Monday, May 6, 2019

Đường vào giải vây quận Thường Đức.

Thiếu úy Lê Trịnh Thanh ban 2 TĐ ghi lại diễn tiến về trận tiếp viện cho quận Thường Đức trong câu chuyện nối tiếp.

Ngày 29/7 có lệnh từ BTL/Sư Đoàn 3 gởi công điện xuống Trung Đoàn 57 tại Quế Sơn đưa Tiểu Đoàn 1/57 tăng phái cho Trung Đoàn 2 đang hành quân tại Đại Lộc. Thiếu tá Đàng cho lệnh ĐĐ1 và ĐĐ3 cùng BCH nhẹ do Đại úy Hòa (TĐ Phó) và Thiếu úy Tú phụ tá ban 3 đi trước.

Ngày 30/7 toàn thể Tiểu Đoàn 1/57 vào vùng giao tranh. Thiếu tá Đàng và Trung úy Hiện Trưởng ban 3 ghé vào BCH Trung Đoàn 2 lấy phóng đồ hành quân và mục tiêu. Đoàn xe đổ quân ở phía trước đồi 65 (núi Đất) khoảng 2 Km để tránh pháo, các Đại Đội 2, 4 và Đại Đội chỉ huy đi dọc theo tỉnh lộ 4 tiến vào Thường Đức. Các Đại Đội 1 và 3 hôm qua đã đến, đang đóng quân gần khu định cư Hà Nha 2. Một cuộc họp khẩn cấp với các Đại Đội Trưởng tại BCH/Tiểu Đoàn.

Địa thế vào quận Thường Đức rất hiểm trở, trên đường di chuyển vào quận bên phải là dãy núi Đồng Lâm ở phía Bắc trải dài đến Ba Khe, bên trái là dòng sông Vu Gia, bên kia sông là vùng Lộc Hiệp mà trước đây TĐ đã từng đóng quân với những dãy núi bao quanh quận Thường Đức.

Nhìn vào trận địa, các cao điểm ở khu Ba Khe đã do CSBV chiếm giữ, muốn giải tỏa quận Thường Đức phải chiếm các cao điểm này. Cộng quân có lợi thế là chuẩn bị trận địa, đem pháo và mở đường vận chuyển vào gần chi khu. Chúng quyết định thời gian tấn công cùng tình báo nhân dân cung cấp cho chúng các đơn vị VNCH đến tham chiến.

Điều bất lợi cho Sư Đoàn 3 là tin tức tình báo không biết rỏ đang đụng độ với các Sư Đoàn Bắc Việt nào, và các đơn vị cộng quân ở cấp nào tham gia, trong lúc quân CSBV mở nhiều cuộc tấn công trên khắp tỉnh Quảng Nam từ Nông Sơn, Đức Dục, Thường Đức và Quế Sơn. Không biết đâu là Điểm đâu là Diện và chiến thuật Công đồn đả viện là bài học quen thuộc của địch quân thường áp dụng trên chiến trường.

(Sau mới biết là 2 Sư Đoàn CSBV 304 Điện Biên và 324. Một Trung Đoàn Pháo Phòng không và các Đại Đội hỏa tiễn SA-7 phòng không, 12 ly7 đã bố trí trận địa, ém quân bao vây mang pháo lên các cao điểm tại khu vực Hà Nha và Thường Đức, Sư Đoàn 304 vây đánh chi khu Thường Đức, SĐ 324 ém quân chờ đánh quân tiếp viện SĐ3 và SĐ Dù.)

                                          Các điểm đóng quân của Cộng quân tại Ba Khe 

Thiếu tá Đàng nhanh chóng phối trí các Đại Đội để chuẩn bị ngày mai sẽ phối hợp với Tiểu Đoàn 2/2 của Thiếu tá Châu Đức Thảo cùng tấn công lên các mục tiêu. BCH nhẹ do Đại úy Hòa cùng đi với Đại Đội 2 của Trung úy Điểu lên đóng quân ở đồi 52.

Trong lúc các Đại Đội di chuyển vào vị trí đã được phối trí, tại khu nhà Thờ gần chợ Hà Nha có một pháo đội 105 ly của Tiểu Đoàn 31 Pháo Binh đang bắn yểm trợ cho quận Thường Đức. Theo tin tức, quận Thường Đức đã bị bao vây, trong đó có Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân, Địa Phương Quân trú phòng, đặc biệt là có những toán thám sát của Sở công tác thuộc Phòng 7 Bộ TTM ở lại trong quận Thường Đức. Tối nay BCH/Tiểu Đoàn đóng quân ở khu vườn trái cây gần đồi 52 và khu trồng mía.

Ngày 31/7, Đại Đội 1 và 3 tấn công vào các mục tiêu, trước đó Pháo Binh đã bắn hàng loạt đạn pháo vào mục tiêu, sau đó là các phi tuần A 37 vào vùng dưới sự hướng dẩn của máy bay quan sát L19 thả bom vào vị trí đóng quân của CSBV ở cao điềm phía trước Đại Đội 1 và 3. Những dàn cao xạ 12 ly 7 đã được CSBV bố trí trên cao điểm bắn lên tưới tấp và hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 nổ tung trên bầu trời của mùa Hè làm nhiệt độ càng thêm nóng hơn.

Rời Đại Đội chỉ huy, Thiếu tá Đàng, Trung úy Hiện và Thiếu úy Thanh cùng toán Biệt Kích di chuyển lên tuyến phía trước, theo sau Đại Đội 1 đến gần trận địa. Các Trung Đội của Đại Đội 1 và 3 đến sát mục tiêu nhưng không lên nổi, vì Cộng quân đã bố trí các hệ thống phòng thủ, hầm hố vững chắc, các dàn pháo SKZ 85 ly bắn yểm trợ cho các chốt của CSBV.

Trận chiến vẫn tiếp diển, các Trung Đội của Đại Đội 1 và 3 cố gắng tấn công chiếm mục tiêu nhưng trở ngại vì bị pháo và súng phòng không của CSBV từ các cao điểm yểm trợ bắn trực xạ, không thể tiến gần được. Trong lúc pháo yểm trợ cho TĐ nhỏ giọt từng tràng rồi ngưng vì các Pháo đội của Tiểu Đoàn 31PB đặt ở Đại Lộc bị các toán đề lô của CSBV phát hiện và phản pháo vào các vị trí này.

Các Trung Đội trên mục tiêu chỉ được yểm trợ bằng cối 81 ly cơ hửu của Tiểu Đoàn. Sau một ngày giao tranh gần đến chiều tối, nhận thấy hỏa lực yểm trợ của Cộng quân rất mạnh, TĐ ra lệnh các Đại Đội tạm ngưng, bố trí lại vị trí phòng thủ cho ban đêm. BCH/Tiểu Đoàn trở lại nơi đóng quân của Đại Đội chỉ huy.

Tối nay trời quang đẳng, nhìn về hướng Tây nơi quận Thường Đức bị bao vây, phi cơ Hỏa Long (AC 119) đang bay vòng phía trên, nhìn thấy những làn đạn của Hỏa Long bắn xuống và những đốm lửa của súng phòng không CSBV từ dưới bắn lên. Số phận của bao nhiêu người lính đang tử thủ trong quận đang tính từng ngày, từng giờ trong khi đoàn quân tiếp viện đang bị các chốt cản trở bước tiến.

Ngày 1/8 các Đại Đội phòng thủ tại chổ, để thăm dò tình hình địch sau một ngày chạm trán, và các Đại Đội bố trí lại hầm hố. Tin cho biết ngày 30/7 khi Tiểu Đoàn 1/57 rời căn cứ Đá Tịnh, tăng phái cho Trung Đoàn 2, ngay sáng sớm hôm sau 31/7, CSBV đã pháo kích vào Lion do Tiểu Đoàn 2/57 của Thiếu Tá Cước trấn giữ và tấn công chiếm Lạc Sơn, đồi 85 và Gia Mộc Xa tại quận Quế Sơn.

Trung Đoàn 2 có kế hoạch tấn công mới, tăng cường thêm Tiểu Đoàn 2/56 của Trung tá Võ Văn Đạt lên phối hợp với Tiểu Đoàn 2/2 và Tiểu Đoàn 1/57 đánh dứt điểm các chốt ở Ba Khe để mở đường vào cứu quận Thường Đức. Đến trưa, Cộng quân pháo đạn 130 ly vào BCH/Tiểu Đoàn đang đóng chung với pháo đội 105 ly. Khi dứt tiếng pháo địch, Pháo đội 105 ly vội vàng kéo 4 cây súng chạy về hướng Đại Lộc, tìm địa điểm khác đặt pháo. Kể từ ngày đó, BCH/Tiểu Đoàn luôn luôn thay đổi vị trí.

Ngày 4/8 theo kế hoạch Tiểu Đoàn 2/56 đánh gở chốt ở Ba Khe, Tiểu Đoàn 2/2 và 1/57 cùng tấn công mục tiêu phía Bắc. Sáng nay Thiếu tá Đàng được Đại tá Ngô Văn Chung (TLP/SĐ3) gặp trên máy và đang ở TOC Trung Đoàn 2, theo dõi trận đánh. Như những ngày trước Đại Đội 1 của Trung Úy Mến và  ĐĐ3 của Trung Úy  Em tấn công sau những đợt Pháo 105 ly và phi tuần A37 tăng cường oanh tạc các mục tiêu từ Ba Khe đến các cao điểm ở phía Bắc

Các binh lính Đại Đội 1 và 3 với những kinh nghiệm gở chốt đã thay đổi nhiều cách đánh cũng không thể nào tấn công lên các mục tiêu đã chỉ định. Các hỏa lực yểm trợ của CSBV phối hợp rất nhịp nhàng đã gây cho một số binh sĩ bị thương do pháo và súng phòng không bắn trực xạ vào các Trung đội của Đại Đội 1 có Thiếu úy Tuế bị thương và các binh sĩ khác. Thiếu úy Đắc (Ban 4) và ĐĐCH của Trung úy Quan Xuân Thắng mấy ngày nay ở phía sau chăm lo cho các binh sĩ bị thương từ các Đại Đội đưa về, và chuyển các binh sĩ bị thương lên xe tản thương của Trung Đoàn 2 về quận Đại Lộc.

Ngày 5/8, Các Tiểu Đoàn không thể nào chiếm được mục tiêu vì hỏa lực yểm trợ của địch quân. Các phi vụ của oanh tạc cơ A37 ưu tiên đến yểm trợ cho các đơn vị tại quận Thường Đức. Thiếu úy Thanh theo dõi phi tuần 2 chiếc A37 đang nhào lộn trên bầu trời tránh đạn phòng không và SA7 để lao xuống thả bom, một chiếc A37 luôn xuống thấp để thả bom và không may bị trúng hỏa tiển tầm nhiệt của CSBV, không thấy pilot nhảy dù ra.(Pilot là Thiếu tá Nguyễn Hữu Thiệt).


Ngày 6/8, Thiếu tá Đàng cho Đại Đội 2 từ đồi 52 đánh sang mục tiêu khác, nhưng cũng không đạt được kết quả gì, có một số binh lính của Đại Đội 2 bị thương trong đó có Thiếu úy Trần Kim Thành. Buổi tối, phi cơ Hỏa Long lại bay quần thảo trên khu vực quận Thường Đức, những tiếng súng nổ như bò hống của AC119 và súng phòng không của quân Bắc Việt nổ như pháo bông trên bầu trời. Hơn 1 tuần trôi qua kể từ khi Tiểu Đoàn 1/57 tham chiến, tại  con đường liên tỉnh lộ 4 đã bị quân CSBV chốt kiềng và bao vây, mọi cố gắng của người lính SĐ3 vào tiếp cứu không thực hiện được.

Ngày 7/8 Tiểu Đoàn 2/56 được lệnh rút khỏi mặt trận Thường Đức. Chỉ còn lại 2 Tiểu Đoàn 2/2 và 1/57 bố trí từ Ba Khe cho đến chợ Hà Nha, song song với liên tỉnh lộ 4, Đại Đội 2 đóng quân trên đồi 52 với BCH nhẹ, Đại Đội 3 đóng quân ngang khu định cư Hà Nha, Đại Đội 1 đóng quân về hướng Bắc, Đại Đội 4 đóng quân tại chợ Hà Nha.  BCH/Tiểu Đoàn và Đại Đội chỉ huy lưu động.

Từ sáng sớm phi cơ quan sát L19 đã bao vùng và các phi tuần A 37 thay nhau đến thả bom yểm trợ cho Tiểu đoàn 79 BĐQ. Mọi ưu tiên hỏa lực đều dành cho Chi khu Thường Đức. Khoảng 10 sáng, những phi vụ oanh tạc A 37 đã ra khỏi vùng và những loạt đạn TOT nổ vang ở hướng Tây tỉnh lộ 4 sau đó im lặng hoàn toàn. Chi khu Thường Đức đã thất thủ, có thể những tràng pháo TOT này các quân nhân tử thủ xin bắn phủ đầu để 2 bên cùng chết.

Quận Thường Đức lọt vào tay CSBV, những áp lực của Trung Đoàn 2 cũng bớt đè nặng lên TĐ 1/57. Tiểu đoàn 2/2 lui về phía sau như vậy chỉ còn Tiểu Đoàn 1/57 trấn giữ đồi 52 và phía Bắc khu định cư Hà Nha, trách nhiệm một khu vực quá dài và rộng cho Tiểu Đoàn tăng phái.

Có một số binh lính BĐQ và ĐPQ đã chạy thoát về đến tuyến của Đại Đội 2. Thiếu úy Thanh tiếp nhận một Thiếu úy của toán Lôi Hổ, thoát thân chạy về kể lại sau 10 ngày bị bao vây, và chống trả nhiều đợt xung phong của Cộng quân miền Bắc, các cứ điểm tiền đồn của BĐQ ở xa đã rút về chi khu Thường Đức để tử thủ. Chi khu đã hứng chịu hằng trăm trái đạn hỏa tiễn 122 ly và 130 ly pháo hàng ngày và binh sĩ của Tiểu đoàn 79 BĐQ phải chống trả những đợt tấn công của CSBV.

Ngày 9/8 - Các Đại Đội 1 và 3 báo cáo có chạm súng và bị pháo kích vào các nơi đóng quân. Trung sĩ 1 Hà (HSQ/B2) đã bị thương khi trúng đạn pháo kích của địch quân. Đại úy Hòa báo về Tiểu Đoàn có Thiếu tá Bùi Văn Thiện Chi huy Đoàn 71 của sở Công Tác, Phòng 7 TTM thoát vòng vây đã về đến BCH nhẹ. Thiếu tá Đàng cho Thiếu Úy Thanh dẫn 2 binh sĩ BK theo tỉnh lộ 4 để đón người Sĩ quan dũng cảm này. Thiếu tá Thiện với hai túi quần chứa đẩy trái cây, nét mệt mỏi không che khuất vẻ hào hùng trên khuôn mặt. Một tô mì gói được mang đến chúc mừng Thiếu tá Thiện trở về sau hơn một tuần mưu sinh thoát hiểm.

Ngày 13/8, BCH/Trung Đoàn 2 thông báo cho Thiếu tá Đàng biết là có toán tiền trạm của Sư Đoàn Nhảy Dù đến gặp Tiểu Đoàn 1/57. Một toán sĩ quan gồm 1 Trung Tá Lữ Đoàn Phó của Lữ Đoàn 1 Nhảy dù và các Đại úy tham mưu lữ đoàn. Sau khi lấy các điểm đóng quân các Đại Đội của Tiểu Đoàn 1/57 và các vị trí đóng quân của CSBV các Sĩ quan nhảy dù cho biết là sẽ thay thế nay mai. Hiện giờ các Tiểu Đoàn Dù đang được đưa vào Đà Nẵng. Với quân số đầy đủ và yểm trợ không hạn chế của Pháo binh Dù, hy vọng sẽ tái chiếm lại Chi khu Thường Đức.

Sau khi chiếm được Chi khu Thường Đức được 1 tuần, CSBV đã có đủ thời gian chỉnh đốn lại hàng ngũ, phối trí trận địa và tăng cường quân số cùng những vũ khí tối tân được khối Cộng Sản viện trợ. Bây giờ là lúc CSBV dồn mọi nổ lực để lấn chiếm xuống khu vực đồng bằng của quận Đại Lộc. Lợi dụng lúc Sư Đoàn 3 phải đối phó với nhiều mặt trận từ Quế Sơn, Đức Dục, Thường Đức và tình báo CSBV được tin Sư Đoàn Nhảy Dù đến tham chiến tại mặt trận Thường Đức và đối đầu với lực lượng hùng hậu nhất của QLVNCH, vì thế CSBV phải thay đổi chiến thuật là tấn công chia cắt Tiểu Đoàn 1/57 chiếm thượng phong trước khi Lữ Đoàn Dù đến thay thế.
Ngay từ sáng sớm, CSBV đã dùng hỏa lực pháo binh bắn vào các địa điểm đóng quân của Đại Đội 3 và Đại Đội 4. Sau đợt pháo yểm trợ, Cộng quân  tấn công vào Đại Đội 3 do Trung úy Em chỉ huy. Bị tấn công, các binh sĩ của Đại Đội 3 đã chống trả đợt tấn công của Cộng quân, đồng thời xin Pháo binh bắn yểm trợ. Với hỏa lực yểm trợ là khẩu SKZ 85 ly, phòng không 12 ly7 từ các cao điểm của Cộng quân, bắn trực xạ vào vị trí bố phòng của Đại Đội 3 gây thiệt hại một số lớn nhân mạng. Thiếu úy Quyết bị tử thương khi Cộng quân tràn vào vị trí phòng thủ của Trung Đội. Pháo binh của Tiểu đoàn 31 đã can thiệp kịp thời chận đứng các đợt xung phong của Cộng quân tại Đại Đội 3.

Cùng thời gian, Đại Đội 4 do Trung úy Nghĩa chỉ huy đóng ở chợ Hà Nha cũng bị CSBV bất ngờ tấn công sau những đợt pháo yểm trợ, lợi dụng những khu nhà dân ở gần khu chợ Hà Nha, Cộng quân đã chia cắt Đại Đội 4 ra từng mảnh nhỏ, các binh sĩ phải tháo lui chạy về tuyến phòng thủ của Đại Đội chỉ huy. Có Thiếu úy Lê Chí Phương Đại Đội Phó (K26ĐL) chạy về băng kín đẩu và một mắt.

Đại Đội 3 của Trung úy Em lui về phòng thủ chung tuyến với Đại Đội chi huy. Đại Đội 1 của Trung úy Mến nằm xa ở phía Bắc, được lệnh kéo về bố trí gần tỉnh lộ 4. Một khó khăn cho Thiếu tá Đàng là BCH nhẹ do Đại úy Hòa và Đại Đội 2 của Trung úy Điểu còn đóng quân ở đổi 52.

Thiếu tá Đàng cho Trung Đội quân báo lên thám sát khu chợ Hà Nha với hy vọng mở đường đến BCH nhẹ và Đại Đội 2. Toán thám sát của Đại Đội chỉ huy trở về báo cáo Cộng quân đang đào hố và bố phòng tại khu chợ Hà Nha nhằm mục đích bao vây, chia cắt với khu đồi 52. Hiện giờ, trong tay của Thiếu tá Đàng chỉ còn Đại Đội 1 của Trung úy Mến tương đối ít thiệt hại dù hơn 2 tuần nay, Đại Đội 1 đã tấn công vào mục tiêu nhiều lần và cũng hứng chịu pháo của Cộng quân.

Có lệnh từ Trung Đoàn 2 là ngày mai Tiểu Đoàn 1/57 về chỉnh trang, Lữ Đoàn Dù đến thay thế. Một thói quen của các Chỉ Huy Trưởng là khi có đơn vị tăng phái đến thường xử dụng đơn vị tăng phái một cách triệt để, nếu có tổn thất đơn vị chính của đơn vị tăng phái chịu thiệt hại và nếu thành công thì đó là Công của đơn vị mình. Chính vì vậy mà Thiếu Tá Đàng đã chịu áp lực của cấp trên và một phần là mới được bổ nhiệm là Quyền Tiểu Đoàn Trưởng nên đã không hành xử một cách nhiều kinh nghiệm như Thiếu tá Huỳnh Bá An hay Trung Tá Võ Văn Đạt ở TĐ 2/56.  

Ngày 16/8. Lệnh từ BTL/ Sư Đoàn cho Tiểu Đoàn 1/57 rời khỏi vùng đóng quân để về TTHL. Sau khi bàn giao vùng trách nhiệm cho TĐ 8 Dù, ngược với hướng về của TĐ 1/57 là các binh lính của TĐ8 Dù đi lên ở 2 bên đường, Cộng quân bắt đầu pháo kích dọc theo đường tỉnh lộ 4, nơi các binh sĩ Dù đang tiến lên.

Đồi 52 thất thủ, chỉ có Chuẩn úy On và Thiếu úy Tú chạy thoát về. Sau cuộc hành quân tại Hà Nha Tiểu Đoàn 1/57 đã bị thiệt hại Đại úy Hòa, Trung úy Ngọc mất tích, Trung úy Điểu bị bắt, Thiếu úy Quyết chết. và một số binh sĩ. Thiếu tá An và Trung Tá Nguyễn Tri Tấn đang học tại Long Thành, được lệnh của Sư Đoàn 3 phải về trình diện gấp sau khi mãn khóa học. Thiếu tá An nhận lại Tiểu Đoàn và Thiếu tá Đàng Tiểu Đoàn Phó.

Thiếu tá Đàng tâm sự “Khi được lệnh bàn giao cho LĐ 1 Dù và về đến TTHL. Tôi có lên trên đồi Hòa Khánh liên lạc với Đ/Úy Hòa đang bị bao vây và tử thủ tại đồi 52, là cấp chỉ huy trực tiếp tôi có trách nhiệm với tổn thất mà đơn vị phải gánh chịu. Tôi đã cố gắng xin các cấp trên can thiệp để đưa ĐĐ2 còn kẹt lại thoát khỏi vòng vây nhưng cố gắng đó không thực hiện được. Khi về đến nhà trong Trại gia binh, nhìn những gia đình thân nhân binh sĩ kéo đến nhà thăm hỏi, tôi có nổi đau của riêng mình.”

Trong chiến sử của Sư Đoàn Dù, với những trận đánh đẩm máu ở cao điềm 1062, các TĐ Dù và Cộng quân thay nhau làm chủ cao điểm 1062, nhưng ngọn đồi 52 vẫn nằm trong tay giặc sau khi ĐĐ2 bị bao vây, thất thủ và cái bẫy nhử mồi ở chốt Ba Khe cửa ngỏ vào quận Thường Đức bị khóa lại. Con đường từ Hà Nha vào quận Thường Đức chưa đến 8 Km sao nhiều gian nan, đắng cay và xương máu người lính đổ xuống.

Thiếu tá An lại một lần nữa xây dựng lại Tiểu Đoàn với quân số mới bổ xung cho ĐĐ2. Sau 1 tuần chỉnh trang TĐ lên đường hành quân tái chiếm lại đồi 85 tại Quế Sơn. Thêm trận chiến cho người lính Tê giác tham gia trong mùa hè 1974.


Hành quân tại Đức Dục.

Trung Đoàn 56 bị thiệt hại nặng ở Đức Dục, BTL/Sư Đoàn 3 đưa Trung Đoàn 57 do Đại Tá Phạm Thế Vinh là Trung Đoàn Trưởng  và Trung Tá Lê Khắc Kha Tr Đ Phó (K19ĐL) vào thay thế Trung Đoàn 56 về chỉnh trang.

Tiểu Đoàn 1/57 được lệnh rời vùng Thanh Quýt để vào mặt trận Đức Dục. TĐ lên núi Dương Thông để nhận bàn giao các vị trí đóng quân và các chốt của một Tiểu Đoàn thuộc Trung Đoàn 54, Sư Đoàn 1 vào tăng phái cho Sư Đoàn 3. Sau một thời gian đóng quân tại núi Dương Thông, Tiểu Đoàn bàn giao tuyến Dương Thông cho Tiểu Đoàn 2/57 về TTHL Sư Đoàn chỉnh trang 2 tuần.

Tại đây TĐ nhận lệnh đón Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra thăm SĐ3BB. Sau khi đọc diển văn Tổng Thống Thiệu đi đến hàng quân của TĐ 1/57, Tiểu Đoàn Dù và TĐ Địa Phương Quân. Buổi lễ kết thúc, Tiểu Đoàn di chuyển về đến TTHL, tập họp lại cho buổi lể bàn giao chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng của Trung tá Huỳnh Bá An và Đại úy Đổ Ngọc Nuôi.
                 
Sau 4 năm làm Tiểu Đoàn Trưởng, Trung Tá Huỳnh Bá An người anh cả của TĐ tiến thân lên chức vụ cao hơn và là lúc mở cửa cho các đàn em có cơ hội nhận thêm trách nhiệm trong TĐ. Các Sĩ quan đàn em xuất thân từ Tê Giác được tiến cử sang làm TĐT hay TĐ phó cho các TĐ khác như Thiếu Tá Cước, Thiếu tá Đàng, Đại Úy Nhạc, Đại úy Hiếu. Trung tá An đã tận tình nâng đở các đàn em và các Sĩ quan ba gai từ các đơn vị khác thải về. Đức tính khiêm tốn, đạo đức và bao dung của Trung tá An được thể hiện là những tờ giấy phạt Trọng cấm từ các ĐĐ đến TĐ không bao giờ được gởi đi mà âm thầm nằm trong ngăn chứa hồ sơ trong bàn làm việc của TĐT tại Hậu Cứ TĐ.

  • Đại úy Đổ Ngọc Nuôi, Tiểu Đoàn Trưởng (từ 1/1975- 29/3/1975).

Đại úy Đổ Ngọc Nuôi (K20ĐL), gia nhập binh chủng Nhảy Dù năm 1966, về Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù. Năm 1968, Trung Tá Nguyễn Viết Cần (em Tướng Nguyễn Viết Thanh) và các Sĩ quan trong Tiểu Đoàn 9 Dù đến vui chơi tại nhà hàng Moulin Rouge đường Trần Hưng Đạo SàiGòn và bắn chết 2 MP Mỹ, Đại úy Nuôi bị kết án tù.

Năm 1971, Sư Đoàn 3 thành lập ở Quảng Trị, để có đủ quân số cung ứng cho Sư Đoàn 3. Bộ TTM ban lệnh ân xá cho các quân phạm đang thụ án, và đưa ra bổ xung quân số cho Sư Đoàn 3. Đại úy Nuôi về Trung Đoàn 2 Bộ Binh. Sau được giao làm Đại Đội Trưởng Trinh Sát 2 và năm 1974 là Tiểu Đoàn Phó của Tiểu Đoàn 1/2 cho Thiếu Tá Nguyễn Tâm Miên (K20ĐL). Được Trung Tá An đề cử với Thiếu Tướng Hinh khi được Tư lệnh hỏi ý kiến.

BCH của Tiểu Đoàn 1/57 có những thay đổi Đại úy Đổ Ngọc Nuôi Tiểu Đoàn Trưởng, Đại úy Hồ Văn Côn TĐ Phó, Trung úy Hiện Trưởng ban 3, Thiếu úy Thanh ban 2, Thiếu úy Đắc ban 4, Trung úy Võ Văn Em chi huy ĐĐ2.

 Hành Quân tại Lộc Hiệp, tiếp cứu Tiểu Đoàn 3/56.

Tiểu Đoàn được lệnh khẩn cấp phải đi Hành Quân tiếp cứu Tiểu Đoàn 3/56 bị CSBV đánh tan tại Lộc Hiệp vào ngày 26 Tết (6/2/75). Tiểu Đoàn chuyển quân đến Đại Lộc, Đại úy Côn chi huy 2 Đại Đội 1 và 3 lội qua sông Thu Bổn  tiến nhanh vào các mục tiêu ngay trong đêm 27 Tết, có thiết vận xa M113 theo sau yểm trợ. Các Đại Đội 2, Chỉ huy và 4 lần lượt tiếp nối đi qua sông và dàn quân theo đội hình chiếm các vị trí thuận lợi.

Các ĐĐ1 của Trung úy Mến và ĐĐ3 của Trung úy Dực đã nhanh chóng tấn công, tiếng súng và tiếng lựu đạn nổ vang dội tại các mục tiêu. Những viên đạn lửa M60 của bộ binh và đại liên 50 trên thiết vận xa M113 bắn vào mục tiêu như những vệt sáng dài bất tận trong màn đêm và chiếc dù hỏa châu của cối 81 ly soi sáng cho binh lính Đại Đội 1 và 3 nhanh chóng thanh toán các mục tiêu và thu lượm vũ khí của địch quân. Các Đại Đội 1 và 3 tiếp tục tiến về mục tiêu phía trước và chiếm lại hẩu hết các vị trí đóng quân của Tiểu Đoàn 3/56 trước khi bị Cộng quân tấn công.

Sau 2 ngày phản công, trưa 30 Tết Tiểu Đoàn 1/57 chiếm lại các phần đất đã mất. Khu định cư bỏ hoang, không có bóng dáng người dân, vườn rau canh tác của người dân vẫn xanh tươi. Một số xác của binh sĩ Tiểu Đoàn 3/56 đã bị địch quân bắn chết, còn nằm trong các hố cá nhân. Trung úy Hiện báo lên TOC Trung Đoàn 57 tất cả mục tiêu đã chiếm lại khu Lộc Hiệp. BCH/Tiểu Đoàn và Đại Đội chỉ huy đóng quân ngoài bìa làng đón giao thừa tối nay.
Sáng mùng 1Tết Ất Mão 11/2/1975. TOC thông báo Đại Tá Vinh sẽ bay CNC và đáp xuống BCH/Tiểu Đoàn, chia sẽ với chiến công trước mắt, Đại tá Vinh rút ra phong thơ lì xì cho các ĐĐT nhân dịp đầu năm. Đến chiều có lệnh bàn giao chiến trường cho Tiểu Đoàn 2/56. Tiểu Đoàn 1/57 di chuyển về khu vực quận Đại Lộc trong đêm và tiếp tế thêm đạn dược làm thành phần trừ bị cho Sư Đoàn.

Tiểu Đoàn 2/56 bị tấn công và thiệt hại, Thiếu tá Huệ (TĐT) bị thương nhẹ. BTL/SĐ3 quyết định đưa 2 Tiểu Đoàn 1/57 và 2/57 vào giải vây khu Lộc Hiệp. Tiểu Đoàn 2/57 và chi đoàn 3/11 vượt sông Vu Gia ở gần núi Đất (đồi 65) tấn công các mục tiêu và chiếm lại khu định cư Phú An. BTL/SĐ3 giao trách nhiệm vùng Lộc Hiệp lại cho Trung Đoàn 57. Tiểu Đoàn 1/57 chuyển quân qua sông Thu Bồn tiếp nhận lại khu vực do Tiểu Đoàn 2/56 bàn giao.

Thi hành Kế hoạch Z36.

Quân Đoàn 2 di tản, Đại tá Vinh Trung Đoàn Trưởng đến Đức Dục họp với Đại úy Nuôi và phóng đồ Z36 được kín đáo vẽ các tuyến lui binh trên bản đồ và bảo mật. Đêm ngày 27/3, Đại Tá Vinh trực tiếp gọi máy cho Đại úy Nuôi và đọc ám số thi hành kế hoạch Z36 (lui binh, cho con cái qua sông).

Đại úy Nuôi gọi các Đại Đội Trưởng lên máy và ra lệnh cho Đại Đội 1 và 2 di chuyển về BCH Tiểu Đoàn. Sau đó ra lệnh Thiếu úy Thanh dẫn 1 binh sĩ Truyền tin và 1 BK qua sông trước, vào Chi khu Đức Dục liên lạc với Trung Tá Lạc Chi Khu Trưởng hội ý với Chi khu lui về tuyến trước và lấy tần số liên lạc của các Trung Đội Nghĩa quân. Các Đại Đội lần lượt qua sông bằng ghe thuyền của dân và TĐ theo con đường song song với đường tỉnh lộ và bờ sông Thu Bồn di chuyển về cầu Tự Do. Trên đường các chốt địch quân nằm bắn sẻ không gây thiệt hại cho TĐ.Theo kế hoạch Tiểu Đoàn 1/57 làm tuyến ngăn chận địch quân tại phía Bắc cầu Tự Do cho Tiểu Đoàn 2/57 từ núi Dương Thông kéo về.

Trên đường lui về tuyến Đại Lộc, Đại úy Côn TĐ phó bị bắn trúng chân và Trung sĩ I Cường BK/ ĐĐ3  tử thương khi dẫn toán lính lên gở chốt. Đến chiều tối, TĐ lại được lệnh di chuyển về tuyến Hiếu Đức trong lúc BCH Trung Đoàn nhiều lần không liên lạc được BTL/ SĐ.

Các đoàn xe GMC chở lính TQLC bỏ tuyến từ núi Đồng Lâm chạy về Đà Nẳng, các TQLC nói xuống tàu vào Nam. Nguời lính truyền tin nằm Relay trên đỉnh Hòa Khánh làm nhiệm vụ lần cuối, nói Tướng Hinh vội vàng lên trực thăng bay ra Sơn Chà, BTL/SĐ không còn ai trách nhiệm và hệ thống truyền tin bị phá hủy.

Trước hậu cứ Trung Đoàn 57 tại ngã 3 Hòa Cầm, Đại Tá Phạm Thế Vinh, người Trung Đoàn Trưởng lấy gia đình làm nền tảng đạo đức, bao dung với thuộc cấp, xem sinh mạng người lính quí hơn tư lợi cá nhân, buồn rầu chia tay khi đem các Tiểu Đoàn trực thuộc về đến hậu cứ. Con Tốt thí 57 trên bàn cờ Z36 đã hoàn thành bước Cản cho các Tư Lệnh xuống tàu vào Nam.

Sự thất vọng, nghi kỵ làm hoang mang mọi người, giờ thứ 25 đang điểm, hình ảnh năm 1972 tại Quảng Trị bây giờ lại tái diển. Người lính già Thường vụ trút cơn phẩn nộ, ném mạnh chiếc nón sắt thân yêu sau những lần đội pháo cứu mạng xuống mặt đất. Các binh lính gốc miền Trung chán nản rời đội hình đi tìm thân nhân, còn lại số lính ở miền Nam bơ vơ bám theo Trung Úy Mến, Trung Úy Em, Thiếu úy Tuế, Thiếu úy Thanh ra bến cảng tìm tàu vào Nam.TĐ1/57 tan hàng và không còn nghe âm vang “Cố Gắng” vọng lại từ đây. Căn cứ Hòa Khánh hảnh diện với các dòng chữ: 3 ĐẸP – 3 GIỎI, có lẽ nên thay thế bằng dòng chữ:“ Hãy LÀM những điều TÔI NÓI. Đừng NÓI những điều TÔI LÀM”.

Thành phố Đà Nẳng bỏ ngỏ cho Cộng quân ngày 29/3/1975. Sau bao năm nguời lính đã đổ máu, dành từng tấc đất trên trận địa, giờ đây chỉ sau 36 tiếng đồng hồ lui binh bỏ ngỏ cho địch quân. Bài học lui binh sao học hoài không thuộc.

Trại Tù Cải Tạo

Trong các trại tù cải tạo Hiệp Đức, các sĩ quan của TĐ 1/57 có Trung úy Mến, Nghĩa, Hiện, Thiếu úy Thanh, Tuế, Đắc. Tại Kỳ Sơn có Thiếu tá Cước, Đàng, Thuận, Đại úy Nuôi, Bảy, Hùng. Tại Bình Điền có Đại úy Côn. Trong Nam có Đại úy Thắng và Trung úy Em. Riêng Trung tá An từ Điện Bàn bị giải ra Bắc vài ngày sau đó.

Sau những năm dài trong tù cải tạo, các Sĩ quan của TĐ 1/57 còn nợ máu lại gặp nhau tập trung tại trại Tiên Lãnh có Thiếu tá Cước, Thiếu Tá Đàng, Thiếu tá Thuận, Đại úy Nuôi và Thiếu úy Thanh. Tại đây Đại úy Đổ Ngọc Nuôi tham gia vào vụ án Thiếu Úy Trần Quang Trân, ráp máy radio nghe lén đài VOA, BBC bị kết án 12 năm tù và chuyển vào trại Z30 Hàm Tân.


Hơn 40 năm sau (2014)

Họ là những người lính cống hiến thời trai trẻ, tham gia vào cuộc chiến chống Cộng Sản xâm chiếm miền Nam. Trãi qua bao nhiêu khổ cực nắng cháy, từ vùng giới tuyến cách ngăn đến Hạ Lào gió lạnh tử sinh trong đạn pháo nổ hay những đồi núi cheo leo nằm cạnh tiếng bom nổ. Những lo sợ, tủi nhục, đày đọa thân xác trong cảnh tù đày khi là Tù Binh, Tù Hàng binh, Tù Tàn binh hay Tù Cải tạo. Họ cũng là người thương binh đã cống hiến một phần thân thể cho cuộc chiến hay những nấm mồ không bia mộ trong đồi núi rừng sâu.

Vận nước nổi trôi, họ là kẻ thua cuộc và trả cái giá “Thua Cuộc” trong trại Tù binh, trại Tù Cải tạo. Có người đem lại mạng sống “đánh cuộc“ sau khi đi tù về, hay vượt đại dương để lánh nạn Cộng Sản. Họ may mắn ra đi, làm việc và xây dựng gia đình nơi quê người sau những năm bị tù đày của chế độ Cộng Sản.

Những người lính của Hắc Long & Tê Giác là chứng nhân những trận chiến năm xưa, giờ đây có người vào tuổi Hạc, tuổi ”Cổ lai hy” hoặc có người bắt đầu xếp hàng nhận lại tiền hưu, sau những năm dài đóng góp khi làm việc, an bình trên đất khách quê người. Cũng có người tuổi đã già, không được hưởng nhàn và vẫn đang làm việc để kiếm miếng cơm hàng ngày tại Việt Nam và có người không chết bởi bom đạn, tù đày, biển cả đại dương nhưng ngã gục vì ung thư hoàng hành trong cơ thể.

Tuổi già an nhàn trong cuộc sống, đôi khi những quá khứ một thời chinh chiến được gợi nhớ trong hình ảnh, qua bài viết đọc trên internet, qua điện thoại thăm hỏi sức khỏe và email đã kết nối họ với nhau trong tình chiến hữu của gia đình Hắc Long & Tê Giác.

Mủi tên đỏ trên đầu con rồng đen được đổi thay bằng 9 đường theo vòng Sinh, Lão, Bệnh, Tử và kết thúc bằng chữ Sinh trên sừng Tê Giác.

Ngàn năm chiến sử còn in dấu
Một thuở oai hùng tạc đá ghi
Quê Mẹ từ đây xa cách mãi
Đất lành tạo dựng hướng tương lai.


Untold story by Thanh Trinh Le
Chuyện bây giờ mới kể - Silicon Valley, Mùa Thu 2014.


THƯỜNG ĐỨC: TRẬN ĐÁNH QUYẾT ĐỊNH SỐ PHẬN CỦA MIỀN NAM !
Lữ Giang
Nói đến ngày 30.4.1975 và những ngày cuối cùng của Miến Nam Việt Nam mà không nói đến trận đánh Thường Đức là một thiếu sót rất lớn, vì đây là trận đánh quyết định số phận của Miền Nam Việt Nam.
Người Pháp, chính phủ Ngô Đình Diệm và người Mỹ đều thấy rất rõ rằng nếu không giữ được cái chốt Thường Đức ở phía tây Đà Nẵng, Cộng quân sẽ từ vùng rừng núi cao ở Thừa Thiên đổ xuống Quảng Nam theo con đường 14 do Pháp thành lập dọc theo dãy Trường Sơn, rồi tiến đánh Cao Nguyên Trung Phần và toàn Miền Nam, do đó họ đã thiết lập và duy trì những căn cứ rất vững chắc ở Thường Đức, không cho Cộng quân đi lọt qua. Lúc đó, muốn đi vào Cao Nguyên hay miền Nam, Cộng quân phải làm con đường Tây Trường Sơn trên đất Lào rồi đổ xuống vùng Tam Biên hay Kampuchia. Đây là con đường rất dài, hiểm trở và không thể đặt ống dẫn dầu… nên khó chuyển quân và tiếp liệu nhanh để đánh lớn được.
Nhưng sau khi Mỹ đi rồi, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật, không có tầm nhìn chiến lược nên coi thường cái chốt Thượng Đức. Các tài liệu được tiết lộ sau này còn cho thấy Tướng Ngô Quang Trưởng chẳng những không quyết tâm giữ Thường Đức mà còn muốn bỏ mất cái chốt này để Cộng quân có thể đưa lực lượng xuống miền Nam, làm nhẹ áp lực quân sự tại hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, nơi ông đang có trách nhiệm bảo vệ!
REPORT THIS AD

Sơ lược kế hoạch của Hà Nội
Như chúng tôi đã trình bày nhiều lần, các tài liệu cho biết sau khi ký Hiệp Định Paris, Hà Nội đã lập ngay kế hoạch đánh chiếm Miền Nam, kế hoạch đó có thể được tóm lược như sau: Đưa quân vào Phước Long và Bình Long rồi đánh thẳng vào đầu não của miền Nam là Sài Gòn, bỏ qua các tỉnh miền Trung. Muốn đưa quân vào hai tỉnh này, Hà Nội phải cho khai thông con đường 14 từ Nghệ An đến Phước Long dài khoảng 1.380km. Hà Nội cho biết nếu phải vận chuyển bằng con đường Tây Trường Sơn trên đất Lào, từ Nghệ Tĩnh vào đến Pleiku, quân đội Miền Bắc phải mất ít nhất 6 tháng. Trái lại, nếu vận chuyển bằng đường 14, thường được gọi là đường Đông Trường Sơn, trên lãnh thổ Miền Nam, chỉ mất có một tháng. Trong cuốn “Đại Thắng Mùa Xuân” xuất bản năm 1976, Tướng Văn Tiến Dũng đã viết:
“Một vấn đề then chốt là phải có hệ thống đường cơ động tốt. Công trình xây dựng con đường chiến lược Đông Trường Sơn bắt đầu từ năm 1973, hoàn thành đầu năm 1975 được xúc tiến với nhịp độ hết sức khẩn trương nối liền từ đường số 9 (Quảng Trị) vào đến miền Đông Nam Bộ là công trình lao động của hơn 30.000 bộ đội và thanh niên xung phong, đưa tổng số chiều dài đường chiến lược và chiến dịch, cũ và mới, làm trong suốt cuộc chiến tranh lên hơn 20.000 kilô mét…
“Dọc theo đường chiến lược Đông Trường Sơn là hệ thống 5.000 kilô mét ống dẫn dầu kéo dài từ Quảng Trị qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh, vượt cả sông, suối sâu, núi cao, có ngọn hơn 1000 mét, đủ sức tiếp dầu cho hàng chục ngàn xe các loại vào, ra trên đường…”
REPORT THIS AD

Muốn thực hiện kế hoạch này, công việc đầu tiên là phải phá bỏ cái chốt Thường Đức ở phía tây Đà Nẵng, sau đó là cái chốt Đức Lập ở phía tây Ban Mê Thuột.
Tầm quan trọng của Thường Đức
Khúc đường 14 từ Thừa Thiên vào Quảng Nam – Đà Nẵng rất hiểm trở, phải đi qua hai thung lũng và vực sâu thuộc A Lưới và A Shau (còn gọi là A Sao hay A Sầu) thuộc tỉnh Thừa Thiên, nằm kẹp giữa dãy Động Ngài ở phía đông với độ cao trung bình trên 1.000m và dãy A Bia ở phía tây cao gần 2.000m. Độ cao của hai thung lũng này cách mặt biển khoảng 800m.
Biên giới giữa Thừa Thiên và Quảng Nam – Đà Nẵng dài khoảng 112km tính từ biên giới Lào đến Biển Đông. Phần biên giới giáp với Quảng Nam dài 56,66km, chận ở giữa là hòn Hói cao 1.166m. Phần giáp với Đà Nẵng dài 55,82km có các đỉnh của dãy Bạch Mã ở phía nam quận Phú Lộc cao 1712m và gần Lăng Cô cao 1528m.
Muốn từ Thừa Thiên vào Quảng Nam – Đà Nẵng chỉ có hai con đường: Muốn đi vào Đà Nẵng phải đi theo quốc lộ 1 qua đèo Hải Vân nằm sát biển. Con đường này đang do Quân Lực VNCH trấn giữ. Muốn xuống Quảng Nam Cộng quân phải đi từ thung lũng A Lưới, A Shau, đến A Đớt thì vòng qua lãnh thổ Lào khoảng 10km rồi quẹo vòng lại và vượt đèo A Yên trên Trường Sơn để vào A Tep (bản đồ Mỹ ghi là Ai Yin Young) thuộc tỉnh Quảng Nam. Qua khỏi A Tep là thung lũng Hiên (người Pháp gọi là Prao) và Giằng. Phía tây Hiên có núi cao đến 1644 m. Hiên và Giằng cách nhau khoảng 40km. Nay khúc đường 14 này đã được Hà Nội sửa lại, cho chạy qua hai hầm A Roàng 1 và A Roàng 2 để chui qua Trường Sơn rổi xuống A Tep, không phải đi qua đất Lào như trước nữa. Ngoài hai con đường đó, không còn con đường nào khác.
REPORT THIS AD

Hiên và Giằng lúc đầu thuộc huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Thời Pháp thuộc, khi làm con đường 14 đi sát chân dãy Trường Sơn, Pháp nhận thấy Hiên và Giằng là điểm chiến lược quan trọng để bảo vệ an ninh, nên đã thiết lập liên tỉnh lộ 4 dài khoảng 40km, nối quốc lộ 1, khúc Điện Bàn, với Giằng ở ngã ba quốc lộ 14 để khi hữu sự có thể điều quân một cách nhanh chóng. Năm 1937, Pháp đã lập Căn Cứ số 6 (Poste No 6) tại đây và làm thêm liên tỉnh lộ 13 dài khoảng 50km, vượt qua một con đèo quanh co khoảng 20 km giữa những cánh rừng nguyên sinh, nối liền Giằng với cửa khẩu Dak Ta Ooc nằm giữa biên giới Lào –   Việt, ở độ cao 1.200m, để chế ngự cả vùng phía tây và tây bắc của Quảng Nam – Đà Nẵng.
Sau khi Hà Nội thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để đánh chiếm Miền Nam, ngày 31.7.1962, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã ký Sắc Lệnh số 162-NV tách tỉnh Quảng Nam thành hai tỉnh là Quảng Nam và Quảng Tín để bảo vệ an ninh. Tỉnh Quảng Nam gồm 9 quận và tỉnh Quảng Tín 6 quận. Tại tỉnh Quảng Nam, chính phủ quan tâm đến vùng Hiên và Giằng thuộc quận Đại Lộc, nên đã tách hai vùng này ra khỏi quận Đại Lộc và thành lập một quận riêng gọi là quận Thường Đức (trong văn kiện chính thức là Thường Đức chứ không phải Thượng Đức). Quận lỵ và Chi Khu quận Thường Đức được đặt tại thôn Hà Tân, xã Đại Lãnh, nơi ngã ba sông Côn gặp sông Vu Gia, cạnh liên tỉnh lộ 4. Sở dĩ chính phủ Ngô Đình Diệm cho thành lập quận này là để cắt đứt con đường 14, không cho Cộng quân di chuyển vào Nam.
Không cần có sự đồng ý của chính phủ Phan Huy Quát, ngày 8.3.1965 Hoa Kỳ bắt đầu đổ 1.500 thủy quân lục chiến vào Đà Nẵng và ngày 7.5.1965 đưa thêm 3 tiểu đoàn nữa đến lập căn cứ Chu Lai. Quân đội Hoa Kỳ và Quân Lực VNCH quan tâm ngay đến việc củng cố căn cứ Thường Đức. Một hệ thống công sự liên hoàn đã được xây tại đây gồm 35 lô cốt lớn và hầm ngầm bằng bê tông cốt sắt hai tầng với hàng chục lô cốt tiền đồn và ụ súng nửa chìm nửa nổi ở chung quanh. Khi cuộc chiến xảy ra, mọi hoạt động đều có thể được vận hành ở dưới mặt đất.
REPORT THIS AD

Hoa Kỳ không phải chỉ thành lập những tiền đồn để chận Cộng quân ở Thường Đức, mà còn lập nhiều tiền đồn ở thung lũng A Shau, A Lưới trong tỉnh Thừa Thiên, nơi khúc đường 14 đổ xuống Hiên và Giằng. Trước đó, chính phủ Ngô Đình Diệm đã cho mở đường 12 từ Huế lên A- Lưới dài khoảng 40km. Quân lực Mỹ đã chiếm điểm cao 935 ở A Shau, có tên là đồi A Bia, và xây dựng căn cứ hoả lực Ripcord tại đây với 1 đại đội pháo 105mm và 1 đại đội cối 106,7mm. Hai tiểu đoàn 2/502 và 2/506 thuộc Sư đoàn Không vận 101 được đưa tới hợp với quân lực VNCH giữ các cứ điểm này. Hai phi trường quân sự đã được xây dựng, một ở A Lưới và một ở A Shau. Tại đồi 935, thường được người Mỹ gọi là “Hamburger Hill” (Đồi Thịt Băm), đã xảy ra một trận đánh gay cấn giữa quân đội Mỹ và Sư Đoàn 324B của Cộng Quân từ ngày 1 đến 23.7.1970. Cựu Ngoại trưởng Colin Powell của Mỹ, lúc đó là Đại úy Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 đóng tại A Shau, đã bị sập hầm chông tại đây. Sau khi rải chất da cam làm trụi lá, B.52 cũng đã được điều động hằng chục lần đến rải thảm phá nát khu rừng hai bên đường 14 từ A Lưới đến Thường Đức.
Một vài nét về địa hình và lịch sử nói trên cũng đủ cho chúng ta thấy khúc đường 14 từ A Lưới, A Shau và cái chốt Thường Đức quan trọng như thế nào đối với chiến tranh Việt Nam. Nhưng sau Hiệp Định Paris, nhất là sau khi quân đội Mỹ rút đi, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Ngô Quang Trưởng không có tầm nhìn chiến lược, đã bỏ ngỏ con đường 14 từ Đồng Hà đến Thường Đức và coi thường cái chốt Thường Đức.
Chuẩn bị đánh Thường Đức
Trong hai năm 1969 và 1970 Cộng quân đã hai lần tấn công Thượng Đức nhưng không kết quả, vì lúc đó lực lượng VNCH còn được Mỹ yểm trợ.
Vào tháng 6/1974, lúc đó kẻ viết bài nầy và một số ký giả đang ngồi uống cà phê ở Sài Gòn thì một tùy viên quân sự Mỹ đến và nói họ muốn đưa chúng tôi ra Đà Nẵng để quan sát một mặt trận quan trọng sắp xảy ra. Họ đưa chúng tôi lên máy bay đi Đà Nẵng rồi từ phi trường Đà Nẵng được trực thăng đưa lên Thường Đức. Tại một hầm chỉ huy, chúng tôi được ngồi nghe trình bày về các hoạt động của Cộng quân chung quanh căn cứ Thường Đức. Sau này chúng tôi mới biết đó là hầm của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 79. Tiếp theo, chúng tôi được trực thăng chở bay quanh Thường Đức một vòng để chỉ cho thấy những vùng Cộng quân đang làm đường và đặt ống dẫn dầu… Chúng tôi có hỏi tại sao không phá đi thì được trả lời rằng đã cho phá nhiều lần, nhưng phá xong chúng lại làm lại. Chỉ có B.52 mới phá hủy hết được, nhưng B.52 không còn. Thì ra tùy viên quân sự Mỹ đã dùng các ký giả để báo động cho Quân Đoàn 1 biết Cộng quân sắp đánh Thường Đức, nhưng Tướng Ngô Quang Trưởng hình như chẳng quan tâm gì.
Thượng Đức có địa hình rất hiểm trở, ba bề là núi cao, dốc đứng hay sông bao bọc. Phía tây dựa vào dãy Trường Sơn với nhiều vách đá dựng đứng, phía nam và đông bắc được bao bọc bởi hợp lưu của sông Vu Gia và sông Côn. Mỹ đã xây sẵn các tiền đồn ở xa để bảo vệ và phát hiện Cộng quân từ xa.
Lực lượng phòng thủ Thường Đức được đóng trên hai ngọn đồi nằm kế cận với nhau như hình con số 8, bên lớn bên nhỏ, theo trục đông tây. Quận lỵ Thường Đức đóng ở đồi nhỏ phía tây do một các toán quân địa phương bảo vệ. Thiếu Tá Quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng mới 30 tuổi làm Quận Trưởng và Đại úy Vũ Trung Tín làm Phó quận. Tiểu đoàn 79 thuộc Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân đóng ở đồi lớn phía đông, sau lưng quận lỵ. Đây là một căn cứ do quân đội Mỹ thiết lập trước đây để làm nơi xuất phát của những đơn vị Nhảy Toán. Đến ngày 14.11.1970, sau khi Mỹ rút, căn cứ này được chuyển giao cho TĐ 79/BĐQ. Vì là hậu cứ nên ít khi quân của tiểu đoàn này có mặt tại đây. Thỉnh thoảng mới thấy các đại đội của tiểu đoàn này về đây nghỉ dưỡng quân vài tuần sau những cuộc hành quân khắp Quân Khu 1. Tiểu đoàn thường chỉ để lại đây một trung đội với khoảng vài chục binh sĩ để quản trị hậu cứ.
REPORT THIS AD

Tiểu đoàn 79 BĐQ do Thiếu Tá Hà Văn Lầu 35 tuổi làm Tiểu Đoàn Trưởng, thuộc quyền điều khiển của Trung Tá Chương Thanh Tòng, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 14 BĐQ. Khi nghe tin Cộng Quân sắp tấn công Thường Đức, cả 4 đại đội của Tiểu đoàn 79 được lệnh trở về hậu cứ. Nhưng Trung Tá Tòng quyết định giữ lại 50 người của Đại Đôi 1 để bảo vệ an ninh Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đang đóng tại Núi Đất, nên Đại Đôi 1 trở thành đại đội thiếu. Điều này chứng tỏ Tướng Ngô Quang Trưởng chẳng chú ý gì đến việc bảo vệ Thường Đức.
Trận đánh Thường Đức
Dựa trên tài liệu “Vietnam from Cease-Fire to Capitulation” (Từ Đình Chiến đến Đầu Hàng) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ do Đại Tá William E. Le Gro biên soạn, và dựa trên sự tường thuật của các nhân chứng của cả hai bên, chúng tôi xin tóm lược về trận đánh chiếm Thường Đức như sau:
Tài liệu của Cộng quân cho biết lực lượng tham chiến ở Thượng Đức chủ yếu là Sư đoàn 304 (thiếu Trung đoàn 9) do Thượng Tá Lê Công Phê làm Sư đoàn trưởng, được tăng cường bởi Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 324, Tiểu đoàn 1 thuộc Lữ đoàn 219 Công binh, hai Đại đội Tên lửa A72 và B72 của Quân đoàn 2, 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương, một tiểu đoàn đặc công của Quân khu 5, sau đó được tăng cường thêm một đại đội bộ binh có xe tăng và hỏa lực pháo binh. Quân đoàn 2 Cộng quân đã tổ chức một bộ phận tiền phương đi cùng Sư đoàn 304 do Đại tá Hoàng Đan, Phó tư lệnh Quân đoàn phụ trách. Như vậy Đại Tá Hoàng Đan là người chỉ huy mặt trận.
Lực lượng phòng thủ của Quân Lực VNCH gồm có Tiểu đoàn 79 BĐQ, 1 đồn biên phòng, 1 đại đội bảo an, 17 trung đội dân vệ, 1 trung đội pháo binh 105mm, 1 trung đội cảnh sát dã chiến và 1 trung đội thám báo. Toàn bộ lực lượng khoảng 950 người do Thiếu tá Quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng chỉ huy.
REPORT THIS AD

Nhìn tương quan lực lượng chúng ta có thể thấy Thường Đức sẽ bị thua, nhưng vì các công sự ở đây được xây rất vững chắc và các binh sĩ quyết tâm chiến đấu nên việc đánh chiếm không dễ. Lực lượng trong hậu cứ của Tiểu đoàn 79 được phối trí như sau: Đại đội 2 đối phó ở hướng tây bắc, Đại đội 3 hướng đông bắc và Đại đội 4 hướng đông nam, nơi giáp lưng với Văn phòng Quận và là Chi khu Thường Đức. Trên ngọn đồi kế cận nhỏ hơn, về hướng tây, là nơi đóng quân của Đại đội 1.
Lúc 5 giờ sáng ngày 28.7.1974 Cộng quân bắt đầu pháo kích dữ dội vào Thường Đức. Mặc dầu Cộng quân chuyển quân cấp sư đoàn rất rầm rộ, có cả chiến xa và xe vận tải, không có tin tình báo nào dự báo Cộng quân có thể tấn công Thường Đức vào ngày đó và cũng không có lệnh tăng cường phòng thủ Thường Đức.
Buổi tối trước ngày bị tấn công là ngày Trung đội 1 của Đại đội 1 đến phiên trực có nhiệm vụ đi ra nằm tiền đồn bên ngoài phạm vi phòng thủ, cách nơi Đại đội đóng khoảng 1km. Ở đây chỉ có năm ba cái hầm nổi được bao bọc chung quanh và trên đầu bằng những bao cát. Nhiệm vụ của tiền đồn là quan sát và báo cáo tình hình. Ngay từ cuộc pháo kích đầu tiên, trung đội này bị tấn công nặng, không rút lui được. Phải đợi dứt pháo mới rút dần về.
REPORT THIS AD

Sáng 30.7.1974, Đại úy Chi Khu Phó Thường Đức bị thương do pháo kích, nhưng các cuộc tấn công của Cộng quân đều bị đẩy lui. Sau đó, phi cơ quan sát của Không Quân nhìn thấy một đoàn xe của Cộng quân đang di chuyển trên liên tỉnh lộ 4 ở phía tây Thường Đức, liền gọi phi cơ đến oanh tạc, phá hủy được 3 chiến xa và nhiều xe vận tải khác.
Ngày 31.7.1974, Cộng quân bắt đầu cho bộ đội tấn công vào Thường Đức. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 79 gọi pháo binh bắn trọng pháo vào ngay Bộ Chỉ Huy của tiểu đoàn. Điều này chứng tỏ Cộng quân đã tràn ngập căn cứ của tiểu đoàn. Được tin này, Tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư Lệnh Sư  Đoàn 3,  quyết định cho Trung Đoàn 2 thuộc Sư Đoàn  này đang ở phía tây Đại Lộc tiến theo liên tỉnh lộ 4 đến giải cứu Thường Đức, nhưng không tiến được. Tướng Hinh phải đưa đại bác 175 ly vào Hiếu Đức để bắn yểm trợ cho Thượng Đức, trong khi đó Không Quân cho máy bay đến oanh tạc vòng đai quanh Thượng Đức. Cộng quân đã thất bại nặng trong đợt tấn công này. Chúng ta hãy nghe một đoạn trong bài “Trận Thượng Đức” của tác giả Trần Hoàng Tiến đăng trên báo Quân Đội Nhân Dân:
“Ta bị thương vong nhiều mà hàng rào vào quận lỵ vẫn chưa mở hết được. Trung tướng Phạm Xuân Thệ, nguyên Tham mưu phó Trung đoàn 66 bồi hồi: “Khi mở cửa, đơn vị bị tổn thất khá nặng nề. Một số thương binh nằm ngay trước cửa mở, có anh em hy sinh, người nằm vắt trên hàng rào của địch. Càng đau xót, càng căm thù địch sâu sắc, quyết tâm chiếm bằng được mục tiêu, trả thù cho đồng đội”.
REPORT THIS AD

Sau đó, Cộng quân đã thay đổi chiến thuật bằng cách đưa pháo chống tăng loại 76,2 mm và cao xạ 37 mm lên đồi cao, bắn thẳng vào lỗ châu mai giống như khi đánh Điện Biên Phủ. Để làm được việc này, Cộng quân đã huy động 300 dân và bộ đội đưa pháo lên điểm cao 500 mét. Đến nửa đêm 5.8.1974, lúc đầu, các khẩu đại pháo và hỏa tiễn đa nòng đã bắn vào căn cứ Tiểu đoàn 79 như mưa. Các binh sĩ trong căn cứ đã lui vào cố thủ trong hầm ngầm, lô cốt…  Cộng quân liền ra lệnh cho  các pháo trên đồi hạ tầm và bắn thẳng vào các lỗ châu mai. Ngay từ loạt đạn đầu, Thiếu tá Quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng đã bị trúng đạn và bị thương nặng. Chúng ta hãy nghe các chiến binh của Tiểu đoàn 79 kể lại:
“Từ trên cao độ, Cộng quân cho pháo bắn thẳng xối xả vào những hầm hố nào còn nhô ra trên mặt đất. Gồng mình hứng trận đòn thù. Lần này chúng tôi có cảm giác họ muốn chôn sống những ai còn lại. Họ muốn dùng hầm hố và giao thông hào làm mồ chôn chúng tôi.
“Dù có thành đồng cốt sắt cũng không làm sao có thể đứng vững trước sự tàn phá khủng khiếp này. Lần lượt, từng cái hầm bị sụp đổ. Từng đoạn giao thông hào bị san bằng. Một trái pháo nổ ngay trên bờ hầm của Trung Úy Tẩm, Đại Đội Trưởng Đại Đội 1, máu từ đầu ông chảy xuống che khuất một bên mắt…”
REPORT THIS AD

Tiểu đoàn 79 có nhiều người bị thương nên đã yêu cầu cho trực thăng đến chuyển thương, nhưng Không Quân trả lời rằng chỉ khi nào diệt xong các ổ súng phòng không của Cộng quân quanh Thường Đức, trực thăng mới có thể hạ cánh được.
Điều đáng ngạc nhiên là trong khi mặt trận đang diễn biến, Quân Đoàn I có một phi đoàn rất  lớn ở Đà Nẵng, có những toán thám báo hoạt động rất xuất sắc…, nhưng khi Cộng quân xử dụng  trên 300 dân làng và bộ đội kéo pháo lên núi quanh Thường Đức cao 500m để tấn công Tiểu Đoàn 79,  Bộ Chỉ Huy Quân  Đoàn không hay biết gì hết.  Điều này chứng tỏ Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn 1 ít quan tâm đến trận Thường Đức. Khi thấy tình hình nguy ngập, Tướng Ngô Quang Trưởng  mới đưa ra biện pháp đối phó, nhưng  quá muộn và không hiệu quả: Ra lệnh cho một Chi Đội Thiết Giáp M-48 đang đóng ở Tân Mỹ, Thừa Thiên, di chuyển ngay vào Đà Nẵng để giải cứu Thường Đức. Ngày 1.8.1974, khi Chi Đội M-48 vừa đến Đà Nẵng, Tướng Hinh liền cho thiết lập một lực lượng đặc nhiệm gồm có Trung Đoàn 2 Bộ Binh và Thiết đoàn 11 Kỵ Binh đi tái chiếm Thường Đức, nhưng lực lượng này không tiến lên được.
Ngày 5.8.1974, Tướng Hinh liền cho Tiểu Đoàn 2 thuộc Trung Đoàn 2 và Tiểu Đoàn 1 thuộc Trung Đoàn 57 tiến chiếm Đồi 52, nhưng khi còn cách đồi này khoảng 4 cây số thì phải dừng lại vì pháo của Cộng quân quá mạnh. Trong khi đó, Trung đoàn 66 thuộc Sư Đoàn 304 của Cộng quân bắt đầu tấn công vào Thường Đức. Tiểu đoàn 79 cho biết đạn dược và lương thực bắt đầu cạn. Một chiếc A.37 đến thả xuống một gói đồ tiếp tế nhưng bị bay ra ngoài. Chiếc máy bay này quay trở lại thì bị bắn rơi.
REPORT THIS AD

Ngày 6 và đêm 7.8.1974, Cộng quân pháo khoảng 1200 trái pháo vào căn cứ Thường Đức, sau đó cho bộ đội tràn vào. Lúc 8 giờ 30 sáng ngày 7.8.1974, Tiểu Đoàn 79 thông báo không còn giữ căn cứ được, phải rút lui và cắt đứt liên lạc. Thường Đức hoàn toàn bị thất thủ. Thiếu tá Hà Văn Lầu và Phó quận Vũ Trung Tín bị bắt sống. Thiếu tá Quận Trưởng Nguyễn Quốc Hùng tự sát. Sau đó Đại úy Vũ Trung Tín cũng tự sát.
Một số binh sĩ của Tiểu Đoàn 79, Nghĩa Quân, Địa Phương Quân, Cảnh Sát, Cảnh Sát Dã Chiến, Nhảy Toán… đã chạy thoát được và di chuyển xuống làng, dân chúng thấy liền chạy theo. Đến bờ sông Côn thì không thể di chuyển được nữa. Hai chiếc ghe chở hai nhóm quân nhân qua sông trước làm đầu cầu. Một số nhỏ Cộng quân đang đuổi theo nên phải vừa đi vừa đánh, dân chúng và những người bị thương theo sau… Ba ngày sau mới đến được Hà Nha. Ở đây rất bình yên, gần như không biết đang có chuyện gì xảy ra. Trên đoạn đường từ Hà Nha về tới Đại Lộc, chẳng thấy một sự kiện nào chứng tỏ rằng đang có những toan tính tiếp viện hay giải vây Chi Khu Thường Đức.
Chủ trương của tướng Ngô Quang Trưởng ?
Sau khi chiếm được Thường Đức, Cộng quân khai thông đường 14, sửa chữa đường, làm cầu, đặt ống dẫn dầu, chuyển quân và vũ khí vào Cao Nguyên và miền Nam bằng xe. Theo con đường 14, từ Thường Đức đi qua mật khu Hiệp Đức, đến Khâm Đức (Phước Sơn) thì vòng lên Kontum, nhưng đến Ngọc Hồi ở phía bắc Kontum, Cộng quân phải dừng lại. Tại đây Quân Lực VNCH đang đóng trên quốc lộ 14 từ Ngọc Hồi đến Ban Mê Thuột. Cộng quân phải mở con đường khác ở trong rừng được gọi là đường 14B vào gần sát biên giới Lào để chuyển quân xuống Đức Lập ở phía tây Ban Mê Thuột. Lúc đó Cộng quân có thể chuyển quân qua Vùng I Chiến thuật từ Khe Sanh đến Khâm Đức như chỗ không người!
Như chúng tôi đã nói ở trước, Tướng Ngô Quang Trưởng chẳng những không nhận ra được tầm quan trọng của việc giữ chốt Thường Đức mà còn muốn mở thông con đường này cho Cộng quân chuyển xuống miền Nam để Vùng I của ông khỏi bị áp lực nặng!
Một phi công A-37 đã cho chúng tôi biết khi anh đang bay  đi oanh kích  trên vùng Thường Đức, anh thấy một đoàn xe của Cộng quân đang di chuyển trên đường 14, anh đã cho máy bay lao xuống bắn cháy, nhưng sau đó anh bị Tướng Trưởng ra lệnh phạt trọng cấm. Trong cuốn “Cảnh Sát hóa, quốc-sách yểu tử của Việt Nam Cộng Hòa” xuất bản 2002 (trang 243) và trong bài “Từ Phi Trường Đà-Nẵng ra sân bay Gia-Lâm” ông Lê Xuân Nhuận, Chánh Sở Cảnh Sát Khu I, cũng đã kể lại lời tiết lộ của Đại Tá Hoàng Mạnh Đáng, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 1 như sau:
REPORT THIS AD

“Ngồi ở phòng giấy của đại tá Đáng, chúng tôi có dịp nghe + thấy thêm được đôi điều. Tỷ như có lần, đầu năm 1975, nghe điện thoại xong, ông bảo bên kia chờ máy, để ông vào trình Trung Tướng. Ông qua phòng giấy Tướng Ngô Quang Trưởng, trình xong, về trả lời người bên kia:
– Trung tướng chỉ thị anh em Không Quân, khi thấy xe tăng, xe tải, bộ đội của chúng di chuyển trên đường mòn Hồ Chí Minh, dù ở trong tầm oanh kích của ta thì cũng đừng hành động gì, cứ để cho chúng tiếp tục chuyển quân vào Nam…”
Một vài nhà quân sự đã nhận định rằng Tướng Ngô Quang Trưởng chỉ huy từ cấp Trung Đoàn trở xuống rất xuất sắc. Nhưng việc chỉ huy một Quân Đoàn đã vượt khỏi tầm nhìn và khả năng của ông.
REPORT THIS AD

Năm 1981 Hà Nội đổi quận Thường Đức thành huyện Giằng và thành lập thị trấn Thạnh Mỹ  nằm dọc theo  quốc lộ 14, cách Bến Giằng khoảng 10km.    Quận lỵ Thường Đức cũ nay thuộc xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc. Năm 1999, Hà Nội biến vùng Hiên – Giằng thành 3 huyện: Hiên thành Đông Giang và Tây Giang, còn Giằng là Nam Giang. Thường Đức không còn nữa.
Ngày 5.4.2015
Lữ Giang
Đón xem: Cuộc tái chiếm Thường Đức thất bại, Sư Đoàn Nhảy Dù bị tổn thất nặng.
(Nguồn: http://vietnamdefence.info)

Trời mưa Thượng Đức trời mưa, quân đi Đại Lộc trời mưa cũng đành

Trung Hậu
 Trời mưa thượng đức trời mưa
quân đi đại lộc trời mưa cũng đành
“áo đường xa thương lính…lính thương quê…vì đời mà đi” – nhạc Trúc Phương.
Từ phi trường Đà Nẵng đoàn GMC xuôi hướng Tây nam nhắm về Hòa Vang, Đại Nghĩa.
Hắn chen ra phía sau xe chong mắt nhìn về Thành phố. Năm cây số sau lưng là nơi hắn lớn lên, xóm cũ, con đường Yên Bái, ngôi trường Phan Chu Trinh. Phía bên phải là ngã ba Cây Lang, nhà bác Liếu ở hẻm tê tề. Ra chút nữa là đường đi Huế, hôm nay Hải Vân mây nhiều như muôn thuở. Nhà ba mạ hắn ở bên kia đèo. Thời gian này là tháng Bảy, 74, có ai biết hôm nay đơn vị hắn đi vô Thượng Đức.
Qua ngã ba Huế, đoàn xe rẽ trái bắt qua QL14 đi về Đại Nghĩa. Những thôn làng quen thuộc. Có một mùa Hè nọ, hắn theo đứa bạn về quê ở đây chơi. Những buổi trưa trong vườn leo cây hái mận non chấm muối ớt. Nằm võng đọc thơ Mường Mán. Lớn lên đứa bạn đi theo phản chiến rồi bỏ vô bưng. Năm 1972, đôn quân, hắn con nhà nghèo đâm đơn đi lính.
Khi qua sông Cầu Đỏ, không khí bình an của Thành phố mất hẳn. Tiếng pháo xa vọng lại, chiến tranh gần kề. Trên những chuyến xe đi ngược, khuôn mặt người dân hốt hoảng lo âu. Trên tầng số PRC của tiểu đoàn, 09 (1) ra lệnh cho con cái sẵn sàng gọn ghẽ, đến nơi bung ra cho lẹ. Hắn và Nguyễn Lệ (2) chia nhau điếu thuốc.
cac-chien-si-nhay-du-trong-cuoc-hanh-quan-tao-thanh-quan-dich
Đơn vị tạt ra hai bên Quốc lộ đi vào Đại Lộc, tư thế sẵn sàng tác chiến. Từ phía Quận lỵ, dân làng gồng gánh tản cư. Có mấy đứa trẻ ngoái mắt nhìn theo đoàn lính đi ngược hướng. Hắn nghĩ đến cu Trung và bé Dung, hai đưa em chắc chừ cũng lớn bằng chừng nớ. Đôi ba chiếc xe Dodge tản thương mang dấu Hồng thập tự từ phía trong quận chạy ra. Đám lính nói với nhau Sư Đoàn 3 Bộ Binh đụng nặng.
Làng Hà Nha Một vắng vẻ quá chừng. Chẳng còn ai ngoài mấy đàn gà dân làng bỏ lại. Mấy lu nước còn đầy, áo ai còn phơi sau hè lặng lẻ. Đại đội 92 cho con cái thả ba lô xuống bóp gạo xấy ăn cơm. Các Trung đội trưởng tụ về họp với Chinh Nhân (3). Cú này tụi nó chơi xả láng. Cấp Sư đoàn cộng ! Quận Thượng Đức mất rồi. Nhiệm vụ của Nhảy Dù là chặn đứng tụi nó, và giữ các cao điểm bao quanh thành phố.
Hai giờ chiều lính Đại Đội 92 bỏ ba lô tại chỗ, móc ba chạc băng qua cánh đồng để bám vào chân núi. Chinh Nhân nói với hắn mày đừng chạy gần tao, kéo Antenna xuống, tụi nó thấy là mình lãnh đủ. Cối 82 ly của Bắc quân từ trong núi rải xuống cánh đồng, thêm vào là tiếng cắc cù CKC bắn sẻ. Sau màn đạn khói, đơn vị lội xuống nhào qua ruộng lúa. Hắn bì bỏm mãi mới tới bên kia cánh đồng. Chinh Nhân cằn nhằn đ.m. mày chạy chậm như cặc, đưa máy đây tao. Cánh quân Đại Đội 92 chọc thẳng vô sâu triền núi hướng tây bắc Đại Lộc – Hiếu Đức giải tỏa áp lực cho hai Đại Đội 91 và 93 vào nhập trận. Nửa đêm mưa xuống, không có Poncho cả đơn vị nằm trong hố cá nhân ướt sũng. Đói và lạnh. Những ngày ngưng bắn đã xa vời. Bắc quân ngang nhiên trút đại pháo 122 ly lên đầu cánh quân Dù đang đi vào chân núi. Đêm đầu tiên trên đường vô Thượng Đức hắn ngồi đếm tiếng pháo rơi cho đến sáng.
Nhiệm vụ của Đại Đội 92 là thanh toán cho bằng được ngọn đồi 383 để giữ hông trái cho cánh quân đánh vào cao điểm 1062. Chinh Nhân bung ba Trung đội tác chiến ra như hình cánh quạt. Đường lên núi cheo leo, lính Đại Đội 92 vừa đi vừa tránh pháo và bắn sẻ. Qua ngày thứ hai thứ ba đã có hơn mười thằng con rách áo (bị thương). Trung đội bốn và bộ Chỉ huy Đại đội lúc này cực khổ nhất. Vừa lo tiếp tế và tản thương lại vừa lo nấu ăn cho các Trung đội tác chiến. Bố già Nguyễn Văn Cảnh (4) bơ phờ, ngày nào cũng mang Poncho lội mưa đi mút mùa lệ thủy.
Đồi 383 là cái xương gà không dễ nuốt. Các Trung đội tác chiến một, hai, và ba của Đại Đội 92 thay nhau lên tapi (5) hơn cả tuần rồi mà lần nào cũng bị dội lại. Bắc quân nằm dưới hầm chữ A thủ kỹ, đợi lính Nhảy Dù lên gần tới là nhào lên tung lựu đạn. Thêm vào đó 12 ly 7 phòng không từ các cao điểm bên cạnh hạ nòng bắn trực xạ vào cánh quân Dù. Nơi đây, Tăng Văn Năm nằm xuống. Người lính trẻ tình nguyện của miền Nam dính nguyên môt viên 12 ly 7 nơi cổ họng.
Cuối cùng Trung đội hai yêu cầu Chinh Nhân cho đặt hai ổ đại liên trên tảng đá trên đồi kế đó để yểm trợ tác xạ cho Tiểu đội xung phong của Phạm Hữu Thi. Hắn nhớ hoài hình ảnh thằng Thi nhỏ con xách nguyên một nón sắt đầy lựu đạn lom khom chạy bên cánh phải sườn đồi. Cũng phải qua mất đợt xung phong Đại Đội 92 mới hoàn toàn kiểm soát ngọn đồi 383 trước khi trời tối. Đêm đó Bắc quân trút lên đồi 383 hằng trăm trái pháo.
Chiếm xong là phải thủ, những ngày sau đó Đại Đôi 92 bị đặc công Việt Cộng đánh phá tơi bời. Mấy lần hắn phải bỏ máy cho Chinh Nhân lo, mang M16 và lựu đạn nhào ra trám tuyến. Bắc quân từ các ngọn đồi cao dùng loa phát thanh đe dọa lính Dù. Đêm nào cũng vậy bóng người di chuyển trong đêm tối như bóng ma trơi. Thời gian này Đại Đội 92 tiêu hao quá nên từ trên xuống dưới ai cũng thức trắng ngày đêm chiến đấu, đào hầm hố, và tản thương tiếp tế.
Hắn không nhớ rõ hôm đó là ngày nào trong tháng Tám. Từ bốn giờ sáng pháo Bắc quân chĩa vào ngọn đồi chỉ huy của Đại Đội 92. Pháo đủ cở và liên tục cho tới chạng vạng sáng. Sau đó là tiếng hô vang tiến lên của ma quỷ. Hắn và Trần Thuận (6) ngồi trong giao thông hào. Mười mấy trái lựu đạn đã mở khóa an toàn gần với tầm tay. Trần Thuận nhỏ giọng đ.m. tụi nó nhiều như kiến. Tim hắn đập thình thịch, không lẻ hôm nay là ngày cuối cùng của đời mình. Bên ngoài phòng tuyến chợt ầm ầm rực lửa, pháo binh Dù từ Ái Nghĩa bắn TOT trên vị trí Đại Đội 92. Hắn co người trong giao thông hào chịu trận. Tám giờ sáng ma quỷ rút đi, lính 92 ngóc đầu lên đi kiểm soát phòng tuyến.
Bố già Nguyễn Văn Cảnh bị một mảnh pháo nhỏ xíu như ngón tay út xuyên lưng trúng vô tim. Phan Đoài, bạn cùng khóa Dù của hắn và là xạ thủ súng 57 ly, bị mảnh pháo lớn chém ngang ngực. Cả hai ngã xuống trên miệng hầm. Đúng là tử sinh gang tấc. Lần đầu tiên hắn hoang mang nghĩ đến phiên mình.
Mấy ngày hôm sau Đại Đội 92 lại mất thêm một người lính kỳ cựu. Cao Văn Ớt bị đặc công Việt Cộng phục kích trên đường đi đem cơm tiếp tế cho các tiền đồn. Ớt về đơn vị từ mùa Hè đỏ lửa. Chưa lần nào sứt mẻ, thằng lính cù lần hùng hục làm việc cho đến khi nằm xuống.
Mùa mưa trở về trên rừng núi Trường Sơn. Những ngày sau đó mưa triền miên không dứt. Lính Dù chiến đấu trong đói lạnh và rét mướt. Buổi sáng nào đó trên đường di quân, hắn run rẫy quỵ xuống bên con rạch nhỏ. Minh, y tá Đại đội, chuẩn bịnh cho hắn rồi nói hắn bị sốt rét cần đưa về Tiểu đoàn cho Y sĩ điều trị. Nằm quấn trong ba bốn lớp Poncho mà lúc nào hắn cũng run lẩy bẩy. Vi trùng sốt rét sống dai, mấy mươi năm sau, nhiều lúc đang ngồi giữa nắng mà hắn tự nhiên cảm thấy lạnh và run cầm cập.
Một buổi sáng đang nằm mê man, có thằng trợ y trong trạm cứu thương chun vào lều kêu nó dậy. Ê anh mày đang kiếm mày kìa, Chuẩn úy Tiểu Đoàn 8 Dù. Hắn trợn mắt ngạc nhiên. Anh Lũy hắn thật sự đang đứng đó. Tiểu đoàn 8 Dù đang đi vào mặt trận đồi 1062 thế chân Tiểu Đoàn 3 Dù. Đi ngang phòng tuyến Tiểu Đoàn 9, anh Lũy hỏi thăm và tình cờ biết hắn đang nằm dưỡng bệnh. Anh Lũy ra trường Thủ Đức chưa đầy ba tháng, về nắm Trung đội trưởng trong Đại Đội 83. Ngồi giữa triền đồi hai anh em hắn chia nhau gói thuốc lá, hỏi thăm nhau mấy câu rồi phải chia tay. Hắn ái ngại bâng khuâng nhìn anh Lũy dẫn đoàn quân đi khuất ngang triền núi, và nhủ thầm chắc mạ biết thì lo chết được.
Chiến trường Đại Lộc – Thượng Đức càng ngày càng đẫm máu và khốc liệt. Hằng ngày biết bao nhiêu đạn bom đổ xuống trên những cao điểm chiến lược. Tổn thất quân số của hai bên chồng chất mà chẳng bên nào chịu nhượng một thước đất. Đồi 1062 thay đổi chủ mấy lần. Tiểu Đoàn 9 Dù có nhiệm vụ bảo vệ cánh trái của 1062 cũng tiêu hao nặng. Hoàng Ngọc Tửu, Đại Đội trưởng 93 bị thương nặng, Đinh Văn Tường, đích thân cũ Đại Đội 92 về thay thế. Tầng lớp Sĩ quan Trung đội trưởng dường như bị thương và mất hết. Phạm Tăng Thọ, Nguyễn Văn Thân, Phan Đằng, Phạm Thụ, những khinh binh kinh nghiệm lâu đời của Đại Đội 92 trở thành các Hạ sĩ quan quyền Trung đội trưởng.
Sau hơn hai tuần lễ nằm trị sốt rét ở căn cứ Tiểu đoàn hắn về lại đơn vị. Hằng đêm hắn mở PRC25 qua băng tầng của Tiểu Đoàn 8 Dù để mong nghe tin tức của anh Lũy. Tiểu đoàn 8 Dù lúc đó đang đụng nặng với Trung Đoàn Sông Hồng (hay Sông Thao) miền Bắc. Khi nhận ra tiếng anh Lũy trong danh xưng Nguyễn Trãi hắn lo ngại vô cùng. Mấy ngày đầu còn nghe tiếng kêu Nguyễn Trãi nhưng sau đó yên lặng biệt tăm. Hắn lo lắng hỏi thăm đám lính tản thương và tiếp tế. Ai cũng nói Tiểu Đoàn 8 Dù đang đánh đấm te tua nhưng vẫn còn ở trên ngọn đồi 1062 tàn bạo.
Khoảng cuối tháng Chín đầu tháng Mười, Tiểu Đoàn 5 Dù vào vùng thay chân Tiểu Đoàn 9. Tiểu Đoàn 9 lảnh nhiệm vụ mới lên trấn giữ 1062 thay Tiểu Đoàn 8 Dù. Lúc đó hắn mới biết tin anh Lũy hắn bị thương đã di tản ra ngoài, nhưng vết thương ở đâu, nặng hay nhẹ thì không ai biết rõ.
Đường lên cao điểm 1062 thẳng đứng. Dốc lên cao hơn bốn mươi độ, nẻo đi trơn trợt và đầy dẫy xác quân miền Bắc. Để tránh tầm đạn bắn sẻ, lính Đại Đội 92 phải bò trên xác người chết để đi lên. Hắn cố gắng không nhìn xuống nhưng cố lạy trời cho đừng đạp lên thân thể của kẻ đã ra đi. Vừa bò vừa cầu nguyện, bốn giờ chiều hắn mới lên tới ven đỉnh đồi. Từ đó đến hàng giao thông hào khoảng cách chừng hai mươi lăm thước. Vừa chạy lên chưa được mười bước thì quanh chân hắn mịt mù dấu đạn. Đạn 12ly7 và CKC bắn sẻ xối đất cách hắn trong vòng gang tấc. Hắn hoảng hồn lăn xuống hố đất cạnh đó nằm tránh đạn cho đến chiều hôm chạng vạng mới mò ra tìm hầm Chỉ huy Đại đội trong giao thông hào phía trước.
Đỉnh đồi 1062 có một diện tích chừng năm mươi thước nhân năm mươi thước lúc bấy giờ đã trọc. Cây rừng cao lớn đã bị đạn pháo hai bên chặt rụi không còn chút gì màu xanh của lá. Xác lính của hai miền nằm la liệt có chừng đến mấy trăm. Mùi tử khí tỏa ra bám chặt vào quần áo, tóc tai và hơi thở của người còn sống. Những con dòi lớn bằng đầu đũa dài tới hai ba phân từ xác chết đã sình thúi chun ra rơi xuống thân thể người còn sống, bò lên bò xuống. Nhiều lúc buồn ngủ quá người còn sống cũng chẳng thèm đưa tay ra phủi.
Chinh Nhân, hắn và Hoàng Mộng (7) sống trong một cái hầm rộng chỉ đủ cho ba người ngồi. Dựa lưng nhau mà ngủ. Thỉnh thoảng gọi máy báo động cho các Trung đội coi chừng đặc công tụi nó bò vô. Ngày nào đồi 1062 cũng lảnh đại pháo Bắc quân bắn từ các dãy đồi phía Trường Sơn. Từ cao điểm 1062 đêm nào hắn cũng thấy trong quận Thượng Đức những đoàn xe Molotova tiếp vận của Bắc quân để đèn pha chạy sáng trưng. Đôi khi hắn cũng nhìn về hướng Thành phố Đà Nẵng, đoán chừng nơi chốn của những con đường, một mái trường và một dòng sông cắt ngang Thành phố. Mơ ước một chút rồi thôi, hắn nghĩ đâu còn ai nhớ tới mình.
Trong hơn ba tuần lễ trấn giữ ngọn đồi 1062, hắn không bao giờ được tắm, chưa lần được cởi đôi giày. Hắn không biết thân thể mình hôi thúi chừng nào nhưng ngồi gần thằng Mộng thì ngữi một mùi hơi người tàn bạo. Khuôn mặt Chinh Nhân ốm đi, mắt trũng xuống sâu, hai hàng lông mày dính đầy bùn đất đỏ.
Khi sức chịu đựng của người lính đã đến mức tận cùng thì hai bên Nhảy Dù và Bắc quân cũng thầm lặng rời chiến trận. Khoảng cuối tháng Mười, Trinh Sát Nhảy Dù thiết lập hàng rào điện tử McNamara từ ngọn đồi cao nhất trong vùng núi Hiếu Đức kéo xuống tả ngạn sông Vu Gia cho Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù rút quân đi.
Đêm rời cao điểm 1062 trời tối đen và mưa lất phất. Đường đi lên núi đã khó thì đi xuống núi lại càng khó hơn. Cứ đi vài ba bước là hắn lại trật chân té xuống. Có nhiều khi hắn rớt lăn cù xuống hố sâu. Hết ngọn đồi này đến ngọn đồi khác, gần 3 giờ sáng Đại Đội 92 mới ra gần vị trí của Tiểu đoàn. Khi đi ngang đồi lưng ngựa thì hắn kiệt sức. Đói lạnh và cơn sốt rét lại trở về, hắn ngồi bệt xuống dựa lưng vào ba lô và nhắm mắt lại. Thôi vậy cũng đành. Hắn nghe tiếng chân đi của lính 92 xa dần xa dần đồi lưng ngựa.
Không biết hắn thiếp đi bao lâu thì mang máng tiếng ai kêu tên hắn. Hai y tá Đại Đội 92 Minh và Chúc cầm đèn pin đi ngược lại tìm kiếm hắn. Thấy hắn mê man, Minh chích cho hắn mũi thuốc hồi sinh, rồi dìu hắn chạy theo dấu chân đơn vị.
Gần bốn mươi năm sau, hắn còn nhớ buổi sáng hôm sau khi ngồi trên chiếc GMC rời vùng hắn mới biết mình còn sống sót. Cũng đoàn xe đó nhưng chuyến ra thì thưa thớt quá. Ngồi dựa thành xe nhìn ánh nắng mặt trời nhảy múa trên đầu ngọn cây, hắn còn nghe văng vẵng những âm thanh quen thuộc : giọng Bắc của Bố Già, tiếng Huế chay của Phan Đoài, và tiếng cười đùa lao xao của những thằng bạn lính quen thân, một lần đi không về lại.
Trung Hậu
Tháng tư, 2014.
___________
(1) Danh hiệu truyền tin Trung tá Nguyễn Văn Nhỏ, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù.
(2) Thư ký Đại Đội 92.
(3) Danh hiệu truyền tin Trung úy Phạm Văn Nhơn Đại Đội trưởng Đại Đội 92
(4) Thường vụ Đại Đội 92.
(5) Tiếng lóng của Nhảy Dù : tapi là xả láng ăn thua đủ (all-in), dùng trong lúc đánh xì-phé và đánh giặc.
(6) Ca sĩ trứ danh của Đại Đội 92. Trần Thuận ngã xuống tháng Tư 1975, trên đường rút quân ra Bến Đá, Vũng Tàu.
(7) Hiệu thính viên Đại Đội 92.