Tuesday, August 18, 2020

Trong bữa cơm chiều, anh con rể hỏi tôi,
– Trong đời lính của bố, có những kỷ niệm nào mà bố cảm thấy thú vị và ý nghĩa nhất? Bố kể cho tụi con nghe đi, kẻo lỡ bố mất con cháu chẳng biết gì về cha ông chúng hết.
– Đời lính thì rất nhiều chuyện, vui cũng có mà buồn cũng có, những chuyện ý nghĩa và thú vị cũng chẳng phải ít, nhưng có lẽ câu chuyện bố sẽ kể cho các con nghe sẽ là câu chuyện mà bố nhớ mãi, đó là câu chuyện mang đậm nét nhọc nhằn, hy sinh và dũng cảm của người chiến binh thuở trước trong cuộc chiến Quốc – Cộng, mà người Mỹ đơn giản gọi là Vietnam War. Dưới con mắt những người Mỹ đây là cuộc nội chiến giữa miền Nam Việt Nam theo chế độ Tư Bản-Cộng Hòa và miền Bắc theo chế độ Cộng Sản.
Nhưng nếu chỉ đơn giản như vậy thì cuộc chiến không khốc liệt suốt hơn 20 năm và người Mỹ cũng như một số nước khác là đồng minh của miền Nam đã không tốn hao quá nhiều xương máu và tiền của đến như vậy. Sau chiến tranh người ta thống kê rằng chỉ tính riêng số bom dội trên khắp lãnh thổ Việt Nam nhiều hơn số bom xử dụng trong Thế Chiến Thứ Hai. Chưa kể khi cuộc chiến đã kết thúc hàng triệu người cũng lại bỏ nước ra đi, mà trong số những người ra đi đó có biết bao nhiêu người không tới được nơi mà họ mong muốn.
Ý nghĩa đích thực của cuộc chiến là ở đó, trong chiến tranh dư luận bị lệch lạc bởi những tuyên truyền xảo trá, nhưng rồi sự thật đã bị phơi bày, và chẳng những thế còn đánh động lương tâm toàn thế giới. Ngày nay hầu như trên khắp thế giới chẳng nơi nào là chẳng có người Việt định cư, kể cả những vùng đất nghèo nàn lạc hậu.
o O o
Sau khi ra trường, tôi được về Tiểu Đoàn 11/BĐQ, thuộc Liên Đoàn 2/BĐQ hậu cứ ở Biển Hồ Pleiku. Liên Đoàn 2/BĐQ khi đó là lực lượng tiếp ứng vùng nghĩa là nơi nào chiến sự cần chuyển quân nhanh thì LĐ2 được đưa tới tăng cường, chẳng kể là cho Tiểu Khu hay Chi Khu hoặc Trung Đoàn, Sư Đoàn. Trong 4 vùng chiến thuật Vùng II có lẽ là rộng nhất với 12 tỉnh nhưng lại có tới 7 tỉnh trên cao nguyên và 5 tỉnh dưới đồng bằng. Cao nguyên Vùng 2 lại giáp với Lào và Miên. Từ Kontum, Pleiku qua Phú Bổn, Ban Mê Thuột tới Quảng Đức đều là cửa ngõ xâm nhập của Cộng quân vào chiến trường miền Nam.
Qua những hành lang nối đường mòn Hồ Chí Minh dọc theo biên giới Lào-Việt-Miên, chúng chuyển quân đội, vũ khí, tiếp liệu để bắn giết đồng bào chúng dưới danh nghĩa Chiến Tranh Giải Phóng Dân Tộc, mà Kontum chính là một địa bàn quan trọng nhất. Kontum cũng còn là một khu vực rất đặc biệt nữa, được gọi là Ngã Ba Biên Giới. Nơi đây là một ngọn đồi không cao lắm nằm phía Tây Bắc cách thành phố Kontum chừng 80 km, cách trại Benhet của TĐ95 /BĐQ khoảng 8km về hướng Tây.
Chiến trường càng sôi động, càng khốc liệt thì những đơn vị tiếp ứng chúng tôi càng bận rộn, càng vất vả. Từ cuối năm 1971 với ý đồ chiếm lĩnh khu vực quan trọng này, Cộng quân đã âm thầm điều động lực lượng đến đây để chuẩn bị Trận chiến mùa hè 1972, khởi sự với trận Polei K’leng. Polei K’leng là 1 làng người Thượng nằm về hướng Tây Bắc thành phố Kontum, cách thị xã khoảng 30km do TĐ 62 BĐQ Biên Phòng trấn đóng, trước đây là một căn cứ Biệt Kích CIDG do người Mỹ xây dựng. Sát ngay trại có 1 phi trường dã chiến lát bằng những tấm PSP. Những công sự trong trại rất kiên cố nhất là hệ thống giao thông hào và những bunker phòng thủ chung quanh trại. VC đã huy động cả 1 trung đoàn với toan tính làm cỏ khu vực này. Chúng liên tục pháo kích, cô lập trại với bên ngoài. Đường bộ không xử dụng được buộc Quân đoàn II phải lập cầu không vận trực thăng để tiếp tế vũ khí và nhu yếu phẩm trong nhiều ngày.
Ngày 23 tháng 11 năm 72, TĐ 11/BĐQ được điều động vô chiến trường, khi phi tuần B52 đánh trúng ngay vị trí của Trung Đoàn 95 thuộc Sư Đoàn 320 của VC. Khi trực thăng đưa chúng tôi vào vùng, từ trên không tôi đã nhìn thấy những dấu tích tàn phá của B52. Đó là một vùng chiều dài khoảng 2km và chiều rộng chừng 500m cây cối bị đốn rạp, rất nhiều những hố bom chi chít tạo nên khoảng trống gần như trần trụi. Đáp xuống mặt đất chúng tôi bắt đầu phát giác những dấu vết của Cộng quân với xác chết và băng cứu thương la liệt. Qua một con suối cạn, chúng tôi khám phá ra vị trí đóng quân của BCH Trung Đoàn địch. Sau một thân cây lớn bị đốn ngã là một hang núi khá lớn lộ ra chính là Bệnh xá dã chiến của trung đoàn này. Những thương bịnh binh VC chưa kịp di chuyển bị chúng tôi bắt làm tù binh trong đó có một nhân vật khá quan trọng mà sau chúng tôi mới được biết là một Chính Ủy VC.
Áp lực địch đương nhiên biến mất và trại Polei K’leng được giải tỏa. Chúng tôi rời vùng và chuyển lên phía Bắc gần Tân Cảnh, cũng bắt đầu chịu áp lực của cộng quân. Qua những chuyến bay quan sát chúng tôi khám phá địch quân đang thiết lập “sạn đạo”. Đó là những con đường được lót bằng cây rừng qua những khu vực đầm lầy hoặc qua suối. Những tin tức quý giá này giúp các nhà hoạch định chiến lược xác định rằng địch đang chuẩn bị mang chiến xa vào chiến trường. Và quả thật, chỉ từ Mùa Hè 1972 trên chiến trường và sau đó là trên các báo chí, các phương tiện truyền thông, Miền Nam Việt Nam mới được nghe nói về T 54, PT 76, đồng thời với những khẩu đại pháo 130 ly. Những khám phá đầu tiên này trên Vùng 2 do chính những trinh sát BĐQ của chúng tôi thu thập và báo cáo về. Chỉ tiếc rằng lúc đó máy chụp hình rất quý, rất hiếm, rất mắc tiền nên những đơn vị tác chiến chúng tôi không được trang bị và vì thế chúng tôi không thể có một tấm hình nào. Các Cố Vấn Mỹ của Tiểu Đoàn lúc đó cũng rất tiếc vì họ không phải là những người đầu tiên chụp được hình và cung cấp cho các cơ quan truyền thông.T£i th°¡ng
Ăn Tết tại Kontum xong chúng tôi được tăng phái cho Lữ Đoàn 2 Dù mới từ Saigon chuyển ra. Ngày 22 tháng Tư năm 72, chúng tôi được trực thăng vận lên đỉnh 1049, còn có tên là căn cứ Delta, để hoán chuyển cho TĐ 11 Dù đang trấn thủ tại. Căn cứ này do Công Binh Dù kiến tạo rất kiên cố. Những hầm lớn được làm từ những tấm PSP. Các đà ngang là những cây trụ điện đường kính cả nửa thước. Phía trên khoảng từ 7-15 lớp bao cát. Có hầm xếp tới 2 tầng lớp bao cát, có lẽ do biết chắc cộng quân sẽ dùng đại pháo và hỏa tiễn 122 ly nên họ phải làm hầm kiên cố như vậy. Quả nhiên, đang bàn giao chúng tôi nhận được hàng loạt pháo từ Tân Cảnh bắn tới!
Tân Cảnh lúc này đã bị Cộng quân chiếm từ hơn nửa tháng trước. Đây là một căn cứ hỏa lực khá lớn của Trung Đoàn 42 thuộc Sư Đoàn 22 Bộ Binh, có đủ 2 loại pháo 105 và 155 ly, còn đạn dược có lẽ rất nhiều. Sau khi chiếm được căn cứ này bọn Cộng quân dùng chính vũ khí của ta nã lên đầu mình. Có lẽ các tiểu đoàn Dù là những đơn vị đầu tiên lãnh nhận những hậu quả này.
Tiểu Đoàn 11 BĐQ chỉ để lại 1 Đại Đội giữ căn cứ này, 1 Đại Đội giữ căn cứ Yankee (Yên Thế). Phía sau còn Đại Đội 2 của Trung Úy Huỳnh Trọng Hà và Đại đội 4 của Trung Úy Trần Cao Chánh lại được tăng phái cho chính Tiểu Đoàn 11 Dù giữ căn cứ Charlie. Khi Chalie thất thủ chính ĐĐ 4 của Tr/Úy Chánh đã đón được 6 binh sĩ Dù chạy đến. Tr/Úy Chánh báo đã báo cho BCH Dù, nên họ đã yêu cầu dọn bãi đáp trực thăng để đưa về. Trong suốt 22 ngày đêm phối hợp với Lữ Đoàn 2 Dù, thương vong của TĐ 11 BĐQ là một sự kiện đáng nói. Khi vào vùng với Dù, quân số là 677 người, vậy mà khi rút ra chỉ còn lại hơn 300. Hơn một nửa nếu không bỏ mạng thì cũng để lại một phần thân thể lại chiến trường. Hàng ngày trên các báo cáo gởi Ban 3 Lữ Đoàn 2 Dù, chúng tôi báo cáo đầy đủ (lúc đó do Đại Úy Nguyễn Trọng Nghi, khóa 20 Võ Bị, làm Trưởng Ban).
Cũng cần nói thêm, trong tất cả các thiên phóng sự chiến trường, vai trò của TĐ 11 BĐQ trong mặt trận tại căn cứ Charlie vào tháng 4 -1972 hoàn toàn không được nhắc tới. Dường như Tiểu đoàn 11 BĐQ không hề hiện diện trong trận đánh này. Phải chăng lỗi lầm lớn nhất của BĐQ là đã không có đến nổi một phóng viên chiến trường nổi tiếng cho riêng binh chủng của mình?
Sau khi cùng các đơn vị bạn đẩy lui được cuộc tổng tấn công Mùa hè Đỏ Lửa ở mặt trận Kontum và bàn giao chiến địa lại cho Sư Đoàn 23 Bộ Binh, (Lữ Đoàn 2 Dù được rút ra Vùng 1 tăng cường cho Sư ĐoànThủy Quân Lục Chiến tại Cổ Thành Quảng Trị.) TĐ 11 BĐQ cũng được trả về lại Pleiku vào tháng Sáu năm 72, nghỉ ngơi ít ngày để bổ xung quân số và chiến cụ, rồi lại cùng LĐ 2/BĐQ tăng cường cho mặt trận Tam Quan -Bồng Sơn, thuộc tỉnh Bình Định.
o O o
Nói đến Bình Định vào những năm trước 75 hầu hết mọi người nghĩ đến đây là vùng đất của VC. Quả thật ở những vùng nông thôn hẻo lánh như ở đây, nhà nào cũng có thân nhân tập kết hoặc “mất tích”. Dĩ nhiên tất cả đều là đàn ông. Còn phụ nữ thì dù có đi làm giao liên hay có đi du kích cũng không bị chính quyền địa phương quan tâm lắm, bởi câu trả lời khá dễ dàng “eng đi lấy chồng” hoặc “eng theo trai rồi” vậy là xong. Chẳng ai thắc mắc lấy chồng người địa phương nào sao không làm hôn thú v.v.. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa khi đó không muốn bị mang tiếng là hà hiếp khắt khe với dân chúng quá nên chỉ trừ khi bị buộc phải điều tra còn thì các cán bộ địa phương luôn luôn du di, xuề xòa cho xong việc. Đây chính là những sơ hở chết người của chế độ, tạo thêm điều kiện để bọn VC dễ bề xâm nhập hoặc cài người.
Tháng Tư năm 1972, trong khi tỉnh Kontum trên cao nguyên bị 2 sư đoàn chính quy và 2 đến 3 trung đoàn độc lập của Cộng quân Bắc Việt đánh phá, căn cứ Tân Cảnh thuộc Trung Đoàn 47 BB của Sư Đoàn 22 BB bị mất vào tay cộng quân, thì dưới đồng bằng căn cứ Đệ Đức thuộc Trung Đoàn 41 BB, Sư Đoàn 22/BB, tỉnh Bình Định, bị nội tuyến và đặc công VC đánh phá tơi bời. Tuy căn cứ không bị thất thủ như Tân Cảnh nhưng tổn thất cũng rất lớn. Nhiều khẩu pháo 105, 155 và cả chiến xa, thiết vận xa và nhiều loại quân xa, máy móc thiết bị truyền tin bị Cộng quân phá hủy.
Đệ Đức là một căn cứ quan trọng nằm ngay trên Quốc Lộ số 1, cách thị trấn Bồng Sơn chừng 1km và cách tỉnh lỵ Quy Nhơn chừng 60km. Từ đây đi về hướng Bắc chừng hơn 20km nữa là tới ranh giới với tỉnh Quảng Ngãi. Trung Đoàn 41 BB phụ trách một khu vực khá rộng lớn bao gồm toàn bộ quận Hoài Nhơn, Hoài Ân, và An Lão. Trong đó An Lão là một cái gai nhức nhối vì đó chính là mật khu của VC. Do địa thế núi đồi trùng điệp nên quân ta và cả Sư đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn đã nhiều lần hành quân càn quét vẫn nhưng không hoàn toàn bình định được.
Vào tháng Sáu năm 1972, an ninh khu vực này vẫn không có gì khả quan lắm. Bọn VC tuy không dám mở những cuộc tấn công quy mô như ở Kontum, Quảng Trị, Bình Long, nhưng chúng luôn luôn gây quấy nhiễu bằng những trận đánh lẻ, mục đích cầm chân Sư Đoàn 22 dưới đồng bằng. Với chiến thuật này, VC coi như tạm thành công. Hai Trung Đoàn 40 và 41 bị cầm chân trong các căn cứ, biến lực lượng di động trở thành những đơn vị cố định như Địa Phương Quân và Nghĩa Quân. Không chỉ bị cầm chân, các đơn vị bộ binh này thường bị dính những trận tấn công tiêu hao bằng đủ mọi loại chiến thuật từ công đồn, đả viện, phục kích… Đó là lý do để Quân Đoàn II phải điều động lực lượng tinh nhuệ nhất, những đứa con cưng của Quân Đoàn xuống tiếp cứu và đánh dẹp.
Những chuyến C130 cất cánh từ phi trường Cù Hanh, Pleiku đưa đoàn quân trang phục rằn ri chúng tôi đáp xuống phi trường Phù Cát, Bình Định. Từ đây, chúng tôi phải di chuyển về hướng Bắc thêm 25km nữa mới tới Bồng Sơn để bắt tay với Sư Đoàn 22BB. Mặc dù Bình Định là một tỉnh đồng bằng nhưng thực ra chỉ có phía Đông quốc Lộ 1, phần giáp với biển, là đồng bằng thôi. Còn phía Tây cũng là những đồi núi, àng vào sâu, vào xa đồi núi càng cao càng hiểm trở, và các mật khu VC thường ở đó. Những trận chiến ác liệt mà đơn vị tôi đụng độ với Cộng quân cũng thuộc khu vực này.
Tiểu Đoàn tôi di chuyển theo tỉnh lộ 634 tiến về phía Tây. Con đường này có lẽ trước đây có tráng nhựa, nhưng do lâu năm không được tu sửa lại bị đám xe be chở cây tàn phá nên giờ đây chỗ nào còn tốt thì giữ được một lớp đá trên mặt, còn thì trơ đất, ổ trâu ổ gà đầy khắp nơi. Chúng tôi nhận ra nó là tỉnh lộ chỉ hoàn toàn nhờ bản đồ và những dấu tích còn lại của một con đường. Thỉnh thoảng một chiếc xe cơ giới chạy qua như muốn giới thiệu nền văn minh còn thì toàn xe thổ mộ do trâu bò kéo, cũng có khá nhiều xe đạp được chế biến thêm để có thể thồ hàng hóa.
Những xóm làng chúng tôi đi qua đều trong tình trạng nghèo nàn và lạc hậu. Đã gần qua ¾ của thế kỷ 20, nhưng vùng này ánh sáng đèn điện chưa được rọi tới. Nhà cửa hầu như toàn bộ là nhà tranh vách đất trống hoác, tài sản cũng chẳng có gì. Dân ở đây vẫn giã gạo bằng cối đá với những cái chày dài cả 2 thước. Đôi nhà có cối giã bằng chày đạp chân, và thỉnh thoảng bắt gặp một cái cối xay đắp bằng đất, ngoài là tre cật. Họ có thói quen gạo ăn ngày nào giã ngày đó chứ không trữ gạo và hầu hết đều ăn độn khoai mì khô! Nghề chính của dân ở đây là làm rẫy, nhưng theo kiểu người Kinh, nghĩa là làm ruộng cao, khác với cách làm rẫy của người Thượng trên cao nguyên. Ruộng của họ cũng được cày, cuốc, bừa cẩn thận trước khi gieo hạt. Ngoài ra còn thêm một nghề phụ nữa là đốn củi.
Ra khỏi xóm làng chừng vài ba cây số là rừng, nhưng chỉ toàn những cây con, còn những cây gỗ lớn đã bị khai thác từ thuở nào đó rồi. Họ đốn củi cũng chỉ bằng những cây rựa. Cây rìu giống như cha ông của họ đã làm từ trước hoặc nếu gặp cây to thì cũng dùng những lưỡi cưa tay cá mập do hai nguời kéo. Mặc dù lúc này người Mỹ đã mang vô Miền Nam rất nhiều cưa máy loại nhỏ cho một người xử dụng, chính phủ cũng đã nhập rất nhiều loại cưa như vậy của các nước khác như Pháp, Đức, Đài Loan hoặc Nhựt Bổn, nhưng học không hề biết đến. (Có lẽ vì quá nghèo chăng?) Tên các máy cày như John Deer hoặc Kubota đã trở nên quá quen thuộc với nhà nông, các loại máy nổ Koler 5, Koler 7 cũng đã thay người bơm nước vào ruộng hoặc thay mái chèo với cái “đuôi tôm” gắn phía sau lướt sóng rẽ nước ào ào, vậy mà nông dân ở đây vẫn sinh hoạt theo kiểu bán khai của đầu thế kỷ!
Sau này khi tìm hiểu kỹ lưỡng chúng tôi mới té ngửa ra rằng, mặc dầu trong nhà có người tập kết hoặc được móc nối “vô bưng” nhưng người dân ở đây hoàn toàn không muốn sắm sửa cái gì, bởi họ không muốn bị “cống hiến” cho “cách mạng”. Nhà nào có máy móc có công cụ sản xuất hiện đại, thậm chí là cái radio cái đồng hồ đeo tay cũng được cán cán bộ chiếu cố tận tình để yêu cầu “đóng góp cho cách mạng”. Thực ra, bọn chúng cố tình đẩy những người nông dân chất phác vào cảnh khốn cùng rồi tuyên truyền rằng đó là hậu quả do chính quyền của VNCH và Mỹ, và chúng mới là người “giải phóng” nhân dân khỏi vòng kềm kẹp đó. Những người dân cúi đầu trước áp lực của họng súng, của mã tấu lưỡi lê nên không dám phản kháng. Nhưng họ cũng nhận thấy sự phi lý sau những lời tuyên truyền đường mật, nên họ luôn chạy về hướng của ta nhờ che chở. Phía chính quyền cũng biết rõ điều đó, nhưng khả năng bảo vệ dân có hạn, không thể gom dân vào một chỗ như kiểu “ấp Chiến Lược” thời Đệ Nhất Cộng Hòa, mà để dân sống thoải mái thì lại không đủ lực lượng để bảo vệ.
Từ Quốc Lộ 1 đi vô, Tỉnh lộ 634 dài khoảng hơn 15 km. Cuối con đường là hồ nước Hội Sơn khá lớn, thuộc xã Phú Ninh. Hồ này là một vùng đất trũng giữa những đồi thấp chung quanh, dài khoảng hơn 3 cây số và ngang chừng nửa cây số. Ba mặt còn là những ngọn đồi cao chưa tới 100 mét. Cư dân chỉ sanh sống ở phía Nam của hồ. Những ngọn đồi này cũng thoai thoải, ít đá và còn rất nhiều cây rừng. Nhờ vậy mà đám lính cao nguyên chúng tôi đỡ khổ vì sự khác biệt khí hậu. Khác với Pleiku “buổi chiều quanh năm là mùa Đông”, nơi đây dưới đồng bằng 10 giờ đêm cũng còn nóng rát da, nhất là hè. Gió thổi từ hướng nào cũng mang đến những cái nóng ghê hồn, gió từ biển: nóng, gió từ lục địa (gió Lào): càng nóng. Chính vì thế khi di chuyển trong rừng cây, chúng tôi lấy lại được phong độ, vì rừng cây ngoài bóng mát còn là người bạn che chở, bảo vệ. Người lính trên cao nguyên luôn biết cách di chuyển, dù luồn lách qua những chướng ngại vật nhưng họ luôn giữ đúng hướng di chuyển. Núi đồi khu vực này tương đối thấp và thoai thoải, ít dốc nên di chuyển dễ dàng, mặc dù vậy đề phòng những cạm bẫy mà bọn du kích cộng quân thường dùng, chúng tôi cũng phải quan sát rất cẩn thận, do đó tốc độ tiến quân không nhanh.
Chiều hôm sau, rời khỏi những cánh rừng, chúng tôi cũng ra đã đến được xã Nghĩa Điền, một xã hẻo lánh trong vùng núi non mà ngay cả trung tâm cũng chưa tới 50 nóc nhà. Trụ sở xã là một căn nhà gạch có hàng rào cũng bằng gạch quét vôi trắng phía trước với một cổng chào trên có bảng hiệu Ủy Ban Hành Chính Xã Nghĩa Điền. Tấm bảng loang lổ nhiều chỗ tróc sơn chứng tỏ đã khá lâu không tu sửa. Dĩ nhiên cũng có một trụ cờ Quốc Gia, mặc dù không cao lắm. Xã không có trường học, cũng chẳng có bệnh xá và cũng chẳng có chợ. Tất cả đều tập trung tại xã Bình Sơn phía trên. Tuy vậy xã này cũng chẳng sầm uất gì, chỉ hơn được là có vài quán cóc bán rượu đế và thuốc rê. Dân ở đây cũng chưa có ý niệm gì về cà phê, tuy họ có được nghe nói hoặc có được thưởng thức khi đi chợ huyện. Còn thì họ không bán hoặc không biết pha chế. Ngay cả thuốc điếu thì Mélia, Bastos là quá sang rồi, Ruby và Capstan cũng chẳng ai đủ tiền để hút.
Đóng trong vùng 3 ngày, chúng tôi cho quân lục soát chung quanh khu vực trong tầm kiểm soát của súng cối 81 ly. Cái khó cho chúng tôi là đơn vị không nằm trong tầm yểm trợ của Pháo Binh bởi địa bàn quá lớn. Địch quân không lường được vì chúng nghĩ những đơn vị rằn ri ắt hẳn hỏa lực phải hùng hậu ghê lắm. Nhưng chính những cây súng cối lại yểm trợ rất đắc lực vì các trận đụng độ cấp số địch quân cũng không lớn.
Từ Tỉnh Lộ 630 chếch hướng Đông Bắc rồi đổi lên hướng Bắc để nối vào Tỉnh Lộ 629 chúng tôi đã ở sau lưng căn cứ Đệ Đức. Đây là một khu đồng bằng hẹp, xóm làng tương đối đông đúc. Điều đặc biệt là có khá nhiều Thánh Thất Cao Đài tại hầu hết các làng. Đình miếu trong khu vực này hầu như không mấy khi thấy, mà nếu có thì biết làng đó không theo Cao Đài. Những làng Cao Đài tương đối an ninh, vì tín hữu Cao Đài luôn chống cộng. Trong những làng Cao Đài họ tổ chức khá ngăn nắp, đường phố sạch sẽ, nhà cửa cũng khang trang hơn, có nhiều nhà gạch nhà ngói hoặc ít ra thì cũng mái tôn, thỉnh thoảng cũng thấy vài ba cây ăng ten TV cao ngất ngưởng. Mặc dù đài TV của thị xã Quy Nhơn chỉ tiếp vận đài Sàigòn, nhưng như vậy cũng đủ thấy ánh sáng văn minh khác hẳn với vùng chúng tôi vừa qua trước đó một tuần.
Trong lúc Tiểu Đoàn chúng tôi nhổ cái gai phía sau lưng cho Trung Đoàn 41 Bộ Binh thì Liên Đoàn 2/BĐQ đã kéo lên phía Bắc và lập căn cứ ngay thị trấn Tam Quan. Đây là một khu vực sầm uất dọc theo Quốc Lộ 1 dài chừng hơn 2km và ngang cũng khoảng 500m. Nhà cửa xây dựng khang trang. Những nhà mặt phố đúc bê tông cốt thép cao 2, 3 tầng cửa sắt kéo, không khác các thành phố lớn. Thị trấn có nhà máy phát điện cung cấp điện 24/24 và có đủ mọi tiện nghi công cộng. Căn cứ của LĐ2/BĐQ nằm sâu phía Tây bên trong QL1 chừng 100m, có một pháo đội hỗn hợp 105 ly và 155 ly, cộng thêm một chi đội thiết giáp M41. Về phía Tây chừng 10 km là các ổ VC ở các xã Tuy An, Hoài Châu, Hoài Hảo và xa thêm chừng 5 km nữa chính là Mật Khu An Lão. LĐ2 BĐQ lập căn cứ ở đây chính là nhắm bình định khu vực này. Tiểu Đoàn chúng tôi tiếp tục theo Tỉnh lộ 629 tiến lên phía Bắc để phối hợp với Liên Đoàn. Lúc này chúng tôi đã ở ngay sát cạnh Mật Khu An Lão rồi. Vùng núi này cũng không lấy gì cao, và khu vực chung quanh cũng chẳng lấy gì là hiểm trở. Nhưng dọc theo Tỉnh Lộ chúng tôi đã thấy chi chít hố bom trên các sườn đồi, dấu tích chiến trận còn bỏ lại bên xác các chiến xa GMC hoặc Thiết Vận Xa M113 nằm dọc bên đường.
An Lão là một quận miền núi của Bình Định, cách thị xã Quy Nhơn gần 100 km, giáp ranh với quận Ba Tơ-Quảng Ngãi và phía Tây gối lên Pleiku, bọn Cộng Sản Bắc Việt gọi vùng này là Liên Khu 5, đây là một thung lũng trải dài trên 20 km và chiều ngang khoảng 4 km cách Quốc Lộ 1 khoảng 30 km, nghĩa là ngoài tầm tác xạ của Pháo Binh từ Tam Quan, Bồng Sơn, Hoài Nhơn… Mặc dù An Lão là một đơn vị hành chánh cấp Quận của VNCH, nhưng lại là một trong những khu vực kém mở mang nhất nước. Kể từ năm 1964 nơi đây trở thành một vùng xôi đậu, an ninh chỉ có trong khu vực Chi Khu với sự trú đóng của một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, buôn bán kém cỏi, hệ thống giao thông lạc hậu. Chi Khu và Quận Lỵ nằm ngay trên Tỉnh Lộ 629 lúc nào cũng có thể bị gián đoạn bởi chiến sự hoặc mìn bẫy.
Liên Khu 5 của VC thực ra lại bao gồm cả phần lãnh thổ bên quận Ba Tơ, Quảng Ngãi nữa nên còn gọi là Liên Khu Nghĩa Bình, cũng là điểm tập kết của cộng quân khi ký Hiệp Định Genvève. Sư Đoàn Mãnh Hổ của Đại Hàn đã nhiều lần hành quân trong vùng nhưng hoặc là chạm súng ác liệt hoặc là chỉ phá hủy được một ít công sự chiến đấu rồi khi rút đi tình hình lại đâu vào đấy, Trung Đoàn 41 BB cũng trong trường hợp tương tự, khi VC đã chuẩn bị sẵn sàng thì chúng đánh còn nếu không chúng rút qua Quảng Ngãi hoặc Pleiku. Chưa có một cuộc hành quân đại quy mô nào đtại đây, thành thử nó vẫn như một cái ung nhọt của tỉnh Bình Định và của Sư Đoàn 22 Bộ Binh.
Do được cung cấp tin tức tình báo từ trước nên khi vào vùng, Tiểu Đoàn đã hết sức thận trọng. Điều đó quả nhiên không thừa, khoảng 3,4 giờ chiều đơn vị đang di chuyển bỗng thấy một thằng bé chừng 14, 15 tuổi đang ngồi trên lưng trâu dật dờ tiến gần. Chuyện thằng bé và con trâu thì không có gì đặc biệt bởi đây là vùng quê. Nhưng dưới con mắt những chiến binh nhà nghề thì có cái gì đó bất thường, bởi ở vùng này trẻ chăn trâu thường ở độ tuổi từ 10-12 và chúng thường đi chung với nhau chăn cả đàn ít là 5, 3 con chứ không đi một mình và chỉ chăn 1 con. Hơn nữa tuổi thằng này cũng không còn là tuổi chăn trâu nữa. Khi chúng tôi kêu nó đứng lại, quả nhiên thằng nhỏ giựt mình (đúng là có tật giựt mình!).
Nó ú ớ hỏi,
– Mấy ông gọi tui làm chi?
– Thì kêu mày có chút việc.
– Tui bận chăn trâu, không rảnh để nói chuyện với mấy ông.
Nói xong nó định bỏ đi, Một người lính giơ tay cản nó lại,
– Ê, mày tính giỡn mặt hả, nhảy xuống nói chuyện với tao coi!
– Mấy ông tính ăn hiếp con nít hả. Tui la làng à nhen! Thằng nhỏ tỏ ra bướng bỉnh.
– Thì mày la đi, rồi giờ mày có xuống không!
Người lính tiến lại định kéo nó xuống khỏi lưng trâu thì thằng nhỏ vừa la vừa vung roi quất cho trâu chạy. Con trâu hung hăng xông bừa vào những người muốn cản đường nó, buộc những người lính phải nổ súng bắn hạ. Khi con trâu gục xuống, hất thằng nhỏ văng xuống đất. Mấy người lính đã đến lôi nó dậy, kiểm soát thấy nó không có thương tích gì nhưng nó vẫn giả đò bất tỉnh,
– Ê, không ngồi lên đàng hoàng tao tạt nước à nhen.
Nó vẫn giả đò không trả lời. Một sĩ quan đến và nói, “đưa nó về BCH Tiểu Đoàn”. 3 người lính khác bèn nắm 2 tay 2 chân nó khênh đi, lần này thì nó vùng vẫy đòi đứng dậy rồi lý sự,
– Bộ tôi là con heo sao mấy người khiêng dzậy, bắt đền con trâu cho tui!
Những người lính đặt nó xuống đất bắt nó phải đi theo đến gặp BCH TĐ, nó bù lu bù loa nhất định không chịu đi. Vị sĩ quan đến giải thích cho nó hiểu,
– Em cứ đi theo mấy người này lên gặp mấy ông ở trển rồi họ giải quyết. Ở đây không ai có tiền đền cho em cái gì hết.
Nhưng nó nhất định không nghe, cứ một hai đòi về nhà và đòi bồi thường con trâu, nó viện lý do là đi chăn trâu thuê, chết trâu về chủ đánh. Vị sĩ quan vẫn hhỏ nhẹ với nó,
– Em cứ đi theo mấy anh này lên đó trình bày. Em còn nhỏ tuổi người ta sẽ cho em về. Còn chuyện bồi thường thì để bên xã, bên quận người ta giải quyết chứ ở đây là lính đi hành quân không có ai mang tiền theo để giải quyết chuyện gì.
Dù nói vậy nhưng thằng bé vẫn lì lợm không chịu nhúc nhích, cuối cùng vị sĩ quan phải ra lệnh,
– Trói nó lại, lôi cổ nó đi.
Biết rằng cái màn ăn vạ không có hiệu lực với mấy ông lính đầu đội nón sắt quần áo rằn ri lựu đạn đeo đầy người, thằng bé giả vờ gượng đứng dậy. Vị sĩ quan đến gần nó và dặn bảo nó,
– Em nghe đây, bây giờ những người này đưa em đi gặp cấp chỉ huy của anh. Em phải ngoan ngoãn đi với họ, chống cự hoặc bỏ chạy là họ bắn gãy giò như con trâu nằm kia kìa, đến đó họ hỏi gì phải trả lời đàng hoàng còn như hỗn hào hoặc không chịu khai báo thì không yên với họ đâu. Em nhớ chưa, thôi đi đi.
BCH Tiểu Đoàn lúc đó không có Sĩ Quan Trưởng Ban 2, mọi công việc ngoài hành quân đều do SQ Trưởng Ban 3 là Đ/úy Phan Hồ Hải đảm trách. Tuy từng là 1 ĐĐ trưởng nhiều kinh nghiệm nhưng Đ/úy Hải lại là con người hiền lành, ít nói lúc nào cũng vui vẻ, và rất có lòng thương người vì thế khi nhận được tên tù binh nhí ông tỏ vẻ áy náy không biết phải giải quyết thế nào.
Rất may theo TĐ hành quân có một Thường Vụ TĐ. Đây là một HSQ kỳ cựu nhất của TĐ từ những ngày đơn vị còn đồn trú tại Đà Nẵng. Ông đi từ lính lên tới Thượng Sĩ nên rất có uy với lính. Ngoài chức vụ Thường Vụ của Tiểu Đoàn, ông còn đảm nhiệm luôn chức Trung Đội Trưởng Vũ Khí Nặng và trông coi luôn đám Lao Công Chiến Trường được bổ xung cho Tiểu Đoàn. Thượng Sĩ Hóa có khuôn mặt khá dữ nhất là khi ông quát nạt. Vì vậy, khi tên nhóc chăn trâu được đưa tới gặp ông nó không dám lộn xộn nữa. Dù không phải đánh đập, tra tấn hay hăm dọa nó cũng tự động khai hết. Nó chính là một giao liên có nhiệm vụ bám sát Tiểu Đoàn để dò tìm thực lực như quân số, vũ khí, tên đơn vị… rồi sau đó báo cáo cho một người ở xã An Dũng cách đây khoảng 3 km. Những tin tức quý giá được chuyển về cho Liên Đoàn qua Công Điện Khẩn để tìm cách tóm gọn nhóm Quân Báo VC còn tên VC nhí phải để lại với TĐ vì buổi chiều không có trực thăng vào vùng.
Sáng hôm sau một trực thăng được phái tới để đưa tên VC nhóc đi. Chi Khu An Lão cũng muốn được khai thác tên nhóc này nhưng Liên Đoàn không đồng ý và sẽ giao lại cho Sư Đoàn 22 BB sau khi biết những tin tức cần thiết. Buổi chiều thì nhóm quân báo VC ở An Dũng cũng được đưa về, gồm đủ 1 tổ 3 người, nhóm này trước đó đã bị chính quyền địa phương nghi ngờ nên khi thám báo Chi Khu đến đã bắt chúng trước khi kịp trốn. Ngay lập tức TĐ11 BĐQ chúng tôi được lệnh điều động qua khu vực xã An Dũng và những khu vực lân cận như xã An Hòa, An Nghĩa.
Để thanh lọc thêm, cuộc hành quân được phối hợp Cảnh Sát và có cả những chú Quân Khuyển chuyên về tìm kiếm. Chúng tuy to lớn nhưng lại rất hiền lành, mỗi con do 1 binh sĩ dẫn dắt. Bộ mặt hiền hòa an lành của làng quê giờ đây không còn nữa, dưới cái mũi của những chú quân khuyển cả một hệ thống giao thông hào dần dần lộ diện với chiều dài lên đến cả 5, 600m nối từ nhà nọ qua nhà kia. Những con chó nhà nghề xác định dưới những địa đạo đó còn có người ở. Dù chúng không biết nói nhưng qua cách diễn tả bằng cách khịt mũi hoặc cào móng bằng 2 chân trước người lính chỉ huy đã hiểu chúng muốn diễn tả điều gì. Đây là vấn đề hết sức nan giải, làm cách nào có thể bắt được những người ở dưới để đưa lên khai thác! Hệ thống giao thông hào chằng chịt và bọn VC chắc chắn sẽ tấn công một khi chúng ta xuống đó.
Một lần nữa, quân khuyển đã tìm thấy gần 50 lỗ thông hơi và những cửa hầm. Thẩy lựu đạn xuống các cửa hầm và cho người canh giữ, bên dưới vẫn êm re. Mặc dù lựu đạn dù gây sát thương rất lớn nhưng bọn VC không ngu dại gì, chúng có những ngách hầm để tránh sức công phá. Hay dùng lựu đạn cay? Nhưng chúng tôi lại không kịp trang bị mặt nạ phòng hơi độ. Hơn nữa kế hoạch là bắt sống, lựu đạn cay có thể sẽ khiến “bọn chuột nhắt” đó chết hết. Sau cùng tôi đề nghị dùng khói màu! Khói màu là một công cụ để đánh dấu vị trí, đám truyền tin chúng tôi có khá nhiều, nó không độc nhưng mùi diêm sinh cũng chẳng dễ chịu chút nào. Nếu ai bị ngộp mà hít thêm khói vào chắc chắn sẽ rất khó thở. Chúng tôi dùng bao cát chặn những lỗ thông hơi lại, sau khi đổ thêm nước lên những bao cát để tạo thêm độ kín, rồi thẩy xuống 1 trái khói màu, chừng 5 phút sau thẩy thêm trái nữa rồi ngồi chờ! Kết quả không tồi, sau chừng nửa giờ chúng tôi bắt đầu nghe những tiếng ho, rồi những tiếng hắt hơi liên tục,
Thiếu Tá Ngô Văn Mai, TĐ Trưởng TĐ 11, cười ha hả,
– Ê Họa Mi, kết quả rồi đó. Công nhận hay thiệt, ai dạy ông trò chơi này dzậy?
– Tôi ném cả trăm trái rồi. Ngoài chỗ trống còn chịu không nổi mùi khói thì dưới hầm làm sao chịu cho thấu, trâu bò bỏ vô đó còn chết nữa nói chi con người!
Rồi từ một miệng hầm chúng tôi nghe tiếng một người lính la lên,
– Quẳng súng ra trước, người ra sau!Trñc thng v­n
Một người đàn ông chừng 30 tuổi cởi trần, mặc một chiếc xà lỏn chui ra từ miệng hầm sau khi đã thẩy ra một cây AK 47 bá xếp. Hắn ốm nhom người nhễ nhãi mồ hôi, lốm đốm từng mảng xanh đỏ như ngụy trang, rõ ràng đây là chứng tích của khói màu. Hắn bước đi ngắc ngư như người say rượu, dáng mệt mỏi rã rượi xen lẫn sợ hãi.
Hạ Sĩ Cảnh, cận vệ của Th/tá Mai nắm cổ hắn hỏi,
– Còn mấy thằng dưới đó?
– Dạ, 9 người.
– Có cấp chỉ huy nào không?
– Dạ, có.
– Được rồi, lát nữa mày nhận diện nghe chưa?
– Dạ.
Cách đó chừng 50m lại một nhóm chui ra, người cũng lọ lem như chui từ ống khói ra. Tên nào tên nấy cũng lờ đờ như cá lên cạn, bạc nhược như lũ xì ke. Nhìn bọn cán binh CS tôi tự hỏi “Lũ hung thần của Miền Nam đây sao?” Những tên tù binh này ốm đói khác hẳn những bọn cán binh chúng tôi bắt được trên cao nguyên. Bọn đó ít ra còn có một bộ đồ trên người, còn bọn này thì không. Hầu hết chúng mặc quần xà lỏn cởi trần, có một tên trong bọn mặc bộ bà ba nâu bạc, tôi chỉ và hỏi tên tù binh bắt được lúc đầu,
– Phải thằng này là xếp bọn bay không?
Hắn gật đầu xác nhận. Tổng cộng chúng tôi gom được 47 tên chứ không phải chỉ 9 tên như hắn khai, hỏi lại thì hắn nói “tổ của hắn có 9 tên.” Tôi biết nó nói dối nhưng chúng tôi cũng không muốn truy vấn thêm. Trong số này có một con bé mặt búng ra sữa chừng 15, 16 tuổi cũng mặc bộ bà ba đen bạc phếch vừa đi vừa quẹt nước mắt, thỉnh thoảng lại gập người xuống ọe. Tôi nghĩ thầm “chắc con nhỏ đang có bầu” và nói với Thiếu Tá Mai. Ông quay lại hỏi Thiếu Úy Hà Ngọc Anh, Sĩ Quan Trợ Y Tiểu Đoàn,
– Phải con nhỏ có bầu không, Sáu mướp?
– Chắc vậy rồi Vô Kỵ, mắt dân nhà bảo sanh làm sao lầm được!
Thực ra tôi có bà cô mở nhà bảo sanh ở ngoài thị xã Pleiku, thỉnh thoảng xuống phố có ghé thăm bả, còn ngoài ra chẳng dính dấp gì tới vụ thai nghén, sanh đẻ, nhưng bạn bè trong đơn vị cứ gán cái từ “dân nhà bảo sanh” cho vui. Thiếu Tá Mai ra lệnh đưa con nhỏ lại, tôi đánh đòn tâm lý,
– Hình như con nhỏ này đang có bầu, thôi cho nó về đi!
Có lẽ cô ta nghe được, tôi thấy mắt nó sáng lên, mặt mũi tươi hơn bớt vẻ sầu khổ sợ hãi. Thiếu Tá Mai hỏi nó,
– Phải cô đang có bầu không?
Cô ta lí nhí,
– Dạ.
-Theo bộ đội bao lâu rồi?
– Dạ mấy tháng,
– Làm gì?
– Giao liên và hộ lý.
– Nghĩa là sao?
– Dạ liên lạc chuyển giao tin tức và cứu thương.
– Có làm gì khác nữa không?
Nó im lặng một chặp rồi lắc đầu.
– Chồng có ở đây không?
Nó gật đầu ngó vô đám tù binh ngồi ngoài sân phía xa rồi lại lắc.
– Đâu, thằng nào chỉ coi rồi cho tụi bay về luôn.
– Dạ, không biết là ai! Nó ngập ngừng một chặp rồi lắc đầu.
– Sao dzậy?
– Dạ, có mấy người cháu đâu biết là ai. Tối nào cũng có người ngủ với cháu làm sao cháu biết.
– Sao lạ dzậy?
– Họ nói cháu ủng hộ, con đẻ ra mai mốt bộ đội nuôi.
– Tất cả bao nhiêu người về đây? Còn ai nữa không? Súng ống đâu hết rồi?
– Dạ, tất cả 47 người đều ở đây cả. Súng ống cháu không biết nhưng hình như bỏ dưới ao.
Chúng tôi nghĩ cô ta nói thật, bởi từ lúc bị thẩm vấn cô ta không hề được quay ra tiếp xúc với đám tù binh nam, riêng chuyện vũ khí có thể cô ta không biết luôn bởi lẽ nhiệm vụ cô ta xét ra không có gì đặc biệt để có thể biết.
Đây là một Đại Đội Địa Phương mới “tập kết” đến khu vực này để chuẩn bị “ăn thua” với đám Mũ Nâu chúng tôi thì bị lộ! Thiếu Tá Mai ra lệnh cho xuống các ao mò vớt vũ khí. Quả nhiên thâu được một số vũ khí cộng đồng, trong đó có một cây cối 82 ly và khá nhiều đạn dược, tất cả được gói kỹ trong các lớp giấy dầu ngoài trét đầy mỡ bò rồi bọc thêm một lớp bao nylon dầy. Quay ra ngoài hỏi đám tù binh,
– Còn ai dưới hầm nữa không? Nếu không chúng tôi thẩy hơi độc xuống chết hết ráng chịu.
Đám cán binh VC lắc đầu, chúng tôi gọi người mặc bộ bà ba nâu bạc vô thẩm vấn,
– Anh tên gì? Bao nhiêu tuổi? Chức vụ gì ở đây?
Ông ta không trả lời. Hạ sĩ Cảnh thộp cổ định đánh, tôi cản lại,
– Cứ kệ hắn, lát nữa trong công điện gởi đi, tôi sẽ lưu ý thằng này.
Chúng tôi đang nói chuyện thì máy báo cho biết Liên Đoàn sẽ đưa trực thăng đến để di chuyển tù binh và chiến lợi phẩm về căn cứ. Vài phóng viên của Sư Đoàn cũng đi theo để phỏng vấn Tiểu Đoàn. Lát sau, quả nhiên 2 chiếc trực thăng tới, một chiếc đáp xuống chở theo 5 tù binh và 2 người lính áp tải. Chiếc còn lại cover trên bầu trời, khi chiếc này lên thì chiếc kia đáp xuống mang thêm 5 tù binh và 2 người lính áp tải nữa rồi cùng bay đi. Sau 5 chuyến thì số tù binh được chuyển đi hết. Đám phóng viên chiến trường xuống để chụp hình đám tù binh và chiến lợi phẩm. Họ chú ý nhiều đến những con quân khuyển hơn những chiến binh chúng tôi, bởi họ chụp hình chúng rất nhiều. Ngay cả đối với BCH Tiểu Đoàn, họ cũng chỉ chụp vài tấm cho có lệ, hỏi han vài ba câu rồi theo chuyến trực thăng chót ra về.
Hơn một tháng sau, vào khoảng đầu Tháng Chín năm 1972, căn cứ của Liên Đoàn bị bọn đặc công VC tiến đánh. Đó là một đêm cuối tháng âm lịch trời tối đen bọn đặc công cũng chỉ với một cái quần xà lỏn, người bôi lọ đen thui, đứa ôm bangalore, đứa ôm AK 47. Chúng đang tìm cách cắt rào kẽm gai để chui vào thì trái sáng bật cháy. Chúng vội dẩy mấy cây bangalore để phá rào nhưng bị pháo binh đã chuẩn bị từ trước nã đạn M546 trực xạ. Sau đó đèn pha trong căn cứ bật sáng rọi thẳng vào chúng. Những tên còn sống sót vội vã quăng súng giơ tay đầu hàng, trong khi loa phóng thanh trong căn cứ hướng dẫn chúng để tay lên đầu rồi đi ra phía trước. Một đại đội của Tiểu Đoàn 11 đã chờ sẵn. Từng tên giơ tay chịu trói. Tất cả được 22 tên. Suốt đêm đèn pha trong căn cứ quét khắp chung quanh để rà soát. Nhưng sau đợt tấn công bất thành, địch không có thêm một hành động nào khác.
Mờ sáng, Tiểu Đoàn đã bung quân lục soát khu hàng rào bị tấn công, 31 xác chết bị những mũi tên của đạn 105mm M546 găm đầy người. Nhưng chắc là chúng chẳng cần nhiều đến như vậy, bởi chỉ một mũi cắm vào đầu cũng đủ, những mũi tên như những cây đinh 3cm có 4 cánh phía sau, trông thật hiền lành vậy mà khi được phóng đi từ trái đạn và nổ tung ra chúng lại trở thành công cụ giết người kinh khủng như vậy. 31 xác VC giờ này trông hiền lành vô tội, những cái xác của những con người mà chỉ mấy giờ đồng hồ trước đó còn đang nung nấu một lòng căm thù không gốc gác, không căn cứ, không xác định đối tượng, đã hăng say và liều mạng tấn công vào thành đồng vách sắt đang giương vuốt chờ sẵn. 31 cái xác giờ đây được lao công chiến trường của Tiểu Đoàn kéo ra ngoài phía Tây QL 1, theo lệnh Liên Đoàn Trưởng, sắp hàng ngay ngắn bên lề đường cộng thêm gần 30 cây súng đủ loại từ B40, B41 tới AK47 như trưng bày chiến lợi phẩm. Đám phóng viên chiến trường cũng đang trên đường tới đây để đưa tin, đưa ảnh, đưa cả những lời bình luận, mô tả theo ngòi bút của một cây bút nào đó mà chẳng cần có mặt tại chiến trường.
Dân chúng qua lại chỉ trỏ, có thể họ biết những thây ma đó là ai nhưng nếu hỏi họ sẽ chối phăng là không biết. Chẳng ai dại gì nhận quen biết với giặc – không phải đầu cũng phải tai! Lỡ chính quyền gọi lên, gọi xuống tra hỏi có phải là phiền hà không? Cái may của người dân ở Bồng Sơn, Tam Quan này là họ được xem như người bàng quang, chứ không phải như những nạn nhân là đồng bào của họ cũng trên Quốc Lộ 1 này nhưng cách họ mấy trăm cây số về phía Bắc. Những đồng bào đó chỉ mấy tháng trước đây, khi chạy trốn lũ giặc mất tính người, đã bị CS tàn sát thây phơi đầy Quốc Lộ, đến độ được đặt tên là Đại Lộ Kinh Hoàng. Không hiểu bọn giặc có ngạc nhiên để tự hỏi vì sao đồng bào lại sợ hãi trốn chạy chúng như vậy? Chúng chiến đấu cho ai, và vì cái gì? Những xác người nằm đó giờ đã không thể trả lời được nữa rồi.
Những người “đồng chí” của chúng đang ngồi bó gối trong sân của căn cứ Liên Đoàn chờ chuyển giao nghĩ sao? Họ có hối tiếc tuổi thanh xuân đã bị ai đó lừa gạt để phục vụ cho một ý đồ riêng, còn chính họ chẳng được hưởng gì ngoài đói khát, khổ cực và sự khinh bỉ, sợ hãi của đồng bào! Những tù binh kia nghĩ gì có trời mới biết. Nhưng qua những khuôn mặt đờ đẫn kia chắc trong đầu họ chẳng có được sự suy nghĩ gì, bởi nếu biết suy nghĩ chắc họ đã không bị phỉnh gạt như vậy. Tôi chỉ thấy họ ngồi xổm, mặt nhìn xuống đất, cũng có thể trong cái đầu của họ là một cục đất thay vì là một khối óc.
Everett, Tháng Sáu 2012
(Viết để nhớ lại những đồng đội đã cùng chiến đấu trong đơn vị, chẳng hiểu ai còn ai mất bởi những chia lìa sau cuộc chiến)
Tư Kiên

Sunday, August 16, 2020


Chiến thắng Đồng Xoài: Đập tan chiến lược “chiến tranh đặc biệt“

(PLO) - Bước vào năm 1965, trước nguy cơ thất bại của “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ quyết định đưa quân vào tham chiến ở miền Nam, đồng thời tăng cường viện trợ quân sự cho quân đội Sài Gòn, hy vọng tạo thế chiến lược mới, giành lại quyền chủ động trên chiến trường.

Chiến thắng Đồng Xoài: Đập tan chiến lược “chiến tranh đặc biệt“
Cán bộ Bộ Tư lệnh chiến dịch Đồng Xoài vượt sông vào vị trí tập kết chiến dịch. Ảnh tư liệu
Về phía ta, sau thắng lợi chiến dịch Bình Giã, tốc độ xây dựng lực lượng chủ lực được đẩy nhanh. Tại Nam bộ, trong 2 tháng đầu năm 1965, ta đã xây dựng thêm được hai trung đoàn; các đơn vị được trang bị thêm vũ khí, góp phần nâng cao đáng kể sức mạnh chiến đấu cho bộ đội cả vật chất và tinh thần. 
Những bài học kinh nghiệm tác chiến rút ra từ chiến dịch Bình Giã nhanh chóng được phổ biến và đưa vào huấn luyện cho bộ đội, kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển mới của chiến trường.
Phải đánh tiêu diệt lớn
Căn cứ vào nhiệm vụ chiến lược do Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đề ra là tiếp tục đẩy mạnh tiến công quân sự kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị, nhanh chóng thực hiện những đòn đánh tiêu diệt lớn hơn, đẩy nhanh sự suy sụp, tan rã của quân đội Sài Gòn, kiên quyết đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ, Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền quyết định mở đợt hoạt động Xuân - Hè 1965 nhằm đánh quỵ quân đội Sài Gòn trước khi Mỹ tăng quân vào miền Nam. 
Trung ương Cục quyết định thành lập Bộ Tư lệnh (BTL) chiến dịch gồm Tư lệnh kiêm Chính ủy Lê Trọng Tấn (giai đoạn cuối bổ sung đồng chí Trần Độ làm Chính ủy), Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Hoàng Cầm, Phó Tư lệnh Nguyễn Minh Châu, Phó Chính ủy Lê Văn Tưởng. 
Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 3 trung đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn đặc công và một số đơn vị pháo binh, công binh của chủ lực Miền; 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn bộ binh của Khu 6 cùng lực lượng vũ trang địa phương. 
Địa bàn chiến dịch trải rộng gần 1.000km2, gồm các tỉnh: Phước Long, Bình Long, Lâm Đồng, Bình Tuy, Long Khánh, Biên Hoà, Bà Rịa. Lực lượng địch ở khu vực Đồng Xoài và Bình Long, Phước Long có 9 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn biệt động quân, 1 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn và 7 đại đội bảo an, 21 đại đội biệt kích, 1 chi đoàn thiết giáp; ngoài ra còn có cố vấn Mỹ trực tiếp chỉ đạo thực hiện chương trình bình định nông thôn tại đây.
BTL chiến dịch xác định phương châm chỉ đạo, cách đánh chiến dịch là kết hợp chặt chẽ tiến công quân sự với tiến công chính trị và binh vận, tích cực tiêu diệt địch, phát động nhân dân nổi dậy phá ấp chiến lược, phát triển chiến tranh nhân dân, mở rộng và củng cố vùng giải phóng; thực hiện đánh điểm diệt viện… 
Để thực hiện quyết tâm chọn điểm khơi ngòi chính xác, Đảng ủy và BTL chiến dịch quyết định tiến công Phước Bình, đồng thời tiến hành đột nhập và trụ lại thị xã Phước Long để nhử viện và tổ chức trận địa phục kích tiêu diệt địch trên đường số 2, đoạn Phước Bình - Phước Long.
Bị lộ, vẫn quyết tâm đánh
Khi ta đang gấp rút chuẩn bị cho trận đánh mở màn vào Phước Bình và thị xã Phước Long thì kế hoạch bị lộ, địch tăng cường phòng thủ và đưa lực lượng trong thị xã ra ngoài, phục kích nhằm ngăn chặn ta tiến công. Mặc dù vậy, sau khi nắm lại tình hình, Tư lệnh chiến dịch vẫn quyết tâm thực hiện theo kế hoạch, triển khai lực lượng và tiến hành nổ súng đúng thời gian đã định. 
Đêm 10 rạng 11/5, Tiểu đoàn Bộ binh 1 Trung đoàn 271 phối hợp với Tiểu đoàn 840 Quân khu 6 và 2 trung đội đặc công nổ súng tiến công thị xã Phước Long; sau 3 giờ chiến đấu chiếm được khu truyền tin và phần lớn khu cảnh sát, phá hủy kho xăng, trận địa pháo và chi đội thiết giáp, đánh thiệt hại nặng khu trung tâm huấn luyện quân, đồn biệt động, đồn bảo an, khu cư xá Mỹ và dinh tỉnh trưởng. 
Cùng thời gian, Tiểu đoàn Bộ binh 1 Trung đoàn 272 có hỏa lực chi viện tiến đánh chi khu Phước Bình, sau 25 phút chiến đấu làm chủ chi khu.
Sau khi hoàn thành thắng lợi trận then chốt thứ nhất, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 271 và Tiểu đoàn 840 tổ chức chốt giữ các mục tiêu đã chiếm ở thị xã Phước Long để nhử viện, sáng 11/5 đánh lui 6 đợt phản kích, bắn rơi 13 máy bay, bắn cháy 1 xe bọc thép, diệt 2 đại đội thuộc Tiểu đoàn Biệt động 36 của địch đến ứng cứu. 
Trưa và chiều ngày 11/5, địch tiếp tục đưa quân đến phối hợp với lực lượng tại chỗ phản kích. Các đơn vị đánh trả quyết liệt, nhưng do đạn cạn dần và thương vong tăng lên, tối 11/5, bộ đội được lệnh rút khỏi thị xã. 
Từ 12/5, địch huy động 4 tiểu đoàn đến giải tỏa. Do nắm địch không chắc, công tác chuẩn bị thiếu chu đáo, khả năng tổ chức chỉ huy và hiệp đồng chiến đấu chưa tốt, ta đã bỏ lỡ thời cơ đánh trận then chốt thứ hai. Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định phân tán lực lượng xuống nam Phước Long và Phước Bình, đánh địch từ Đồng Xoài lên, trong đó bố trí Trung đoàn 271 đứng chân phía đông đường 2 chờ đánh quân đổ bộ đường không; Trung đoàn 272 phía tây Đồng Xoài đón đánh địch từ hướng đường 13 vào; Trung đoàn 273 phía tây đường 2 đánh mục tiêu Bù Đốp.
Ngày 21/5, địch đưa quân xuống Đồng Xoài, nhưng không đổ quân xuống phía đông đường như ta dự kiến nên Trung đoàn 271 không đánh được. Tiếp đó ngày 22/5, địch tiếp tục đưa quân từ Đồng Xoài lên; các trung đoàn 271 và 273 của ta cơ động chặn đánh, nhưng chỉ đánh được vào cuối đội hình địch, không hoàn thành nhiệm vụ được giao. 
Trên hướng phối hợp, Trung đoàn 4 của Khu 6 tiến hành trận phục kích trên đường 20, diệt 2 đại đội bảo an, phá hủy 20 xe quân sự; các đơn vị phá sập 12 cầu lớn nhỏ trên các trục đường 20, 13 và 14, buộc địch phải điều 3 tiểu đoàn thường xuyên túc trực để giải tỏa giao thông. 

Chiến dịch đã loại khỏi vòng chiến gần 4.500 quân địch,
bắn rơi 34 máy bay
Vào trận then chốt
Quân ủy Miền và BTL chiến dịch nhận định, khu vực chủ yếu mà địch cố giữ là Chơn Thành, Đồng Xoài, thị xã Phước Long, Bình Long, Bù Đốp, trong đó Đồng Xoài là mắt xích quan trọng và là một trong những cứ điểm mạnh trong tuyến phòng thủ Sông Bé bảo vệ hướng bắc Sài Gòn nên quyết định chuyển hướng tiến công xuống khu vực Đồng Xoài và xác định trận tiêu diệt chi khu Đồng Xoài là trận then chốt của đợt 2 chiến dịch.
Chấp hành mệnh lệnh của BTL chiến dịch, Trung đoàn 272 được tăng cường Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 273, có pháo binh yểm trợ thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt chi khu Đồng Xoài. 22 giờ 45 phút ngày 9/6, trong lúc các đơn vị đang bí mật triển khai chiếm lĩnh trận địa, lực lượng làm nhiệm vụ mở cửa tưởng bị lộ do địch bất ngờ báo động, đã cho bộ đội nổ súng, khiến trận đánh diễn ra sớm hơn dự kiến. 
Không còn yếu tố bất ngờ, địch đã chuẩn bị và chống cự quyết liệt, nhưng với quyết tâm và sự phối hợp chiến đấu hiệu quả giữa các hướng, mũi tiến công, đột phá thọc sâu, đến 4 giờ sáng 10/6, ta đã làm chủ hoàn toàn chi khu, diệt, bắt và gọi hàng phần lớn quân địch; sau đó các đơn vị được lệnh nhanh chóng rời khỏi trận địa để chuẩn bị đánh viện. 
Cùng thời gian, bộ đội công binh phối hợp đánh sập cầu Sông Bé, hạn chế khả năng cơ động đường bộ buộc địch phải tổ chức ứng cứu bằng đổ bộ đường không theo kế hoạch chuẩn bị của ta.
Sáng 10/6, địch dùng máy bay trực thăng đổ Tiểu đoàn Bộ binh 1 Trung đoàn 7 Sư đoàn 5 xuống đồn điền Thuận Lợi ứng cứu cho Đồng Xoài, bị Trung đoàn 271 bao vây tiêu diệt phần lớn. 15 giờ cùng ngày, địch tiếp tục đưa Tiểu đoàn Biệt động quân 52 đến phản kích, bị diệt gọn 1 đại đội, số còn lại rút chạy vào rừng và co cụm chờ tăng viện. 
Sáng 11/6, địch tăng cường Tiểu đoàn Dù 7 và Tiểu đoàn Biệt động quân 46 cùng 1 đại đội pháo 105mm tiếp ứng cho Đồng Xoài. Ngày 12/6, khi Tiểu đoàn Dù 7 tiến vào khu vực đồn điền Thuận Lợi để thu thập tàn binh và nhặt xác đồng bọn, bị Trung đoàn 271 vận động phục kích tiêu diệt gần hết. Đây là tiểu đoàn dù đầu tiên thuộc lực lượng cơ động chiến lược và là thần tượng về sức mạnh của quân đội Sài Gòn bị tiêu diệt khiến cho quân địch đóng ở Củ Chi, Cây Trắc... dọc quốc lộ 1 hoang mang rút chạy.
Thắng lợi lớn
Với kết quả đánh thắng ba trận có ý nghĩa quan trọng, hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu đề ra, trong đó thực hiện thành công cả ba yêu cầu về tiêu diệt địch trong công sự vững chắc, nhử viện và diệt viện, ngày 20/6, BTL chiến dịch quyết định kết thúc đợt 2 để chuẩn bị chuyển sang đợt 3, với hướng tiến công phát triển đánh địch ở Bù Đốp và trên đường 13.
Thực hiện ý định tác chiến của BTL chiến dịch, các trung đoàn 271 và 273 cơ động lên phía bắc chuẩn bị đánh địch ở Bù Đốp; Trung đoàn 272 chuyển xuống phía nam đánh địch trên đường 13 và giúp địa phương đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị, phá ấp chiến lược, mở mảng mở vùng, mở rộng vùng giải phóng. 
Trên hướng đường 13, đêm 15/7 Trung đoàn 272 tổ chức tập kích 1 chiến đoàn hỗn hợp, gồm 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 chi đoàn thiết giáp thuộc Trung đoàn Bộ binh 7 Sư đoàn 5 quân đội Sài Gòn từ Bến Cát lên, tạm dừng ở Bàu Bàng, loại khỏi vòng chiến 400 địch. Tiếp đó ngày 20/7, trên hướng Bù Đốp, Trung đoàn 273 tiến công trại huấn luyện biệt kích và chi khu Bù Đốp, diệt 2 đại đội, buộc địch phải rút bỏ Bù Gia Mập.
Sau hơn 2 tháng (10/5-22/7/1965) tiến công, chiến dịch kết thúc thắng lợi. Ta đã tiêu diệt 4 tiểu đoàn chủ lực, 24 đại đội bảo an và biệt kích, 6 chi đội cơ giới, 4 phân đội kĩ thuật, loại khỏi chiến đấu gần 4.500 quân địch, bắn rơi 34 máy bay, phá hủy 60 xe quân sự, 6 đầu máy và 12 toa xe lửa, thu và phá hủy hơn 2.000 súng các loại, giải phóng hơn 5 vạn dân hai tỉnh Bình Long và Phước Long, góp phần khai thông cửa khẩu biên giới sang Campuchia, nối liền hành lang chiến lược từ miền Bắc qua đường Trường Sơn vào miền Đông Nam bộ.
Cùng với các chiến dịch Bình Giã, Ba Gia, thắng lợi của chiến dịch Đồng Xoài góp phần làm thất bại hoàn toàn chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam; đánh dấu bước trưởng thành mới về trình độ tổ chức chuẩn bị và tác chiến tập trung cũng như trình độ tổ chức và điều hành chiến dịch của cán bộ, chỉ huy, khả năng hiệp đồng trong tác chiến vận động của các lực lượng vũ trang. Lực lượng chủ lực Miền qua thực tiễn chiến đấu đã trưởng thành nhanh chóng và có bước phát triển vững chắc trong vận dụng và phát triển nghệ thuật chiến dịch Việt Nam...
TS Nguyễn Thành Hữu
Khác nhau giửa chiến tranh VN và Mã Lai (lúc đó gọi là Malaya , nay gọi là Malaysia)
Chiến tranh tại Mã Lai và VN đã được nhiều lần so sánh và đã được các sử gia đặt câu hỏi làm thế nào một lực lượng lính Anh chỉ có 35.000 ng lại thành công trong khi hơn 1/2 triệu lính Mỹ lại thất bại trên một khu vực nhỏ hơn . Hai cuộc chiến khác nhau ở các điểm sau .
1/ Trong khi MNLA (quân đội dân tộc giải phóng Mã lai) chỉ có hơn 8.000 du kích , quân CS Bắc Việt có hơn 250.000 ng , cộng thêm khoảng 100.000 du kích Việt cộng .
Sự hổ trợ của LX và CHND Trung Hoa đã cung cấp một lượng lớn vũ khí mới nhứt , yểm trợ hậu cần , người và huấn luyện cho Bắc VN . Bắc VN , cùng chung biên giới với đồng minh TC , cho phép sự giúp đỡ và tái tiếp tế liên tục .
Lực lượng MNLA bị cô lập và ko có sự giúp đỡ từ bên ngoài (external supporter) .
LL này đã bị cô lập về chính trị với phần lớn người dân . Như đã nói ở trên , đây là một phong trào chính trị hầu như chỉ có Hoa kiều tham gia ; sự hỗ trợ từ người Mã Lai (ML) theo Hồi giáo và các bộ lạc nhỏ hơn thì rải rác . Người ML ủng hộ người Anh vì được hứa sẽ độc lập trong một nhà nước ML ; một chiến thắng của MNLA sẽ bao hàm (imply) một nhà nước khống chế bởi Hoa kiều , và có thể là một nhà nước bù nhìn của Bắc kinh hay Moscow .
Nước Anh chưa bao giờ xem cuộc chiến chống Mã cộng là chiến tranh qui ước và nhanh chóng thực thi một kế hoạch hửu hiệu gồm : 1/ Tình báo (lãnh đạo bởi ngành CS Đặc Biệt của ML để chống lại nhánh chánh trị của phong trào du kích này) và 2/ "Dân vận và chiêu hồi" (hearts and minds) .
Nhiều người ML đã chiến đấu cùng người Anh chống lại Nhật trong TC 2 , gồm Chin Peng , lãnh đạo MNLA . Tương phản với Đông Dương khi các viên chức Pháp ko chiến đấu chống Nhật , điều này đã kích động người VN theo chủ nghĩa dân tộc chống lại Pháp . Yếu tố về lòng tin này giữa dân địa phương và đế quốc Anh đã giúp Anh có thuận lợi hơn Pháp và sau này , Mỹ tại VN , đã ko có sự tin tưởng như vậy từ người VN ?
Về mặt thuần túy QS , lính Anh nhìn nhận rằng trong một chiến tranh cường độ thấp (low-intensity war) , kỹ năng và chịu đựng của cá nhân người lính thì quan trọng hơn là hỏa lực áp đảo (pháo binh , máy bay , v.v...) . Dù cho nhiều lính Anh là lính quân dịch (conscripted) , kỹ năng và thái độ (attitude) cần thiết lại được dạy thêm ở trường chiến tranh rừng núi , (nơi đây) cũng đã áp dụng những chiến thuật tối ưu dựa trên kinh nghiệm chiến trường.
Tại VN , người và vũ khí được chuyển qua nước thứ 3 như Lào và Cambodia trong khi quân Mỹ không được phép vào hai nước này . Điều này cho phép lính CSVN có chổ núp an toàn đối với mọi tấn công của Mỹ . Phe MNLA chỉ có biên giới Thái nơi mà họ đã trú ẩn tới lúc gần kết cuộc chiến .
Dịch từ Wikipedia . Ảnh minh họa từ NAT GEO tháng 11 1963 .



GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA CHIẾN TRANH VN VÀ CHIẾN TRANH MÃ LAI. =================== Lời nói đầu: Gần đây anh Tám đọc hồi ký của ông Trần Ngọc Nhuận, trong đó tác giả kể lại: "Trong đầu TN 1950, dân miền Bắc, kể cả dân Hà Nội đã có thành kiến hay ác cảm với lính Pháp hay ai đi lính cho Pháp vì những hành động của lính Pháp khi đi hành quân như bắt gà vịt, đốt nhà, hãm hiếp phụ nữ, giết hại dân thường, v.v..." Thực tế cho thấy lính Pháp đã ko thể nào phân biệt dân lành và kẻ thù VM vì ranh giới giữa 2 thành phần này ko rõ rệt. Trong khi đó, họ lại hành quân dài ngày, trời thì nóng bức, dễ bị bắn sẻ hay đạp phải mìn bẫy gây chết chóc, khiến lính Pháp dễ nổi nóng hay nổi điên, nên có những hành động mất lòng dân như vậy. Đầu thập niên 1950 đã bắt đầu có những đại đội hay tiểu đoàn toàn lính VN (như TĐ 520 Khinh quân VN trong trận phục kích ở đèo Mang Yang năm 1954), hay hổn hợp (mixte) nghĩa là vừa lính Pháp vừa lính VN hay các sắc tộc khác như Miên, Nùng, v.v... - được chỉ huy bởi SQ và HSQ Pháp và sau này thay thế bởi SQ và HSQ Việt. Nay tôi gửi đến anh Tám bài viết về "Những giống nhau và khác nhau giữa chiến tranh VN và chiến tranh tại Mã Lai", tên chính thức lúc đó là Malaya, bây giờ là Malaysia. Đọc bài này bạn sẽ thấy lính Anh và lực lượng chính phủ Mã Lai lắm lúc cũng hành xử như lính Pháp và cách quản lý dân của chánh phủ và lính Anh đôi khi còn TÀN BẠO HƠN qua việc trừng phạt tập thể cả làng khi trong làng chứa du kích hay cảm tình viên với Mã Cộng bằng cách giới nghiêm 24/24, cắt giảm 40/100 của khẩu phần gạo, v.v... I/ Những giống nhau giữa cuộc chiến VN và chiến tranh chống Mã Cộng tại Mã Lai
Ngoài việc ném bom và rải thuốc khai quang, còn có 2 điểm tương tự.
1/ Chương trình tái định cư Nước Anh lập chương trình (CT) "tái định cư" đã cung cấp một khuôn mẫu cho quốc sách Ấp Chiến Lược, thời TT Diệm tại VN. Trong cuộc chiến Mã Lai lần ĐẦU từ 1948-1960 (cuộc chiến lần HAI, sau đó 17 năm, từ 1976-1989, ko được đề cập trong bài này). Người Anh lúc đó đã lập 450 khu tái định cư và gom vào đó khoảng 470.509 người - trong đó có 400 ngàn người Hoa (trong tổng số 3.12 triệu người Hoa tại Malaya lúc đó). Một biện pháp chiến tranh của Anh là TRỪNG PHẠT TẬP THỂ đối với những làng mà người dân được chính phủ (CP) cho rằng (deem) giúp đỡ phe nổi dậy. (Chú thích: Điều này ko có tại VN. Lính Úc, do có kinh nghiệm chống du kích ở Mã Lai (vì trong khối Liên hiệp Anh), khi đóng quân ở tỉnh Phước Tuy đã làm chủ tình hình 100/100. Thời đó tỉnh này là an ninh nhứt trong các tỉnh ở VN. Họ đánh theo lối du kích, ví dụ: Cả đại đội tiến quân vào một làng, sau đó rút lui nhưng ém lại một tiểu đội. Lính CS tưởng rút hết, lò mò trở về thì bị phục kích. Theo báo Úc, có lần họ đã cột một xác lính CS vào sau xe tăng M-113 để cảnh cáo dân làng "nếu ai theo VC sẽ có số phận như vậy").

Ở làng Tanjong Malim tháng 3/1952, Trung Tướng Templer, Tư lịnh quân Anh ở Malaya thời đó, áp đặt (impose) giới nghiêm 24/24. Quân Anh còn cấm dân rời khỏi làng, đóng cửa trường, ngừng dịch vụ xe bus và giảm khẩu phần gạo cho 20 ngàn người. Biện pháp giảm phần gạo đã khiến Trường Vệ Sinh và Bịnh Nhiệt Đới ở London viết thư tới VP Thuộc Địa và nhận xét rằng "biện pháp này sẽ dẫn đến những người dân Mã Lai thiếu ăn kinh niên" ko thể sống sót. "Việc làm này ko những chỉ làm gia tăng bịnh tật nhưng cả chết chóc, đặc biệt các bà mẹ và trẻ thơ". Một số người bị phạt vì rời nhà để đi cầu ở nhà cầu sau vườn (external latrine). Một trừng phạt tập thể khác - tại TP Sengei Pelek vào tháng kế - gồm giới nghiêm, khẩu phần gạo bị cắt 40/100 và dựng hàng rào (chain-link) cao 22 yard (20,1 m) bên ngoài hàng rào kẽm gai (barbed wire) cũ quanh TP này. Các viên chức giải thích rằng họ phải làm như vậy đối với 4.000 dân làng vì "sự tiếp tục tiếp tế lương thực" cho phe nổi dậy và "vì dân ko cung cấp thông tin cho nhà cầm quyền".

2/ Tìm và diệt
Cũng như lính Mỹ tại VN, lính Anh cũng thường đốt những làng mà người dân bị kết tội hỗ trợ (support) cho phe nổi dậy, bắt giữ hàng ngàn người tình nghi là cộng tác với nổi dậy, hầu ko còn chỗ cho phe nổi dậy ẩn náo. Nếu khám phá người dân nào giúp đỡ phe nổi dậy thì lính Anh sẽ giữ và điều tra họ bằng cách tra tấn và đe dọa dùng vũ lực chống các thành viên trong gia đình, hầu khám phá nơi đóng quân của nổi dậy. Phe nổi dậy có nhiều thuận lợi hơn lính Anh: họ sống gần ng dân, đôi khi có thân nhân hay bạn thân trong làng, và họ ko ngại dùng bạo động hay tra tấn hay giết các trưởng làng để làm gương cho kẻ khác, buộc ng dân phải giúp họ lương thực và thông tin. Vì vậy lính Anh có đe dọa kép (dual-threat): phe nổi dậy và mạng lưới thầm lặng trong làng, hỗ trợ phe nổi dậy. Trong khi phe nổi dậy hiếm khi đụng độ với lính Anh, họ lại dùng chiến thuật khủng bố để làm dân sợ và phải giúp đỡ vật chất cho họ. Lính Anh thường mô tả sự kinh hãi (terror) khi đi hành quân trong rừng; ngoài việc để ý/canh chừng quân nổi dậy, họ phải di chuyển trên địa thế khó khăn và tránh thú dữ và côn trùng (vắt, muỗi) nguy hiểm. Nhiều toán phải ở trong rừng nhiều ngày, ngay cả nhiều tuần, ko đụng địch và kế đó, trong khoảnh khắc ngắn ngủi lại lọt ổ phục kích. Lính Anh, ko thể phân biệt bạn thù, phải điều chỉnh với nguy cơ thường xuyên bị phe nổi dậy tấn công. Những tình huống này dẫn đến sự kiện ô nhục (infamous incident) tại Batang Kali khi 24 dân làng ko võ trang bị giết bởi lính Anh.
Hình 1: những người tình nghi là du kích hay hợp tác với du kích đang bị tra hỏi và sau đó có thể bị bắn bởi cảnh sát và quân đội Anh; người phụ nữ ngồi bên phải có lẽ là Tàu. Các hình còn lại: cuộc chiến chống Mã Cộng .





========================

II/ Khác nhau giữa chiến tranh VN và Mã Lai (lúc đó gọi là nước Malaya, nay gọi là nước Malaysia)
Chiến tranh tại Mã Lai và VN đã được nhiều lần so sánh và đã được các sử gia đặt câu hỏi làm thế nào lực lượng Liên Hiệp Anh, trong đó có lính Úc, chỉ có 40.000 ng lại thành công trong khi hơn nửa triệu lính Mỹ lại thất bại trên một khu vực nhỏ hơn. Nói thêm: Ngoài 40 ngàn lính thuộc các nước trong Liên Hiệp Anh, còn có 250 ngàn lính Bảo an Mã Lai (Malayan Home Guard), 37 ngàn CS đặc biệt (Special Constable) và 24 ngàn CS liên bang.
Lực lượng liên hiệp Anh gồm: Anh, Liên bang Malaya, Singapore, Nam Rhodesia (do tới 1953), Rhodesia và Nyasaland (sau 1953), đảo Fiji, Úc, Tân Tây Lan. Hỗ trợ bởi Thái ở biên giới Thái-Mã. Lực lượng Mã Cộng gồm: ĐCS Malaya và quân đội dân tộc giải phóng Malaya.

Thương vong (casualities and losses)
1.346 lính và CS Malaya chết, 519 lính Anh chết.
Bị thương: 2.406 lính và CS Anh hay Malaya.
Phe Mã Cộng: 6.710 chết, 1.289 bị thương, 1.287 bị bắt và 2.702 đầu hàng.
Số dân chết: 5.000 ng.

Hai cuộc chiến này khác nhau ở các điểm sau .
1/ Trong khi MNLA (quân đội dân tộc giải phóng Mã Lai) chỉ có hơn 8.000 du kích , quân CS Bắc Việt có hơn 250.000 ng, cộng thêm khoảng 100.000 du kích Việt cộng.
Sự hỗ trợ của Liên Xô và TC đã cung cấp một lượng lớn vũ khí mới nhứt, yểm trợ hậu cần, nhân lực và huấn luyện cho Bắc VN. Bắc VN, cùng chung biên giới với đồng minh TC, cho phép sự giúp đỡ và tái tiếp tế liên tục .
Trong khi lực lượng MNLA bị cô lập và ko có sự giúp đỡ từ bên ngoài (external supporter) - vì ko có biên giới với TC, như VN.
Lực lượng (LL) này đã bị cô lập về chính trị với phần lớn người dân. Như đã nói ở trên, đây là một phong trào chính trị hầu như chỉ có Hoa kiều tham gia; sự hỗ trợ từ người Mã Lai theo Hồi giáo và các bộ lạc nhỏ hơn thì rất ít. Người Mã Lai ủng hộ người Anh vì được hứa sẽ độc lập trong một nhà nước Mã Lai; một chiến thắng của MNLA sẽ bao hàm (imply) một nhà nước khống chế bởi Hoa kiều, và có thể là một nhà nước bù nhìn của Bắc kinh hay Moscow.
Nước Anh chưa bao giờ xem cuộc chiến chống Mã cộng là chiến tranh qui ước và nhanh chóng thực thi một kế hoạch hữu hiệu gồm : 1/ Tình báo (lãnh đạo bởi ngành CS Đặc Biệt của Mã Lai để chống lại nhánh chánh trị của phong trào du kích này) và 2/ "Dân vận và chiêu hồi" (hearts and minds) .
Nhiều người Mã Lai đã cùng người Anh chiến đấu chống lại Nhật trong Thế chiến 2, gồm cả Chin Peng, lãnh đạo của MNLA. Tương phản với Đông Dương khi các viên chức Pháp ko chiến đấu chống Nhật, điều này đã kích động người VN theo chủ nghĩa dân tộc chống lại Pháp. Yếu tố về lòng tin (factor of trust) này giữa dân địa phương và đế quốc Anh đã giúp Anh có thuận lợi hơn Pháp và sau này, Mỹ tại VN, do hai nước này đã ko có sự tin tưởng như vậy từ người VN.
Về mặt thuần túy QS, lính Anh nhìn nhận rằng trong một chiến tranh cường độ thấp (low-intensity war), kỹ năng và chịu đựng của cá nhân người lính thì quan trọng hơn là hỏa lực áp đảo (pháo binh, máy bay, v.v...). Dù cho nhiều lính Anh là lính quân dịch (conscripted) , kỹ năng và thái độ (attitude) cần thiết lại được dạy thêm ở trường chiến tranh rừng núi, (nơi đây) cũng đã áp dụng những chiến thuật tối ưu dựa trên kinh nghiệm chiến trường.
Tại VN, người và vũ khí của VC được chuyển qua nước thứ 3 như Lào và Cambodia trong khi quân Mỹ không được phép vào hai nước này. Điều này cho phép lính CSVN có chổ núp an toàn đối với mọi tấn công của Mỹ. Phe MNLA chỉ có biên giới Thái nơi mà họ đã trú ẩn tới lúc gần kết cuộc chiến .


Tài liệu để viết bài này lấy từ: Bài Malayan Emergency
https://en.wikipedia.org/wiki/Malayan_Emergency
Một số ảnh minh họa lấy từ NAT GEO tháng 11 1963 .