Monday, September 4, 2023

 

Mặt trận Miền Đông vẫn yên tĩnh

LTS: Được sự khuyến khích của bằng hữu, chúng tôi xin phép mạo muội ghi lại đôi dòng chiến sự, mà người viết hân hạnh được tham dự trong những ngày cuối tàn cuộc chiến. Người viết, không có tham vọng gì cả, ngoài mục đích muốn vinh danh lực lượng Đia Phương Quân & Nghĩa quân tiểu khu Tây Ninh nói riêng và chiến sĩ QLVNCH nói chung. Vẫn kính mong quí đọc giả xem đây là một nén hương muộn màng, đốt lên tưởng niệm các anh linh đã vị quốc vong thân vì Tổ quốc VNCH thân yêu.

Vào đầu năm 1975, tỉnh lỵ Phước Long, một lần nữa, lại thất thủ về tay Cộng quân. Sau đó, các mặt trận Miền Đông rất yên tĩnh. Yên tĩnh một cách lạ thường tựa hồ như ‘ Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh’ trong Đệ nhị Thế chiến . Đặc biệt vùng Ngũ long ( Tây Ninh) tiếp giáp biên giới Campuchia về hướng Tây Nam, lại càng yên tĩnh hơn bao giờ hết. Kinh nghiệm chiến trường đã dạy cho chúng ta biết rằng một khi tình hình êm dịu, lắng đọng thì chắc chắn sẽ có một cuộc Tổng công kích lớn diễn ra.

Sơ lược tình hình quân bạn trú phòng. Từ Gò Dầu Hạ ( Quận Hiếu Thiện cũ), đi trên Quốc lộ 1 về hướng Nam Vang 9 cây số, gặp ĐĐ 2/339/ Đ P( tiểu khu Tây Ninh ) đồn trú cách về biên giới Việt- Miên khoảng 1 cây số. Do Tr/uy V.V.L làm Đ.Đ.T. bên kia biên giới Miên -Việt , cũng cách về biên giới độ 1 Km, có một ĐĐ lính Miên ( Cộng Hòa Lolnol ). Chạy dọc sâu vào trong 3 Km có ĐĐ 4/339/ Đ.P đồn trú tại Rừng Dầu ( Tiên Thuận) , do Th/uy N.G.K làm Đ.Đ.T và chúng tôi XHH- Đ.Đ.P. Phía giữa là Long Phi có Đ.Đ 1/339/ Đ.P đồn trú , Tr/uy- N.V.Q làm Đ.Đ.T. Kế bên là B.C.H Tiểu đoàn đồn trú , do Th/ t - N.M.M làm T.Đ.T( K- 23/ SQTBTĐ- đã hy sinh trong trại cải tạo Bắc Việt). Trú đóng trong cùng Long Giang là Đ.Đ 3/339/ Đ.P, do Tr/uy - L.N. H làm Đ.Đ.T( K- 25/ SQTBTĐ - đã tuẫn tiết ngày 14 tháng 3 năm 1975). Tất cả các Delta lớn nầy, đóng cách về biêngiới Việt- Miên trên- dưới 1 Km, làm thành một hành lang an ninh bảo vệ sông Vàm cỏ Đông. Có lần tên Văn tiến Dũng gọi nơi đây là hành lang máu. Ngoài ra, còn có một số Đống Đa nhỏ cấp trung đội không đáng kể.

Đầu tháng 3 năm 1975, chúng tôi và Tr/uy - V.V.L- Đ.Đ.T/ Đ.Đ2/ Đ.P có gặp một vị Th/t ( Phòng 7/ T.T.M) tại đồn Chợ Trời. Ông ta cho biết vào giờ G..........,ngày N........, Cộng quân sẽ tấn công Tiểu đoàn 339/ Đ.P cấp Trung đoàn bộ binh, đồng thời có thêm một Tiểu đoàn Pháo đủ loại, Tiểu đoàn Phòng không và vài chục chiếc tăng hỗ trợ. Ông ta từ Saì Gòn lên đây, quan sát địa hình thực tế và xem lại tình hình quân bạn trú phòng để thẩm định lại lần cuối, liệu rằng vùng Bến Cầu nầy có chịu đựng nổi cuộc tấn công vũ bão của Cộng quân sắp thực hiện hay không? Hầu mau chóng tìm biện pháp tiếp ứng. Vì chúng ta biết rõ ràng, nếu Bến Cầu mất, thì dọc theo hành lang nầy có Đức Hoà- Đức Huệ cũng phải mất luôn. Tạo áp lực nặng uy hiếp Sài Gòn và Quốc lộ 4. Nhìn nét mặt lo âu của vị Th/t ( P.7 T.T.M ) , làm cho chúng tôi nghĩ rằng, đây là nguồn tin tình báo có thể khả tin được. Vội vã trở về đơn vị để chỉnh đốn Đ.Đ và chờ đợi. Ông ta còn cho biết thêm, lực lượng địch quân tấn công lần nầy là một trong ba Công trường ( 5,7, và 9). Những Công trường ( Sư đoàn ) nầy là lực lượng chính qui Chủ lực Miền, thuộc Miền Đông Nam Bộ. Bọn chúng từng chuốc lấy thảm bại ê chề tại chiến trường ‘ An Lộc ’ năm xưa ( 1972). Chúng tôi đã đọ sức với bọn nầy vài lần, nhận xét, chúng chẳng có gì đáng ngại.

Ngày11 tháng 3 năm 1975, khoảng 8 giờ sáng, các toán tiền đồn báo cáo về Đ.Đ cho biết: Sinh hoạt trong Xã-Ấp hôm nay rất khác thường, chợ búa, trường học, chùa chiền và đồng án..........v.v đều ngưng hoạt động. Nhận thấy hiện tượng lạ, chúng tôi liền ban lệnh báo động đồng thời quan sát những điểm khả nghi xung quanh Delta. Quả thật, chúng tôi phát hiện địch quân mới vừa đào công sự chiến đấu ( chưa hoàn tất ), vội vã cắm lá ngụy trang lên trên, nằm trong rừng chồi thuộc hướng tây Nam của Delta và cách Delta khoảng 200 mét . Sau khi liên lạc, biết rõ không có đơn vị bạn hoạt động trong vùng trắch nhiệm mình. Chúng tôi liền ban lệnh hành quân. Th/uy N.G.K-Đ.Đ.T, là một Sĩ quan đặc biệt, lớn tuổi, gan dạ, già
giặn kinh nghiệm, dẫn một toán 10 binh sĩ cũng gan dạ không kém, ra ngoài cửa Delta nằm chờ đợi. Ông ta đã ra lệnh cho chúng tôi : ‘ Hãy bắn khoảng 100 quả đạn cối 60 ly kể cả 81 ly ( ngoài cấp số) vào vị trí tình nghi’. Sau khi thi hành đúng lệnh trên, Th/uy - K dẫn toán binh sĩ nhào lên xung phong đánh cận chiến bằng lựu đạn. Kết quả đạt được, địch bỏ xác tại trận 13 tên, một tên chạy thoát được. Phe ta vô sự. Tịch thu được một số vũ khí cá nhân và 2 khẩu Cộng đồng : một cối 82 ly ( bị hư hại bởi đạn pháo ta, không xài được ), một khẩu Phòng không 12 ly 7 và một máy vô tuyến P.R.C - 25, địch lấy của ta trước đây ( cả hai thứ nầy còn xài tốt ). Đơn vị đang tưng bừng náo nhiệt về chiến lợi phẩm vừa tịch thu được thì bỗng nhiên bên ngoài Delta pháo địch ầm ĩ rơi xuống, không nhiều lắm, chỉ vài chục quả đạn pháo đủ loại. Thật ra, bọn chúng đang điều chỉnh tác xạ Pháo binh. Liên lạc với các đơn vị bạn trong cùng T.Đ, các nơi ấy vẫn lắng dịu, chưa có chuyện gì xãy ra. Chúng tôi rất ngỡ ngàng lẫn lo ngại, không biết Cộng quân định đánh chiến thuật gì? Mà giờ nầy, có một toán Việt cộng nhỏ đã vào và bị đánh bại, chết sát bên Delta lớn.

Trung tuần tháng 3 năm 1975, C.S.B.V mở màn chiến dịch ‘Tây nguyên’ bằng cách đánh chiếm Thị xã Ban mê Thuột. Thì tại nơi đây, rạng sáng ngày 12 tháng 3 năm 1975, vùng Bến Cầu thuộc Tiểu khu Tây Ninh, Cộng quân ồ ạt tấn công Tiểu đoàn 339/ Đ.P chúng tôi với cấp độ Trung đoàn trở lên, có Pháo binh, Phòng không, và xe tăng yểm trợ.

Mở đầu cuộc chiến, Cộng quân xử dụng Sơn pháo 85 ly bắn trực xạ, hòng chụp tinh thần chiến đấu của ta. Thú thật, lần đầu tiên đụng phải thứ nầy, chúng tôi hơi bối rối, vì sức công phá mãnh liệt của nó. Nhưng sau đó lấy lại bình tĩnh,điều chỉnh Phở bắc dập tắt được nó. Tiếp theo đó, một đợt mưa pháo đủ loại trút xuống trong- ngoài Delta chúng tôi. Đồng loạt các đơn vị bạn cũng bị pháo tương tự như thế. Sau hơn 1 tiếng đồng hồ hứng chịu đủ loại đạn pháo địch gồm: Hỏa tiễn 122 ly, hỏa tiễn 107 ly, cối 81 ly & 82 ly, cối 61 ly & 60 ly, và B 40 & B 41. Địch quân bắt đầu xung phong biển người, nhưng mọi đợt xung phong của bọn chúng điều bị quân ta bẻ gãy, đập tan. Kết quả sơ khởi, địch bỏ xác bên ngoài chiến hào, đếm được hơn 30 tên, phe ta bị thương nhẹ vài người, còn tác chiến được. Giờ đây, biết được, Cộng quân đang dùng chiến thuật cổ điển ‘ Tiền pháo hậu xung’ ( C.S dùng biển người). Chúng tôi vô cùng e ngại. Bởi lẽ, chiến thuật ấy đã từng làm đảo lộn các chiến trường. Mà lịch sử cận đại đã chúng minh được điều đó. Cũng chính chiến thuật ‘ Tiền pháo hậu xung ‘ nầy, mà ngày hôm qua ( ngày 11 tháng 3 năm 1975 ), chúng tôi đã gặt hái được kết quả bất ngờ. Chiến thuật ấy, luôn luôn được đưa lên hàng đầu binh thư của Thế giới. Nhận rõ, tầm mức vô cùng lợi hại cuả chiến thuật đó. Th/uy - K- Đ.Đ.T và chúng tôi phân chia nhiệm vụ rõ ràng, hợp đồng tác chiến cho hữu hiệu hơn. Ông ta đảm trách tần số nội bộ và chỉ huy tổng quát bên trong. Còn chúng tôi trách nhiệm Không-Pháo yểm. Không để chậm trễ, liên lạc ngay với ‘ Trung tâm phối hợp hỏa lực’ đồng thời xin số nhà các tiệm Phở bắc trong vùng. Thông qua Đ/uy - T Sĩ quan Không yểm cho bộ binh đóng tại B.C.H.T.K.T.N. Chúng tôi có được tần số Không - Lục, liên lạc trực tiếp với Không quân bạn bay bao vùng. Mặt khác, lệnh cho khui hầm tiếp liệu dự phòng ra xài khi hữu sự gồm; lương khô, gạo sấy, thịt hộp, bao cát, đạn dược, lựu đạn...........v.v. Phân phát cho binh sĩ, đặc biệt mỗi người lính phải có 3 thùng lựu đạn kế bên hầm chiến đấu, và cũng không quên ra lệnh tất cả lựu đạn phải tháo bỏ chốt an toàn phụ, cùng nấp đậy cho từng quả. Các công tác đó đang thực hiện chưa xong thì khoảng 4 giờ 30 chiều cùng ngày, địch quân tiếp tục pháo kích đợt 2, địch pháo nhiều hơn và lâu hơn ban sáng, sau gần 2 giờ pháo đủ loại, địch ồ ạt xung phong biển người, nhưng đợt nầy, quân ta chận đứng dễ dàng bằng hỏa lực cơ hữu đã chuẩn bị sẳn, đồng thời chúng tôi liên lạc trực tiếp với pháo binh diện địa đóng tại Bến kéo ( Cẩm Giang ) bắn qua, gây cho chúng thiệt hại nặng nề về nhân mạng. Địch bỏ xác bên ngoài chiến hào khoảng 40 tên. Vào lúc nầy, các đơn vị bạn cũng bị áp lực tương tự, chúng tôi phân biệt rõ tiếng đạn nổ của ta lẫn của địch ầm ĩ vang vội cả bầu trời. Xuyên qua hệ thống máy vô tuyến, được biết, Đ.Đ 2/339/ Đ.P tại đồn ChợTrời bị áp lực địch rất là nặng, nhưng họ đã bắn cháy 2 chiếc xe tăng địch, nằm bất động sát bên ngoài Delta. Sau đó, họ còn phải dang tay ra đón nhận một số đơn vị bạn tá túc, đó là lính Cộng hòa Miên, đã bị tràn ngập tự bao giờ.

Ngày chiến đấu đầu tiên, được Phở bắc nấu đầy đủ, làm ấm lòng các chiến sĩ, quân ta vẫn ghìm tay súng chờ đợi. Một đêm yên tĩnh trôi qua, đoán biết đợt ba, địch quân sẽ tấn công vào lúc 6 hay 7 giờ sáng, nên 5 giờ sáng ngày 13 tháng 3 năm 1975 cho lệnh tu bổ lại bờ thành, cùng các chiến hào bị hư hại hôm qua bởi đạn Sơn pháo 85 ly của địch, đồng thời tái phối trí kế hoạch phòng thủ cho chặt chẽ hơn. Để tránh cho phòng tuyến không bị vỡ, chúng tôi cho xen kẽ lính B.C.H.Đ.Đ cùng với lính ở trung đội tác chiến. Vừa hoàn tất công việc đó, thì 6 giờ 30 sáng, một lần nữa, địch quân chào mừng quân ta cũng bằng Sơn pháo 85 ly bắn trực xạ hàng loạt. Từ xa vọng lại, nghe rõ tiếng nổ ì đùng ở các đơn vị bạn. Như vậy, rõ ràng, đó là hiệu lệnh tấn công của địch. Chúng tôi nhanh chóng phản pháo địch bằng súng cối cơ hữu và Đại liên 50 (ngoài cấp số) cùng 12 ly 7 lấy được của địch. Giống như hôm qua, địch quân bắt đầu pháo kích dữ dội vào Delta chúng tôi, và hôm nay, địch pháo tương đối chính xác hơn, có lẽ địch đã bố trí xong trận địa. Qua tần số nội bộ, nghe báo cáo, hiện tại Đ.Đ 1/ 339/ Đ.P ở Long Phi và B.C.H.T.Đ ở Long Khánh đang bị tấn công bằng chiến xa. Biết tình thế ngày càng căng thẳng, chúng tôi liền cầu cứu Pháo binh Sư đoàn 25 B.B đóng tại căn cứ Trà Vỏ bắn cản chiến xa địch, có một vài chiếc đang từ từ tiến về hướng Delta chúng tôi. Trong khi ấy, ngoài trời Chim Sắt ta cũng chuẩn bị tham chiến gồm: Oanh tạc cơ Phản lực A- 37, Trực thăng võ trang và L - 19 quan sát. Cộng quân đáp lễ bằng những tràng phòng không đủ loại, mà chúng bố trí vội vàng, ( có một số ít Phòng không địch di động ), để tạo thành một hàng rào lửa, ngăn chận phi cơ yểm trợ. Vào lúc nầy, Cộng quân tăng cường thêm pháo 105 ly, từ bên Miên bắn vào, cũng vào giờ nầy pháo ta, pháo địch hỗn độn, rất khó phân biệt, cường độ pháo, mỗi lúc càng ác liệt, và địch đã pháo không ngừng nghỉ suốt hơn 4 tiếng đồng hồ. Nhìn về hướng biên giới xa xăm, nghe văng vẳng tiếng Depart 105 ly của địch, nhưng vì trên đất bạn, pháo binh ta và phi cơ không thể phản pháo, bây giờ chuyện đó là chuyện nhỏ, chúng tôi cần nỗ lực nhiều hơn, ngoan cường hơn, để đối phó với những đợt xung phong biển người. Chợt nghe tiếng la xung phong inh ỏi bên ngoài Delta, đồng thời pháo địch dịu dần . Những con thiêu thân từ từ ập tới từng cơn, tựa như những con sóng vỗ. Không thể để cho địch tiến gần, hỏa lực cơ hữu chống trả mãnh liệt và Phở bắc 2 nơi nấu đầy đủ. Dĩ nhiên, địch thất bại não nề như hôm qua. Bây giờ, chúng tôi không còn thiết tha đếm xác địch, cảnh tượng thật ghê rợn, xác người tan nát văng tứ tung, chỉ ước lượng mức xung phong mà báo cáo tổn thất địch. Cả hai bên cùng mệt mỏi, nghỉ giải lao, nghỉ ngơi chưa được 3 tiếng, thì 4 giờ chiều cùng ngày, cộng quân tiếp tục pháo kích nữa.

Trong khi mặt trận Bến Cầu đến hồi gay cấn, thì bên kia sông Vàm cỏ Đông, quận lỵ Khiêm Hanh ( Tây Ninh ). Tiếp giáp Dầu Tiếng ( Bình Dương ), Cộng quân bất thần mở đợt tấn công qui mô vào 2 Tiểu đoàn bạn là T.Đ 312/ Đ.P và T.Đ313/ Đ.P, hiện đồn trú tại các trọng điểm : Bến Củi, Suối Ông Hùng, Bào Đồn, Truông Mít. Vì vậy, pháo binh ta bắt buộc phải quay súng sang hướng đó để yểm trợ cho đơn vị bạn. Thế là chiều nay không có ai‘ âu yếm’ chúng ta. Nhưng lạ thay! Áp lực địch giờ đây, dường như giảm nhẹ dần, có lẽ địch tiêu hao nhiều, chờ bổ sung, tiếp tế. Nửa khuya đêm 13 rạng 14, Th/uy K- Đ.Đ.T cho chúng tôi biết tin buồn. Đ.Đ 1/339/ Đ.P đóng ở Long Phi và Bộ chỉ huy Tiểu đoàn ở Long Khánh đã di tản chiến thuật, hơi thất vọng, như để xác minh lời anh ta vừa nói, chúng tôi liền gọi:
* Thanh Thế đây Nguyên Linh, Thanh Thế đây Nguyên Linh.
* Thủy Tinh đây Nguyên Linh, Thủy Tinh đây Nguyên Linh. Tất cả máy vô tuyến đều im lặng,( im lặng giống như sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975).

Sau khi hai đơn vị đó di tản, vô tình đã bỏ ngỏ trống trải cạnh sườn Tây Nam Delta của chúng tôi, qua quan sát thấy rõ, chiến xa địch gồm: Thiết vận xa M-113( địch lấy của ta từ trước), T- 54, P.T- 76, chia thành hai mũi tiến quân. Một, chúng hướng về Long Giang, nơi có Đ.Đ3/339/ Đ.P còn trấn thủ. Hai, chúng hướng về Delta quân ta. Chúng tôi liền gọi về ‘ Trung tâm phối hợp hỏa lực’ xin phi cơ lên vùng ngay.

Yêu cầu vừa xong, bỗng pháo địch từ xa nhiều hướng dội về. Đã quen rồi, chúng tôi không hề nao núng. Địch không áp dụng chiến thuật ‘ Nhị thức tùng Thiết’ ( Bộ binh - Thiết giáp), mà chỉ ở đằng xa khoảng 400 mét bắn đại bác 100 ly trực xạ vào Delta, với mụch đích làm cho bể bờ thành phòng thủ, hòng phá vỡ B.C.H.Đ.Đ. Nhưng hầm nầy rất kiên cố, sâu ở dưới đất 2 mét, và nổi lên trên mặt đất 2 mét rưỡi, phần trên nầy là vỉ sắt lẫn bao cát xen nhau, được xây dựng bởi Đ/uy - N năm 1972 ( ông đã hy sinh tại chiến trường Bào Đồn tháng 3/1975). Hiện giờ, trên bầu trời có 4 phi tuần A-37 lên vùng, bay gầm thét vang vội như trút cơn thịnh nộ xuống đoàn quân xâm lược. Dưới đất bên ngoài Delta, đủ các phương hướng, Phòng không địch bắt đầu gõ như Roulé trống, liên tục, đồng thời một hỏa lực pháo hùng hậu tiếp tục đổ xuống trong - ngoài Delta. Lúc nầy, súng cối cơ hữu bên trong hư hại cả, không xử dụng được khẩu nào. Nhưng bù lại, chúng tôi đã liên lạc được thêm một tiệm Phở bắc của Sư đoàn 25 B.B, đóng tại Suối Sâu - Suối Cục. Lát nữa đây, khi dứt pháo, bọn chúng xung phong biển người, thì phở bắc nhà ta sẽ luộc bọn chúng như luộc xương bò. Nghĩ như vậy, chúng tôi mở cờ trong bụng. Bỗng nhiên bên ngoài, nhìn lên bầu trời, chúng tôi thấy rõ1 chiếc L-19 quan sát bị bắn rơi lả tả, đang từ từ đáp xuống được, nhưng một vị SQ Pilot và một vị SQ cao cấp của ta bị bắt sống. Tiếp theo sau đó 20 phút, phe ta lại rớt thêm một chiếc trực thăng võ trang ( phi hành đoàn đoàn vô sự ). Như để trả mối hận đó, 4 chiếc A-37 gan lì, vượt vòng lửa đạn truy kích chiến xa và phòng không địch. Kết quả ghi nhận được, qua tần số Không- Lục, cua sắt bị rang muối 5 hay 6 chiếc, nằm lăn lóc cạnh bìa rừng. Chưa hả cơn giận dữ, A-37 tiếp tục lồng lộn trên bầu trời hung hiểm đó và bổ nhào xuống đánh tiếp Pass cuối cùng, trước khi vút lên cao, chúng tôi thấy rõ 3 ổ phòng không bị hất tung lên và tan xác. Tuy đang giao chiến, thỉnh thoảng chúng tôi qua tần số nội bộ để nghe ngóng tình hình bạn. Bây giờ, là 10 giờ 30 sáng ngày 14-3-1975, được biết Đ.Đ 3/ 339/ Đ.P của Tr/uy - H bị tràn ngập. Tràn ngập, một danh từ nghe‘ ướt át’, thế nhưng giới quân sự ít khi nào muốn nghe nhắc đến. Tr/uy- H rút ra ngoài Delta,, chúng tôi đã liên lạc được với ông ta. Chúng tôi có thỉnh cầu ông ta rằng ‘ Anh có thể rút về đây để phụ giúp chúng tôi’. Vì lẽ, chúng tôi sợ rằng với kiến thức quân sự hạn hẹp, không đủ khả năng điều động Không - Pháo yểm. Anh ta chỉ trả lời cho chúng tôi, chỉ vỏn vẹn có một câu: ‘ Tao đang bị bao vây, chắc không tới chổ mầy được’.( Tr/uy- H, Th/uy- K và chúng tôi rất thân thiết nhau, nên thường xưng hô với nhau bằng anh - em hơn là bằng cấp bực). Quay sang gọi Th/uy - T là Đ.Đ. P của Tr/uy - H, cũng không liên lạc được với T. Đột nhiên, nghe nhiều tiếng súng nhỏ vang lên trong máy truyền tin, và sau đó 2 tiếng nổ lớn ầm......ầm......tiếp theo. Sau nầy, được biết, đó là 2 quả lựu đạn do Tr/uy - H bung ra để tự sát cùng với Cộng quân. Thế là, coi như Đ.Đ3/ 339/ Đ.P tan hàng từ đó. ( Đ.Đ3 thiệt hại 70%). CQ và chúng tôi giao tranh suốt 7 tiếng đồng hồ, nhưng bọn chúng cứ tiếp tục xung phong như nhũng con thiêu thân. Có bằng chứng cho thấy CQ dùng thuốc kích thích như một loại trợ chiến để kích động lòng can đảm trong người. Khoảng 5 giờ chiều cùng ngày, cường độ giảm dần và tắt hẳn. Vào lúc ấy, chúng tôi nhận được một tin buồn nữa, đó là Đ.Đ 2/ 339/ Đ.P đóng tại Chợ Trời cũng đã di tản lúc 4 giờ chiều. Cả 2 bên đều mệt mỏi, cần nghỉ ngơi. Hiện tại, coi như chúng tôi đang chiến đấu đơn độc, biết vậy, chúng tôi cố gắng nghiên cứu ‘ Sơ đồ hỏa tập’ và bản đồ thêm. Tìm những tọa độ khả nghi mà trong‘ Ước hiệu địa hình’ có nhắc đến, ghi chép ra sẳn sàng, để khi phi cơ lên vùng. Âm thoại viên chúng tôi có thể hướng dẫn dể dàng. Đang làm công tác đó, thì chú lính truyền tin chúng tôi đến kế bên khẽ bảo: Th/uy , Vẹm, nó mò được ‘ Đường lên thiên thai’ và kêu gọi chúng ta ‘ đầu hàng.’ Chúng tôi quay sang đánh thức Th/uy - K, báo cho biết điều đó, anh ta bật dậy như cái lò so, chụp lấy Combiné, khẩu chiến với CQ khoảng nửa tiếng. Sau đó, liền ra lệnh truyền tin lấy bộ K.Đ.C còn lại ra xài. Còn chúng tôi‘ lân la’ các tiệm Phở bắc và T.T.P.H.H.L báo cho họ biết, chúng tôi đổi số nhà mới.

Vừa xong những việc đó, thì khoảng 8 giờ đêm ( 14-3-1975 ), âm thoại viên tên Q đến gần, bảo nhỏ lần nữa: ‘ Th/uy , mình đã sang số nhà mới rồi, thế mà, nãy giờ có ai đó xưng là 63, gọi hoài, chưa xác minh được là ai? Em không dám trả lời. Đoán biết được, là ai? Chụp ống liên hợp, chúng tôi trả lời ngay:

- Nguyên Linh đang nghe Mặt Trời 63.

Ông ta mừng rỡ, vội đáp trả:

- Cho Qua gặp thẩm quyền của thằng Nguyên Linh.

Không do dự, chúng tôi cũng đáp lại ngay:
( Lúc nầy, Th/uy- K bị cơn đau bao tử hành hạ, vì vậy, mọi vấn đề đều do chúng tôi giải quyết).

- Trình Mặt Trời 63, dạ thưa: tôi đây.

Vẫn còn nhớ rõ câu hỏi đầu tiên của ông ta ( T.K.T Tiểu khu T.N ):

- Cấp bậc của mấy em ở dưới là gì? ( Ông ta đang bay C&C )

- Dạ chúng tôi là một mùa xuân hồng hà.

Ông ta khen ngợi:

- Các em làm ăn khá lắm, bầy giờ Qua nói vắn tắt với các em thế nầy nhé: ‘ Các em có giữ nổi Đống đa cho tới sáng ngày 17-3-1975 không? Lúc ấy, sẽ có 2 thằng 2 râu-9 nút lên bắt tay với các em.’

Chúng tôi chần chờ, không hứa hẹn đều đó. Và đã trả lời:

- Trình Mặt trời 63, như Mặt trời đã thấy, áp lực địch rất là nặng, trong khi vùng Bến Cầu bây giờ chỉ còn lại một mình Đ.Đ của chúng tôi. Điều mà Mặt trời yêu cầu, chắc không thể thỏa mãn.

Ông ta lại khẩn thiết yêu cầu:

- Qua lập lại một lần nữa: ‘ Nếu mấy em giữ nổi Delta đến sáng ngày 17-3-1975, thì mọi người ở trong Delta của em, Qua cho lên một cấp.

Để cho xong chuyện, chúng tôi hứa liều với ông ta:

- Trình Mặt Trời 63, chúng tôi sẽ cố gắng thực hiện điều đó.

Sau đó ông ta bay đi khỏi, để lại bầu không khí cô đơn và lạnh lẽo.
Sáng ngày 15-3-1975, khoảng 7 giờ sáng, chưa thấy pháo địch rót vào, chúng tôi nhìn về hướng Đông , cách Delta gần 1 Km, thấy CQ đang xôn xao. Nhìn rõ hơn, được biết chúng đang bổ sung và bàn giao quân số. Như vậy, địch chuyển sang chiến thuật ‘Xa luân chiến’ , và cũng thấy quân xa địch, chạy từng đoàn đến để thay thế quân. Chúng tôi có gọi pháo binh bắn vào chổ đó, nhưng rất tiếc pháo binh trả lời rằng: ‘ Chúng ta không có đủ đạn để bắn như vậy, chỉ để dành khi các bạn bị tấn công’. Gọi Không quân, cũng trả lời giống như trên.

Trong 2 ngày 15 &16-3-1975, vì biết rõ quân ta tại vùng nầy đã di tản hết, nên CQ dồn tất cả hỏa lực hiện có của chúng, đánh một cú chót để tiêu diệt Delta. Chúng tôi đã chịu một cơn mưa pháo vô cùng kinh khiếp, kể cả Sơn pháo 85 ly bắn trực xạ,kèm thêm chiến xa địch, vừa bắn Đại bác 100 ly ,vừa tiến. Bụi mịt mù, khói lửa, thuốc súng dầy đặc, không thấy ánh sáng để xem bản đồ, thậm chí phải dùng quạt để thở, vì thiếu không khí, không đủ tay chân để là những động tác đó. Có những lúc tưởng chừng như sụp đổ toàn diện. Còn nhớ rõ, vào giữa trưa ngày 16-3-1975, CQ tấn công biển người vũ bão, có lúc Pháo binh ta bắn không kịp , bởi vì địch quân chi phối hỏa lực của ta bằng cách tiến đánh quận lỵ Khiêm Hanh ( Tây Ninh ). Cho nên pháo binh phải quay hướng súng liên tục, để âu yếm cho nhiều đơn vị bạn bị tấn công cùng một lúc, và có những lúc Pháo binh ta yểm trợ tối đa, thì chúng tôi có thời giờ diệt tăng địch, có một chiếc M-113 liều lĩnh len lỏi đến gần Delta độ 70 mét, bị chúng tôi bắn cháy. Và cũng có những tình huống bi đát, là đương âu yếm thân thiết, chợt Phở bắc báo tin:’ Chúng tôi đang bị mưa rơi và bị thiệt hại, các bạn tự lo liệu lấy’. Gặp tình trạng nầy, chúng tôi qua tần số Không - Lục, nhờ Không quân đánh bom gần Đống Đa để uy hiếp tinh thần địch quân. Có vài lần, chúng tôi sắp bị tràn ngập, mà bất hạnh thay! Các tiệm Phở bắc đều bị mưa rơi nhiều, nên không thể yểm trợ cho quân ta được. Nhưng vì có tiên liệu trước, chuẩn bi lựu đạn đầy đủ, chúng tôi lệnh cho đánh bằng lựu đạn tối đa, nếu cần cũng cho binh sĩ đánh ngược lựu đạn vào trong Delta, bởi vì hiện có một vài tên CQ đã vào được bên trong Delta. Cuối cùng, chúng tôi đã trấn áp được nhiều đợt xung phong biển người của địch. Tuy nhiên, trước khi rút lui hoặc bị lính ta bắn chết CQ đã bắn được vài quả B- 40, B- 41 vào cửa hầm B.C.H.Đ.Đ. Sức nóng 3.000 độ Fahrenheit luồng vào bên trong, làm hư mắt vài thương binh, đã được chúng tôi cho mang lên đây để dưỡng thương. Cũng may, hầm hình chữ CHI ( Zigzag ), nên mãnh đạn không văng vào được. Chiến đấu lẻ loi đến lúc nầy, thật tình, chúng tôi vô cùng mệt mỏi. Trong Delta có 3 cái giếng, tất cả đều bị hư thúi bởi xác CQ, đạn dược đã cạn kiệt, không còn bao nhiêu, trong khi đó hầm tiếp liệu bị sập một lần nữa, và bắt đầu phát hỏa nhỏ, Antenna 292 và 7 đoạn, đều hư hại cả, chỉ xài Anten lá lúa, thời tiết xấu, chỉ nghe được 2 trên 5, rất là trở ngại cho việc điều động không - Pháo yểm. Thay vào đó, chúng tôi có 2 máy PRC-25. Một ở tần số Không - Lục ( lấy của địch ngày đầu ) và một cái nữa ở tần số giải tỏa, nên việc điều động cũng được nhanh nhẹn. Mang danh nghĩa là một Đ.Đ, nhưng quân số trong Delta đang tác chiến, khoảng nửa Đ.Đ. Căn cứ trên‘ Khả năng tham chiến’ lúc ban đầu là 99 người. Nhưng có một toán thám báo và hai trung đội tác chiến hoạt động tiền đồn bên ngoài Delta,( khoảng 54 người). Trong Delta chỉ còn lại 45 người, sau vài ngày chiến đấu,chết và bị thương nặng - nhẹ 9 người. Con số khả dụng được bây giờ, là 36 người. Thế mà CQ vẫn chưa làm gì được chúng ta. Thiết tưởng, điều đó đủ nói lên tinh thần chiến đấu dũng cảm của các chiến sĩ Q.L.V.N.C.H. _

Vào lúc nầy, 6 giờ 45 chiều ngày 16-3-1975, tất cả các loại đạn của ta và địch thi nhau nổ vang rền cả một bầu trời Tây Nam. Cũng bầu trời đó, rực lửa quân thù, được bắn lên bởi những khẩu Phòng không đủ loại, tạo thành một màng lửa đỏ, quyện vào nhau tựa như một tấm lưới đỏ đang hình thành. Quả thật, trực thăng võ trang không thể vào không phận nầy được, mà chỉ ở đằng xa bắn Rocket để yểm trợ cho A-37 đánh bom. Bất chợt, chúng tôi thấy một chiếc A-37 bị hỏa tiễn tầm nhiệt cầm tay S.A-7 bắn rơi ( sau nầy được biết vị đại úy đó đã hy sinh). Lòng chúng tôi nghe đau xót lẫn cảm phục. Nhờ những vị Phi công gan lì, anh dũng nầy, mà chúng tôi không bị đè bẹp nhiều lần bởi chiến xa địch. Cũng như, nhờ vào sự yểm trợ tận tình, nhanh nhẹn, chính xác, và thần kỳ của pháo binh ta, mà chúng tôi không bị tràn ngập nhiều lần.

Nhìn tương quan lực lượng đôi bên. Dĩ nhiên, chúng tôi không tài nào giữ được Delta thêm nữa. Thấy tình thế ngày càng nguy ngập, đành phải chọn giải pháp lui binh. Trên phương diện Chiến thuật & Chiến lược, thì tấn công lúc nào cũng chiếm được thế thượng phong và dễ dàng hơn. Còn phòng ngự hay lui binh thì sẽ gặp vô vàn khó khăn. Chúng tôi đang ở trong tình huống tồi tệ nhất. Đó là chuẩn bị lui binh, nhưng lui bằng cách nào, đó cũng là một vấn đề nan giải. Dù thế nào đi nữa, bắt buộc cũng phải mở đường máu, bằng cách. Lợi dụng trong lúc còn đánh nhau, nhờ Phở bắc, bắn dọn dẹp sạch sẽ phía cuối cánh A, tiếp giáp cánh C của Delta. Và sau khi pháo binh ta dứt tác xạ, chúng tôi liền dẫn một binh sĩ và một âm thoại viên tên Q xông ra ngoài trước, vừa bò, vừa đánh cận chiến bằng lựu đạn. Cuối cùng, chúng tôi đã ra ngoài được an toàn, kiểm lại quân số, bây giờ chỉ còn lại 22 người. Mặc dù đã di tản chiến thuật, nhưng T.Đ 339/ Đ.P ( T.K.T.N ) đã gây cho địch tổn thất nặng nề về nhân mạng. Theo sự phối kiểm của P-3 ( T.K.T.N ), lúc bay C&C chỉ huy và quan sát, chúng tôi ghi nhận được kết quả tổn thất địch như sau: 14 chiếc tăng đủ loại bị rang muối nằm ngổn ngang, hơn 20 ổ Phòng không lẫn Pháo binh địch bị tiêu diệt. Những thứ nầy, hầu hết do Không quân ta đánh và địch bỏlại tại chiến trường khoảng 450 tên. Đó là cái giá phải trả cho hành lang máu nầy. Về phía ta, Pháo binh thiệt hại không đáng kể. Không quân bị rơi 3 chiếc: 1-A-37, 1- L-19, và 1 trực thăng võ trang. Tiểu đoàn 339/ Đ.P thiệt hại 1 phần 3 quân số ( chết, bị thương nặng, bị bắt sống ).

Sau cùng, một lần nữa, thay mặt đơn vị cũ, chúng tôi trân trọng cám ơn các vị cựu SQ và binh sĩ Pháo binh Diện địa T.K.T.N, các vị cựu SQ và binh sĩ Tiểu đoàn 250 & 251 Pháo binh, thuộc Sư đoàn 25 B.B. Cùng toàn thể các vị cựu SQ Pilot anh hùng, thuộc Sư đoàn 3- K.Q ( Biên Hòa), Sư đoàn 5- K.Q ( Tân sơn nhứt ), đã yểm trợ cho chúng tôi tận tình trong những giờ phút ngút ngàn khói lửa.

HA HUU HOI @ ( C.S.V.S.Q/T.B/T.X – K.4/71 ) & H.O - 4 )


- Delta, Đống đa ( đồn bót )
- Số nhà ( Tần số liên lạc )
- Lân la ( Liên lạc )
- Phở bắc ( Pháo binh )
- Đường lên thiên thai ( Đặc lệnh truyền tin )
- Âu yếm thân thiết ( Yểm trợ tận tình )
- Mặt Trời 63 ( Danh hiệu truyền tin của Tiểu khu Trưởng T.K.T.N )
- Thủy tinh ( Danh hiệu truyền tin của B.C.H .T.Đ 339/ Đ.P )
- Thanh thế ( Danh hiệu truyền tin của Đ.Đ 1/ 339/ Đ. P )
- Nguyên linh ( Danh hiệu truyền tin của Đ.Đ 4/ 339/ Đ.P )
- Hai thằng 2 râu - 9 nút ( 2 Tiểu đoàn của Sư đoàn 18 B.B )
- Vẹm ( Việt cộng )
- Cua sắt ( Xe tăng )
- Chim sắt ( Phi cơ )
- T.T.P.H.H.L ( Trung tâm phối hợp hỏa lực )
- Mưa rơi ( Bị địch pháo)

( Vì lần đầu tiên, diễn tả cảm nghĩ của mình qua dạng hồi ký, chắc chắn, có nhiều thiếu sót đáng trách. Người viết, kính mong quí Huynh trưởng, quí Chiến hữu, và quí Độc giả niệm tình tha thứ, bỏ qua cho ).

Đa tạ

 

Sunday, September 3, 2023

 BÀI 2 - CĂN CỨ DAK TO II THẤT THỦ  

- Trong chiến đấu, tinh thần của người lính bằng ba lần sức mạnh của đv. Không có trung đoàn tồi mà chỉ có đại tá tồi - Hoàng đế Napoléon.


Căn cứ Tân Cảnh, chụp bởi một ng lính Mỹ thuộc sđ 4 bộ binh. 


Đây là bài thứ hai, trong chuyên khảo (monograph) sau đây, ghi chép các báo cáo của các cố vấn Mỹ thuộc SĐ 22 VNCH. Những thông tin này trước đây được xếp vào loại Mật, sau này được giải mã; và chưa bao giờ đăng trên báo chí Việt ngữ ở hải ngoại.


- Đang đóng quân chung với một pháo đội Dù tại CCHL Lam Sơn, phía nam Võ Định trên QL-14, dù chỉ bị pháo kích và tấn công thăm dò, hai tiểu đoàn 34 và 35 thuộc liên đoàn 6 BĐQtheo lịnh của trung tá liên đoàn trưởng, đã rút khỏi CCHL này để về Kontum. Vị liên đoàn trưởng này đã bị tướng Ngô Dzu cách chức sau đó mấy ngày.

- Đại úy Ken Yonan, cố vấn của trung đoàn 42, đã lên tháp nước để hướng dẫn không kích. Lúc đầu mọi người nghĩ rằng ông đã chết vì tháp nước đã nhiều lần trúng đạn đại bác, nhưng ông đã sống sót và được trao trả vào năm 1973.

- Hai trung đội xe tăng M-41 và một trung đội bộ binh từ Ben Het kéo về tiếp viện cho Tân Cảnh nhưng bị phục kích và đánh tan ở kế cầu Dak Mot, phía tây của Dak To II. 

- Sông Dak Poko, nằm ở phía nam của Dak To II và Tân Cảnh, gần như bị tắc nghẽn vì xác chết cũng như người bị thương do hỏa lực Bắc quân khi họ vượt qua cầu treo.

- Khi tấn công vào trại LLDB Ben Het, dù pháo kích dữ dội và tấn công bằng bộ binh, và mất 11 xe tăng và hơn 100 lính, nhưng Bắc quân vẫn ko chiếm được trại này.


Sau đây là phần chuyển ngữ

. . . 

TRẬN ĐÁNH TẠI CĂN CỨ DAK TO 2 

"Trong khi đó, chưa tới một giờ sau khi cuộc tấn công vào căn cứ Tân Cảnh bắt đầu, căn cứ Dak To 2 đã bị gia tăng pháo kích và một số tấn công thăm dò của bộ binh địch. Một chiếc trực thăng lúc đầu định dùng làm trực thăng C-and-C (command and control/chỉ huy và kiểm soát) cho sđ 22 nhưng sau đó được chuyển qua Dak To 2 để bốc sáu cố vấn của sđ. Đại úy Carden, cố vấn của trung đoàn 47, đã đánh dấu các vị trí phòng không CSBV trên bản đồ và gọi máy báo cho phi công biết. Máy bay đã bay từ phía đông nam và tiến về bãi đáp trực thăng nơi mà 6 cố vấn đang chờ. Dù bị bắn bởi súng nhỏ từ rừng rậm bên ngoài chu vi phòng thủ nhưng máy bay đã đáp và cất cánh vô sự. Tuy nhiên, vì ko theo chỉ dẫn trước đó, phi công đã bay về tây bắc và đi vào đường đạn của 2 súng phòng không. Máy bay đã bốc cháy và rơi xuống bờ phía nam của chu vi. Carden kết luận ko ai sống sót.

Trong khi đó, ở căn cứ của trung đoàn 42, tại Tân Cảnh, Dobbins, quyền cố vấn trưởng của trung đoàn, đã chọn ở lại tới phút cuối. Ông và trung tá Thông, trung đoàn trưởng, cuống cuồng (feverishly) làm mọi cách để phục hồi tuyến phòng thủ đã tan nát của trung đoàn này. Lúc 0630, các thiết giáp, theo sau bởi bộ binh địch, đã chọc thủng chu vi đông bắc. Tuy lúc đầu, đại đội trinh sát đã đẩy lui một TĐ bộ binh địch ở chu vi phía nam, nhưng sau đó do quân số ít ỏi nên họ bị tràn ngập, dù đã hạ trên 100 địch. Chu vi phía tây bắc bị chọc thủng bởi một TĐ bộ binh và một trung đội T-54.

Pháo binh địch đã liên tục giã vào căn cứ. Cuối cùng, khi thời tiết sáng tỏ, Dobbins thông báo mục tiêu cho quan sát cơ L-19 để chiếc này đánh dấu bằng đạn khói. Các xe tăng ngừng lại và có vẻ ko lẩn trốn: chúng làm mồi (decoy) để nhử cho máy bay vào lưới phòng không. Tuy nhiên khi phòng không 37 ly nổ súng, chúng đã bị đánh dấu bởi quan sát cơ. Dobbins và Thông đã tiếp tục đi chuyển từ hầm này sang hầm khác, bằng cách trốn trong các cống nước (culvert) và bất cứ thứ gì có thể che dấu họ. Lúc 10:00 g, trung tá Thông ko còn liên lạc với các đơn vị dưới quyền, và cả hai đã quyết định ko thể làm gì hơn để cải thiện tình hình này. Trước đó Dobbins định liên lạc với Ken Yonan, cố vấn của vị trung đoàn phó của 42, nhưng ko được. Có vẻ Yonan ko còn sống khi khu vực của y bị pháo nặng. (Ghi chú của ban biên tập: Đại úy Yonan có tên trong danh sách tù binh được phóng thích bởi Hà Nội cuối tháng giêng 1973.) Dobbins đi theo Trung tá Thông về doanh trại (quarters) của ông này trong chu vi phòng thủ. Theo họ là khoảng 19 người lính. Tới một căn nhà, Thông mở một cửa để lộ ra một hầm ngầm. Trèo vào bên trong, họ đóng cửa lại và nghỉ ngơi (settle into) trong bóng tối vì mệt lả trong khi cuộc chiến đấu trên đầu họ, nay chỉ là những ổ kháng cự rời rạc.

Sau khi báo cáo chiếc UH-1 bị rơi ở Dak To 2, đại úy Carden và trung tá Brownlee, cũng là cố vấn của trung đoàn 47, đã ko thể tìm thấy các đồng nhiệm (counterpart) VN của họ cũng như BCH của trung đoàn 47. TTHQ của trung đoàn trống vắng, và có vẻ BCH của trung đoàn đã rời bỏ khu vực nguy hiểm này. Trong khi tìm kiếm một cấp chỉ huy VNCH, đại úy Carden thấy hai T-54 tới phi đạo. Một chiếc chạy tới đầu phía tây của sân bay, nằm dọc (along) theo con đường phía bắc của căn cứ, nhằm khống chế tỉnh lộ 512 đến Dak To từ Ben Het, nơi mà đại tá Đạt đã sai lầm khi bố trí phần lớn thiết giáp ở đây. Chiếc T-54 thứ hai từ phía bắc chạy vào giữa của sân bay và đã tấn công có hệ thống các hầm trú ẩn của BCH của trung đoàn 47. Hai chiếc M-41 của VNCH đột ngột xuất hiện và chạy về phía hông phải của chiếc T-54 này và mỗi chiếc bắn 3 phát về đối thủ. Carden lúc đó chỉ cách chiếc T-54 khoảng 100 m và thấy nó trúng đạn, bốc khói, nhưng ko bị phá hủy. Chiếc T-54 bắn trả 2 phát và chiếc M-41 đã bị phá hủy bởi phát thứ hai, và ngay sau đó chiếc T-54 đã bắn cháy chiếc M-41 còn lại chỉ bằng một phát. Những người lính bị thương bỏ chạy khỏi thiết giáp bị cháy của mình.

Vào lúc này, hai trung đội M-41 và một trung dội bộ binh từ Ben Het kéo về để tiếp viện cho Dak To 2. Họ đã vượt cầu Dak Mot và đã bị phục kích bởi một lực lượng lớn CSBV đang chiếm giữ cao điểm ở phía đông kế cầu. Hỏa lực B-40 và súng không giựt đã hủy diệt tất cả M-41 và đánh tan đơn vị bộ binh này. Đây là cuộc phản công CUỐI CÙNG của VNCH trong ngày 24/4. 

Sau trận xa chiến này, Carden đã gặp lại Brownlee. Cả hai đã tin rằng căn cứ Dak To 2 sắp bị tràn ngập vì thiếu vắng sự hiện diện của trung đoàn 47 và TĐ 9 Dù, từng đóng trong căn cứ này. Khoảng 10:00 g, Carden trông thấy quân bạn đang tiến về phía nam. Sự ra đi của lính Dù, việc di tản của các cố vấn Mỹ, và sự bỏ chạy (desertion) của BCH là cú đấm CUỐI CÙNG làm tan nát tinh thần chiến đấu của trung đoàn 47. Vì ko còn ai chỉ huy, họ đã bắt đầu rời vị trí và chạy khỏi căn cứ. Brownlee và Carden đã thấy rõ (realize) rằng họ ko thể kiểm soát tình hình và sẽ ko còn đv nào chiến đấu nữa trong ngày này. Họ đã gom góp máy truyền tin, lương thực, đốt bỏ một số giấy tờ, và rời căn cứ tiến về đông nam. Hai cố vấn này, các thông dịch viên của họ và tài xế định vượt qua một cầu treo dành cho người đi bộ, bắc qua sông Dak Poko, chảy dọc theo bờ nam của căn cứ. Tuy nhiên TĐ Dù và các thành phần của trung đoàn 47 đi theo họ, đã bị cầm chân bởi hỏa lực dữ dội của địch. Con sông giờ đây gần như bị tắc (clog) vì xác chết cũng như kẻ bị thương khi họ vượt qua cầu treo này. Vì biết rằng ko thể vượt sông ở chỗ này, Brownlee và Carden đi dọc bờ sông về hướng tây cho tới khi gặp một khúc sông cạn (ford) có thể lội qua được, cách cầu treo khoảng 700m. Khi họ định vượt sông ở khúc sông cạn này, họ đã bị bắn bằng đủ loại súng. Khi nhóm của họ đã vượt sông và trèo bờ dốc để lên bờ, Carden đã thấy trung tá Brownlee gặp khó khăn khi leo lên bờ. Lúc đó hỏa lực địch lại gia tăng, Carden buộc lòng phải bỏ bờ sông và chạy nhanh đến bụi cây thấp cách đó khoảng 100m. Đợi khi giảm bớt (slack off) tiếng súng, ông cẩn thận đi ngược bờ sông để tìm trung tá Brownlee. Ông cũng đi tới lui vài trăm mét dọc theo dòng nước để tìm kiếm Brownlee nhưng vô vọng. Cuối cùng Carden và hai người lính VN đã bắt đầu đi về hướng nam và gặp CCHL Vida nơi mà họ được bốc đi 2 ngày sau.

Suốt ngày không quân Mỹ đã tấn công địch chung quanh Tân Cảnh và làm rung chuyển hầm trú ẩn mà Dobbins và 20 quân nhân VNCH ẩn núp. Lúc 20:00 g, Dobbins chia họ thành các toán 3 người và chuẩn bị lẩn trốn. Vì là lúc trăng tròn nên họ đã bị phát hiện khi gần hàng rào phía tây nam. Bốn người đã bị giết trước khi nhóm này cuối cùng tìm được chỗ núp trong một chuồng heo (pigpen) ở tuyến phòng thủ phía đông. Vào nửa đêm, họ lại lẩn trốn. Lần này họ bị phát hiện bởi một hỏa châu do Spectre bắn ra khi tấn công mục tiêu trong khu vực. Lần này họ bị mất thêm vài người do súng nhỏ của địch. Họ đã trở lại chuồng heo và chờ đến 4 g sáng. Một lớp sương mù thấp đã giúp họ vượt được chu vi phòng thủ. Họ đi về phía nam vài km và được bốc đi ngày kế.

Lực lượng tấn công Tân Cảnh và Dak To 2 là các thành phần của sđ 2 CSBV. Các TĐ của trung đoàn 1 và 141 và TĐ đặc công D-10 đã tấn công hai nơi này. Các xe tăng hỗ trợ cuộc tấn công thuộc một TĐ của trung đoàn xe tăng 203. Cuộc tấn công đã phối hợp kỹ càng dù có sai sót nhỏ về giờ giấc, và việc dùng những chiến thuật cổ điển này ko có gì mới mẻ ở Chiến tranh Đông Dương. Tuy nhiên điều đáng chú ý là sự có mặt của lính CSBV trong mọi trận đánh, Trong trận Tết 1968, các đơn vị VC dẫn đầu mọi tấn công, nhưng trận Tân Cảnh toàn là lính CSBV. Trong ngày 24 và 25/4, Bắc quân đã cũng cố các thành quả và mở rộng kiểm soát về phía Tây của sân bay Dak To 2 và phía nam tới Diên Bình. Vũ khí VNCH bị mất gồm 25 khẩu 105 ly, 7 khẩu 155 ly, 14,000 đạn đại bác, và các chiến cụ khác. Trong số người mất tích có đại tá Đạt và toàn bộ tham mưu của ông.

Trong lúc Tân Cảnh và Dak To 2 bị tấn công, sđ 320 CSBV đã tiếp tục tạo áp lực lên các CCHL còn lại trên Rặng Hoả Tiển. Ngày 25/4, tướng Dzu đã rút bỏ CCHL 5 và 6, khiến quân CSBV ít gặp nguy hiểm khi tiến về Kon-Tum. Cùng lúc với áp lực này tại tỉnh Kon-Tum, sđ 3 CSBV và các đơn vị chủ lực của VC đã tấn công 3 quận phía bắc của tỉnh Bình Định. Dù trung đoàn 40 và 41 của sđ 22 đã thành công trong những trận đánh gần đây với VC, quân CSBV tại tỉnh Bình Định đã buộc họ phải rút khỏi Bãi Đáp (landing zone) English và các CCHL khác trong khu vực. Điều này đã tập trung chú ý của quân Việt- Mỹ về mối đe dọa với Kon-Tum, vì Bắc quân sắp đạt mục đích là cắt Nam VN làm hai. Bộ tổng tham mưu VNCH và bộ tư lịnh Mỹ tại VN đã bắt đầu tin tưởng hơn vào nhận định của Vann, cố vấn trưởng của QĐ 2 rằng chiến dịch của địch tại Quảng Trị và An Lộc Bình Long có giới hạn về qui mô và rằng mục đích thực sự của Bắc quân là chiếm các tỉnh Kon-Tum, Pleiku, Bình Định bằng các cuộc tấn công cấp nhiều sđ suốt cao nguyên. 

                  


ĐỊCH QUÂN TIẾN GẦN KON TUM

Để đối phó với thành công này của Bắc quân, bộ tham mưu của QK2 đã kích hoạt kế hoạch sau. Đại tá Bá, tư lịnh của sd 23, chỉ huy mọi lực lượng ở tỉnh Kon-Tum. Bốn TĐ BĐQ sẽ chiếm giữ các vị trí án ngử ở Võ Định và phía nam dọc sông Dak Poko. Trung đoàn 53 bảo vệ tp Kon-Tum. TĐ 22 BĐQ chuyển đến Polei Kleng để tăng cường cho TĐ BĐQ biên phòng ở đây. Ngoài ra Vann cho B-52 ném bom dọc Rặng Hoả Tiển và các CCHL đã di tản. Hàng ngàn người tị nạn, tàn quân của sđ 22, và các cố vấn mất tích trong vùng địch chiếm đã hạn chế các cuộc không kích của B-52. Để giảm nhẹ vấn đề này Không quân Chiến Thuật hay TACAIR đã được xử dụng với hơn 180 phi xuất từ 24 đến 28/4.

Ngày 28/4, hầu như bộ tham mưu của sđ 23 đã lên đường tới Kon-Tum. Đại tá Bá đã có nhiệm vụ khó khăn là kết hợp các đơn vị khác thành một tổ chức chặc chẻ (cohesive). Đơn vị duy nhứt của sđ 23 dưới quyền ông là trung đoàn 53. Trong khi đó, hai LĐ 2 và 6 BĐQ, một LĐ Dù, và các lực lượng ĐPQ dưới quyền của đại tá Nguyễn bá Long, tỉnh trưởng Kon-Tum, là các đơn vị mà chỉ huy của họ dưới quyền chỉ huy của 9 BCH khác nhau. Vài vị đại tá ko bằng lòng vì bị chỉ huy bởi một đại tá khác. Vì vài liên đoàn trưởng BĐQ hay lữ đoàn trưởng Dù cũng mang cấp đại tá — người dịch. Nhiều lần họ ko dự họp hành quân mà để cấp phó thay thế. Để giải quyết vấn đề này, Vann đề nghị với tướng Dzu cử thiếu tướng Phong và phó của Vann là chuẩn tướng John Hill, bay đến Kon-Tum mỗi sáng lúc 0800 để chủ tọa các buổi họp. Sự có mặt của họ bảo đảm mọi người phải có mặt và việc phòng thủ sẽ tốt đẹp. Đại tá Truby, quyến cố vấn trưởng của sd 23, được giao nhiệm vụ cố vấn cho bộ tham mưu (BTM) của sđ về quan niệm phòng thủ quy ước trong một thời gian ngắn. Các cố vấn của sđ phải giải thích những chi tiết như các điểm hạn chế, sự phối hợp giữa các đv trên tuyến phòng thủ, giảm thiểu những nơi có thể bị xuyên thủng, v.v…

Để bảo đảm sđ có tối đa thời gian để huấn luyện và chuẩn bị việc phòng thủ, đại tá Bá giao cho LĐ 2 và 6 BĐQ có nhiệm vụ trì hoãn chiến trên QL14 giữa Tân Cảnh và Kon-Tum. Tuyến phòng thủ ngoài cùng ở bảy km từ trung tâm TP Kon-Tum, tuyến thứ hai cách tuyến cuối cùng 4km. Tuyến cuối cùng nằm ở rìa của TP. Bốn khẩu 155 ly và 44 khẩu 105 phụ trách yểm trợ cho họ. Đường tiến sát phía tây và bắc dược giao cho BĐQ, trong khi trung đoàn 53 lo phía đông và nam.

Ngày 26/4, tướng Dzu được lịnh về SG để gặp TT Thiệu. Khi trở lại Pleiku, ông cho biết bị đau tim và phải điều trị ở một bịnh viện tại SG. Dzu đã có vẻ bị sốc sau chuyến đi SG và ko muốn nói điều đó với ai. Cuối cùng Dzu về SG để nhập viện và thay thế bởi thiếu tướng Toàn.

LIÊN ĐOÀN 6 BĐQ THAY THẾ LỮ ĐOÀN 2 DÙ

Liên đoàn (LĐ) này từ chiến trường Huế, nơi mà họ đụng nặng với địch, đã tới QK 2 ngày 24/4. Thiếu tá James Givens, cố vấn trưởng của liên đoàn 6 BĐQ đã hay tin Tân Cảnh thất thủ trên radio khi liên đoàn tiến vào vị trí ở CCHL Bravo. Căn cứ này ở bắc của Võ Định, nơi mà liên đoàn đã đóng chung với BCH của lữ đoàn () 2 Dù. Ngày kế lữ đoàn Dù được xe GMC chỡ tới Kontum để không vận về SG và liên đoàn 6 chuyển tới CCHL November để gần Kontum hơn. Từ căn cứ Lam Sơn, một cao điểm trên QL-14, có cái nhìn khống chế về phía Bắc của Võ Định và về phía nam tới Kon-Tum, Givens và phụ tá, đại úy Vannie, đã thấy TÀN QUÂN của sđ 22 vượt qua vị trí của hai người trong từng nhóm 5 tới 15 người, với vài súng nhỏ và ko có súng cộng đồng; nhiều kẻ ko còn nón sắt hay ba lô (web gear). Họ đã bỏ những thứ này trong lúc rút chạy. Dù ko có chỉ huy, nhưng họ ko hoảng loạn.

Suốt ngày 25 và 26, địch gia tăng pháo kích BCH liên đoàn. Dù ko có thương vong, nhưng lúc 1500 của ngày 27, Givens và Vannie và BCH liên đoàn đã được trực thăng vận tới CCHL November dù Givens chống đối vì ông nghĩ rằng BCH nên ở tại căn cứ Lam Sơn với những đơn vị lớn của liên đoàn. Các TĐ BĐQ còn ở Lam Sơn, gồm 34 và 35, tiếp tục bị pháo kích và tấn công thăm dò. Lúc 05:00 ngày 1/5, lính của bốn xe M-41 tại Lam Sơn đã bỏ xe khi Bắc quân tấn công. Bắc quân chiếm xe nhưng bị không quân VNCH và một AC-130 bắn cháy và cuộc tấn công bị đẩy lui.

Lúc 18:00 g toán cố vấn của sđ 23 báo cho Givens rằng pháo đội của Dù đã rút khỏi căn cứ Lam Sơn. Ông liền gặp ngay trung tá Đệ  liên đoàn trưởng BĐQ để hỏi chuyện. Ông này trả lời ko liên lạc được với hai TĐ ở Lam Sơn. Lúc 19:30 liên lạc đã tái lập. Hai TĐ này đang di chuyển về phía nam của Lam Sơn, mang theo 50 thương binh và súng cộng đồng. Về việc pháo binh Dù bỏ Lam Sơn, Givens đã khám phá rằng liên đoàn trưởng BĐQ đã ra lịnh cho hai TĐ của ông bỏ căn cứ, do vậy pháo binh Dù phải rút theo vì ko còn ai bảo vệ. Ngày 4/5 tướng Dzu cách chức liên đoàn trưởng này.

Vấn đề này đã khiến Vann thuyết phục tướng Dzu rằng nên đưa hai trung đoàn 44 và 45 của sđ 23 lên Kon-Tum để thay thế hai liên đoàn BĐQ và lữ đoàn Dù. Dzu đã đồng ý. Ngày 6/5, trung đoàn 45 từ Pleiku theo QL-14 để thay thế LĐ 6 BĐQ.

===

Từ 24/4 đến 5/5, các cuộc pháo kích vào các trại BĐQ nằm kế bên đường tiếp tế của CSBV gia tăng. Hai trại Ben Het và Polei Kleng bị nặng nhứt do họ là trở ngại cho việc tiếp tế cho các khu tập trung quân để đánh tp Kon-Tum. Lúc 1200 ngày 6/5 Polei Kleng bị pháo nặng. Hơn 50 quả rơi trong một giờ rưỡi trước khi máy bay Mỹ tạm thời làm ngừng hỏa lực địch. Tuy nhiên khi quan sát cơ rời nhiệm sở tác chiến lúc 1515, pháo địch lại lần nữa gia tăng đến 500 quả tính tới 1900 cùng ngày. Các bunker trong căn cứ này lần lượt bị sụp đổ chứng tỏ pháo đã điều chỉnh chính xác. Vị trưởng trại, mà cố vấn là đại uý MacLaren và trung úy Paul McKenna đang điều khiển không kích, đã bị thương. Lúc 1730 một quả làm sập tường và thổi bay một cửa làm bằng gỗ sồi. Hai cố vấn đào đất để chun ra và tới một hố chiến đấu gần chu vi phòng thủ. Pháo địch đã hủy diệt một cách hệ thống mọi nhà cửa trên mặt đất, tất cả các bunker, và làm sập cột an-ten. Cuộc pháo kích liên tục và chính xác này đã làm mất tinh thần lính phòng thủ. Khi McKenna định gặp TĐ trưởng lúc 18:00 g, ông phát hiện y đã rời trại. Khi trở lại hố chiến dấu, ông thấy địch  đang dùng đèn đỏ chớp sáng để thông báo với bộ binh đang chờ để tấn công trại. Lúc 1900, dù phòng không dầy đặc, một OH-6 đáp xuống để bốc cố vấn. Trại tiếp tục chiến đấu thêm ba ngày dù liên tục bị pháo và bộ binh tấn công thuộc trung đoàn 64 CSBV. Việc Bắc quân tập trung lực lượng để chiếm Polei Kleng đã cung cấp mục tiêu hấp dẫn cho 16 phi xuất B-52, mỗi phi xuất 3 chiếc, vào khu vực này trong 3 ngày trên. Một hồi chánh viên (HCV) sau này thừa nhận đại đội 100 người của y đã chết 40 người và nhiều hơn bị thương vì B52. Lúc 0500 ngày 9/5, sau một tấn công bởi chiến xa và bộ binh, lực lượng VNCH tại Polei Kleng đã buộc phải rút lui. Tướng Dzu đã ra lịnh trại này từ nay được xếp vào vùng oanh kích tự do.        

                 ĐÈN CHỚP SÁNG MÀU ĐỎ 

Trong giai đoạn này, trại Ben Het đã nhận từ 400 đến 500 đạn đại bác đủ loại. Ngày 7/5, TĐ 71 BĐQ đã nổi loạn, ra tối hậu thư cho TĐ trưởng phải bốc họ ra khỏi trại trong 43 g. Trước khi cuộc bốc quân hoàn tất, hỏa lực phòng không đã vây kín trại.

Vào lúc rạng đông của ngày 9/5, Bắc quân xua chó vào hàng rào phòng thủ để nổ mìn. Lúc 0600, chúng tấn công bằng bộ binh có 6 PT-76 yểm trợ. Hai chiếc, có bộ binh tùng thiết, tấn công cổng chánh, nhưng bị bắn cháy bởi M-72 của BĐQ. Lúc 0730, năm PT-76 tấn công chu vi phòng thủ phía đông, hai chiếc bị phá hủy bởi M-72. Số xe tăng còn lại rút lui sau khi bộ binh chiếm chu vi phía đông. Suốt ngày hôm đó BĐQ đã đẩy lui địch.

Lúc 1700, BĐQ tái chiếm chu vi phía đông. Bắc quân đã mất 11 xe tăng và hơn 100 lính khi tấn công Ben Het. Dù BĐQ tiếp tục bị quấy rối, họ ko còn bị tấn công ồ ạt bằng bộ binh. Trại Ben Het ko là một mục tiêu ngon xơi với Bắc quân, một phần do hỏa lực trong trại rất mạnh vì có nhiều M-41 đưa lên từ trước theo lịnh đại tá Đạt — người dịch".

. . .

Chuyển ngữ từ trang 42 đến 47 của: 

Wayback Machine (archive.org)

San Jose ngày 10 tháng 9 năm 2023.

Tài Trần









 










 




Thursday, August 31, 2023

TÂN CẢNH THẤT THỦ - Theo lời kể của các cố vấn Mỹ của sư đoàn 22 bộ binh

                       

                             Căn cứ Tân Cảnh 

Căn cứ Tân Cảnh chụp bởi một ng lính thuộc đại đội C thuộc TĐ 2/35 của sđ 4 bộ binh Mỹ.

                
                      

- "Thượng Đế ở về phía nào có pháo binh tốt. Trong chiến tranh, tinh thần của người lính bằng ba lần sức mạnh của đơn vị." -- Hoàng đế Napoléon. Tạm dịch từ: God is on the side with the best artillery. In war, the moral is to the physical as three to one. 

LỜI NÓI ĐẦU:  Nhờ lang thang trên mạng, tôi đã biết trong trận Dak To - Tân Cảnh 1972, John Paul Vann, cố vấn trưởng của QĐ 2 đã dùng trực thăng riêng để nhiều lần đáp xuống Tân Cảnh cứu hết cố vấn. Thông tin này đã dẫn tôi đến bài sau đây nói về những giờ phút cuối cùng tại bộ tư lịnh (BTL) của sđ 22 bộ binh VNCH năm 1972. Bài viết này có nhiều thông tin chưa từng đăng trên báo chí Việt ngữ ở hải ngoại. Dù được kể rất chi tiết bởi các cựu cố vấn của sđ 22 nhưng bài viết này ko thể nào giúp chúng ta có cái nhìn toàn cảnh và đầy đủ vì phần lớn họ chỉ viết về các hoạt động của cố vấn Mỹ. Trong khi đó, sau 1975, nhiều sĩ quan VNCH từng dự trận này, nhưng do nhiều lý do khác nhau đã ko viết lại những gì mình biết hay thấy trong trận này. Chỉ có vài người như các ông Tôn Thất Hùng, Trịnh Tiếu, Bùi Đức Lạc, Hà Quế Linh, Nguyễn văn Thịnh,  đã viết về trận Tân Cảnh 1972, nhưng ko đầy đủ như bài viết trên đây của cố vấn Mỹ. Vì sau khi rút quân về nước sau năm 1973, họ mang theo gần như toàn bộ các báo cáo sau khi hành quân (after action report) trong thời gian làm cố vấn cho các đv VNCH, kèm theo là bản đồ hay phóng đồ hành quân, v.v... Trong khi đó, các cựu chiến binh VNCH, khi viết hồi ký phần lớn chỉ dựa vào trí nhớ, nên dễ thiếu sót -- trừ một số ít có trí nhớ phi thường như cựu thiếu tá Vương Mộng Long.

Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 38 đến 42 của chuyên khảo (monograph) này. 

. . . 

BÀI I - TRẬN TẤN CÔNG VÀO CĂN CỨ TÂN CẢNH

"Ngày 18/4 căn cứ hỏa lực (CCHLCharlie ở đầu phía bắc của Rặng Hỏa Tiển (Rocket Ridge) đã bị pháo hơn 300 đạn đại bác 105 ly và 75 ly ko giật, theo sau là cuộc tấn công của bộ binh thuộc trung đoàn 48 csbv. Rặng núi này được gọi là Rặng Hỏa Tiển vì địch quân thường bắn hỏa tiển từ núi này -- người dịch. Dù được trực thăng Cobra và chiến đấu cơ hỗ trợ hết mức, lúc 22:30 giờ TĐ 11 Dù buộc phải rút lui. Thiếu tá John Duffy, cố vấn của TĐ, là người cuối cùng rời vị trí. Ông cho biết 5 trong số 9 súng phòng không bao quanh CCHL đã bị phá hủy và có cả ngàn xác địch quân phơi thây trên hàng rào phòng thủ. 

Trung đoàn 42 và 47 VNCH đã tiếp tục cố gắng kiểm soát các đồi núi quanh các căn cứ Tân Cảnh và Dak To II, cách đó 5 km về phía tây, nhưng từ từ rút về căn cứ chánh. Vào ngày 19/4, TĐ 1/42 đã bị vây bởi khoảng hai TĐ CSBV, khiến ko thể tiếp tế. Đại tá Đạt đã ko thể tiếp cứu lực lượng này. Sau khi hết đạn, 63 trên quân số 360 người của TĐ này đã về được căn cứ của trung đoàn. 

Ngày 20/4 bộ tổng tham mưu đã yêu cầu QĐ II trả lại lữ đoàn dù để đưa ra vùng 1. Thay thế họ sẽ là liên đoàn (6 BĐQ bốc từ Huế, và trung đoàn 53 của sđ 23 bộ binh.

Lúc 19:30 giờ ngày 21/4, sau khi bị tấn công dữ dội nhiều ngày bằng pháo, CCHL Delta bị tràn ngập. Quân phòng thủ gồm một đại đội Dù và một đại đội của LĐ 2 BĐQ đã cầm cự cho tới khi quân tấn công được ba xe tăng hỗ trợ. Để bù đắp những thất bại trên Rặng Hoả Tiển và phòng thủ chiều sâu, tướng Ngô Dzu đã di chuyển một số đại bác về Diên Bình trong quận Dak To.Trước đó mấy tuần, Vann (cố vấn QĐ 2) đã đề nghị như vậy nhưng tướng Dzu ko nghe. 

Vào ngày 23/4 việc phòng thủ ở Tân Cảnh có vẻ thỏa đáng. Một số CCHL của Dù hay BĐQ trên Rặng Hoả Tiển vẫn nhận được tiếp tế. Các cố vấn cho biết tinh thần của các đơn vị này rất cao. Trung đoàn 47 ở Dak To II có một đại đội (company) chiến xa và một TĐ dù yểm trợ. Họ cũng có hai đại bác 106 ly không giật và nhiều súng chống tăng M-72 (LAW). Sư đoàn 22 ở Tân Cảnh có trung đoàn 42 và một TĐ của trung đoàn 41 nằm gần căn cứ. Quân phòng thủ ở đây gồm 1.200 người, bao gồm 900 người làm về hành chánh tiếp vận, ko có kinh nghiệm chiến đấu. Để chống tăng, căn cứ có hai súng 106 ly không giật, hơn 100 khẩu M-72, và một đại đội tăng M-41. Ngoài ra còn có 50 đại bác 105 và 155 ly. Khu vực này có vẻ đã chuẩn bị kỹ cho một cuộc tấn công của nhiều sđ đang đe dọa nó. Nói thêm: tuy căn cứ Tân Cảnh có quân số 1.200 người như trên nhưng có đến 900 người lo về hành chánh tiếp vận, ko được tổ chức hay biên chế để phòng thủ căn cứ. Trong căn cứ, ngoài đại đội xe tăng, các pháo đội, hậu cứ của sđ 22 và trung đoàn 42; còn có đại đội 22 và 42 trinh sát để bảo vệ bộ tư lịnh, và thương binh hay lính hết phép chờ ra hành quân -- người dịch. 

Vào ngày 23/4, dù những dấu hiệu rõ ràng của một tấn công của địch đã có từ đầu tháng Giêng, chiến dịch mà người ta chờ đợi đã lâu vẫn chưa bắt đầu. Những cuộc chạm súng với những đơn vị của CSBV đã gia tăng đáng kể trong 2 tuần trước đó vì khu vực Tân Cảnh- Dak To II đã bị bao vây. Pháo binh địch đã gia tăng từ 20 tới 50 viên mỗi ngày vào cuối tháng Ba và đầu tháng Tư trở thành khoảng 1.000 viên mỗi ngày trong 2 tuần trước. Cộng quân đã kiểm soát những khu vực phía bắc và đông của căn cứ Tân Cảnh và có thể bắn chính xác vào căn cứ. 

Vào ngày 23/4, nằm trên nóc một hầm trú ẩn ở phía đông bắc của chu vi phòng thủ của căn cứ Tân Cảnh, đại úy Raymond Dobbins, quyền cố vấn trưởng của trung đoàn 42 VNCH, ko để ý nhiều đến những loạt đại bác và hỏa tiền, thường xuyên rơi như mưa vào tiền cứ này của sư đoàn 22. Hậu cứ của sđ vẫn còn ở tỉnh Bình Định — người dịch. Dù hoàn toàn phơi mình trước hỏa lực chính xác và chết người nầy, ông vẫn bình tỉnh gọi máy bay Mỹ tấn công các mục tiêu do các cấp chỉ huy Việt Nam cung cấp. Ông đã biết rằng một TĐ của 42, ý nói trung đoàn 42, yểm trợ bởi bốn chiếc M-41, trong một cuộc hành quân (HQ) gần đó, đã bị pháo dữ dội bởi hỏa tiển 122 ly, pháo 130 ly, và cối 82 ly và rất cần không lực Mỹ mà ông đang điều chỉnh — trong khi họ lại được lịnh tiến vào một khu vực rất nguy hiểm kế cận tuyến phòng thủ của họ. Ông vừa thoáng nhìn khu vực cổng chánh nơi một chiếc M-41 vừa đi qua để tải thương một người lính. Vào lúc đó một ánh sáng lóa lên và sau đó là một tiếng nổ chứng tỏ xe tăng này bị trúng đạn chống tăng và hủy diệt. Vì nghĩ rằng đó là đạn B-40 nên một sĩ quan VN đã gọi cho đại úy Dobbins. Ông liền báo cáo vị trí chiếc M-41 này cho trung tâm hành quân của sư đoàn, viết tắt là DTOC, mà người nhận là thiếu tá Jon Wise, cố vấn của phòng 3 sư đoàn 22. Ông này báo ngay cho đại tá Philip Kaplan, cố vấn trưởng của sđ và trung tá Terrence McCain, cố vấn phó của sđ. Sau khi thảo luận, cả ba nhận định rằng ko thể là hỏa tiễn B-40 vì tầm hoạt động của nó chỉ 200 m và địch ở cách chiếc tăng này trên 500 m. Đại tá (ĐT) Kaplan, trung tá McCain và thiếu tá George Carter, cố vấn trưởng của thiết đoàn 14 đi đến chiếc xe tăng này. Vào lúc đó một phi đạn điều khiển bằng dây lướt nhanh (whisk) qua đầu họ và trúng một xe tăng khác khoảng 150 m ở phía bắc vị trí của họ ở cổng chánh. McCain chạy nhanh tới xe này và thấy một lổ nhỏ cỡ một đồng đô-la (silver dollar) ở phần giáp sắt phía trước. Đồng silver dollar hình tròn, đường kính 38.1 mm, dầy 2.4 mm -- người dịch. Ở bên dưới xe tăng là phần đuôi của hỏa tiển. Quan sát kỹ lưỡng, họ thấy hỏa tiển này có đường kính khoảng ba inch hay 7.62 tấc với hai cuộn dây (bobbin) và hai lổ thoát hơi (nozzle) ở trên thân của nó. Ba cố vấn nhanh chóng trở về trung tâm hành quân (TTHQ) của sđ trong khi Dobbins tiếp tục điều chỉnh không kích. Trước khi ba vị này tới TTHQ của sđ, thêm hai hỏa tiển loại này được bắn đi từ một cao điểm ở phía đông bắc kế cận một chùa Phật giáo. Cả ba người đồng ý rằng việc sử dụng vũ khí tối tân này có thể là hiệu lệnh bắt đầu của một tấn công lớn mà mọi người chờ đợi từ lâu. Vào lúc đó một tiếng nổ lớn làm rung chuyển mạnh (rock) TTHQ của sđ khiến mọi người và đồ vật văng tung tóe (crash about); kế đó mọi thứ đều yên tỉnh ngoại trừ tiếng đại bác của địch tiếp tục rơi trên mặt đất.



TTHQ của sđ là một hầm chống pháo kích rất chắc chắn có diện tích 45 x 30 feet hay 13.7 mét x 9.1 mét, làm từ xà gỗ và vỉ PSP, một loại vỉ sắt dùng để lót các sân bay dã chiến — người dịch. Hầm ở cách mặt đất khoảng 8 feet hay 2.4 mét và trên nấp hầm có hai lớp bao cát. Tác động của vụ nổ đã thổi bay vài bức tường. Phòng truyền tin và máy móc và phòng ngủ của các sĩ quan của TTHQ bị hư hại nặng. Trong khi trung tá McCain được đỡ dậy (pull to his feet), ông vẫn tiếp tục ù tai do tiếng nổ. Sau đó ông cũng biết đại tá Kaplan và thiếu tá Wise bị thương nặng ở đầu. Không có người Mỹ nào khác bị thương, nhưng có khoảng 20 quân nhân VNCH chết và bị thương nặng nằm trên sàn nhà đầy mảnh vụn của TTHQ sđ. Trung úy John Jones, một sĩ quan thuộc phòng 3, và đại uý David Stewart, cố vấn về truyền tin của sđ, đã bắt đầu băng bó cho Wise và Kaplan, trong khi McCain điều trị các thương binh VNCH. Trong khi người bị thương được săn sóc, đại tá Kaplan đã nhận thấy khói bắt đầu phủ đầy TTHQ của sđ. Những thanh gỗ tẩm dầu (creosoted timber) dùng để gia cố ở khu vực truyền tin của TTHQ đã bắt lửa (ignite) do vụ nổ và bắt đầu cháy dữ dội. Nói thêm: Để chống mối mọt cho gỗ, người ta thường ngâm gỗ trong chất creosote — người dịch. Không có bình chữa cháy, và sau vài lần dập tắt lửa vô vọng bằng nước, cuối cùng mọi người đều phải rời bỏ TTHQ.

Trong khi đó, Stewart và thiếu tá Julius Warmath đã bắt đầu lập một TTHQ mới của sđ trong TTHQ của trung đoàn 42, cũng nằm trong căn cứ Tân Cảnh, bằng cách dùng máy móc truyền tin của Mỹ. Sư đoàn 22 từ từ đã lấy lại phần nào sự điềm tỉnh (composure) của nó, nhưng một hạt giống nghi ngờ đã bắt đầu nảy mầm (plant) trong đầu của vị tư lịnh, tức đại tá Đạt. Phi đạn điều khiển bằng dây này, ko những chỉ tàn phá TTHQ của sđ, mà còn tàn phá sự tin tưởng của quân nhân của sđ 22 vào chính họ. Một cảm tưởng rằng quân CSBV là những chiến binh giỏi và sẽ chiến thắng có vẻ đã xuất hiện gần như trong đầu mọi người. Vào buổi trưa, địch quân đã gây tổn thất lớn lao (take a heavy toll) cho các lực lượng VNCH qua việc dùng phi đạn điều khiển bằng dây này. Nói thêm: Người ta phân biệt hỏa tiển (rocket) với phi đạn (missile) vì phi đạn có thể điều khiển, ví dụ như phi đạn Sagger trong trường hợp này, còn hỏa tiển ko thể điều khiển như hỏa tiển 122 ly — người dịch. Năm chiếc M-41 trong căn cứ hoàn toàn bị hủy diệt bởi các phi đạn này. Ngoài TTHQ của sđ còn một số bunker cũng bị phá hủy bởi nó. Nhưng sự tàn phá quan trọng nhứt là tâm lý. Lúc 11 g trưa, John Paul Van, cố vấn của QĐ 2, dù hỏa lực nặng nề của pháo binh địch, đã đáp xuống Tân Cảnh để hỏi thăm tình hình suy sụp (decay) này. Ông đã nhận thấy rằng quân VNCH KHÔNG PHẢN PHÁO (counterbattery fire) và rằng việc tải thương các thương binh VN hoàn toàn do phía Mỹ đảm trách. Sau khi thảo luận tình hình này với các cố vấn, Vann ra lịnh cho họ thực hiện kế hoạch thoát thân và lẩn trốn. Kế đó ông bay đi, mang theo vài nhân viên dân sự từng làm việc với các cố vấn Mỹ.

Trung tá McCain và thiếu tá Warmath đã làm việc liên tục trong buổi chiều để bảo đảm mọi người bị thương được di tản. Ngoài việc liên lạc với trực thăng dưới làn pháo địch, các cố vấn cũng khiêng thương binh ra trực thăng. Các cố vấn còn lại thì liên lạc với không quân để tấn công các mục tiêu gần căn cứ. Ngoài đạn pháo binh địch càng lúc gia tăng và những cuộc chạm súng nhỏ có tính thăm dò, phần còn lại của buổi chiều và lúc trời sụp tối đã qua đi mà ko có biến cố nào đáng kể. Tuy nhiên khoảng 19 g tối, lợi dụng lính VNCH mãi núp trong hầm để tránh pháo, từ một cao điểm gần sân bay L-19, mười lính CSBV đã dàn hàng ngang và bắn B-40 và B-41 vào kho đạn. Một trong những quả B-40 này đã gây cháy lớn khiến đạn nổ liên tục và tiêu hủy mọi đạn dược. Lúc 21 g, đại úy Richard Cassidy, cố vấn của Quận Dak To, đã nghe ông quận trưởng nói rằng xe tăng địch di chuyển ngang ấp Dak Brung để tới BCH chi khu Dak To. Cassidy đã chuyển tin này tới TTHQ của sđ 22 và yêu cầu một máy bay gunship C-130, có danh hiệu truyền tin là Spectre (Bóng Ma), lên vùng để đối phó đe dọa này.

Lúc 23 g chiếc Spectre đã tới khu vực Tân Cảnh và lập tức bắt đầu rà quét khu vực ấp Dak Brung bằng thiết bị theo dỏi bằng tia hồng ngoại và vô tuyến truyền hình. Sau 15 phút, chiếc C-130 gunship này đã xác định vị trí (locate) của một đoàn 18 xe tăng chạy từ tây sang đông tiến tới chi khu Dak To. Chiếc Spectre báo cáo phát hiện này cho các cố vấn của sđ 22 và đã bắt đầu bắn xe tăng với đại bác 105 ly. Sự phát hiện này đã khiến hoạt động ở Tân Cảnh nhộn nhịp lên (flurry). Trung tá Nguyễn hữu Thông, chỉ huy trung đoàn 42, bảo vị trung đoàn phó tới tháp nước ở tây bắc của chu vi phòng thủ để liên lạc với không quân đánh vào địch quân đang tới gần. Đại úy Ken Yonan, cố vấn của vị trung đoàn phó này, đã đi theo ông này tới tháp nước và chuẩn bị liên lạc với Spectre khi đoàn xe tăng hướng về Tân Cảnh. Vì nghĩ rằng một cuộc tấn công lớn lao có vẻ đang tới gần và quân VNCH KHÔNG CÓ BIỆN PHÁP GÌ ĐỂ PHẢN CÔNG, đại tá Kaplan họp các cố vấn và nói rõ cho họ về kế hoạch đào thoát và lẫn trốn. Kế đó ông yêu cầu họ ở trong các hầm trú ẩn để chờ đợi hậu quả của những đụng độ sắp xảy ra. 

Trong khi đó chiếc C-130 gunship báo cáo đã bắn trúng ba xe tăng gần ấp Dak Brung. Lính ĐPQ tới gần một trong ba xe này nhưng thấy xe ko hư hại đáng kể, có lẽ bộ đội trên xe đã bỏ xe mà chạy khi bị Spectre tấn công — người dịch. Khi một toán đặc công CSBV xuất hiện trên đường, lính ĐPQ bỏ chạy, và địch quân lái xe đi mất. Rõ ràng, đại bác 105 ly của Spectre đã ít thành công khi diệt tăng. Vì đối với xe tăng T-54 của Liên Xô (LX) hay T-59 của Trung Cộng, khi bị bắn từ trên cao với đạn nổ mạnh, điểm yếu của chúng là bình xăng ở sau xe hay ngăn chứa động cơ ở sau xe. Bắn trúng nơi khác trên xe chỉ gây thiệt hại cho người nhưng ko thể làm xe bị phá hủy.

Khoảng giữa đêm, đoàn xe tăng này đã quay về hướng nam để tiến về Tân Cảnh và sđ 22. Đại tá Kaplan đã yêu cầu chỉ huy pháo binh VN cho cấp dưới bắn xe tăng địch trước khi họ bị tràn ngập. Lời yêu cầu đã được đáp ứng khi bốn tràng đại bác được bắn đi và Spectre cho biết đạn đại bác đã trúng một xe bồn chỡ xăng và rơi năm feet hay 1.5 mét cách một T-54 khác. Kaplan đã khen ngợi cố gắng này, nhưng một đợt phản pháo dồn dập của địch đã khiến lính pháo binh VNCH chạy nhốn nháo (scurry) về hầm trú ẩn của họ và đã chấm dứt mọi cố gắng chống cự địch bằng pháo binh của mình.

Để tới căn cứ của sđ 22, đoàn xe tăng này phải qua hai cầu. Cả hai cầu được bảo vệ bởi một trung đội ĐPQ. Vì ko có súng chống tăng, họ đã rút chạy khỏi vị trí. Sự kiện này đã chứng tỏ thiếu phối hợp giữa quân chính quy và ĐPQ. Hai cầu nằm trên đường tiến sát tới căn cứ Tân Cảnh và bắc qua những suối mà xe tăng ko thể vượt qua (unfordable). BTL SĐ 22 BB đã nghĩ rằng tiểu khu (TK) đã có kế hoạch phá cầu bằng chất nổ khi có lịnh, nhưng thực tế TK đã ko làm gì hết. Đúng là chết được — người dịch. Đoàn xe tăng tiếp tục tới ngoại ô của thị trấn Tân Cảnh. Một số xe ngừng ở đây nhưng những chiếc khác chạy về Dak To. Spectre xin được bắn những chiếc đã vào Tân Cảnh, nhưng bị từ chối vì có thân nhân của lính VNCH trong thị trấn. Nói thêm: thị trấn hay làng Tân Cảnh nguyên trước đây là làng Kon Hơ-jao, nằm ngay ngã ba QL-14 với tỉnh lộ 512 (chạy tới trại LLĐB Ben Het). Trước 1972, thị trấn rất sầm uất, có chợ búa, rạp hát, v.v...Căn cứ Tân Cảnh ở tây nam của thị trấn này, và bên trái của TL 512, trước đây là hậu cứ của trung đoàn 42 thuộc sđ 22 bộ binh, trong căn cứ có tháp nước; nay do nhu cầu chiến trường nên BTL sđ đã dời về đây. Riêng chi khu (CK) Dak To, nằm ở chính bắc và cách thị trấn Tân Cảnh khoảng 5km. Vì nghĩ rằng T-54 sẽ tiến về căn cứ Tân Cảnh từ Ben Het, nên phần lớn M-41 đã lên bảo vệ trại LLĐB này. Theo bài này, T-54 đã tiến về Tân Cảnh bằng cách chạy ngang CK Dak To -- người dịch. 



Dobbins thuyết phục trung tá Thông lập các toán tìm và diệt tăng bằng cách lấy người từ một đại đội của trung đoàn 42. Cố gắng này đã có kết quả khi hai chiếc T-54 bị bắn cháy ở phía tây của làng. Lúc 0326 giờ ngày 24/4, Spectre báo cáo có 10 xe tăng rời làng Tân Cảnh tiến về một cao điểm ở Bắc của căn cứ, gần sân bay L-19. Những chiếc còn lại tiến về phía nam của Làng Tân Cảnh và chuyển về hướng tây tới căn cứ. Chiếc Spectre này bay về Pleiku để tiếp xăng và đạn dược và được thay thế bởi một Spectre khác trang bị 2 đại bác 20 ly và hai khẩu 40 ly ko thể hủy diệt T-54. Tuy nhiên, từ trên tháp nước cao, đại úy Yonan vẫn có thể chỉ điểm cho Spectre tác xạ vào những đơn vị bộ binh địch đang tiến gần căn cứ.

Dobbins đã ở phía đông của chu vi gần cổng chánh với trung tá Thông từ khi nhận tin về thiết giáp địch. Lúc gần 6g sáng, chiến xa đã tấn công xuyên qua lớp sương mù của sáng sớm. Chúng dùng đại liên 12.8 ly bắn vào các bunker trên chu vi phòng thủ gần cổng chánh. Cùng lúc đó, những xe tăng vừa chuyển lên cao điểm gần sân bay L19, nay từ đó yểm trợ cho bộ binh tấn công vào chu vi phía bắc, trong khi một lực lượng bộ binh tấn công vào chu vi phía nam, bảo vệ bởi đại đội trinh sát của trung đoàn 42. Dobbins báo cáo cho TTHQ về tình hình chiến xa địch và lính VNCH ồ ạt vượt qua hàng rào kẽm gai để rút lui. Lần đầu tiên thấy và nghe chiến xa địch đã khiến 900 lính vô kỷ luật và ko ai chỉ huy này đã bỏ chạy trong sợ hãi — Đây là lính trước giờ chỉ ở hậu cứ của sđ ở Bình Định, chuyên lo về hành chánh tiếp vận, chưa có kinh nghiệm chiến đấu như lính ở các đv tác chiến — người dịch.

Những xe tăng này vượt qua cầu và chạy hàng một về cổng chánh. Dobbins và trung tá Thông vẫn ở gần cổng chánh để cố gắng giữ vững tinh thần binh sĩ tác chiến dưới quyền trước cảnh lính của hậu cứ sđ chạy tán loạn trong kinh hoàng.

Sau khi nhận tin lính của hậu cứ sđ bỏ chạy, Kaplan ra lịnh cho cố vấn sđ chuẩn bị để trực thăng bốc đi nếu quân VNCH ko giữ được Tân Cảnh. Năm phút sau, Dobbins báo cáo xe tăng địch đã ở cổng chánh và quân VNCH ko thể cản chúng. Liên lạc truyền tin bị cắt do ba quả 105 ly rơi trúng TTHQ và làm ngả an-ten. Lúc này các cố vấn nghĩ rằng họ ko thể làm gì trước tình hình này. Họ rời TTHQ, mang theo súng, máy truyền tin, và hai M72 và tìm đường về tháp nước. Yonan vẫn ở tháp nước với hy vọng phá vỡ cuộc tấn công nếu máy bay tới. Xui xẻo thay, sương mù buổi sáng khiến máy bay ko còn hoạt động hiệu quả và trực thăng gunship thì 30 phút nữa mới tới. Đại úy Stewart, đang mang một PRC-25, gọi Yonan rời khỏi tháp nước và di chuyển với họ về hướng tây nơi mà trực thăng sẽ bốc. Yonan trả lời ko thể đi vào lúc này, nhưng sẽ gặp họ sau đó. Cuộc nói chuyện bị gián đoạn vì hai đạn đại bác T-54 nổ trên tháp nước. Stewart lại gọi cho Yonan khuyên nên rời tháp nước gấp nhưng Yonan trả lời tuy ko bị thương nhưng ko thể rời vào lúc này.

Bất chấp đạn pháo của đối phương, các cố vấn chạy về hàng rào phòng thủ phía tây. Ở đó họ thấy một T-54 đang cháy chạy rất nhanh (barrel down) trên đường từ hướng bắc ngay bên ngoài hàng rào kẽm gai. Xe tăng đã chạy qua vị trí của họ trước khi họ bắn xe này bằng M72. Tuy nhiên, khi chiếc thứ hai trong tầm nhắm, trung tá McCain và trung úy Jones đã thất vọng vì súng M72 bị trục trặc khiến chiếc này cũng chạy qua luôn. May mắn cho họ ko có bộ binh tùng thiết theo hai xe này. Lợi dụng cơ hội quý giá này, các cố vấn băng nhanh qua đường. Trước mặt họ là bãi mìn dài 200 m của phe ta. Một lính VNCH bị thương nằm gần đó. Trong khi được sơ cứu, người lính nói với cố vấn rằng y biết đường đi qua bãi mìn. Y đã dẫn họ đi qua bãi mìn tới phía bên kia của khu rừng thưa (clearing). Tới đây họ nghỉ ngơi chốc lát và suy nghĩ về bước kế tiếp. 

Ông Vann đã thức suốt đêm trước đó khi tin tức liên tục gửi đến Pleiku. Khi trời mới hừng sáng, ông và phi công của ông, đại úy Richard Todd, trên đường bay tới Tân Cảnh. Ông đã ko thể liên lạc với các cố vấn từ khi thiết giáp địch tấn công BTL của sđ 22 bộ binh. Khi ở trên bầu trời Tân Cảnh, ông đã liên lạc với Steward đang ở dưới đất. Vann đã xem xét tình hình và hỏi cách nào tốt nhứt để cứu các cố vấn. Đại tá Kaplan, cố vấn trưởng của sđ 22 đã trả lời rằng họ sẽ di chuyển thêm 200 m về phía tây để tránh đạn súng nhỏ. Khi sáu cố vấn di chuyển, ba người cố vấn còn lại bắn che chỡ cho họ, sau đó họ đã gặp nhau. Cuối cùng họ quyết định rằng Vann có thể đáp xuống bằng chiếc OH-58 của ông để bốc toán cố vấn đầu tiên. 


Đó là thiếu tá Carter, thiếu tá Warmath, đại úy Keller, thiếu úy Jones, trung sĩ Ward và hạ sĩ Zollenkopher. Trong khi Vann cất cánh với nhóm cố vấn này, vài lính VNCH quá sợ hãi đã bám vào càng trực thăng. Sợ rằng các người lính này sẽ rớt trước khi máy bay tới trại Ben Het, ông đáp xuống căn cứ Dak To II, nơi trung tá Robert Brownlee và đại úy Charles Carden, cố vấn của trung đoàn 47 bộ binh, đang chờ họ. Sau đó Vann trở lại Tân Cảnh để cứu các cố vấn còn lại. Khi máy bay vừa đáp xuống, khoảng 15-20 binh sĩ VNCH quá sợ hãi tràn lên máy bay. Khi cố gắng cất cánh, máy bay đã rơi, nhưng Vann và đại úy Todd thoát được. Sau đó, một máy bay khác đã cứu họ và sau đó tìm (locate) được ba cố vấn còn lại gồm Kaplan, McCain và Stewart. Các người lính VNCH hoảng loạn, lần nữa đã cố gắng trèo lên máy bay nhưng ko thành công, và máy bay đã cất cánh mà ko có họ. 30 phút sau, máy bay đã đáp xuống Pleiku". 

. . . 

Chuyển ngữ từ trang 38-42 của: Wayback Machine (archive.org)

Bài thứ hai sẽ là trận đánh ở căn cứ Dak To II, sẽ dịch sau. 

=================

PHẦN ĐỌC THÊM: Sau đây là đặc điểm của máy bay AC-130.

1/ Phiên bản AC-130 H (Spectre), đã dùng trong trận Dak To -Tân Cảnh. Trang bị:

2 đại bác 20 ly M61 Vulcan.

1 đại bác 40 ly L/60 Bofors bắn 120 viên/phút.

1 đại bác 105 ly bắn 6-10 viên/phút.

2/ Phiên bản AC-130 U (Spooky II) trang bị:

1 đại bác 25 ly GAU-12/U Gatlin 5 nòng bắn 1.800 viên/phút.

1 đại bác 40 ly L60 Bofors 120 viên phút.

Ở phiên bản này, có hệ thống áp lực khoang tàu (cabin pressure system) khiến phi hành đoàn có thể bay cao và bay xa hơn. Hiện nay các máy bay dân sự đều có hệ thống này.

San Jose ngày 3 tháng 9 2023.

Tài Trần

=======