Saturday, May 26, 2018

Đại Tá Võ Quế
- Sinh tháng 3 năm 1932 tại Địa Phương
- Nhập ngũ ngày 1-1-1951
- Xuất thân trường sĩ quan Võ Bị Địa Phương
- Không đoàn trưởng Yểm cứ thuộc Sư đoàn 6 Không quân tại Pleiku

BỐN ĐẠI TÁ TRỐN TRẠI
Những năm dài  tháng  tận  rồi cũng trôi qua trong nhọc nhằn  khổ sở cả thể xác lẫn tinh thần . Thắm thoát đã hai năm qua ở mảnh đất tận cùng biên giới phía Bắc  Việt Nam này . Hàng ngày chúng tôi phải dậy thật sớm  trước khi tiếng kẻng  rùng rợn  vang lên  giữa đêm giá rét  O độ của miền Bắc rẻo cao này , để xếp  hàng làm vệ sinh  cá nhân ,  vì hể  một khi tiếng kèn  đã nổi lên rồi thì  mình sẽ  không còn là mình nữa ,mà là  một   con trục  quay cuồng trong guồng máy  luyện thép khổng lồ .
Thời gian đó  các cai tù  phân công  chúng tôi   ra từng cặp một trẻ một già , một khoẻ một  yếu để vác một cây bồ đề dài  khoảng 6 thước , chu vi chừng  vài tấc  trở lên  qua đoạn đường rừng  gần 10 cây số , mỗi ngày  cặp tù nhân đó phải  vác  đủ ba  chuyến  như thế  cho đủ chỉ tiêu . Lúc dó khoảng 4 giờ chiều , tôi và một anh bạn trẻ  đang khiêng một cây Bồ Đề to lớn , đã cố sức  vưọt  qua bao nhiêu ngọn đèo ,chỉ còn một đèo chót  là đến nơi đang xây dựng bệnh xá  được xây thêm cho càng ngày càng có thêm bệnh nhân tù .
Trời mưa tầm tã , dưới chân chúng tôi  nước chảy thành dòng như muốn  cuốn trôi mọi thứ , chúng tôi phải hết sức kềm chân cho chặt vừa phải oằn vai chịu sức nặng  đẫm nước của cây tươi vừa đốn hạ. Bỗng nhiên anh bạn  gánh vai sau  trợt chân  té ngửa , buông rơi cả thân cây to , khiến  đầu cây còn lại đập mạnh vào hông phải tôi . Đau đón tôi ngất lịm , chân bị trật cả gân lẫn xương .  Tôi vào bệnh xá dể được một  ông  y sĩ  Trường Sơn , mỗi lần chữa bệnh , vừa xem cuốn sách châm cứu do Miền Nam ấn hành , vừa châm  vào tôi  cây kim dài đã hơ qua ngọn lửa  vừa nói :
- Tổ chức châm cứu săn sóc anh đây . Chừng nào anh cảm thấy đau buốt thì cứ la lên , tôi sẽ tìm huyệt khác đúng hơn !
Nhờ mỗi ngày chịu trận cho ông y sĩ dỏm này thực tập  vài ba tiếng , tôi mới được  ông ký giấy cho ''Miễn lao động '' trong ngày ấy.
Ngày hôm trước  ngày tôi  bị cây to đè ngang hông , khi tôi khiêng cây  dến đoạn đường Nghĩa Lộ, vừa đói vừa khát , kiệt sức tôi ngã vật  xuống bên lề đường . Hai cán bộ bảo vệ  trẻ thương hại  mới đỡ tôi dậy , nhưng  ngay lúc đó cán bộ  phó trại , ngưòi mập lùn đi ngang qua , không cho đỡ tôi  lại còn đay ghiến :
''Các đồng chí không  việc gì   mà phải đỡ hộ họ !'' Rồi anh cán bộ phó trại quay sang chúng tôi  sang sảng  : '' Tôi biết rõ ở trong Nam, mỗi tuần các anh hầm thuốc Bắc  một đứa trẻ từ một tuổi  để bồi dưỡng , đúng là quân man di mọi rợ không có tính người ! Vì thế anh nào cũng  béo tốt như ri , lao động một  chút không bằng ai mà cũng giả vờ té xỉu ..nhất là mấy anh tỉnh trưởng ! !!"
Nhìn vẻ mặt anh ta đỏ gay , gân cổ  lên mà nói to ra vẻ   rất hiểu biết , để gây thêm căm thù , chúng tôi bổng thấy thương hại sự ấu trĩ của họ hơn là oán ghét . Còn lạ gì một anh chăn trâu suốt đời không được học hành  giáo dục , chỉ biết lặp lại nhai lại  y khuôn những gì Đảng  nói  và nhồi sọ cho họ , gây căm thù giai cấp càng nhiều càng tốt . Họ có  biết đâu lúc đó tại  các thành phố lớn Hà Nội,, Sài Gòn , hàng ngày  các bác sĩ cán bộ được lệnh "Kế Hoạch Hóa  Gia Đình'', để  hợp pháp  giết non  hàng ngàn  thai nhi vô tội .
Chúng tôi vẫn tiếp tục lê gót sống những ngày tù  khoắc khoải, thì một hôm  nọ , trời vừa hửng sáng  là  trại  bị bọn cán bộ , lính bảo vệ  trang bị súng ống  chĩa  vào  các lán trạì tù .  Ngày hôm đó họ kiểm soát rất gắt gao,    nhân dịp tịch thu tất cả những gì chúng tôi  có thể để dành ăn  chống đói như  đường ,sữa , bánh ngọt khô .
- Dzõ dzàng nà các anh  ngoan cố phản động  không chịu học tập cải tạo tốt để sớm  lên ngườì  công dân xã hội chủ nghĩa tốt, nhất là mấy bọn đại tá các anh đã phụ  nòng tin tưởng khoan hồng của Bác , Đảng và Chính phủ , các anh có biết chuyện gì xảy ra sáng nay không ?
Ai  nấy đều rõ nhưng vẫn  im lặng như không . Các lán trại đã tung tin rất nhanh  về việc  4 ông đại tá  đã trốn trại làm nức lòng  nhũng trại viên còn lại . Họ vừa mừng vừa lo  và van vái  thầm cầu xin cho các  vị đó được mau thoát đến đất Lào  và biết đâu đến bờ Tự Do đất Thái .
- Đại Tá  Thành ,trung đoàn trưởng , trưởng toán trốn trại , mở đường .
- Kế đó là Đại tá Nguyễn văn Thi , binh chủng Pháo Binh ,  người giữ địa bàn định hướng .
- Người đi  giữa mang thực phẩm cho toán  là Đại tá Đỗ Trọng Huề, cựu giám đốc QuốcGia Nghĩa Tử , cố vấn văn hóa  cho tổng thống Thiệu .
- Và người giữ mặt hậu  là Đại tá Quế , chỉ huy trưởng căn cứ không quân Pleiku.
Mỗi ngày trôi qua là thêm một ngày củng cố lòng tin cho mọi người Các cán bộ điên cuồng  như ác thú  lùng sục tất cả  núi  đồi . các đội tù đi lấy  cát , đá , vôi  ở Bến Phà Ô Lâu  cũng  như các đội lao động nặng  lên rừng đốn gỗ  đều được lệnh tạm đình chỉ . Chỉ riêng 4 đội  tăng gia  và hái chè  là còn hoạt động cầm chừng  dưới sự giám sát gấp đôi  của những chú bộ đội phúng phính trong bộ đồ '' Cứt Ngựa " . Các giờ  giài lao  10 phút thưòng lệ đều bị cắt bỏ , chỉ tiêu tăng gấp đôi để  mọi người mệt nhoài  không còn  thời giờ nghỉ ngơi  dù là một phút giây nào . Vài anh tù '' nông cạn'' vội chưởi rủa  bốn anh trốn trại , vì họ mà cả bọn chịu  cực khổ thêm . Còn lại đa số đều ''  phấn khởi  hồ hởi '' vì  họ thêm một ngày  hi vọng  cho những ai chuẩn bị trốn trại sau đó .
Trại cho thay đổi ngay những người '' anh nuôi ''. Những người nầy bị an ninh điều tra thô bạo . Anh  đại tá  Võ An  bị gọi lên  xuống mấy chục bận mỗi ngày để điều tra  manh mối xem  ai là người  xếp đặt hậu cần  cho các anh trốn một cách bí mật chu đáo  mà không ai hay biết .
Bốn anh Đại tá  trong đội " Cơ Động " hàng ngày đưọc phân công dùng xe cải tiến đến Bến Phà Ô Lâu  chở vật liệu nặng  về xây cất  cho trại . Các anh lợi dụng những chuyến đưọc  xuất trại xa như thế  đã ngấm ngầm cấu kết  với nhau  âm mưu trốn trại qua  Lào , với sự giúp đỡ  của  anh  Võ Ân , phụ trách nhà bếp trại .
Sau cả tháng mỗi ngày giấu một ít  thực phẩm khô , ngày  N ,giờ G , thừa lúc mấy anh bảo vệ lơ là , các anh ĐT nhà ta lần lượt biến  mất sau mỗi quả đồi , hẹn nhau tại một điểm tập trung và ... chạy  trốn !
Các anh đã đi suông sẻ suốt ngày đầu tiên mà không ai  hay biết cho đến chiều tối lúc điểm danh . Đội cơ động  bị phát hiện  thiếu  mất bốn người khiến cán bộ  quản giáo , bộ đội canh gác  bấn lọan , bắn súng loạn xạ . Lúc đó cả trại mới hay có bốn  ông '' Bò Lục '' trốn thoát ,  ít  nữa là ngày đầu tiên , ai nấy vừa lo  vừa mừng  cho các anh .
Chúng tôi lo lắng vì noi miền rẻo cao này , mỗi người  dân  đều là Cộng  Sản , là cán bộ tình báo  của chúng  để quan sát theo dõi chúng tôi sít sao , vi 2thế mà họ  không ngại '' thả '' chúng tôi ra  ngoài để lao động  khổ sai  vì vùng này  họ cho là an toàn nhất ,một con ruồi còn khó qua mắt họ .
Nhóm anh Huề , anh Thành , AnhThi  và anh Quế  vớí sự trợ giúp hậu cầncủa anh Võ Ân , tưởng  đã trốn trại  được đến gần biên giới  Lào vẫn bị chúng nó phát hiện  sau năm ngày sát biên giới, mà theo  lời kể của các anh là '' chỉ cần qua bên kia  con sông đang chảy xiết  là đến  đất Lào rồi '', kể thì các anh quá giỏi đã  vạch kế hoạch  , đi đúng hướng  chính  xác  mục tiêu , thất bại chẳng qua là .. số  mệnh  dun rủi  mà thôi !
Chúng họ theo đuổi lùng sục các anh tận  biên giới , nơi chắc chắn các anh sẽ đến ,  quả thật  bọn  chúng đánh giá  không  thấp trình độ của các sĩ quan ta . Khi giải các anh về bọn chúng như bầy quỷ dữ  khát máu  hung hăng , tha hồ đánh đập  hành hạ các  anh  chết đi sống lại cho hả cơn giận của chúng .  Riêng anhThành , trưởng nhóm  vượt ngục ,  bị nhốt riêng  rồi thay nhau đánh đập tra khảo anh từ  suốt  đêm đến sáng . Càng bị hành hạ , anh càng lớn tiếng chưởi bới , cho đến khi gà gáy sáng thì anh không còn có thể   la mằng gì được nữa  vì chúng nó  đã  treo cổ anh rồi .
Sau này khi tôi  bị biệt giam với các anh  Huề , Thi , Võ Ân , Tâm , Huy , Bình , Đức  ở khu F , phòng 7 , trại Hà  Tây , Tỉnh  Hà Sơn Bình , mỗi khi nhắc đến anh Thành  là mọi người yên lặng rơi lệ,  thành kính tưởng niệm  một anh hùng bất khuất , nhất là anh   Huề , Thi ,Võ  Ân .
 Theo lời anh Huề , sau khi chuẩnbị kỷ lưỡng  cà mấy tháng trời những địa điểm  tiếp tế  các anh đã  lần lượt chôn dấu  thực phẩm cho  những ngày đầu  còn ở  gần trại thì các anh  bắt đầu đi suốt  ngày đêm , tránh gặp dânchúng . Đến ngày thứ ba và thứ tư qua , bốn anh emmừng rỡ  tưởng  gần như  thoát  nạn rồi . Đdường càng xa Yên Bái thì nuí non càng cao dần lên , nhiều nơi dốc như thẳng đứng  khiến anh em khốn khổ  vô cùng . Đến sớm ngày thứ tư thì anh Thành  thoáng thấy từ xa  một buôn làng  có nhũng cuộn khói bốc lên từ các mái tranh . Tuy mừng rỡ nhưng  anh em bảo nhau đề cao cảnh giác  đi bọc vòng xa ngôi làng .
Bổng đâu có tiếng rào rào như giông to sắp đến nơi , anh Thi , người định hướng  đi trong rừng giỏi nhất  vì anh là cấp chỉ huy pháo binh , kể chuyện tiếp :
'' Lúc đó mọi người  đều  rã rời  vì  cơn khát nung nấu  dày vò ,nhưng tiếng  động lạ càng lúc càng to dần ,mọi người dều thủ dao  sẳn bên mình ,  sẳn sàng  chiến đấu một mất một còn  với bất cứ ai khám phá  ra bọn người đang quyết tâm đi tìm tự do  với bất cứ giá nào . Tiếng rì rào   càng ph1ut càng to dần trên đầu , bọn ngươì núp vào kẻ đá  trong lùm cây chờ đợi . Thật bất ngờ ! Mọi người há hốc  mồm nhìn lên ... đó là một con kỳ đà khổng lồ  rất dài đang le chiếc lưõi đôi  nhìn bọn người trốn trại nhỏ bé  đang ép mình  vào kẹt đá .
Ngươì ta thuờng nói  '' Ra đường gặp kỳ đà cản mũi , ắt việc không thành tựu được ! ''. Nhưng lúc đó  đối với các anh tù vượt ngục đói khát  suy nhược thì con kỳ đà này là món quà trời  thương ban  , giúp các anh có thêm sức lực .
Họ đã thấy xa xa con sông  to dài tung lên  những bọt trắng xóa chứng tỏ nước chảy rất mạnh .  theo bản đồ và  la bàn thì con sông đó co 1thể là sông Mekong  chảy xuyên qua  Trung Cộng , Lào, Kampuchia  và Việt Nam , vì từ trên đỉnh núi cây lá dày đặc  nhìn xuống  thì nó rất rộng  và dài vô tận  uốn khúc như con rắn khổng lồ .
 Gần bờ sông các làng mạc  mọc nhiều , dân cư hay lên rừng đốn củi  , săn thú  nên anh em quyết định  ngày ngủ dêm đi , di chuyễn dần lên phía Bắc nơi  con sông hẹp hơn  để vượt qua . Ai cũng mừng vì sắp thành công  cuộc vượt ngục hi hữu này , cố làm sao đủ sức vượt sông  đến khu rừng tre dày đặc bên kia xứ Lào .
Khi con người  cố gắng hết sức để đạt mục tiêu , cơ thể có khả năng siêu việt  vượt qua tất cả , để  một khi  đạt  hay gần khi gần tới mục tiêu  , cơ thể  rũ liệt kiệt sức ,các anh em  vượt  trạimấy ngày đêm nay thấy gần thành công thì bỗng dưng bao mệt mõi đổ ụp xuống , tuy nhiên anh em cũng  cố gắng thay phiên nhau trực  canh  , tìm mọi phuơng cách để vượt sông an toàn .
Bổng nhiên có tiếng chó sủa  càng lúc càng gần càng rộ lên . Thì ra , dân  bản xứ  đi rừng khám phá dâu chân lạ  trên con đường mòn , gần bờ suối cây lá bị đạp ngã  , họ thả chó đánh hơi và báo đồn công an , nghi ngở có bọn thổ phỉ buôn lậu thuốc phiện  xuyên biên giới .
Tiếng chó sủa dữ dội cùng tiếng súng bao vây các anh , nhữngtiếng quát tháo  rợn người  vang lên :
Rồi những gương mặt dữ dẳn của bầy lang sói độc ác  xuất hiện kèm theo những trận mưa đòn tàn bạo , gậy gộc báng súng  đánh tới tấp trên  đầu cổ mặt mũi  mình mẩy những  nạn nhân  tù đày ốm đói run rẩy  không chút tự vệ .
Giữa trận mưa mu , có tiếng một cụ già :
- Thôi cho tôi xin các ông ! Tưởng là bọn thổ phỉ buôn lậu biên giới , hóa  ra là tù cải tạo Miền Nam . Họ không thể  chống cự , hà tất  phải đánh đập họ dến chết như thế !
Bốn anh em ngất lịm đi trong cơn mưa đòn khủng khiếp nhất trên đời. Mặt mũi mình mẩy họ không còn là con ngườii nữa mà là  những  con vật hình thù  méo mó  tả toi  dươí những trận đòn từ những ác quỷ  đầy hận thù đội lốt người   thắng trận !

Chiều hôm đó tại lán trại , sau khi nhận điện báo  khẩn ,   trại trưởng huy động  hai đội lao công khẩn trương đục  hang vào sưòn núi sâu , không ai biết để làm gì , tưởng là  nơi để họ cất giấu vũ khí  hay chứa thực phẩm  lưong khô , đến khi  có những tấm vĩ sắt  dựng thành cửa  ngục  lên  thì ai nấy đều hiểu  ra đó là nơi để   giam giữ tù vượt trại . Chúng tôi hoài nghi  có lẽ bốn '' Bò Lục '' đã bị  bắt  và đang trên đường trở về .
Thật đúng như vậy ! Một buổi chiều  u ám , từ  chân trời có tiếng vó ngựa  tung bụi mờ ,  giữa bầy quỷ dữ  đang hò hét trên lưng ngựa  cho chiến thắng vĩ đại  là bốn người  tù  bị  lôi xểnh  theo sau lưng ngựa , hứng chịu những trận đòn , họ té khụy xuống rồi lại bị lôi dậy lúp xúp chạy theo  vó ngựa , rồi loạng choạng té xuống mặc cho những  sợi dây trói chặt quấn lấy thân thể rách bươm  lôi kéo họ như những thanh gổ vô tri giác !
Chúng tôi  chết điếng lặng  ngưòi  nép  bên đường nhìn  họ đi qua  sau giờ  chúng tôi  lao động cải tạo vể ,  vô tình hay cố ý  họ cho chúng tôi thấy hình phạt  khủng khiếp  của những ai  có ý định trốn trại . Chúng tô iđể mặc cho giòng lệ tuôn trào từ những đôi mắt trũng sâu ,  lăn dài  trên đôi  gò má hốc  hác  khắc  khổ  . Anh em chúng tôi đó ! Những NGƯỜI  HÙNG  sau cuộc chiến !  Không thành công đã thành NHÂN !  Dù không còn ai có thể nhận ra  các anh , vì  các gương mặt  đã bị  bầm dập tan nát  sau trận  mưa đòn thù .
Sáng hôm sau , anhThành đã chết  cách anh dũng bất khuất ! Xin dâng anh một nén hương lòng !
Vài  hôm sau  đó , có lẽ để xoa dịu lòng căm phẫn  nhem nhúm trong  tù trại Yên Bái  trại 2 , hoặc  gây chia rẽ nghi ngờ giữa các anh em tù , hoặc muốn tỏ ra rằng  Đảng ta  luôn khoan hồng  nhân đạo ,nên trong một  buổi học tập chính trị  toàn trại , người ta đem anh Quế  trình diện mọi người , đề cao anh là ''thành phần tiến bộ '', biết '' tội lỗi mình làm '', xin  tập thể trại viên  nhận anh lại vào hàng ngũ những người cải tạo  tốt .  Còn hai anh Huề và Thi hãy còn ngoan cố ,chưa xứng đáng được nhân dân tha thứ , còn phải chờ lâu dài . Mọi người  khẽ thở dài , không ai có ý kiến gì , bởi vì    không ai đoán bọn CS thâm độc  mưu mô này sẽ còn dùng chiêu thức gì  nữa .
Ít lâu sau đó ,  ngày 19/07/1977, hàng ngũ tù đại tá  chúng tôi  được lệnh chuyển sang trại  Tám ở thâm sơn cùng cốc  đầy ao tù nước vàng đặc , nếu lỡ  đạp chân xuống  đó sẽ bị  nhiễm  sốt rét  hoặc  sốt rét rừng kinh niên . Ngay ngày đầu tiên  khai hoang vùng hoang địa này  dể trồng  trọt , tôi là  bệnh nhân  sốt rét rừng  đầu tiên . Cứ  khoàng 4, 5 giờ chiều  cơn rét  kéo tới  hành hạ tôi run lập cập , đắp  bao nhiêu mền  vẫn không đủ ấm , cái lạnh từ trong xương lạnh ra , rồi đến 12 giò đêm  thì nóng  sốt như lủa đốt  như có muôn ngàn ngọn lửa châm vào đầu  ngón chân  mình mẩy . Thế mà sáng ra không được nghỉ ngơi , họ cho là tôi bệnh vờ  nên tôi vẫn phải lao động như thường . Như  chưa đủ khốn khổ ,  người  phát thuốc  ở trạm xá , vốn là người '' của ta '', nhưng nhờ ''quen biết '' cán bộ , nên  bắt chẹt anh em , mỗi lần  anh ta bố thí cho vài viên Quinine , đã bị anh ta  liếm hết chất ngọt bọc đường  bao quanh , là đổi lại chúng  tôi  phải  biếu hắn  thuốc lào ba số  hoặc đồ thăm nuôi . Thuốc men  gia đình chúng tôi gửi  nuôi  đều bị trại cất giữ hộ , họ phát  ''Xuyên Tâm Liên '' để trị bá bệnh !
Võ Hữu Hạnh
Con đường đi đến tử vi của dân Da Đỏ Mỹ .
Khoảng giữa TN 1980 , ở SG có tổ chức triển lãm sách tiếng Anh tại nhà sách Lê Phan . Tôi đã mua quyển The Medicine Wheel của Sun Bear và Wabun . Đây là sách về tử vi của dân Da Đỏ Mỹ (Native American hay Indian-American) . Họ chia tánh tình con người dựa trên 12 con giáp của họ . Ví dụ người tuổi Diều Hâu Đỏ (Red Hawk) sinh từ 21/3-19/4 . 
Sách viết , người tuổi này , "do cứng đầu (headstrong) , nên thường có vấn đề với các bịnh của đầu (head disease) . Họ có khuynh hướng đập đầu (tự gây thương tích) nhiều hơn người khác , có lẽ do đôi khi họ có khuynh hướng bay vào mọi việc quá nhanh mà ko có thì giờ nhìn kỷ trước khi bay . . .
Tôi có có một ng thân , y sinh ngày 18/4 : mỗi lần y giận dữ hay buồn chuyện gì thì đập một cái gì đó vào đầu , gây thương tích đổ máu , khiến gđ lo lắng nhưng sau đó y bình phục nhanh chóng .
Riêng những người tuổi Rái Cá (Otter) sanh từ 20/1 - 18/2 (tôi trong nhóm này vì sinh ngày 16/2 ) có tánh tình :
Họ có thể sở hữu một số tính chất về ma thuật/kỳ lạ/siêu hình * (magical) . Họ thường rất TRỰC GIÁC ** (intuitive) nếu họ cho phép năng lực của họ được chảy đúng cách . Họ có khả năng trở nên THẦN GIAO CÁCH CẢM (telepathic) dễ dàng hơn phần lớn người khác . Họ là người có TẦM NHÌN XA (visionary people) . . .
Phần nào đó , tôi đã có các tính chất này .
Nhận xét : điều này chứng tỏ dân Da Đỏ có một MINH TRIẾT nhưng nay đã lụi tàn nhưng có những thứ mà chúng ta phải học từ họ như : trong các cuộc họp của bộ lạc , mọi ng đều có quyền phát biểu ; tổ chức chính quyền liên bang (ng Mỹ đang áp dụng) giúp các bộ lạc có thể giải quyết một cách hòa bình những mâu thuẫn giữa các BL , v.v...
* Những lãnh tụ như Hitler , HCM đều có khả năng này (dùng lời nói để khuyến dụ người khác) nhưng đã dùng một cách TIÊU CỰC .
** Trực giác : khả năng hiểu một việc ngay lập tức , ko cần suy nghĩ . (Intuition : the ability to understand something immediately , without the need for conscious reasoning)
.

Friday, May 25, 2018

http://batkhuat.net/van-doidien-tuthan.htm

Vietnam POWs - Enemy PW in RVN, Their Captivity, Internment and Release ...

Trận Ấp Bắc của Sư Đoàn 7 Bộ Binh ngày 2/1/1963

Tưởng Niệm Một Người Anh - Phạm Tín An Ninh

Đại Tá Võ Ân
- Sinh tháng 4 năm 1941 tại Thừa Thiên
- Nhập ngũ ngày 23-10-1911
- Xuất thân trường sĩ quan Thủ Đức Khóa 12
- Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53, Sư Đoàn 23

Lần cuối cùng tôi gặp lại anh, khoảng tháng 7 năm 1978 tại Nghĩa Lộ. Trong số những người tù ốm o đang vác những bó nứa, băng qua khu ruộng khô mà đám tù chúng tôi đang “lao động”, bất ngờ tôi nhận ra anh, khi anh hỏi xin bọn tôi một ngụm nước. Tôi ngỡ ngàng đứng nghiêm đưa tay lên chào:
- Đại Tá!
Anh nhìn lên, nhận ra tôi và nở nụ cười:
- Mi ở đây à? Chừ còn tá với tướng chi mi. Mi khỏe không?
Tôi đưa cho anh lon guigoz nước rồi nắm lấy tay anh. Anh gầy hơn xưa nhiều, chỉ có nụ cười vẫn vậy, không thay đổi. Chưa kịp hỏi anh ở trại nào và vợ con ra sao, thì tên vệ binh hét: “không được quan hệ linh tinh, khẩn trương về trại”. Tôi phụ đưa bó nứa lên vai anh. Bước đi, anh nói vọng lại một câu:
- Mi nhớ giữ gìn sức khỏe, hỉ!
Có một thời báo chí và nhiều người gọi anh là “Người hùng Ban Mê Thuột”. Điều đó rất xứng đáng. Khi chỉ có trong tay một tiểu đoàn và được tăng cường Đại Đội 23 Trinh Sát tinh nhuệ, nhờ hầm hố công sự vững chắc, anh cùng đơn vị đã phải chiến đấu đơn độc nhưng thật quyết liệt can trường trước nhiều đợt tấn công biển người của địch, giết hằng trăm địch quân và bắn cháy nhiều chiến xa T-54, giữ vững vị trí đến sau khi cả thành phố Ban Mê Thuột đã lọt vào tay giặc gần một tuần trước đó.
Ngày 17.3.75, một lực lượng địch đông đảo có nhiều chiến xa kéo đến bao vây tấn công để bằng mọi giá phải nhổ cái gai làm chúng vô cùng căm tức. Với hàng ngàn quả pháo, chúng muốn san bằng cái cứ điểm cuối cùng mà đơn vị anh đang tử thủ, quyết sống chết trong căn cứ B50 bên cạnh phi trường Phụng Dực, cách thị xã Ban Mê Thuột 8 cây số về hướng Đông. Anh đã cùng đồng đội vẫn không nao núng, đánh thật đẹp một trận để đời. Một số binh sĩ hết đạn, anh ra lệnh cho thu nhặt súng đạn của địch để đánh lại địch. Rất tiếc, phi vụ tiếp tế thả dù cuối cùng không may rơi ra ngoài vị trí, lương thực và đạn dược đã cạn kiệt. Anh khôn khéo lừa địch, cùng những thuộc cấp sống sót mở đường máu lúc nửa đêm, phân tán thành nhiều toán nhỏ, vài toán rút về hướng Lạc Thiện. Vài toán đi về khu làng Thượng thuộc tỉnh Tuyên Đức, riêng anh cùng một toán trên 20 người đến được Phước An, hai ngày trước khi quân lỵ cuối cùng của tỉnh Darlac này rơi vào tay Cộng sản. Anh và đồng đội đã tạo thêm một huyền thoại trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
Đặc biệt, anh cũng là cấp chỉ huy trực tiếp cuối cùng của tôi vào những giờ thứ 25, trước khi Quân Lực VNCH bị bức tử, để những chiến sĩ anh hùng như anh phải đành đau đớn tức tưởi kết thúc binh nghiệp nửa đường.
Vào đầu tháng 4/75, QĐ II & QK2 lần lượt lọt vào tay giặc, sau những cuộc triệt thoái tồi tệ và bi thảm nhất trong lịch sử chiến tranh. Hầu hết quân nhân các cấp thuộc các Sư Đoàn và Tiểu Khu thống thuộc còn sống sót đã tiếp tục di tản vào Bình Tuy, Vũng Tàu, Sài gòn. Được lệnh của Bộ TTM truyền đi trên các đài phát thanh, truyền hình, kêu gọi “đến trình diện tại Trại Chí Linh, Trung Tâm Huấn Luyện XDNT Vũng Tàu” để sau đó được bổ sung tái lập một sư đoàn duy nhất: Sư Đoàn 22BB với Thiếu Tướng Phan Đình Niệm tiếp tục làm tư lệnh, đặt dưới quyền xử dụng của Quân Đoàn III.
Không ngờ số lượng đến trình diện thật đông đảo. Đa số là sĩ quan, chỉ có khoảng một phần ba là hạ sĩ quan và binh sĩ. Khi lang thang đi tìm mấy thằng bạn cùng đơn vị cũ, xem ai còn ai mất sau trận chiến Khánh Dương và một số phải di tản theo Tỉnh Lộ 7B oan nghiệt, bỗng tôi nghe trên loa có một giọng Huế quen thuộc gọi tên mình, và yêu cầu đến dãy nhà số 4 gặp Đại Tá Võ Ân. Tiếng gọi quen thuộc ấy cũng chính là tiếng nói của anh.
Tôi tìm đến dãy nhà số 4, nơi đặt BCH Trung Đoàn 47 (tái lập). Vội vàng tìm gặp anh, để xem người hùng của trận chiến Ban Mê Thuột bây giờ ra sao. Anh ngồi trên dãy bàn dài với một vài sĩ quan cấp trung tá, có nhiều vị tôi quen biết. Tôi đưa tay chào, chưa kịp trình diện lời nào, thì anh đã phất tay bảo tôi ngồi:
-Tau được chỉ định tái lập gấp Trung Đoàn 47 này. Mi về đây với tau cho vui. Anh em 23 nhiều lắm. Tụi mình “đánh đấm” tiếp.
Thoáng một chút xúc động. Nghĩ mình là một sĩ quan đàn em cấp thấp, cũng chẳng tài cán gì, chỉ gặp gỡ một vài lần và được anh quí mến. Vậy mà hôm nay, trong cái cảnh chợ chiều, hổn tạp rối ren này, anh vẫn còn nghĩ đến mình.
Ba ngày sau, Trung Đoàn 47 BB được tạm tái lập với một quân số mà quan nhiều hơn lính. Một tiểu đoàn có đến 2 trung tá. Cấp đại đội có 1-2 thiếu tá, có vị đã từng làm tiểu đoàn trưởng hay chi khu phó. Có nhiều trung đội được chỉ huy bởi một đại úy với quân số không quá 25 người, mà 50% là sĩ quan. Chắc chắn trên thế giới không có một đội quân nào với bản cấp số kỳ quặc và “ghê gớm” như thế.
Trong hầu hết những bài viết về các trận chiến cuối cùng của QLVNCH, dường như chưa có ai nói đến sự kiện này. Tại sao những sĩ quan cấp tá, cấp úy lại sẵn sàng nhận lãnh những chức vụ quá nhỏ nhoi như thế, trong lúc tình hình nguy ngập, chiến trường đang từng giờ thu hẹp lại, mà mọi bất lợi, hiểm nguy đang chờ họ đối mặt? Hơn nữa hầu hết đều bỏ lại gia đình ở miền Trung mà bây giờ đã thuộc vùng địch chiếm. Bao nỗi ưu tư canh cánh bên lòng. Nếu không phải là “Tổ Quốc, Danh Dự. Trách Nhiệm”, sứ mạng cao cả mà họ đã tuyên thệ nhận lãnh khi quì xuống vũ đình trường trong ngày mãn khóa?
Ngay tại BCH Trung Đoàn, ngoài Đại tá Võ Ân Trung đoàn trưởng, còn có đến 4, 5 trung tá. Trung tá Nguyễn Thắng Phùng, Chỉ Huy Trưởng TTHL/SĐ 23BB nhận lãnh chức vụ Trưởng Ban 3. Vai trò này anh đã từng làm cách đây trên 10 năm, khi còn mang cấp bậc thiếu úy. Tôi vẫn còn nhớ, khi mới ra trường vài tháng, dắt trung đội biệt phái đến trình diện BCH Trung Đoàn 45BB của Trung tá Võ Văn Cảnh, đóng trại giữa rừng để chỉ huy trận đánh Quảng Nhiêu đang hồi khốc liệt nhất, tôi được gặp Thiếu Úy Nguyễn Thắng Phùng, đang là Trưởng Ban 3 Trung Đoàn. Anh rất vui vẻ, niềm nở hướng dẫn trung đội tôi ra nằm giữ an ninh cho một Pháo Đội Pháo Binh 155 ly, đóng bên cạnh BCH Trung Đoàn. Anh dặn dò chỉ vẽ những điều cần thiết. Chỉ với câp bậc thiêu úy, nhưng tôi nghĩ anh là một Trưởng Ban 3 nhiều kinh nghiệm, khả năng. Tôi có cảm tình với anh kể từ ngày ấy. Anh đã đảm trách chức vụ này từ khi còn thiếu úy, bây giờ mang đến cấp bậc trung tá, anh lại trở về với cái chức vụ hơn 10 năm trước. Vậy mà anh rất vui vẻ, bình dị, thường thân tình đùa cợt với anh em và chu toàn trách nhiệm của mình. Anh bảo:
- Được làm việc với Đại Tá Ân là vui rồi!
Tôi rất nể phục thái độ và tư cách của anh.
Trong BCH Trung Đoàn có một vài vị nguyên là tiểu khu phó, tham mưu trưởng của các tiểu khu. Tôi cũng gặp một anh thiếu tá, nguyên là tiểu đoàn trưởng xuất sắc của một tiểu đoàn ĐPQ tại TK Bình Định. Năm 1971 có một thời tăng phái hành quân cho Trung Đoàn 44 của chúng tôi tại An Khê, còn bây giờ thì anh đang vui vẻ làm đại đội trưởng với quân số chưa tới 80 người.
Tôi được anh Ân thương mến, giao cho một chức vụ cũng không có trong bản cấp số: Sĩ Quan Hành Quân & Tiếp Vận. Thực chất, đó chỉ là một loại “thượng sĩ thường vụ” của Trung Đoàn, chạy ngược chạy xuôi lo đủ thứ việc.
Ngày 17/4/1975, chưa kịp trang bị xong, một số quân nhân chưa có cả súng đạn, Trung Đoàn được lệnh di chuyển xuống Long An, đảm trách hành quân an ninh trong vùng Bến Lức. Ban đêm, từng đoàn xe từ Tổng Kho Long Bình chở vũ khí, quân trang quân dụng xuống để đơn vị vừa hành quân vừa trang bị tiếp. Đạn thì thiếu nhưng súng lại thừa. Một người có thể được trang bị một khầu M16 và thêm một súng Colt 12, nếu muốn.
Ngày 22/4/75 có khoảng 10 tân sĩ quan hai khóa 29 và 30 của Trường VBQGVN vừa tốt nghiệp “non” tại Trường Bộ Binh Long Thành, đến trình diện. Các anh vẫn giữ đúng nề nếp, cử một đại diện chỉ huy trình diện đơn vị trưởng theo đúng lễ nghi quân cách. Nhìn họ mà tất cả chúng tôi ai nấy cũng đều cảm kích, chạnh lòng. Những sinh viên này đã từ bỏ học đường chọn binh nghiệp bảo vệ giang sơn tổ quốc. Bây giờ giang sơn đang như sợi chỉ mành trước gió, tổ quốc lâm nguy, vậy mà họ vẫn đến đây, để chấp nhận một cuộc chiến ở giờ thứ 25, trong một hoàn cảnh hoàn toàn bất lợi, khi chưa hề có được một ngày kinh nghiệm chiến trường. Trong những đôi mắt nhuốm chút ít ưu tư ấy vẫn tỏa ra đầy khí phách, sẵn sàng nhập cuộc.
Đại Tá Võ Ân đến bắt tay từng người một. Im lặng một lúc, anh lấy giọng:
- Thay mặt đơn vị, anh cám ơn và hoan nghênh các em đã đến trình diện. Các em đã cho chúng tôi một nguồn sinh lực mới, sau thời gian trải qua những mất mát, giao động. Điều đó cũng đã là một góp phần xứng đáng rồi. Anh biết các em chưa nghỉ phép sau khi làm lễ ra trường. Còn đơn vị lại đang trong thời kỳ tái tổ chức. Bây giờ theo thông lệ, anh cấp cho các em giấy nghỉ phép mười ngày, để các em về thăm gia đình. Mong là các em hiểu sự quyết định này của anh.
Hầu hết các tân sĩ quan nhất quyết xin ở lại để chiến đấu cùng đơn vị. Có anh bảo là gia đình ở ngoài Trung, không có ai ở đây. Nhưng tất cả sĩ quan chúng tôi có mặt lúc ấy đều thấy quyết định của ĐạiTá Ân là có cân nhắc và có tình có lý, nên khuyên các anh nên chấp nhận quyết định của Đại tá, nếu anh nào gia đình ở miền Trung có thể về Sai gon tạm nghỉ ngơi chờ lệnh, sau khi hết phép trở lại đơn vị cũng chưa muộn (?)
Ngay chiều hôm ấy, có lệnh bàn giao vị trí cho một đơn vị khác của Quân Đoàn III, chúng tôi khẩn cấp di chuyển đêm xuống giải tỏa áp lực địch tại Quận Cần Giuộc. Theo tin tức, đã có hơn một trung đoàn địch đang trên đường tiến đến uy hiếp khu vực này.
Tất cả chúng tôi đều đến từ Vùng 2, nên không ai biết rành địa thế và tình hình trong khu vực lạ lẫm này. Để tránh chậm trể và nguy hiểm, Trung Đoàn được biệt phái một toán Cảnh Sát do một Thiếu Tá chỉ huy, dẫn đường. Khởi hành từ 10 giờ tối, cho mãi 5 giờ sáng đơn vị mới tới địa điểm. Toán Cảnh sát “hướng lộ” đã dẫn chúng tôi đi sai lộ trình. Rất may là tất cả an toàn, không đụng độ với bất cứ lực lượng nào của địch.
BCH Trung Đoàn đóng tại Trường Trung Học Cần Giuộc. Phía trước là đồng ruộng, sau mùa gặt nên đất đã khô và trơ những gốc rạ. Tổng Kho Long Bình có lệnh phân tán quân trang quân dụng, nên đã đưa xuống đây cả mấy chục chiếc xe GMCvà xe jeep các loại, kèm theo một lệnh miệng: “ Mỗi xe chỉ có đầy bình xăng, xử dụng chiếc nào đến hết xăng là bỏ luôn.” Vừa xe, vừa gạo, và quân trang chất thành những đống cao giữa trời, trên những đám ruộng khô.
Trung Đoàn có ba tiểu đoàn, không có đại đội trinh sát và đại đội chỉ huy công vụ. Một tiểu đoàn đóng chung với BCH Trung Đoàn, làm lực lượng trừ bị, hai tiểu đoàn bung ra xa. Trong đó có một tiểu đoàn hành quân tái chiếm xã Mỹ Lộc, một khu trù phú của quận Cần Giuộc, bị một tiểu đoàn địa phương của địch xâm nhập, truy giết các nhân viên xã ấp và các trung đội nghĩa quân.
Giữa một cuộc chiến không nhìn thấy tương lai, và phải chỉ huy một đơn vị như chiếc áo cũ mục nát, được vá víu bằng những tấm vải đủ màu, nhưng Đại tá Võ Ân cùng tất cả chúng tôi đã sống với nhau thật vui vẻ, chí tình. Với tôi, đó lại là thời gian đáng ghi nhớ nhất trong cả mười một năm binh nghiệp. Cái ranh giới chỉ huy gần như nhỏ lại, để nhường cho cái tình huynh đệ. Điều này có được phần lớn là nhờ vào anh - Đại tá Võ Ân.
Ngày xưa, khi còn chỉ huy các tiểu đoàn, trung đoàn hùng mạnh, tham dự nhiều trận chiến cam go ở Bình Định, Pleiku, Kontum, Quảng Đức, anh vẫn vui vẻ thân tình như hôm nay. Với bạn bè hay đàn em, thuộc cấp lúc nào anh cũng dùng hai chữ “mi, tau”. Sĩ quan trong đơn vị thực sự xem anh như một người anh, hay một ông thầy của thời trung học.
Tháng 11 năm 1973, Phóng viên chiến trường Dương Phục, trong một lần đặc biệt đi theo đơn vị của anh, khi ấy là Trung Đoàn 53 thuộc Sư Đoàn 23BB, đang quần thảo với địch trong một trận chiến vô cùng khốc liệt tại Quảng Đức, đã viết:
“Tôi vác ba lô ra xe và hai tiếng đồng hồ sau có mặt bên cạnh đơn vị có nhiệm vụ tái chiếm hai tiền đồn Bu Prang và Bu Bong đã lọt vào tay địch quân trong cuộc tấn công ngày 4.11 vừa qua.
Trung Tá Võ Ân, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 Bộ Binh, trông giống một giáo sư hơn là một đơn vị trưởng tác chiến. Cả bộ chiến phục bụi bậm, bẩn thỉu, và khẩu súng lục Colt 12 đeo lủng lẳng bên hông cũng không giúp anh có vẻ ngoài oai hùng của người lính chiến. Nhưng tất cả những thứ đó chỉ là bề ngoài. Sức chịu đựng bền bĩ và ý chí sắt thép của anh Ân được truyền tụng theo chiều hướng huyền thoại hóa trong trung đoàn.
Ân tiếp tôi ngay tại vị trí chiến đấu của Tiểu Đoàn 2/53. Khuôn mặt trẻ trung, nhưng dầy dạn vẻ phong trần, nụ cười chân tình như chỉ những người lính chiến mới biết cười như vậy. Ân bảo tôi:
- Anh đến chậm mất hai ngày.
- Hai ngày sớm hơn đã xảy ra chuyện gì?
- Pháo. Địch pháo như mưa, pháo dội vào các đơn vị chúng tôi. Sau pháo, chúng xung phong.”
Sáng ngày 27 tháng 4 /1975, khoảng 10 giờ sáng. Khi chúng tôi đang ngồi uống cà phê trong một phòng học được dùng làm Trung Tâm Hành Quân, nghe tiếng trực thăng đang đảo thấp một vòng đáp xuống đám ruộng khô phía trước, cách chúng tôi chừng hơn100 mét. Nghĩ là trực thăng CNC đến làm việc cho Trung Đoàn, Đại Tá Ân bảo tôi lấy một chiếc xe jeep mới toanh, không mui, chạy ra đón phi hành đoàn. Vì trời nóng, nên đa số chúng tôi đều mặc áo thun. Tôi không kịp mặc áo lính, lái xe chạy băng qua mấy đám ruộng khô và dừng lại trước chiếc trực thăng vừa đáp xuống. Bỗng bất ngờ, ngạc nhiên khi thấy một người vừa bước xuống, tay cặp chiếc mũ sắt ngụy trang có gắn 3 ngôi sao. Theo sau là một vị trung tá trên tay cầm khẩu M-18. Tôi giật mình, nhận ra đó là Trung Tướng Ngô Quang Trưởng. Vội vàng bước xuống xe, tôi đứng nghiêm đưa tay chào. Ông bước tới gần tôi. Trong tiếng cánh quạt trực thăng chưa dừng hẵn, tôi nghe ông hỏi lớn:
- Có Đại Tá Ân trong đó không?
- Trình Trung Tướng, có.
Tôi trả lời và mời ông lên xe, nhưng ông từ chối, bảo là ông muốn đi bộ. Có thể là ông có ý cho tôi chạy vào trước để báo cho đại tá Ân, tôi đoán thế.
Tôi vội vã lái xe chạy vào BCH la lớn cho Đại Tá Ân và mọi người biết: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng tới thăm chứ không phải phi hành đoàn.
Tất cả vội vã mặc áo và sửa soạn lại tấm bản đồ lớn được treo trên bảng đen (của lớp học). Tôi xếp mấy chiếc ghế lại cho ngay ngắn. Khi Đại Tá Ân chưa kịp bỏ áo vào trong quần thi Tướng Trưởng đã bước vào phòng. Anh chỉ còn kịp đứng nghiêm hô to: “vào hàng, phắc” rồi đưa tay lên chào.
Tướng Trưởng trông khá mệt mỏi, ánh mắt hình như bị mất ngủ. Ông hỏi với một giọng buồn bã:
- Tình hình thế nào em?
Đại Tá Ân đưa cây que chỉ bảng lên tấm bản đồ, định trình bày tình hình, thì Tướng Trưởng đưa tay ngăn lại. Ông chỉ nói một câu ngắn ngủi:
- Phải cẩn thận. Đừng để hao tốn sinh mạng của anh em một cách vô ích.
Sau khi đưa tay bắt từng người có mặt trong TTHQ, Tướng Trưởng cho biết ông không có nhiều thì giờ vì chỉ mượn được trực thăng trong một thời gian ngắn, và bảo Đại Tá Ân lái xe chở ông sang thăm ông Quận trưởng Cần Giuộc. Tôi gọi toán cận vệ lên một xe jeep khác chạy theo, nhưng Tướng Trưởng khoát tay, bảo không cần. Sau này Đại tá Ân cho biết, anh Trung tá Quận Trưởng này cũng là một thuộc cấp được Tướng Trưởng tin cậy và quí mến, thời Ông còn làm Tư Lệnh QĐIV.
Cả Đại Tá Ân và chúng tôi không biết lúc ấy Tướng Trưởng giữ chức vụ gì. Chỉ biết là ông đến thăm anh Ân và dặn dò đôi điều. Anh Ân cũng cho biết là chưa từng làm việc dưới quyền Tướng Trưởng, có lẽ ông chỉ nghe nói đến anh Ân “người hùng trong trận chiên Ban Mê Thuột”, nên đến thăm và khen ngợi anh như từng khen ngợi những sĩ quan, những đàn em xuất sắc của ông ở Quân Đoàn I, nơi có nhiều cấp chỉ huy lỗi lạc với cái tên chỉ có hai chữ như anh (Võ Ân): Lê Huấn, Võ Toàn, Vĩnh Dác, Hoàng Mão, Nguyễn Hóa, Võ Vàng...
Tôi gặp và biết anh Ân lần đầu tiên vào khoảng cuối năm 1972, khi anh mang cấp bậc trung tá, dắt một tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn 22BB, từ Bình Định lên tăng cường cho Trung Đoàn 44BB chúng tôi, để giải tỏa Trung Nghĩa, một ngôi làng Công giáo, dưới sự chỉ huy của một vị linh mục, quyết tử chiến với Cộng quân, nhưng vì không đủ hỏa lực nên bị một lực lượng địch cấp tiểu đoàn chiếm hơn nửa làng. Một trận chiến phức tạp, khốc liệt, và cuối cùng anh đã chiến thắng ngoạn mục. Bằng một lối đánh giặc rất đặc biệt, xử dụng toàn súng cối 60 ly thay cho Pháo Binh và phi yểm.
Sau nhiều lần tấn công bất thành, do lực lượng địch trú ẩn bám trụ trong các giao thông hào kiên cố và chống trả mãnh liệt. Lệnh của Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn, tránh tối đa việc xử dụng phi pháo có thể gây thiệt hại cho khu nhà thờ và nhà cửa của dân chúng. Hơn nữa, Pháo Binh khó cận yểm vì khoảng cách giữa địch và dân quá gần, tiền sát viên của ta khó tiếp cận để điều chỉnh cho thật chính xác.
Anh lệnh cho các đại đội tạm rút ra, lựa chọn các binh sĩ trẻ và có năng lực tác chiến, chỉ trang bị súng nhẹ, không mang theo ba lô, chia thành nhiều toán nhỏ, làm lực lượng xâm nhập, tấn công. Các binh sĩ lớn tuổi hay yếu kém theo sau, làm lực lượng tải đạn, tản thương và án ngữ. Anh tâp trung cơ hữu và xin chúng tôi tăng cường thêm cho anh nhiều súng cối 60 ly (ít được các đơn vị xử dụng) với đầy đủ đạn dược, cùng một số xạ thủ có kinh nghiệm về loại vũ khí này. Tôi được Đại Tá Phùng Văn Quang, Trung Đoàn Trưởng 44, chỉ định đảm trách công việc này. Anh và tôi cùng hướng dẫn cấp tốc các tiểu đội trưởng cũng như xạ thủ, điều chỉnh súng cối từng mét một. Khi các tiểu đội bò vào tiếp cận các hầm hố của địch, đích thân anh điều động trên 20 khẩu súng cối 60 ly tác xạ theo sự điều chỉnh của các tiểu đội trưởng. Kết quả thật không ngờ. Địch quân bị tiêu diệt bởi các khẩu súng cối 60 ly này, số còn lại bị thương và bị bắt sống, bên ta không có binh sĩ nào tử thương.
Sau trận chiến, trước khi trở về đơn vị gốc, anh gọi tôi ra ăn bữa cơm chia tay, cùng với vài sĩ quan của anh ngoài tiệm Thiên Nam Phúc. Và có lẽ do chiến công này, chỉ một thời gian ngắn sau đó anh được thuyên chuyển về Sư Đoàn 23 BB để giữ chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 thay Đại Tá Trần Văn Chà. Sau này, tôi cũng được nghe kể lại, anh Ân là người chưa từng giữ cấp “phó” bao giờ.
Anh tốt nghiệp Khóa 12 Thủ Đức, là người thăng cấp trung tá sớm nhất và cũng là người duy nhất của khóa mang cấp bậc đại tá. Hầu hết những sĩ quan giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng dưới quyền, đều là khóa đàn anh, có người xuất thân trường Võ Bị đồng thời với anh. Nhưng tất cả đều nể phục và kính mến anh. Ngày 30-4-75, khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, chúng tôi đang quây quần trong phòng học được dùng làm TTHQ. Đại Tá Ân gục đầu xuống bàn. Tất cả im lặng. Cái im lặng thật rợn người. Có lẽ trong đầu mỗi người đang suy nghĩ về một điều gì đó. Tôi bước lại ôm vai anh. Trung Tá Phùng lệnh cho gọi tất cả anh em tập họp trước sân trường để nghe anh Ân ra lệnh lần cuối cùng. Anh cám ơn, bắt tay và ôm từng người, chúc tất cả trở về an toàn và gặp lại gia đình. Anh cũng ra lệnh phá hủy tất cả các loại súng ống trước khi rời vị trí.
Anh bảo tôi tâp trung tất cả tài xế lái các xe GMC khả dụng chở anh em về cầu chữ Y. Không đủ xe, tôi chạy đi mướn thêm hai chiếc xe đò. Tôi nghiệp hai anh tài xế đến giờ này vẫn còn chí tình với lính, tình nguyện chở giúp bọn tôi về đến Sài Gòn. Tôi đưa anh về nhà (chị Ân thuê để cùng các con tạm trú ở đây, sau khi theo đoàn quân di tản từ miền Trung). Anh bắt tay tôi thật chặt, nhìn tôi rồi bỗng nở một nụ cười, như chưa hề có chuyện gì xảy ra:
- Mi về xem vợ con ra sao. Cẩn thận hỉ.
Tôi nhìn anh, chưa biết nói lời gì để an ủi anh, thì lại nghe tiếng anh đùa:
- Que sera sera! Chừ tau chỉ tội nghiệp cho vợ con, còn tau thì phó thác số phận cho ông trời!
Tính anh là vậy đó, lúc nào cũng bất cần, cũng cười đùa, mặc dù trong lòng đang rối như tơ vò.
Chia tay anh, tôi bước đi mà nước mắt lưng tròng. Bước chân nhẹ tênh như không còn cảm giác, và trong lòng bây giờ dường như chỉ là một khoảng trống mênh mông!
Anh bị tù hơn 14 năm. Sang Mỹ cùng gia đình năm 1992 theo diện HO, và chỉ vài năm sau anh qua đời tại Colorado, do bị đột quỵ (tai biến mạch máu não). Có lẽ do hậu quả từ những cơn say và nhiều đêm mất ngủ. Anh dùng rượu để có thể tâm tình với hư vô, với những đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại ở đâu đó trên các chiến trường xưa, và đã ân hận vì không trả được món nợ máu xương này cho họ.
Anh ra đi, nhưng không hề chết. Tên tuổi Võ Ân vẫn còn vang vọng mãi trong tâm khảm của mọi người đã từng quen biết và sống chết cùng anh. Lịch sử dân tộc chắc chắn còn ghi đậm tên anh. Một người lính đã sống hết lòng với đồng đội anh em, và chiến đấu bằng tất cả danh dự cùng cả trái tim mình.
(40 năm sau ngày tan đàn xẻ nghé)
http://nguyentin.tripod.com/dt_voan.htm