Wednesday, December 14, 2022

CÁC TRẬN ĐÁNH ĐẪM MÁU CỦA DSCĐ VÀ TĐ 22 BĐQ TRÊN QL-19 VÀ TRẬN KANNACK 1965.

Chuyển ngữ từ trang 92 - 96 của quyển Green Berets at War của Shelby Stanton. 

LỜI MỞ ĐẦU

"Ngày 5/1/1965, trại Trảng Sụp (ký hiệu A-411 do đại úy Healy chỉ huy) và Suối Đá (A-114 do đại úy Ekman chỉ huy) đã tổ chức hành quân vào Chiến khu C với 6 đại đội DSCĐ. Sau một chạm súng ngắn ngủi với VC, các đại đội 326 DSCĐ người Campuchia và đại đội 324 DSCĐ người Việt đã mất tinh thần và rời bỏ trận địa. Hai đại đội này đã bị giải giới và giải tán (break up). Trong khi trại Phước Vĩnh (A-312 do đại úy Spargo chỉ huy) đã chiến thắng tại một căn cứ VC ở bìa của chiến khu D trong cùng tháng, các lính dscđ người Campuchia này sau đó đã từ chối hành quân cách xa trại hơn 1 dặm. Vì có đại đội 347 DSCĐ gốc Nùng rất trung thành tạm thời bảo vệ trại, nên lính Campuchia "được quyền chọn lựa giữa tuân lịnh cấp trên hay rời bỏ hàng ngũ," và lực lượng này đã được cải tổ toàn diện.

Một trong những việc xử dụng ko đúng cách và đáng buồn nhất các lực lượng dân sự chiến đấu (DSCĐ) của LLĐB Mỹ đã xảy ra trong những tháng đầu của năm 1965 dọc QL-19, con đường huyết mạch chánh nối liền bờ biển với cao nguyên miền Trung. Con đường này xuất phát từ Qui Nhơn ở ven biển và cao dần, quanh co các hẻm núi (gorge) đầy rừng rậm và các đèo cao trước khi tới Pleiku. Tướng Westmoreland, TL của BTL yễm trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam, viết tắt là MAC-V đã lo âu về khả năng VC có thể chia đôi nước này làm hai. Do đó việc bảo vệ QL-19 là một trách nhiệm quan trọng về quân sự. Ông dự định tới cuối mùa thu năm 1965 sẽ giao sđ 1 Không kỵ trách nhiệm này. Nhưng từ đây tới ngày đó, việc hộ tống các đoàn xe và an ninh các đèo được đặt lên vai các người lính DSCĐ gốc Rhade kém may mắn (hapless) này của LLĐB. 

Vài trăm lính DSCĐ gốc Rhade đã từng tham gia cuộc nổi loạn của người Thượng (Montagard uprising), cùng với gia đình, đã buộc phải chuyển tới hai trại mới, đặt ở vị trí chiến lược ở hai ngọn đèo quan trọng là Mang Yang và An Khê. 

(Cuộc nổi loạn xảy ra từ 19 đến 28 tháng 9/1964, bắt đầu từ các trại LLĐB tại khu vực Ban Mê Thuột. Lính Thượng ở các trại này chỉ trung thành với cấp chỉ huy người Thượng và cố vấn Mỹ. Ở một số trại, họ đã giết các cố vấn LLĐB người Việt và giam giữ các cố vấn LLĐB Mỹ. Cuộc nổi loạn này đã chấm dứt nhờ sự dàn xếp của một số sĩ quan như đại tá Freund, cố vấn của quân đoàn 2 hay đại úy Gillespie, chỉ huy toán A-312 tại trại Buôn Brieng, và một số sĩ quan LLĐB Mỹ khác -- người dịch).

Trại An Khê, ký hiệu A-4 do đại úy Hendricks chỉ huy, gồm lính DSCĐ gốc Rhade, rất kỷ luật và trung thành, chuyển từ trại Bu Prang, Quảng Đức. Trại Suối Đôi, ký hiệu A-3, do đại úy Mireau chỉ huy, cũng là lính DSCĐ gốc Rhade nhưng tinh thần chiến đấu kém hơn. Những người này đã chuyển từ tháng 1/1964 từ trại Ban Don (tây bắc của Ban Mê Thuột) và đã chống đối kịch liệt vì cho rằng họ được dùng làm chốt thí (cannon fodder) dọc Ql-19. 

Từ lâu, QL-19 đã là một bãi chiến trường. Các đài kỷ niệm nằm rải rác ven đường giữa Đèo An Khê và Đèo Mang Yang, đánh dấu trận đánh phục kích Chiến Đoàn 100 của Pháp năm 1954. Giờ đây, mười năm sau, VC vẫn dùng chiến thuật đó. NGÀY 15 THÁNG 2 1965, một đoàn công-voa lớn của Nam VN bị phá hủy giữa đèo Mang Yang. TRẠI AN KHÊ được lịnh lập hai căn cứ tiền tiêu (forward operational base), viết tắt là FOB số 1 và 2, ở PHÍA TÂY của đèo vào NGÀY 17 THÁNG 2 1965. (Theo thông tin trên mạng, đèo Mang Yang ở phía đông của đèo An Khê và cách nhau 22 km -- người dịch)

Ba ngày sau VC đã đồng loạt tấn công hai căn cứ này. Trong khi FOB số 2 chỉ bị thiệt hại nhẹ do địch chỉ tấn công thăm dò vào tối ngày đó, FOB SỐ 1 Ở PHÍA TÂY của FOB số 2 và gần Đèo Mang Yang bị TRÀN NGẬP. Máy bay thám thính và C-123 chuyên thả hỏa châu đã bất lực vì mây bao phủ 2 căn cứ này. Một đại đội (đ.đ.) tiếp ứng gốc dân Rhade, dưới chỉ huy của đại úy Hendricks đã tới FOB số 1 vào sáng ngày 21/2 sau khi vượt qua một phục kích nhỏ. Lực lượng của ông đã trở                                                      lại An Khê an toàn với người chết và bị thương từ tiền đồn này (FOB số 1). Một toán DSCĐ khác, chỉ huy bởi đại úy Em, đã ko gặp may mắn khi di chuyển bằng xe và xuất phát từ An Khê để tìm kiếm 20 DSCĐ mất tích tại FOB số 1. 

Trên đường trở về An Khê, đoàn xe của đại úy Em đã bị một trận phục kích KHÁC lúc 5:30 chiều. Dù bị thương nhưng đại úy đã lập được một chu vi phòng thủ, cầm cự trong HAI NGÀY với lính bắn sẻ cũng như tấn công định kỳ (periodic) của địch. Toán quân DSCĐ cứu viện của đại úy Hendricks cũng ko thể phá một nút chận mạnh mẻ của VC trên QL-19 để giúp đội quân của đại úy Em hay tới được FOB số 2. Ông buộc phải rút lui sau đó trước khi mặt trời lặn với phân nửa xe cộ bị phá hủy. 

Trung tá Lindsey Hale, chỉ huy C-2 LLĐB ở Pleiku đã có rất ít nguồn lực trước tình hình này. Lúc 11 g đêm ông ra lịnh cho đại úy (đ.u.) Mireau, chỉ huy Trại Suối Đôi, hành quân về phía đông đến Đèo Mang Yang và đặt trung đội "Diều Hâu" gồm toàn lính Rhade thiện chiến trong tình trạng báo động. Trung đội này đã được thành lập tại Pleiku ngày 16/10/64 với mục đích phản ứng nhanh. Ông đã tăng cường cho cuộc hành quân (HQ) này vài trực thăng võ trang, nhưng các máy bay ném bom A-1E Skyraider dự trù cho cuộc HQ này giờ chót dùng cho mục tiêu khác. 

Cũng như phần lớn các đ.đ. DSCĐ, đ.đ. 269 ở Suối Đôi đã ko huấn luyện để đánh đêm. Đ.đ. của trung úy (lieutenant) Y-Lang gốc Rhade đã có lịnh di chuyển từ sáng 22/2 nhưng chỉ di chuyển sau 12 g. Những người lính nhỏ thó này, với nón sắt gần như che cả mắt và ăn vận đồng phục màu olive của lính bộ binh và rằn-ri, đã khó khăn lắm mới trèo lên những xe tải với sàn xe quá cao của Mỹ. Với tổng cộng 167 người, ngồi san sát trên 6 xe tải, đoàn xe đã lên đường lúc 1245 trưa.

Lúc 3:30 chiều, đoàn xe này vừa vượt qua FOB số 1 đã bị phá hủy trước đó và bắt đầu đi vào một khúc cong. Khi họ gặp một xe đò chạy ngược chiều, thì xe đò này bị trúng B-40 và bốc cháy. Đoàn xe liền ngừng lại dưới làn đạn súng nhỏ và cối. Từ hai bên đường, VC đã tấn công đoàn xe và lính DSCĐ nhảy xuống đất tìm chỗ núp. Ba cố vấn LLĐB Mỹ đã cố gắng tập họp đ.đ. Súng liên thanh và súng nhỏ của địch từ cỏ voi cao đã phá vỡ cuộc phản công của lính DSCĐ. Chuyên viên bậc 5 Geral Rose đã chết khi cố gắng phá vòng vây (breakout) trong khi lính Rhade phía sau ông ko muốn chiến đấu (falter). Trong cảnh cận chiến (melee) hai bên đã dùng súng, lưởi lê và bá súng. Trung úy Griggs đã trúng đạn ở cổ nhưng đã bắn hạ năm VC khi họ tiến gần trung sĩ Long, bị thương ở đùi (thigh). Sau đó Griggs trúng đạn ở ngực và ngất xỉu.

Một số lính DSCĐ định hàng khi hết đạn nhưng đã tập hợp lại sau khi VC tiếp tục giết kẻ bị thương. Họ đã dùng lưởi lê, dao, và nắm đấm để phá vòng vây và chạy bộ về một tiền đồn ở Đèo Mang Yang. VC ko để ý tới trung úy Griggs vì nghĩ rằng ông đã chết. Sau đó ông tỉnh lại và bò tới một máy truyền tin, nằm bên dưới một hiệu thính viên đã chết. Ông gọi gunship tấn công VC. Gunship đã bốc trung úy Griggs và trung sĩ Long sau khi một trực thăng tải thương trúng đạn và đáp khẩn cấp xuống Suối Đôi vì phi công bị thương và buồng máy bị cháy. 

Trung đội phản ứng nhanh, còn gọi là diều hâu đã xuống phiá đông của trận đánh một giờ sau cuộc phục kích này bắt đầu. Năm lính LLĐB và 36 DSCĐ người Rhade nhảy ra khỏi máy bay khi càng trực thăng đụng đất. Khi gần tới địa điểm phục kích, họ bị trực thăng bắn lầm. Dù vậy họ vẫn tiến về đoàn xe bị phục kích, bất chấp bị bắn sẻ và đại liên của vc. 

Trung đội này được tăng viện lúc 7:30 tối ngày 22/2 bởi 60 NGƯỜI của đ.đ. 2 của TĐ 22 BĐQ VNCH từ Pleiku. Họ đã lập một chu vi phòng thủ và vượt qua địa điểm mà đ.đ. 269 bị phục kích vào sáng ngày hôm sau. Sau đó họ đã bắt tay với đám tàn quân gồm lính của đ.u. Em và lính của FOB số 2. Thành phần còn lại của TĐ 22 BĐQ đã đổ xuống An Khê và định di chuyển trên QL-19 để bắt tay với lực lượng trên đây vào ngày 23/2. Cuộc tiến quân đã bị đẩy lui trong một trận đánh dữ dội khiến TĐ này bị thiệt hại nặng và rút chạy (stumble back). Mọi lực lượng trừ bị của QĐ 2 đã cạn kiệt, và rất nhiều trực thăng đã huy động để bốc đội quân bị bao vây này khỏi chiến trường.

Dù trận Đèo Mang Yang đã chấm dứt khi bỏ vùng này cho VC ngày 24/2, những người lính sống sót của đ.đ. 269 DSCĐ vẫn chưa trở về đơn vị. Gia đình của họ ở Suối Đôi đã muốn tìm kiếm người chết để chôn theo truyền thống bộ lạc. Đ.u. Mireau nói với họ rằng VC đã bắn B-40 vào xe đò dân sự là chỉ dấu họ sẽ ko tôn trọng việc dùng xe đò để chỡ xác. Vào buổi tối, ông đã gửi trung sĩ nhất Scearce và trung sĩ McCann đến tiền này ở đèo Mang Yang để tập hợp những kẻ sống sót trong cuộc phục kích. Họ đã bị tiếp đón lạnh nhạt (sullenly) bởi 112 lính Rhade mất hồn (listless) tại tiền đồn này. Trong lúc trung sĩ Scearce đang nói chuyện để cố gắng nâng cao tinh thần cho họ thì 1/3 quân số này đột ngột rời bỏ hàng quân. 

Hai trung sĩ này cuối cùng đã thuyết phục đội quân (contigent) này của Suối Đôi trở về địa điểm phục kích để thu nhặt xác chết đồng đội vào 27/2. Đội quân này đã đến Suối Đôi ngày 1/3 với những lời đe dọa của họ với trung úy Khim (có lẽ là người VN -- người dịch) của LLĐB và các cố vấn Mỹ. Ở Suối Đôi, những người Rhade này trở nên mệt mỏi, chán nản (lethargic) và ko hợp tác với cấp chỉ huy và ngày 10/3 đã từ chối bất cứ hành quân nào trong tương lai. Hậu quả, tất cả họ đã bị nghỉ việc và trại Suối Đôi được giao cho TĐ 3/42 thuộc sđ 22 bộ binh vào ngày 24/3/1965. BTL Mỹ tại Việt Nam hay MAC-V đã nhấn mạnh rằng việc dùng ko đúng cách DSCĐ như đã kể, ko những khiến họ thua trận, mà còn làm tiêu tan rất nhiều các cố gắng của LLĐB nhằm thu phục lòng trung thành và hổ trợ của các DSCĐ. 

VC đã ko thành công khi tấn công các trại LLĐB. Trại Kannack, ký hiệu A-231 với 550 DSCĐ do đ.u. Viau chỉ huy), nằm khoảng 12 dặm bắc của QL-19, bị tấn công bởi một TĐ VC ngày 8/3/65.

                                 


    

 Sau khi mở màn bằng đạn cối, bộ binh địch đã nhanh chóng tràn ngập 2 tiền đồn và vượt qua hàng rào kẻm gai ngoài cùng. Hai bunker nằm trên chu vi phòng thủ có bố trí súng đại liên, đã bị súng không giựt của địch phá hủy và các đặc công với mìn bangalore đã tạo lổ hổng trên vòng kẻm gai bên trong. Tinh thần chiến đấu tuyệt vời (superbe) của những người lính Thượng, chiến đấu từ những vị trí chuẩn bị kỹ lưỡng và chỉ huy dũng cảm bởi đ.u. Viau, cuối cùng đã bẻ gẫy cuộc tấn công. Đặc biệt, hai ổ súng đại liên, bị rung chuyển liên tục vì trúng đạn không giựt và các khối chất nổ, đã đầy xác chết của lính VC trước hai bunker này. Khi hừng đông xuất hiện, các oanh tạc cơ A-1E đã bắn phá và ném bom vào tàn quân VC đang rút lui, theo sau đó là một phản công của DSCĐ nhằm chiếm lại tiền đồn phía nam, nơi mà số lính Thượng vẫn còn sống. 

(Theo một YouTuber ở: https://www.youtube.com/watch?v=NID1JnQP3nIt

thì lực lượng tấn công trại gồm một TĐ đặc công thiện chiến, có sự trợ lực của một trung đoàn bộ binh. Nhưng việc điều quân của họ đã bị lộ cả thắng trước đó, nên quân phòng thủ đã chuẩn bị kỹ lưỡng chờ đợi. Do đó họ đã bị thiệt hại nặng với số người chết khoảng 500 người! Quân trú phòng phải dùng xe ủi đất để đào hố chôn các xác chết -- người dịch).

Theo báo cáo hành quân thì có 34 DSCĐ và 3 thường dân bị chết, 3 lính LLĐB mỹ và 32 DSCĐ bị thương; có 119 bộ đội chết dựa vào đếm xác và số lớn chết đã được kéo đi. 

====

Bài đọc thêm về trận Kannack đăng trên báo Time.

 CHIẾN THẮNG TẠI TRẠI LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT KANNACK. 

Bài đăng ngày Friday, Mar. 19, 1965

Nguồn: https://content.time.com/time/subscriber/article/0,33009,833551,00.html

Người dịch: Tài Trần.

"Trại nằm trên đỉnh của một ngọn đồi ở phía bắc của QL-19 - con đường tiếp tế từ Qui Nhơn lên Pleiku. 

Từ đồn (compound) của Kannack và sân bay bằng đất kế cận, khoảng 400 cố vấn lực lượng đặc biệt (LLĐB) và các lính dân sự chiến đấu (DSCĐ) người Thượng ngày đêm giám sát rừng rậm, các dốc núi (slope) trơn trợt và những khe núi (folds of ravines) lý tưởng cho các cuộc tấn công bằng cối của địch. Một con đường nhỏ và độc đạo chạy về hướng nam tới QL-19 - xa lộ từ Qui Nhơn đi Pleiku, nơi mà các đoàn công-voa tiếp tế thường là mồi ngon cho các cuộc phục kích của VC. Tuần qua quân CS đã tấn công Kannack. 

Bọn VC đã chờ tới khi một đám mây dầy chứa đầy mưa bao phủ các đỉnh chung quanh trại này. Nghĩ rằng tránh được máy bay Mỹ, chúng đã tấn công, với quân số gần 1.000 người, vào sườn phía bắc, nam, và đông của trại. Hàng chục tiểu đội đặc công mặc quần cụt đen và khăn cổ màu xanh ngụy trang hay vải dù đã tới sát chu vi bằng kẻm gai. Họ mang theo mìn bangalore. (Đây là chất nổ chứa trong các ống nối nhau, có công dụng để phá hàng rào. Có thể tạo một cửa mở rộng từ 3 đến 4 mét xuyên qua hàng rào kẻm gai. Được xử dụng rộng rải khắp thế giới, từ năm 1012, xem hình--người dịch). Những gì tiếp theo là rất nhiều tiếng nổ. (There followed bangs galore). 

CÁC BÀ VỢ VÀ TUYỆT VỌNG.

Kế đó những lính đặc công đã kéo những rổ làm bằng mây chứa đầy lựu đạn và đạn dược xuyên qua các cửa mở trong hàng rào kẻm gai, và phá hủy một hầm trú ẩn làm bằng bao cát ở góc đông bắc của trại bằng một quả 57 ly không giựt. Bọn chúng đã làm nổ tung (blast) rất nhiều bunker ở góc đông bắc của trại. Tổng cộng có 33 lính của trại chết và 27 bị thương--phần lớn trong đợt tấn công đầu tiên. 

Nhưng những người Thượng này--gồm bộ tộc Hrey, Bahnar, Rhade và Mường--đã quyết tâm cố thủ. Họ đã hướng các súng cối vào các vị trí đã bị tràn ngập, các người vợ đã mang đạn dược tới chiến hào và tiếp đạn vào súng liên thanh của chồng. Đó là một thứ tinh thần sống chết bên nhau, xuất phát từ tuyệt vọng."Tôi nghĩ rằng những người Thượng này đã chiến đấu dũng cảm vì có gia đình ở kế bên,"một cố vấn Mỹ đã nói. "Họ sẽ liều mạng (ruthless) khi đối diện giữa sống và chết. Một người duy nhứt sống sót trong một bunker, và VC gọi y đầu hàng. Y đã chửi bọn chúng và chạy nhanh xuống đồi."

Ở CUỐI CON ĐƯỜNG.

Mất tinh thần, VC đã rút lui. Khi trời sáng, hơn 100 VC nằm chết (dangled) trên hàng rào kẻm gai, một số tay còn cầm (clutch) lựu đạn hay dây đạn. Họ thuộc tiểu đoàn (TĐ) 580 và 801 dày dạn chiến trường, và đều mang vũ khí mới tinh của Khối Cộng (ám chỉ các nước CS Đông Âu và Liên Xô -- người dịch). Điều này chứng tỏ người lính du kích VC được tiếp tế vũ khí và phụ tùng từ các nước CS, một dấu hiệu vững chắc vào chiến thắng cuối cùng.

Phần lớn các tử sĩ CS tại trại Kannack từng bị thương trước đó, có lẽ do phản lực chiến đấu cơ Mỹ đã tấn công vào các vị trí VC dọc QL-19 tháng qua. Một số đã bị trúng thương (nip) bởi "Lazy Dog", một loại bom chống người mới được dùng, có thể nổ ở độ cao 30 yard hay 27,4 m trên mặt đất, bắn ra những mủi tên nhỏ bằng thép trên một khu vực . Trong những người chết có một thiếu úy trẻ CS Bắc Việt có tên Ngô. Trong nhật ký, y kể lại đoạn đường gian khổ dọc theo đường mòn HCM mà y bắt đầu tháng 11 năm ngoái. Y chỉ đến gần trại này vào tuần qua. "Cuộc sống quá gian khổ", y đã viết. "Không đủ ăn, và máy bay liên tục tấn công chúng tôi."

=====

 Bình Giã 1964: trận thử lửa đầu tiên của sư đoàn tân lập của CSBV và VC.

Nguồn: http://www.vietnamgear.com/article.aspx?art=65 

Tác giả: Michael Martin.

Người dịch: Tài Trần 

Sau đây là phần chuyển ngữ.

====

- CS đã phát động chiến dịch này để kỷ niệm bốn năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam (MTDTGPMN).

- Tiểu đoàn trưởng TĐ 4 TQLC đã điều quân để lấy xác phi hành đoàn của một trực thăng bị rơi -- bất chấp chống đối của cố vấn Mỹ của TĐ. Đã khiến 29/35 sĩ quan của TĐ tử thương và hàng trăm người khác chết và bị thương. 

"1964 là năm của cam kết toàn diện đối với các lực lượng CS tại Việt Nam. 

Kể từ đó, mọi thứ đã được quyết định (the die had been cast), và sẽ không có bất cứ thay đổi (turning back) về chính sách nếu người CS muốn thành công trong việc xâm lăng miền Nam.

Một sự gia tăng về huấn luyện và chiến đấu chẳng bao lâu diển ra -- phần lớn tại vùng Châu Thổ -- với các lực lượng VC bành trướng từ khoảng 23.000 du kích quân nam và nữ trong tháng một 1963, thành một quân đội huấn luyện kỹ lưỡng về quân sự và chính trị, gồm khoảng 56.000 người vào tháng 12/1964.

Các bản đồ tình báo của bộ tổng tham mưu Nam Việt nam và BTL Yễm trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam, viết tắt là MACV ngày càng xuất hiện các khu vực rộng lớn, được đánh dấu màu đỏ, chứng tỏ địch đã kiểm soát.

Sau vài trận phục kích thành công chống các lực lượng SG, vào ngày 9/12/1964, nguyên một chi đoàn thiết vận xa (TVX) M-113 đã bị hủy diệt bởi VC - và với những xáo trộn liên tục của bất ổn chính trị vào lúc đó, người CS đã quyết định kết thúc năm này bằng một chiến thắng quân sự (QS) lớn lao để kỷ niệm bốn năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (MTGPMN). 

Các thành phần của sđ 9 VC (đây là đv cấp sđ của VC được thành lập và chiến đấu tại miền Nam) đã được chọn cho danh dự này. Hai trung đoàn của sđ này (271 và 272) đã di chuyển khỏi Chiến khu C và D và đã xâm nhập vào các khu ven biển để nhận hàng tiếp liệu từ Bắc VN. Sau đó, hai đv này đã tái tập hợp và di chuyển về các đồn điền chuối và cao su chung quanh ngôi làng nhỏ Bình Giã, một ấp chiến lược (ACL) ở khoảng 67 km đông SG thuộc tỉnh Phước Tuy. 

Từ những khu rừng này, họ đã thăm dò và quấy rối các dân làng và các lực lượng ĐPQ trong vài ngày TRƯỚC cuộc tấn công chánh. Trong những giờ trước rạng đông của NGÀY 28 THÁNG 12, các trung đoàn VC này, dẫn đầu bởi TĐ 514, đã tấn công bất ngờ vào làng, trước nhứt là tràn ngập các tiền đồn bảo vệ nó. Sau cuộc tấn công thành công này, VC đã giữ vững vị trí và tăng viện với quân mới.

Các dân làng Bình Giã này là những giáo dân kiên cường (staunch) chống Cộng, đã tái định cư từ Bắc VN sau 1954; họ đã biết rõ thế nào là chế độ CS và đã cố gắng hết mức để bẻ gẫy (thwart) các kế hoạch của địch. Trong mưu toan tái chiếm làng của QĐVNCH, các oanh tạc cơ của không quân VNCH và trực thăng Mỹ đã ko được phép tấn công vào làng, khiến địch đã có chỗ núp trong những vườn chuối chung quanh làng. Do vậy trong một đêm họ đã chặt sạch các cây chuối, nguồn sống (livelihood) của họ nhưng cũng khiến địch ko còn chỗ ẩn núp.

Bất hạnh thay, những cố gắng đầy nhiệt huyết (spirited) của dân Bình Giã để thắng CS đã bị lu mờ (overshadowed) khi thảm kịch quân sự này đã đổ ập (befell) xuống các lực lượng của CP -- được lịnh tái chiếm làng.

Một lực phản ứng nhanh đã được yêu cầu và một đại đội (đ.đ.) của TĐ 30 BĐQ đã được trực thăng vận (heli-lift) để bắt tay với một đ.đ. của TĐ 38 BĐQ đã có mặt trước đó tại chi khu (CK) Đức Thạnh khoảng 3 km phía tây làng. Chi khu này nằm trên liên tỉnh lộ (LTL) nối liền Bà Rịa với Xuân Lộc. Năm 1975, sđ 18 bộ binh đã rút lui theo LTL này -- người dịch.

NGÀY 29 TÂY, TĐ 33 BĐQ và một đ.đ. của TĐ 30 BĐQ đã được trực thăng vận để giúp tái chiếm làng. Họ đã lọt vào ổ phục kích có hình chữ L. Địch từ trong các hầm hố đã tấn công bằng đại liên và cối vào chính diện và cạnh sườn của hai đv này khiến TĐ BĐQ này tan rả hàng ngũ.

NGÀY KẾ, TĐ 38 BĐQ đổ quân xuống khu vực phía nam Bình Giã. Khi vừa chạm đất họ đã chạm súng với địch và đã bắt đầu phản công về phía làng. Trận đánh đã kéo dài suốt ngày và BĐQ ko thể đẩy lui địch khỏi các hầm hồ của họ.

Những giờ sáng sớm của NGÀY 30 TÂY, TĐ 4 TQLC được tăng viện cho BĐQ. Vào lúc đó, vc đã rút về hướng đông bắc, và tqlc với các cố vấn Mỹ tiến vào Bình Giã mà ko gặp địch. 

Vào cuối ngày, một trực thăng của lục quân Mỹ trong khi tấn công các mục tiêu trong khu vực đã bị bắn rơi và phi hành đoàn tử thương. BẤT CHẤP LỜI CAN NGĂN của cố vấn Mỹ, TĐT TQLC Việt Nam đã lịnh cho một đ.đ. đến địa điểm máy bay rơi và lấy xác của phi hành đoàn. 

Tuy nhiên, đ.đ. này đã bị phục kích sau khi tới địa điểm bởi một lực lượng lớn VC xử dụng cối 82 ly, súng không giựt 57 ly, và đại liên 50 tức 12.7 ly. 

Vào cuối buổi sáng (late in the morning) của NGÀY 31 THÁNG 12, ba đ.đ. còn lại của tđ TQLC đến tiếp cứu đ.đ. bị bao vây (beleaguered) này, và họ đã bị phục kích bởi một đv lớn của Chính Qui (Main Force) CS có quân số từ 1.200 đến 1.800 người sau khi họ rút chạy về phía làng.

Tính tới cuối chiều có 29/35 sĩ quan của TĐ 4 TQLC tử trận, bao gồm thiếu tá Nguyễn văn Nho và TĐ với quân số 326 người này đã bị thiệt hại rất nặng: 112 chết, 71 bị thương và 13 mất tích. Có 4 cố vấn Mỹ bị thương, và đại úy Donald G. Cook, một quan sát viên OJT từ sđ 3 TQLC Mỹ bị mất tích. 

Khác với lối tác chiến trước giờ, các lực lượng VC đã ko rút lui khi trời tối. Họ đã cố thủ trong BỐN NGÀY. Bình Giã đã khiến QLVNCH và các cố vấn Mỹ phải "mở mắt" -- khi lần đầu tiên, các lực lượng VC đã chứng tỏ rằng với tiếp tế đầy đủ từ bắc VN, họ có thể tiến hành các trận đánh lớn với lực lượng CP. Họ đã học cách kết hợp khéo léo (skillfully) chiến tranh du kích và qui ước để áp dụng một năm sau đó với các lực lượng Mỹ. (Ngày 8/3/1965, 3.500 lính TQLC Mỹ đổ bộ lên Đà Nẳng. Ngày 28/7/1965, TT Johnson gửi thêm 50 ngàn quân tới VN.-- người dịch).

NĂM 1962, TQLC phát triển một khái niệm tác chiến mới có tên là Chiến thuật Diều hâu (Eagle Flight). Đây là chiến thuật phản ứng nhanh khi dùng trực thăng bốc các đv bộ binh VNCH tới các điểm chạm súng hay trận đánh. Vào ngày 29/12/1964, trong một hành quân diều hâu tới bãi đáp Alpha bên ngoài Bình Giã, trung sĩ Harold Bennet, cố vấn BĐQ, đã ko biết rằng một tai họa sắp xảy ra đang chờ ông và những người lính bđq (didn't have a clue of the impending catastrophe awaiting him and his vietnamese Rangers). 

Lúc đó Bennet đang bận tập trung vào rừng cây rậm rạp bên dưới các trực thăng trong lúc các trực thăng tải quân hay "slick" -- bay ở ngọn cây -- hướng về bãi đáp bên ngoài Bình Giã. Hiệu thính viên của y, binh nhứt (private first class hay PFC) Charles Crafts, đã kiểm tra tần số trên máy và giao tiếp các đơn vị trước khi xuống đất (had called in for a commo check before lift-off). Cả hai người lính BĐQ này đã đeo đuổi suy nghĩ riêng tư của họ trong khi tiếng "pạch pạch pạch" của cánh quạt trực thăng đã phá vỡ sự tĩnh lặng kỳ lạ của buổi chiều oi bức (broke the eerie stillness of the sultry afternoon).

Lúc 2 g trưa các trực thăng đã tới bãi đáp hay LZ. Viên phi công của chiếc trực thăng dẫn đường (lead ship) liếc qua bản đồ và dùng ngón tay cái làm dấu hiệu khi máy bay sắp tiếp đất (gave the thumbs up sign as they made final approach). Vài giây sau đó, các lính BĐQ và hai cố vấn của họ đã nhảy ra khỏi máy bay và chạy nhanh như điên để tìm chỗ nắp. Họ đã trên đất thù địch và kẻ thù đang chờ họ (They were in Indian and the Indians were there waiting). 

Bennett và Crafts thuộc về toán cố vấn 4 người thuộc TĐ 33 BĐQ VNCH đồn trú tại Biên Hòa. Sĩ quan thì có đại úy James Behnke và trung úy White. TĐ của họ đã đặt trong tình trạng báo động vào ngày trước, và bây giờ Bennets và Crafts đã đổ quân với đ.đ. 2 thuộc đợt một vào Bãi Đáp Bravo của đợt hai. Y đã ko biết rằng đây là lần cuối y gặp đồng đội.

Sau khi đổ bộ, lính BĐQ của đ.đ. 2 đã di chuyển gần 1.000 mét hướng về Bình Giã. Khi sắp tới làng họ đã chạm súng nhẹ và bắt đầu bị địch bắn sẻ. Trong lúc kêu gọi gunship yễm trợ, và chuẩn bị tấn công các vị trí địch, BĐQ đã bị tấn công bằng hỏa lực mạnh mẻ của địch từ các công sự kín đáo ở chính diện và cạnh sườn. Họ đã lọt ổ phục kích hình chữ L. Vào lúc đó, họ đã ko biết rằng họ đã đụng độ với hai đơn vị cấp trung đoàn -- những trung đoàn sẽ tấn công và hủy diệt TĐ 4 TQLC hai ngày sau đó. 

Lúc 5 g chiều Bennet và Crafts vào 10-12 BĐQ là những người lính sống sót của đ.đ. 2. Họ vẫn còn chiến đấu tới khi VC tràn tới để khống chế họ. Đó là khoảnh khắc mà phi công Lục quân Mỹ Twomey, qua máy truyền tin, nghe được tiếng nói cuối cùng của Bennet. Twomey đã ko thể nào quên những lời nói của người cố vấn BĐQ này, cũng như những tiếng nổ quanh trực thăng của ông, và những đường đạn đánh dấu màu đỏ bay đan chéo nhau (crisscross) trong không trung. Twomey cũng đã nhớ lại những tin đồn mà sau đó ông đã nghe. "Chúng tôi đã nghe rằng Trung sĩ Bennet đã chống đối rất dữ dội trong lúc ở trại tù CS. Chúng tôi đã nghe rằng trước khi bị xử bắn, bọn cai tù đã buộc ông nói trên Đài Hà Nội, nhưng ông từ chối. Đó là tất cả những gì chúng tôi nghe".

San Jose ngày Dec 14 2022. 

 BÀI 2.- TÌNH HÌNH TẠI BÌNH GIÃ TRƯỚC KHI XẢY RA TRẬN ĐÁNH LỊCH SỬ VÀO CUỐI THÁNG 12/1964.

Dịch từ: trang 175 - 179 của quyển                                                                                                                                                                                                                  "Dai-Uy" của cựu trung tá hồi hưu James Behnke, từng là cố vấn của TĐ 33 BĐQ của VNCH.

1/ CHI KHU ĐỨC THẠNH BỊ PHÁO KÍCH

"Sau đó, hiệu thính viên Chan gọi tôi nghe máy. Đó là một phi công L-19. Y đang ở trên khu vực của tôi. Dù tôi ko thể nghe tiếng máy, tôi vẫn biết rằng y ở trên cao và về hướng tây, giữa tôi và Sài Gòn. Y nói với tôi sẽ có mặt suốt đêm. Nghĩa là bao vùng. Y sẽ là đài tiếp vận (relay) của tôi, nghĩa là tôi có thể liên lạc với các cố vấn Mỹ ở BTL quân đoàn ngay lập tức. Thông thường, đơn vị bộ binh dưới đất phải liên lạc mỗi đầu giờ với máy bay, nhưng vì chỉ có mình tôi, nên tôi ko thể làm điều đó. Tôi nói với y đừng trông chờ tôi gọi y vì tôi cần phải ngủ. Nếu tôi cần, tôi sẽ la hoán lên (holler/yell). Y đáp nhận (roger), và nói y luôn túc trực (stand by). 

Tôi ngủ rất nhanh. Đột nhiên tôi đánh thức bởi những tiếng nổ lớn kinh khủng. Bum. Bum. Bum. Tôi bật dậy, mắt mở lớn. Mọi người đều bật dậy và nhìn chung quanh. Điều gì xảy ra. Đột nhiên tiếng súng im bặt. Khoảng 30 hay 40 viên đã được bắn.

Chẳng bao lâu chúng tôi biết điều gì đã xảy ra. Một tiền đồn nhỏ ở đầu phía tây cuả làng đã bị pháo bằng cối.

(Tiền đồn này là chi khu Đức Thạnh, nằm ngay trên liên tỉnh lộ 7, đường từ Xuân Lộc đi Bà Rịa -- người dịch).  Tôi thắc mắc tại sao chúng ko pháo chúng tôi. Cuối cùng tôi cũng biết. Chúng ko pháo vào làng vì có dân. Chúng chỉ pháo vào tiền đồn. Do đó chúng tôi ngủ tiếp.

2/ BẮN LẦM Ở VƯỜN CHUỐI

Ngày kế, 7/12/1964. Chúng tôi rất vui khi thấy chiến xa và thiết vận xa vào làng. Tôi gặp đại úy cố vấn Mỹ của chi đoàn -- một sĩ quan da đen có tên White có thân hình vạm vở (heavy set) và vui tính. Chúng tôi trò chuyện vui vẻ. Các thiết vận xa của y sẽ phối hợp với chúng tôi để bảo vệ làng. Riêng xe tăng sẽ ở những nơi dễ bị tấn công nhứt. Có lẽ cả hai đơn vị (đv) sẽ ở lại làng này vài ngày. 

Vào cuối ngày thì có chuyện. Tôi đang ở quảng trường của làng thì đại úy cho người gọi tôi. Tôi xách máy truyền tin và chạy tới chỗ ông. Y đang ở rìa bắc của làng. Một số lính BĐQ trong khi tuần tiểu khu vực này, đã nghe dân làng nói vài VC đang đào hố (hole up) trong một vườn chuối ở đông bắc. Vườn này rất sát làng. Thực ra, khu vực bắc làng là đồng trống dài nửa dặm hay 800 mét. Vườn chuối này nằm giữa cánh đồng này.

Đại úy yêu cầu tôi kêu trực thăng võ trang bắn vào khu vực này. Tôi gọi một chiếc, nhưng trong khi chờ nó tới tôi nghi ngờ về yêu cầu này. Có thể có sai lầm. Vườn chuối ở giữa đồng trống. Tại sao VC lại trốn ở đó? Dĩ nhiên, chúng có thể. Nhưng có thể có dân làng ở đó. Tôi hỏi đại úy để xác nhận, để chắc chắn ko có người vô tội ở vườn chuối. Y gửi vài người già đến đó. Họ đã tới và bảo đảm với chúng tôi rằng ko ai ở đấy. "VC, VC," họ nói luôn miệng.

Khoảng thời gian đó, các trực thăng đã tới mục tiêu. Tôi điều chỉnh tác xạ. Chiếc đầu tiên nổ súng tấn công từ nam lên bắc. Viên phi công làm tốt công tác vì ko viên nào rơi ngoài mục tiêu. Vườn chuối bị bắn nát (chewed to bits). Đột nhiên, điều khủng khiếp xảy ra. Dân làng chạy khỏi vườn chuối vừa kêu khóc.

"Có dân làng," tôi thét lên. Tôi chụp com-bi-nê và hét vào máy "ngừng bắn".

Chiếc trực thăng ngừng bắn lập tức và quẹo trái (banked left). Dân làng hoảng sợ vừa kêu la vừa chạy khỏi vườn chuối. Khi tới gần họ, tôi thấy một người đàn ông ẳm một em trai. Em này hình như (appear) đã chết. Tay buông xuôi, đầu nghẹo ra sau (tilted back). Em bị trúng bốn nơi. Hai ở tay và hai ở ngực. Máu me khắp người (what a bloody mess). Tôi lập tức gọi chiếc võ trang, chiếc đã bắn em, đưa em đi bịnh viện. Máy bay đáp xuống và chúng tôi đưa em lên. Khi máy bay cất cánh, nước mắt tôi dâng trào.

Tôi nổi giận với chính tôi, với thế giới, với cuộc chiến này. Tôi tháo nón và ném ra xa. Tôi đứng đó, như một pho tượng, hai tay buông xuôi. Tôi chạy nhanh về làng, nước mắt tuôn trào. Tôi vừa giết một đứa bé vô tội. Tất cả giận dữ và thất vọng và đau khổ của 5 (năm) tháng phục vụ tại Việt Nam đã khiến tôi khóc nức nở (pour out in sobs). Tôi chạy đến quảng trường của làng và tới phía sau nhà thờ, dựa súng vào tường để nghỉ một lát. Ngồi trên ghế dài (pew) cuối nhà thờ, tôi khóc nức nở. "Tôi phải làm gì bây giờ, thưa Chúa?," tôi tự hỏi. "Rời bỏ nơi đây? Về nhà? Tiếp tục chiến đấu?"

Người tôi tan nát (I was so torn). Tôi đã từng học để trở thành mục sư (study for the ministry). Nay một đứa bé chết bởi tay tôi. Tôi phải làm gì? Rời bỏ quân đội và trở lại chũng viện (go back to Seminary)? Tôi cầu xin Chúa tha thứ tôi và chấm dứt chiến tranh, chấm dứt cuộc giết chóc bất tận này đối với gần như mọi người Việt Nam. Nhưng tôi lại nghĩ, tôi đã ko can đảm rời bỏ quân đội để trở về chũng viện. Tôi đã hứa với Chúa nhiều lần trong quá khứ. Lần này tôi chỉ nói, "Ngài hảy làm những gì ngài muốn."

Sau vài phút, nước mắt đã cạn, tôi đi về phía sau của nhà thờ, lấy súng, và đi bộ tới tiểu đoàn. Tôi phải ở với họ.

3/ THIẾT GIÁP BỊ PHỤC KÍCH TRÊN LIÊN TỈNH LỘ 7

Ngày kế là một ngày nghỉ. Thật vui khi đi bộ quanh làng, nói chuyện với dân và xem cách họ sống. Tôi thật sự rất vui. Tôi thụ hưởng từng khoảnh khắc. Đây là một ngày xả hơi, quên mọi khủng khiếp của chiến tranh.

Ngày kế chúng tôi được lịnh di chuyển. Chúng tôi sẽ lục soát khu vực phía đông Bình Giả, hướng mà địch rút. Đây là một hành quân phối hợp với xe tăng và thiết vận xa của đại úy White yễm trợ chúng tôi. Buổi sáng đó trời tốt. Chúng tôi bị bắn sẻ một hai phát khi di chuyển về phía đông làng, nhưng ko có gì đáng lo. Địch ko tấn công xe tăng và thiết vận xa giữa đồng trống. 

Lát sau, thiết giáp cho biết đã bắt một VC địa phương. Tôi ko thể hiểu được vì ko có làng nào quanh Bình Giả và người dân ở đây đều thân thiện với chúng tôi. Nhưng họ lại nói đã bắt một VC. Vào lúc đó, đại úy White có lịnh rời Bình Giả và trở lại Vũng Tàu. Thật là lạ, vì cuộc hành quân chưa kết thúc. Chúng tôi di chuyển về làng và được lịnh ở lại. Đơn vị của đại úy White phải đi về phía tây của làng và dùng liên tỉnh lộ 7 để xuôi nam về Vũng Tàu. (Liên tỉnh lộ này, đã được sư đoàn 18 bộ binh dùng để rút lui khỏi Xuân Lộc tháng 4/1975 -- người dịch). Chúng tôi vẩy tay chào đoàn xe thiết giáp.

Khoảng nửa giờ sau, ở khoảng cách rất xa, chúng tôi nghe những tiếng nổ. Tôi và đại úy nhìn nhau. Có chạm súng. Chúng tôi quá xa họ để nghe tiếng súng nhỏ, nhưng chúng tôi có thể nghe tiếng súng của đại liên 50 đặt trên thiết vận xa và xe tăng, và những tiếng nổ của súng 57 ly không giật của VC. Như vậy là thiết giáp bị phục kích. Chúng tôi bất lực nhìn nhau. Nếu chúng tôi di chuyển bộ, xuyên khu rừng này, tới địa điểm phục kích, thì mọi thứ đã xong. Tôi cảm thấy thất vọng. Chúng tôi biết chúng tôi phải làm gì, như đi tới đó để giúp đại úy White. Tôi muốn làm điều đó, nhưng đồng thời tôi cũng ko muốn đi vì biết địch đã giăng bẫy nếu chúng tôi tới. Tôi vừa thất vọng và hổ thẹn. Nhưng tôi ko có quyền quyết định, mà thuộc phía BĐQ. Họ ko di chuyển. Có lẽ họ được lịnh ở lại giữ làng dù cho tình hình diển thế nào.

Sau đó tôi có tin đại úy White đã thoát cuộc phục kích. Lúc đó ông ở giữa đoàn xe và có thể bị giết, nhưng ông đã đạp tay ga (jam the accerator) của xe jeep, và vượt qua những xe tăng và thiết vận xa bị cháy và tới nơi an toàn. Không trúng phát đạn nào. Một số xe tank và thiết vận xa cũng thoát cuộc phục kích. Sau đó chúng tôi biết rằng SÁU xe thiết giáp bị tiêu diệt, bảy người chết, 20 bị thương, và 14 mất tích, trong đó có một trung sĩ Mỹ. Cuộc phục kích xảy ra và kết thúc nhanh chóng. Sau đó đại úy gom lại những kẻ sống sót và đi về phía Vũng Tàu. Máy bay của không quân VNCH đến ném bom và bắn phá, nhưng quá trể. 

Bộ Tổng Tham Mưu ở Sài Gòn ra lịnh TĐ 33 BĐQ ở lại Bình Giả vài ngày.

Monday, December 12, 2022

Cuộc vượt biên kinh hoàng, bằng đường bộ, đi ngang KPC, của gia đình một cô bé, sau trở thành một LS ở Úc.

- Mình tính không bằng trời tính khi họ đã tìm cái sống trong cái chết .

LỜI MỞ ĐẦU: Câu chuyện sau kể về cuộc vượt biên kinh hoàng, bằng đường bộ, đi ngang đất KPC của Khmer đỏ, của gia đình một cô bé, lúc đó còn nằm trong bụng mẹ, sau trở thành một LS thành công ở Úc. Câu chuyện là một phần trong sách "We Are Here" của LS này, xuất bản gần đây tại Úc . . . Sau khi có Cử nhân về Thương mại và Cử Nhân Luật, cô là đại diện của giới trẻ tại Đại hội đồng LHQ và người cổ vỏ cho quyền của trẻ em. Cô nay là GĐ của cty luật Ernst & Young, Vietnam, có chồng là người Canada gốc Hoa -- người dịch).  

Chuyển ngữ từ Anh ngữ từ : http://www.theaustralian.com.au/life/weekend-australian-magazine/what-cat-thao-nguyen-found-when-she-dug-into-her-family-history/story-e6frg8h6-1227222575564

=====

- Chúng tôi đã đạt một điều - mà trái tim và linh hồn của chúng tôi đã khiêm tốn hy vọng, đã âm thầm chịu đựng, và hầu như không có đủ can đảm để ước mơ điều đó trở thành sự thật -- Cảm tưởng của LS Nguyễn Cát Thảo nhân ngày nhận bằng tốt nghiệp LS tại Úc.   



Tôi ngồi với cha tôi tại bàn ăn - được tặng cho chúng tôi bởi một chủ nhà cũ.
Khăn trải bàn bằng nhựa màu vàng với hoa tulip màu xanh phản chiếu ánh nắng mặt trời chiếu xuyên qua cửa sổ nhà bếp. Tôi hỏi ông về quyết định rời khỏi Việt Nam, về những gì ông nhớ của cuộc hành trình qua Campuchia. Vài phút sau khi chúng tôi bắt đầu, ông yêu cầu tôi dừng lại và ông rời khỏi phòng sau khi nói  "Để khi khác" (Later).  Để khi khác đã không đến.
Sáng hôm sau, ba nói rằng ba đã cảm thấy rất khó ngủ và có những ác mộng. Hơi nước từ cà phê hòa tan trong cốc bay lên khi ba nói. Cha tôi có vẻ quá già. Tôi cảm thấy xấu hổ và hối hận. Tôi đã khiến cuộc phỏng vấn này "tấn công" ba tôi giống như một bảng câu hỏi băng giá của bệnh viện dài 10 trang bằng tiếng Anh.
Mẹ tôi nói với tôi rằng mẹ sẽ trả lời bất kỳ câu hỏi. "Bố rất yếu. Ông yếu hơn rất nhiều so với con nghĩ". "Vì vậy, qua những mảnh vỡ của những câu chuyện mà mẹ và người thân của tôi nói theo thời gian, tôi đã có thể tạo một bộ sưu tập ghép hình của lịch sử gia đình của tôi. Không đầy đủ lắm, nhưng tạm được".
Mẹ tôi ngồi im lặng, chìm đắm trong nỗi buồn, trong ngôi nhà của họ ở nông thôn vùng Gò Dầu, (thuộc tỉnh Tây Ninh của VNCH - người dịch) miền nam Việt Nam. Đó là vào giữa của một đêm tháng mười hai năm 1979. Mẹ, cha, chị và anh trai út khóc trong im lặng vì sợ hàng xóm sẽ nghe và báo cáo với viên chức Cộng sản: cha mẹ tôi đang chuẩn bị để tham gia các cuộc di cư hàng loạt của người tị nạn Việt Nam. Gia đình của cha mẹ tôi đã dính líu với chế độ cũ. Cha tôi đã sống sót từ một trại cải tạo và đã có tin nhà chức trách đang tìm kiếm ông một lần nữa.
Cách nhanh nhất hiện nay là qua biên giới Campuchia, cách đó 10 km. Họ đã phải trả tiền cho một người bạn tin cậy của gia đình để thuê những kẻ buôn lậu khác nhau đưa họ qua Campuchia, bây giờ dưới sự kiểm soát của Khmer Đỏ, và vào Thái Lan. Nhóm ra đi có mẹ tôi Mai, 26 tuổi, cha tôi Thịnh, 32 tuổi, Văn - anh trai 12 tháng tuổi, Hải - anh họ 15 tuổi, và cậu Hồng Khanh cũng 15.
Sẽ làm dấy lên nghi ngờ khi đi thành một nhóm lớn, vì vậy cha tôi đi với Hải và cậu Hồng Khanh. Trong vai các con buôn, họ dùng xe đạp đi đến thị trấn Ba-vét ở biên giới KPC-VN và ở lại qua đêm với một kẻ buôn lậu, chờ đợi. Cuối đêm đó, mẹ tôi, bồng anh Văn, di chuyển qua những cánh đồng lúa nằm dọc theo đường đến biên giới, dẫn đường bởi một kẻ buôn lậu. Gần biên giới, được canh gác cẩn mật với những người lính của cả hai bên, mẹ tôi rơi vào một cái hố. Ngay lập tức mẹ tôi bịt miệng anh Văn. Một người nào đó hét lên trong bóng tối: "Ai đấy?"
Bang, bang, bang. Tiếng súng nổ như sấm làm thủng không khí. Tê liệt vì nỗi sợ hãi, hai người nằm co lại (huddle) trong im lặng. Khi đêm đã im lặng, họ tiếp tục đến Ba-vét, nơi họ gặp lại cha tôi. Ngày hôm sau, họ đã lấy phà qua sông Mekong và tìm chỗ trốn, chờ đợi thêm 10 ngày để những người buôn lậu đưa họ về đến Phnom Penh, thủ đô Campuchia. Với đói, trốn tránh mệt mỏi và trẻ sơ sinh yếu kém, họ đã trốn qua đêm trong mái nhà của một ngôi nhà nhỏ và sau đó bắt đầu đi tới tỉnh lỵ của tỉnh Battambang, 300km về phía tây-bắc, bằng cách đi bộ dọc theo quốc lộ và ban đêm thì ngủ trong các chỗ nông (shallow) bên đường. Hết ngày lại đêm, với lo lắng và lo sợ liên tục cho đến khi tới Battambang, và sau đó đi dọc theo đường sắt đến Sisophon, khoảng 50km cách biên giới Thái Lan.
Cậu Hồng Khanh đã bị côn trùng độc cắn và có vết thương hở trên chân của mình; trong đau đớn, cậu không thể đi dễ dàng. Có rất ít nước sạch. Anh Văn đang bị kiết lỵ nặng. Sáng hôm sau, bốn người đàn ông đi xe đạp đến để đưa chúng tôi đến một con đường rừng biên giới - chúng tôi đi từng 2 người, và cách nhau vài cây số để tránh sự nghi ngờ. Cha tôi đã đi đầu tiên, sau đó cậu Hồng Khanh, sau đó mẹ tôi với anh Văn, và cuối cùng Hải.
Trước khi họ đến nơi, ba người đi với cha tôi, Hải và cậu Hồng Khanh đã bỏ rơi họ, mỗi người một mình gần thị trấn biên giới Poipet, nơi những khu rừng xung quanh đầy mìn. Cha tôi chọn một con đường mòn, dùng bởi các con buôn dọc theo biên giới, nhưng đã bị bắt bởi quân du kích (guerrilla) và họ đưa ông đến một khu có rào kẽm gai. Ðêm ấy, ông nằm thao thức trong lo sợ. Không có người nào có thể giúp ông, ông nghĩ như vậy. Sáng hôm sau họ giao ông cho Hội Chữ Thập Đỏ ở biên giới Thái Lan để đổi lấy một ít gạo. Cuộc hành trình khủng khiếp mà ông phải chịu đựng, và ý nghĩ rằng con trai và vợ của mình mất tích, đã khiến ông không còn hy vọng. Cha tôi tự hứa với mình rằng nếu ông không nhìn thấy mẹ tôi trong vòng vài ngày, ông sẽ tự tử (would take his own life).
Một mình trong rừng, cậu Hồng Khanh 15 tuổi đã kiệt sức (give up), vết loét gây nhiễm trùng khiến cậu hầu như bất động. Hải, đi đằng sau vài km, đã tiếp tục đi với hy vọng bắt kịp cậu Hồng Khanh và vừa trông thấy cậu thì một đội tuần tra của lính Khmer Đỏ xuất hiện từ trong rừng rậm. Từ bóng tối, Hải kinh hoàng khi thấy cậu Hồng Khanh bị bịt mắt, báo hiệu một cuộc hành hình sắp xảy ra. Sau đó, một mảnh lớn gỗ được đánh vào đầu của Hồng Khanh và cậu té xuống đất .
Hải chạy. Từ đàng xa, Hải đã nhìn thấy mẹ tôi sau lưng một chiếc xe đạp. Hải bắt đầu vẫy tay, gọi bằng tiếng Việt: "Dì, dừng lại! Dừng lại!" Người đàn ông đạp xe nhanh hơn, hét lớn bằng tiếng Việt với mẹ tôi :  "Nếu chúng ta dừng lại, tất cả chúng ta sẽ chết!" Mẹ tôi chết lặng phía sau xe đạp đang chạy nhanh. Những hình ảnh của một cậu bé 15 t hét lên một mình trong rừng, trở nên nhỏ hơn và nhỏ hơn khi họ đi xa, sẽ ám ảnh mẹ  mãi mãi.
Họ đã đến phòng khám Chữ thập đỏ và các nhân viên y tế điều trị người anh bé nhỏ của tôi. Mẹ tôi đã được đoàn tụ với cha tôi, người đã không nói nên lời, và họ đã sớm đoàn tụ với Hải - người sau đó đã mô tả những gì đã xảy ra với Hồng Khanh. Mẹ tôi đã nghĩ tới em trai kiên cường của bà bị bịt mắt và được bao quanh bởi những người đàn ông có vũ trang trong những khoảnh khắc cuối cùng của cậu. 'Tôi không nên cho cậu ấy đi theo', mẹ đau đớn nói . 'Đó là lỗi của tôi khiến cậu phải chịu đựng một cái chết tàn bạo như vậy'.
Gia đình tôi đã ở trong một trại tị nạn khét tiếng ở khu vực miền núi của Thái Lan. Vào ban đêm, các lính canh và người Thái địa phương khác sẽ hãm hiếp phụ nữ. Những người tị nạn đã luôn luôn cảnh giác/báo động. Tất cả mọi người sống trong nhà tạm, rất đông đúc và không bao giờ có đủ thức ăn và nước.
Khoảng thời gian đó mẹ tôi phát hiện ra mình đã có thai và tôi đã ra đời vào tháng Tám năm 1980 hai tháng sớm hơn dự trù. Trong khi đó, các nhà ngoại giao từ khắp nơi trên thế giới đến thăm trại để giúp tái định cư cho người tị nạn về các nước thứ ba. Úc gần Việt Nam và anh trai của cha tôi đã đến đó bằng thuyền. Gia đình tôi được chuyển đến một trại quá cảnh gần Bangkok. Vào 1 ngày của tháng mười một, chúng tôi đã rời trại, tôi bị  tiêu chảy. Mẹ tôi không dám nói với ai, vì sợ chúng tôi sẽ không được phép trên máy bay. Mẹ dùng quần áo quấn chặt tôi và, cùng với bốn gia đình tị nạn Việt Nam khác, chúng tôi lên máy bay của hảng hàng không Qantas. Không có người châu Á khác trên tàu.
Chúng tôi bay cao xuyên qua những câu chuyện cũ như các cánh đồng chết, hàng rào kẽm gai và mìn, và giả từ vĩnh viễn cậu Hồng Khanh. Bố mẹ tôi vẫn chưa cảm thấy nhẹ nhõm. Không có gì là chắc chắn, kể cả sau đó. Họ ngồi im lặng trong khi những người da trắng xung quanh họ nói chuyện một cách lịch sự. Ngay cả anh Văn, nay đã hai tuổi, im lặng trong suốt cuộc hành trình.
Khi các tiếp viên hàng phục vụ thức ăn, cha mẹ tôi hoảng sợ, lo sợ chúng tôi phải trả tiền. Chúng tôi không có gì ngoại trừ quần áo  đang mặc và sarong trong đó tôi được quấn chặt. Bữa ăn có phục vụ một lon Coca-Cola. Khi người Mỹ đến Việt Nam, ngoài việc mang lại sự hỗ trợ quân sự cho miền Nam, họ đã mang thức uống sang trọng và lạ ngon này. Sau khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975, mẹ tôi đã không nhìn thấy một lon Coca-Cola nào. Bây giờ, năm năm sau đó, mẹ nhìn chằm chằm vào nó và cuối cùng tin rằng nỗi sợ hãi và sự chờ đợi khủng khiếp đã­ đi qua. Màu trắng đỏ có thể có nghĩa là tự do. Dường như mẹ đã nín thở trong nhiều năm qua. Tay nắm chặt Coca-Cola và tôi, em bé ba tháng tuổi, mẹ tôi đã khóc, gần như không tin được: chúng tôi vẫn còn sống.
Đó là một ngày mát mẻ. Như thường lệ, xe buýt, xe tải và các xe thể thao đã cải biến ầm ầm chạy qua ngôi nhà của chúng tôi trên Chapel Road, Bankstown, phía tây nam Sydney. Bên trong, bố mẹ tôi đã sẵn sàng. Hôm nay, gần 30 năm sau khi đến Úc, con gái của họ đã trở thành luật sư. Cha tôi mặc bộ đồ 'vét' duy nhất của mình, với áo sơ mi có cổ màu trắng và cà vạt màu xanh hải quân, ông từng mặc đi đám cưới, đám tang, lễ tốt nghiệp và các sự kiện lớn ở nhà thờ. Mẹ tôi đã mặc một chiếc áo đen dài tay với các hoa văn disco điên cuồng của thập niên 1980, quần màu xám than và đôi dép màu đen. Tôi nhìn cha tôi với tóc có xịt keo và lông mày vẻ đậm, và mẹ tôi, thì ko điểm trang (mẹ không bao giờ học được cách dùng nó), và trong cố gắng của mẹ để không  giống như một người nông dân, trình bày mình với thế giới như nữ hoàng của Western Sydney. Đây là cách ăn mặc đẹp nhất của họ.
Chúng tôi đậu xe ở CLB Thể thao Bankstown và đi bộ đến ga xe lửa. Cha tôi vẫn còn mặc giày nặng với mủi giày bằng thép từ thời làm công nhân nhà máy. Kính đeo mắt giá $3, vẫn còn số độ + 2.0, treo trên mủi nhăn nheo của ba. Tôi nhớ lại về lần đầu tiên cha mẹ tôi đi tàu lửa tới vùng đất mới này, trong những thập kỷ trước đây. Với một gia đình trẻ và không có xe hơi, trong một nỗ lực để tiết kiệm tiền mua thực phẩm ở các tiệm bán lẻ, mỗi cuối tuần họ đẩy một xe mua hàng (shopping cart) băng qua một số đường xe lửa để đến cửa hàng bán sỉ trái cây và rau tại Flemington. Họ đã trở thành gương mặt quen thuộc với các nông gia Việt Nam đã đưa sản phẩm của họ tới đó.
Con tàu đến đúng giờ và chúng tôi bắt đầu đi đến trạm St James ở trung tâm Sydney. Các ga quen thuộc trên tuyến Bankstown qua nhanh, và đó là phong cảnh của cuộc sống của chúng tôi tại Úc. Xe vượt nhanh qua trạm Lakemba, nơi tôi đã bước xuống mỗi ngày để học ở MacKillop Girls High, sau đó là đường Georges và đền thờ Cao Đài, nơi lễ tang của bà tôi đã được tổ chức. Chúng tôi đi qua đường phố nơi Văn học Tae Kwon Do.
Sau vài ga, chúng tôi đến Marrickville, nơi đầu tiên chúng tôi cư trú sau khi chúng tôi ở tại nhà tập thể (hostel) dành cho ng nhập cư Villawood. Tôi nhớ đến những căn hộ mà chúng tôi chạy chơi xung quanh đối diện nhà ga, nơi mà hàng xóm đã dạy mẹ tôi may để kiếm sống sống và từ đây cha tôi đi bộ mỗi ngày để làm việc trong một nhà máy. Nơi chúng tôi có lễ Giáng sinh đầu tiên, mà tôi có thể nhớ lại.
Tại trạm Sydenham tôi nhìn thấy một cô gái châu Á trong một bộ đồng phục trung học ngồi một mình, chờ đợi cho tàu của mình. Cô ấy nhỏ con với một chiếc túi quá khổ, nhìn chằm chằm vào khoảng không, và điều này nhắc tôi nhớ lại mình rất nhiều năm trước đây. Chờ đợi cho tương lai .
"Chúng tôi đến trạm St James và đi lên cầu thang để lên mặt đường phố. Tòa án tối cao NSW xuất hiện trước mắt chúng tôi. Vĩ đại. Uy nghiêm. Một biểu tượng của công lý, của người dân, của dân chủ. Những lý tưởng đã được theo đuổi và giữ chặt bởi cha mẹ tôi khi họ rời khỏi đất nước".
Tôi đề nghị uống cà phê tại quán cà phê bên cạnh. Trong khi cha mẹ tôi nhìn các luật sư và trợ lý pháp lý, tôi đã giải thích ý nghĩa của các bộ tóc giả và áo rất buồn cười này. Cha tôi đã bắt đầu nói về Việt Nam trước khi thống nhất. "Trước năm 1975 ..." Ông cứ luyên thuyên về các trường đại học trong thời Tổng thống Diệm và cách cộng sản phá hủy chất lượng giáo dục. Tôi đã nhìn thấy cha nghiêng đầu khi mẹ tôi nói. Những miếng nhỏ của keo xịt tóc đã khô rơi xuống vai cha như vảy gàu. Tôi gạt chúng đi.
Bên trong, chúng tôi đi qua máy quét an ninh trên đường đến Tòa án Banco trên từng 13. Các bức tranh sơn dầu lớn của các cựu chánh án treo dọc theo các bức tường như tổ tiên đang cảnh giác chúng tôi. Khi đó, trái tim tôi bắt đầu đập nhanh khi thấy cha mẹ tôi đã đi đến chỗ ngồi của mình trong khi tôi ngồi với những người sắp là Luật Sư (LS). Chánh án mặc áo choàng vào phòng. Một sự im lặng đầy trang nghiêm tràn ngập căn phòng. Những tân LS đứng lên từng người một. Một ngàn suy nghĩ đã đến với tôi khi đến lượt tôi. Cha mẹ tôi đã theo dõi với sự tôn kính và niềm tự hào; mẹ tôi, một sinh viên luật cũ cuả chế độ Sài Gòn đã bị tước đoạt những gì tôi mà tôi đang có bây giờ, đứng khiêm nhường.
Tôi nhìn họ, với những kỷ niệm khủng khiếp của họ ngay dưới da của họ; tôi nghĩ về bom mìn, dấu chân ướt trong rừng, máy may, giày với mủ thép trắng, hộp rau từ các chợ đầu mối và các hóa đơn chưa thanh toán từ xa, rất xa, xuất hiện xung quanh chúng tôi như một con rắn với đèn màu. Tôi nhìn thấy một người phụ nữ trẻ nằm co mình  giữa đêm ở một ruộng lúa gần biên giới Việt Nam-Campuchia, ôm một đứa bé trong khi tiếng súng nổ trong bóng tối. Tôi nhìn thấy một người đàn ông trẻ tuổi bên trong hàng rào kẽm gai, xa lìa vợ, sẵn sàng tự tử.
Sau đó, dựa vào vai cha, tôi khóc nức nở trong khi ông vỗ nhẹ vào lưng tôi. Tất cả tôi có thể nói là thì thào "Cảm ơn ba." Cả ba chúng tôi lúng túng ôm nhau. Không ai trong chúng tôi biết làm thế nào để thể hiện tất cả những gì chúng tôi cảm thấy: chúng tôi đã đến một nơi - mà trái tim và linh hồn của chúng tôi đã khiêm tốn hy vọng, đã âm thầm chịu đựng, hầu như không có đủ can đảm để ước mơ đó sẽ trở thành sự thật. Cuối cùng, mẹ tôi cuối cùng đã kéo tôi đi, siết chặt tay tôi. Mẹ cười trong nước mắt trong khi nhân viên chỉ cho chúng tôi đường đến thang máy. Chúng tôi đã đến bến bờ Tự Do./."

San Jose lúc 5:30 chiều ngày chủ nhật 16/8/15 trong lúc nhiệt độ 97 độ F!  






 

Tưởng Nhớ Phan Ngọc Phước xin đăng bài Không Tạc Lộc Ninh

Hình Phan Ngọc Phước và Phạm Văn Bản chụp tại Sài Gòn, Việt Nam

Tôi sao quên trận Không Tạc Lộc Ninh vào năm 1974, với sự tham dự hàng trăm chiến đấu cơ của binh chủng Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, điều khiển bằng hệ thống hướng dẫn đánh bom định vị BOBS (Beacon Only Bombing System) tấn công thủ đô của cái gọi là cơ quan đầu não chính phủ cách mạng, do cộng sản Hà Nội dàn dựng để tuyên truyền lừa bịp dư luận thế giới trong chiến tranh Việt Nam trước đây. Vùng đất ‘hoàng triều cương thổ’ của Vi-Xi (VC, Việt Cộng) thuộc tỉnh Bình Long, nằm trên Quốc Lộ 13 cách Sài Gòn khoảng 60 cây số. Chính phủ bù nhìn này khai sinh từ Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam, theo Nghị Quyết số 15 năm 1959, của trung ương đảng Lao Động Việt Nam tức tiền thân đảng Cộng Sản Việt Nam ngày nay.


Buổi sáng đẹp trời mùa thu năm ấy, sau bữa café điểm tâm cùng các bạn Sơn, Đảo, Phước… ở quán nằm cạnh phòng điện ảnh Sư Đoàn 4 Không Quân, tôi ra xe trở lại phòng trực hành quân đơn vị, vào phòng tiếp liệu lấy dù, mũ áo súng đạn để chuẩn bị ra trận đánh giặc. Không đoàn hôm nay nhộn nhịp khác thường, kẻ ra người vào tấp nập và bàn chuyện hành quân oanh kích thủ đô ồn ào như di vỡ tổ.

Không Đoàn 74 Chiến Thuật của Sư Đoàn 4 Không Quân tọa lạc tại Phi Trường Bình Thủy quận Trà Nóc tỉnh Phong Dinh, gồm có 3 phi đoàn khu trục phản lực A37 là Thần Báo 520, Satan 526, Thiên Sứ 546 và 3 phi đoàn quan sát. Riêng các hoa tiêu khu trục vừa nhận lệnh không tạc Lộc Ninh, cất cánh từ Trà Nóc với 30 A37 trang bị đầy đủ cấp số hỏa lực bom đạn, mỗi máy bay mang 6 quả 250/ hay 4 quả 500 cân Anh/ mỗi quả, hoặc mang hỏa tiễn chống tăng T54.

Trận không tạc này, phi cơ số 1 là Đại Tá Nguyễn Quang Ninh, Không Đoàn Trưởng Không Đoàn 74 Chiến Thuật chỉ huy tổng quát. Bảy phi tuần trưởng và phi tuần phó hướng dẫn các thành viên của mình bay hợp đoàn theo đội hình phi tuần nặng, 4 phi cơ trong mỗi phi tuần và 7 phi tuần nặng bay lên thành đại phi tuần, trông tợ trận không kích Tora Tora của Nhật Bản đánh xuống Trân Châu Cảng ở thời Đệ Nhị Thế Chiến năm xưa.

Cất cánh từ phi trường Bình Thủy chiến đấu cơ nhắm điểm tụ bay vòng chờ ở Long An. Sau khi hợp đoàn, đại phi tuần lấy cao độ 35 ngàn bộ và bình phi về hướng biển Vũng Tàu, để hội nhập thêm với hai cánh quân khác của Sư Đoàn 2 và Sư Đoàn 5 cũng có cấp số hoa tiêu và A37 trang bị tương đương. Tổng phi tuần lúc này bao gồm ba đại phi tuần của các Sư Đoàn 4, Sư Đoàn 5 và Sư Đoàn 2 hợp lại rồi đổi băng tầng BOBS bay về hướng Bắc theo Quốc Lộ 13.

BOBS là hệ thống vận hành và định vị mục tiêu bằng vô tuyến (radio becon) trong việc điều khiển các phi cơ tiến đến oank kích thủ đô Lộc Ninh. Trong tai tôi cũng bắt đầu nghe tiếng morse tíc tè, ví dụ bay sang bên phải là chữ A, ký hiệu tíc tè [._] còn lấy về phía tay trái là chữ N thì nghe tè tíc [_.]. Nếu bay lệch đường bay mà phi công không chịu chỉnh hướng thì tiếng morse phát ra to dần hơn cho tới khi âm thanh đó có thể phá rách màng nhĩ, bị điếc (Inab).

Khi bay hướng tới tọa độ mục tiêu (heading to target) sẽ nhận tín hiệu 10 giây đếm ngược (ten second countdown tone) từ số 10 về tới Zero, rồi nghe tiếng “bíp…” thì toàn thể bấm nút thả bom đồng loạt. Với bao trăm qủa bom rơi xuống tọa độ mục tiêu như trải thảm, rồi bùng nổ kinh thiên động địa khiến cho Việt Cộng hoảng hồn khiếp sợ, tưởng đâu pháo đài B52 hay cánh cụp cánh xòe của sư đoàn anh cả đỏ tham chiến thời 1965 trở lại,... sau ngày ký kết Hiệp Định 1973 ngưng bắn Ba Lê!

* * * *

Sáng nay lệnh oanh kích từ Phòng Hành Quân Chiến Cuộc Sư Đòan 4 Không Quân, truyền qua điện thọai “đỏ” đặt trên bàn Sĩ Quan Trực reo vang. Nhóm hoa tiêu khu trục lúc ấy đang vây quanh bàn cờ tướng tới hồi chiếu bí, kẻ mách nước đứa tài lanh hiến kế cho đôi quân trắng đen thắng cuộc. Vì ham vui cho nên nhiều anh chưa kịp ăn sáng! Đang lúc ồn ào như cái chợ, tiếng reng điện thoại trấn át mọi thứ âm thanh, và mọi người nhìn nhau đều biết chuyện gì xảy ra. Trong phút thinh lặng, không ai bảo ai nhóm cờ tướng đột ngột phóng ra cửa để chạy tới xe bánh mì đậu gần lô cốt trước cổng, và mỗi anh thủ một ổ thịt nguội nhai ngấu nghiến hầu tránh làm ma đói!

Thoáng chốc họ đã trở lại phòng trực tập họp một trăm phần trăm quân số để ký tên vào sổ bay, lấy lệnh hành quân, lấy dự báo thời tiết, lấy bản đồ và chấm tọa độ mục tiêu, cùng tình hình địch bạn. Nhìn theo lối rẽ về hướng ra phi đạo, từng hàng xe pick-up chuyên chở phi công ra đến ụ che chắn máy bay (lô cốt), lấy tàu và đề máy.

Phi vụ Không Tạc Lộc Ninh của Sư Đoàn 4 hôm nay là một đại phi tuần, bao gồm 7 phi tuần nặng. Mỗi phi tuần nặng có 4 phi cơ bay hợp đoàn do người phi tuần trưởng (phi cơ số 1) chỉ huy, bay cánh phải là phi tuần viên (phi cơ số 3), cánh trái của phi cơ số 1 là phi tuần phó (phi cơ số 2) có nhiệm vụ dẫn dắt máy bay của phi tuần viên số 4 bay cánh trái.

Các phi tuần trưởng và phó điều động thành viên bay đội hình gồm ba phi đoàn Thần Báo, Satan, Thiên Sứ cất cánh lấy cao độ và bình phi ở 35 ngàn bộ, tới điểm hẹn Vũng Tàu thì tập hợp với hai sư đoàn không quân mà chuyển sang tầng số của BOBS và đổi hướng về phía Quốc Lộ 13. Đánh bom Lộc Ninh, bao gồm phi trường và những dãy phố trong hãng xưởng sản xuất cao su đã có từ thời Pháp thuộc để lại. Hiện nay bị Việt Cộng xâm chiếm, xây dựng nhằm tuyên truyền lừa bịp dư luận thế giới về thắng lợi của chúng với 3 yếu tố thủ đô, lãnh thổ và dân chúng để thành lập một quốc gia riêng. Đây cũng là dữ kiện chính trị mà cơ quan ngôn luận truyền thông quốc tế quan tâm, yểm trợ và thiên vị về phe phản chiến ở Hoa Kỳ, đồng thời họ gây bất lợi cho công cuộc chiến đấu tư vệ của Việt Nam Cộng Hòa.

Tôi bước vào phòng dù lấy áo mão súng đạn đi bay, và thành thật mà nói rằng chưa mấy khi đơn vị của tôi đi đánh trận mà vui buồn lẫn lộn như hôm nay. Trong phòng máy lạnh ù ù thổi, mịt mù hơi sương như đang cố gắng trấn áp cái nhiệt độ oi bức của miền Tây Đô nắng đổ. Hơn nữa cái lạnh phòng này còn phải hạ nhiệt, làm giảm sức nóng lo lắng trong lòng một số anh em “lạnh cẳng” trước khi ra trận.

Riêng anh em Thần Báo chúng tôi, nhìn chung tất cả đều can trường nơi tiền tuyến, và luôn giữ quân phong quân kỷ khi về hậu phương, tợ như thi hào Nguyễn Du từng phác họa trong Kiều: “Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa!” Ví dụ, Thiếu Úy Phan Ngọc Phước vai đeo dù nặng nề mà còn đứng ngắm trước gương sửa sang quân phục cho phong nhã, chỉnh lại cặp kíếng Rayban mắc tiền đã sắm từ thời còn học lái máy bay bên Mỹ, xem ra cũng còn mới mẻ và hào hoa ra phết! Xa xa trong góc phòng kia, Thiếu Úy Lê Xuân Vinh đứng tần ngần chắn lối, đang lấy khăn dù lau lại chiếc đồng hồ Rolex “nạm kim cương” cũng đâu thua kém các vua dầu hỏa Trung Đông!

Và Thiếu Úy Phạm Văn Bản, có đại danh “Bản Mát” cũng không quên rút giấy mực kẹp vào tập Checkbook dành ghi nhật ký trong ngày. Đang lúc sửa soạn đi bay, thì nhân viên phòng dù Hạ Sĩ Nguyễn Văn Nam bước lại, lên tiếng phá tan bầu không khí yên tĩnh trong giờ thứ 25: “Em cám ơn Thày. Nhờ thày giúp em học ôn, mà em thi đậu bằng tú tài!” Nghe giọng quen thuộc, tôi ngước lên nhìn người anh em Không Quân, bắt gặp ánh mắt đẫm lệ của Nam, người học trò trong lớp luyện thi của tôi tháng qua. Lớp học này đặt tại Phòng Điện Ảnh của Sư Đoàn 4 Không Quân.

Ngày ấy nhóm chuyên viên điện ảnh, Hạ Sĩ Nguyễn Văn Đảo là bạn đồng hương, biết tài giáo khoa của tôi từng phụ trách lớp luyện thi tú tài, do hội bảo trợ Chương Trình Dân Sự Vụ (Civic Action) của Lục Quân Hoa Kỳ (US Army) khi tôi còn làm trung sĩ thông dịch viên của căn cứ Long Bình, và lớp học này mở tại trường trung học Ngô Quyền với kết quả khóa thi mỹ mãn. Bởi thế Hạ Sĩ Đảo khẩn khoản mời, ngoài giờ bay bổng thì xin giúp cho anh em ở đây có giờ học ôn, vì khóa thi của Nha Khảo Thí/ Bộ Quốc Gia Giáo Dục tổ chức kỳ thi Tú Tài tại trường trung học Phan Thanh Giản, Cần Thơ vào trung tuần tháng 8 năm 1974.

Thấy anh em nhiệt tình và hiếu học, tôi cũng đành chiều lòng mà nhận lời, rồi nhờ Chuẩn Úy Nguyễn Văn Điện, Trưởng Phòng Điện Ảnh đứng ra thực hiện lớp học, đệ đơn trình Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Tần, Tư Lệnh Sư Đoàn IV Không Quân ký giấy phép mở lớp luyện thi. Dù là học ôn, nhưng tôi cũng phải trình bày tường tận từng chi tiết của các môn học, sao cho học viên lĩnh hội kiến thức giáo khoa một cách dễ dàng, rõ ràng. Riêng vào giờ học thì có thể bắt đầu bất cứ lúc nào khi tôi có giờ dạy, kể cả sáng trưa chiều tối. Và ngày khai giảng cũng đông sĩ tử, cũng “một thầy một cô một chó cái, học trò dăm đứa. . .” (Cao Bá Quát) nhưng bỏ cuộc dần dần… Còn lại 6 học trò, trong số ấy có tài xế Nam đang lái Pickup màu da trời, đậu trước phòng tiếp liệu để đưa đón hoa tiêu ra vào phi đạo.

Tình cảm lê thê của Nam với tôi chỉ ngắn gọn có thế thôi. Riêng tôi thì hú vía, và tự nghĩ mình cũng thật là may phúc! Vì kỳ thi hôm ấy có kết quả sáu người học Đảo, Nam, Sơn, Tùng, Nghĩa, Giàu thi đậu và có bằng Tú Tài toàn phần! Dân gian ngày ấy có câu, “Rớt tú tài anh đi trung sĩ” thì bạn đọc hiểu rằng cái bằng nó thiết thực với anh em binh sĩ trên đường tiến thân. Với văn bằng, bạn ấy có thể làm đơn xin theo học khóa huấn luyện sĩ quan, trở thành người lãnh đạo chỉ huy, thăng quan tiến chức, công danh sự nghiệp! Cũng bởi tầm mức quan trọng như thế, cho nên tiệc mừng của “ông nghè ông cống” mời tôi, vào ngày 22 tháng 8 năm 1974 với món rựa mận tiết canh hiếm quý! Và cũng trong cái đêm chén tạc chén thù ấy, tôi phải gượng tỉnh cơn say để chở vợ vào bảo sanh viện Thủ Khoa Nghĩa, Cần Thơ. Đó cũng chính là ngày sinh nhật của trưởng nữ Bảo Ngọc chào đời!

Giờ đây gặp Nam trong tình thày trò quyến luyến như Chinh Phụ Ngâm, khiến tôi gượng khổ làm vui. Nhưng có lẽ Nam lại nghĩ về tôi rằng, trước giờ phút xuất quân thì dữ nhiều lành ít hoặc “mấy ai đi trở lại, lỡ khi mình không về. . .” (Hữu Loan). Nam chạy lại đỡ chiếc dù nặng nề của tôi đặt ra xe giữa những tiếng cười đùa trong đám đồng nghiệp: “Bản Mát, làm thày có khác, có đệ tử vác dù.” “Chắc năm sau, tớ cũng mở lớp luyện thi, kiếm đệ tử.” “Nhớ Đời ngoài Bình Thủy, quán thịt nai đồng quê ấy càng ngày càng đắt khách!”

Phước Inab -- học bay ở Sheppard bị thủng màng nhĩ -- bỗng dưng cười phá lên, lôi cả mớ bùa thi ESL hộ mạng ngày nào ở Trường Sinh Ngữ Quân Đội, ra đọc. Các câu chấm đúng vần A, B, C thì giữ nguyên vần, còn chữ khác chấm con D. . . Bài bùa bắt đầu: “Cậu Á hỏi Bác Bản: 1 (C) 2 (A) 3 (D) 4 (B) 5 (B)...” Rồi cứ thế, Phước thao thao bất tuyệt cho tới khi bài thi ESL kết thúc ở câu thứ 100, thi trắc nghiệm Anh Văn ai đánh bùa trúng thì đậu và đi du học Hoa Kỳ... Thế là tất cả phi hành đoàn ngồi trên xe, bất kể các cấp từ Tá xuống tới Úy, đều ôm bụng mà lăn ra cười! Chiếc công xa từ từ ngưng bánh đậu trước ụ A37, tôi nhìn đúng số tàu, xách dù leo nhanh như muốn trốn lời nhắn gởi cuối cùng của Nam, “Bảo trọng, nghe thày!” Tôi vẫn còn nhớ trận cười vừa qua, không sao dơ tay lên để đáp lại cái chào quân kỷ của Hạ Sĩ Nam, rồi vội vàng nổ máy.

* * * *

Sau phút lăn bánh tiến ra phi đạo, tôi tăng tốc và cất cánh, rồi điều khiển con tàu êm ả tiến vào vị trí cánh phải phi tuần trưởng của tôi đang làm vòng chờ, trong đội hình 30 khu trục phản lực cơ A37 của Không Đoàn 74 Chiến Thuật. Vừa bay trong hợp đoàn, tôi cảm thấy cứ nghi về chuyện gián điệp trong trận không tạc Lộc Ninh này, không biết trận đánh lớn này có đạt kết qủa thành công như ước muốn chăng? Liên tưởng câu chuyện kỹ thuật xâm nhập và gài người Cộng Sản Bắc Việt vào hàng ngũ Việt Nam Cộng Hòa để thu thập tin tức và đánh phá, tập tài liệu mà đêm trực chiến hôm trước của phi đoàn tôi đã đọc.

Vụ gián điệp Huỳnh Văn Trọng, làm phụ tá đặc biệt của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Trọng nguyên là một cán bộ Cộng Sản Bắc Việt được gài vào chức vụ cao nhất trong cơ quan hành pháp. Cộng Sản Bắc Việt đã dùng tiền mua chuộc cơ quan tình báo chiến lược Hoa Kỳ CIA, để giới thiệu Huỳnh Văn Trọng qua trung gian viên chức tình báo cao cấp Trung Tướng Đặng Văn Quang, Cố Vấn của Tổng Thống Thiệu, giúp Trọng xâm nhập vào tận Dinh Độc Lập.

Bởi thế, những kế hoạch tối mật được sọan thảo chưa thực hiện, thì Trọng đã tiết lộ cho Cộng Sản Bắc Việt biết hết. Từ những dự tính chính trị mang ra áp dụng tại Hội Nghị Paris năm 1971, Dinh Độc Lập mật điện cho phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa hôm trước để ngày hôm sau trưởng phái đoàn sẽ đưa ra hội nghị. Nhưng Cộng Sản Bắc Việt và Nguyễn Hữu Thọ đã biết trước, đã phản biện bằng cách nhanh gọn và thắng kiện bất ngờ! Tiếp đến, kế hoạch đánh chiếm Hạ Lào năm 1972, theo lời một sĩ quan tham mưu Lữ Đoàn Nhảy Dù, thì phía Cộng quân đã được biết trước tất cả, cho nên chúng án binh bất động, chờ ta để mà lãnh những tổn thất lớn! Bởi thế, trận không tạc thủ đô Lộc Ninh năm 1974 của Không Đoàn 74 Chiến Thuật phải khiến tôi nghi ngờ, mặc dù trong tai tôi vẫn còn những dấu âm thanh tích tè, báo đúng lộ trình của đài BOBS!

Bầu trời trong xanh không gợn áng mây, phi tuần đoàn đang từ từ chuyển hướng về phía Lộc Ninh. Chúng tôi lắng nghe quan sát viên L19, Họa My đang có mặt trong vùng báo cáo:

“Tình Hình Tổng Quát: Tọa độ mục tiêu là phần đất thuộc Quận Lộc Ninh, Tỉnh Bình Long, phía Bắc là đường biên giới Việt Miên, phía Đông là Sông Bé, phía Nam là Suối Cát. Địa thế có cao độ 6000 bộ, bao gồm 45% rừng xam chen lẫn tre hoang, 35% rừng cao su, 25% rừng cây ăn trái và vùng dân cư. Lợi dụng địa thế hiểm trở, sát cạnh biên giới và hành lang Sông Bé, Việt Cộng thiết lập một vùng có nhiều căn cứ, nhất là căn cứ 350 được đặt làm thủ đô của “chính quyền cách mạng lâm thời” thâm nhập sâu đến Quốc Lộ 14 A, địch quân phục kích các đoàn quân xa, đánh mìn và chận xe đò thu tiền cước phí nuôi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Tổng hợp các tin tức tình báo cho biết: Tiểu Đoàn D368 với các thành phần chủ chốt như sau: Tiểu Đoàn Trưởng là Thượng Úy Huỳnh Phúc Kháng, Tiểu Đoàn Phó là Đại Úy Tô Minh Diệp, Chính Trị Viên là Đại Úy Huỳnh Văn Bằng. Quân số 100. Trú ẩn tại TDB.XU.875045 đã thiết lập tại vùng này nhiều cơ sở, như Trạm xá (TBD.XU.840010), Kho bảo trì vật liệu và Ban Thông tin (TBD.XU.861045). Theo nguồn tin tình báo cho biết, Việt Cộng vừa thiết lập một căn cứ mới có xe tăng T54 tháp tùng, gồm có khoảng 25 hầm chứa xe tăng T54, và 250 người, có thể đây là căn cứ mới gọi là thủ đô. Riêng tại vùng Đông Nam Lộc Ninh theo tin kỹ thuật ghi nhận một đơn vị Việt Cộng cấp Trung Đoàn (E6) đã xâm nhập nội địa Việt Nam.”
Sau phần trình bày về “Tình hình tổng quát,” Họa My cho biết mục tiêu đánh bom vào tất cả những khu nhà xây có mái ngói đỏ trước mặt nằm trong khu rừng cao su, phía đông phi đạo Lộc Ninh. Theo lệnh hành quân, nếu như phương án (một) đánh BOBS vì lý do gì mà không thả bom được, thì các phi tuần sẽ theo lệnh “Break,” đội hình để thực hiện phương án (hai) tức tấn công mục tiêu theo phương pháp ngoại quan, như kiểu đánh bom bình thường hàng ngày.

“Tíc. . . tè. . ., tè… tíc…” Âm thanh tín hiệu càng gần mục tiêu thì càng phát ra lớn hơn. Khu nhà lớn mái ngói đỏ trong rừng cao su nằm phía đông phi đạo Lộc Ninh đang hiện ra rõ trước mặt. Âm thanh của đài phát tuyến BOBS hướng dẫn rất đúng, tôi liếc qua tấm bản đồ rồi định hướng cũng rất đúng. Với tầm bay 15 ngàn bộ trên mục tiêu lúc này, trừ ra 6 ngàn bộ cách mặt đất tôi còn lại cao độ 9 ngàn bộ là độ cao lý tưởng nhất và an toàn nhất trong phương pháp thực hành thả bom ngoại quan!

Trước mắt tôi mục tiêu khu nhà ngói đỏ, liếc sang cánh phải phi cơ của tôi giữ vững khoảng cách với cánh trái một thước vuông (3 feet) của Thiếu Tá Bùi Văn Minh, và tôi thấy phi tuần trưởng ra lệnh kiểm soát dầu. Thiếu Tá Minh dơ ngón cái của bàn tay phải nắm lại rồi đưa lên cao, ngửa mặt lên trời rồi nghiêng ngón cái ấy phía miệng, như người tu rượu… Tôi nhận lệnh bằng gật đầu, kiểm soát nhiên liệu phản lực JP4! Săng dầu còn nhiều, tôi dơ cao ngón cái đáp lời. Liếc sang bên cánh trái, tôi thấy Trung Úy Trần Trung Tỷ, phi tuần phó cũng đang ra lệnh cho phi tuần viên Thiếu Úy Phan Ngọc Phước kiểm dầu.

Chưa tới điểm thả bom, âm thanh BOBS chưa phát tín 10 giây đếm ngược: “Tích. . . tè. . . tè. . . té!” Khi nghe tiếng “té” thì bấm nút thả bom! Dễ ợt! Ấy thế mà lắm anh, ngày còn học bay thả bom BOBS với mấy quả bom giả bằng cẳng tay ở Căn Cứ Không Quân New England, Tiểu Bang Louisana mà ném vào mục tiêu còn cà trật cà duột! Bỗng nhiên bầu trời nổi lên từng điểm khói trắng nổ tỏa ra như mây cumulus, và đoàn bay hô “Break!” Quái ác thay, máy vô tuyến của tôi bị trở ngại, không còn liên lạc được với ai. Mọi người đã rời vùng để lấy hướng bay Long An để về đáp ở Cần Thơ, nhưng tôi không biết, và “Phước Inab” cũng hét lên muốn bể bầu trời mà tôi vẫn không nghe âm thanh nào!

Toàn bộ hỏa lực của địch lúc này đang nhắm vào tôi, tôi giựt mình thoáng nghĩ nếu không xuống đánh, không đập tan được mục tiêu thì chắc gì mình đã an toàn rời vùng, vì kinh nghiệm bao năm qua cho tôi biết thế. “Mãnh hổ nan địch quần hổ,” từ 15 ngàn bộ tôi đang bay cũng là tầm nhắm lý tưởng của các cây súng cao xạ phòng không ngựa trời mà địch đang bắn lên từ khu nhà mái ngói đỏ! Có những quả đạn đỏ lừa xuyên qua tàu tôi trong gang tấc, rồi Cộng quân cứ thế mà nổ, nổ “vô tư!” Nhìn vào cuộc diện chiến trường, kiểm soát lại mọi điều kiện nhiên liệu, hỏa lực của mình đang có và mở hết các khóa an tòan, tôi lao xuống trong khi chờ tiến đến đúng điểm thả bom, thì tôi đã bóp cò hết mấy chục ngàn viên đạn nhắm xuống khu nhà mái ngói đỏ kia. Và khi đạt đúng tầm thả bom, cách mặt đất 3 ngàn bộ, tôi bấm luôn 6 trái rơi trúng mục tiêu!

Nhìn lại mục tiêu đang bốc lên với những khối lửa cuồn cuộn, những luồng khói trắng nghi ngút, nhưng những dàn phòng không Việt Cộng sao bỗng dưng hiền lành, im re! Tôi đảo người lấy lại cao độ rồi phi diễn theo bài số 8 (lazy eight maneuver) lượn vòng tăng tốc xóay lên thật đẹp như một con rồng vút cánh tung mây giữa nghìn trùng bao la thơ mộng. Bài học phi diễn này cũng là bài tôi thích nhất từ những ngày còn bay tập ở trường bay Sheppard. Trời Việt Nam là Trời của tôi!

Vì không còn vô tuyến để liên lạc, mở radio nghe nhạc cũng không còn, và bỗng dưng tôi thành kẻ câm điếc. An tòan cho tôi hạ cánh, tôi chọn phi trường Biên Hòa để đáp. Tôi làm vòng chờ và thực hiện đúng theo bài học mà mình đã học ở trường bay Hoa Kỳ, bánh hạ cánh cản và xin đáp khẩn cấp theo dấu hiệu đèn báo. Đài kiểm báo của phi trường Biên Hòa đã nhận lệnh theo yêu cầu xin đáp khẩn cấp vì mất liên lạc vô tuyến của tôi, đài trực cuối phi đạo RSU bật đèn, và tôi theo lệnh ánh sáng đèn mà đáp.

Tới cuối đường băng, tôi phải ngừng lại theo lệnh của cơ quan an phi điều tra. Sau khi tôi được chứng thực về lỗi kỹ thuật vô tuyến liên lạc, thì tôi lại chịu tra vấn về vụ ném bom xuống trúng mục tiêu. Chính lúc này những câu thẩm vấn của cơ quan điều tra, đã tự trả lời cho tôi nhiều nghi vấn mà tôi suy ra trong lúc còn đang bay trên đường đánh giặc. Mặt khác, vì dù sao tôi cũng đã trải qua kinh nghiệm người trưởng lưới của Hoa Kỳ ở Long Bình năm xưa, nên cũng chẳng lấy gì làm lạ! Nhất là thời buổi nhiễu nhương này.

Giữa những phút Cộng Sản Bắc Việt huyênh hoang tấn công miền Nam tự do, Tổng Thống Thiệu đã yêu cầu Hoa Kỳ cho B52 yểm trợ, nhưng không thành. Để dạy cho Việt Cộng bài học, nếu như không có B52, thì cũng có A37 rải bom như B52 vậy. Nhưng kế hoạch đánh Lộc Ninh vào những tháng cuối năm 1974 đã bị bại lộ! Chắc chắn đã có gián điệp làm nội tuyến để ngăn cản trận bom Lộc Ninh, nhưng vô tình đã bị hỏa lực của tôi phá hủy. Tôi được dịp kể lại câu chuyện này với anh em trong Phi Đoàn Thần Báo có sự hiện diện của Đại Tá Ninh, tại San Jose trong dịp Đại Hội Khu Trục ngày 7 tháng 5 năm 2005, rồi sau đó tôi về Việt Nam lôi Phan Ngọc Phước ra kể tiếp, khiến Phước ôm bụng cười bò giữa chốn chợ cá Trần Quốc Toản, Sài Gòn về bài học điệp viên!


Phạm Văn Bản

Saturday, December 10, 2022

 

World: Victory at Kannack

Camp Kannack stands on the crest of a gentle hillock near the midfield stripe of South Viet Nam, balanced like a football waiting for the kickoff. From the Kannack compound and its adjacent dirt airstrip, some 400 American and montagnard defenders oversee dense jungle, slippery slopes and the crumpled folds of ravines ideally suited for enemy mortar attack. A single ribbon of road leads south toward embattled Route 19, the east-west highway where government convoys are frequent prey for Viet Cong ambushes. Last week the Communists hit Kannack.

The Viet Cong waited until a thick layer of rain cloud covered the mountain crests around Kannack. Insured against U.S. jet attacks, they struck, nearly 1,000 strong, at the camp's north, south and east flanks. Dozens of assault squads in black shorts and green kerchiefs of parachute silk slipped up to the barbed-wire perimeter carrying Bangalore torpedoes. There followed bangs galore.

Wives & Desperation. Then shock troops dragged wicker baskets full of grenades and ammo through holes blown in the wire, knocked out a sandbagged bunker on Kannack's northeast corner with one shot from a 57-mm. recoilless rifle, then blasted through the camp's bloody southeast angle to carry a string of defensive bunkers. All told, Kannack's defenders lost 33 dead and 27 wounded—most of them in the first assault.

But the mountain men—a mixture of Hrey, Bahnar, Rhade and Muong tribals —dug in and held. As they turned their mortars on their own overrun positions, their women carted ammunition into the trenches and fed belts into the clatter ing machine guns. It was a grim sort of togetherness, born of desperation. "I think the montagnards fought well because most had their families with them," said an American adviser. "These people are ruthless when it comes to life or death. One guy was in a bunker, completely cut off, and the V.C. called on him to surrender. He told them to go to hell and ran down the hill."

End of the Trail. Demoralized, the Viet Cong drew back. In the morning light, more than 100 Communist dead dangled on the wire, some clutching grenades and belts of unburnt ammunition. They belonged to the battle-hardened 580th and 801st Viet Cong battalions, and the dead carried new, Communist-bloc weapons—tying the guerrillas to outside supplies of ammunition and spare parts—a sure sign of Communist confidence in ultimate victory.

Many of the Communist dead at Kannack had been wounded earlier, probably during U.S. jet strikes on Viet Cong positions along Route 19 last month. Some had been nipped by the ''Lazy Dog," a new U.S. anti-personnel bomb that explodes 30 yds. above the ground, spewing tiny fléchettes (steel darts) over a block-square area. Among the dead was a young North Vietnamese lieutenant named Ngo. In his diary, he told of the arduous trip down the long Ho Chi Minh trail that began last November. It ended last week on the barbed wire before Kannack. "My life is very hard," he wrote. "There is not enough to eat, and all the time the planes bomb me."