Tuesday, July 14, 2020

GỬI BÁC BỘ TRƯỞNG BỘ GD
Cháu tên Linh. Dĩ nhiên bác không cần nhớ tên cháu làm gì. Cũng như đã lâu rồi cháu chẳng còn quan tâm ai là Bộ trưởng Bộ GD vậy. Nhưng nói chung, làm người đâu nhất thiết phải nhớ tên nhau. Chỉ cần chúng ta có một câu chuyện chung để nói. Thế là đủ rồi bác nhỉ.
Chuyện kể là, hôm qua, cháu ngồi ở thư viện trường Shree Sarbodaya quận Syanja - Nepal. Cháu dành cả một ngày đọc sách giáo khoa English để hiểu cách dạy English của người Nepal. Dĩ nhiên, người Nepal dạy English không tốt đâu. Vì họ không có tiền để mua tivi, băng đĩa, không có phương tiện cho học sinh nghe người bản xứ nói chuyện, thậm chí đến cả cuốn từ điển giấy họ còn túng thiếu bác ạ( túng thiếu đến cỡ nào cháu sẽ có 1 bài viết để kể sau). Nhưng so với Việt Nam thì English của họ giỏi hơn nhiều. Dĩ nhiên, Nepal đúng là một nước nghèo, nghèo xếp hạng top nghèo nhất thế giới ấy. Nhưng cần so sánh với trình độ GD của 1 nước nghèo để thấy rằng trình độ của nước mình ở đâu. Và giờ, có mấy điều cháu muốn trao đổi với bác như sau:
1. Cháu đọc SGK English của học sinh Nepal từ lớp 1 đến lớp 5.
Bài học đầu tiên của học sinh lớp 1 Nepal là chuyện chào hỏi. Bài học đầu tiên của học sinh lớp 2 nói chuyện đi đến trường. Bài học đầu tiên của học sinh lớp 3 kể lại nhật ký một ngày của cô bé Lilu. Bài học đầu tiên của học sinh lớp 4 dạy bạn phải biết Be careful với câu chuyện cậu bé Raj vừa đi vừa chơi game mà không để ý thấy cây cầu bị gãy.
Bài học đầu tiên của học sinh lớp 5 hỏi, "What do you want?" và kể chuyện người cha già có đứa con bị ở tù. Ổng ra vườn trồng khoai tây và ước giá mà có đứa con trai ở đây để đào lỗ cho ổng trồng. Thế là ổng viết thư cho con trai. Mỗi bài học thể hiện độ khó khác nhau bác ạ. Thậm chí ngoài English, họ còn có 2 môn học khác là Văn hoá xã hội và Khoa học - Sức khoẻ cũng hoàn toàn được viết bằng English và nằm trong môn học chính của học sinh.
Cháu lập tức nhắn về Việt Nam, nhờ đứa bạn thân chạy ra hiệu sách, chụp cho cháu xem SGK English từ 1-5 dạy cái gì. Bác biết gì không?
Bài học đầu tiên của SGK 1 dạy Hello. Bài học của sách SGK 2 là dạy câu "where are you from". Bài học của SGK 3 dạy lại Hello. Bài học đầu tiên của SGK 4 dạy câu "How re you". Bài học đầu tiên của SGK 5 dạy lại câu "where re you from".
Cháu hoảng hồn bác ạ. Cháu không biết vì bác nghi ngờ trình độ của học sinh VN quá kém nên có mỗi 3 câu "hello, how re you, where re you from" mà bác bắt chúng phải học đi học lại suốt 5 năm học như thế hay không?
Hay là tại những người soạn sách không biết gì hơn để mà soạn?
Hay tại chúng ta quan niệm, 5 năm, học được 3 câu đó là đã quá nhiều rồi?
Bác biết không, học sinh ở độ tuổi càng nhỏ thì khả năng tiếp cận ngôn ngữ càng tốt. Vì lúc đó bộ nhớ của chúng chưa sử dụng để ghi nhớ những điều phức tạp, những chuyện kiếm tiền, yêu đương. Nên cháu buồn khi thấy chúng ta bắt các em học quá nhiều thứ về toán lý hoá nhưng lại lo sợ trí nhớ của các em không đủ để học English. Buồn cười nhỉ.
2. Để dạy học sinh Nepal hiểu English, nhớ English, người Nepal bắt đầu bài học bằng những câu chuyện. Chuyện kể cô bé Deepa làm việc này việc kia. Chuyện kể gia đình cu cậu Ramesh thế này thế nọ. Cô giáo sau khi dạy học sinh về câu chuyện sẽ hỏi lại học sinh câu chuyện đó kể gì, cô bé Deepa làm gì, cậu Ramesh bị gì. Học sinh trả lời và ghi nhớ.
Để dạy học sinh Việt Nam hiểu English, các nhà soạn sách VN soạn ra những đoạn hội thoại chẳng có ý nghĩa gì và bắt học sinh học lại đoạn hội thoại đó để ứng dụng như một con vẹt. Theo bác, việc ghi nhớ nội dung câu chuyện dễ hơn hay khó hơn ghi nhớ một đoạn hội thoại dễ hơn?
3. Người Nepal soạn sách giáo khoa để dạy người Nepal. Thế nên những câu chuyện họ viết, những đề tài họ dạy liên quan đến đời sống, văn hoá hàng ngày của họ.
Họ nói về đỉnh Everest, nói về thủ đô Kathmandu, nói về những cậu bé, cô bé với những cái tên rất Nepal như Gauri, Sunda... Đó là cách họ khiến học sinh hứng thú với môn English vì nó gần gũi, dễ hiểu. Đó cũng là cách họ từ hào về đất nước họ.
Chúng ta - trong đó có bác - luôn nói tự hào về Việt Nam. Nhưng có bao giờ bác nhìn SGK English của người Việt để xem sách viết gì không?
Sách viết câu chuyện của Tom, của Peter, của Marry...những cái tên không phải của người Việt. Sách kể chuyện My hometown nhưng cái Hometown ấy là London.
Sách kể về món bánh nhưng không phải là bánh chưng, bánh giày bánh mì thịt nướng mà là bánh Pizza.
Thế nên cháu muốn hỏi là, có phải vì chúng ta không đủ kinh phí để soạn một cuốn sách dạy English nhưng nội dung xoay quanh đời sống Việt không? Hay là những nhà soạn sách họ không nghĩ ra cái gì hay ho hơn nên phải dùng những câu chuyện của nước khác. Để đến khi người nước ngoài họ hỏi cái món bánh nổi tiếng nhất ở nước mày là món gì thì học sinh bảo là pizza vì chúng không biết từ bánh mì thịt nướng trong English nói thế nào.
Nếu mà vì chúng ta nghèo quá, không có kinh phí, chỉ cần bác nói thôi, cháu sẽ huy động được một đội ngũ soạn được cuốn sách dạy English cho người Việt mà không cần lấy một đồng nào.
Còn nếu vì những người soạn sách họ không nghĩ ra cái gì hay ho hơn để viết, thì cũng chỉ cần bác nói thôi, cháu sẽ chỉ họ cách viết. Thí dụ như thay vì viết bài giảng "quê mày ở đâu hả Tom? Quê tao ở Mỹ, Peter ạ" thì cháu sẽ chỉ họ chuyển thành thế này "Quê mày ở đâu hả Tí? Quê tao ở Mỹ Tho Tèo ạ, là cái xứ ngày xưa bọn Mỹ đánh hoài mà không chiếm được ấy."
Cháu tin bọn học sinh sẽ hứng thú với câu chuyện của thằng Tí, thằng Tèo hơn câu chuyện của Tom và Peter ạ. Vì chúng cháu đã từng là những thằng Tí, thằng Tèo như thế.
5. Đã rất lâu rồi, chúng ta, hoặc vì lười biếng, hoặc vì bảo thủ, hoặc vì không muốn tiếp cận cái mới nên luôn tự ru ngủ nhau rằng, "là người Việt, chúng ta phải tự hào về văn hoá Việt, nên chúng ta cần học tiếng Việt chứ không phải English". Đó chắc là lý do mà kỳ thi tốt nghiệp THPT năm vừa rồi English trở thành môn tự chọn và không có trong môn thi.
Nhưng cháu thì muốn đổi lại một chút thế này, "là người Việt, chúng ta cần tự hào về văn hoá Việt, nên chúng ta cần học English để nói cho thế giới biết về văn hoá của chúng ta đẹp như thế nào". Người Nepal đưa English thành ngôn ngữ chính, vì họ muốn kể câu chuyện văn hoá của đất nước họ cho thế giới biết. Nên cũng đã đến lúc chúng ta cần học theo như họ rồi bác ạ.
Nó giống như câu chuyện anh nông dân xây được cái nhà đẹp ấy. Nếu anh tự hào về ngôi nhà anh đẹp, thì anh phải tìm cách đi qua làng bên, nói cho người làng bên biết cái nhà anh đẹp thế nào để họ còn biết mà đến thăm. Nhưng chúng ta đã làm gì? Chúng ta đã bảo anh nông dân ấy nằm ở nhà, chổng mặt lên ngắm trần nhà và tự khen nhà mình đẹp thôi là đủ. Trong khi thế giới ngoài kia, có biết bao ngôi nhà đẹp hơn đang được xây nên mỗi ngày, bác ạ..."
Từ một chuyện không hề nhỏ. Chia sẻ để mọi người cùng suy ngẫm!
Nguồn: Linh Thy My Vo
Dựa theo Numerology , tôi phân tích tên của tiệm nail Tippy Toes .
1/ T I P P Y
Thay thế t = 4 , i = 1 , p = 8 , y = 1 .
Tippy = 4 + 1 + 8 + 8 + 1 = 22 , số này ko thể thu nhỏ .
2/ TOES
Thay thế t = 4 , 0 = 7 , e = 5 , s = 3 , Toes = 4 + 7 + 5 + 3 = 19 = 1 + 9 = 1
Tổng cộng : 22 + 1 = 3 .
Tiệm của chị được số 23 chiếu mạng . Số này may mắn .
Số 23 – Ngôi Sao Huy Hoàng của Sư Tử
( The Royal Star of the Lion )
Đây là số may mắn do hưởng phước đã tạo từ kiếp trước ( karmic reward number) (1) . Số 23 ban cho (bestows), không những chỉ là một hứa hẹn sẽ thành công trong nhửng nỗ lực ( endeavors ) thuộc về cá nhân và nghề nghiệp , mà còn bảo đảm có sự giúp đở từ cấp trên ( help from superiors) và sự che chở/bảo vệ từ những người có địa vị cao ( protection from those in high places) . Đây là một số rất may mắn , và số này ban phát ( blesses ) dồi dào hồng ân (abundant grace) cho người hoặc thực thể ( entity) tượng trưng bởi số này . Số này , cũng nên được xem xét với những số khác ( như ngày sanh hay tên ) để có một sự phân tách toàn diện dựa theo Lý thuyết Số ( full numerological analysis ) , điều này có thể đưa đến một kết quả không hoàn toàn may mắn . Nhưng trong những giai đoạn khó khăn , những số khác không có nhiều cơ hội tạo ra (bring about) sự rắc rối nghiêm trọng (serious trouble ) khi có sự hiện diện của Ngôi Sao Huy Hoàng này của Sư Tử . Không số nào có thể thách thức với sức mạnh (strength) của Sư Tử và thắng được nó . / .
( Dịch từ trang 259 của quyển Linda Goodman’s Star Signs ) .)
Chú thích : (1) tỉnh từ Karmic xuất phát từ danh từ Karma , tiếng Phạn ( Sanskrit) có nghĩa là hành động /số mệnh / nghiệp . Ấn độ giáo và Phật giáo tin rằng nghiệp là những hành động/việc làm của con người trong những kiếp trước , và (nghiệp này) sẽ quyết định số mạng của con người đó trong nhửng kiếp sống sau này .
3/ Số nhà 1331 = 1 + 3 + 3 + 1 = 8 , số xấu .
NHẬN XÉT : tuy số nhà rất xấu nhưng rất may cho chị vì tên tiệm rất tốt nên (tên tiệm) đã hóa giải cái xấu của số nhà .
San Jose ngày July 14 2016

Monday, July 13, 2020

“25 Đây! Yên Chí Đi…”

Hồ Công Bình

Từ trái: Thiếu Tá Thiệt, Đại Úy Nam, Trung Tá Phúc, Thiếu Tá Sành tại chiến trường Campuchia.

Giữa cái nóng oi bức khởi đầu những ngày hè của miền Nam California, vùng đất thủ đô của người Việt tỵ nạn, thỉnh thoảng có được vài cơn gió nhẹ tạt qua nhờ đó dịu bớt phần nào căng thẳng trong người.

Qua khung cửa sổ nhìn ra ngoài, nơi chân trời phía Bắc hiện xa xa, không xa lắm trong tầm mắt, dãy núi đồi vươn lên khỏi đám rừng xanh xanh tạo nên một rào chắn thiên nhiên đậm nét vững chãi. Nó bắt đầu từ phía Tây Thái Bình Dương trải dài khuất tầm mắt về hướng Đông hình thành một thung lũng phồn thịnh với tên gọi San Gabriel Valley.

Nơi đây, biết bao thành phố được tạo dựng lên cùng với xa lộ thông thương then chốt đi qua. Phía Bắc nổi bật nhất có Xa Lộ 5, qua Tiểu bang Oregon và Washington, tới tận biên giới Canada; Xa Lộ 215 đến một nơi mà ai ai cũng một lần phải tới -Thiên Đường cờ bạc Las Vegas. Xa Lộ 210 chạy từ Tây sang Đông, cặp theo phía Nam dãy núi vào các khu du lịch, vào cao nguyên Big Bear để tận hưỡng cái giá lạnh của mùa Đông cùng nhiều trò chơi thể thao mùa lạnh với tuyết… phủ trắng xóa cả rừng núi đồi thông.

Rừng núi… núi và rừng với những trụ cột antenna liên lạc sừng sững như mũi lao đâm vào khoảng không trong xanh trên nền trời đất nước người, mà sao hình tượng này giống y như vị trí đóng quân mà các đơn vị BĐQ trấn giữ nằm trên mảnh đất quê hương Miền Nam Việt Nam trước đây.

Hình ảnh ngày tháng cũ hiện lên như sóng biển tiến vào bờ, từng đợt từng đợt tiếp nhau xen lẫn tiếng âm vang lao xao lúc tĩnh lặng, khi như gió bão, gầm thét trộn lẫn hình bóng đồng đội bên bờ giao thông hào, trong những công sự chiến đấu, hay từng nhóm nhỏ với những ống “charge” pháo binh đầy nước trên vai từ con suối nhỏ dưới chân núi oang oang vui vẻ chửi thề với nhau, lần bước lên nơi đóng quân. Trong khi đó, nơi vọng gác người lính đang phóng tầm mắt về hướng trước mặt. Anh đang theo dõi địch tình hay thả hồn về phương trời thân thương nào đó… Ai biết được?

Giờ này, tôi ngồi và nhớ lại cảm giác lo ngay ngáy làm sao ấy vào ngày ra trình diện đơn vị mới gì… gì đó, rồi tập tành chỉ huy trung đội, tập tành điều binh đánh giặc. Rồi ngày ấy cũng qua… do biết thân biết phận, biết nơi phải tới, và nhất là biết chỗ để “làm việc”. Không thể chọn nơi nào khác vì cái bằng TRUNG ĐỘI TRƯỞNG đã dính vào người thò lò trước ngực mà lị. Gần Ông Đại xa Ông Tiểu chắc ổn. Nửa năm đi qua, được trui rèn nơi đơn vị, trước trận tiền lắng nghe những lời bỏ nhỏ thật nhẹ nhàng mà thật ra lại quá nặng kí vì đó là máu và nước mắt với chuỗi kinh nghiệm sống của những ông Tr/sĩ, Th/sĩ già lão luyện ĐĐ3 “nước trà” của TĐ38 BĐQ.

Nhờ vậy, cũng như chắc một phần cũng do số mạng chưa tới lúc ngủm nên trong chiến dịch Tổng Công Kích của VC vào năm Mậu Thân, tôi đã “ngã xuống” vào bịnh viện chứ không nằm thẳng cẳng luôn.

Đời lính không là giấc mơ hạnh phúc êm đềm, đoạn đường đang đi và phải tiếp tục đi là hố thẳm ghềnh sâu trong cả hai nghĩa.

Hầu như đa số mọi người đều vướng vào đoạn đường này, hoặc là Tự Thắng Chỉ Huy để vượt qua hay lẩn quẩn rồi bi quan yếm thế, buông thả để rồi… hỏng cả một đời.

Sau TCK đợt I của Cộng Sản, tôi đưọc thuyên chuyển về TĐ30 BĐQ. Tôi nhớ lại lần đầu đời lính trận với 6 bạn cùng K24 TĐ, dàn hàng ngang trong tư thế nghiêm, trình diện vị TĐT/TĐ38 BĐQ, Đ/U Nguyễn Văn Bằng, K10 VB. Một thoáng nhìn Ông chờ lịnh, chúng tôi chẳng nhận được lời khuyên bảo nào thêm, rồi chờ ĐĐT cho người đón về. Từ đó… tôi chả có cơ hội nào trở về BCH/ TĐ38. Nếu có ai đó nói về Ông, tôi chắc gì có sự hiểu biết kha khá để thêm vào.

Bây giờ, mình ên trình diện Ông TĐT/TĐ30 BĐQ, người mà trên 6 tháng qua được nghe, khi anh em SQ cả Liên Đoàn 5 [TĐ30, 33, 38] đề cập bình phẩm về các TĐT của LĐ. Đ/U Phan Văn Sành, K17VB, là vị được nhiều SQ đề cập tới nhất, do khả năng lãnh đạo và đạo đức. Dù đã có chút chút thời gian lính chiến, với một sao đỏ [Chiến Thương Bội Tinh], một bạc được cài trên ngực áo, trong tôi dường như ẩn dấu chút ngang ngang bất cần. Có phải ngoài chiến trận, rồi nằm trên giường bệnh TYV/CH ảnh hưởng nhiều đến người Lính. Nó báo trước cho Họ biết rằng cuộc đời của họ không làm sao hết gian khổ nhọc nhằn. Đích đến của Họ là cuối của một trong hai con đường. Cũng chính nơi đây quyết định cuộc đời của Họ – Ngàn thu vĩnh biệt hay lây lất ngoài đời trên đôi nạng hay chiếc xe lăn…? Không… không có chọn lựa nào khác khi đất nước đang bị CS xâm lăng -Làm sao khác hơn là chấp nhận! Và khi đã chấp nhận thì phải làm quen với cuộc sống trùng trùng hiểm nguy dai dẳng đeo đuổi.

Ông dong dỏng cao ngang 1m80, không có một sợi tóc nào dài qua mang tai, ngắn gọn bâng, làm khuôn mặt nổi hẳn lên, toát ra vẻ cương nghị uy nghi. Qua đôi mắt cùng vầng tráng rộng, mũi cao thẳng với bộ quần áo hoa rừng màu hơi sáng ôm lấy thân người đều đặn, gom ống trong thùng, cùng với điếu thuốc Salem trắng cắn chặt nơi góc miệng cố hữu [nét đặc biệt không bỏ được của Ông], Ông thật đúng là mẫu người nhà binh trên các tấm poster mời gọi tham gia vào quân ngũ của các Trường Võ Bị, Thủ Đức, Đồng Đế, Không Quân và Hải Quân.

Gần mấp mé một năm tuổi lính, thế mà tôi tự nhiên như thấy có gì đó ngài ngại trước mặt Ông, dù đã mạnh dạn xướng cấp bậc, tên họ, số quân. Chắc hẳn Ông đã xem hồ sơ lý lịch của tôi trước đó rồi:

- “Về ĐĐ3 với Tr/U Đinh Trọng Cường [K19]. Cố gắng làm việc cho đàng hoàng nghe. Tôi sẽ theo dõi cậu đó… Luôn nhớ phải đàng hoàng.” Quả thật, một cấp chỉ huy muốn hướng dẫn tư cách đàng hoàng cho thuộc cấp thì chính mình phải làm sao thể hiện, như vậy sự kính nể ngưỡng phục luôn được giữ mãi trong tâm thuộc cấp.

Thời gian qua đi, chiến trận ngày càng lan rộng, từ du kích chiến, địch mỡ rộng địa bàn xâm nhập, tăng cường tấn công trên khắp các Quân Khu. Tôi được gặp gỡ Ông thường hơn trên trận địa qua hệ thống vô tuyến PRC25 với danh xưng 25.

- “25 đây! Ra sao rồi? Yên chí đi…”

Không một lời quát tháo, chửi tục, đe dọa ra lịnh thi hành cho bằng được, Ông luôn nghĩ đến SQ thuộc quyền mình đang gặp phải tình hình quá bất lợi, khó khăn, để rồi tìm cách cứu nguy những đứa con bằng khả năng của riêng mình. Điển hình như, TĐ38 BĐQ và ĐĐ5 TS đang bị Sư Đoàn 5 VC vây chặt rồi chia cắt trong đồn điền cao su CHUP thuộc tỉnh KAMPONG CHAM, KAMPUCHIA. Đã mấy ngày qua, lương thực, đạn dược của đơn vị cạn dần, đến nỗi binh sỹ phải đái ra uống vào.

Tình thế lúc đó bi đát và nguy khốn vô cùng. Tr/tá Ngô Minh Hồng TĐT38 BĐQ, và Đ/U Nguyễn Văn Nam, ĐĐT/TS 5, đã lâm vào thế tuyệt vọng. May thay, Đ/U Nam chợt nghĩ đến Ông TĐT30 BĐQ, mà đơn vị của Ông lúc đó đang cùng Chi Đoàn 2/15 KB tảo thanh VC Tây Bắc đồn điền CHUP, phía nam DAMBE.

- “25, đây Hoàng Sa! 25, đây Hoàng Sa! 25, đây Hoàng Sa!…” [Hoàng Sa là danh hiệu Đ/U Nam].

Ngạc nhiên khi nghe tiếng kêu gọi khẩn thiết trên máy của Đ/U Nam, cố gắng thố lộ tình cảnh hiện tại, Ông trả lời:

- “Hoàng Sa, đây 25! Yên chí cố gắng kềm giữ, tao sẽ vào cứu ngay.”

Không ngập ngừng hay chần chờ, Ông xin lịnh thẳng Đại Tá Trần Quang Khôi, Tư Lịnh Mặt Trận, vòng xuống Đông Nam vào rừng cao su CHUP giải vây cấp kỳ cho TĐ38 BĐQ và ĐĐ TS5. (Nói rõ ra, dù sao trước đó, Đ/U Nam cũng là một ĐĐT xuất sắc trong TĐ30 của Ông.)

TĐ30 BĐQ và CĐ2/15 KB đến phía Bắc CHUP sau khi các M113 xả hết tốc lực tới gần mặt trận. Tiểu Đoàn âm thầm xuống xe ngoài bờ ruộng để hạ chiến theo cách đánh của BĐQ. Giao tranh đẫm máu xảy ra ngay khi đơn vị đến bìa rừng cao su.

Những người lính ôm chặt từng gốc cao su tấn công mãnh liệt vào vòng vây địch quân, gìm chúng xuống đất. TĐ38 và ĐĐ TS5, nhân cơ hội làm gọng kềm thứ hai, đánh áp sát vào. Áp lực địch nhẹ hẳn, rồi co cụm về hướng tây của sông Mekong. Sung sướng bắt tay nhau, ôm lấy nhau trong nước mắt, nức nở nghẹn ngào không thành tiếng. Còn nỗi vui nào hơn nỗi vui này! Diễn tả sao cho trọn vẹn cảm xúc của toàn thể SQ, HSQ, và BS lúc ấy! Chi Đoàn ráng “cõng” đơn vị bộ binh về phía bắc CHUP, tập trung phòng thủ lại. Riêng TĐ30 BĐQ và CĐ2/15KB tiếp tục nhiệm vụ dở dang.

Là TĐT, thế mà khi phân chia lực lượng TĐ để hành quân nhị thức với KBTG, Ông không nghĩ đến bản thân mình, tự mình cùng BCH nặng dẫn 2 ĐĐ tiến chiếm MT quan trọng và để TĐP dẫn 2ĐĐ đi với một Chi Đoàn thiết kỵ… Hành động đó đã làm cho mọi cấp chỉ huy Kỵ Binh xốn xang nể phục.

Tôi đã có dịp viết thoáng qua về Ông qua bài TĐ30 BĐQ trên chiến trường Kampuchia nhiều năm trước. Nhưng khi BĐQ 52, Đ/U Đoàn Trọng Hiếu, chuyển lại bài viết cho tôi cùng Email của KD, con gái của Ông, với những cảm nghĩ về người cha quá cố, những kỷ niệm xưa của tôi về Ông lại đầy ắp tràn về.

Ông anh dũng hy sinh năm 1971 trên chiến trường ngoại biên sau trận giải vây tại CHUP chưa tới một tháng sau đó, bỏ lại người vợ yếu đuối chưa sẵn sàng bương trải với đời, và 5 cô con gái [ngũ long công chúa] còn quá nhỏ chưa nhận thức được sự mất mát to lớn mình phải gánh chịu. Rồi Miền Nam VN rơi vào tay Cộng Sản, những hình ảnh về người cha đã mất cũng mờ mịt như cuộc đời của những đứa con bé nhỏ.

Qua những gì mẹ rỉ tai và cũng nhờ vào thế kỷ của thông tin toàn cầu, lúc này họ mới biết ít nhiều về người cha thân yêu của mình. Muốn tìm hiểu thêm về thân phụ, họ mong cùng toàn gia đình qua xứ Chùa Tháp một phen, thăm lại chiến trường xưa nơi cha mình cùng đồng đội đã anh dũng hy sinh; để vào Chùa Ông Sanh, nơi cha mình tử trận. [Từ nơi đây theo hương lộ 73 vào DAMBE khoảng 03km] Một trận phục kính hồn của VC đã xảy ra tại đây nhiều năm về trước. Th/ Tá Nguyễn văn Ron Chi Đoàn Trưởng, người chỉ huy Chi Đoàn 2/15 KB đã tham dự cuộc giải vây CHUP cùng với Th/T Phan Văn Sành, TĐT/TĐ 30BĐQ, làm cho ta và địch chịu rất nhiều tổn thất trong trận phản phục kích này.

Nhưng Ông đã hy sinh cùng một số đồng đội KB và một nửa ĐĐ1/ TĐ30 BĐQ. Những quân nhân cùng đơn vị BĐQ và đơn vị KB đã lấy tên Ông đặt cho ngôi Chùa, nằm ngay ngay tại ngã ba Hương lộ 73. [Thực ra Ông ngã xuống hướng Nam chùa ngót 1km.] Gia đình của Ông đã có sơ đồ chi tiết, ghi rõ từng địa danh và lộ trình.

Tiếp theo đó là email của chị Sành nói về những điềm gở xảy đến cho Ông, như dấu hiệu báo trước chuyến đi về miên viễn trùng lặp với các điểm xấu đối với Ông ở đơn vị. Là thuộc cấp, lăn lộn theo Ông trên 3 năm dài chinh chiến lại thêm 2 sao đỏ [Chiến Thương Bội Tinh], qua từng địa danh và mật khu VC khắp Quân Khu 3, rồi chiến trường ngoại biên, tôi thấy Ông đã thể hiện đầy đủ tài năng, lòng nhân ái, đạo đức của một cấp chỉ huy, như Ông đã dặn dò thuộc cấp khi vào “cuộc chơi” gian nan. Cái hay nơi Ông là cách sử dụng người. Bất kỳ ai, không cần biết nơi xuất thân, đào tạo, nếu người đó có khả năng lãnh đạo, gan dạ quyết đoán, đạt được thắng lợi với tổn thất nhân mạng ít nhất, Ông mới coi đó là cấp chỉ huy giỏi. Ông đã tiến cử, thực hiện cho bằng được dù người đó lon nhỏ nắm chức vụ cao hơn thời điểm ấn định, bằng cách cho Quyền và cắt cu [Q] sau khi đã mang thêm một lon nữa. Đức Hòa, Đức Huệ, Hậu Nghĩa đi qua tới Hố Bò, Bời Lời, Tam Giác Sắt, Tây Ninh- Nơi nào cũng vương mang hình ảnh của Ông tràn đầy kính mến cùng đồng đội ông.




Qua email trao đổi, chị cho biết: “Dù đã 42 năm, dù đã qua bao mùa lá rụng, vật đổi sao dời, khi nhắc đến chuyện cũ thì những giọt nước mắt ngắn dài cứ thế tuôn rơi trên mặt chị. Thôi thì cứ khóc cho lòng nhẹ nhàng hơn.” Chị tiếp: “Nơi nào có anh là có chị, em có nhớ khi còn ở Trảng Bàng không? Đêm dời quân phải đi xe đèn mắt mèo, vì trời tối quá không? Những kỷ niệm đó chị không thể nào quên được.”

Một đời binh nghiệp và cũng một đời cho vợ con, anh chị như hình với bóng. Bóng và hình quyện nhau trên từng cây số con đường đời. Không thấy một bóng hình người đàn bà nào khác bên anh ở những nơi chị không đến được. Ai nghĩ sao thì nghĩ, sự thán phục ngưỡng mộ về Anh trong tôi đậm nét và cả là một điều tự vấn về mình.

Anh ra đi có sớm, được thêm một cấp bực kèm Bảo Quốc Huân Chương với nhành dương liễu trong tiếng khóc của chị và thân quyến, cùng đủ mọi lễ nghi quân cách. Khi mặt trận còn vương mùi khói súng, tôi đã ôm Anh lần đầu và cũng là lần cuối cùng vào lòng nghẹn ngào tức tưởi, cùng y tá gói trọn thi thể Anh trong poncho đặt vào xe M113, rồi cùng BCH nặng TĐ30 BĐQ và hai ĐĐ phòng thủ chung với Anh kính cẩn chào tiễn biệt. Thi thể Anh được trực thăng đưa về BTL/Lữ Đoàn 3 KB. Từ đó trực thăng lại đưa Anh về đất mẹ – Quê hương VIỆT NAM dấu yêu.

Sau khi tiễn biệt Anh lần cuối, nỗi mất mát vẫn còn vương trên những khuôn mặt của quân nhân các cấp của TĐ, trong khi Chiến dịch Toàn Thắng 71 vẫn còn đang tiếp diễn giang tay vẫy gọi tham dự với bóng dáng nỗi chết mờ ảo xa xa… – 25, đây Lữ Bình! 25, đây Lữ Bình! [Danh hiệu truyền tin của tác giả]

Đã đến lúc ĐĐT của Anh rời bỏ mái nhà xưa, nơi có 25 và đồng đội thân thương đến một mái nhà khác [TĐ43 BĐQ] cũng êm ả hầu tiếp tục “cuộc chơi” đầy gian nguy khổ ải. Nơi đó được lưu động khắp mọi miền đất nước yêu thương, sao lòng vẫn bồi hồi nhớ về chốn cũ. Phải chăng đó là nơi đã nuôi dưỡng trui rèn một người Lính về cách sống và chiến đấu trong tình chiến hữu yêu thương, đùm bọc cho nhau vững tiến trên bước đường hành quân.

Từ độ Anh ra đi, cho đến nay, trong biến loạn hỗn nguy để rồi Miền Nam VIỆT NAM sụp đổ rơi vào tay Cộng Sản, các đàn em của Anh chịu đựng sự sỉ nhục dày vò với khổ nạn chung của dân tộc. Bôn ba xứ người, được nghe nói về Lính, đọc lại những bút ký chiến trường hay xem, thấy, nhìn lại màu áo hoa rừng, hình như vang vang đâu đó bên tai:

“25 đây, yên chí đi…“

như lời vổ về an ủi cho mình vậy.

Một ĐĐT của Anh

Hồ Công Bình
(Nguồn: bietdongquan.com)

*Danh hiệu Truyền Tin của Thiếu Tá Phan Văn Sành, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 30 BĐQ [1967-1971]
Bài viết này của XV 12. Đọc bài này để tưởng nhớ XV44 người vừa cất cánh bay vào cõi vĩnh hằng

Từ Giã Đời Bay Bổng

Tháng 4 lại trở về, đã hơn 30 năm trôi qua, ngồi nghĩ lại mà cứ ngỡ chuyện vừa xảy ra ngày hôm qua. Tôi xin gởi đến anh em Không Quân câu chuyện mà chắc rằng ai trong chúng ta cũng đã có ít nhiều kỷ niệm khó quên trong đời quân ngũ.

Từ tháng 1,1975 tình hình chiến sự miền Nam đã bắt đầu đi đến giai đoạn thảm khốc, Cộng Sản (CS) tấn công kháp nơi, Ban Mê Thuột, Phước Long... đã mất vào tay CS. PD255, Xà Vương, ứng trực chuẩn bị giải vây Phước Long, tôi được biết mình có tên trong hợp đoàn sẽ về tiếp cứu Phước Long... khiến tôi nhớ lại Mùa Hè 72. Vào năm đó tôi phục vụ Phi đoàn 211, Thần Chùy, chúng tôi đã tham dự chiến trận giải vây An Lộc. Trận chiến rất cam go, hàng ngày đều có vài phi hành đoàn Trực Thăng, Khu Trục rớt tại chiến trường An Lộc, rất may mắn phi đoàn 211 không mất một phi hành đoàn nào mặc dù tất cả phi cơ đều bị trúng đạn không thể xử dụng cho cuộc đổ quân. Tôi còn nhớ cố Thiếu Tướng Ánh đã bay từ Cần Thơ cùng với tướng Lành, Tư lệnh phó Không Quân, đến Lai Khê để an ủi và khích lệ tinh thần anh em phi đoàn 211. Thật cao quý thay tấm thịnh tình của các cấp chỉ huy, và trước ngày hết hạn biệt phái, chúng tôi được tin tướng Ánh đã tử nạn trong phi vụ câu chiếc L19... tại Cần Thơ, xin một phút mặc niệm đến vị chỉ huy khả kính, anh cả ngành trực thăng.

Phi vụ biệt phái giải vây và tiếp cứu Phước Long giờ chót đã hủy bỏ, tôi và các bạn lại tiêp tục bay bổng như xưa... ngày đi hành quân, đêm về trực bay chống pháo kích... Tôi có cô bạn gái tên T. (bây giờ là bà xã), nhân viên Tòa Lãnh sự Hoa Kỳ tại Cần Thơ, cho tôi biết Hoa Kỳ sẽ bỏ miền Nam và T. cùng gia đình đã có tên rời khỏi Việt Nam. Tôi không tin vì vùng IV chiến thuật vẫn còn yên lành, quân lực VNCH đang chiến đấu anh dũng... Hàng ngày T. gọi điện thoại cho biết tin tức tại sở làm và có cho tôi biết: "Cô đã xin xếp (boss) Hoa Kỳ cho tôi được phép đi cùng nếu tôi muốn"... Tôi hoang mang, lo sợ không biết phải quyết định ra sao? Gia đình cha và anh em tôi sống tại Vũng Tàu. Thỉnh thoảng tôi có liên lạc điện thoại với gia đình, và được biết gia đình vẫn bình an tôi cũng đỡ lo. Một hôm tôi gặp T. ,và tôi đã trả lời cho T: "Tôi sẽ không ra đi... tôi ở lại chiến đấu với anh em, tôi đã có kế hoạch lo cho tôi và gia đình". Thật ra lúc đó tôi chẳng có kế hoạch hay phương cách gì cả, tôi trả lời cho T. được an tâm mà di tản cùng với gia đình.

Và những chuỗi ngày kế tiêp, tôi có gặp T. tại nhà và T. đã nói : "Anh không đi chắc em cũng không đi". Ôi tình yêu của T. đối với tôi tha thiết quá, khiến tôi càng khó xử thêm. Từ tháng 2, 1975 Không Quân không còn yểm trợ Bộ Binh như xưa, các phi hành đoàn trực ra check tàu rồi nằm chờ. Đêm đến căn cứ báo động thực tập chống pháo kích... ngày nầy qua ngày nọ chán ôi là chán!!!

Cuối tháng 3,1975 các phi đoàn trực thăng vùng I và II di tản về phi trường 31 tạo nên một khung cảnh hỗn độn và phức tạp... tăng thêm nỗi hoài nghi về cuộc chiến chống CS trong lòng tôi. Những phi đoàn trực thăng 211, 217, 225, 227 và 255 thuộc SD 4 KQ với những phi vụ yểm trợ SD 21 BB và các đơn vị bạn vẫn ngày đêm hành quân bảo vệ vòng đai Cần Thơ. Có những đêm tôi bay gunships, trực chính tại sân cờ căn cứ 40 chiến thuật, hoặc trực phụ thì ngủ đêm tại Sở 4 an ninh, ngoài vòng đai phi trường 31, phòng khi VC pháo kích, tấn công căn cứ và phi hành đoàn trực chính không cất cánh được thì phi hành đoàn trực phụ sẽ cât cánh yểm trợ. Tình hình chiến sự miền Nam càng ngày càng bi đát thêm, khiến tôi và các bạn thêm hoang mang, lo sợ không biết phải hành động ra sao? Những bạn bè di tản từ vùng I, II nhìn chúng tôi với đôi mắt kỳ lạ mỗi khi chúng tôi vác túi bay, áo giáp ra tàu bay hành quân. Trong khi bay thì chúng tôi nghe trên tần số UHF/Guard các phi hành đoàn bạn rời thành phố bay ra biển tìm Hạm đội 7 Hoa kỳ để đáp... người tìm được, kẻ thì hết xăng... giã từ bạn bè... ôi còn cảnh nào buồn hơn nữa!

Khoảng trung tuần tháng 4, 1975 bọn CS đêm đêm pháo kích vài trái đạn vào thị xã Cần Thơ, khiến tôi càng lo cho T. và gia đình vì nhà T. gần dinh Tư lệnh Quân đoàn IV. Một hôm tôi đến thăm T. tại nhà và tôi đã khuyên: "Em hãy rời khỏi Việt Nam, anh sẽ lo liệu cho thân anh, vì nếu em còn ở lại Cần Thơ thì khó cho hai đứa lúc tình hình nguy ngập". Sau cuộc thăm viếng nầy, T. gọi điện thoại cho biết sẽ về Saigon lo thủ tục rời Việt Nam với gia đình và có hứa sẽ gửi thơ về thăm tôi... Tôi chúc T. và gia đình đi bình an và đừng bận tâm nhiều về tôi, tôi sẽ tự lo liệu cho tôi!!! Thú thật tôi cứ nghĩ miền Nam sẽ có giải pháp Trung lập... thì tại sao phải ra đi? Vả lại trọn gia đình tôi vẫn sống an lành tại Vũng Tàu, nếu có ra đi tôi sẽ mang cả gia đình cha, anh, chị, em đi cùng. Trong khi ở Saigon, T. thường gọi điện thoại cho tôi... T. lại nhắc chuyện rời Việt Nam với T. thì điện thoại bị gián đoạn. Lần cuối T. điện thoại từ giã để vào tòa đại sứ Hoa Kỳ rời Việt Nam, một lần nữa tôi chúc T. và gia đình lên đường bình an.

Rồi đến việc Dinh Độc Lập bị dội bom, TT. Thiệu từ chức... khiến tôi thêm hoang mang và lo lắng. Một hôm đi bay yểm trợ quân bạn xung quanh Cần Thơ, về phi trường Cần Thơ đổ xăng, khi vào chỗ đổ xăng thì thấy bên cạnh có chiếc trực thăng đang đổ xăng chở đầy các tướng Không Quân ông nào cũng có sao trên cổ áo... tôi và phi hành đoàn không màng chú ý và lo đổ xăng tiếp tục phi vụ, sau nầy được biết chiếc trực thăng đổ xăng đưa các tướng rời Việt Nam.

Đêm 28/4/75 tôi bay gunships, trực chính bảo vệ phi trường Cần Thơ. CS pháo kích vào Cần Thơ, tôi và XV14 cất cánh về hướng quận Bình Minh tìm bọn CS để "trả đũa". Chúng tôi đã làm "câm họng" bọn CS. Nghe đâu đêm 28 hoặc 29/4 các gia đình Không Quân được CH.47 đưa ra Côn Sơn tạm trú??? Riêng phần tôi, độc thân, con bà phước nên được "chiếu cố bay bổng" liên miên nên chẳng có thời giờ để theo dõi tin tức chiến sự.

Việc gì đến rồi sẽ đến, ngày 30/4/75, phi trường Cần Thơ đóng cửa... Ngày đó tôi "lead guns", XV 11 "lead slicks", XV 55 bay C&C trong phi vụ yểm trợ TrD 32/SD21BB hành quân tiêp ứng quận Cờ Đỏ. Chúng tôi trình diện tại sân bay Navy, Bình Thủy vào lúc 9:00 AM. Trong lúc chờ đợi, tôi có gặp Đ/t Biết, Trung đoàn Trưởng Tr.Đoàn 31/SD21BB và ông có nói : "Sao mấy thằng Không Quân tụi mầy còn ở đây không đi? Ngày mai 1/5 tụi nó sẽ vào tiếp thu", tôi nhìn ông và trả lời: "Đ/t không đi thì làm sao tụi tôi đi đươc". Cùng lúc đó Tr/u B, gun số 2, mang bản đồ và rủ tôi cất cánh đi Cà Mau, đổ xăng rồi bay sang Mã Lai. Tôi cảm thấy phiêu lưu quá nên từ chối và có nói: "Từ từ đâu còn có đó." Chúng tôi hợp đoàn cất cánh chở lính và đổ quân xuống quận Cờ Đỏ, trên đường bay "slicks" bị CS bắn, XV11 thông báo và "guns" đã yểm trợ hữu hiệu trên đường bay cho anh em "slicks" không còn bị đe dọa bởi những tiếng súng"vu vơ" của bọn CS. Trong lúc bay, tôi để tần số "Guard"/UHF để nghe và theo dõi tình hình anh em KQ, thì đột nhiên nghe Paddy gọi:

"Thần Báo,Thần Chùy, Xà Vương" đây Paddy,
"Paddy Xà Vương tôi nghe" tôi trả lời.
"Yêu cầu Xà Vương qua tần số FM xx.xx để liên lạc" Paddy yêu cầu.

Tôi chuyển qua tần số FM và cố gắng liên lạc nhưng không được nên tôi gọi Paddy: "Paddy tôi không liên lạc được ai trên tần số FM này cả". Chợt có tiếng nói từ tần số "Guard": "Xà Vương, tôi là ALO tại Sóc Trăng gọi, nhờ bạn xuống cứu chúng tôi đang bị CS tấn công". Tôi vội gọi và thông báo tin này đến C&C, và cùng lúc đó anh xạ thủ nghe Tổng Thống Dương Văn Minh, qua đài phát thanh Saigon, ra lệnh đầu hàng vội báo cho tôi được rõ. Tôi liền thông báo đến XV55, C&C, và XV55 cho lịnh "slicks" và "guns" thả lính tại phi trường Navy, về Cần Thơ đổ xăng chờ lịnh. Khi hợp đoàn hành quân bay ngang phi trường Trà Nóc, tôi gọi đài để xin bay ngang phi đạo với cao độ thấp thì không ai trả lời cả... về phi trường Cần Thơ định vào đổ xăng thì thấy các phi cơ cất cánh tùm lum... vô trật tự, và tôi thấy một vài chiếc trực thăng vừa cất cánh đã rớt.... Tôi bay cao độ khoảng 500 bộ trên phi đạo, anh xạ thủ yêu cầu tôi bay "cao cao" vì sợ khẩu súng đại liên 30mm đặt tại đài kiểm soát nổ súng bắn hạ. Tôi nói "Mình có súng miniguns mà sợ gì".

Với cảnh rối loạn và phi cơ cất cánh vô trật tự, chắc chắn là hợp đoàn không thể đổ xăng tại phi trường Cần Thơ được, nên tôi gọi XV11 hãy cùng tôi bay về phi trường Vị Thanh đổ xăng. "Slicks" bay thấp trên kinh Xà No, "guns" bay hai bên yểm trợ để tránh pháo binh vì lúc này tôi không liên lạc được với Paddy. Trong khi bay xuống phi trường Vị Thanh, tôi chợt nhớ lại không anh em nào có mang phiếu đổ xăng thì làm sao đổ xăng. Tại vùng IV, trực thăng đổ xăng tại các phi trường nhỏ thì phải ký phiếu xăng sau khi đã đổ xăng tại điểm tiếp liệu do các anh Bộ binh kiểm soát. Vì vậy khi gần đến phi trường Vị Thanh, tôi gọi XV11 và anh em trong hợp đoàn hành quân hãy bình tĩnh đừng làm những gì khiến anh em tại trạm xăng nghi ngờ và chúng ta không có xăng để đi Côn Sơn, nếu cần tôi sẽ dùng gunships uy hiếp và sau đó anh em sẽ đón tôi sau. Khi vào ụ đổ xăng, anh Trưởng Trạm Tiếp liệu chạy xe Honda đến gặp tôi (vì tàu tôi đậu ụ thứ nhất) và hỏi: "Sao mấy ông xuống mà không thông báo"? Tôi vội trả lời: "Lịnh Quân đoàn xuống đây đổ xăng đi giải vây tiếp cứu tỉnh Sóc Trăng, anh hãy mở vòi xăng lẹ lên".

Hợp đoàn đổ xăng đầy đủ, anh em nào muốn về Cần Thơ đón thân nhân thì về, phần còn lại theo XV11 và tôi đi Côn Sơn. Trên đường ra Côn Sơn, chúng tôi có bay ngang tỉnh Sóc Trăng, chúng tôi thấy thành phố Sóc Trăng đang chìm trong lửa khói... thật đau lòng vì mình không đủ khả năng tiếp cứu... xin một lời tạ lỗi với quân, cán chính, tỉnh Sóc Trăng!!! Chúng tôi đã liên lạc được với XV33, 44, 13, chúng tôi cố gắng liên lạc với XV 55, C&C, để thông báo tin tức của hợp đoàn hành quân cũng như tình hình tại phi trường Cần Thơ... nhưng gọi mãi không ai trả lời. Sau nhiều lần cố gắng liên lạc với XV 55... cuối cùng chúng tôi đáp tại Côn Són và đó cũng là phi vụ cuối cùng trong đời bay bổng của tôi...

HUỲNH VĂN CHỪNG
(SVSQ Huỳnh Văn Chừng thuộc Đại đội 64/ Khóa 6/68 Thủ Đức. Anh phục vụ trong binh chủng Không Quân tại Vùng 4 CT)

Sunday, July 12, 2020

https://www.stellarinfo.com/blog/top-9-ways-to-fix-unable-to-open-jpeg-file-error/#:~:text=If%20you%20are%20unable%20to%20open%20JPEG%20photos,to%20update%20your%20Photos%20app%20on%20Windows%2010%3A

Đành bỏ anh em

Lôi Vân 71.

http://vnafmamn.com/decals/patch21.jpg
Phù hiệu PĐ 231 Lôi Vân.

Mỗi khi nói đến Trần Kim Quan, bạn bè thường gọi anh bằng cái biệt danh không lấy gì làm êm tai cho lắm "Quan Mập". Nói đến Quan mập thì cả Không Đoàn không ai là không biết đến. Thế rồi theo thời gian, mọi người hầu như khhông cón ai nhớ tới họ và tên lót của anh nữa ngoại trừ người hạ sĩ quan văn thư phi đoàn. Đặc biệt hơn nữa là trong phi đoàn có hai Quan, người thứ nhất là Quan Mập, người thứ hai hơi cao, hơi gầy, họ Huỳnh thì lại được gọi một cách rất đàng hoàng là "Quan Huỳnh" để phân biệt với Quan Mập.
Trong suốt thời gian ở chung đơn vị, tôi chỉ được vài lần thấy anh mặc đồ bay đúng kiểu KQ, còn ngoài ra hầu như lúc nào anh cũng mặc quân phục của phi công trực thăng Bộ Binh Hoa Kỳ, tức là áo quần riêng biệt và không bao giờ bỏ áo vô trong quần. Đã thế, anh lại còn không bao giờ mang cấp bậc, trên đầu lúc nào cũng có cái mũ lưỡi trai đen bạc màu cố hữu. Thành ra nhìn anh cứ y hệt như một người lính lang thang vô kỷ luật nào đó (họa hoằn lắm mới thấy anh đeo khẩu P.38 bên hông, hoặc trong những phi vụ vô cùng nguy hiểm, anh mới mang theo mảnh áo giáp để che trước ngực). Tôi nghĩ khi anh ra đường lỡ gặp Quân Cảnh thì họ sẽ "hốt" ngay về Quân Vụ Thị Trấn với tội danh lè phè là cái chắc.
Thế nhưng mội người sẽ bị lầm lẫn ngay nếu đem tính tình và khả năng bay bổng của Quan ra để so sánh. Con người của anh không một chút gì giống với dáng dẻ bề ngoài: tính tình vui vẻ, luôn miệng nói cười, tôi chưa hề thấy anh nổi giận hoặc lớn tiếng với ai bao giờ, kể cả với những thuộc cấp không thi hành đúng lệnh của anh. Riêng về sự bình tĩnh, gan dạ, tình huynh đệ chi binh, lòng thành với các chiến hữu có thể nói khó mà tìm được một người thứ hai như anh.
Hình như Quan không hề biết sợ lưỡi hái của tử thần. Tôi còn nhớ, một lần trong lúc hành quân vào mật khu địch ở bên kia biên giới Campuchia. Trước đó hai ngày, một phi cơ trực thăng của phi đoàn do "Ngọc già" điều khiển đã bị bắn rơi bởi đạn phòng không, những phi cơ bạn bay trong vùng cùng hợp đoàn với Ngọc đã nhiều lần cố gắng đáp xuống để tìm cứu phi hành đoàn nhưng đều bị thất bại vì hỏa lực phòng không quá mạnh của địch. Cuối cùng, phi đoàn trưởng của chúng tôi đành phải quyết định cho hợp đoàn quay mũi trở về: ông không muốn hy sinh thêm thuộc cấp của mình.
Sau đó, không còn ai dám mạo hiểm bay vào hỏa lực phòng không dày như đan lưới dù rất nóng lòng muốn tìm cứu những đồng đội kém may mắn. Thế nhưng hôm ấy, sau khi hợp đoàn trở về Trảng Lớn ăn trưa (căn cứ Trảng Lớn, nơi đặt bộ chỉ huy tiền phương của SĐ25BB), Quan đã cùng phi hành đoàn âm thầm đi tìm chiếc phi cơ của Ngọc bị rớt. Một số người thấy Quan cất cánh đều cho rằng anh đi lấy thêm xăng và gắn thêm rocket để chuẩn bị cho phi vụ buổi chiều. Không một ai biết rằng anh và phi hành đoàn đã làm gì mà chỉ biết khoảng độ chừng hơn nửa giờ sau đó anh bay trở lại với thi thể của Ngọc trên tàu.

Một lần, tôi được dịp bay chung với Quan trong một phi vụ "cover" cho Chinook (trực thăng vận tải) tiếp tế cho căn cứ Tống Lê Chân của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân Biên Phòng đang bị địch bao vây. Vừa cùng hợp đoàn Chinook cất cánh từ Lai Khê, khi phi cơ lên tới cao độ chừng 500 bộ (khoảng 150mét), đang lơ đãng nhìn những hàng cao cu trùng điệp lướt nhanh dưới chân, đầu óc nghĩ tới những giây phút sắp đến, bỗng dưng tôi cảm thấy mũi phi cơ chúi xuống và lệnh hẳn hướng bay. Với phản ứng tự nhiên của một hoa tiêu, tôi chụp lấy cần lái điều chỉnh thăng bằng và lấy lại hướng bay. Nhìn sang ghế bên phải, tôi thấy tay chân Quan buông thõng, đầu rũ xuống, nghẹo sang một bên. Tôi bấm intercom thất thanh gọi lớn: "Quan, Quan anh làm sao vậy?" thì bỗng anh bật dậy cười ha hả: "Tao thử xem mày phản ứng ra sao một khi lỡ tao bị bắn trên tàu". Tôi cự nự: "Giỡn cái gì mà ác vậy cha? lỡ chẳng may thật thì vợ con để cho ai!". Quan đáp: "Thì để cho thằng khác lo, sợ gì".
Sau đó tất cả chúng tôi trở lại với tâm trạng lo âu nhưng có phần đỡ căng thẳng hơn lúc trước, vừa bay, vừa trao đổi với nhau những câu chuyện vu vơ trên đường bay vào đơn vị bạn đang bị áp lực của địch đè nặng. Khi chúng tôi bắt đầu tới vùng trách nhiệm, hai chiếc Chinook cho biết họ sắp sửa vào đáp xuống căn cứ thì mọi "thủ tục chào đón" của địch dành cho chúng tôi cũng bắt đầu, không thiếu một thứ gì - từ đốt pháo bông (súng phòng không) tới bắn đại bác chào mừng (pháo kích vào bãi đáp). Quan cùng chiếc số 2 cũng bắt đầu "đáp lễ" một cách vô cùng ngoạn mục, từng loạt rocket, từng tràng minigun của chúng tôi nhả xuống liên tục như mưa trên đầu đoàn quân "sanh Bắc tử Nam".
Những họng phòng không, những nòng đại bác câm tiếng, hợp đoàn hoàn thành nhiệm vụ một cách mỹ mãn trước sự bất lực và lòng căm tức của đám "bộ đội cụ Hồ".
Một lần khác, sau khi hoàn thành phi vụ từ An Lộc trở về, tôi bay chiếc gun số 2 (trực thăng võ trang) bay bám theo sát chiếc số 1 do Quan lái. Vừa bay ngang suối Tàu Ô, Quan bấm máy liên lạc gọi tôi:
- "Ê gun 2, cover cho tao leo xuống kiếm thằng Quan Huỳnh".
Nghe Quan nói thế, tôi thầm lo trong lòng, vì nơi Quan Huỳnh bị rớt mất tích trước đó mấy tuần chỉ cách suối Tàu Ô có vài cây số, là nơi đã từng xảy ra những trận quần thảo kinh hồn giữa ta và địch, nay chắc địch vẫn còn đóng chốt đâu đây. Thế mà Quan bất chấp những gì đang chờ đợi mìinh dưới đất. Anh "rà" xuống thật thấp và bay chậm với hy vọng may ra sẽ tìm ra được dấu vết nào đó của Quan Huỳnh ở phía dưới. Tôi từ trên cao độ 2000, rồi 1500 bộ, nhìn thấy Quan bay là là chung quanh chiếc phi cơ của Quan Huỳnh bị rớt, tim tôi như muốn nhảy khỏi lồng ngực. Tôi bấm máy gọi Quan:
- "Lên đi, không thấy gì nữa đâu, nửa tháng nay rồi còn gì mà tìm".
Quan đáp:
- "Ráng thêm chút nữa đi 2, may ra..."
Thấy Quan không chịu lên, tôi đành phải xuống thấp hơn nữa để cover cho gần hơn. Bỗng nhiên tôi nghe giọng Quan vang vang trong máy:
- "Mẹ, nó bắn, nó bắn lên!"
http://img694.imageshack.us/img694/6738/uh1hvnaf02.jpg

Tôi không kịp trả lời Quan. Hai khẩu minigun 6 nòng của tôi nhả từng tràng đạn liên hồi với nhịp bắn tối đa (4000 viên/phút). Từ phía dưới, Quan vụt phóng lên cao và cao giọng:
- "Tao thấy chúng nó rồi, cover cho tao trả đũa!"
Rồi không cần biết tàu mình lúc nãy có bị trúng đạn hay không, Quan quay mũi về hướng mục tiêu và cắm xuống, từng cặp rocket xé gió phóng xuống, nổ tung. Xong đợt thứ nhất, Quan quẹo ra và nói với tôi:
- " Hai, mày vô đi, làm ăn chung quanh chỗ tao vừa làm, tụi nó đông lắm".
Tôi đã chuẩn bị sẵn, chỉ chờ có thế. Quan vừa ra là tôi bắt đầu cắm xuống. Và cứ như thế chúng tôi thay phiên nhau cho tới khi xả hết rocket mới chịu lấy hướng bay về. May mắn, hôm ấy không chiếc nào bị ăn đạn địch.
Nói về Quan, về thành tích trong chiến đấu cũng như trong tình chiến hữu, có lẽ phải viết một quyển sách dày máy ra mới trình bày đủ những gì anh đã thể hiện trong đời binh nghiệp của mình. Tiếc thay, tôi không có đủ khả năng để làm công việc đó. Tôi chỉ có thể tóm tắt như sau: Quan không bao giờ tìm cách từ chối bất cứ phi vụ nào dù nguy hiểm tới đâu; Quan không hề quay lưng khi bạn bè lâm nạn, chưa từng lùi bước khi đơn vị bạn dưới đất bị lâm nguy, không bao giờ chùn tay lái trước hỏa lực của quân thù.
Thế rồi vào một ngày gần cuối năm 1974. Hôm ấy thời tiết xấu, sương mù giăng phủ khắp vùng rừng núi chiến khu D, đồn điền Minh Thạnh. Ngay từ sáng sớm chúng tôi đã có mặt bên sân đáp của Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù chờ đợi thi hành những phi vụ "đứng tim", đổ các toán biệt kích vào lòng chiến khu địch!.
Sau cả ba lần cất cánh, chiếc trực thăng chỉ huy chở theo những sĩ quan trách nhiệm của Liên Đoàn đều trở về trong chán nản. Thời tiết quá xấu, sương mù vẫn còn dày đặc khắp vùng hành quân. Mãi đến gần 3 giờ chiều, chiếc trực thăng cất cánh thêm một lần nữa và lần này các cấp chỉ huy đã quyết định sẽ thả quân vào theo đúng như kế hoạch dự trù.
Sau khi hợp đoàn đang làm vòng chờ ở phía quân lỵ Chơn Thành, hai chiếc võ trang của chúng tôi cùng chiếc Charlie (trực thăng chỉ huy) bay sâu vào vị trí để xác định bãi đáp một lần cuối cùng trước khi hợp đoàn vào hạ cánh. Quan sát xong, chúng tôi bay trở ra để hướng dẫn hợp đoàn vào, Thiếu Tá Tiên, vị sĩ quan chỉ huy hợp đoàn là người từng nổi tiếng với nhữung phi vụ gay go, căng thẳng đã đem lại những chiến công rực rỡ cho đơn vị mình cũng như các đơn vị bạn.
Với một giọng rõ ràng, bình tĩnh, ông hướng dẫn hợp đoàn đến địa điểm đổ quân. Quan bay bên trái, tôi bên phải. Trước khi tới bãi đáp, Quan dặn dò tôi:
- "Ráng coi chừng cho kỹ nghe gun hai. Có dấu hiệu tụi nó đông lắm đó!".
Tôi không trả lời, chỉ bấm máy hai lần ra hiệu nhận rõ. Rồi giờ phút nghiêm trọng bắt đầu khi tiếng của Charlie vang lên trong máy:
- "Số 1, số 2 lần lượt hạ cánh".

Hai chiếc slick cắt ga cho phi cơ từ trên cao rơi nhanh xuống. Quan kè theo chiếc số 1, tôi cặp theo chiếc số 2. Cùng lúc đó, từng loạt đạn của nhiều loại vũ khí khác nhau bắn xối xả lên hợp đoàn chúng tôi - mục tiêu tốt nhất của địch. Lập tức, bốn khấu minigun của những xạ thủ kinh nghiệm trả đũa, nhả đạn tới tấp. Bất chấp đạn địch bắn lên như đan lưới, hợp đoàn vẫn giữ hướng bay đi vào bãi đáp theo lệnh của Charlie. Bỗng nhiên phi cơ của Quan quay đầu trở ra. Chưa hết ngạc nhiên thì tôi đã nghe tiếng Th/tá Tiên gọi lớn:
- "Gun 1 đi dâu vậy? Quan đi đâu vậy? Sao không theo hợp đoàn?".
Không nghe trả lời, ông gọi tiếp:
- "Quan, Quan, mày đi đâu vậy?"
Vẫn kông có tiếng trả lời, ông gọi cho tôi:
- " Gun 2 tiếp tục theo hợp đoàn"
Tôi bấm máy:
- "Nghe rõ Charlie"
Vừa bay, vừa nhả đạn, tôi không còn thời giờ để nghĩ tới Quan nữa vì hiện tại 2 chiếc "slick" chỉ còn một chiếc gun của tôi yểm trợ, tôi phải đặt hết tâm trí vào việc đối phó với quân thù.
Cuối cùng hợp đoàn đã thi hành xong nhiệm vụ. Khi cả ba chiếc lên đủ cao độ để bay về, tôi thở một hơi dài nhẹ nhõm. Bây giờ mọi người mới nhớ tới Quan, chiếc gun số 1, Gịong Th/tá Tiên vang lên trong máy:
- " Gun 1, gun 1, đây Charlie!"
Vẫn yên lặng, ông hét lớn hơn:
- "Gun 1 - Charlie, Gun 1 - Charlie"
Hoàn toàn không có tiếng nào đáp trả. Ông gọi cho tôi:
- "Gun 2 dùng tần số nội bộ gọi gun 1 xem sao"
Tôi đáp"
- " Đã gọi rồi Charlie, không nghe gì cả"
Sau một lúc im lặng, tôi đang suy nghĩ xem có cách gì để tìm được tàu của Quan hay không thì bỗng nghe tiếng Th/tá Tiên la lên trong máy:
- " Có một chiếc trực thăng đang đậu dưới Chơn Thành, để tao xuống xem sao?"

Cả hợp đoàn hạ cao độ thì thấy rõ ràng chiếc Gun 1 của Quan đang đậu dưới đó. Mọi người chưa hết ngạc nhiên và đang đặt một câu hỏi chuyện gì đã xảy ra cho Quan thì được Charlie từ phía dưới báo lên một tin như sét đánh ngang tai:
"Quan mập" đã đền nợ nước!
Nghe tin này, tất cả chúng tôi như người đang nằm trong mộng, sững sờ không nói với nhau được một lời. Phải cả phút sau đó, chúng tôi mới hoàn hồn và bày tỏ ý định muốn đáp xuống nhìn xác Quan và chia sẻ mất mát với anh em phi hành đoàn gun 1, nhưng Th/tá Tiên không cho phép và ra lệnh cho chúng tôi bay về trước. Ông e rằng một khi chúng tôi đáp xuống, địch sẽ rót đại bác vào quận lỵ, gây thêm mất mát, tang tóc cho mình một cách vô lý.
Vậy là sau bao lần thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc, cuối cùng Quan mập cũng đã vĩnh viễn ra đi. Sau đó chúng tôi được biết anh đã tử thương ngay từ những loạt đạn đầu tiên của địch. Một viên phòng không 12 ly 8 của quân thù đã xuyên qua đầu anh và đâm thẳng lên trần cockpit phà hỏng hệ thống truyền tin của phi cơ, vì thế mà Th/tá Tiên , tôi và tất cả anh em khác đều không ai liên lạc được với phi hành đoàn của gun 1 nữa. Sau khi Quan trúng đạn, Lâm Văn Có - hoa tiêu phụ của Quan hôm đó - vội vàng vừa điều khiển phi cơ, vừa cố liên lạc với các phi cơ khác nhưng vô hiệu. Không còn cách nào khác, Có đành quay mũi phi cơ bay thoát ra ngoài và đáp xuống Chơn Thành...
Quan ra di mà không một lời trối trăn từ biệt. Đành bỏ anh em bạn bè. Cánh chim nào lìa đàn mà không làm cả bầy xao xác, nhưng riêng với Cố Đại Uý Trần Kim Quan, một chiến hữu mà tôi từng mến phục, từng nhiều lân vào sanh ra tử, sự ra đi của nh đã để lại trong lòng tôi muôn vàn xót xa, thương tiếc.
Hơn 19 năm đã trôi qua nhưng hình ảnh quan tài của Quan với lá cờ vàng ba sọc đỏ của Tổ Quốc phủ kín, với tấm Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương kèm Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu lấp lánh bên hàng nến lung linh vẫn chưa phai nhạt trong tôi. Và tôi cũng tin rằng ở một nơi chốn bình yên nào đó, chắc chắn hồn anh cũng mãi nhớ đến những cánh chim cùng bầy ngày nào, giờ đang tan tác khắp bốn phương trời cách biệt.

Mlebourne cuối Đông '93
Lôi Vân 71.
( Biên Hùng chuyển )

Bù Na (Bunard) ? Căn cứ bị bỏ quên ? - Trần Lý


                       
By   September 08, 2019  1124
Hình TH-72GHình TH-72G
Chiến tranh Việt Nam có rất nhiều địa danh không “quen với người dân thị thành" ,những địa danh xa lạ chỉ được biết đến vì là nơi đã diễn ra những trận đánh khốc liệt giữa QLVNCH , quân đội Đồng Minh và CSBV..Bù Na là một trong những địa danh rất ít người biết kể cả các chiến sĩ VNCH (ngoại trừ các chiến sĩ LLĐB và SĐ5BB VNCH)

● Vị trí địa lý :

- BS Nguyễn Duy Cung viết trong “Đời Y sĩ trong Cuộc chiến tương tàn” : Ấp Thượng Bunard (trang 114) : “ Quốc lộ 14 từ Phước Long đi Đồng Xoài..đoạn đường này rất xấu,đầy hang ổ do đắp mô, có nơi cỏ tranh, lồ ồ mọc de ra đường um tùm che khuất tầm nhìn phía
trước..phải mất gần hai tiếng mới đến ấp Thượng Bunard, nghèo nhất Tỉnh..”... “Sau khi thăm ấp Bunard trên đường về tôi ghé qua đơn vị LLĐB đóng quân ở gần đó, hầm chiến đấu được xây dựng kiên cố dưới mặt đất, có nhiều lớp kẽm gai và mìn bao bọc chung quanh ..”

- Tác giả Đỗ văn Phúc trong “Nhớ lại Chiến trường xưa : Đồng Xoài- Bù Na" ghi lại một số chi tiết liên quan đến Bunard như sau :
“Quốc lộ 13 từ sài Gòn qua Bình Dương, An Lộc, đến Lộc Ninh. Đến căn cứ Alpha là tiền đồn cuối cùng của SĐ 5 BB thì vượt biên giới Việt-Miên đến thị xã Snoul thuộc tỉnh Kratie. Qua khỏi thị xã Bình Dương chừng 1 cây số, đường 13 tách một nhánh tại Ngã Tư Sở Sao để thành Liên tỉnh lộ 13.. Từ đây đi qua các quận Phú Giáo, Đồng Xoài đến ngã ba Bù Noi thì rẽ làm hai..Qua Tây thì đến Phước Bình (tỉnh lỵ của Phước Long), sang Đông thì chạy lên Ban Mê Thuột..”
Tác giả ghi : “ Chúng tôi đóng quân trên ngọn đồi 289 gần một sóc thượng ở Bunard, nơi đã có trại A-344 LLĐB..dân Thượng ở đây thuộc sắc tộc Stieng (người Việt gọi là Cà răng, căng tai).. Cạnh bên sóc thượng là một Điểm Dinh điền lập ra từ thời TT Ngô Đình Diệm quy tụ trên 100 dân gốc miền Trung..”

- “Where We Were in Viet Nam (Michael Kelley), trang 5-72 :
- Bunard (YT 24-88) : khoảng 23 km Đông-Bắc Đồng Xoài, 24 km Đông-Nam Sông Bé; 4 km Đông-Nam QL-14 và 100 km Đông-Bắc Saigon
- Sân bay Bunard (YT 273-887) : khoảng 22 km Tây-Nam Trại Đức Phong 25 km Đông-Bắc Trại Đồng Xoài. Phi đạo dài 2600 feet.
- Trại LLĐB Bunard : khoảng 22 km Tây-Nam Trại Đức Phong; 25 km Đông Bắc Trại Sông Bé.

● LLĐB Hoa Kỳ và Bunard :

Trong kế hoạch xây dựng một hệ thống phòng thủ dọc biên giới Lào, Miên LLĐB Hoa Kỳ tại Vùng 3, nhất là tại các tỉnh Tây Ninh , Bình Long và Phước Long.. Các căn cứ đươc xem là “nguy hiểm" nhất gồm các Trại Prek Klok và Tống Lê Chơn trong vùng Chiến Khu C, Bunard tại Chiến Khu D và thêm vào đó là Sông Bé...

Tỉnh Phước Long nằm sát biên giới Việt Miên, ngay từ ngày được thành lập đã là khu vực hoạt động của CSBV, họ dùng các vùng đất xa các thị trấn do quân VNCH kiểm soát để lập các căn cứ tiếp vận, khu vực dưỡng quân trước khi di chuyển vào Chiến Khu D..Khu dinh điền Bunard là một trong những vùng được CQ tạo ra một căn cứ trên đường xâm nhập.
Từ đầu năm 1967, LLĐB Mỹ (5 th SF) đã quyết định lập một Trại SF loại A gần làng “Địa Điểm Bunard". Trại A này sẽ là nơi xuất phát các cuộc hành quân chống CQ trong vùng, Trại sẽ do lực lượng CIDG trấn đóng và hoạt động bình định trợ giúp lực lượng hành chánh địa phương của VNCH, đồng thời giúp ngăn chặn các hoạt động của CQ.. Bunard cũng là một “mắt xích" trong một chuỗi trại thám sát của SF dọc QL 14 từ Chơn Thành đến Ban Mê Thuột..

Vào giữa tháng 3-1967, một toán nghiên cứu thám sát của ĐĐ A , 5th SF cùng một trung đội bảo an Tỉnh đã được trực thăng vận vào một vùng xa, vắng vẻ gần Bunard, với nhiệm vụ tìm chỗ lập Trại.. Vào ngày thứ ba của cuộc thám sát, Toán này bị một ĐĐ quân địa phương VC tấn công khi họ di chuyển về làng Dinh điền. Toán không bị tổn thất và được trực thăng bốc trở về với các dữ kiện đã thu thập được để làm căn bản cho kế hoạch lập trại sắp tới.
5th SF đã tổ chức cuộc Hành quân HARVEST MOON để “xây" một Trại loại A tại Bunard. Kế hoạch chia thành 3 giai đoạn : Giai đoạn thứ nhất dủng lực lượng Mike Force (CIDG xung kích hay DSCĐ tiếp ứng ) Trung ương tại Nha Trang nhảy dù xuống Khu Bunard, làm đầu cầu, một lực lượng tăng viện sẽ đến sau bằng trực thăng ; Giai đoạn 2 là đổ quân CIDG cùng một toán A SF.. sẽ lo an ninh khu xây trại ..Giai đoạn 3 là xây dựng Trại đề lập một Căn cứ hành quân..

Ngày 2 tháng 4, 1967, 370 quân Mike đã được thả dù bằng 8 chiếc C-123 của Air Commando (Shelby Stanton trong Green Berets at War, trang 163, ghi là bằng các C-130) xuống địa điểm được chọn. Toán quân này do Đ úy Wilson, toán trưởng A-530 chỉ huy.
Đây là cuộc hành quân nhảy dù đầu tiên của CIDG trong 3 chuyến nhảy dù chiến đấu trong suốt cuộc chiến VN ! (cuộc hành quân thứ nhì là nhảy xuống Núi Giài, ngày 15-3-1967,và cuộc nhảy dù thứ ba là trong cuộc hành quân bình định vùng Cô Tô tháng 11 năm 1968)
(Cuộc hành quân nhảy xuống Bunard được thiết kế rất chi tiết, hoàn toàn do SF Mỹ lập kế hoạch, huấn luyện quân MIKE về nhảy dù không qua VNCH; việc xếp đặt máy bay, thời gian, phi trình đều do SF tính toán..)
370 quân nhảy xuống gồm 3 ĐĐ quân xung kích củng toán Chỉ huy, đáp an toàn chỉ 6 bị thương nhẹ (2SF+ 4 Mike), sau khi tập trung, đã bung ra tạo khu vực đổ quân và liền sau đó thêm 700 CIDG bằng trực thăng. LL này do Đại úy Ambrose W Brennan A-344 chỉ huy và lực lượng này sẽ chịu trách nhiệm thiết lập các vị trí phòng thủ tạm thời và củng cố Trại Bunard trong thời gian xây cất.

* Lực lượng CQ trong khu vực :
Theo các tin tình báo ghi nhâṇ được thì khu vực quanh Bunard là vùng hoạt đôṇ g chính của Trung đoàn 272 CSBV , Tr đoàn này được trang bị nhiều vũ khí khá tối tân của khối Côṇ g (lúc đó) như súng trường Trung công SKS, súng phóng rocket, đại liên 12.7 và cối 82.. Tr đoàn này có nhiêm vụ bảo vê ̣ các kho tiếp liêụ của CQ trong khu vực biên giói Miên-Viêt, và thường tấn công quấy phá Quâṇ Đồng Xoài chỉ cách Bunard khoảng 20 km.. Dân dinh điền được xem là dân theo CS có lẽ do sự vắng măṭ của quân QG trong vùng này.. các khu trồng trọt cách đó chỉ 10 km cho thấy CQ đã tổ chức được môt hê thống hâu cần cung cấp thực phẩm cho họ.
Tuy địa điểm đóng quân chính thức của 272 chưa dược xác định nhưng các dấu hiêụ đã cho thấy có ít nhất môṭ Tiểu đoàn chính quy CQ hoạt đông trong vùng quanh Dinh điền Bunard gần suối Da Panton; môṭ Tiểu đoàn khác có măt tại vùng Tây Bắc làng dinh điền cạnh QL 14..

Báo cáo trinh sát tháng 3-1967 ghi thêm sự di chuyển vào Phước Long của Trung đoàn 101 CSBV. CQ có khả năng mờ các cuôc̣ tấn công tâp̣ trung vào các quâṇ xa của Phước Long..!
Trại Bunard là một trại nhỏ, không có bãi đáp trực thăng trong phạm vi phòng thủ, và được sử dụng như một Căn cứ hỏa lực, nớ phát xuất của nhiều kế hoạch thám sát của SF như các Kế hoạch Omega, Gamma..
Sau khi trại được thiết lập, dân quanh vùng quy tụ lại và một ấp tân sinh đã thành hình, có một trạm y tế và một trường tiểu học do SF xây dựng trong chương trình dân sự vụ.
Chương trình CIDG chính thức chấm dứt ngày 31 tháng 12 năm 1970. Trại Bunard được chuyển giao cho QLVNCH và trở thành một căn cứ của TĐ 363 ĐPQ thuộc Tỉnh Phước Long Từ tháng 11-1974, CQ thường xuyên phá quấy, cắt đứt đường lộ ngăn chặn việc tiếp tế thực phẩm cho Tiểu khu Phước Long (Tỉnh cần 500 tấn gạo mỗi tháng nhưng chỉ tự sản xuất được 250 tấn). Đại tá Tỉnh trưởng Nguyễn Thống Thành đã phải tổ chức hành quân mở đường bằng các lực lượng địa phương :
Quân đoàn 3 không còn quân nên chỉ tăng phái cho Phước Long 3 Đại đội Trinh sát của 3 SĐ 5,18 và 25, các đại đội này lo phòng thủ Phước Bình và Sông Bé để các TĐ ĐPQ có thể mở đường. Tại Đức Phong LL VNCH gồm TĐ 362 ĐPQ, 4 Tr đội Nghĩa quân, một chi đội pháo binh 105 tăng cường thêm 2 ĐĐ của 304 ĐPQ .. bố trí dọc QL 14.. Đ tá Thành còn có các TĐ 341 ĐPQ tại Đôn Luân (ngoài 363 đóng tại Bunard) ..
Lực lượng địa phương của Phước Long không thể kháng cự cuộc tổng tấn công của CQ và Tỉnh đã mất hoàn toàn vào tay CQ ngày 6 tháng Giêng 1975.


Trần Lý (7-2019)