Monday, March 15, 2021

 

Ban Mê Thuột, Trận Mở Đầu Cộng Sản Việt Nam Tổng Công Kích 1975

Vũ Thụy Hoàng

VTT-ZZNOV-11-SaiGonTuyenTrangLGT: Với sự chấp thuận của tác giả, chúng tôi đăng lại bài bút ký dưới đây, trích từ tác phẩm “Sài Gòn Tuyết Trắng” (ấn bản lần thứ tư, xuất bản năm 2000)  của Vũ Thụy Hoàng, một khuôn mặt quen thuộc trong số các nhà văn, nhà báo tên tuổi  ở Virginia. Vũ Thụy Hoàng từng ở trong ngành báo chí 49 năm, trong đó có 33 năm với Washington Post,  là tác giả của 4 tác phẩm: Rồng Vàng Vượt Biển, Sài Gòn Tuyết Trắng, Quê Hương Thương Ghét  Múa Bút.

Vũ Thụy Hoàng cũng là một hội viên viễn cư của Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh Miền Đông Hoa Kỳ, hiện đang cư ngụ tại California.

anloc051

Ban Mê Thuột vào chập tối hôm 9 tháng 3, 1975 vẫn là địa đàng đối với cuộc sống cặp kè cạnh tử thần của Thiếu Úy Thám Báo Nguyễn Công Phúc. Ở đây Phúc có người tình say đắm ngóng chờ. Ở đây Phúc được thưởng thức hương vị thơm nóng của ly cà phê, ngồi phà nhẹ làn khói thuốc, ru lòng nghe tiếng hát ngọt ngào của những ca sĩ qua loa âm thanh nổi. Đó là những thứ Phúc thèm nhớ nhất trong những ngày lẩn lủi ở rừng sâu giữa lòng địch.
Trẻ tuổi, quả cảm, ưa thích văn nghệ, Phúc vừa trở lại Ban Mê Thuột lúc chiều. Mười ngày qua Phúc cùng đại đội thám báo được phái đến Bandon, một địa điểm heo hút cách Ban Mê Thuột chừng 40 cây số về phía tây bắc gần sát biên giới Kampuchia. Bandon trước kia là một căn cứ của Lực Lượng Dân Sự Chiến Đấu được Biệt Kích Mỹ huấn luyện, rồi sau đấy chuyển sang thành Biệt Động Quân Biên Phòng. Căn cứ nằm trấn ngang hành lang đường mòn Hồ Chí Minh của quân Bắc Việt xâm nhập vào nam.
Thám báo được coi là những binh sĩ thuộc loại ưu tú nhất, thiện chiến nhất và gan dạ nhất. Thiếu Úy Phúc là trung đội trưởng thuộc đại đội thám báo của Trung Đoàn 45, Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Hậu cứ của sư đoàn đặt tại Ban Mê Thuột.
Trong những đêm rải quân ra ngoài nằm giữa núi rừng vắng lặng, Phúc và đồng đội nghe thấy tiếng xe di chuyển, hoặc tiếng đốn cây sửa đường của Cộng quân. Không phải chỉ gần đây Cộng quân mới ồ ạt và gần như công khai di chuyển người và vũ khí trên đường mòn Hồ Chí Minh. Từ hơn một năm trước, Phúc và những toán thám báo đã khám phá nhịp độ gia tăng và xâm nhập rầm rộ của Cộng quân.
“Mình báo cáo hoài mà chẳng thấy cấp trên làm gì cả. Có lần thượng cấp còn bảo ‘báo cáo nhiều quá rồi, khỏi cần báo cáo nữa,'” Thiếu Úy Phúc kể lại những ngày lặn lội nguy hiểm ở hậu cứ địch để trinh sát. “Thế mà họ vẫn thảy mình vào chỗ chết như chơi. Nhảy vào sau tuyến địch. Ở giữa vùng địch, nếu bị lộ, khó chạy thoát. Chỉ có chết hoặc bị bắt. Chết thì còn đỡ. Bị bắt mới khổ. Nó tra tấn hành hạ. Mình là tai, là mắt của quân đội, nó có thể móc mắt, xẻo tai để trả thù. Trước kia đi công tác xong, có trực thăng đến đón về. Sau này trực thăng ít, có lần phải lội bộ mà về. Chỉ mới hơn tháng trước ngày Tết, tụi này mất sáu toán trinh sát ở gần Thuần Mẫn, một quận lỵ nằm trên đường 14 nối liền Ban Mê Thuột với Pleiku.
“Không có những vụ đi nhảy vào hậu cứ địch, thì lại đi tăng phái. Cứ chỗ nào gay cấn, khó khăn, đánh nhau dữ, thì họ lại đưa mình tới để tăng phái cho đơn vị khác. Tăng phái là đi làm rể với họ, mở đường cho họ đi hành quân. Mình đi đầu lãnh đủ.”
Đang ở Bandon, Phúc và đồng đội được lệnh đi tăng phái cho Đức Lập, một quận nằm về phía tây nam Ban Mê Thuột. Chưa kịp đến thì nghe tin Đức Lập mất, Phúc và đại đội được lệnh về Ban Mê Thuột. Nhưng đường bộ đi Ban Mê Thuột cũng đã bị cắt đứt, xe không đến được để chở đại đội. Một trực thăng Chinook được phái tới và phải bay hai chuyến mới chở hết đại đội có 70 người.
Đến Ban Mê Thuột, đại đội được cử tăng phái cho Trung Đoàn 53 đóng gần phi trường Phụng Dực. Vì đến bất ngờ, và vì doanh trại của trung đoàn không đủ chỗ, đại đội thám báo được chỉ định ra đóng quân ở địa điểm sát phi trường.
Đi rừng nhiều ngày về, lại không được thông báo về tình hình, binh sĩ thám báo như chim được xổ lồng, bay nhảy ra ngoài. Một số binh sĩ muốn về thăm thân nhân. Đại đội trưởng cùng Phúc và mấy sĩ quan khác lên xe Jeep vào thành phố. Chỉ còn đại đội phó và một số lính khác ở lại địa điểm đóng quân.
Phúc muốn ghé lại thăm người tình ở thành phố. Biết ý, đại đội trưởng bảo: “Mày cứ ở đây, Có gì tao cho xe lại bốc.” Phúc cũng không muốn để các bạn lẻ loi lâu, nên hẹn sẽ gặp các bạn ở quán cà phê đường Hai Bà Trưng.
Thành phố Ban Mê Thuột tối chủ nhật 9/3/1975 vẫn sinh hoạt như thường lệ. Tiệm ăn, quán nước, phòng trà, rạp chiếu bóng vẫn mở cửa.
Ban Mê Thuột là thành phố lớn của vùng cao nguyên với dân số chừng 150,000 người, trong đó có nhiều người Thượng. Thành phố đất đỏ này còn nổi tiếng về cà phê, và là nơi trước kia quốc trưởng Bảo Đại thường đến nghỉ ngơi và săn bắn. Với vị thế chính trị và kinh tế đó, Ban Mê Thuột còn là bản doanh của Sư Đoàn 23.
Trong kỳ tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, Cộng quân đã tấn công vào thành phố,và giao tranh ác liệt đã xảy ra trong ba ngày.
Từ đầu năm 1975 Ban Mê Thuột đã mấy lần được báo động là Cộng quân có thể tấn công. “Tin nói Việt Cộng sẽ tấn công đã xảy ra nhiều lần,” Nguyễn Ngọc Vỵ, phó tỉnh trưởng Darlac mà tỉnh lỵ là Ban Mê Thuột, nhớ lại tình hình hồi đó. “Trước Tết đã có tin nói Việt Cộng sẽ đánh Ban Mê Thuột, nên quân dân đều chuẩn bị. Một số người đã tản cư đi, không ăn Tết. Sau không thấy gì, họ trở về. Đến khi lại có tin Việt Cộng sẽ tấn công, tâm lý mọi người là nửa tin, nửa nghi. Ngày 8 tháng 3, đại tá tỉnh trưởng họp, cho biết tình hình nghiêm trọng, Cộng sản sẽ tấn công nhưng không biết ngày nào.”
Ban Mê Thuột vào tối ngày 9/3 như con nai còn thản nhiên nhấm búp non trên cành cây. Nghe tiếng động sột soạt ở gần, nai không biết có cọp dữ núp sau lùm cây sắp sửa nhảy ra vồ.
Từ một địa điểm trong rừng sâu cách Ban Mê Thuột mấy chục cây số, Văn Tiến Dũng và bộ tham mưu đang nóng lòng ngồi chờ “giờ giao thừa,” (1) giờ nổ súng tiến đánh Ban Mê Thuột. Dũng là tổng tham mưu quân đội Bắc Việt được cử vào miền nam trước đó hơn một tháng để trực tiếp chỉ huy trận đánh Ban Mê Thuột, mở màn cuộc tấn công vùng cao nguyên trung phần.
Cuộc tấn công đã được quyết định dứt khoát vào ngày 9/1/1975 tại Hà Nội. Ý kiến đánh Ban Mê Thuột do Tướng Trần Văn Trà đề xướng, thúc đẩy và vận động, trong khi Bộ Tổng Tham Mưu Bắc Việt dè dặt chưa muốn (2). Trà là tư lệnh chiến trường B2 bao gồm Nam Bộ và một phần của vùng II. Trước đó Bộ Chính Trị Bắc Việt trong một phiên họp 20 ngày từ 18/12/1974 tới 8/1/1975 đã chấp thuận kế hoạch chiến lược trong hai năm 1975-76, theo đó năm 1975 Cộng quân mở cuộc tấân công lớn và rộng khắp miền nam để tạo điều kiện mở cuộc tổng công kích vào năm 1976.(3) Sau khi phiên họp Bộ Chính Trị bế mạc, ban Thường Trực Quân Ủy Trung Ương họp bàn việc thi hành quyết nghị. Trà được sự tán đồng của Lê Đức Thọ, nhân vật quyền thế thứ hai sau Lê Duẩn. Khi Quân Ủy đang họp, Thọ tới dự, bảo “Phải đặt vấn đề dứt khoát là giải phóng Ban Mê Thuột. Ta có gần năm sư đoàn ở Tây Nguyên mà không đánh được là thế nào”” (4)
Hà Nội chọn Tây Nguyên làm chiến trường chủ yếu, và Ban Mê Thuột làm điểm tấn công vì cho rằng chiếm được Ban Mê Thuột sẽ “tạo ra một thế trận hiểm và cơ động có thể làm thay đổi nhanh cục diện chiến trường” và “dẫn đến việc giải phóng miền Nam.” (5)
Ban Mê Thuột là trung tâm chính trị, kinh tế và có vị trí chiến lược xung yếu ở vùng cao nguyên. Võ Nguyên Giáp, một chiến lược gia của Hà Nội đã từng nói chiếm được cao nguyên là kiểm soát được Đông Dương. Giáp ranh với Miên, Lào ở phía tây, vùng cao nguyên nối liền với duyên hải bằng quốc lộ 19 từ Pleiku đi Qui Nhơn, và quốc lộ 21 từ Ban Mê Thuột đi Ninh Hòa. Quốc lộ 14 bắt đầu từ tỉnh Quảng Nam chạy xuyên cao nguyên qua những tỉnh Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột xuống tới An Lộc và Tây Ninh. Vì vậy kiểm soát được Ban Mê Thuột là kiểm soát được những con đường ở phía tây đi xuống vùng Sài Gòn. Đã hai lần vào năm 1965 và năm 1972 Cộng quân đã tấn công mạnh ở cao nguyên, mưu toan tiến xuống duyên hải cắt Nam Việt Nam làm đôi.
Vùng cao nguyên này đất rộng, người thưa, nhiều rừng núi và Cộng quân đã dùng làm hành lang xâm nhập người và chiến cụ từ bắc vào nam. Để ngăn chặn những xâm nhập của Cộng quân, Mỹ Việt đã cho thiết lập nhiều căn cứ dọc theo biên giới. Những đoàn Dân Sự Chiến Đấu, trong đó hầu hết là người Thượng, đã được CIA và Biệt Kích Mỹ huấn luyện từ năm 1961. Vùng cao nguyên từng là nơi xảy ra nhiều cuộc giao tranh khốc liệt giữa Cộng quân và các lực lượng Việt Mỹ như trận đánh ở Ia Drang năm 1965 giữa bộ đội Bắc Việt và sư đoàn 1 Không Kỵ của Mỹ mới tới Việt Nam. Trong trận này Mỹ bị 305 người chết, cùng với hàng ngàn Cộng quân (6). Trận đánh dữ dội khác ở Dak To năm 1967 cũng gây tổn thất nặng nề cho cả hai bên: 287 người Mỹ chết, 985 bị thương, cùng với 347 binh sĩ Nam Việt Nam thiệt mạng; phía Cộng quân 1.200 chết. (7)
Vùng cao nguyên vẫn thường được dự đoán là nơi Cộng quân nhắm vào mỗi khi mở cuộc tấn công lớn, nhưng đoán biết được điểm mà địch sẽ tấn công là điều không dễ.
Để thực hiện kế hoạch tấn công Ban Mê Thuột, bộ tham mưu Hà Nội chọn phương châm “mạnh bạo, bí mật, bất ngờ và nghi binh rất nhiều.” (8)
Trong việc chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột, Cộng quân huy động tới năm sư đoàn và 15 trung đoàn thiết giáp, pháo binh, phòng không và công binh, với tổng số binh sĩ từ 75.000 đến 80.000.(9) Một phần lực lượng này được bố trí để bao vây, chia cắt và cô lập Ban Mê Thuột với các tỉnh lân cận và đồng bằng thuộc Quân Khu II, đồng thời chặn đánh quân tiếp viện đến giải tỏa cho Ban Mê Thuột. Quốc lộ 19 và quốc lộ 21 vì vậy bị Cộng quân cắt đứùt từ mấy ngày trước khi Ban Mê Thuột bị đánh.
Lực lượng quốc gia phòng thủ ở Ban Mê Thuột chỉ có Trung đoàn 53 thuộc sư đoàn 23, một liên đoàn Biệt Động Quân cùng những đơn vị cơ hữu của hậu cứ, và Địa Phương Quân, Nghĩa Quân.(10) Hai trung đoàn 44, 45 của sư đoàn được đưa đi tăng cường ở vùng Pleiku. Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23, do Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, chỉ huy cũng đã di chuyển lên đóng ở Hàm Rồng gần Pleiku. Tại Ban Mê Thuột chỉ còn bộ chỉ huy nhẹ của sư đoàn và do Đại Tá Vũ Thế Quang, tư lệnh phó sư đoàn, điều hành.
Cộng quân như vậy chiếm ưu thế cả về bộ binh, thiết giáp và trọng pháo trong trận đánh Ban Mê Thuột. Theo Văn Tiến Dũng, bộ binh Cộng quân gấp năm lần rưỡi, xe tăng và xe bọc thép gấp 1,2, pháo lớn gấp 2,1 (11)
Để bảo toàn bí mật, để trận đánh khởi tiến bất ngờ, Cộng quân tìm cách dấu kín lực lượng, bố trí kín đáo các đơn vị và tạo thế nghi binh, làm quân lực Việt Nam Cộng Hòa ước tính sai lầm hướng tấn công của đối phương. Làm như nhắm đánh vào Kontum và Pleiku, Văn Tiến Dũng cho gia tăng những cuộc quấy rối, pháo kích vào hai vùng đó, đánh chiếm đoạn đường trên quốc lộ 19 đi Qui Nhơn, và huy động dân đi làm đường, sửa đường ở vùng họ chiếm đóng. Dũng ra lệnh “đánh một la mười.” (12)
Trong lúc khoa trương khí thế ở phía bắc, Cộng quân âm thầm di chuyển quân xuống phía nam. Tình báo Mỹ cũng bị Cộng quân đánh lừa. Sư đoàn 320 của Bắc Việt kéo quân xuống vùng Ban Mê Thuột, nhưng vẫn để bộ tư lệnh giả ở vùng Đức Cơ gần Kontum và tiếp tục gửi các tín hiệu vô tuyến đi, làm ban kiểm báo của Mỹ và Việt đều tin là sư đoàn đó vẫn ở mạn bắc. (13)
Dũng có ý tập trung ba sư đoàn ở phía nam để bất ngờ đánh như “sét giáng” (14) vào Ban Mê Thuột..
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân Khu 2, vẫn tin rằng mặt trận Kontum, Pleiku là mục tiêu chính của Cộng quân. Khi Cộng quân tấn công và pháo kích vùng Pleiku mấy ngày trước khi tấn công Ban Mê Thuột, Phú còn điều động trung đoàn 45 lên tăng viện cho Pleiku. Tướng Phú định xuống Ban Mê Thuột để xem xét tình hình hôm 8/3, nhưng sau lại hoãn chuyến đi. Cùng ngày đó, Cộng quân cô lập hẳn Ban Mê Thuột bằng cách cắt đứt nốt đường 14, đánh chiếm Thuần Mẫn ở phía bắc, Đức Lập và Dak Song ở phía nam. Chiều ngày 9/3 Tướng Phú mới đáp trực thăng xuống Ban Mê Thuột để họp bàn tình hình. Lúc ông rời đấy, thành phố đang là con mồi làm đích cho những đoàn Cộng quân sắp sửa xuất phát,
Khoảng 10 giờ tối Phúc cùng mấy sĩ quan còn ngồi ở quán cà phê nghe nhạc. Ngoài đường xe Quân Cảnh chạy qua khu thị tứ của Ban Mê Thuột để tìm kiếm quân nhân còn lai vãng ngoài doanh trại. Thấy mấy sĩ quan còn ở quán, quân cảnh đến chào và thông báo Ban Mê Thuột đã có lệnh báo động đỏ, các binh sĩ phải trở về ngay đơn vị, và Cộng quân có thể nổ súng bất cứ lúc nào. Phúc cùng đồng bạn vội nhảy lên xe Jeep, phóng ngay về Phụng Dực.
Phúc và đồng đội nhận lệnh bố phòng và phân chia vị trí phòng thủ. Phúc đốc thúc binh sĩ đào hố cá nhân. Đất cứng, trời lại tối, việc đào hố thật vất vả, lại phải làm gấp rút.
Đi kiểm soát và thanh sát ngoại vi phòng thủ, Phúc bắt gặp đường giây điện thoại dã chiến giăng mắc ở vài nơi. “Cộng quân như vậy đã ở xung quanh mình, có lẽ chỉ cách vài trăm thước. Chúng có thể thấy mình mà không nổ súng vì chưa có lệnh. Lúc ấy vào khoảng nửa đêm,” Phúc kể lại.
Đúng hai giờ sáng ngày 10/3 Cộng quân khai hỏa. Cuộc tấn công Ban Mê Thuột khởi đầu bằng những cuộc pháo kích “bão lửa,” đồng thời xe tăng, đại bác, cao xạ, bộ binh xuất quân, trong lúc những đội đặc công xâm nhập thành phố. Chiến xa địch ở cách Ban Mê Thuột 40 cây số lên đường, dùng phà vượt sông, tiến về Ban Mê Thuột. (15) Mấy mục tiêu chính lúc đầu là sân bay quân sự L19 ở trong thị xã, kho đạn Mai Hắc Đế, tiểu khu Darlac, tòa hành chánh tỉnh, bộ tư lệnh sư doàn 23, và hậu cứ của trung đoàn 53 sát phi trường Phụng Dực.
Tại phi trường L19 một trực thăng bay lên bị bắn rớt. Các máy bay khác bị tiêu hủy. Tại kho đạn đại úy chỉ huy bị nội công bắn chết khi vừa ở trong phòng bước ra.
Lúc Việt Cộng bắt đầu pháo kích, Phó Tỉnh Trưởng Nguyễn Ngọc Vỵ đang ở tòa hành chánh tỉnh. Tòa tỉnh sau cũng bị pháo,Vỵ liền đưa gia đình, gồm vợ và sáu con nhỏ từ 2 đến 11 tuổi, ra khỏi tòa hành chánh, đến ở nhà một người dân ngoài phố, rồi quay trở lại tòa tỉnh. Sau đợt pháo, từ bốn giờ trở đi, Vỵ nghe có tiếng súng nhỏ ở mấy nơi xa xa. Vỵ ra thăm lại gia đình. Dọc đường Vỵ gặp mấy người Thượng chạy vào cho biết Việt Cộng đã kéo về đầy buôn của họ. Vỵ dặn gia đình nếu có bề gì thì trà trộn lẫn vào trong đám đông đồng bào.
Khoảng gần 7 giờ Vỵ chạy sang tiểu khu. Một trái đạn pháo của địch nổ cách Vỵ có mấy thước. Chiếc xe bị lật. Vỵ bị tung khỏi xe, lăn xuống đường. Lính đưa Vỵ vào trong tiểu khu và Vỵ liên lạc được với Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng.
Đến khoảng 9 giờ, tiểu khu cháy gần hết vì bị pháo, trừ khu truyền tin. Đại Tá Luật cùng Vỵ chạy sang bản doanh sư đoàn. Vừa ló ra khỏi tiểu khu, “thấy Việt Cộng đông như vịt,” Vỵ phải chạy trở lại tiểu khu và tòa hành chánh. Vỵ và một thiếu tá dùng súng bắn nhau với Việt Cộng. Mấy phút sau, một trái đạn pháo kích nổ cách chỗ hai người chừng năm sáu thước, Hai người thấy tình hình nguy hiểm, tìm lối rời bộ chỉ huy tiểu khu. Tiểâu khu lúc ấy không còn mấy ai. Hai người đến được bộ tư lệnh sư đoàn, lính canh không chịu mở cổng. Đại Tá Luật cũng tới nơi, phải xưng danh, sau đấy Đại Tá Vũ Thế Quang, tư lệnh phó sư đoàn phải ra nhận diện rồi cho lệnh, lính mới mở cửa.” Vỵ vào được bộ tư lệnh khoảng 11 giờ rưỡi.
Bộ tư lệnh sư đoàn đến lúc này vẫn chưa bị tấn công và vẫn tiếp tục liên lạc với sư đoàn, quân đoàn và không đoàn ở Nha Trang. Qua máy truyền tin, Thiếu Tá Hy, trưởng phòng 3, còn báo cáo đã diệt được 12, 13 xe tăng của địch. Bộ tư lệnh cho rằng sớm muộn Cộng quân sẽ cho xe tăng đến tấn công, nên đã bố trí sẵn bốn khẩu súng bắn chiến xa 57 ly ở cổng chính và đặt chiến xa ở vòng ngoài. Ban Mê Thuột cũng xin Không Quân đến oanh kích những địa điểm tập trung của Cộng quân, và yểm trợ bộ binh để đánh lui các cuộc tấn công của địch.

Đêm đó, tình hình lắng đọng, “một thứ yên lặng ghê sợ,” theo lời Phó Tỉnh Vỵ. Mọi người đều hồi hộp chờ đợi cuộc tấn công nữa của Cộng quân. Lúc này Vỵ thấy đói. Lương thực cũng như đạn dược lại nằm ở ngoài vòng đai của Bộ Tư Lệnh.
Sáng ngày 11, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 phấn khởi khi được tin có những phi vụ bạn đến oanh kích Cộng quân. Máy bay tới liền bị súng phòng không địch bắn lên dữ dội. Phi cơ bay tít trên cao và thông báo không thấy rõ mục tiêu oanh kích. Ban Mê Thuột được biết nửa giờ sau sẽ có phi vụ khác.
“Lúc 7 giờ 5 phút, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 bị trúng ngay trái bom của phi cơ thả xuống. Máy truyền tin bị tê liệt, không liên lạc được với bên ngoài. Mọi người hoang mang, mất tinh thần, lo chạy ra khỏi hầm. Vừa lúc đó, một trái bom khác nổ, làm sập cửa hầm, bít kín mất lối ra. Ai nấy sợ hãi, tuyệt vọng, mò mẫm trong đường hầm tối thui để tìm lối thoát. Có người dẫm cả vào thương binh. Moi móc gạch vụn mất 15 phút sau mới tìm thấy lỗ để chui ra. Mới ngoi lên khỏi hầm thì thấy xe tăng Cộng quân ở phía xa. Dãy nhà tôn ở gần đấy đã bay mất mái có lẽ vì sức ép của hai trái bom. Lính cũng chạy ra theo Đại Tá Luật. Đại Tá Quang đứng ở trên, một tay cầm khẩu Colt, tay kia chống nạng sườn, hỏi ‘Đại Tá Luật đâu” PC (bộ chỉ huy) sập, phải tái lập.'”(16)
Đại Tá Quang chỉ lối chạy sang khu thiết giáp nằm khuất sau bệnh viện. Một số lính chạy theo. Khu thiết giáp còn hơn chục chiếc thiết vận xa M113 và một số lính. Thấy không thể ra lối trước vì sẽ đụng đầu với xe tăng của địch, Đại Tá Quang ra lệnh cho thiết giáp cán lên hàng rào kẽm gai ở phía sau mà đi.
Toán quân có chừng 200 người thoát xuống được thung lũng, đến suối Đốc Học là chỗ khuấât và hơi kín. Suối lúc này cạn vì là mùa khô. Tưởng là thoát nguy, nhưng rồi thấy Việt Cộng ở cách đó không xa. Lính được dàn ra, bố trí, mai phục sẵn. Đại Tá Quang định tử thủ tại đấy, nhưng Đại Tá Luật cho chỗ đó trống trải quá. Hai người bàn cách đến trung tâm huấn luyện binh sĩ của sư đoàn để từ đấy bắt liên lạc lại với các đơn vị. Trung tâm này lại nằm phía bên kia thị xã Ban Mê Thuột. Muốn đến đó, phải theo đường đi qua thị xã, hoặc băng rừng vòng quanh thị xã. Đại Tá Quang, từng ở Nhảy Dù, muốn liều dẫn quân xâm nhập qua thành phố vào lúc đêm tối để tới trung tâm. Ông cho rằng Cộng quân có thể chưa kịp nắm vững tình thế ở thị xã đêm đó. Đại Tá Luật thấy lối đó táo bạo và nguy hiểm, muốn đi đường vòng qua rừng để đến trung tâm. Bàn luận một hồi, hai ông quyết định phân tán, cho lính muốn theo ai thì chọn. Có chừng 50 người theo Đại Tá Luật. Số còn lại theo Đại Tá Quang. Hai toán chia tay nhau vào khoảng 11 giờ.
Vỵ là phó tỉnh nên theo Đại Tá Luật, tỉnh trưởng. Toán này lội bộ đến Buôn Ky gần đồn điền cà phê của cựu Trung Tướng Thái Quang Hoàng. Đi một lúc, Đại Tá Luật bảo mình đi lạc xa mục tiêu cả bảy cây số. Vừa vượt qua một ngọn đồi trọc, toán quân thấy xe tăng của Cộng quân. Cộng quân cũng nhìn thấy họ.
“Xe tăng quạt mấy loạt liên thanh. Đoàn người chạy trở lại phía sau đồi. Chạy mới được 10 thước, Đại Tá Luật té đánh bịch. Mọi người lo chạy cho lẹ. Cố theo nhau mà chạy. Lúc chạy trốn, mình không sợ chết, mà chỉ sợ lạc. Chạy được ba bốn cây số, sang tới một đồi khác, toán của Vỵ chỉ còn một thiếu tá, một đại úy và một trung úy. Ai nấy quần áo tơi tả, rách bươm. Có người chỉ còn may ô, quần đùi,” Vỵ kể lại.
Áo của Vỵ rách nát vì vướng cành cây, bụi rậm. Lẩn vào khu trồng cà phê, Vỵ tựa người vào gốc cây. Vừa đói, vừa mệt, Vỵ ngủ thiếp đi lúc nào không biết.
Vỵ chỉ giật mình thức dậy khi nghe nói “Chúng mày ngụy!” Vỵ mở mắt, thấy mấy mũi súng đang chĩa vào mình. Mấy thanh niên mặt trẻ măng nhìn chằm chặp vào Vỵ. Rồi chúng xông vào trói Vỵ, giải đi.
Ba ngày sau được đến chỗ mới, Vỵ gặp lại Đại Tá Luật bị giam cùng một chổ. Đại Tá Quang bị Việt Cộng bắt ở một địa điểm khác.
Được tin Ban Mê Thuột bị tấn công, Quân Đoàn II điều động lực lượng của sư đoàn 23 ở Pleiku về tiếp cứu. Bộ Tư Lệnh lúc đó đang ở Hàm Rồng. Binh sĩ sư đoàn rất nóng lòng về cứu Ban Mê Thuột vì nhiều người có gia đình tại thành phố hậu cứ của sư đoàn. Cả lính kèn cũng tình nguyện về, theo lời Trung Úy Trần Hùng thuộc phòng 3 của sư đoàn. Vì phải đợi có trực thăng, quân tiếp viện mãi hai ngày sau mới được đưa về Phước An, cách Ban Mê Thuột chừng 30 cây số về phía đông. Trên đường vào giải vây cho Ban Mê Thuột, quân tiếp viện mới đi chừng 10 cây số thì bị chặn đánh, tiến không nổi vì địch có chiến xa. Theo Philip B. Davidson, binh sĩ khi về đến Phước An lo đi tìm kiếm vợ con, và khi gặp vợ con thì bỏ hàng ngũ đưa gia đình đi. (16)
Những cơ sở đầu não ở Ban Mê Thuột bị đánh chiếm trong hai ngày đầu Việt Cộng tấn công vào thành phố. Mấy ngày sau Sài Gòn chưa nhìn nhận Ban Mê Thuột thất thủ vì chiến trận còn tiếp diễn ở khu gần phi trường nằm phía ngoài thị xã. Góp phần đáng kể vào việc kéo dài trận chiến là một đại đội chừng 70 binh sĩ tinh nhuệ, gan lì, được huấn luyện đặc biệt và quyết tâm hăng say chiến đấu đến cùng. Tham gia trận chiến Ban Mê Thuột ngay từ ngày đầu, và là đơn vị sau chót rút khỏi đấy là đại đội thám báo mà Thiếu Uý Nguyển Công Phúc là một trung đội trưởng.
Đại đội đã chiến đấu trong hoàn cảnh cô đơn, cam go, căng thẳng và thiếu thốn súng đạn, lương thực. Họ đã gây tổn thương nặng cho một tiểu đoàn địch, giúp Trung Đoàn 53 của bạn chống trả lại những đợt tấn công mãnh liệt của đối phương, đồng thời chấm tọa độ hướng dẫn pháo binh bạn bắn vào những vị trí địch.
Một trong những yếu tố để đại đội đạt được thành tích trên và tồn tại mà chiến đấu bền bỉ nhất ở Ban Mê Thuột là Cộng quân không biết vị trí đóng quân kín đáo và bất ngờ của đại đội. Cộng quân khi tấn công Trung Đoàn 53 đã bị thúc mạnh vào cạnh sườn vì không biết có đại đội thám báo nằm quanh những ụ đất dùng để che chở cho máy bay ở phi trường và gần rừng cao su phía ngoài căn cứ của trung đoàn. Đại đội mới nhận vị trí đóng quân ở đấy vào buổi chiều. Chỗ đóng quân lại không phải là doanh trại. Quanh phi trường lại có những bãi trống, địch tiến quân dễ bị phát hiện.
Trong những giờ đầu của cuộc tấn công, Phúc theo dõi tình hình mặt trận qua máy truyền tin. Được trang bị hệ thống truyền tin tối tân hơn những đơn vị bộ binh thông thường khác, đại đội thám báo có thể liên lạc với những đợn vị bạn theo hàng dọc, mà cả với mấy đơn vị theo hàng ngang như quân đoàn, sư đoàn và không đoàn ở Nha Trang. Nhờ vậy Phúc biết thêm một số diễn tiến ở trận chiến. Trong đêm tối, giữa những tiếng gầm thét và những tia chớp lóe sáng của đạn pháo kích, Phúc nghe qua âm thanh hỗn loạn của máy truyền tin tiếng những đơn vị bạn gọi nhau ơi ới, báo cáo tình hình, yêu cầu bắn yểm trợ hoặc điều quân tiếp cứu.
Trung Đoàn 53 đêm đầu bị pháo kích mạnh. Đến 5 giờ sáng căn cứ bị địch tấn công từ hai phía đông bắc và đông nam. Địch chiếm được một phần căn cứ. Vào khoảng 8 giờ, quân trú phòng phản công, Cộng quân bị đánh dạt sang một bên. Một cánh quân Việt cộng đã chạy về phía tây nam qua khu đất trống của phi trường. Họ trở thành “những con mồi, những mục tiêu bắn bia,” theo lời Phúc, cho những tay súng thám báo nằm phục sẵn ở bìa rừng cao su gần phi đạo.
Thu dọn chiến trường vào buổi chiều, đại đội thám báo đếm được trên 40 xác Việt Cộng bỏ lại, cùng với hơn 100 nón cối, tịch thu một số vũ khí, đạn được và quân trang, trong đó có năm hỏa tiễn tầm nhiệt SA7. Một số súng đạn này sau được dùng để bắn lại Cộng quân trong mấy ngày sau.
Cuốn nhật ký tịch thu trên người một đại đội trưởng Việt Cộng cho biết anh ta thuộc tiểu đoàn K5 của sư đoàn 316 từ Bắc Việt xâm nhập. Đây là một sư đoàn cơ giới trên đường xâm nhập vào Nam đã sử dụng trên 500 chiếc xe lớn để chuyên chở binh lính, trong đó có cả chiến xa, xe bọc thép, đại bác tầm xa, cao xạ và những loại xe vận tải khác. (17) Nhiều xác lính Việt Cộng còn mang theo những khẩu hiệu “Mình Đồng, Vai Sắt.” “Ăn No, Đánh Thắng” “Bí Mật, Bất Ngờ.”
Hăng say với thắng lợi ngày đầu, Phúc và binh sĩ thám báo hôm sau càng thêm mừng rỡ, phấn khởi hơn nữa khi hay tin quân tiếp viện được đưa về giải vây cho Ban Mê Thuột. Trung Đoàn 44 được gửi tới gần Buôn Hồ ngày 11/3. Ngày hôm sau Trung Đoàn 45, là trung đoàn gốc của đại đội, được trực thăng vận xuống Phước An.
Nhưng niềm phấn khởi đó bị xẹp mau, khi được biết tiểu khu Darlac bị mất, bộ tư lệnh sư đoàn 23 bị chiếm, rồi quân tiếp viện không vô nổi và đã bỏ chạy lúc đụng đầu với xe tăng Việt Cộng.
Binh sĩ thám báo cũng thấy nao núng, mất bình tĩnh khi thấy trực thăng tản thương bị bắn rơi, thương binh không được di tản. Họ cũng tiếc xót nhìn những dù tiếp tế không rơi xuống phần đất của mình, mà nằm vật vờ trên mặt đất trống giữa mình với địch. Bên nào mon men định ra kéo dù vào liền bị bên kia bắn chặn. Những dù đó nằm suốt ngày ngoài nắng, chờ đêm tối mới có người liều lĩnh ra kéo.
Trong những ngày chiến đấu kế tiếp với Việt Cộng, Phúc và đồng đội còn trải qua nhiều nguy hiểm, gian lao, khổ cực. Không có đủ lương thực và súng đạn, họ phải dùng súng đạn và lương thực tịch thu được của Việt Cộng. “Lương khô của chúng được ép thành miếng như bánh đậu xanh. Ăn vào khát nước muốn chết. Anh em phải xuống con suối ở cạnh ngọn đồi cuối phi đạo để lấy nước. Quân mình đã dặn nhau đi lấy nước cũng phải mang súng theo. Thấy tên nào lấy nước mà không có súng, thì đó là địch, được quyền bắn.
“Đánh nhau, quần áo bị rách nát hết. Phải lấy quần áo tịch thu được trong túi đeo lưng của xác Việt Cộng. Mấy anh em mặc đồ Việt Cộng và dùng súng Việt Cộng đi đánh nhau, nên có lúc bị binh sĩ Trung Đoàn 53 tưởng là Việt Cộng, bắn chối chết. Mình phải la lên trong máy, họ mới thôi,” Phúc nhớ lại.
Trong cả tuần lễ liên tiếp giao tranh và bị địch pháo kích, Phúc và đồng đội mệt mỏi vì thiếu ăn thiếu ngủ. Phúc nói: “Đêm không được chợp mắt. Phải lo bố phòng, sợ địch xâm nhập. Sáng ra, chia nhau thành toán nhỏ, đi đánh giải tỏa vòng vây. Đánh theo kiểu những toán trinh sát, nhảy dù, di động luôn để giải tỏa áp lực, rồi tránh né, rút lẹ, chứ không theo kiểu dàn trận của tiểu đoàn bộ binh. Vì vậy địch không biết đơn vị có bao nhiêu người, không biết chiến tuyến chỗ nào. Lúc không đánh nhau thì núp trong hố cá nhân để địch không nhìn thấy. Hố được đào khoét trong những ụ đất có sẵn để bảo vệ máy bay. Cao bốn năm thước, bề dày hai ba thước, những ụ đất này là nơi ẩn nấp tốt cho mình và đồng đội.
“Vừa đói khát, lại không được nghỉ ngơi, anh em mệt mỏi cả thể chất lẫn tinh thần. Đầu óc căng thẳng, hồi hộp khi nhìn thấy đồng đội bị bắn banh xác, người bị thương kêu la rên rỉ, thật như sống trong cảnh địa ngục. Lúc chưa vào cuộc thì sợ, nhưng khi ở trong cuộc rồi, mất sợ hết trơn. Anh em giữ được tinh thần cũng nhờ kỷ luật nghiêm khắc. Tới lúc đó, bất tuân lệnh là có quyền bắn bỏ.”
“Đêm ngày 16/3, Việt Cộng pháo tàn bạo như địa chấn. Thám báo liên lạc với trung đoàn. Gọi trung đoàn mãi, không có trả lời. Chỉ có im lặng. Mình cảm thấy nỗi cô đơn ghê sợ. Cô đơn và tuyệt vọng. Đau đớn và chán chường. Muốn khóc. Muốn nổi khùng. Thế là hết. Thì ra họ đã rút chạy.
“Chỉ còn mấy chục anh em ở lại, lọt giữa lực lượng đông đảo của địch. Mình liên lạc được với quân đoàn, xin cho máy bay đến oanh kích địch sáng hôm sau để anh em mở đường máu chạy thoát. Quân đoàn đồng ý.
“Gần sáng Việt Cộng cho xe tăng tấn công căn cứ Trung Đoàn 53. Bộ binh Cộng quân theo xe tăng vào chiếm căn cứ. Chiếm xong, Cộng quân chuẩn bị tiến sang phía phi trường thanh toán nốt những ổ cuối cùng còn sót lại của đại đội thám báo. Đúng lúc Cộng quân đang tập trung quân, phi cơ được thám báo hướng dẫn đến dội bom xuống đầu địch. Nhờ những trái bom thả đúng lúc, chặn đứng đà tiến của xe tăng và quân địch, đại đội thám báo còn lại hơn năm chục người rút chạy, lẩn vào khu rừng cao su.
“Thoát khỏi trận chiến, đoàn thám báo lúc này tơi tả, hốc hác và kiệt sức mà vẫn phải cố lết đi, tìm đường xuống phía nam nhắm hướng về Đà Lạt. Đến gần chi khu Lạc Thiện, một quận thuộc tỉnh Darlac, đám quân còn chừng 30 người mừng rỡ bắt được liên lạc vô tuyến với chi khu. Họ vui sướng tìm mau chỗ nghỉ chân sau những ngày sống sát thần chết. Chi khu yêu cầu cho biết chỗ đang ở.
“Ít phút sau, đạn pháo rơi ào ào xuống toán thám báo còn đang nằm lăn ra nghỉ. Rồi địch nổ súng tấn công. Lại chạy tứ tán. Người chết, người bị thương.”(18)
Phúc chỉ còn 15 người chạy theo được. Thấy đường đi về phía Đà Lạt không thành, Phúc tìm đường đi về hướng đông, hy vọng tới những tỉnh vùng duyên hải. Qua một hai ngày băng rừng, vặt lá đào cây để ăn, nhóm của Phúc lại lọt vào một ổ phục kích của Cộng quân. Phúc và một y tá thoát ra khỏi ổ phục kích, nhưng rồi rút cục cũng bị bắt lúc đang vục mặt xuống vũng nước để uống. Hôm đó là ngày 22/3.
Sau này vào trại cải tạo, Phúc gặp một sĩ quan ở chi khu Lạc Thiện, liền trách cứ vụ bị pháo kích. Sĩ quan cho biết Cộng quân đã chiếm Lạc Thiện từ mấy ngày trước và vẫn dùng tần số cũ để liên lạc với những toán quân khác của quân đội Cộng Hòa. Lúc ấy Phúc mới biết mình mắc bẫy khi tiết lộ tọa độ đóng quân.

Vũ Thụy Hoàng

 Đấu lý với CA phường khi làm cho một đội XD .

Sau khi về nhà được ba ngày , tôi phải trình diện tại "ban quản lý người học tập cải tạo được về TP" nằm tại biệt thự rộng lớn đường Phan Thanh Giản , quận 3 .

Đứng bên kia đường , thấy anh em cựu tù đang chen lấn nộp giấy ra trại qua một cửa sổ nhỏ của trạm gác ở ngay cổng của biệt thự , tôi chửi đổng : ĐM , năm 75 ko tranh nhau xuống tàu để di tản , giờ lại chen lấn để nộp giấy đúng hạn .

Nói xong tôi về nhà , vài ngày sau tôi đến đây thì thấy vắng người , CA hỏi "sao anh ko trình diện đúng hạn" , tôi trả lời "về tới nhà bị bịnh , nay bớt nên trình diện" .

Trên nguyên tắc , mỗi tháng tôi phải trình diện CA quận 1 (đường Thống Nhứt) nhưng tôi ko đi , nhờ em gái lên CA quận nói "anh tôi bị bịnh nên ko đi được" .

Vì bị thúc hối phải đi KTM * nên sau đó tôi xin vào một đội xây dựng ** của cty xây dựng Đại Dương ở quận 4 - do ông Charles Đức , dân Pháp làm giám đốc . Nhờ làm ở đội này (mà VP đặt tại đường Hàm Nghi) nên tôi ko phải đi KTM .

Có lần nữa đêm đang ngủ thì CA đánh thức : "anh làm thủ kho , trông nom vật tư của nhà nước , mà để thợ thuyền dẫn gái điếm vào văn phòng mà ko hay biết , v.v..." và họ ghi biên bản với nội dung như vậy và bảo tôi ký . (Số là anh này là thợ mộc ở đội , vì ở đây có máy cưa nên để anh ngủ tại VP cho tiện , tôi biết cô này là bạn gái của anh , thường đến đây ngồi tại cửa VP nói chuyện vản rồi về) . Tôi ghi vào biên bản : "Tôi xác nhận anh này là thợ mộc và được phép của đội trưởng ngủ tại VP , cô này là BẠN GÁI , ko phải là GÁI ĐIẾM , thường đến thăm để nói chuyện vản nên ko có gì là phạm pháp " . CA tức lắm nhưng ko làm gì vì lúc đó , giai cấp công nhân có giá lắm và CA lúc đó ko LỘNG QUYỀN như bây giờ . Theo tôi biết , CA phường thường thấy cô này ngồi nói chuyện ban đêm với anh này nên tức tối vì nghĩ "cô này đẹp mà lại cặp với tay thợ này" nên làm như vậy để cô này "quê" ko dám đến đây nữa . Nhưng nhờ tôi "cứng cựa" nên họ ko làm gì được .

Tôi làm trong nghề XD ở vài nơi khác nhau tới năm 1988 thì nghỉ . Thời gian rảnh rổi , tôi đọc rất nhiều sách về đủ mọi nghành nghề từ khảo cổ , vật lý , cơ học , cơ khí , cơ khí xe hơi , điện nhà , xây dựng , y khoa , v.v... Vì lúc đó sách bằng tiếng Anh và tiếng Pháp , bán rất nhiều do chủ cũ ko đọc , hay vượt biên , người nhà ko đọc được nên bán rẻ , v.v... ; hơn nữa , sách về KHKT của các nước XHCN tràn ngập SG , bán rất rẻ , tha hồ mà đọc .

* Một bạn tù có anh ruột , học ở Mỹ và từng dạy ở trường Sinh Ngữ Quân Đội : ông này đi tù vài năm , sau khi ra tù , vì QUÁ SỢ nên đi KTM . Sau khi đi 1 thời gian , gđ khuyên bảo ông về TP ; ông bắt đầu dạy Anh văn và xin làm ở sở Y tế tại Sài Gòn . Sau đó được làm trưởng ban khảo thí của sở, nghĩa kiểm tra trình độ Anh ngữ của bất cứ chuyên viên nào của sở YT trước khi họ đi tu nghiệp ở các nước nói tiếng Anh .

** Đội trưởng là dân Công binh chế độ cũ , quen với gđ tôi .

=====

Ngay từ nhỏ tôi đã ĐAM MÊ hay THÈM KHÁT về kiến thức, đọc rất nhiều sách trong khi có nhiều bạn trẻ, lại coi việc mở mang kiến thức là KHỔ NẠN, và gần như cả đời chưa bước chân vào thư viện, dù nói tiếng Anh như gió, chạy xe ào ào.

Nhờ học về LTS, tôi biết phần lớn những ai sanh hay có tên bằng số 4, 8, 13, 17, 22, 26, và 31.

Tôi quen thân với một bạn trẻ (49 t) thuộc nhóm này: y có ngày sanh và tên đều bằng 31. Tôi đã nhiều lần khuyên y nên có phone di động nhưng y cứ nói "xài phone sẽ bị ung thư !!!". Cách đây mấy tháng tôi cho y một điện thoại BLU còn tốt chạy HĐH Android. Y nhờ tôi chỉ cách nhắn tin (message) hay gửi hình cũng như tải xuống máy một vài ứng dụng để nghe nhạc. 

Hôm qua, 14/3/20, y đến nhà, rủ tôi và một láng giềng đi tiệm bán đồ cắm trại REI ở Saratoga: lúc đầu tôi ko đi theo nhưng sau đổi ý vì muốn biết về tình hình "panic shopping" ở chợ Safeway. Ở chợ này, giấy VS gần như hết sạch (sold out) và chỗ bán nước lọc, cũng gần như hết sạch, kể cả bình đựng nước lọc (pitcher) của Brita. Ở đây tôi mua hai ổ bánh mì Oroweat, hai ổ bánh Hawaiian; ko mua thêm gì hết vì nhà quá đủ. 

Tôi hỏi y, mày có mang theo phone ko, lở lạc trong chợ thì làm cách nào liên lạc, y trả lời, vì ko thường xuyên xạc điện (do nghĩ rằng làm như vậy sẽ chai pin) nên y ko mang phone theo.

Tôi liền nói, mày biết tình hình này, mọi việc thay đổi từng giờ, nếu mày ko xạc điện làm sao tao gọi mày được. Từ ngày mày mua xe, tao cũng ko nhờ mày vì đi lại tao đi xe bus hay gọi Uber.  Nhưng tao muốn mày có phone để liên lạc khi có chuyện khẩn cấp; còn nếu mày sợ ung thư, ko dám dùng phone thì ĐỪNG GẶP TAO. Và tao cho mày biết, mày có thể chết TRƯỚC KHI bị ung thư (do dùng phone) vì vi rút ! 

Trước giờ, do HOANG TƯỞNG, y cứ nói: 'xài phone sẽ bị ung thư, đặc biệt là dùng Bluetooth . . . CP muốn giết ai sẽ ra lịnh cho phone nổ'. Tôi nói, ngay cả CS cũng ko làm điều ấy với dân; cũng may mày nói với tao, chứ gặp người lạ, họ sẽ đánh mầy. 

Y còn khoe khoan nói tiếng Anh đúng giọng, tôi trả lời, điều quan trọng là KIẾN THỨC, đặc biệt về KHKT, vì phát âm tiếng Anh, tao thua xa dân homeless, nhưng tao đã ba năm dạy toán và Anh văn ở Mỹ, thành thạo về vi tính, thường xuyên dịch bài vở, đặc biệt về y khoa hay các lãnh vực KHKT khác vì ngay từ nhỏ tao đã ĐAM MÊ hay THÈM KHÁT về kiến thức, đọc rất nhiều sách. 

Còn mày học hết trung học là đi bụi đời, chơi với dân homeless, cả đời CHƯA BAO GIỜ (năm nay 49 tuổi) bước chân vào thư viện, trong khi tao, từ năm 2001 đến năm 2012, ngày nào cũng đến thư viện để học hỏi vì nhà tao đường số 7 và thư viện đường số 4.

======

Ban Mê Thuột ngày đầu ngày cuối




tht_2

 


Đây là một câu truyện được xây dựng từ những dữ kiện có thật theo lời kể của cựu thiếu úy trinh sát trung đoàn 45/SĐ23B và cũng là người bạn cùng một Sư đoàn, Nguyễn Lương Sơn. Tác giả mong được nói lên phần nào về một biến cố lịch sử mà những người lính vô danh VNCH đã là những chứng nhân, và hơn nữa đã tham dự thật sự vào, bằng máu, nước mắt, kiêu hãnh và tủi nhục trong những ngày oan nghiệt nhất của lịch sử đất nước từ ngày đầu tiên 10/3 đến ngày cuối cùng 17/3/75 tại Ban Mê Thuột.


Trần Hoài Thư






tht_1_1
















Từ trái - (thứ 1) - chị Thành Tôn, (thứ 3) chị Trần Hoài Thư, Trần Hoài Thư, Thành Tôn.

(đứng) - từ trái - Trần Văn Sơn, Trần Yên Hòa.





*





Ban Đông, ngày một tháng ba. Đại đội về Ban Mê Thuột chưa kịp nghỉ dưỡng quân, bổ sung quân số, lại được lệnh tăng phái cho tiểu khu. Lệnh từ tiểu khu: Đến Ban Đông để tiếp nhận căn cứ do một đơn vị địa phương quân bàn giao lại. Cấp trên cho đi nghỉ mát hay cho vào hiểm địa chăng. Không ai cần biết. Lại lên đường. Trung đội trưởng Minh lại ngồi trong cabin, đám lính ngồi đằng sau, chĩa súng ra ngoài bìa rừng. Buổi sáng từ giã thành phố, từ giã Liên, quán cà phê, tiếng hát của Lệ Thu nức nở Nghìn trùng ngăn cách từ rạp hát Thăng Long, con phố ngắn hai bên vách tường vôi sậm bùn đỏ sệt như lời hát nào đi năm phút trở về chốn cũ. Đường về hướng Tây cũng như hướng Đông, hướng Nam, hướng Bắc. Vẫn là cõi sống và cõi chết. Vẫn là những khu rừng già che hết cả tầm nhìn. Vẫn là những lần ngồi trong xe, rồi nhảy xuống, rồi nhìn bản đồ, địa bàn, ra lệnh, hét hò, chửi thề. Vẫn là những hơi thuốc hít vội, những đầu lọc như bị cắn nhừ để chống những nỗi lo âu vô cớ…






tht_3





Đóng đồn. Lâu lắm, đơn vị mới được dịp dừng lại trong bốn bề phòng tuyến, co cụm lại thay vì phải bung ra từng toán tăng phái cho tiểu khu, trung đoàn, sư đoàn hay quân đoàn. Buổi sáng đại đội tập họp, Minh lại nhớ thiếu úy Thường. Toán hắn đã chạm địch khi nhảy xuống rừng tìm tin tức của toán Minh. Nhưng cuối cùng, toán thất lạc của Minh đã trở về an toàn và toán đi tìm đã không còn dịp để trở về nữa. Thiếu úy Thường đã ôm trái lựu đạn tự sát vì bị thương quá nặng để rảnh tay đồng đội. Khi nghe tin thằng bạn thân chết Minh đã lấy súng bắn như điên cuồng về phía rừng. Mắt Minh long lên đỏ ngầu. Minh nhớ đôi mắt của bạn. Nụ cười của bạn. Nhớ đến cái dáng bất cần của bạn. Hắn dường như sống để mà lao về phía trước. Ngọn cỏ ngọn lau còn rụt rè, trái lại đối với hắn, cả thân hắn đứng thẳng, như thể thách thức với trận mạc. Và xác hắn banh. Tiếng nổ của trái lựu đạn thật quá lẻ loi không có ý nghĩa gì hết so với những tràng sấm kinh động từ những lần phi pháo trên những cánh rừng già Trường Sơn. Trung đội mất một thiếu úy Thường thì vẫn có một sĩ quan khác được bổ sung. Và nếu không có sĩ quan bổ sung, một hạ sĩ quan toán phó sẽ lên thay. Không ai bận tâm thắc mắc về một cuộc chiến mà chiến công được vinh danh qua những xác chết. Chỉ có những người cùng vào sinh ra tử với nhau này. Chỉ có những đứa con mỗi ngày chia xẻ từng hộp thịt quân tiếp vụ, từng hơi thuốc, từng cô gái giang hồ, từng chai bia lăn lóc, từng mẫu âm thoại trên máy PRC 25 này. Thường ơi, tao nhớ mày, mày biết không. Tại sao hôm nay mày không có mặt để đi đóng tiền đồn với tao.




oOo




Ban Đông ngày một tháng ba. Quận cách Ban Mê Thuột chừng 45 cây số về hướng Tây. Quận của mặt trời lặn. Đoàn xe bốn chiếc lăn bánh trên con đường nhựa còn sót lại thời kỳ Pháp thuộc. Bụi đỏ cuốn mù. Qua rừng cao su, những đồn điền trà và cà phê bất tận. Chiếc xe hàng chạy qua đầy ngập hành khách, những người Thượng trên rẫy hay bên đường đã cho người lính tự tin hơn về sự an ninh của con trục lộ miền núi. Sương mù vẫn còn trùm phủ những ngọn đồi xa. Người lính truyền tin đại đội vẫn tiếp tục báo cáo và nhận lệnh. Tháng ba, Tết đã qua, mùa xuân vẫn còn vương vít trong đất trời, với những đàn chim én nô đùa trong không gian tươi thắm nắng vàng. Núi rừng trùng trùng điệp điệp vây quanh, không có gì tỏa ra những đe dọa dưới một màu xanh thẫm bạt ngàn. Nhưng Minh đã biết hơn ai hết về những tai họa đang chờ chực dưới những cánh rừng già phía dưới ấy. Các toán đã báo cáo đến mệt lả về phòng hai. Từ Đức Lập, Thuần Mẫn, từ Lệ Trung, Lệ Thanh, từ Phú Bổn, Quảng Đức và dưới những cánh rừng già Đắc Lắc. Mỗi lần nhảy là bọn Minh phải ôm tim ôm ngực trước những bước chân di chuyển, tiếng động cưa cây, chặt gổ làm cầu, dọn đường cho tăng và những đoàn quân xa nặng, những đồ lương khô còn vất lại trên đường mòn, những bãi cỏ lau bị rạp vì bước chân người. Bọn Minh biết rõ từ lúc đầu tháng giêng năm 1975, những sửa soạn sôi nổi như không còn che dấu được nữa của những đơn vị sư đoàn F10, sư đoàn 320, trung đoàn Quyết Thắng, cả trung đoàn chiến xa đang dàn binh dọc theo hành lang của các tỉnh miền núi như Pleiku, Tuyên Đức, Đắc Lắc, Phú Bổn…Minh có dự cảm về một trận chiến sắp sửa ở đâu đây. Trận phún thạch không biết sẽ phụt lên lúc nào, và ở đâu. Đâu là điểm nóng, điểm lạnh. Ngày trước, mỗi lần lấy tin là cả một sự khó khăn. Toán phải bung sâu vào mật khu, xa bộ chỉ huy hàng mười lăm, hai chục cây số, lặn lội trong rừng già, mới tìm được tin mà báo cáo. Bây giờ, không còn phải vất vả như xưa nữa. Địch có mặt khắp nơi, khắp chốn, công khai, như thể sắp dự vào một trận đại địa chiến một mất một còn.


Ban Đông. Ngày một tháng ba. Xế trưa. Không có đơn vị địa phương quân nào đợi sẵn để bàn giao căn cứ. Căn cứ trống trơn, trơ vơ những hàng dây kẽm, những giao thông hào, những nhà tôn tiền chế và bãi phi đạo tầm ngắn còn lại từ thời tiểu đoàn biệt động quân biên phòng trấn đóng. Thì ra, đơn vị địa phương quân đã bỏ căn cứ từ lúc nào. Bỏ mà không nói một tiếng cho đại đội đến tiếp nhận. Thẩm quyền của Minh chửi bới um sùm qua máy. Đại đội bắt đầu tiếp nhận căn cứ. Dưới mắt Minh, núi rừng trong nắng chiều vàng thẩm, trùng điệp. Anh có thể thấy bao quát một vùng rộng lớn, mãi tít bên kia hành lang. Vâng, đây là cửa ngõ xâm nhập. Và căn cứ này là con mắt có thể quan sát được sự di chuyển của quân địch. Tầm quan trọng về chiến lược đã được để lại dấu tích bằng một căn cứ vững chắc, có cả phi đạo cho máy bay. Nhưng đó là chuyện của ngày xưa. Thời biệt kích Mỹ. Thời Biệt Động Quân biên phòng. Thời máy bay lên xuống căn cứ không ngớt. Thời mà cả tiểu đoàn vũ khí hùng hậu. Thời hễ bốc máy xin được yểm trợ là có phi pháo hay B52. Cái thời đó đã không còn nữa. Mà trái lại, lúc này là cái thời chỉ có một đại đội trấn giữ lẻ loi, cô đơn giữa một trùng trùng điệp điệp sư đoàn, binh đoàn địch, chẳng cần dấu diếm.


Phải. Lúc này, là lúc chín mùi cho một mặt trận. Về phía địch, họ đã đạt được ý nguyện, có nghĩa là không còn pháo đài bay, mắt điện tử dòm ngó khi họ chuyển quân xâm nhập, hay không còn những phản lực cơ từ đệ thất hạm đội, hay từ các căn cứ nội địa sẵn sàng có mặt trên đầu họ. Ký kết hiệp định Ba Lê, có nghĩa là người Mỹ phủi tay để nhìn một miền Nam trước sau gì cũng thoi thóp. Minh đã nhảy biết bao nhiêu lần. Và bao nhiêu lần Minh lấy tin từng đơn vị cấp sư đoàn đang ngày đêm ồ ạt tiến về Nam như tiến vào chỗ không người.


Như thường lệ, buổi tối các toán phải bung ra nằm ngoài phòng tuyến. Minh cho toán của chuẩn úy Hào lên nằm trên ngọn đồi cao điểm của căn cứ. Riêng anh theo toán của trung sĩ nhất Bao, dẫn người truyền tin cùng tên tà lọt đi cùng. Đêm trên cao, sao càng rõ hơn. Gió từ phía Lào thổi qua, vẫn còn mang theo hơi ẩm uớt từ những cánh rừng già. Phía dưới chợ, le lói vài ánh đèn như dấu hiệu của sự sống. Ngày xưa nơi này được tiếng là một quận trù phú về lâm sản và thú rừng. Bây giờ, người dân đã bỏ đi gần hết. Chỉ còn những người Thượng sống chết với núi rừng.






tht_4





Đêm đầu tiên ở Ban Đông, Minh nghe vọng về rất rõ tiếng máy xe tiếng chân người di chuyển, cả tiếng cưa cây, bắc cầu, đóng cọc, có cả tiếng máy xe ủi… Kể từ khi không còn bóng những pháo đài bay, F110, hay F111 địch đã không còn là những bóng ma như người ta đã nói. Họ công khai xuất hiện. Như bọn Minh đã từng báo cáo suốt mấy tháng trước đây. Nhưng chẳng ai thèm ngó ngàng. Không còn B52, không còn thuốc khai quang, hết cho cây rừng còn xanh lá, thôi pháo binh, hết máy bay ném bom mỗi khi có lời yêu cầu. Và đêm nay, cũng vậy. Cả đại đội đang chờ đợi một điều sẽ đến. Có thể là một cuộc tấn công cũng nên. Minh lo không thể ngủ được. Minh sợ thằng gác ngủ quên. Đôi khi, Minh phải trở dậy đi tuần tra. Từ cả tháng nay, tin đồn Quốc Thánh về cùng những đứa con trinh sát của sư đoàn, cho biết Ban Mê Thuột sẽ gặp đại nạn, vô phương cứu chữa. Người ta nói anh linh của Tướng Trương Quang Ân nhập vào Quốc Thánh. Và Ngài chỉ đặc biệt độ trì trinh sát, bởi khi còn sống, vị Tướng này rất thương mến lính trinh sát. Trời ơi, sao Ngài không chịu nhập vào mấy tay lãnh tụ, tướng lãnh, Sài Gòn hay Ngũ Giác Đài. Sao Ngài lại không dùng quyền uy để bắt họ ra nằm ngoài Ban Đông một đêm với lính, mới hiểu là điềm triệu này đúng. Tại sao lại đem một đại đội trinh sát đi nằm tiền đồn. Để làm gì. Minh không thể hiểu. Trong bóng đêm đen đặc, Minh đang chờ. Như chờ suốt bao lâu từ khi về đơn vị, từ chức toán trưởng, trung đội phó và giờ là trung đội trưởng. Chờ trong khi hết đồng đội này đến đồng đội khác, cứ tiếp tục tiến lên, bước sâu vào, nhảy ào xuống, cái cõi mà ai ai cũng phải hãi hùng. Từ một đơn vị trực thuộc trung đoàn, bây giờ đơn vị lại trở thành con ghẻ của mọi bà dì vô tâm. Hết sư đoàn xin, đến quân khu rồi tiểu khu xin. Xin để nhảy lấy tin. Nhưng khi tin đã cho rồi, thì chẳng cần ai đếm xỉa. Họ đâu có biết gì về nỗi bơ vơ của đám con ở chiến trường này đâu. Họ làm ngơ trước những lời báo cáo. Đến bây giờ Minh mới hiểu tại sao đơn vị địa phương quân lại bỏ căn cứ. Và tại sao đơn vị Minh lại được lệnh về đây để đóng đồn. Không ai có thể sống mãi trong tình trạng cực kỳ căng thẳng và tuyệt vọng như thế này mãi. Dù quá mệt, mắt muốn chụp xuống, nhưng Minh vẫn không thể nào ngủ được. Tiếng động càng lúc càng rõ, càng dội về. Giả dụ đêm nay địch tấn công căn cứ thì sao. Dĩ nhiên là phải xin bắn trái sáng, phi pháo nổ chụp. Còn khuya. Thằng bạn thuộc tiểu đoàn pháo binh cho biết tiêu chuẩn mỗi ngày từ 8 quả nay xuống 6 quả. Minh nhìn lên bầu trời đầy sao. Minh mong đêm cho mau hết. Có tiếng gọi đổi phiên gác. Bóng người lính gác lờ mờ in trên giao thông hào. Một vì sao rụng, bay xẹt ngang bầu trời. Một ngày trôi qua yên tĩnh. Ngày thứ hai, Minh được tin từ trên cho biết đám lính Thượng sẽ làm phản, nội ứng. Các sĩ quan họp lại. Không ai đều tin chuyện này xảy ra. Riêng Minh biết rõ họ trong những năm anh chỉ huy từ chức toán trưởng đến chức trung đội trưởng. Họ là những người lính rất thuần hậu và đầy tinh thần trách nhiệm. Họ không bao giờ tìm cách trốn tránh hành quân hay kích gác cẩu thả. Họ cũng không hề ba gai anh chị như một ít người lính Kinh. Khi đụng trận xong, họ hay chạy đầu, lật xác tìm chiến lợi phẩm. Tuy vậy, phòng ngừa vẫn là cách tốt nhất. Thẩm quyền bí mật phân tán họ ra khắp các trung đội, cố chia cách họ được chừng nào hay chừng nấy, nhất là trong đêm nằm tiền đồn.


Ngày đóng đồn cũng nhàn nhã. Chỉ cực nhất là ban đêm. Còn ban ngày, mấy thằng lính chùi súng ống hay xuống dòng sông Ban Đông liệng cá hay xuống chợ ngồi trong túp quán bên đường nhìn con gái đàn bà Thượng. Trong nỗi hiu quạnh của tiền đồn heo hút, những người lính thỉnh thoảng tụm năm tụm ba dạo đàn hát hò. Trong đơn vị, có Thành, Tánh, Minh là những tay nghệ sĩ còn chuyên nghiệp hơn cả những tay nghệ sĩ phòng Tâm Lý Chiến. Tiếng hát làm cả bọn phải nín thở, đưa họ về những vùng trời cũ – mà họ đã bỏ lại đằng sau, hay chưa bao giờ bắt gặp – giúp họ quên đi hiện tại đang rình rập đe doạ xung quanh. Ngày sương mù che phủ cả núi rừng, làm đôi lần mắt Minh phải mờ đi, lòng chao lạnh. Ai đưa ta đến chốn này. Cứ núi cứ rừng cứ buông cứ bản. Nơi xa, em thì vàng võ đợi chờ. Cha mẹ thì ngày đêm đốt nhang cầu nguyện. Đã bao lần vào sinh ra tử. Cái chết chạm đến nhàm rốt cùng lòng Minh cũng dửng dưng. Chỉ sợ, là những người còn lại. Phải chi con người sống như cây cỏ cầm thú, thì đỡ khổ cho hắn biết mấy.




tht_5






Ngày 9 tháng 3 1975.


Lệnh đơn vị phải rút về Ban Mê Thuột. Đức Lập đang bị áp lực nặng. Con đường 14 đã bị cắt. Quảng Đức đang nguy ngập. Bây giờ, đơn vị lại bỏ trống Ban Đông. Dù sao đi nữa, cả bọn cũng vui mừng. Không ai cần thắc mắc về những tin tức bi quan xảy ra xung quanh họ. Chuyện ấy là chuyện của Dinh Độc Lập, Quân Đoàn. Bởi nhiều người lính trong đơn vị đều có thân nhân ở Ban Mê Thuột. Riêng Minh thì nhớ đến Liên. Đi đâu, thành phố này vẫn là mái nhà cuối cùng. Ở đó, mỗi lần Minh trở về, Liên dọn cho Minh những bữa cơm còn nghi ngút khói, cho Minh những lần làm tình cuồng bạo, và sau đó, là Minh lại ra đi, tiếp tục lao vào cõi sống chết. Đi đâu cũng nhớ đến những con đường đầy bùn đỏ, những vách tường màu đỏ kịt, quán cà phê và tiếng nhạc và đầy ngập khói thuốc.


Đi đâu cũng nhớ lại một đêm lành lạnh bình an trong thành phố mà sao hình như càng thấp hơn, càng long lanh hơn, mà ngày như nắng đầy bụi, và mưa như làm đất trở nên nhảo nhẹt bám cứng đế giày. Ban Mê Thuột. Minh đã đi nhiều, nhưng chỉ có Ban Mê thuột bắt Minh phải nhớ. Như những cánh rừng cao su và cà phê, đến nỗi vào mùa hoa cà phê nở, cả một thị trấn như ngào ngạt hương hoa. Trong thành phố, những hàng cây muồng hoa vàng rực bên cạnh giáng hương, trâm, bông li ti trắng, cùng những vườn bông sứ hoang dại như làm thành phố chìm vào trong nỗi man dại ngây ngất…


Dù được lệnh rút về Ban Mê Thuột nhưng phương tiện chờ hoài vẫn không thấy. Trong khi các đơn vị địa phương quân đã được các đoàn xe GMC tới bốc từ lâu. Thẩm quyền Minh năn nỉ đến ráo nước bọt mới được quân khu cho một chiếc chinook già nua cũ mèm vào lúc bốn giờ chiều.


Đại đội phải chia làm hai nhóm để được chở đi vì chỉ có mỗi một chiếc duy nhất. Minh theo đoàn sau. Con tàu oằn mình như mang gánh quá sức nặng, đến nỗi một nửa thân tàu phải nghiêng hẳn xuống như mất cả thăng bằng mặc dù hai cánh quạt đang cố quay tít. Cả bọn ngồi trên sàn. Kính từ những khung cửa đã bị bể hoàn toàn, khiến gió thốc vào no nê. Cơn nắng oi nồng vẫn còn chói chan trong thinh không. Phương Tây vẫn yên tĩnh. Giã từ mười ngày tại Ban Đông vô sự. Giã từ những đêm căng thẳng và những ngày nhìn xuống phía rừng già, để dự cảm về một điềm gỡ sắp xảy đến. Giã từ một tuần lể xuống chợ nhìn con gái Thượng ngực trần và ngồi quán cóc trong chợ. Giã từ để tiếp tục bước vào một chuyến đi tăng phái khác. Nghề của trinh sát là phải vậy. Cứ chỗ nào khó, cần là bốc trinh sát, là bắt trinh sát dẫn đầu. Như hôm nay. Về Ban Mê Thuột để hướng dẫn một tiểu đoàn trừ (-) của trung đoàn 53 lên giải tỏa Đức Lập. Tần số bắt đầu đổi sang hàng ngang. Trung đoàn. Sư đoàn. Quân khu. Rồi chiếc Chinook đáp xuống phi trường ở cây số 3. Đoàn xe đã đậu sẵn. Tin lại cho biết Đức Lập đã mất. Miễn đi. Đại đội được lệnh về hậu cứ của trung đoàn 53. Quân trú phòng trong hậu cứ quá đông, Trung đoàn trưởng cho ra nằm ở phi trường Phụng Dực, cách hậu cứ khoảng 3, 4 trăm mét. Lúc ấy gần tối. Không ai biết một mảy may gì về tình hình. Lính tráng bỏ đơn vị đón xe về thăm thân nhân. Đám sĩ quan ngồi chung xe zeep chạy về thành phố lúc màn đêm buông xuống. Thị xã vẫn yên tĩnh. Nhạc từ rạp hát vẫn vọng trong thinh không. Những ngọn điện đường vẫn mờ nhạt. Đây là ngã Năm. Bên kia là rạp chiếu bóng. Phía góc đường dẫn về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23BB là câu lạc bộ sĩ quan. Đối diện là ngôi nhà thờ đá. Và con đường mờ tối như dẫn vào một cõi bình an, một bến tàu chờ đợi những con người vừa trải qua những thềm địa ngục. Có người con gái chờ đợi Minh trong căn nhà trọ giữa vườn hoa sứ. Có quán cà phê, ngồi cùng bạn hữu đốt những sợi khói tình si. Có những chai bia, chai rượu nồng nàn, hay những con mèo đêm mắt hồ ly luân lạc từ đâu lại. Không ai biết đến những gì sẽ xảy đến. Bởi tất cả thị xã vẫn yên tĩnh lạ lùng. Minh kêu xe dừng lại ở trước nhà Liên. Đêm nay nếu đơn vị không cấm trại, Minh sẽ xin phép thẩm quyền ở lại cùng nàng. Mà thẩm quyền thông cảm. Anh ta nói: “Thôi mày ở lại đi. Có gì tao cho tài xế tới bốc”. Minh nói là anh muốn đi uống cà phê, lâu lắm không nếm mùi cà phê Ban Mê Thuột. Trong nhà Liên ríu ra ríu rít. Mà nàng ngạc nhiên thật. Đôi mắt nàng mở lớn. Minh muốn ôm nàng, ôm siết và hôn lên đôi môi mọng đỏ. Cả thân thể nhỏ bé thon mềm kia là của Minh, nhưng Minh cứ muốn khám phá thêm, tìm tòi thêm. Bên trong da thịt kia là con tim vô cùng rực lửa, tha thiết, dâng hiến trọn vẹn nhất, đầy đủ nhất, dữ dội nhất.


Minh đã không ngờ lại gặp Liên tại thị xã này. Định mệnh hay chăng. Khi mà trên tấm poncho ở bên xa lộ Sài Gòn Biên Hòa, hai người cùng ôm nhau quằn quại dưới cơn mưa như thác, khi mà cả quần áo của nàng ướt dầm dề, lồ lộ da thịt đỏ hồng, khi mà miệng này ngoạm vào miệng kia, tiếng thở hổn hển trong ngày cuối cùng, để Minh coi đó như là dư vị kỷ niệm để nhớ lại một lần. Rõ ràng ngày ấy người con gái Sài Gòn đã không đòi hỏi gì ở Minh. Nàng cho anh dù biết rằng ngày mai, anh sẽ quên nàng. Vâng, Minh biết mình quá tàn nhẫn. Chiến tranh quá cuồng bạo, kinh hoàng, không còn cảnh anh qua đồi sim viết thư về em gái hậu phương. Chiến tranh đẩy anh đến no nê cùng máu, nước mắt, làm quen với xác người, mất đầu, mất hạ bộ, dòi bọ lúc nhúc. Chiến tranh làm một người thầy giáo như anh đi vào trong những động giang hồ, chửi thề hơn ai hết, uống rượu đập ly, mắt đỏ ngầu, răng nghiến kèn kẹt trước những thi thể của bạn bè… Chiến tranh làm anh trở nên lì lợm, lạnh lùng. Chiến tranh đẩy anh đi tìm cái sống trong cái chết và cái giá trị ghê gớm của cái sống. Chiến tranh làm anh chẳng cần hối hận khi bỏ Liên, hay những người con gái khác. Nhưng Liên thì không. Liên không vô tâm như anh. Liên không quên mối tình đầu quá sức nồng nhiệt. Nàng sẽ theo anh. Theo hoài. Chẳng thắc mắc, tính toán, so đo. Nàng sẽ đến góc bể chân trời để gặp một người đã phá nổ cõi xuân thì của nàng, để lại những vết sướt đầu đời.


Vì thế khi tốt nghiệp lớp cán sự xã hội, nàng đã chọn Ban Mê Thuột. Nàng lại gặp người tình cũ. Và căn phòng thuê của nàng như một mái ấm cho mỗi lần Minh về phép hay dưỡng quân. Lần này cũng vậy. Đã hơn một tuần xa cách, quá lâu. Liên nghĩ đến đêm nay, lòng lại dâng lên niềm rạo rực. Má nàng au hồng. Nàng nói với Minh, anh nhớ về sớm nhé. Ở nhà em nấu cơm. Anh kêu các bạn anh nói về cùng ăn cơm chung nhé.


Chín giờ đêm, xe quân cảnh chạy khắp nơi trong thị xã, lục lạo đám lính đang ngồi trong các quán hay trong động giang hồ bắt phải về đơn vị khẩn cấp. Họ gặp đám sĩ quan của đại đội trong quán cà phê. Họ chào tay và cho biết lệnh báo động đỏ đã ban khắp thị xã. Địch chỉ cách Ban Mê Thuột không bao xa, có thể tấn công thành phố bất cứ lúc nào. Đám sĩ quan lên xe phóng về sân bay Phụng Dực. Những chiếc xe dân sự, hay nhà binh cũng gấp rút hối hả không kém. Đám lính súng ống đội nón sắt ngồi trên xe. Xuất chiếu bóng đã mãn, thành phố ngạt thở. Minh không còn đủ tâm trí để nghĩ về buổi cơm tối mà người yêu đã chờ đợi anh. Tin tức lại cho hay địch chỉ cách thị xã hai cây số. Điều mà Minh dự cảm đã đến. Đức Lập đã mất hồi trưa hôm qua. Bây giờ, là thành phố này đang báo động đỏ. Trong bóng tối, thẩm quyền bật đèn pin lên bản đồ, chấm tọa độ, và chia trách nhiệm cho từng trung đội. Những ngọn đèn từ hậu cứ trung đoàn mờ nhạt phía sau. Có tin ta đã bắt được một sĩ quan pháo của địch khi hắn ta tìm cách xâm nhập vào thị xã để điều nghiên các cứ điểm. Như vậy rõ ràng là phe Bắc quân đang mở trận đánh lớn vào thị xã. Sĩ quan không dám cho lính biết, sợ hàng ngũ hoang mang giao động. Truyền tin được lệnh chuyển tần số hàng ngang, có thể liên lạc với máy bay từ duới Nha Trang bao vùng. Minh đốt từ điếu thuốc này sang điếu thuốc khác. Những người sĩ quan trong đại đội cũng vậy. Mấy tháng trời anh đã báo cáo, bạn bè anh đã báo cáo, có người đã chết, có người đã bị tàn phế, cũng vì những bản tin này, nhưng rốt cùng, mọi sự đến phải đến. Đến một cách thật dửng dưng. Không ai có thể ngờ cả một binh đoàn đông như vậy lại cách thị xã hai cây số. Quân không còn nữa để mà giữ. Đồn thì bỏ chạy trước tiên. Trung đoàn 44, 45 thì tản rộng khắp nơi. Liên đoàn Biệt Động quân thì không thấy đâu. Khắp nơi nằm yên, bó tay, thụ động. Ngay cả ở thị xã này, chỉ có những khẩu 105 ly so với những khẩu trọng pháo 130 ly của địch. Và địch cứ thế mà vào, càng ngày càng sát thị xã. Chẳng những người mà còn cả hàng đoàn xe tăng. Trách nhiệm này là trách nhiệm của ai. Hay là đã đến một thời mà nơi này ngập biển máu như lời người đạo sĩ dạo nào xuất hiện giữa thành phố đã rao truyền. Minh đã viết một bài đăng trên báo Sài Gòn kể về người đạo sĩ cuồng điên múa kiếm giữa đám dân thị xã hiếu kỳ cách đây đã lâu. Ông ta khóc ròng: “Thương thay, thương thay chúng sinh tội nghiệp. Đây là nơi mà máu là biển, máu ngập tràn. Thương thay !!!” để cuối cùng ông ta bị thầy cảnh sát xua đi vì lưu thông công cộng. Có phải cái ngày này đã đến rồi chăng.


Trong bóng đêm ngạt thở, những bóng người ẩn hiện trên sân phi đạo. Mọi sự vẫn bình thường. miền Nam này không thể bỏ mất Ban mê Thuột được. Phải giữ nó. Tiếng nói nào quá vô hình nhưng quá vũ bão thúc giục anh, và có lẽ thúc dục tất cả những người lính trong đơn vị. Sớm hay muộn, quân tiếp viện sẽ đến. Biệt Động Quân sẽ vào. Nhảy Dù từ dưới duyên hải sẽ lên. Bằng mọi giá phải cố mà giữ. Ban Mê Thuột không thể nào mất được.


Minh được lệnh cho con mình phòng thủ phía Tây Nam cuối phi đạo nhìn ra một buôn Thượng. Trong bóng tối, cả bọn móc đất từ những ụ đất kiên cố, một thời dùng để che chở máy bay. Hai bàn tay móc đến chảy máu, đến muốn tróc móng, để đào những hố ẩn thân từ bên trong ụ. Bề cao ụ quá ba thước, trống trải, không mái che, nhưng chắc chắn có thể che chở được tầm đạn trực xạ, ngay cả tầm đạn chiến xa. Phi trường Phụng Dực là ải đầu tiên để che chở bộ chỉ huy trung đoàn 53 BB, và hậu cứ, cùng trại gia binh trung đoàn. May mắn ở xung quanh phi trường, là bãi đất trống trước khi dẫn đến bìa rừng cao su. Đêm đen tối quá chừng. Rừng cao su ngoài phi trường ngày xưa đối với Minh là cả một khu rừng cổ tích, với những hàng cây song song, lá cành đan nhau như mái vương cung thánh đường, và Liên bỏ dép, chạy chân trần trên rừng lá khô vàng, và tóc nàng bay lướt thướt, rối cả mặt nàng. Và khi Liên quay tròn người như một điệu luân vũ, thì Minh không sao cầm nổi cơn xúc động, anh ôm choàng lấy Liên, đẩy Liên vào thân cây, rồi hôn từ mắt xuống phần thân thể phía dưới…Vâng, Liên, anh đang chuẩn bị đây. Bên anh là dây đạn, lựu đạn, M72, là M60, anh sẽ chiến đấu cho mà xem. Đơn vị anh sẽ cản đầu xe tăng, sẽ đánh cận chiến, sẽ đâm lưỡi lê, sẽ quần thảo tay đôi.. Không thể dễ dàng chơi với bọn trinh sát này được. Quốc Thánh không về phù trợ có nghĩa là Quốc Thánh muốn để những đứa con này ở lại giữ Ban Mê Thuột.


oOo


Vào hai giờ sáng, địch bắt đầu pháo vào thị xã loạn cuồng. Hàng ngàn quả cũng nên. Đạn rớt khắp nơi, không dứt. Nhưng hình như địch quên cứ điểm phi trường. (Minh đoán là tình báo địch chưa phát hiện đơn vị anh, vì giờ chót, đơn vị anh đến nhận phòng tuyến khi trời quá tối). Trong đêm dày, Minh thấy cả một bầu trời đầy những chớp lửa và gào rú tiếng đạn pháo. Hình như bốn bề tám hướng địch đều nhất loạt chĩa bao nhiêu họng pháo về thị xã và Bộ chỉ huy trung đoàn. Thỉnh thoảng một vài đám cháy bốc ngọn rực sáng trong đêm. Minh nhớ đến Liên. Nhớ và cầu nguyện cho nàng. Mới cách đây vài tiếng đồng hồ là sự bình an, là giấc mơ, là nũng nịu, là vòng tay ân tình, là cà phê ở quán đường Hai Bà Trưng, là tiếng nhạc, thì bây giờ tất cả chìm đắm trong biển lửa. Minh không tưởng tượng là mọi sự lại xảy ra đến độ sửng sờ như thế. Cường độ pháo dường như tăng chớ không giảm. Chắc là một cuộc tấn công vào thị xã. Trong máy truyền tin, hỗn loạn muôn ngàn âm thanh, của ta, của địch, của lời cầu cứu hay của men say chiến thắng, của tiếng pháo, cả tiếng nổ dòn dã của tiểu, đại liên… Rồi Minh thấy từ phía trong hậu cứ trung đoàn muôn ngàn tia đạn bắn ra đan kết với muôn ngàn tia đạn lửa từ ngoài bắn vào, như cả một buổi hoa đăng cuồng loạn của sa tăng quỉ sứ. Minh biết là địch đã bắt đầu tấn công. Có điều địch vẫn chưa biết có một đại đội trinh sát đang nằm cách hậu cứ một khu rừng cao su nhỏ này. Địch đã từ hướng Đông Nam, Đông Bắc chọc thẳng vào phòng tuyến trung đoàn vào lúc 5 giờ sáng. 7 giờ sáng đơn vị địch bị những quả đạn pháo rót xuống đầu, cũng như sức phản ứng quá mạnh của quân phòng thủ nên rút dạt về hướng phi trường. Cả một đại đội chờ sẵn, và bắn, bắn, bắn. Lần đầu tiên Minh mới thấy trước mắt anh hàng hàng lớp lớp địch quân nằm chết la liệt trên bãi đất trống. Tay anh bóp cò điên cuồng. Anh say máu. Những tên địch ngơ ngác dường như không biết phải ẩn ở chỗ nào, sau đó té nhào, văng khẩu súng. Anh không còn bình tĩnh nữa. Họ chết nhiều quá. Có lẽ tại họ khinh địch. Trong khi lửa vẫn cháy ở trong thị xã. Và đạn vẫn ầm ầm vang dậy bốn bề. Trong máy, tin cho biết, địch đã chiếm một số cứ điểm trong thị xã. Nhưng ở nơi này, là xác địch nằm la liệt, trong bộ quân phục mới cắt chỉ. Đơn vị Minh tịch thu đến 5 khẩu SA7, và cả rừng súng, và bắt sống 3 tù binh. Riêng Minh cũng lấy được một cuốn nhật ký và một cây viết máy hiệu Hồng Hà từ một C trưởng (đại đội trưởng) thuộc K5 SĐ 316. Lật trang đầu, anh muốn khóc. Có ảnh của một người vợ và đứa con dán ở trang đầu.


Chiến thắng đầu tiên đã làm nức lòng những đứa con trinh sát hơn bao giờ hết. Số súng và tù binh được lệnh mang về Bộ Chỉ Huy trung đoàn 53BB.


oOo


Như vậy, ngày N, khởi đầu cho một thành phố bị hiếp đồng loạt và man rợ. Xe tăng ào vào từ khắp nơi. Địch quân, sư đoàn này đến sư đoàn khác tiến vào thị xã như vào chỗ không người. Thành phố trống trơn bỏ ngõ như người đàn bà trần truồng bị vồ dập từ tứ phía. Từ phi trường, bọn anh đã nghe, thấy, và hiểu từng giờ, từng phút cơn hấp hối của một con bệnh. Đêm cũng như ngày, những đứa con bộ binh, ngầy ngật cùng những đêm trắng mắt, những nỗi căng thẳng tột cùng giữa các ụ máy bay. Đêm cũng như ngày, đơn vị đã chịu đựng hết những quả cối, hay đạn 130 ly, hay 57 ly từ xe tăng, đến từng đợt tấn công từ các đơn vị đặc công hay tùng thiết, để giữ vững phòng tuyến trách nhiệm…Đêm cũng như ngày, Đêm cũng như ngày, không còn gì để mà suy nghĩ nữa. Mắt ráo hoảnh. Không còn sức để chịu đựng nhưng vẫn phải chịu đựng. Đêm chớp lửa. Đêm bạo cuồng. Đêm lóe sáng khắp thị xã. Và ngày, địch lại đưa đơn vị này tấn công, rồi thảm bại, rồi đưa đơn vị khác tiếp tục. Đặc công của 316 lui đến 320 rồi đến tăng. May mà có những hàng cây cao su để bọn anh còn nhào ra cận chiến, lách bên này, núp bên kia, chụp, vật, lấy súng, lấy đạn, lấy lương khô. May mà có hai khẩu M60 đặt từ trên cao điểm, và trung sĩ nhất Sữu bóp cò và ba người lao công chiến trường phục hồi lại cấp bậc ngay tại chỗ để trở thành ba cây súng mới. May mà cả bọn có ụ cản như những pháo đài kiên cố để cản lại trăm ngàn quả đạn. May mà máy vẫn còn liên lạc được với bộ chỉ huy trung đoàn, quân khu và cả máy bay từ dưới Nha Trang lên để bọn anh còn hy vọng là quân tiếp viện sẽ đến giải cứu kịp thời. Lữ đoàn Dù từ dưới Khánh Dương sắp được bốc. Biệt động quân sẽ được đổ xuống. Và trung đoàn 44, 45 sẽ có mặt…


Tăng địch vẫn tiếp tục theo hướng Đông Bắc, từ rừng cao su tấn công thẳng vào bộ chỉ huy trung đoàn. Và bọn anh ở ngoài có nhiệm vụ giúp điều chỉnh pháo binh rót những quả 105 ly vào ngay đội ngũ địch. Và đã bảy ngày, từng giây từng phút. Không thể tưởng tượng là đại đội đã chiến đấu trong những điều kiện cô đơn đến độ ghê gớm như thế. Phi đạo vẫn còn đó. Bể nước cao vời vợi vẫn còn đó. Bộ chỉ huy của trung đoàn vẫn còn đó. Còn đó, như cái xác của trung sĩ nhất Sữu bị banh ra tơi tả cùng với khẩu đại liên M.60 khi quả đạn 57 ly từ tăng bắn trực xạ vào anh ta. Nửa xác của anh bị bắn lên không, nhìn từ xa thấy rõ những mảnh thịt tung tóe như xác pháo. Còn đó, để hai mẹ con người đàn bà vào trưa ngày 14 Tây tháng ba – 4 ngày sau trận đánh mở màn – bỗng nhiên xuất hiện trên bãi đất trống. Trời ơi, đừng tới nữa chị. Nơi này đâu phải là cái bến để mẹ con chị tìm đến mà nương nhờ. Nơi này là cõi địa ngục mà. Hãy tìm chỗ khác. Bọn anh đã xô đuổi hai mẹ con họ giữa lúc họ rất cần bọn anh. Không. Đôi mắt chị sợ hãi và tuyệt vọng. Và chị lại dẫn đứa con chị rời khỏi phi trường, trở lại phía con đường nhựa. Rồi trái pháo chụp xuống. Không còn thấy bóng họ nữa.


Còn đó, bởi vì vào trinh sát là không thể để địch túm cổ được. Một vài người bạn sa cơ của họ trước đây đã bị móc mắt, xẻo mũi. Vâng, mắt để nhìn, mũi để ngữi, để đánh hơi bọn ông, bây giờ bọn ông sẽ dạy cho con bài học. Mọi giá phải chơi lại. Không còn cách nào hơn. Minh đã chuẩn bị một trái lựu đạn cuối cùng. Và những người lính kia cũng vậy. Có mệnh hệ gì thì mở chốt đồng loạt và chết đồng loạt. Trinh sát là phải vậy. Chính cái điều lựa chọn dứt khoát này đã là sức mạnh ghê gớm để cả đại đội còn có mặt trong cơn đại hồng thủy. Lửa và chất nổ như cháy cả buồng tim, để những người lính không còn hãi sợ, để Minh, dù là thiếu úy, phải phạt người thiếu úy trung đội phó cầm lựu đạn mà chạy đầu khi toán của hắn không chịu dàn hàng ngang xung phong vào bìa rừng, mà ở đằng sau bắn tới vào ngày 12 tháng 3. Vì anh có thâm niên quân vụ hơn. Lúc này, ông thần chính là kỷ luật. Lúc này, thằng nào yếu mềm là phạt mang lựu đạn ra nằm ngoài bìa rừng. Lúc này, kêu chạy phải chạy, xung phong là xung phong, mang mìn gài chiến xa cách phòng tuyến cả trăm thước, phải tuân lệnh. Lúc này, nằm tận trong bìa rừng làm tiền đồn phải nằm. Không nghe, bắn. Lúc này chỉ biết càng bắn, càng đâm, càng tung lựu đạn, càng hả hê cuồng sát, càng hả hê khi thấy những người lính đối phương thét la vang dội, Bác ơi, bố mẹ ơi. Như tiếng thét kinh hoàng của người lính trẻ Bắc quân trước khi hắn chết. Hắn không quen đánh trong rừng cao su. Hắn như con nai, thay vì chạy về phía sau cùng hàng ngũ, hắn chạy về phía trước. Và phụp. Máu vọt thành vòi, bắn lên gương mặt của hạ sĩ nhất Đặng. Lúc này không còn thắc mắc, bận tâm, lương tâm, nhân bản. Lúc này không còn cảnh bắt tù binh mang về bản doanh trung đoàn như trong lần thử chiến đầu tiên cùng K5 thuộc 316 nữa. Mà không thể mang được. Trong khi xung quanh thiên binh vạn mã trùng điệp vây quanh tìm cách giết đám con chiu chắt….





Trần Hoài Thư



Click to expand image to full size (171.11 Kb)

Bản đồ Ban Mê Thuột


 NGUYỄN TRƯỜNG TOẠI

(Thiếu úy Sư đoàn 23)
“Hầu hết đã hy sinh”
Tai Tran: NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California. Phỏng vấn bắt đầu:
"Tôi sinh năm 1943 lúc gia đình tản cư trong cuộc chiến tranh chống Nhật. Mẹ tôi người miền Bắc, cha tôi người miền Trung. Vào năm 1951, giữa cuộc chiến tranh chống Pháp, một hôm đi học về tôi thấy mẹ tôi đang khóc. Mẹ tôi bảo cha tôi đã chết ở ngoài Bắc, tại Hà Nội. Lúc ấy tôi mới lên tám. Sau này chúng tôi biết được cha tôi bị Cộng sản giết, vứt xác dưới sông Hồng.
Khi nhận tin cha chết, tôi hãy còn nhỏ. Tôi đau buồn nhưng cũng chóng quên rồi lại tiếp tục đến trường. Năm 1954, tôi nhớ vào thời Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, dưới chế độ Bảo Đại, nhiều người nhà cửa bị đốt cháy, một số đã đến ở với gia đình chúng tôi. Tôi thương xót cho cảnh ngộ của họ, tôi cảm thấy buồn vì những biến cố ấy, nhưng vì ít tuổi, nỗi buồn cũng chóng qua.
Năm 1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát, bấy giờ tôi đang học đại học. Lúc này tôi đã có ý niệm thế nào là thế giới tự do, thế nào là thế giới Cộng sản. Càng được đọc nhiều, tôi càng ý thức về tình thế.
Cho đến khi gia nhập quân đội vào tháng sáu năm 1968, tôi đã có những tư tưởng phân minh về sự khác biệt giữa Tự do và Cộng sản. Đến khi đọc sách Cộng sản, tôi càng bắt đầu hiểu rõ Cộng sản là ai, họ đã làm gì.
Những người vào lứa tuổi tôi nhập ngũ vì chúng tôi có một lý tưởng, chúng tôi hiểu rõ cuộc sống dưới chế độ Tự do thế nào, cuộc sống dưới chế độ Cộng sản ra sao. Không phải như người ta vẫn cho rằng những người nhập ngũ chỉ vì đến tuổi phải đi quân dịch, không có được một ý tưởng bản thân. Nhưng điều này, hình như người Mỹ chưa bao giờ hiểu thấu.
Một trong những điều đáng buồn và đau đớn nhất mà tôi thấy trước khi nhập ngũ, đó là lúc báo chí đăng tải hình ảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn vào đầu tên tù Việt Cộng, trong cuộc Tổng Công kích Tết Mậu Thân 1968. Đọc những bài báo của các phóng viên người Mỹ, tôi có cảm tưởng họ không hiểu biết gì về thực tế chiến cuộc, về sự thực diễn ra ở Việt Nam.
Chính tôi là người đã chứng kiến việc tướng Loan bắn tên Cộng sản. Tôi có mặt ở đấy. Tôi biết tên Cộng sản ấy, tôi biết hắn đã làm những gì. Ông có biết hắn đã làm gì không? Năm 1968 ở Sàigòn, giữa cuộc chạm súng, hắn đẩy trẻ thơ vô tội ra như một làn sóng người, để đồng bọn tẩu thoát. Trong trận đánh khốc liệt này, hắn sử dụng trẻ con làm lá chắn, để các binh sĩ phải thôi bắn. Và tướng Loan không thể chịu đựng được. Ông nổi giận về hành vi đê tiện này, nên khi bắt được tên Việt Cộng đang cố tẩu thoát bằng cách núp sau đám trẻ, ông nổ súng bắn ngay tên này tại chỗ. Chính tôi cũng cảm thấy như vậy. Tôi cũng có thể hành động y như vậy. Bản thân tôi trong trường hợp bắt được một tên như vậy, tôi cũng sẽ nổ súng kết liễu ngay loại người ghê tởm ấy.
Nhưng khi tướng Loan bắn tên tội phạm, một phóng viên nhiếp ảnh đã chụp hình. Điều mà người phóng viên làm, điều mà mọi người trên khắp thế giới thấy không phải là tất cả những gì đã thực sự xảy ra. Đó chỉ là một phần nhỏ của những gì xảy ra. Và rồi các cảm xúc tiêu cực sau đó triệt hạ cả cuộc đời sự nghiệp của tướng Loan, như thế thật không công bằng. Lợi dụng trẻ thơ vô tội trong trận chiến, tên Việt cộng xứng đáng bị bắn vì hành vi đồi bại của hắn. Hắn và đồng bọn đã gài mìn, đốt nhà trong khu xóm. Rồi khi lực lượng cảnh sát đến, hắn cưỡng bách trẻ con trong xóm ra làm áo giáp đỡ đạn.
Lúc ấy mọi chuyện đang hỗn loạn. Là tư lệnh cảnh sát, tướng Loan khi nhìn xác trẻ con chết, ông hỏi: “Tại sao vậy? Chuyện gì vậy?” Đến khi biết tại sao mấy đứa bé chết, biết ai chịu trách nhiệm về hành động này, tướng Loan nổ súng hạ tên thủ phạm. Ông đã nhìn thấy tấm hình trên tờ tạp chí Time và tờ Newsweeks chưa? Tấm hình ấy triệt hạ cả cuộc đời và sự nghiệp của tướng Loan. Tôi nghĩ dân chúng Mỹ đã không bao giờ có thể thực hiểu rõ những gì xảy ra ở Việt Nam.
Vào mùa Xuân 1975 tôi là thiếu úy Sư đoàn 23 quân lực Việt Nam Cộng Hoà, đóng ở Pleiku và Ban Mê Thuột. Khoảng tháng Ba, tiểu đoàn tôi tiến vào mật khu Quang Nhiêu, cách Ban Mê Thuột chừng mười bảy cây số. Trong chiến dịch này, chạm trán một nhóm trinh sát Bắc Việt, chúng tôi khai hỏa, giết chết bảy, bắt sống hai. Một trong hai tên bị bắt là sĩ quan. Phía chúng tôi tổn thất bốn. Cùng với việc bắt tù binh, chúng tôi cũng tìm được nhiều tài liệu và tin tức quan hệ. Hai tiểu đoàn 153 và 353 chúng tôi nhận lệnh tiếp tục tiến vào, chúng tôi cho gửi ngay các tài liệu và tù binh về bộ Chỉ huy. Nhưng khi tiến thêm chừng một cây số, chúng tôi có lệnh ngừng và rút quân, vì an ninh quân đội khai thác tù binh, biết được có nhiều đơn vị quân đội Bắc Việt lúc ấy chỉ đóng cách chúng tôi hai ngày đường bộ. Nhưng sự thực, chúng chỉ cách địa điểm chúng tôi có hai cây số, nếu tiến thêm chúng tôi đã bị quét gọn rồi. Vì thế chúng tôi rút về Quang Nhiêu, ở lại bảo vệ địa điểm này.
Như vậy chúng tôi đã biết thực lực quân Bắc Việt. Chúng tôi hiểu tình hình nghiêm trọng, nhưng tôi không nghĩ các sĩ quan ở tỉnh và Tư lệnh vùng biết được tình hình nghiêm trọng là đã có nhiều quân Bắc Việt như vậy ở trong vùng.
Tình trạng rất phức tạp. Tiểu đoàn chúng tôi gồm bốn đại đội. Đại đội tôi là đại đội 1, nhận lệnh trở lại Ban Mê Thuột, vào giữa thành phố để yểm trợ các xe dầu của Sư đoàn 8. Đại đội 2 đến đóng tại bộ Chỉ huy Sư đoàn 23. Một đại đội khác được gửi đến yểm trợ các căn cứ nhẹ của quân đoàn, nhưng đã bị tiêu diệt toàn bộ.
Đêm mùng 9 rạng ngày 10 tháng 3, đại đội tôi có lệnh đến phòng vệ cây cầu trên đường 14 để giữ khai thông con lộ. Nhưng đêm ấy, quân Bắc Việt pháo rất dữ, chúng tôi lâm tình trạng hết sức khẩn trương. Tôi dẫn lính trở ra, nhưng quân cảnh yêu cầu chúng tôi trở lại vị trí để chuẩn bị vì tình hình nghiêm trọng. Mọi việc có vẻ không khá. Tôi nghĩ lúc ấy ai nấy đều biết trước một cuộc tấn công sẽ phải xảy ra.
Quân Bắc Việt xoay trở để chiếm Ban Mê Thuột trong vòng có hai ngày. Tôi đã chứng kiến câu chuyện thất thủ Ban Mê Thuột với tư cách một quân nhân chiến đấu. Và sau đây, tôi xin kể những gì đã xảy ra:
– Đêm mùng 9 tháng Ba, một đoàn xe vận tải chở vũ khí đạn dược tiến đến Ban Mê Thuột. Trước đấy, chúng tôi nghe tin đường Nha Trang – Ban Mê Thuột đã nghẽn, xe cộ không chạy được, tại sao đoàn xe vận tải này đi lọt? Nhưng đoàn xe đến từ Nha Trang vẫn làm chúng tôi yên lòng. Chúng tôi cảm thấy dễ chịu vì tưởng quân đội đã đánh bật được Cộng sản, mở lại đường, cho đến khi khám phá đoàn xe này là của Bắc Việt chứ không phải xe chúng tôi. Đã có địch xâm nhập vào hàng ngũ chúng tôi.
Chúng tôi không bao giờ biết nguồn gốc những chiếc xe vận tải này từ đâu. Nhưng đến chiều mùng 9 tháng Ba, đoàn xe tới Ban Mê Thuật chở đầy võ khí. Rồi có một chuyện gì, vài người biết được, do đó khi tôi dẫn lính ra thì được yêu cầu quay lại. Cũng đêm đó, Bộ Chỉ huy Sư đoàn ra lệnh cho đại đội tôi vào lúc ba giờ sáng để di chuyển lên Bang Dao, nhưng hai giờ sáng thì địch bắt đầu pháo, chúng tôi không cách gì nhúc nhích nổi. Vào khoảng tám cho đến mười giờ sáng, thì kho đạn – không cách chúng tôi bao xa – phát nổ. Cả một nghĩa địa và đồn kiểm lâm gần đấy biến mất, trống trơn. Chúng tôi nhận tin địch có chiến xa T-54 đang tiến đến tỉnh. Tiểu đội chúng tôi vừa ló ra thì đụng ngay nhóm địch gào thét inh ỏi. Chúng nã đạn M72 vào chúng tôi. Lúc ấy, nghe động cơ ầm ĩ, chúng tôi cứ tưởng chiến xa T-54, nhưng sau mới biết là không phải. Thật ra đấy là tiếng động cơ của những chiếc xe be kéo gỗ trong rừng. Địch đã mưu mô đưa xe be vào tỉnh, chúng đặt xe một chỗ, rồi cho nổ máy. Tiếng động cơ xe be rất giống tiếng động cơ T-54 làm lính Việt Nam Cộng Hoà mất tinh thần. Chúng tôi chỉ là một đơn vị nhỏ. Tinh trạng hỗn loạn xảy ra chính vì lầm tưởng quân Bắc Việt đã mang nhiều xe tăng tiến đến.
– Địch chiếm toàn tỉnh trong vòng có hai ngày. Sau đó, tại hậu cứ chúng tôi, khu phi trường Phụng Dực cách Ban Mê Thuột mười cây số, nơi đóng căn cứ của Trung đoàn 53 và Trung đoàn 54, chúng tôi đã chiến đấu ròng rã gần mười ngày. Tỉ số tổn thất của địch nặng hơn chúng tôi. Tỉ số thương vong của địch là bảy so với chúng tôi là hai. Chúng tôi chiến đấu đến khi hết đạn, phải gọi trực thăng tiếp tế. Nhưng đạn bắn quá khốc liệt, các phi công sợ, đã bay quá cao, thả không trúng đích. Họ thả thùng đạn xuống gần phía Cộng quân hơn phía chúng tôi, chúng tôi không thể lấy đạn được. Vì thế chúng tôi đành chiến đấu cho đến viên đạn cuối cùng, rồi hầu hết chúng tôi đều tử trận. Sau, chỉ còn Trung đoàn trưởng là Trung tá An và hai quân nhân sống sót trong cuộc tàn sát này. Tôi là một trong những người sống sót ấy.
Sau này tôi nghe lính nói Cộng quân chặt đầu tất cả những binh sĩ Việt Nam Cộng Hoà nào hình dáng to lớn hoặc có để râu mép hay râu hàm. Tôi không chứng kiến những chuyện ấy, nhưng nhiều người đã chứng kiến, tôi cũng được nghe lính kể lại. Thực ra, ở Châu Sơn, việc này đã xảy ra. Địch chặt đầu nhiều người, gồm cả một số linh mục Công giáo.
Ngay sau đó, địch truy lùng các binh sĩ Việt Nam Cộng Hoà. Chúng bắt được tôi trong một thời gian ngắn. Tôi rất may mắn vì không để râu mà cũng không lớn con. Chúng lùa nhiều người vào một ngôi nhà, tôi ở trong đám người đông đảo này nhưng tôi vuột chạy. Tôi không quen đường trong thị xã Ban Mê Thuột. Mặc dầu đã ở vùng này khá lâu nhưng ít khi tôi ra tỉnh. Tôi là một người lính chiến, hầu hết thì giờ dành cho các cuộc di hành và các chiến dịch. Chúng tôi không ra tỉnh nhiều.
– Việc thất thủ Ban Mê Thuột là việc không tránh khỏi. Ở đây chỉ có mỗi một tiểu đoàn phòng vệ tỉnh, tức là bốn đại đội, mà một đại đội đã được đưa đi chỗ khác, nên chỉ có ba Đại đội ở nơi này. Cũng có một số quân nhân nữa, nhưng họ đều là lính văn phòng. Nói rằng Ban Mê Thuột mất trong hai ngày là không hoàn toàn đúng. Chính ra Ban Mê Thuột đã mất trong vòng một ngày. Tuy nhiên, thưa ông, ông phải biết đã có một trận đánh lớn diễn ra cách Ban Mê Thuột mười cây số, tại phi trường. Chính nơi đây chúng tôi đã thực sự chiến đấu mãnh liệt với địch quân, chúng tôi đã cầm chân chúng suốt một tuần lễ.
Sau đấy đã có một cố gắng tái chiếm Ban Mê Thuột. Ông nhớ chứ, tôi thuộc trung đoàn 53 và trong trận đánh đã kể, hầu hết đã hy sinh. Việc cố tái chiếm Ban Mê Thuột là do trung đoàn 44, bấy giờ đóng ở Pleiku. Nhưng khi trung đoàn này đến vùng Tinh Thương cách Ban Mê Thuột chừng mười cây số thì vừa lúc các binh sĩ gặp gia đình họ từ Ban Mê Thuột chạy ra. Thấy gia đình chạy, binh sĩ cũng bỏ súng ống chạy theo gia đình. Các cấp chỉ huy không thể điều khiển họ nữa. Có lẽ, đấy là lý do tại sao chúng tôi thất trận. Binh sĩ không còn muốn chiến đấu nên chúng tôi đã thua. Cũng có vài cuộc đụng độ của những binh sĩ ở lại, nhưng không lâu, vì làm sao đánh được nữa. Chúng tôi chỉ còn một số người ít ỏi. Và những người ở lại chiến đấu cũng không thể tin chúng tôi có thể thắng để lấy lại thành phố. Lý do đã mất rồi.
Nhưng ông cũng cần phải biết: Không phải tất cả các binh sĩ đều bỏ chạy. Một số đã ở lại, đã chiến đấu với Việt Cộng ở mọi nơi. Tại khu trung tâm. Tại nhiều nơi khác. Dẫu chỉ là những trận nhỏ, nhưng vẫn là những trận đánh. Những người chiến đấu đã chiến đấu với tất cả nhiệt tình, họ không phải đánh chỉ vì phải đánh. Họ mãnh liệt đấu tranh với Bắc quân.
Vào ngày 10 tháng Ba khi địch quân đang tấn công chúng tôi, lúc Ban Mê Thuột chưa mất, lúc những trận đánh còn đang diễn ra, thì khi mở máy truyền tin, chúng tôi đã nghe một cuộc điện đàm giữa bộ Chỉ huy Sư đoàn với tướng Phú ở Pleiku. Tướng Phú bay trên trực thăng nói chuyện với Tư lệnh Phó Sư đoàn là đại tá Quang. Tôi có một người bạn, là đại úy Truyền tin của Trung đoàn cũng đã mở cùng một tần số và cũng nghe được những gì tôi đã nghe.
Tướng Phú nói: “Được rồi! Với bất cứ giá nào ông cũng phải giữ Ban Mê Thuột. Tôi sẽ cho ông bất cứ cái gì ông cần – Tôi sẽ tiếp vận vũ khí, binh sĩ nếu ông muốn. Nhưng phải giữ Ban Mê Thuột bằng mọi giá.” Đó là những gì rõ ràng tôi đã nghe.
Nhưng tôi phải nói: Đại tá Quang không phải là một cấp chỉ huy tốt. Không, ông ấy không phải là một cấp chỉ huy tốt. Ông ấy đã nói dối. Ông bảo chúng tôi đủ sức tiếp tục chiến đấu. Nhưng thử nhìn thực tế xem. Chúng tôi chỉ có hai tiểu đoàn, một tiểu đoàn đã đưa đi Phước An, còn lại một ở Ban Mê Thuột, trong tiểu đoàn ấy, một đại đội đã bị tận diệt ngày 10 tháng Ba.
Tôi bị bắt ở Ban Mê Thuột. Chúng chặn những người bỏ chaỵ, cô lập một số vùng. Rồi chúng bao vây không cho thoát. Tình trạng lúc ấy quá hỗn loạn, tôi bị kẹt ở đấy.
Tuy bị bắt, nhưng tôi tìm cách lẩn tránh. Tôi không báo cáo quân số của tôi. Tôi né đi. Những người khai báo đều bị Cộng sản dẫn đi mất: Có trời mới biết họ đi đâu. Người ta chỉ thấy họ biến mất, không bao giờ còn ai gặp lại nữa. Tôi cứ né tránh không khai báo gì cho đến ngày 25 tháng Ba, 1975 thì gặp được hai giáo sư trung học. Hai người này biết tôi, họ dạy cùng trường với người bạn của tôi. Họ giúp tôi trốn. Nhờ vậy tôi thoát Cộng sản mà sống sót.
Đầu tháng Tư tôi chạy khỏi Ban Mê Thuột, đến được Nha Trang. Lúc ấy Nha Trang cũng đã bị Cộng sản chiếm. Tôi đến được nhà những người bà con bên ngoại, nhưng vợ chồng mấy người chị tôi đều đã chạy vào Sàigòn rồi.
Tôi xin kể ông nghe về chuyến đi từ Ban Mê Thuột đến Nha Trang. Không thể tin nổi. Trên đường có nhiều xe buýt chở người, mấy chiếc xe này cũng tựa những chiếc buýt Greyhound ở Mỹ, nhưng không đẹp bằng. Mấy chiếc xe này đã bị Cộng sát bắn suốt chuyến đi. Chúng bắn, bất kể quân đội hay thường dân. Sống sót được sau chuyến đi này thật là đại hồng phúc.
Xe tôi bị bọn du kích địa phương chặn. Chúng bảo “Trên xe chắc chắn phải có lính ngụy. Bước xuống ngay, nếu không chúng tao bắn tất cả mọi người trên xe.” Cái từ ngữ mà chúng gọi bọn tôi là “Ngụy quân”, chúng dọa bắn tất cả mọi người trên xe nên tôi và vài người nữa bước xuống. Nhưng thật quá may mắn. Vừa lúc chúng tôi ra khỏi xe, có hai oanh tạc cơ A-37 chợt bay đến dội bom trong vùng. Bọn du kích chạy. Chúng tôi chạy. Chiếc xe buýt cũng rồ máy chạy. Nhưng tài xế là một người có tấm lòng thật tử tế, nhân hậu. Qua khỏi một chặng đường ngắn, ông ta dừng lại, đón chúng tôi lên.
Có một cảnh tượng đã chứng kiến làm xót xa thắt ruột. Đó là cảnh hai đại đội nhảy dù bị Cộng sản bắt. Chúng ra lệnh cho họ di chuyển trên đường, lê bước không giầy, không đồng phục. Trông họ thật đau buồn. Những người ngồi trong xe buýt nhìn ra đều thấy cảnh tượng đó. Chúng tôi muốn bật khóc. Cảnh tượng ấy làm chúng tôi đau lòng, tức giận xiết bao. Một điều nữa cũng làm chúng tôi xót xa là khi nhìn thấy xác chết của những người lính nhảy dù ngổn ngang khắp hai bên đường. Quá nhiều xác chết. Cũng có xác của quân Cộng sản, nhưng chúng đã chuyển đi, chỉ vứt lại thi hài những người lính dù, nhất là tại khu Phượng Hoàng. Đường Phượng Hoàng là đường dẫn từ Ban Mê Thụôt xuống Nha Trang, rất gần Nha Trang.
Tôi kẹt ở Nha Trang, bị bọn Cộng sản phường gọi trình diện. Lúc đó nếu có dịp vào được Sàigòn thì tôi đã đi rồi, có thể đã ra khỏi nước rồi. Nhưng tôi bị kẹt. Vì Sàigòn chưa mất, nên bọn chúng đối xử với tôi có thể nói là tử tế. Phần lớn những người ra trình diện ở Nha Trang đều được Cộng sản đối xử tử tế, cho đến khi Sàigòn sụp đổ.
Ngay sau khi Sàigòn mất, bọn chúng trở mặt. Chúng bắt đầu đối xử khác hẳn. Chúng tôi đã bị đưa vào các trại học tập. Bọn chúng loan tin
Sàigòn mất cho chúng tôi tại trại.
Trước đây, chưa từng một giây phút nào chúng tôi nghĩ Sàigòn có thể sụp đổ. Chúng tôi chưa bao giờ tin được như vậy.
Chúng tôi đã từng hy vọng có ngày các bạn tôi và tôi sẽ vượt thoát khỏi trại. Cho nên đầu tiên, vì tin này đến quá bất ngờ, chúng tôi sửng sốt xúc động. Nhưng sau đó là tiếp đến một giai đoạn khuây khoả, với cảm giác rằng: ừ cũng tốt thôi, cuối cùng chiến tranh đã chấm dứt. Cộng sản cũng là người Việt, chúng tôi đều là người Việt cả, nên chúng tôi nghĩ mọi việc cũng xong? Chẳng có mất mát lớn lao nào. Và có lẽ, chúng tôi với Cộng sản có thể cùng nhau chung sống. Nhưng những ngưòi có tuổi ở trong trại, từng sống dưới chế độ Cộng sản từ ngoài Bắc, họ lập tức phủ nhận ý nghĩ đó. Họ bảo: “Các cậu còn trẻ quá. Đừng lạc quan lắm về viễn tượng sống chung hoà bình với Cộng sản.” Họ cảnh cáo. Vì thế chúng tôi đôi phần trở nên hoài nghi. Những nỗi buồn dữ dội dần dà xâm chiếm. Tất cả chúng tôi đều trở nên buồn bã.
Chúng tôi bắt đầu cảm thấy tương lai thật mờ mịt. Trong trại học tập, họ bắt chúng tôi học mười bài về việc: “Tại sao nhân dân Việt Nam phải chiến đấu chống chính phủ và quân đội Mỹ,” “Tại sao Mỹ muốn can thiệp ở Việt Nam.” Rồi họ bắt chúng tôi viết lời khai cá nhân, đại loại như tiểu sử, lý lịch mỗi người. Họ bắt chúng tôi làm những chuyện ấy vào buổi sáng, bắt làm lại vào buổi trưa. Rồi đến tối, bắt làm lại nữa. Hầu như suốt thời gian, chúng tôi đều phải viết lý lịch từ ba cho đến bốn lần mỗi ngày. Đầu tiên, mọi người tưởng họ chỉ bắt viết một lần thôi. Nào ngờ họ bắt viết đi viết lại, viết đi viết lại mãi cho đến nỗi chúng tôi quên cả những gì đã viết trước. Họ có thể đem những bản khai lý lịch khác nhau ra so chiếu, rồi gọi chúng tôi ra hạch hỏi.
Tôi xin kể ông nghe thế này: Họ đã nói với chúng tôi nhiều chuyện cực kỳ quái gở, toàn chuyện sai quấy, không thể tin nổi. Nhưng họ cứ nói với chúng tôi cùng những chuyện ấy, nhắc đi nhắc lại, riết rồi đến nỗi tôi chợt nhận ra chính tôi cũng đã bắt đầu tin những điều họ nói. Tôi bắt đầu cảm thấy chính tôi là một tội phạm khi chiến đấu trong hàng ngũ quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Tôi cảm thấy có tội về nhiều thứ cáo trạng mà họ dồn dập đổ vào đầu óc chúng tôi. Nhưng may mắn cho những sĩ quan trẻ trong những năm còn là sinh viên đại học, chúng tôi đã học thiền. Nhờ áp dụng phương pháp thiền định, chúng tôi vẫn giữ được sự quân bình, lành mạnh cho tâm trí. Còn nếu không, họ đã làm chúng tôi phát điên được với những hành động của họ. Những gì họ bắt chúng tôi làm, những gì họ lập đi lập lại một cách rất vô lý: Ngày đêm cùng nói một thứ. Suốt thời gian. Và những tờ khai lý lịch cá nhân họ bắt viết đi viết lại mỗi ngày vài lần.
Ban đêm, khoảng mười giờ tối, dưới ánh nến hay một ngọn đèn dầu nhỏ, họ bắt chúng tôi viết lý lịch cá nhân. Rồi ba giờ sáng, họ bắt chúng tôi thức dậy, lại viết lý lịch cá nhân nữa. Chuyện này thật khắc nghiệt khủng khiếp.
Tôi rất may mắn. Tôi chỉ bị ở cải tạo có hơn ba tháng rồi được thả. Những người ở các đơn vị chiến tranh chính trị của quân đội Việt Nam Cộng Hoà mới là những người mà họ chú trọng. Nhưng cũng còn vấn đề may mắn, bởi vì tôi có những người bạn cũng là sĩ quan đơn vị chiến đấu, cùng cấp bậc với tôi, bị họ bắt và tôi đã không bao giờ gặp lại nữa.
Có một sĩ quan cấp bực cao hơn tôi đã được thả trước tôi ba ngày. Cộng sản dùng đấy để tuyên truyền. Họ nói: “Thấy chưa, anh ta là sĩ quan cao cấp hơn nhưng đã được trả tự do bởi vì anh ta học tập tốt. Anh đã cải tạo xong.” Và họ nói như thế là chúng tôi không có thiện chí học tập. Gia đình chúng tôi thắc mắc không hiểu tại sao anh ta được thả trước chúng tôi. Nên rồi gia đình chúng tôi đã tin bọn Cộng sản, tin chúng tôi không chịu học tập. Họ tác động tâm lý chúng tôi như thế đó.
Nhiều bạn hữu của tôi vào rừng tham gia các lực lượng kháng chiến. Nhưng tôi đã trở về với gia đình. Lúc ấy tôi không có ý nghĩ gì về việc ra khỏi nước. Tôi nuôi hy vọng liên lạc được với các bạn của tôi, những người không bị Cộng sản bắt. Tôi biết họ vẫn quanh quẩn đâu đây. Tôi muốn liên lạc với họ để xem tôi có thể làm gì. Chẳng bao lâu, Cộng sản bắt đầu nghi ngờ những chuyện đi lại của tôi và mục đích của tôi. Vì họ nghi, nên tôi quyết định đi làm ruộng, nhưng mỗi tuần phải báo cáo cho họ, rồi tiếp tục viết thêm tờ khai lý lịch.
Tôi đến Mỹ năm 1979. Tôi rời Việt Nam bằng tàu, một chiếc tàu rất bé. Người chủ tàu là bạn từ lúc nhỏ. Tôi liên lạc được với anh, anh đã cho tôi cùng đi vượt biên. Chúng tôi đi ở một địa điểm rất gần Nha Trang. Khi ra khơi tôi nhìn lại những hàng dừa mọc trên bãi biển. Tôi nghĩ mình sung sướng xiết bao khi được ngồi trên con tàu bé nhỏ này. Chúng tôi chỉ có một cái địa bàn nhà binh nhỏ để tìm phương hướng. Và chúng tôi đã đến được Phi Luật Tân.
Thời gian đầu ở Mỹ, tôi vẫn nghĩ về Việt nam. Tôi muốn trở về. Đó là một giấc mơ, một hy vọng. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn giấc mơ ấy: Được trở về để chiến đấu, chứ không phải để hưởng thụ như nhiều người khác.
Tất nhiên, tôi đã mơ về quê hương, tôi mơ đến căn nhà tôi. Nhưng trong cơn mơ, tôi sợ hãi không dám bước vào, vì một vài lý do. Có lẽ, bởi tôi sợ Cộng sản bắt lại. Khi thức giấc, tôi bồi hồi luyến tiếc. Tôi nghĩ: “Trong giấc mơ, tôi đã về đến gần nhà như thế, nhưng sao tôi đã không thể bước vào”. Ngay trong giấc mơ, tôi cũng chưa từng có thể bước vào căn nhà của tôi ở Việt Nam mà sống êm đềm trở lại.
Trước khi tôi rời Việt Nam, đã có nhiều dư luận được đồn đãi, chính tôi cũng đã tin. Dư luận đó nói rằng có một Mặt trận giải phóng đã được sắp xếp, tổ chức. Nhiều bạn hữu của tôi đã nghĩ nếu chúng tôi vượt thoát sang được Mỹ, thì sẽ gia nhập lực lượng này rồi trở về chiến đấu chống Cộng sản. Nhưng không phải như thế. Bao nhiêu hy vọng và lý tưởng tan vỡ cả nơi đây. Điều làm chúng tôi đau đớn là đến đây để khám phá một sự thật: Đó là không có kháng chiến thật. Và cuộc chiến đã tàn.
Nhưng tôi vẫn hy vọng sẽ có một ngày trở lại Việt Nam. Chính hy vọng ấy ngày nay đã giữ cho tôi không mất trí.