Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Monday, April 22, 2019
Sunday, April 21, 2019
WHO ARE THE VIET CONG?
. . .
DUONG VAN MAI and most of her family had been part of the flood of refugees who fled North Vietnam for the South back in 1954. They settled in Saigon, where her father, who had been an important official in the French colonial regime, became a minor one in the Finance Ministry. Mai did well in school, won a scholarship to Georgetown University in Washington, D.C., spent three years there, and returned to Vietnam with an American fiancé, Army Sergeant David Elliott.
DUONG VAN MAI and most of her family had been part of the flood of refugees who fled North Vietnam for the South back in 1954. They settled in Saigon, where her father, who had been an important official in the French colonial regime, became a minor one in the Finance Ministry. Mai did well in school, won a scholarship to Georgetown University in Washington, D.C., spent three years there, and returned to Vietnam with an American fiancé, Army Sergeant David Elliott.
In 1964, Robert McNamara—genuinely puzzled by the stubbornness of the communists in the face of American power—had commissioned the RAND Corporation to do a study of defectors and enemy prisoners, seeking to know “Who are the Viet Cong? And what makes them tick?”
The Elliotts signed on with RAND, and Mai began interviewing subjects. She remembered that she’d been “brought up to believe that the communists were people who destroyed the family, destroyed religion, had no allegiance to our country but only to international communism.”
“My mother would describe them as đầu trâu mặt ngựa” she recalled. “Brutal subhumans with the head of a water buffalo and the face of a horse. But I knew that they also included people like my sister, Thang, and a lot of my cousins. I couldn’t quite reconcile the two images, but of the two, my mother’s image was stronger because I was so scared of them. That was the frame of mind I had when I started doing research into the communist movement. I remember my first interview. I was by myself. I was very young. I was going to this grim prison to interview this high-ranking cadre who had been captured. I went in thinking, ‘I’m going to meet this beast—this guy with a head of a water buffalo and the face of a horse’—but when I walked in he did not look like a brute.”

Duong Van Mai Elliott at the Can Tho Airport, on her way home after interviewing enemy prisoners and defectors, 1965
Instead, he was a dignified middle-aged man, she remembered, “with the authoritative demeanor of someone used to leading others.” She offered him an American cigarette, but he refused it—“he did not want to touch anything so American.” He answered her questions fully and patiently, and “had more integrity than anyone I had met in Saigon in a long time.

Five proud soldiers belonging to an NLF artillery company that had recently been awarded the title of “Hero Unit”
“He believed that the [Viet Cong] would free his country from foreign domination and reunify it under a regime that would bring social justice and equality to the poor,” she recalled. “He looked at himself as poor: a poor peasant who had been elevated to a position of leadership. Of course, one interview could not change my views right away. But it did raise troubling questions in my mind. Who were the good guys and who were the bad guys? I thought I knew. Now, the situation no longer seemed so black and white.”
When the first RAND report was presented to McNamara’s top deputies at the Pentagon, describing the Viet Cong as a dedicated enemy that “could only be defeated at enormous costs,” one of them said, “If what you say is true, we’re fighting on the wrong side, the side that’s going to lose this war.”
In the summer of 1966, Mai Elliott was asked to act as translator for the veteran American journalist Martha Gellhorn on a visit to an American hospital in South Vietnam. “I saw for the first time what the weapons were doing to real human beings,” she recalled. “I saw children and adults who had lost limbs. I saw eyes staring out of heads swathed in bloody bandages. I saw a woman who had been burned by a phosphorus bomb, with peeling skin showing pink and raw flesh underneath. I knew this was only a fraction of the toll in human misery. I left shaken and more convinced than before that it was unfair to make the peasants bear the brunt of the suffering to save my family and other middle-class families from a communist system they felt they could not live under.”
Still, Mai couldn’t bring herself to wish for an American withdrawal. “I hated the war and I wanted peace, but a peace that would keep the communists from winning. I feared that once the shield of American power was removed, the communists would sweep the hapless Saigon regime aside and my family would suffer with nowhere else to run and hide. I began to wish that the group of people dubbed ‘the Third Force,’ who were neither pro-America nor pro-communist, would succeed in rallying the people.”
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3212018578811946&set=a.862986513715176&type=3&eid=ARBSgNsGWwIKpaEgbe9WB6Gaps_B-S8lZ7soiPAO_8RuP_2BlcqG28N20uv0T_W4m7Swog6dxlYmhT9m
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3212010355479435&set=a.862986513715176&type=3&eid=ARBLkdjZLxwEwuITJHwFl5yF9mxBPnrKyPAI0tRjje-YAXizzizFLWPonuxB-viQBYkORdh8ZJDM4nil
Saturday, April 20, 2019
03 Tháng 3: Nhân ngày Tử trận của Chuẩn uý Nguyễn Thiên Trường _ Đồ Ngu
Chủ Nhật, 03 Tháng Ba 20197:56 CH

( HNPĐ ) Đó là năm 1969. Đại đội Trinh sát 46 của tôi vừa đi hành quân dài ngày từ mật khu Hố Bò trở về.
Đến hậu cứ ( Bộ chỉ huy tiền phương của Trung đoàn 46BB ) ở Chà Rầy, tôi bảo chú hiệu thính viên:
- Nói Trung đội trưởng Viễn thám cho Chuẩn uý Trường lên lấy giấy phép.
Thời điểm đó, sau biến cố Mậu thân 1968, lệnh cấm phép kể cả phép thường niên vẫn còn hiệu lực . .
Trường cầm tờ giấy phép 07 ngày với lý do cưới vợ đang tính chào tôi để ra xe. Tôi vỗ vai Trường rồi đưa cho anh một phong bì:
- Chúc mừng Trường hạnh phúc. Trong này có một tờ giấy phép 3 ngày tặng thêm cho cậu. . .
Trường chào tôi rồi ôm ba lô vội vã lên chiếc xe dodge của đại đội ra Trảng Bàng
Trung uý Mãng, Đại đội phó cười:
- Thêm 3 ngày nữa là 10 ngày, thơm quá. Mười ngày với Tân giai nhân ca sĩ NG.M. nào thấm béo gì. Cha này không trễ phép, ông chặt đầu tôi. . .
7 ngày sau Trung đoàn 46 thành nỗ lực chính của Chiến đoàn 333 được lệnh hành quân tức tốc tràn chiếm Chi-Phu. . .
Đoàn xe của Bộ Chỉ huy có Đại đội Trinh sát đi đầu, 2 chiếc GMC phía trước chậy đến ngã tư Trảng Bàng thì bỗng dưng chậm hẳn lại đủ cho tôi trông thấy bóng to con của Chuẩn uý Trường nhẩy lên phía trước, rồi anh lần theo khung xe lên phía sau. .
Cái speaker từ máy PRC 25 vang lên:
- Trình thẩm quyển Hải Điểu, thẩm quyền " Tăng Gô" của tôi đi phép trở về.
Tôi rút vội sổ tay, ghi:
- Đến nơi đóng quân, gọi Trường lên Ban Chỉ huy gấp.
Tôi bỏ quyển sổ tay vào túi áo. Lại thấy có chút gì không ổn. Tôi lấy quyển sổ ra ghi thêm: " Vụ đám cưới"
" Vụ đám cưới" : Trường với NG.M. là một cặp tình nhân lý tưởng trước khi thành thân. Cả 2 người đều say mê âm nhạc. Trước khi bị động viên vào Thủ Đức. Anh đã từng đệm đàn, sau đó còn say mê phối khí cho những bài Ng.M. hát. Những ngày Đại đội Trinh sát về hậu cứ. Ng.M. thường rủ những ca sĩ bạn bè lên để hát cho đồng đội của Trường nghe. . .
Những tiếng hát có hoà âm bằng những tiếng đạn pháo từ xa rung rinh bóng dừa nước làm cả người nghe, người hát có cảm giác như đang hăm hở với tiếng kèn thúc quân. . .
Thế nhưng, tôi phải viết thêm " Vụ đám cưới" là vì, Từ ngày ra trường, tôi vẫn thường phải chứng kiến những tân lang khi trở lại chiến trường. . ." tai nghe tiếng súng trận mà vẫn còn âm ỉ tiếng pháo hồng ngày cưới" đã phải hi sinh vì đạn thù. . .
Tôi đã định đưa Trường về Ban Chỉ huy, rồi cho Trường đi học. . .
. .Khi những đứa con đầu chạm vào những rặng thốt nốt. Tôi biết mình đã vào đất Căm Bốt. . .Tôi nghe tiếng của Đại tá Lều Thọ Cường, Chiến đoàn trưởng 333:
- Sẽ có " thằng 2 của thằng 10" ( Chi đoàn 2/Thiết đoàn 10) đến đón anh. Từ giờ phút này, anh tùng thiết, cẩn thận khi chiếm mục tiêu. . .
Khi cánh quân tiến gần đến chùa NealPuong. Khi những chiếc thiết giáp chồm lên những gò cao để yểm trợ cho những toán viễn thám chiếm khu vực chùa. Bỗng từ 3 phía trước, phải và trái những tiếng đạn cá nhân và cộng đồng của địch bắn ra xối xả...
Chiếc trực thăng của Tướng Đỗ Cao Trí, lảo đảo đáp ngay chỗ Ban chỉ huy của tôi cùng lúc với một lằn đạn mầu xanh của trái B 41 xẹt tới làm nổ tung chiếc thiết vận xa M77 ( loại của Chi đoàn truởng). Bỗng đầu tôi tê dại. " Lại bị thương nưã sao? " nhưng chỉ một tích tắc sau đó. Tôi biết đó là do cây can của Tướng Trí, kèm theo tiếng quát của ông:
- Mỏng quân ra, thằng thiết giáp không tiến nữa. Lại một cái đánh đầu nữa nhưng lần này dịu hơn kèm theo:
- Chú mày cho một toán Viễn thám đi vòng phía Tây, chiếm ngay gác chuông chính cho moa. . .Đó hoả lực chính và toán bắn sẻ của chúng ở đó đó. . .
Ông nói xong, và mặc cho những lằn đạn bắn cầy đất chung quanh. Ông đủng đỉnh đi về phía sau.Lên máy bay rồi cứ thế chiếc máy bay ấy bay rất thấp quanh gác chuông nhả những tràng đại liên và những chùm M79 vào đấy.
Tôi nghe rõ tiếng chuẩn uý Trường:
- Báo tin vui cho Thẩm quyền, chúng tôi đả làm chủ. . .
Bỗng tiếng anh im bặt...( rồi gần 5 phút im lặng vô tuyến rợn người)... là tiếng của hiệu thính viên lạc giọng:
- Thẩm quyền tôi " Hai Lần Tư Tưởng" ( tử thuơng) rồi. .
Đó là buổi chiều đầu tháng 3, năm 1969, gió đã se lạnh.
Đồ Ngu
( HNPĐ )
Subscribe to:
Posts (Atom)