Sunday, July 30, 2023

 

Hồi Ký: Trận đánh tại Chi Khu Thiện Giáo – Tháng 4, 1975

Trần Kim Bằng

Sau hồi ký “Vượt biên đường bộ”, 2015, Bằng được ủy thác, vinh dự góp tay viết về trận đánh tại quận Thiện Giáo, thuộc tỉnh Bình Thuận trong tháng 4 năm 1975 theo lời kể của một vị sĩ quan Quân Lực – Việt Nam Cộng Hòa (QL- VNCH).

Bài viết được trình bày qua hình thức hồi ký, tác giả cho biết sau nhiều đề nghị từ các anh em đồng đội từng sát cánh chiến đấu, các con cháu, luôn yêu cầu ông nên kể lại. Ngoài mục đích di sản cho thế hệ sau về những chiến thắng oai hùng của cha ông trong công việc gìn giữ, bảo vệ đất nước, chống lại sự xâm lược của cộng sản (cs.) vô thần, ông còn mong như đóng góp nhỏ trong việc phản bác những lời nói vô trách nhiệm của cựu Tổng thống Hoa Kỳ, George W. Bush (Junior)* khi cho rằng QL – VNCH không chịu chiến đấu, thay vì ông ta nhìn nhận để miền nam tự do rơi vào tay cộng sản đa phần là do các chính trị gia Mỹ. Phát biểu nông cạn thực đáng trách của ông Bush tạo ra những bực bội cho nhiều người lính của chúng ta, dù cuộc chiến đã tàn từ lâu.

Cá nhân ông và các đồng đội đã hy sinh tuổi thanh xuân, chiến đấu hết mình cho tới khi miền nam thân yêu bị bức tử, vận nước chấm dứt.

Câu truyện đồng thời cũng ước mong như những đóa hoa thơm, thân thương gởi đến các chiến sĩ Địa Phương Quân – Nghĩa Quân (ĐPQ & NQ) của QL – VNCH trên mọi miền giới tuyến, đã nhiều phen đóng góp xương máu cho đất nước… nhưng luôn bị lãng quên, ít được đề cập tới.

*

– Về chiến thắng Thiện Giáo, dẫu muộn màng, nên được kể và ghi lại trong trang sử liệu đấu tranh can trường của QL-VNCH. Trận chiến này ngoài ĐPQ & NQ thuộc tiểu khu Bình Thuận, còn có thêm ít binh lính từ các binh chủng khác như Nhảy Dù, Biệt Động Quân, TQLC, … di tản về sát nhập chung, tình nguyện chiến đấu. Ở vào thời điểm khi vùng 1, vùng 2 tan rã, tình hình nhiều tuyệt vọng. Chi khu TG. cho gia đình binh sĩ, vợ con quân nhân các cấp di tản trước, riêng các chiến binh, những người chồng, người cha ở lại sẵn sàng chờ địch tới. Dù biết có thể phải hy sinh bản thân, mọi người quyết bảo vệ vùng trách nhiệm được giao phó. Nghĩ lại, thật hãnh diện. Theo nhận xét của người viết, mặc dù ngoài 80, nhưng với trí nhớ minh mẫn, nhiều chi tiết tường thuật rõ ràng vì chính ông là người tham chiến, giữ trọng trách chỉ huy trưởng lực lượng phòng thủ chi khu. Ông cho hay TĐ 230/ĐPQ được tiểu khu Phan Thiết bố trí ngăn địch tại tuyến đầu tức chi khu Thiện Giáo và cuộc đụng độ nặng cuối cùng nổ ra trong tháng tư, chống trả lại 2 trung đoàn việt cộng, trận đánh rất ác liệt và kéo dài khoảng 3 ngày. Với quân số chỉ hơn 1 tiểu đoàn, các chiến sĩ ĐPQ & NQ đã anh dũng, chặn đứng, đẩy lui nhiều đợt tiền pháo hậu xung của địch, và rất may mắn chỉ một vài người bị thương nhẹ, cả tiểu đoàn hầu như vô sự. Chiến thắng đầy tự hào cuối đời binh nghiệp này cũng đã được ghi lại trong trí nhớ của nhiều người dân Bình Thuận. Ông “Anh Ba”, ở cương vị chỉ huy trưởng chiến trường, mặt trận Thiện Giáo, cung cấp thêm nhiều chi tiết về trận đánh này.

– Tiểu sử về U-80, “Anh Ba”, tức Đại úy Mai Vi Thành, xuất thân khóa 4 Đồng Đế, ra trường ông phục vụ tại các đơn vị tác chiến quân khu II. Qua nhiều thăng trầm, vào thời điểm trước tháng tư 1975, vì là lính trận chuyên nghiệp, được giao lại quyền Tiểu đoàn trưởng (TĐT)- TĐ 230/ĐPQ kiêm Xử Lý Thường Vụ Chi khu trưởng Thiện Giáo. Sau khi tan hàng 30-4, vc. thù dai, liệt ông vào thành phần “ác ôn”, và chuyển giao ông ra bắc, ở tù qua các trại như Hoàng Liên Sơn, số 5 Thanh Hóa… từ 1975- 1982, vượt biên định cư Hoa Kỳ 1983.

–  Anh Ba cũng là con nuôi cũa Chuẩn Tướng Trần văn Hai, Tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, QL – VNCH, vị tướng công chính thanh liêm, người đã tuẫn tiết trong ngày 30-4-1975 tại bản doanh, căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho.

*

Vào truyện…

Giọt mưa Cali rớt vào ký ức
Lăn hồn ta về với núi với rừng
Gặp lại anh em tháng ngày thao thức
Hể hả cười… cùng khói lửa rưng rưng

Thơ Trạch Gầm (Theo mưa đến thăm cà phê lính)

Trận đánh Thiện Giáo (TG.) tháng 4, 1975

Khoảng đầu tháng 4, 1975, sau khi Ban Mê Thuật thất thủ, quân đoàn 2 hầu như tan rã và sát nhập vào quân đoàn 3 theo lịnh Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Mục tiêu quân sự của Hà Nội đã quá rõ ràng, cánh quân Duyên Hải, Trung đoàn 18 thuộc Quân đoàn 2 cộng sản đang tạo áp lực, chuẩn bị tấn công Phan Rang từ phía đông bắc, sau đó dọc theo đường Quốc lộ (QL) số 1 tiếp tục hành quân về phía Nam, với mục tiêu kế tiếp tiến vào địa bàn tỉnh Bình Thuận, xuống chiếm lấy tiểu khu Phan Thiết. Tuy nhiên vì tình hình dân chúng từ vùng I và II bắt đầu di tản ngày càng đông trên quốc lộ 1, có thể không hẳn thuận lợi về mặt chiến thuật nên địch mở thêm mặt trận từ hướng tây, phía bắc tiểu khu Phan Thiết, nhằm khai thông đường tỉnh lộ 8. Nỗ lực ở mặt này, thì bằng mọi giá, phải dứt điểm Chi khu Thiện Giáo, vì đây là cứ điểm phòng thủ quan trọng để vào Phan Thiết. Cùng lúc, nơi mặt tây nam, tiến đánh Định Quán, rồi từ QL. 20 để vào mặt trận lớn hơn là tiểu khu Long Khánh, vòng đai phía bắc, nơi sư đoàn 18 BB của tướng Lê Minh Đảo phòng ngự, bảo vệ cửa ngõ Sài Gòn. Riêng mũi tấn công vô Thiện Giáo, vì là mặt trận then chốt, hầu như địch tập trung toàn lực lượng vũ trang quân khu 6 trên các cao nguyên Lâm Đồng, Bảo Lộc đưa xuống đồng bằng, đem vào trận.

Trận đánh tại chi khu TG. bắt đầu lúc 3 giờ sáng, khoảng ngày 11, 12 tháng 4 năm 1975, và trong 3 ngày giao tranh, với nhiều đợt tấn công biển người, việt cộng (vc.) đều bị chặn đứng và đánh cho tan tác trên các cứ điểm, có thể nói là thảm bại, thiệt hại nặng mặc dù quân số và vũ khí vượt trội gấp 5, 7 lần. Ghìm được chân lực lượng lớn của địch tại đây là niềm tự hào, của tiểu đoàn 230/ĐPQ & NQ, cùng tất cả quân dân cán chính thuộc chi khu TG. Nhưng khi đất nước lâm nguy, lãnh thổ hỗn loạn, rồi miền nam bị bức tử! chiến thắng này lại ở giai đoạn gần… đứt phim, nên theo dòng thời gian đi vào quên lãng, hầu như không ai nhắc tới, chỉ được truyền thông để ý đến cách hời hợt, chung chung sau này.

*

 Thiện Giáo nằm trên tỉnh lộ 8, phía Tây Nam sát mật khu Tam giác, phía đông là quốc lộ 1 và mật khu Lê Hồng Phong, tây bắc có dãy Trường Sơn và mật khu Đăng Gia, phía nam là thị xã Phan Thiết. Quận TG. có hơn mười xã như Tân An, Bình An, Hòa Tân, Tân Thành… ngoài 1 xã hay khu trù mật của người bắc di cư với tinh thần chống cộng cao được thành lập từ thời Tổng thống Diệm, thì tất cả những xã khác đều là vùng xôi đậu. Chi khu Thiện Giáo, theo tầm nhìn chiến thuật là cứ điểm quan trọng, cái gai phải nhổ của vc. để tràn xuống phía nam, nên không bao giờ yên ổn, nơi đây với nhiều trận đánh đẫm máu liên miên của cả hai phía, lớn có, nhỏ có, không ngưng nghỉ. Có câu:” Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận”, cọp thì không thấy nhưng ma quỷ là bọn giặc du kích thì đầy, chúng từ các mật khu luôn ra uy hiếp, quấy rối, giành dân, có nơi một vài xã, vc. đã thành lập được cả cơ sở nằm vùng. Nhiều đời quận trưởng TG. đã bị tử nạn bởi phục kích, bị pháo, đánh lén, đánh úp**.  Thiện Giáo hiền hòa, nhỏ bé, nhưng như một khiêu khích quá hiển nhiên, lộ liễu với các anh mật khu bao quanh nên thường bị đặc công quấy rối. Vấn đề an ninh thiệt ớn óc! Bởi vậy, cầm sự vụ lệnh trong tay về bình định quận TG. vị chỉ huy cần có mưu lược tài trí. Có lẽ chỉ có 2 loại người: loại to gan, lớn mật, và loại sau, thê thảm hơn, bị… đì.

*

Lực Lượng và phối trí:  VNCH. (khoảng 1,200 quân)

TĐ 230/ĐPQ có 5 Đại đội (ĐĐ) cơ hữu. gồm 1 ĐĐ chỉ huy công vụ, 4 ĐĐ tác chiến và 2 ĐĐ biệt lập (tăng phái), thêm 7 trung đội nghĩa quân. Ghi chú thêm về NQ. của tiểu khu Phan Thiết, đặc biệt chi khu TG. là trong khoảng thời gian dài 20 năm ròng rã, sống mái với việt cộng để bảo vệ địa phương của họ, những người lính nghĩa quân nơi đây dạn dày kinh nghiệm và rất thiện chiến, họ đã nhiều phen gây tổn thất nặng cho đối phương, ghi nhiều chiến công.

1 trung đội Cảnh sát dã chiến.

1 đoàn cán bộ Xây Dựng Nông Thôn (lực lượng áo đen)

Chỉ huy trưởng mặt trận là Tiểu đoàn trưởng (TĐT) – Tiểu đoàn (TĐ) 230/ĐPQ kiêm xử lý thường vụ chi khu trưởng chi khu Thiện Giáo, Đại úy Mai Vi Thành, tức Thành Râu, tuy nhiên các chiến hữu và dân chúng Phan Thiết hầu như ai biết ông, đều thân thương gọi “Anh Ba”. Anh Ba vốn là cựu TĐT- TĐ 202/ĐPQ đóng tại Cây Táo, trên Quốc lộ 1, nhưng theo yêu cầu của các binh sĩ TĐ 230, được tiểu khu điều động về thế người tiền nhiệm là Thiếu Tá Thổ Thiêm, người gốc Chàm, một vị đức độ, can đảm, chỉ huy giỏi, nhưng phải giải ngũ sau 3 lần lưu ngũ.

–  Tiể đoàn phó 230/ĐPQ là Đại úy Trần Đăng Thiệt, vì 230 phải chuyển sang phòng ngự, bảo vệ khu vực nên ngoài các Đại đội trưởng, phó, tương đối còn đầy đủ nhân sự các phòng ban 1,2,3,4,5 và truyền tin.

Phía địch: Theo nhiều tin tình báo ở thời điểm này, tuy không đủ thời gian kiểm chứng chính xác, nhưng qua khai thác tù binh được biết, quân số ước lượng vào khoảng 2 trung đoàn của lực lượng vũ trang quân khu 6, hơn 5,000 quân? Với toàn bộ du kích miền cao nguyên 2 tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng, trong đó Trung đoàn 812 là nỗ lực chính, và 1 trung đoàn tân lập, được điều động vào trận nhằm dứt điểm quận Thiện Giáo, xóa sổ TĐ 230. Ngoài pháo binh với đầy đủ đạn dược tiếp vận từ mật khu, loại xe tăng V100 được ngụy trang thành T54 khá đe dọa tâm lý, mặc dù sau đó người lính ĐPQ – NQ. TĐ 230 đã chứng tỏ cho thấy dù địch có xe tăng nhưng cũng không làm khó được họ.

Phối hợp: Chi khu Thiện Giáo phối hợp hàng ngang với chi khu Định Quán, địa đầu của tỉnh Xuân Lộc. Địch tấn công Định Quán cùng lúc với chi khu TG. Thiếu Tá Lê văn Chánh, cũng là người bạn thân của anh Ba, nắm quận trưởng kiêm chi khu trưởng Định Quán đã anh dũng tử trận. Việt cộng dùng pháo 100 ly trên xe tăng T59, bắn trực xạ vào hầm chỉ huy sau khi chúng loa gọi nhưng ông thà chết không hàng. Thiếu Tá Chánh hy sinh lúc đang liên lạc vô tuyến với trưởng chi khu TG.

blank

* Lúc 3 giờ sáng khoảng ngày11, 12. Với quyết tâm “giải phóng” TG. hay cứ điểm Ma Lâm, vc. mở màn bằng trận pháo mù mịt vào tất cả mọi vị trí, công sự các đại đội, đặc biệt quả pháo 155 ly đầu tiên rót vào bộ chỉ huy tiểu đoàn, được báo cáo là chui xuống gầm xe của anh Ba nhưng… không nổ. Sau cơn mưa pháo, địch tổ chức nhiều đợt tấn công biển người, chúng vừa phát loa kêu gọi đầu hàng, vừa ồ ạt đánh vào từ mọi mặt đông tây nam bắc nhằm cắt rời các đại đội ra, không tiếp ứng được nhau. Mặt tây bắc của Đại đội 2 (ĐĐ2) do Trung úy Sanh trách nhiệm chịu áp lực nặng nhất bởi vị trí phòng thủ nằm án ngữ nơi trục giao thông chính của liên tỉnh lộ 8, tuy nhiên, như 1 phép lạ, quân trú phòng vẫn đứng vững sau nhiều phen bị cường tập. Vc. sau mỗi đợt pháo luôn cố gắng tràn ngập nhưng lần nào cũng “chém vè”, phải rút ra với tổn thất không ít về nhân mạng, và cho đến khi tàn cuộc vẫn không chiếm được các cứ điểm. Trong lửa cháy lẫn mùi thuốc súng khét lẹt… Anh Ba nhận định với các ban về những tuyên truyền láo từ chính trị viên cs. nhồi vào đầu cán binh của họ, như tinh thần hốt hoảng, lo sợ, mất bình tĩnh của các chiến sĩ ĐPQ & NQ, QL – VNCH sẽ tiếp tục tháo chạy khi nghe tin “quân giải phóng” đến, đã không xảy ra giống như ở ngoài vùng 1, 2. Ông cười cho biết, chúng đâu ngờ quân dân Bình Thuận của chi khu TG từ quan đến lính, đã rất tỉnh táo, kỷ luật, súng đạn đầy đủ, nghiêm chỉnh chờ sẵn. Địch vào đến đâu bị đốn ngã như sung tới đó. Chiếc tank đầu tiên của vc. nhằm uy hiếp tinh thần bị người lính ĐPQ dùng M72 bắn cháy được thông báo cho nhau làm nức lòng mọi người”.

Nhiều người dân TG., sau này kể lại trận đánh tháng tư vẫn hả hê, cho đây là 1 trận thắng lớn, để đời của các chiến sĩ ĐPQ – NQ của QL – VNCH, vốn bị chế diễu là lính “Địa…phao câu”, lính… vườn.

Anh Ba cho biết trận TG, với quyết tâm cao độ, ai cũng kiên cường, thà chết để bảo vệ khu vực trách nhiệm của mình cách thần kỳ, mọi người đã anh dũng chống trả, bẻ gãy mọi mưu toan, và đứng vững sau nhiều xung phong cảm tử của địch. Chiến thắng này cho thấy người lính ĐPQ và NQ của chi khu Thiện Giáo xứng đáng được nhận huân chương tiêu biểu, vinh danh cho truyền thống bảo vệ làng xã trên toàn lãnh thổ.

 Trận đánh kéo dài cho tới ngày thứ 3, dù tất cả những vị trí, công sự hư hại nặng nhưng người lính ĐPQ & NQ, QL – VNCH tinh thần vẫn cương quyết một lòng, điềm tĩnh tử thủ khi giờ phút thứ 25 đang cận kề.

Tin từ các nơi gọi về…

– Trình Đại bàng, tụi nó chết la liệt, nhiều lắm, có thâu lượm chiến lợi phẩm không?

 – Chỉ thu lượm súng đạn, trang bị ngược lại cho mình.

Sau nhiều vô vọng liên lạc về bộ chỉ huy tiểu khu, cuối cùng Anh Ba cũng được biết dân tị nạn từ phía bắc đã về tới thị xã Phan Thiết? toàn bộ tiểu khu Phan thiết với 6 tiểu đoàn đã di tản chiến thuật? Bằng tàu hải quân, một số ra đảo Phú Quý, số khác về Vũng Tàu. Một trung sĩ trước khi cúp máy cho biết không còn bất cứ giới chức nào để ra lệnh, dĩ nhiên không tiếp vận, không yểm trợ, và thẩm quyền phải tự xoay sở lấy…  Cánh quân của TĐ. 230/ĐPQ như vậy đã chiến đấu đơn độc ngay trên đầu tuyến, “nhất kiếm trấn ải” trực diện với quân số vượt trội hơn nhiều lần của cs., để làm chậm bước tiến địch?

Đơn độc nhưng lẫm liệt, hào hùng!

Thời điểm ngày cuối, vc. sau nhiều lần tấn công thất bại, với tổn thất nặng nề, chúng ngưng tấn công, đánh giặc nước miếng! vác loa réo liên tục, yêu cầu, đích danh tên người chỉ huy “anh Ba” và các binh sĩ “ngụy”: ”các anh đã bị bao vây, mau buông súng, trở về với … nhân dân, cách mạng sẽ khoan hồng!” (sic).

Kinh nghiệm cho ông biết chúng đang tập họp, chỉnh đốn hàng ngũ, bổ xung cho 1 đợt cảm tử mới, nhất quyết dứt điểm?

Trong khi giao tranh, ban 4 nhận lệnh tổng kết đạn dược, cho biết trang bị cho 1 người chỉ còn giới hạn không đủ để bảo vệ chính mình. Tình hình bi đát, sớm muộn sẽ bị tràn ngập? Anh Ba đã ra lệnh cho 4,5 mũi thăm dò để thoát ra, hầu hết đều bị khóa! lúc này chung quanh chi khu TG. việt cộng đông như đàn kiến, áp lực dày đặc từ mọi hướng. Tuy vậy, cuối cùng, một toán trinh sát cũng tìm được sinh lộ cho toàn quân. Trong âm thầm, tất cả các đại đội được lệnh len lỏi, triệt thoái về phía đông, băng ngang qua QL.1, xâm nhập thẳng vào… mật khu Lê Hồng Phong của địch. Ông đã binh pháp đúng, “tìm đường sống nơi tuyệt lộ”, có cách nào tuyệt vời hơn để dưỡng sức cả nghìn quân ngoài chính mật khu của việt cộng, sự tiên đoán chính xác sau khi thẩm định các tin tức tình báo về việc lực lượng cộng sản đã hối hả rời khỏi mật khu Lê Hồng Phong, dốc toàn lực nam tiến, nương rẫy vắng bóng, chúng để lại mọi thứ hầu như nguyên vẹn, người lính tìm được ít lương khô dán mác tàu cộng, đủ để nuôi quân ta được khoảng…1 ngày.

Đạn dược và thực phẩm luôn là thứ cần thiết nhất.

Sau đó, tất cả mọi người được lệnh rời khỏi mật khu, theo đường chim bay, tiếp tục triệt thoái về phía nam.

Giải tán: Khoảng 2 ngày sau đoàn quân về tới tiểu khu Phan thiết, anh Ba bàn bạc với các cấp chỉ huy tiểu đoàn và đi đến quyết định cuối cùng. Trưa ngày 18 tháng 4 ông ra lệnh cho mọi người buông súng, tan hàng, ai về nhà nấy. Lý do, hết lương thực, đạn dược.

Đoạn kết: Sau ngày 30-04-1975, truyền đơn rải từ quận Hàm Thuận, Phan Thiết xuống tới Khu rừng lá ở Hàm Tân, cây số 25 tỉnh Bình Tuy, vào đến Ngã ba Dầu Giây thuộc tỉnh Long Khánh, kêu gọi đồng bào và các cựu quân nhân đầu quân, tìm vào chiến khu “Rừng Lá” để kháng chiến, tiếp tục chiến đấu chống cs. Tờ truyền đơn ký tên Đại tá Ngô Tấn Nghĩa và Đại úy Mai Vi Thành như một xác tín nhằm kêu gọi phục quốc. Dù thật hay giả hoặc phản gián, những tờ truyền đơn này đã trực tiếp vinh danh “Anh Ba”, người hùng Bình Thuận, người đã gây cho du kích cộng sản nhiều khiếp đảm, kinh hoàng qua trận đánh cuối cùng tại Thiện Giáo. *** Anh Ba còn cho biết thêm, khi TĐ 230/ĐPQ về tới Phan Thiết, việc đầu tiên là tìm đến kho đạn của tiểu khu để bổ xung vũ khí, trang bị… trong đầu ông đã hình thành một tuyến phòng thủ mới, chuẩn bị ngăn địch vào thị xã, nhưng khốn thay, cả kho đạn cũng đã được di tản? Ông bất lực, ngao ngán nhìn thị xã Phan Thiết lúc đó coi như đã hoàn toàn bỏ ngỏ, và địch thì vẫn chưa vô tới! Thiệt tình!

Sau khi toàn quân ”giải tán”. Anh Ba và mấy người anh em thân thương, tìm ra phía biển…
Mai về đâu mảnh cơ đồ,
Các Anh gian khổ cam go giữ gìn?

Thơ Ý Nga (Trận tàn, ta vẫn chưa thua)

Ghi lại theo lời tường thuật của “Anh Ba”, Tiểu đoàn trưởng – TĐ 230 Địa phương quân, Đại úy Mai Vi Thành. Ở vào tuổi này, ông chỉ mong lớp con cháu, hậu duệ luôn nhớ đến cha ông, một lần kia đã chiến đấu kiêu hùng để bảo vệ miền nam thân yêu. Mỗi năm, khi tháng tư về, dành đôi phút, cùng nhau tưởng niệm đến những chiến sĩ VNCH đã “vị quốc vong thân”, những đồng bào đã hy sinh vì lý tưởng Tự Do, được vậy là quý lắm.

Tháng tư, mùa quốc hận, 2018.

Trần Kim Bằng

Chú thích:

* Cựu Tổng thống Bush phát biểu trong một cuộc phỏng vấn.

** Như đã nói, các vị được chỉ định về nắm quận trưởng TG. thời gian này đều… rét vì 3,4 vị tiền nhiệm TG. khi về nhậm chức đều bị tử thương hay hy sinh ngay khi còn tại vị. Thiện Giáo với nhiều làng xã xôi đậu nên địch biết mọi chuyện phía ta, chúng có sẵn “đề lô” trong dân và pháo từ bên kia sông cứ rót vào bộ chỉ huy chi khu quận, sau đó rê chạy, các quận trưởng cựu hay mới về TG. tuổi thọ chỉ là may mắn. Quận trưởng quanh năm uống cà phê…dưới hầm. Anh Ba vốn gốc tác chiến nên coi đây là chuyện nhỏ, ông chỉ thị cho 2 trung đội trinh sát và tình báo giả dạng du kích vc., vác AK lẻn qua bên kia sông trà trộn chung với chúng, vài ngày là giải quyết xong vụ nổ pháo chạy. Khi ông về xử lý thường vụ chi khu TG. thế cho Thiếu Tá Nguyễn văn Lợi (bị thương vì pháo địch, về dưỡng thương ở Tổng Y viện Cộng Hòa), chỉ cần vài tuần là bình định, yên ổn.

*** Điểm qua sách báo việt cộng về trận Thiện Giáo, chỉ thấy có 1 bài vinh danh 1 người đại đội trưởng vc. đánh thắng trận nào đó rất chung chung ở khu 6, Phan Thiết, và thậm chí không nhắc đến tên Thiện Giáo trong những bài viết. Một số chi tiết về lực lượng, tên gọi (quân đoàn, khu…) cộng sản được tham khảo và trích từ báo SGGP cũ, nguồn VTV, nhưng hiện nay các nguồn link gốc của họ đã hết xử dụng được.

–  Bản họa đồ vị trí đóng quân của ta và các mũi tấn công của địch.

–  Hình ảnh internet (minh họa): Các chiến sĩ xây dựng nông thôn, và 2 người sĩ quan Địa Phương Quân (dưới).

Xay Dung Nong Thon

Trung đoi truong nghia quan, Khiet nguyen1

https://vietbao.com/p112a279704/hoi-ky-tran-danh-tai-chi-khu-thien-giao-thang-4-1975

Thursday, July 27, 2023

TÌNH HÌNH KHU VỰC PHÍA NAM CỦA QUÂN KHU 2 VNCH TỪ THÁNG 10/1967 ĐẾN THÁNG 09/1968.

====

- Đầu tháng 12 1967, cuộc hành quân (HQ) có tên Klamath Falls kéo dài 6 tuần dọc ranh giới giữa Bình Thuận và Lâm Đồng, nhằm tìm kiếm BCH quân khu 6 của CS, với sự tham dự của năm TĐ Mỹ, ba TĐ của trung đoàn 44 sđ 23 và một TĐ BĐQ của VNCH. Tin tình báo thu thập trong HQ này cho thấy các đv chánh quy của VC đã rút về những địa điểm an toàn hơn ngay trước khi HQ khởi diển, khiến người ta phải nghĩ rằng không biết bằng cách nào, CS đã biết trước cuộc HQ này? Ví dụ 95 người thuộc BCH của Quân Khu 6, đã chia thành nhiều nhóm và đi về các hướng khác nhau. Quân đồng minh chỉ phá hủy nhiều kho chứa và hệ thống hầm trú ẩn, vì địch quân đã né tránh đụng độ. Trong khi trước đó chỉ hơn nửa tháng (ngày 12/11/1967), TĐ 186 của quân khu 6 này, đã tấn công một đoàn xe kéo pháo di chuyển giữa Di Linh và Đà Lạt, do ĐPQ và 3 xe M-113 bảo vệ, làm chết ít nhứt 65 lính và hư hại 2 đại bác. 

Sau đây là chuyển ngữ từ trang 208 đến 213 của quyển Staying the Course của Erik Villard.

. . .                         

"BẢO VỆ PHÍA NAM QUÂN KHU 2.

"Vùng bờ biển phía nam của miền Trung (south-central coast) này không sôi động như các phần còn lại của quân khu (QK) 2. Các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Tuyên Đức, và Lâm Đồng của QK 2 và Bình Tuy của QK 3 có dân số 680.000 người, bằng khoảng 2/3 dân số của chỉ riêng tỉnh Bình Định. Hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận tương đối khô do gió mùa ko thể ngưng đọng thành mưa khi bay ngang những đồi thấp ven biển; vùng cao nguyên tiếp giáp ven biển này phần lớn là rừng. Do đó, sản lượng lúa gạo của vùng này khoảng 88.100 tấn, chỉ hơn 1/4 sản lượng hàng năm của tỉnh Bình Định. Tuy nhiên, vùng này đóng vai trò quan trọng với các chiến trường ở bắc và nam của nó. Phe nào kiểm soát vùng này sẽ tác động dễ dàng đến các chiến trường kể trên.


Theo tổ chức của CS, bốn tỉnh kể trên của QK 2 và tỉnh Bình Tuy thuộc về Quân Khu 6 của CS-chỉ huy bởi tướng Nguyễn minh Châu. Được mô tả bởi một sĩ quan Mỹ như là một "tư lịnh đây mưu trí (crafty) và một chuyên gia về các cuộc quân kiểu quấy rối của du kích," Châu chỉ huy bốn tiểu đoàn VC và năm đại đội cấp huyện. Dù với quân số khiêm nhường, y vẫn có thể khiến QL-1 ko thể xử dụng trong vài năm qua và cũng luôn né tránh các cuộc hành quân lớn của đối phương bằng cách cho quân của y thường xuyên di chuyển qua lại ranh giới giữa các tỉnh hay các quận. (Nói thêm: Theo thói quen cố hữu, các tỉnh hay quận ít khi hành quân ở vùng liên ranh. VC đã lợi dụng sơ hở này để né tránh các cuộc hành quân -- người dịch).

Trung tướng William Rosson, tư lịnh của BCH lực lượng 1 dã chiến của Mỹ đặt tại Nha Trang, chỉ huy khoảng 55 ngàn lính Mỹ và 38 ngàn quân Hàn Quốc tại QK-2 từ tháng 7/1967, đã triển khai 10 TĐ quân Mỹ và 18 TĐ quân Hàn quốc, phối hợp với 16 TĐ Nam quân hành quân ở vùng ven biển đông dân này của QK-2; chỉ để 9 TĐ quân Mỹ phối hợp với 12 TĐ Nam quân hành quân ở vùng Cao nguyên Trung phần thưa dân. Tướng quân cũng duy trì một lực lượng đặc nhiệm nhỏ, hành quân trực thăng vận do TĐ 2/7 sư đoàn 1 không kỵ đảm trách, đóng tại căn cứ hỏa lực Betty, phía nam của Phan Thiết-tỉnh lỵ của Bình Thuận, nhằm yểm trợ Nam quân tại bờ biển phía nam của QK2. TĐ này đã đến tỉnh này tháng 8/1966 với nhiệm vụ tìm và diệt địch, trong cuộc hành quân (HQ) mang tên BYRD, dự định kéo dài 2 tháng. Lực lượng đặc nhiệm trực thăng vận này đã chứng tỏ hữu hiệu đến độ tướng Westmoreland đã quyết định kéo dài nhiệm vụ của họ. Được trang bị với 38 trực thăng với hai pháo đội gồm một pháo đội 105-ly và một pháo đội 155-ly, lực lượng đặc nhiệm này đã có một hỏa lực và tính cơ động mà Nam quân ko thể có. (Nói thêm: Theo tổ chức của QLVNCH, mỗi sđ bộ binh có 3 trung đoàn bộ binh, yễm trợ bởi 3 TĐ pháo 105-ly và một TĐ pháo 155-ly. Khi cần hành quân trực thăng vận, phải nhờ trực thăng của không quân Mỹ hay VNCH. Trong khi đó, dưới quyền TĐ này có 38 trực thăng và hai pháo đội 105 và 155-ly, mỗi pháo đội có 6 khẩu -- người dịch). 

Lực lượng đặc nhiệm BYRD này đã hợp tác chặc chẻ và tốt đẹp với các giới chức VN. TL của lực lượng này kiêm luôn cố vấn trưởng của tỉnh Bình Thuận, mà tỉnh trưởng là trung tá Nguyễn Khắc Tuân, cũng là chỉ huy của trung đoàn trưởng 44 sđ 23 bộ binh VNCH. Sự phối hợp này tốt đến nỗi, tính tới mùa thu 1967, lực lượng đặc nhiệm này đã có thời gian hoạt động lâu nhứt. (Nói thêm: Như đã nói ở trên, lực lượng đặc nhiệm này ban đầu được thiết kế để hoạt động trong 2 tháng, sau đó các đv của lực lượng sẽ được trả về đv gốc -- người dịch). 

Thật ko ngạc nhiên khi lực lượng này đã tiến hành nhiều cuộc hành quân phối hợp. Công thức điển hình là một đại đội Mỹ phối hợp với một đại đội VNCH. Cũng có khi một đại đội Mỹ phối hợp với một trung đội VNCH hay một đại đội VNCH phối hợp với một trung đội Mỹ. Quân VNCH thì rành địa thế và dân tình, quân Mỹ có thế mạnh về hỏa lực, tiếp vận và tải thương. 

Họ cũng có các hoạt động dân vận (outreach). Phần lớn tập trung ở Phan Thiết và những cánh đồng phì nhiêu ở phía bắc của tỉnh lỵ này, nơi mà 3/4 của 250.000 dân của tỉnh Bình Thuận sống và phần lớn lúa trồng ở đây. Lính Mỹ và VNCH đã bảo vệ nông dân thu hoạch mùa màng, phân phối đồ cứu trợ, thực hiện các dự án nhỏ về xây dựng, và chăm sóc y tế miễn phí cho dân. Toán công binh của lực lượng đặc nhiệm tu sửa đường xá để việc đi lại mua bán của dân thuận lợi hơn. Do còn thiếu sót trong khi thực hiện nên hạ tầng cơ sở tại vùng này chưa đạt kết quả đáng kể, tuy nhiên một đại diện của cơ quan CORDS, khi thăm viếng vùng này tháng 12 1967 đã ghi nhận những thay đổi đáng chú ý (startling changes). Chẳng hạn như tháng 6, hoạt động kinh tế ở vùng này rất ít; người dân có vẻ nhút nhát và đã chạy vào nhà khi viên chức chánh phủ tới gần. Nhưng vào tháng 12, vị đại diện này đã báo cáo rằng "phụ nữ đã mang rau quả ra chợ, đường xá tấp nập xe bò, xe đạp và một ít xe gắn máy. Dân đã gặt lúa, chuẩn bị đồng áng để gieo trồng vụ mùa mới. Trong khi việc thực hiện các chương Phát Triển Cách Mạng chậm so với thời biểu, tiến bộ đáng kể đã được thực hiện trong lãnh vực tâm lý, tuy khó đong đếm (less tangible), nhưng lại quan trọng hơn." Ông đã kết luận, rõ ràng là lực lượng đặc nhiệm BYRD đã "đóng góp thành công trong việc cải thiện an ninh trong tỉnh Bình Thuận, và tiến bộ về bình định sẽ giảm sút một khi lực lượng này rút đi." (Nói thêm: cơ quan CORDS, viết tắt của Civil Operations and Revolutionary Development Support, một chương trình bình định lãnh thổ, được Mỹ hỗ trợ, dưới sự điều hành của Bộ Xây Dựng Nông Thôn VNCH -- người dịch). 

Dù quân đồng minh đã đạt những tiến bộ (stride) về bình định khu vực này trong năm 1967, vài đv Việt Cộng, đáng kể nhứt (most notetably) là TĐ 840 chính quy và TĐ 482 địa phương, vẫn ẩn núp (lurk) gần tỉnh lỵ. Những đv này và 6 đại đội quân địa phương đã tạo một đe dọa liên tục, ko chỉ riêng tỉnh lỵ Phan Thiết, mà còn đối với nhiều tiền đồn nhỏ của Nam VN, rải rác khắp vùng quê. 

Bước vào 2 tháng cuối của năm 1967, một trong những mục tiêu chánh của tướng Westmoreland ở bờ biển đông nam này là mở và cải thiện QL-1 từ Xuân Lộc đến Phan Rang, do đó sẽ phục hồi việc giao thông giữa QK-3 và QK-2. Gánh nặng này phần lớn giao cho lực lượng đặc nhiệm BYRD. Bảo vệ bởi TĐ 2/7 Thiết kỵ Mỹ, công binh Mỹ đã xây lại và sửa chữa những đoạn hư hỏng trên QL-1 đoạn chạy qua tỉnh Bình Thuận. Công binh Mỹ cũng giúp công binh VNCH lập các tiền đồn cấp trung đội dọc theo QL, canh giữ bởi ĐPQ. Một số căn cứ hỏa lực cấp đại đội cũng được lập dọc QL-1 cho trung đoàn 44 VNCH, thay vì để họ đóng gần tỉnh lỵ. Hệ thống các tiền đồn này nhằm bảo vệ khu vực dân cư của tỉnh, khiến quân cs đóng trên rừng núi phía tây ko thể vượt QL-1 mà ko bị phát hiện. 


  Một lính Mỹ chuẩn bị máy chiếu phim và hệ thống
   âm thanh để trình chiếu những phim ủng hộ chánh 
       quyền cho thường dân ở Phan Thiết.

Địch quân đã chống lại hệ thống phòng thủ này khi ngày 8/11/1967 TĐ 840 và đại đội 450 quân địa phương tấn công đồn MARA, một đồn nhỏ trên QL-1 khoảng 15km đông bắc Phan Thiết. Đồn này chứa BCH và một đại đội tác chiến của TĐ 3/44 sđ 23 bộ binh, và một số lính công binh đang hoàn thiện công tác xây đồn. Viên cố vấn ở đồn MARA gọi không trợ. Chỉ huy của lực lượng đặc nhiệm, trung tá Joseph Griffin Junior, nhanh chóng đã gửi 3 trực thăng UH-1 trong đó có một chiếc bay ở cao độ thấp từ 50 tới 400 feet, chỡ theo 2 hay 4 người lính trang bị súng M-16, có gắn kính nhìn đêm, xem hình.
                                            
Khi người lính thấy địch nhờ kính này, họ bắn đạn chỉ đường (tracer fire) để đánh dấu mục tiêu. Trong khi chiếc thứ hai bay cao hơn để thả hỏa châu. Chiếc thứ ba trang bị rốc-két. Một máy bay Hỏa Long AC-47 tham gia trận đánh. Điều này đã giúp quân phòng thủ giữ đồn tới rạng đông tới khi một đại đội của TĐ 2/7 thiết kỵ Mỹ tiếp viện. Quân phòng thủ chết 28 và 35 bị thương, nói lên sự ác liệt của trận đánh. Cộng quân có 42 chết. Chỉ hai ngày sau trận đánh, công binh VNCH đã hoàn tất việc xây dựng đồn MARA, giúp cho quân đồng minh có một căn cứ mạnh mẻ để bảo vệ đoạn đường này của QL-1.
Hai tuần sau, tướng Châu của CS đã cho thấy quyết tâm (willingness) đánh Mỹ của y. Trận đánh đã bắt đầu khi nhiều đạn cối rớt vào quận lỵ Thiện Giáo, khoảng 20km tây nam của đồn MARA. Trung tá Griffin liền gửi một trung đội bộ binh để tìm địch quân. Khi các trực thăng đổ lính xuống một rừng thưa gần đồn này, địch quân từ khu vực chung quanh đã bắn họ bằng súng súng nhỏ và đại liên. Họ đã lọt vào một bẫy giăng ra bởi TĐ 482 VC. Các trực thăng phải rút lui sau khi vài chiếc bị thiệt hại trong khi trung đội này phải chiến đấu đơn độc (fight for its life).
Trung tá Griffin đã nhanh chóng gửi phần còn lại của TĐ để cứu trung đội này. Bắc quân đã đón chào các trực thăng cứu viện với đạn đại liên và B-40. Trực thăng đã cố gắng đổ quân dù nhiều chiếc bị thiệt hại và hai chiếc phải đáp khẩn cấp (crash-land). Sau vài giờ chiến đấu, TĐ 2/7 thiết kỵ đã đẩy lui TĐ 482 và cứu trung đội này. Quân Mỹ bị thiệt hại với 11 chết và 36 bị thương, trong khi đối phương có khoảng 21 chết. 
Ngày 1 tháng 12 1967, TĐ 2/7 thiết kỵ này chấm dứt hành quân BYRD để tham chiến với lữ đoàn 1 sđ 101 Nhảy Dù, trong một cuộc hành quân (HQ) có tên Klamath Falls dọc theo ranh giới giữa tỉnh Bình Thuận và Lâm Đồng. Ba TĐ của trung đoàn 44 sđ 23 VNCH và TĐ BĐQ cũng tham gia cố gắng này nhằm tìm và diệt BCH của Quân Khu 6 VC và bất cứ đv chánh quy nào hoạt động trong khu vực này. Mối quan tâm đặc biệt của họ là TĐ 186 địa phương đã từng gây thiệt hại nặng (maul) cho vài đại đội ĐPQ và các thành phần của trung đoàn 44 nói trên vào ngày 12/11/1967, giết ít nhứt 65 lính chánh phủ và gây hư hại hay phá hủy hai khẩu 105-ly. Mục tiêu thứ 2 của cuộc hành quân (HQ) này là cải thiện an ninh trên QL-1 để xe cộ di chuyển an toàn giữa Phan Thiết và Nha Trang.
Trong 6 tuần sau đó, quân đồng minh đã tìm và phá hủy nhiều kho chứa và các hệ thống hầm trú ẩn dọc theo ranh giới Lâm Đồng và Bình Thuận, một số kho lớn đủ phục một TĐ, nhưng VC đã né tránh đụng độ. Tin tình báo thu thập trong HQ này cho thấy các đv chánh quy của VC đã rút về những địa điểm an toàn hơn ngay trước khi HQ khởi diển, khiến người ta phải nghĩ rằng ko biết bằng cách nào, VC đã biết trước cuộc HQ này? Ví dụ 95 người thuộc BCH của Quân Khu 6, đã chia thành nhiều nhóm và đi về các hướng khác nhau. Tổng kết, phe đồng minh cho biết đã hạ 156 địch trong 6 tuần hoạt động. Gần phân nửa số này là công của một trong năm TĐ Mỹ tham chiến, đó là TĐ 2/7 thiết kỵ, vì họ quen thuộc khu vực này. 
Về mục tiêu thứ hai của cuộc HQ, việc mở lại QL-1, một đoàn công-voa Nam VN đã di chuyển an toàn từ Nha Trang đến Phan Thiết và ngược lại giữa 18 - 21/12/1967. Dù một vài đoạn của QL-1 vẫn còn mất an toàn vào ban đêm, việc đi lại của dân đã bắt đầu gia tăng mạnh mẻ giữa Phan Thiết và Nha Trang vào ban ngày, khiến việc buôn bán làm ăn trở nên thuận lợi do người dân ở vùng bờ biển đông nam này và cung cấp cơ hội cho thịnh vượng lâu dài"./.
Nói thêm: Trong cuộc HQ Klamath Falls kể trên, có sự tham dự của TĐ 11 BĐQ, mà anh hùng Vương Mộng Long từng là đại đội trưởng. TĐ này trước đó do thiếu tá Nguyễn văn Huân chỉ huy, sau đó là đại úy Hồ Đắc Đàm. Thiếu úy pháo binh Nguyễn Trãi, trong bài "Một người anh BĐQ" đã viết rằng TĐ 11 BĐQ, dưới thời thiếu tá Huân, mà ông là tiền sát viên đã từng truy đuổi một tiểu đoàn chánh quy sau khi đv này phục kích và gây thiệt hại nặng (98/100) cho một đại đội ĐPQ và ba xe M-113 đi cùng để bảo vệ một trung đội pháo binh gồm hai xe kéo pháo trên QL-20, trên đoạn Phú Hiệp từ Di Linh đi Đà Lạt. Chi tiết này gần trùng hợp với bài viết trên đây của Mỹ. Thời đó đại tá Trương Quang Ân làm TL của sđ 23 bộ binh -- người dịch.
. . .
San Jose ngày 28/7/2023
Tài Trần

                             




Wednesday, July 26, 2023

 https://maps.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/tanh_linh-6531-3.pdf

https://maps.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/dinh_quan-6431-2.pdf

Tuesday, July 25, 2023

 Chiến thắng Hoài Đức- Bắc Ruộng, một trận đánh xuất...

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, đế quốc Mỹ trực tiếp nhảy vào Miền Nam hất cẳng thực dân Pháp, dựng Ngô Đình Diệm làm tay sai hòng chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự và thuộc địa kiểu mới của Mỹ.

Được đế quốc Mỹ ủng hộ, Ngô Đình Diệm giương cao ngọn cờ chống cộng, thẳng tay đánh phá cách mạng, chủ trương tố cộng, diệt cộng, đàn áp khủng bố dã man những người yêu nước, kháng chiến cũ, dập tắt phong trào cách mạng của đồng bào nước ta ở miền Nam.

Có Mỹ viện trợ tiền bạc, vũ khí, phương tiện chiến tranh, giúp xây dựng quân đội chính quy, dân vệ, cảnh sát. Diệm mở các chiến dịch tố cộng, đàn áp khủng bố và đưa ra luật 10/59 lê máy chém đi khắp nơi để giết hại những ai chống lại chế độ bán nước của chúng.

Trong 5 năm tiến hành chiến tranh, chính quyền Diệm đã bắt giam 275.000 người trong 874 nhà tù, giam lỏng cả triệu người trong 252 khu dinh điền, khu trù mật, tra tấn tàn phế trên 530.000 người và giết chết hơn 80.000 người.

Ở Bình Thuận, sau nhiều lần, bắt giam, bắn chết, buộc ly khai hàng ngàn người yêu nước, kháng chiến, địch cho là cơ bản đã đánh tan phong trào cách mạng ở đồng bằng, nên từ đầu năm 1957 chúng chuyển lên đánh phá miền núi với tên gọi lừa bịp là chiến dịch “Thượng du vận”. Cuối năm 1955 trong chiến dịch Trương Tấn Bửu, địch cũng đánh miền Đông Tánh Linh. Với phương châm nhổ sạch cơ sở cách mạng ở miền núi, lấy người dân tộc trị người dân tộc, chúng càn vào các vùng căn cứ của ta lùa hết dân vào các khu tập trung.

Đến năm 1959, thì các xã miền Đông, Miền Bắc Tánh Linh đều bị dồn vào các khu tập trung Bắc ruộng, Đồng Kho, Đồng Me, một số dân vào Gia Bát, Láng Cóc v.v.. Chúng lập tề điệp, xây đồn bót và tiến hành tố cộng như ở đồng bằng.

Năm 1959, Ngô Đình Diệm thành lập tỉnh Bình Tuy gồm ba huyện Hàm Tân, Tánh Linh, Hòai Đức và thị xã Lagi. Ở miền núi Tánh Linh đồng bào kiên quyết đấu tranh không lập tề không chịu dồn về các khu tập trung.

Địch dồn dân qui mô, lập hệ thống “dinh điền” Hoài Đức, Tánh Linh: Sau khi chia huyện Tánh Linh cũ thành 2 huyện, Hoài Đức ở Bắc sông La Ngà, Tánh Linh ở Nam Sông La Ngà, địch di dân lớn, nhiều đợt từ 1957 đến 1959, gồm hàng vạn người ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, lập các “dinh điền” Bắc Núi, Bắc Ruộng, Nghị Đức, Mê Pu, Sùng Nhơn ở Hòai Đức và Gia An, Võ Xu, Hiếu Tín, Đồng Kho, Đồng Me, Tà Bao, Quan Hà ở Tánh Linh,.. Địa điểm dinh điền ngang cấp xã có bộ máy hành chánh đứng đầu là địa điểm trưởng. Chúng vừa xây dựng dinh điền vừa đẩy mạnh tố cộng kiểm sóat khống chế chặt quần chúng nên thực chất khu dinh điền cũng là một khu tập trung.

Khu Bắc Ruộng ở ngay tại quận lỵ Hoài Đức với số dân các xã: Bắc Ruộng 100, La Ngâu 300, La Dạ 1.200, Măng Tố 800 là một dinh điền lớn tòan người Thượng nên địch xây dựng “dinh điền kiểu mẫu” để tuyên truyền thắng lợi chính sách “Thượng du Vận”. Đồng bào đã đấu tranh đòi địch phải cho ra rừng chặt cây, kiếm củi, hái rau, săn thú,..

Cuộc sống đồng bào Thượng rất khó khăn buộc địch thường phải phát thực phẩm, thuốc men, quần áo để mị dân và làm cho họ không hướng về rừng núi nữa. Đích thân Diệm, Nhu thường đến trực tiếp đôn đốc xây dựng dinh điền này, nhưng đồng bào ở đây được đi lại tương đối tự do ngòai rừng, bà con lại gữi được liên lạc với cán bộ, được giáo dục phát động căm thù địch, giữ vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng, càng tích cực đấu tranh và chuẩn bị cho ngày trở lại với đất đai rừng núi ông bà.

Đơn vị 2-9 tỉnh thành lập ngày 02-9-59 nên có tên là đơn vị 2-9 có 1b (thiếu) 24 người. Cán bộ là sĩ quan tập kết về. Chiến sĩ là cơ sở chính trị thóat ly, được bố trí phân tán trong dân, làm công tác dân vận, tránh địch và không được nổ súng.

Đầu năm 1960 địch thấy các xã Cà dòn, Tố La còn ở trên núi xa nên chủ trương dồn hết luôn về Bắc Ruộng. Ngày 5-5-1960 quận Hòai Đức huy động một số lớn quân cộng hòa, bảo an ập vào các xóm Cà Dòn dồn dân về Bắc Ruộng - Hòai Đức. Đơn vị 2-9 ở luôn trong dân không đấu vũ khí, nhưng vẫn chưa được nổ súng, chỉ giúp dân bố phòng và hướng dẫn tránh lánh khi có địch. Qua một tháng, tỉnh sơ kết công tác biểu dương 2-9 làm tốt công tác dân vận. Ngày 7-5-1960 địch dồn tiếp 1.800 dân Tố La cùng về khu tập trung Bắc Ruộng, trừ 3 xóm Ten Làng, Tố Nỏ, Núi Nhùm không bị dồn.

Chiến thắng Hoài Đức - Bắc Ruộng

Từ khi địch dồn Cà Dòn, Tố La (tháng 5-1960) tỉnh ủy đều thấy cần có họat động võ trang để hỗ trợ phong trào nhưng đánh thế nào cho đúng phương châm thì còn cân nhắc tính tóan nhiều. Và khi đi vào thảo luận thì còn nhiều ý kiến khác nhau. Khoảng giữa tháng 7-1960 tỉnh ủy đã nhất trí cao về chủ trương đánh chi khu quận lỵ Hòai Đức phát động quần chúng nổi dậy phá khu tập trung Bắc Ruộng đưa dân về, chậm nhất cuối tháng 7 phải đánh đưa dân về sản xuất mì, khoai, bắp chống đói.

Chiều 28-7, đơn vị 2-9 và các lực lượng tham gia chiến đấu đến vị trí tập kết. Sáng 29-7, Đảng ủy nghe chỉ huy trưởng báo cáo quyết tâm và ra nghị quyết lãnh đạo. Mọi việc chuẩn bị hòan thành trong ngày. 14 giờ ngày 30-7 làm lễ xuất quân, sớm hơn 1 giờ vì trời mưa lớn. Một tình huống bất thường là ngày 30-7 dân không ra rừng nên không gặp được cơ sở để nắm tình hình. Đảng ủy họp bất thường và quyết định vẫn đánh.

22 giờ qua suối Đạ Cọp, nước lúc này rất lớn. Quá 0 giờ (rạng ngày 31-7) trận đánh bắt đầu; Ta áp đảo địch hoàn toàn. Khỏang 4 phút giải quyết xong trận nội, các lô cốt đồn và chạy tù. Sau 10 phút đã làm chủ toàn bộ đồn Bảo An, bắt nhiều tù binh.

Sau hơn 2 giờ chiến đấu, ta làm chủ toàn bộ chi khu, quận lị Hoài Đức và khu tập trung Bắc Ruộng, diệt bắt trên 300 tên địch làm tan rã 190 thanh niên cộng hòa có vũ trang, bắt tên chi khu trưởng Y Tài, địa điểm trưởng Phan Văn Thoi, tên quận trưởng Vương Văn Hòa bị thương nặng. Tên chi trưởng, chi phó công an cảnh sát chết trong trận. Ta thu trên 250 súng các lọai, có 12 trung liên, 10 tiểu liên, 9 súng ngắn và nhiều chiến lợi phẩm khác. Giải phóng 40 cán bộ, cơ sở bị địch giam giữ; trên 5000 đồng bào trên khu Bắc Ruộng đã nổi dậy phá khu tập trung về căn cứ an tòan.

Chiến thắng Hoài Đức- Bắc Ruộng có ý nghĩa lịch sử rất to lớn, đây là trận đột phá mở đầu phong trào đồng khởi, giành quyền làm chủ xã, ấp, mở mảng mở vùng ở miền núi và vùng đồng bằng Bình Thuận, tạo hành lang nối liền căn cứ Bình Thuận với Đông Nam bộ và Nam Tây Nguyên.

Về phía địch, chúng coi đây là thất bại nặng nề đầu tiên của chính sách Thượng du vận, dùng người Thượng trị người Thượng, tách nhân dân khỏi cách mạng trong chiến lược chiến tranh xâm lược Miền Nam Việt Nam của chúng.

Chiến thắng Hoài Đức- Bắc Ruộng được các nhà khoa học quân sự, các tướng lĩnh quân đội, cán bộ, chiến sĩ trực tiếp tham gia trận đánh 31/7/1960 đánh giá cao.

Bia chiến thắng Hoài Đức- Bắc Ruộng được dựng tại trung tâm xã Bắc Ruộng, huyện tánh Linh, phía bắc sông La Ngà. Bia có chiều cao 5,52m, chiều rộng 4,85m cùng nhiều công trình phụ, các mảng phù điêu hỗ trợ, được cấu trúc như một quyển sách đang mở ra ghi tên tuổi những cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Bình Thuận đã lập nên chiến tích xuất sắc trong trận đánh đêm 30 rạng ngày 31/7/1960.

Bia chiến thắng Hoài Đức - Bắc Ruộng cùng với địa điểm khu vực bao quanh là di tích lịch sử tiêu biểu của quân dân Bình Thuận trong cuộc chiến chống Mỹ cứu nước đã được Bộ Văn hóa Thông tin (Bộ Văn hóa - Thể thao- Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia theo quyết định 3211/QĐ-BT ngày 12 tháng 12 năm 1994.

http://binhthuan.gov.vn

 

Ngôi Thánh Đường Bị Bỏ Quên – Hồ Đinh

Hồ Đinh
Viết nhớ bạn bè Tiểu Đoàn 1/Trung Đoàn 43/SD18BB – KBC 4424Chúng tôi đang chuẩn bị nhận thêm tiếp tế, thì có lệnh rút gấp về Xuân Lộc, để tăng cường cho chiến trường Bắc Ruộng, thuộc quận Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy đang bị Việt Cộng cưỡng chiếm. Hôm đó là ngày 20 tháng 12 năm 1965.

Sáu giờ chiều, Tiểu đoàn đã rút ra Liên Tỉnh lộ 4 (Củ Mi-Tân Phong) đợi xe tới rước. Ngồi bên vệ đường, bên trong là rừng cao su ngút ngàn, như muốn nuốt trửng con lộ đất đỏ ngoằn nghèo buồn hiu muôn thuở. Hôm nay sao nó hiền lành quá. Nhưng sự đời dâu biển biết đâu mà mò nên ai biết trong chốc lát, khi đoàn xe chở lính lăn bánh, bao nhiêu bất trắc lại sẽ dồn dập đến, vì du kích ba tỉnh Bình Tuy-Long Khánh-Phước Tuy, rất là thiện nghệ trong việc gài mìn bẫy, đặt hầm chông, bắn sẻ, quăng lựu đạn và ám sát dân lành. Lính đâu có sợ bị phục kích nhưng mười người như một, rất sợ trúng mìn bị thương, phải cưa chân tay hay trở thành phế nhân què, đui, dung nhan hủy hoại. Lúc đó đời trai coi như đã dứt, vì em sẽ giã từ gác trọ, để lên xe hoa với kẻ khác.

Hai tháng qua, ngày đêm lặn lội trong rừng sâu trên mưa nắng, dưới đỉa vắt, rắn mìn chông được gài giăng khắp vùng Xuyên Mộc, Đất Đỏ, Đức Thành. Đôi giày bố và bộ đồ trận, được đổi mới đợt trước trong căn cứ Phú Mỹ, doanh trại của Chiến Đoàn 43BB, cũng đã rách nát bạc màu, thì nay lại có lệnh lội tiếp không có ngày N. Đời lính VNCH trước năm 1975 tàn nhẫn và bi thảm thế đó, nên đôi lúc thoáng nghĩ bâng quơ và nay nhìn lại, thì thật là bất công, thiệt thòi và bị đời hiếp đáp quá đáng.

Rồi càng thấy tức cười hơn, khi nhìn lại những thành phần bệnh hoạn no cơm ấm cật, vô ý thức và chỉ vì muốn phô trương tài năng của mình, mà tận tuyệt chà đạp trên sự khổ đau của lính, những người đã bán mạng mình, để bảo vệ sự sống ký sinh cho họ. Ôi còn mùi gì khiến ta phải nôn mửa hơn, khi khắp nơi trên quê hương máu lửa ngập trời , bao nhiêu nam nữ thanh niên, lần lượt nối tiếp, bỏ trường, bỏ lớp, quên tình yêu và gia đình thi hành bổn phận, tiến ra sa trường hứng đạn lãnh mìn.

Trong lúc đó, lại có một bọn tìm đủ mọi cách để trốn quân dịch ở ngoại quốc hay ngay trong lòng đô thị, không bao giờ biết tới chiến trường, nên không phải đối đầu với sự chết chóc và đui mù hay giả bộ không biết sự tàn bạo dã man, có một không hai của Việt Cộng, tay sai cuả Cọng Sản đệ tam quốc tế. Trong khi bộ đội Bắc Việt hàng hàng lớp lớp tấn công quân dân Miền Nam, thì đám phản chiến, mà hầu hết đều tự xưng là trí thức, khoa bảng nhưng mặt thật chúng chỉ là đệ tử của Che Guevara,The Beatles, Bertrand Russell, Jean Paul Sartre, Herbert Marcuse, liên tục biểu tình đòi hòa hợp hòa giải với giặc.. Nhưng hề hơn hết có lẽ là những thây ma không tim không óc, chẳng khác nào hình nộm, luôn đấm ngực đòi hòa bình hay nằm dài chờ bồ câu trắng hiện ra trong máu lệ. Đã vậy còn la ó , xin xỏ, gào khóc liên hồi đâm sau lưng người lính :

“Hãy ngồi xuống đây
như loài thú hoang
yêu nhau ngoài đồng
dưới nắng ban mai phô thân trần truồng
kiếp sống hoang sơ..”
( Lê Uyên Phương )

Ăn chơi trác táng rồi la ó rên rỉ nhưng nào đã hết đâu, mà còn nữa, còn rất nhiều những đau đớn xót xa, những âm thừa nhức nhối, cứ thản nhiên rõi mãi vào tâm can người lính, khiến nhiều lúc cũng muốn như họ, trốn quân dịch hay mang mặt nạ để nhân danh lãnh tụ, tôn giáo, bịp chúng lánh đời. Sau đó tìm hang ổ rất bình yên ở hậu tuyến để phá hoại chính quyền :

“Giã từ em, anh đi trung sĩ
em ở nhà lấy Mỹ nuôi con
bao giờ hết việc nước non
về nhà đã có Mỹ con anh bồng..”

– ” Tôi có người yêu chết trận Pleime
Tôi có người yêu chết trận Ashau
Tôi có người yêu nằm chết cong queo
Chết vùi lòng đèo, chết cạnh gầm cầu
Chết nghẹn ngào mình không manh áo.

Mẹ mong con mau bước về nhà
Mẹ mong con lũ con đường xa
Một ngục tù trên quê hương
Người Việt Nam quên nòi giống ”
( Trịnh Công Sơn )

– “Con về thăm mẹ
tay cầm lưỡi lê
mẹ nhìn ngơ ngác
ngủ đi con, ngủ đi con
rồi ngày mai khôn lớn
giết bạn bè, anh em
bán nước mà làm quan ..”
( Miên Đức Thắng )

Mỗi lời hát là một trái phá, từng ca khúc như một hầm xăng, đốt phá cháy đỏ lòng người yêu nước dữ dội. Rồi sau ngày 30-4-1975 tàn mùa chính chién, lũ Việt gian phản chiến hết thời bị vắt chanh bỏ vỏ, lăn lóc nổi trôi trong biển đời đen bạc, hối hận cũng đã muộn màng :

“Gọi quê hương mà nhớ
Quê hương ? còn có quê hương sao ?
Khi đất nước không còn chiến tranh
Rợ Hồ từ bắc vào nam
Bạn bè trăm đứa, vừa xanh nấm mồ ..”

Vẩn vơ nghĩ bậy, nên xe đã tới Trại Lý Công Uẩn, Tân Phong trên quốc lộ 1 lúc nào không biết. Trời cuối tháng trăng mọc muộn, thêm vào đó lại có mưa phùn gió bấc, nên bốn hướng tối đen mù mịt. Trong khoảnh khắc chết cóng của không gian, chỉ còn có tiếng côn trùng rả rích, một vài con cú tìm mồi, cất giọng kêu than não nuột. Mặc kệ, lính tráng vẫn im lặng ngủ ngồi trên xe chờ sáng. Xa xa từ cõi mịt mờ, bỗng vang vang tiếng chuông nhà thờ, từng hồi văng vẳng, như muốn chiêu hồn những người lính của Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 43.. sắp bước vào cõi mộ địa. Nỗi buồn bất chợt làm hồn hoang xao xuyến, ta đã bỏ trường xưa, lớp cũ, bạn bè và thầy cô thân thương từ bao giờ nhỉ ? Gần quá mà cũng thật xa, không muốn nghĩ mà lòng cứ thổn thức vô vàn. Nhưng tất cả cũng chỉ là định mệnh, giống như những đào kép đang diễn các vở tuồng tự do dân chủ, bảo vệ đạo pháp hay gì gì đó, trên sân khấu đời. Tất cả thật xa hoa thừa thãi, nhất là lúc này lính đang sắp tới một chiến trường khốc liệt, khi trời hừng sáng.

nhungnammotusisudoan18bilangquenoanloc

Những nấm mồ tử sĩ sư đoàn 18 bộ binh bị lãng quên ở An Lộc

Tiểu đoàn lên đường ngay, sau khi đã nhận đủ tiếp tế và đạn dược. Điểm hẹn là Tánh Linh. Cuộc đổ quân coi như an toàn và hoàn tất lúc một giờ trưa ngày 21-12. Hoài Đức và Tánh Linh là hai quận miền núi, nằm về phía tây của tỉnh Bình Tuy, nguyên là phần đất phía nam thuộc phủ Hàm Thuận, huyện Tuy Lý, tỉnh Bình Thuận, được Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cắt để thành lập tỉnh mới vào năm 1957. Vùng này nằm sâu trong thung lũng sông La Ngà, phát nguyên từ cao nguyên Di Linh, chảy suốt vùng, một nhánh đổ vào Biển Lạc dưới chân núi Bảo Đại, nhánh còn lại chảy tới Trị An và nhập vào sông Đồng Nai, ra biển Đông ở Vũng Tàu. Quận Hoài Đức hay Nam Sông có các xã Võ Đắc (Huyện lỵ), Chánh Đức, Võ Xu, Duy Cần và Trà Tân tương đối an ninh. Quận Tánh Linh hay Bắc Sông, gồm các xã Sùng Nhơn, Mê Pu, Nghị Đức, Bắc Ruộng, Huy Khiêm, Tà Pao và Lạc Tánh (Quận lỵ) có nhiều xã xôi đậu, dân chúng gồm người Kinh, Chàm, Thượng ăn ở lẫn lộn, đa số thân hay theo VC.

Ở đây rừng núi chập chùng, đầy rẫy thú dữ, dân quân du kích, cùng với sự hiện diện của Công trường 7 Chính qui Bắc Việt, luôn luôn gây áp lực mạnh, cho các lực lượng quân sự dù các Trung Đoàn 43, 48 và 52 của SD18BB, luân phiên hiện diện trấn giữ và bảo vệ dân chúng trong vùng. Tuy vậy tình hình vẫn không khả quan mấy, vì một số lớn di dân Nam Ngãi, được TT Diệm, giúp từ miền Trung đói nghèo tới đây khai khẩn sinh sống trong cac khu trù mật, sau khi phát tài và đủ lông cánh, đã phản bội Quốc Gia, thân hay theo VC chống lại chính quyền.

Cũng do sự tác tệ này, nên mới có cái gọi là Đồng khởi năm 1959 tại Xã Bắc Ruộng, quận Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy. Do quyết tâm cưỡng chiếm cho dược Miền Nam VN bằng võ lực, Hà Nội đã lập cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, cho đám khoa bảng trí thức no cơm ấm cật Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thị Bình, Hồ Thu.. làm lãnh tụ bù nhìn. Tại Bình Thuận, ngày 2-9-1959 Sáu Tú nhân danh đảng, tuyên bố thành lập Đơn Vị 2/9 do Phạm Hoài Chương (hiện còn sống mang quân hàm thiếu tướng cọng sản), làm chỉ huy trưởng kiêm chính trị viên. Ngoài ra còn có Nguyễn Hội, nằm vùng trong trường trung học Phan Bội Châu Phan Thiết, từ 1955-1958, là bí thư chi bộ kiêm y tá làm chỉ huy phó, bí thư chi đoàn, phụ trách hậu cần (Nguyễn Hội đã bị DPQ/BT bắn chết tại Đồn Trinh Tường , Phan Thiết ngày mùng 2 Tết Mậu Thân 1968). Đơn vị 2/9 lúc đó có 3 tiểu đội, trong số này có một tiểu đội người Thương. Riêng số du kích người Việt, đa số ở Nhơn Thiện trong Mật khu Lê Hồng Phong. Chính đơn vị này đã tham dự trận đánh xã Bắc Ruộng năm 1959, trong chiến dịch Đồng Khởi tại Mỏ Cày (Bến Tre) và Trà Bồng (Quảng Ngãi).

Quận Tánh Linh nghèo nàn xơ xác, từ đầu cổng tới cuối làng đếm được vài trăm nếp nhà, nằm hai bên con đường đất đỏ, từ Ga Suối Kiết vào. Huyện đường xây gạch lợp ngói nhưng lâu ngày hứng chịu nhiều đợt tấn công của quân thù, cộng thêm mưa rừng gió núi, nên tường mái đã loang lổ nhiều vết đạn và đất đỏ. Bên trong có hai dãy nhà lụp sụp, xây cất bằng ván lợp tôle, là nơi cơ quan hành chánh làm việc. Tất cả cũng xiêu vẹo tồi tàn, như chính thân phận nghèo nàn, bất hạnh của dân và lính trong cơn binh lửa. Phố chợ Lạc Tánh nằm kế bên Huyện đường, càng bi đát hơn. Nhiều nhà cửa của dân địa phương bỏ đi lánh nạn cọng sản, đã trở nên hoang phế, tang thương, cỏ lau mọc xum xê, hàng cột cháy đen loang lổ đứng im lìm. Quê hương Việt Nam là thế đó, nơi nào cũng tang tóc hắt hiu, thảm cảnh chiến tranh nồi da xáo thịt, vắt máu đồng bào đem bán cho Nga, Tàu, Mỹ, Nhật, càng nghĩ càng thêm thống hận.

Bốn giờ chiều Tiểu đoàn xuất quân, xe chở lính tới xã Huy Khiêm rồi từ đó lội rừng, tấn công chiếm lại Bắc Ruộng. Hai Tiểu đoàn 2 và 3/43 cũng đã được điều động từ hai hường Võ Xu, Nghi Đức về án ngữ hai mặt tây, bắc. Riêng Đại Đội 43 Thám Kích thì được trực thăng vận, nhảy vào lòng địch. Cuộc hành quân giải tỏa thật qui mô nhưng kết quả rất bấp bênh, vì tánh mạng của đồng bào vô tội, đang bị giặc bắt làm con tin trong xã.

Bắc Ruộng đã hiện ra trong tầm mắt, sau con dốc đất đỏ thoai thoải, cây trái mái tranh chìm ngập trong màn lửa khói mịt mù. Đại đội đi đầu đã bắt đầu chạm địch từ trong Ấp bắn ra. Tiếng súng của hai phía nổ rền trời đất, nào đại liên, M79, súng lớn, súng nhỏ lẫn tiếng bom rơi từ máy bay oanh tạc. Việt Cộng ngụy trang lá cây, chạy có đàn trong các giao thông hào kiên cố . Bên ngoài đồng ruộng bao quanh, lúa đã bắt đầu trổ bông sữa, mùi thơm đưa đẩy trong gió, khiến cho cảnh vật thật là trớ trêu bi thảm, làm cho ai cũng muốn kêu trời, hỏi sao lại gây dựng nên nỗi này?

“kẻ thù của ta, đâu phải là ngươi
giết người đi thì ta ở với ai?
kẻ thù ta tên nó là gian ác
tên nó là vô lương
tên nó là hờn căm
tên nó là hận thù
mang cái rổ danh từ
chia rẽ chúng ta..”
( Phạm Duy)

Lũ gian ác, chia rẽ, vô lương tìm hoài không thấy, chỉ biết giờ này chúng tôi theo lệnh, là phải làm sao cứu cho được đông bào đang bị kẹt giữa hai lằn đạn, cho nên cuối cùng là phải thanh toán gấp mục tiêu và chấp nhận thương vong, vì hỏa lực của giặc rất mạnh. Tuy vậy, tới tám giờ tối, quân ta vẫn không tiến được vào Ấp, dù vòng vây xiết thêm đôi chút. Các đại đội đều lấy bờ đất của vòng đai bên ngoài của Ấp chiến lược và bờ ruộng làm phòng tuyến tránh đạn nằm chờ, vì đêm tối không phân biệt được phương hướng, địch bạn. Ruộng đang trong mùa mưa nên ngập nước, từng đàn đỉa đói đánh hơi người, nên kéo nhau tới xin chút huyết của lính. Trên trời thì muỗi rừng bay dày đặc, vo ve khắp mặt mũi tay chân. Mặc kệ, tất cả đều im lặng rình rập, để dành cái sống đang nằm trong đường tơ kẻ tóc của đạn súng vô tình. Giao tranh vẫn tiếp diễn ác liệt, hỏa châu soi sáng cả bầu trời, súng nổ, đạn réo, người vật, cỏ cây đang sống đọng, bỗng phút chốc trở nên vô tri , dưới sự tàn phá của chiến tranh.

Có làm lính mới thông cảm nổi khó khăn của người lính VNCH, bởi vì ta và giặc Hồ, cùng đều là người Việt Nam, nên dù thế nào chăng nữa vẫn còn một chút tình nòi giống, cho nên nhiều đơn vị đã phải khựng điếng trước nghịch cảnh nồi da xáo thịt. Rốt cục chỉ vì thương hại mà lãnh chịu nhiều thương vong, vì VC là cầm thú không tim óc, nên chúng không bao giờ biết tình cảm, chỉ nghĩ tới làm sao để đạt chiến thắng, bất chấp thủ đoạn, kể cả việc sát hại hay giữ đồng bào làm con tin.

Giờ mới hiểu là tại sao VC và người dân trong vùng bị chiếm, chỉ sợ có các lực lượng Đồng Minh, nhất là quân Đại Hàn. Vì những người này không bao giờ cần phân biệt ai là dân, du kích, chính quy VC, hễ bắn giết họ, thì lập tức bị trả đũa ngay, không một chút nhân nhượng, thương hại. Bi kịch tại Mỹ Lai, quận Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, là một chứng minh. Riêng hai tỉnh Phú Yên và Bình Định khét tiếng của Quân Đoàn 2 vì có nhiều VC, nhưng khi Sư Đoàn Thanh Long và Mãnh Hổ tới trấn đóng tại vùng này, thì VC nhất là du kích, hầu như là rút đi chỗ khác, vì vỏ qúit dầy đã có móng tay nhọn, tàn bạo gặp dã man, cuối cùng giặc phải tháo chạy. Thế là vùng đó được bình an. Ngược lại người lính VNCH, ngoài vấn đề bị khinh ghét ngộ nhận vì VC tuyên truyền chúng ta là lính đánh thuê cho Mỹ, nên dân chúng đã tỏ thái độ thù nghịch rõ rệt, dù thực chất ta tới đây để bảo vệ tài sản và sinh mạng của họ. Cũng đâu có trách được, vì người dân lúc đó đâu có khác gì con sâu cái kiến, nằm giữa dao thớt, nên chỉ biết nghe lời những kẻ có súng đạn trong tay, để giữ lấy mạng. Hành quân đến làng ấp nào cũng vậy, chỉ thấy đàn bà con gái bụng to vì mang thai. Lính tò mò hỏi chồng đâu, thì trả lời là đã đi làm ăn xa. Điều này cho thấy sự hiện hữu thường xuyên của giặc khắp mọi nơi, nhưng vì chế độ của miền Nam qua nhân từ, nên rốt cục thành bất lực không kiểm soát được.

Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa thoát được dãy núi Ông trước mặt, chim chóc bắt đầu rời tổ tìm mồi, thì các cánh quân của Tiểu đoàn 1/43, dưới quyền Tiểu Đoàn Trưởng, Đại Uý Tôn Thất Trung (Khóa 16 SQ/VBDL, vừa thay thế Cố Thiếu Tá Ngô Văn Diệp, TDT bị phục kích chết tại Trảng Bàng tháng1-1965. Riêng Đại Uý Trung cũng bị trọng thương, gãy hai chân, trong trận TD 1/43 bị Công Trường 7 Chính quy VC tràn ngập vào tháng 7/1966 tại Võ Su, Bình Tuy), cũng tiến được vào Ấp. Lính từng người một cẩn thận, vì chông bẫy, mìn lựu đạn còn gài khắp nơi. Quân tiến theo con đường đá lởm chởm chạy ngang Xã Bắc Ruộng, thấy VC đào rất nhiều hầm hố giao thông hào. Khắp nơi súng vẫn còn nổ và khói lửa thì mịt trời. Đó đậy giặc bỏ lại nhiều xác bộ đội cháy đen, nằm co quắp lẫn lộn với túi gạo, thắt lưng đạn cùng quần áo bừa bãi. Tất cả hiện ra thật là bi đát, khiến cho ai được chứng kiến cũng phải đau xót, phiền muộn. Chiến tranh là vậy đó, chỉ có những người VN thấp cổ bé họng là hứng chịu tang thương, còn xếp chúa hay các lãnh tụ, thì muôn đời rung đùi, đâu có biết tới.

Theo lệnh, Tiểu đoàn 1/43 có trách nhiệm lục soát Thôn 1 và 2, về hướng nam của xã. Trong ánh nắng ban mai rực rỡ, có thể nói Bắc Ruộng đã tan vỡ hoàn toàn. Dưới những mái nhà bị sụp đổ hoàn toàn vì bom dạn, mùi tử khí bốc lên nồng nặc. Trọn một gia đình, mẹ và ba con nhỏ, nằm chết đen queo thê thảm bốn ngày qua. Nói chung khắp nơi, moi tranh hay tôle lên là tìm thấy xác người.. Ruồi nhặng, sâu bọ gặp thời cơ, tha hồ rỉa rói xương thịt vô tri bất đông. Mưa lại lâm râm rơi nhẹ khắp nơi, làm tăng thêm mùi hôi thối , làm cho lính đã mệt mỏi lại càng căng thẳng thần kinh , trước nỗi đau cùng tận của đồng bào. Một tốp con nít, đàn bà xanh mét, hốc hác, từ những căn nhà hai bên đường, túa ra chạy theo lính. Thôn xóm vẫn im lìm trong cảnh tiêu điều, hầm hồ cá nhân đầy mắt đất. Thảm cảnh không cầm nổi nuớc mắt, khi lính phát hiện đuợc đôi vợ chồng già nua, ẩn trú dưới hầm kín mấy này qua, dù cụ bà bị thương nặng ở đầu nhưng không dám kêu cứu, vì sợ VC bắt dẫn theo vào rừng.

Buổi trưa, Tiểu đoàn mới vào Ấp giữa. Đây là khu vực của Trường Sơ Cấp và Nhà thờ Thiên Chúa Giáo Bắc Ruộng. Nhưng tất cả cũng đã sụp đổ hết rồi, chỉ còn trơ lại mấy bức tường cháy và xác người chết nằm la liệt. Giặc Cộng khôn ranh, biết Chính phủ cũng như QLVNCH, không bao giờ dám làm tổn hại tới những cơ sở tôn giáo trang nghiêm như Đình làng, Chùa Miễu và Nhà thờ. Cứ xem thời gian từ 1955-1975 qua sự lên ngôi bạo chúa của bọn kiêu tăng loạn cha, làm vua cả miền Nam thì đủ biết. Bởi vậy, giặc Hồ đã chiếm nhà thờ Bắc Ruộng, để đặt Bộ Chỉ Huy quân sự, cũng như các giàn hỏa tiễn phòng không bắn máy bay. Kết quả cả chúng và các cơ sở đều đã tan nát dưới sự tàn phá của bom đạn vô tình.

Thánh đường giờ mơí im vắng thật sự . Bàn ghế gãy đổ, mái nhà cũng bay mất. Tượng Đức Chúa Jésus ngả nghiêng xiêu vẹo. Đôi cánh thiên thần như chập lại để vượt khỏi tầng mây. Kinh sách, các lọ nước thánh tung toé lăn lóc trên sàn nhà. Nhưng thảm nhất, là phía sau chiếc bệ thờ bằng gỗ, có sáu xác chết đả sình thối. Trong số này có Ngài Cha Xứ Bắc Ruộng, nằm bất động, tay hình như đang còn lần từng hạt chuỗi, để cầu nguyện cho nhân thế, được ơn lành, phước lớn, hòa bình và hoan lạc. Nhìn Ngài nằm chết thê thảm, người lính chiến có tâm hôn chai đá, cũng đã phải gào thét thật to, để hỏi Thượng Đế Chí Tôn, đang ngự trên ngôi cao tận chín tầng mây diễm tuyệt, rằng bao giờ dân tộc Việt Nam, mới được tắm trong bể ánh sáng mà Thiên Chúa hằng rao giảng? Bao giờ trần gian mới được hoan lạc và hòa bình? Bao giờ các nạn nhân chiến cuộc, mới có được những đoá hoa hồng, hoa súng, những điệu nhạc thanh thoát, để thế nhân vượt qua bể khổ trầm luân của biển đời :

“Maria, tâm hồn tôi ớn lạnh
run như run thần tử thấy long nhan
run như run hơi thở chạm tơ vàng
nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến..”
(Hàn Mặc Tử )

Thượng Đế đã thật sự đi rồi, nên không còn ai can ngăn nổi loài người, đâm chém bắn giết lẫn nhau. Chán nản quá, chúng tôi rời nhà thờ, sau khi đem khiêng các xác chết về địa điểm tập trung, trước trường học, để tiếp tục lục soát cho hết khu vực trách nhiệm. Nắng vẫn le lói sáng rực nhưng không khí khắp nơi vẫn ớn lạnh, tiêu điều. Đây là khu nhà hậu của giáo đường, aó quần, cối xay, lúa gạo vẫn còn vương vãi trong ngoài, nhưng người ở đây thì đã chết hết rồi. Kìa là hình ảnh của ba cô giáo làng, khi giặc về không chạy thoát được, nên đã chụm đầu vào chết chung ở nơi này vì các mảnh bom đạn của cả hai phía. Sự chết của ba nàng, quả là tàn nhẫn dữ dội. Aó tím áo xanh trinh nguyên rạng rỡ, chưa được bao nhiêu tuổi đời, đã thành áo quan, ôm ấp hình hài các em nơi núi rừng miên trường thảm tuyệt.

Đúng, phải và rất hay như gã nhạc sĩ họ Trịnh đã hát :

“Tôi có người làm giáo làng
vừa chết tại trận Bắc Ruộng
không hận thù, nằm chết như mơ
từ nay tôi quên tiếng người…”
( Trịnh Công Sơn )

Tới chiều, cuộc lục soát coi như hoàn tất. Tất cả các xác chết của ta, địch và dân chúng đều được gom lại trước sân cỏ Thánh đường. Những người bị thương nặng, được trực thăng chở về Bệnh viện Võ Đắc và Xuân Lộc điều trị, cứu chữa. Các Tiểu đoàn của 43 chia khu vực, để dọn dẹp và giúp dân trong xã dựng tạm lại nhà cửa, khói lửa, hầm hố khắp nơi được dập tắt và lấp kín. Ban Quân Y/Trung Đoàn 43 và Tỉnh Đoàn Bình Định Xây Dựng Nông Thôn Bình Tuy, cũng được điều động khẩn cấp tới Bắc Ruộng, để phát thuốc, chẩn bệnh và cứu trị các nạn nhân chiến cuộc.

Sáng ngày 24-12, công tác coi như phần nào hoàn tất, Trung Đoàn 43 BB được lệnh về Long Khánh, sau khi bàn giao Xã Bắc Ruộng lại cho một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, từ Hàm Tân di chuyển tới. Nhưng người trong Ấp lại ùa theo lính rất đông để xin vào cac trại tị nạn. Chắc họ không còn dám tin ai nữa, kể cả các du kích địa phương, đang lẩn quẩn ẩn trốn ở bìa rừng, chờ Lính Trung Đoàn 43 rút, là mò về tiếp tục khuấy phá người dân khốn khổ. Tại Tánh Linh, trong khi ngồi chờ xe tới rước, nhìn cảnh tượng dân chúng trốn ra được, trước khi Bắc Ruộng bị giặc Cộng cưỡng chiếm, hỏi han tìm kiếm thân nhân lẫn lộn trong đoàn quân, muốn rơi nước mắt. Con ơi, má ơi, em ơi. Tiếng cưòi khóc của đồng bào vang dội như muốn phá vỡ , cái không khí trầm mặc muôn thu của phố núi Lạc Tánh..

Quân đến rồi đi, đêm nay tiểu đoàn được tạm thời nghỉ xã hơi nơi phương phố Xuân Lộc. Tỉnh lẻ miền đất đỏ, đang làm dáng với hoa đèn lộng lẫy. Các xóm đạo Bảo Hòa, Bảo Đinh, Bảo Toàn và khu vực nhà thờ Chính Tòa trước chợ, đầy ắp tín đồ con chiên, mừng vui ngày Chùa Giáng Sinh. Họ đâu có biết, ở một nơi nào đó, cũng tại một thánh đường, có ngài Cha Xứ và ba cô giáo làng, vừa mới rời khỏi trần gian, để giúp cho thế nhân sớm tìm lại được hòa bình và hoan lạc.

Thế rồi đời lính cứ lặng lờ xuôi ngược. chuyện của ngôi thánh đường Bắc Ruộng, có ngài cha xứ và ba cô giáo làng nằm chết, như theo khói lửa chiến tranh và thời gian trôi vào quên lãng. Bởi vì cuộc chiến càng lúc càng ác liệt và hằng ngày đã có không biết bao nhiêu chùa, nhà thờ, các vị chân tu bị giặc Hồ tàn phá và giết chết, trên khắp mọi nẻo đường đất nước.

Năm 1978 sau mưới hai năm xa cách tôi lại về Bắc Ruộng, nơi mà một thời người lính chiến của Trung Đoàn 43 Bộ Binh từng giẫm nát. Nhưng lần này chúng tôi về với thân phận của một tù binh cọng sản để lao tác, chặt rừng, xẻ núi, đào kinh, vét mương và lấp kín các hố bom, hầm đạn của thời nào. Bắc Ruộng vẫn như buổi nao, con đường tỉnh lộ nối xã với Lạc Tánh và Sùng Nhơn vẫn lầy lội và lởm chởm đá. Nhà cửa dân chúng đã xây dựng lại, cây trồng có phần xum xuê hơn trước, vì chiến tranh đã dứt. Người cũ cảnh mới trùng phùng trong ngấn lệ. Nhưng có một điều là dân chúng đã không xây lại ngôi thánh đường cũ, đã bị tàn phá năm 1965. Nền nhà xưa cỏ lau mọc cao hơn đầu, những hàng cột vôi và các bức tường gạch cháy, vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Dãy nhà hậu cũng biến mất, chỉ còn trơ lại cái sân đất trống rỗng đầy cỏ dại, nằm im vắng thẫn thờ trong gió lạnh, nhìn cuộc bể dâu thêm ngao ngán đoạn trường:

“Trấn bắc hành cung cỏ dãi dầu
khách đi qua đó chạnh niềm đau
mấy tòa sen rớt, mùi hương ngự
năm thức mây phong, nếp áo chầu
người xưa cảnh cũ nào đâu tá ?
(Bà Huyện Thanh Quan )

Qua màn lệ mắt của kẻ tù, tôi hình như đã thấy những tà áo tím, áo xanh của các em giáo trẻ năm xưa và màu áo chùng đen của ngài cha xứ. Tất cả như đang lồng lộng trong gió và trên chín tầng mây cao. Người đang đưa tay vẫy gọi và thầm bảo rằng “các con hãy giữ niềm tin và phấn đấu”

Nhưng chao ơi, đợi tới bao giờ?

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Mùa Giáng Sinh 2009
HỒ ĐINH
TD1/TrD43/SD18BB
Kbc 4424

Monday, July 24, 2023

                 




 PHUOC TUY PROVINCE, VIETNAM, 1967-02. CAPTURED VIET CONG JUST A FEW MILES EAST OF THE 1ST ... | Australian War Memorial (awm.gov.au)

                                         Vo Xu, Vietnam. 1965. Lieutenant Colonel I. R. W. Brumfield, Commanding Officer of 1st Battalion, ... | Australian War Memorial (awm.gov.au)           


VO XU, BINH TUY PROVINCE, SOUTH VIETNAM. 1965-11-24. AN AUSTRALIAN SOLDIER OF 1ST BATTALION, THE ROYAL AUSTRALIAN REGIMENT (1RAR), COVERING VIETNAMESE WOMEN AND CHILDREN DURING THE CORDON AND SEARCH OF THE VILLAGE OF VO XU. THIS SEARCH WAS PART OF THE MUCH LARGER `OPERATION RICE BOWL' CONDUCTED BY ALLIED TROOPS IN BINH TUY PROVINCE JUST BEFORE THE RICE HARVEST IN AN ATTEMPT TO DENY THE VIET CONG ACCESS TO RICE AND SUPPORT FROM THE LOCAL VILLAGERS. THE VIETNAMESE WOMAN ON THE RIGHT IS PROBABLY TRYING TO DISTRACT THE SOLDIER. (FRAME ENLARGEMENT FROM AWM FILM NO. 10091) (CAMERAMAN SERGEANT M. SHANNON)

        



Vo Xu. Members of an Anti-Tank Platoon, 1st Battalion, The Royal Australian Regiment (1RAR), Corporal Ken W. Forden (second left) of Perth, WA, looks on while Private James Jarrett of Revesby, NSW, searches the clothing of one of a number of captured Viet Cong. The Viet Cong prisoner, his arms tied behind his back, was captured during a search and destroy operation in the village. In the centre (partly obscured) is an interpreter who is a member of the Army of the Republic of Vietnam (ARVN).

      









                      



                                Vo Xu, Vietnam. 1965. Lieutenant Colonel I. R. W. Brumfield, Commanding Officer of 1st Battalion, The Royal Australian Regiment (1RAR), says goodbye to bare-chested Lieutenant Lunny, a member of the battalion, prior to the Colonel's return to Australia.