úy Depont (Đơ-pồng) tại Ấp Phú Thọ ngày 24/12.

Ngày 24/12, task force Dù này, với TĐ 5 Dù thuộc địa, TĐ 1 và 2 Dù lê-dương, TĐ 2/1 bộ binh An-giê-ri và hai trung đội xe tăng Sherman, được lịnh phản công trung đoàn 102 và 36 nhằm đẩy lui chúng khỏi tiểu khu. Để làm điều này, họ phải tạo gọng kềm bởi hai TĐ Dù lê-dương trên đây quanh đồi 82 trong khi TĐ 5 dù thuộc địa che chở họ từ phía đông nam. TĐ 1 Dù lê dương ko gặp khó khăn nhiều, nhưng TĐ 2 dù lê dương đã đụng mạnh tại đồi 61 và kế đó ngay dưới đồi 57. Dưới áp lực VM, TĐ 2 Dù lê dương bị đẩy về phía đông. Khi TĐ 2/1 bộ binh An-giê-ri di chuyển để tăng cường cho Dù, họ bị đánh vào cạnh sườn. VM đã đoạn chiến bằng cách vượt qua đường chạy từ Yên Cư tới Cam Đài. Trong khi TĐ 2 Dù lê dương tập hợp lực lượng ở đồi 61 dưới yểm trợ của máy bay, lính An-giê-ri kéo về Yên Cư. Trận đánh khiến TĐ 2 dù lê dương chết 12 và bị thương 31, VM 300 chết.

Đối diện với kháng cự tiếp tục của VM, điều rõ ràng rằng Pháp cần một tấn công lớn. Đô-đờ-li-ê ra lịnh cho các đv giữ các vị trí trong khi ông tung ra các đv biệt kích VN do Pháp chỉ huy vào vùng Ba Vì và Ba Trại. Từ 25/12/1951 tới 3/1/1952, lính biệt kích đã chỉ điểm nhiều đv của sđ 308 tai rừng Ba Trại. Chúng bị tấn công bởi phi pháo, trong khi Pháp củng cố lực lượng và lập kế hoạch cho một cuộc tấn công nhằm thu hút những đv VM có thể tăng cường cho tiểu khu này.

HQ Nenuphar (Hoa Súng), khai diễn ngày 4 và 5/01/1952, với task force Dù của Đua-cô-nồ, chiến đoàn (CĐ) 1 của Ê-đờm, và CĐ 4 của Tô-ma-zồ. Quân Dù chiếm các vị trí án ngữ giữa Yên Cư và Ấp Đá Chồng trong khi CĐ 4 tấn công về phía nam của Ngọc Nhi. CĐ 1 tấn công nghi binh vào Tạch Xá, và ngày 6/1, bộ tham mưu của ĐT Dù Rocquigny (Rốt-chi-ni) chỉ huy TĐ 1 Dù thuộc địa đã mở cuộc tấn công đánh lừa vào các kho chứa VM tại Việt Trì để hy vọng quân trừ bị của VM tập hợp quanh Phủ Lư.

HQ Hoa Súng đã tạo những chiến thắng tại rừng Ba Trại, nhưng VM vẫn tiếp tục bám trụ trong khu vực. Sự thật cho thấy chiến lược của VM tại Sông Đà khiến Pháp ko thể giữ tiểu khu Hòa Bình. Việc tiếp tế cho tiểu khu này ngày càng khó. 

Tướng Sa-lăng chỉ có thể hy vọng rằng tổn thất của VM sẽ khiến lực lượng của ông nghỉ ngơi để chiếm lại và giữ nhưng khu vực một khi VM rút lui. Ông đã làm tổng TL kể từ 20/11, khi đờ-Lát về Pháp để mổ ung thư. Vì vậy HQ Hoa Tím được xem như một đợt tấn công mới. Từ 7-9/1, quân Pháp cố gắng tiêu diệt quân VM cố thủ trên các sườn của núi Ba Vì, trong khi quân đồn trú ở Đồi Đức Mẹ, đồi 30, Xóm Bu và Ấp Đá Chồng đã rút lui dưới che chở của cuộc tấn công này. Tiểu khu Sông Đà với các cứ điểm còn lại đã được tái tổ chức và đặt dưới quyền của tiểu khu Sơn Tây. 

Ngày 7/1, trong khi các TĐ 1 và 2 dù lê-dương, TĐ 5 dù thuộc địa, và TĐ 4/7 bộ binh An-giê-ri bảo vệ các đường giữa rừng Ba Trại và núi Ba Vì, các TĐ 2/1 và 2/6 bộ binh Ma-rốc, TĐ 2/1 bộ binh An-giê-ri và TĐ Dù 1 của VN của thiếu tá Riệu đã tấn công VM cố thủ trong hầm hố ở Ba Vì. Vào buổi tối của 7/1, quân đồn trú ở Núi Đức Bà và đồi 30 đã tập hợp ở Yên Cư. Ngày 8/1, quân ở Xóm Bu và Ấp Đá Chồng đã bắt tay với họ. Ngày 9/1, các đv tấn công Ba Vì đã rút, vào ngày 10/1, cuộc HQ tuyên bố thắng lợi.

Tuy nhiên, nhiều trung úy và đại úy tham dự chiến dịch này, đã có quan điểm khác nhau. Họ đã thắng trong trận đánh của họ vì họ đã có thể rút lui và tái phối trí để tránh thiệt hại nặng hơn. Giờ đây Sông Đà ko còn là một chọn lựa để tăng cường cho thị xã Hòa Bình. Về bản chất, Pháp đã bỏ các đồn bót dọc sông giữa Xóm Phéo và Đan Thế. Tin về cái chết của Đờ-Lát tại quân y viện Neuilly (Nuôi-dì) ở Pháp ngày 11/1 chỉ làm sâu thêm cảm giác ảm đạm (gloom). 

Tiếp theo chiến thắng của y dọc theo hạ lưu Sông Đà, tướng Giáp đã hướng chú ý vào đường thuộc địa số 6 và tiên đoán thị xã Hòa Bình sẽ mất trước Tết Âm Lịch. Dù Hòa Bình và đường 6 đã ko yên trong trận chiến Sông Đà, nhưng VM chỉ mở những trận đánh nhỏ nhắm vào các đồn cô lập và phục kích các đoàn xe. ĐIỀU NÀY ĐÃ THAY ĐỔI trong tháng 1/1952 khi sđ 312 được lịnh tiến về đường 6 và Giáp ra lịnh tăng cường quân mới cho sđ 304 và 308 VM. 

Đường thuộc địa 6 khởi đi từ HN và chạy về phía tây, còn an toàn trước khi tới Xuân Mai. Từ đây đường đi qua một cao nguyên đầy rừng rậm đầy rẫy những hẻm vực tạo nên bởi các sông suối cho tới phía tây của Mộ Thôn, nơi mà đường này cắt ngang một rặng núi đá vôi đầy những thung lũng và vách đá dốc đứng. Từ Đông Bến, đường 6 cắt ngang những thung lũng hẹp không chế bởi hai bờ dốc đứng phủ đầy cây rừng, cho tới khi nó xuất hiện để chạy song song với Sông Đà giữa Xóm Phéo và Bến Ngọc. Ở Bến ngọc, đoàn xe lên phà để vượt Sông Đà tới Hòa Bình. 

Tiểu khu đường 6 đặt BCH ở Ao Trạch. Các thành phần của TĐ 3/1 Ma-rốc, TĐ 3/13 Lê-dương, TĐ 1 Tabors, TĐ 8 dù thuộc địa, và đại đội biệt kích 18 canh giữ các đồn bót rải rác tiểu khu, trong khi một lực lượng trừ bị gồm trung đoàn 1 thiết giáp thuộc địa, trung đoàn 8 An-giê-ri gốc Tây ban nha (Spahis), và một trung đội xe trang bị súng liên thanh của trung đoàn Ma-rốc thuộc địa di chuyển giữa những đồn này.  

Sau khi chiếm Hòa Bình, các đv Pháp đã tiếp tục mở rộng hiện diện khắp xứ Mường. Khi tập trung vào tiểu khu Sông Đà, Giáp đã làm quân Pháp có ảo tưởng rằng họ tự do di chuyển, thỉnh thoảng mới bị phục kích bởi quân VM hay địa phương. 

Ngày 2/12, một đoàn xe 40 chiếc bị phục kích gần Động Bến. Quân Pháp đẩy lui nhưng mất nửa đoàn xe. Ngày 7/12 một đại đội bị phục kích ở Làng Mô, có 20 VM chết. Tuy nhiên ngày 13/12, một đại đội TĐ 2 dù thuộc địa đã đụng nặng, với 8 chết, 19 bị thương và 2 mất tích. Một đoàn công voa bị tấn công ở tây Ao Trạch ngày 15/12, nhưng VM bị đẩy lui. Ngày 22/12, đoàn giang thuyền bị phục kích gần Lạc Sơn trên Sông Đà làm một tàu đổ bộ bọc giáp và ba tàu tuần nhỏ bị chìm. 

Cuối tháng 12, tình báo Pháp ghi nhận gia tăng hoạt động của chính quy VM trong khu vực: trung đoàn 66 ở bắc đường 6, trung đoàn 9 ở phía đông. Kế đó nhiều thành phần của sđ 308 và 312 được ghi nhận dọc đường 6. Ngày 30/12, đồn Trung Du bị tấn công nửa đêm. Tới sáng trung đoàn 9 rút, để lại 160 chết vắt trên kẽm gai và 4 lính Pháp chết, 31 bị thương. 

Ngày 7/1, sđ 308 tung 4 TĐ tấn công TĐ 3/13 lê-dương ở Xóm Phéo cùng lúc tấn công nghi binh ở Trung Du, Động Bến và An Lập. Trận đánh kéo dài từ nửa đêm đến 0600 sáng hôm sau. Lính lê-dương đếm hơn 800 xác VM trước phòng tuyến. Cũng tối đó, đặc công VM xâm nhập phòng tuyến cứ điểm hòa Bình phá hai súng 105 ly, khiến Pháp thả TĐ 2 dù thuộc địa để tăng cường cứ điểm ngày 8/1. Khác với các lần thả trước, máy bay vận tải đã gặp phòng không ở Hòa Bình và Xóm Phéo, nơi có thả dù tiếp tế. Tám máy bay trúng đạn và bốn rơi. Hòa Bình đang có vẻ bị bao vây

Ngày 8/1, VM pháo cối vào lính lê-dương ở Xóm Phéo và tấn công Động Bến. Họ bị đẩy lui, nhưng ngày 9/1, các đv lớn VM đã cố thủ trên các điểm cao nhìn xuống Đèo Kẽm và những đường dẫn từ Ao Trạch. Trong đêm 9/1, sđ 304 và trung đoàn 88 của 308 tấn công quấy rối mọi đồn bót trong tiểu khu rồi rút lui để cắt đường 6. Ngày 11/1, đường 6 bị cắt. Quân Pháp phải tiếp tế bằng máy bay, trong viên viện binh phải lấy từ các khu khác để đẩy các sđ VM khỏi đường 6.

Với cái chết của Đờ-Lát và Sa-lăng làm tổng TL, trách nhiệm của chiến dịch Hòa Bình thuộc tướng De Linares (Đờ Li-na-rét), một quân nhân được kính trọng bởi sĩ quan cấp nhỏ và hạ sĩ quan Pháp. Do hạn chế quân số khả dụng và nhu cầu từ khắp nơi, Đờ Lin-na-rét chỉ có một cách lấy lại đường 6, từng đoạn 1, từ đông sang tây, bằng cách lục soát từng tiểu khu khi tiến quân. 

Giai đoạn Một, thông thương đoạn giữa xuân Mai và Ao Trạch, khai diễn ngày 10/1/1952 với TĐ 1 và 2 Dù lê dương và TĐ 2/1 Ma-rốc xuất phát từ Xuân Mai. VM gồm quân của trung đoàn 9 và 57 ở tây và đông của đèo Kẽm, có thể tăng cường bởi quân của sđ 308. Ngày 11/1, task force của ĐT Đờ Rốc-chi-ni đã thông đường tới Mộ Thôn với yểm trợ của lính tiểu khu từ Chúc Sơn. Từ Mộ Thôn, Đờ Rốc-chi-ni ra lịnh TĐ 1 Dù lê dương tiến vào vùng Súc Sích trong khi TĐ 2 dù lê dương tiến về đồi 202 và TĐ 2/1 Ma-rốc tiến dọc đường 6. Rừng rậm đã khiến TĐ 2 Dù lê dương ko kịp thời biểu, nhưng TĐ 1 dù lê dương đã an ninh mặt bắc của đường, cho phép TĐ 2/1 Ma-rốc đến đồi 54 lúc 1730 mà ko gặp bất cứ kháng cự.

Trong khi quân của Đờ Rốc-chi-ni tiến về tây, 2 đại đội của 8 Dù Lê-dương và 1 đại đội của 3/1 Ma-rốc tiến về đông để bắt tay ở Ao Trạch. Khi họ đi qua đèo Kẽm, họ đụng với trung đoàn 57 và bị đẩy lui với 25 chết và 25 bị thương. Đờ Rốc-chi-ni được tăng cường bởi TĐ 7 dù thuộc địa và pháo đội 2/64 ở Xuân Mai trong khi TĐ 1 dù lê-dương cố thủ trên các điểm cao phía bắc của Mộ Sơn, TĐ 2/1 Ma-rốc ở Súc Sích và TĐ 2 dù lê dương ở Mộ Thôn và đồi 125.

Ngày 12/1, khi task force của Đờ Rốc-chi-ni đang lục soát 2 bên đường từ Bái Lạng và một chiến đoàn mới lập gồm TĐ 3/1 Ma-rốc, TĐ 2 dù lê dương và đại đội biệt kích 5 và 7, giữ an ninh đường 6 từ Mộ Thôn tới đồi 54, TĐ 7 dù thuộc địa đụng với 2 TĐ VM ở đồi 202. Đụng trận liên tục, họ phải đào hố để qua đêm. Khi đêm xuống, họ bị tấn công dữ dội ở sườn tây và nam. Dù tình hình có vẻ nguy kịch nhưng thiệt hại nhẹ. Hai lính dù chết và 11 bị thương, đổi lại 119 xác VM bỏ lại. Ngày 13/1, TĐ 2 dù lê dương tăng cương tđ 7 dù thuộc địa ở đồi 202, trong khi chiến đoàn tiến theo đường về Ao Trạch. Với đoạn đường này đã an ninh, Đờ Rốc-chi-ni giao cho chi đoàn 2 bảo vệ Ao Trạch.

Đoạn dài nhứt đã an ninh, nhưng đoạn gai gốc nhứt nằm trước mặt. Quét sạch VM giữa Động Bến và xóm Phéo phải trải qua vài giai đoạn. Giai đoạn 1 từ Ao Trạch đến Xóm Phéo bằng cách làm chủ các điểm cao ở thung lũng Động Bến, Đồi 4 và cao điểm có tên Cao điểm Hầm đá, tất cả chiếm giữ bởi VM. Từ 14-17/1, ĐT Gilles (Gin-lờ) tái tổ chức quân phòng thủ của tiểu khu để có thêm quân cho HQ. Chiến đoàn 1, của ĐT Đờ Cát-tri, sẽ an ninh đoạn giữa Xuân Mai và Bái Lạng, lính dù của Rốc-chi-ni giữa Bái lạng và đèo Kẽm, và lính của tiểu khu đường 6 giữa đèo Kẽm và Ao Trạch.


Saturday, November 11, 2023

TỪ CHÂU THỔ SÔNG HỒNG ĐẾN HÒA BÌNH -- ĐẦU CẦU* CẮM SÂU VÀO LÒNG ĐỊCH

* Salient: a battlefield feature that projects into enemy territory.

Set-piece battle: trận đánh mà đối phương đã chuẩn bị kỹ lưỡng. 



1. LÍNH NHẢY DÙ VN CỦA TĐ TĐ 2/1 RCP ĐI BỘ TỪ BÃI ĐÁP
SIMONE ĐẾN LÀNG MƯỜNG THANH. 2. PHỤ LỤC QUÂN NGƯỜI 
THÁI CỦA ĐẠI ÚY BORDIER TỪ LAI CHÂU TỚI ĐIỆN BIÊN PHỦ.
1ER RCP LÀ REGIMENT DE CHASSEURS PARACHUTISTES
 (TRUNG ĐOÀN NHẢY DÙ ĐẦU TIÊN CỦA QĐ PHÁP). 




Lời nói đầu: Nhằm mục đích giúp các bạn trẻ tìm hiểu về nguyên ủy của chiến tranh VN từ 1954 đến 1975, hôm nay tôi xin giới thiệu một trận đánh xảy ra cách đây hơn 70 năm, mà quân VMCS của tướng Giáp đã chuẩn bị rất kỹ lưỡng để đón chờ quân Pháp. Đây là một trận đánh mà người Mỹ gọi là set-piece battle, mà sau này quân VC và CSBV đã áp dụng nhiều lần tại VNCH từ 1954 tới 1975 và đã gây thiệt hại nhiều cho quân VNCH. Một ví dụ điển hình là trận Thường Đức 1974 khi CSBV tấn công vào quận lỵ này chỉ được bảo vệ bởi một TĐ BĐQ ko đủ quân số. Từ QL-1 vào quận là đường độc đạo số 4, phía bắc của đường này là núi cao mà quân của họ đã âm thầm chiếm giữ, phía nam là Sông Vu Gia. Lực lượng tiếp cứu lúc đầu là sđ 3 bộ binh VNCH đã bị thiệt hại nặng. Sau này sđ Dù đã thay thế và áp dụng xa luân chiến, nghĩa là mỗi lữ đoàn hoạt động một thời gian rồi rút ra để lữ đoàn khác thay thế. Trận chiến ác liệt giai đoạn đầu và giảm dần đến cuối 1974, quân Dù và CSBV đều thiệt hại nặng. Tuy nhiên quân Dù vẫn ở đây tới tháng 3/75, trước khi có lịnh rút ra để xuôi nam, giao trận địa cho TQLC. 
Ngày 30/7/1947, 1RCP hay trung đoàn nhảy dù duy nhứt của Pháp được đưa tới VN và gồm ba TĐ 1, 2, và 3. Các đv này đã liên tục họat động trong và chung quanh châu thổ sông Hồng. TĐ 1 của trung đoàn này là đv duy nhứt đã được thả xuống điện biên phủ vào ban đêm trong lúc đbp bị bao vây bởi vm. một cựu chiến binh đã kể lại: "Trong tháng 6, các cánh đồng đều ngập nước, trong khi chúng tôi phải đáp xuống nhẹ nhàng vào ban đêm, và rất chật vật để rút chân khỏi đôi giày đầy bùn dầy và dính chặc. Ai cũng ngâm trong nước và nặng gấp hai lần... chúng tôi cố gắng thu nhỏ mình để tránh đạn đang bay vèo vèo trên đầu". Đầu tháng 5/1954, các bộ đội VM đã xung phong đợt cuối cùng. Trong đêm 1 rạng ngày 2/5, đại đội 1 và 2 đã đến cứ điểm Eliane 4. Một tuần sau, cứ điểm Elianne 4 đã thất thủ và 19 kẻ sống sót bị bắt làm tù binh. Điện Biên Phủ đã thất thủ lúc 1730 ngày 7/5/1954. Ngày nay, hai mẩu đất trồng bắp mà trung tâm là một tấm bia (stele) tưởng niệm sự hy sinh của những lính Dù và Lê-dương; họ đã viết một trang oai hùng và oan khiên (painful) trong lịch sử của binh chũng Dù của Pháp. Sự hy sinh của 400 thiên thần Mũ Đỏ của trung đoàn Dù số 1 này từ năm 1947 tại Đông Dương đã khiến trung đoàn có một dây biểu chương mới.