Tuesday, January 3, 2017


Đăng bởi Tiểu Nhi on Tuesday, January 3, 2017 | 3.1.17


Gà rán Quảng Đông: Gà nhỏ 7-8 lạng, pha nước 3 sôi 2 lạnh, rửa sạch gà, thả vào nồi rồi mới vặt lông. Để ráo, ướp xì dầu trong ngoài đầy đủ. Trước khi ăn, cho vào chảo mỡ ngập, rán vàng hết hai mặt, khi chặt ra trong xương gà còn hơi hồng hồng Ăn xong tráng miệng bằng một quả táo nướng. Đây là loại táo Trung Quốc, đem bổ đôi, bỏ ruột, nướng xém, phết một ít đường và bơ, Bác cầm chiếc thìa nhỏ xúc ăn

http://gl.amthuc365.vn/thumbnails/600/250///uploads//content/2012/03/24/dui-ga-chien-quang-dong/9d65.png

Ở tuổi ngoài 80, cao lớn, khỏe mạnh nhưng bị nặng tai. Trí nhớ còn khá minh mẫn, ông bồi hồi nhớ lại từng chi tiết thời gian được nấu ăn phục vụ Bác Hồ và cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Phủ Chủ tịch. Tên ông là Đặng Văn Lơ.

Phục vụ việc nấu ăn cho Bác từ năm 1960 đến ngày Bác qua đời (1969) có ông Đinh Văn Cẩn và ông, trong đó ông Cẩn được phân công làm bếp chính của Bác, ông là bếp chính của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Nhưng vì Bác Hồ và bác Phạm Văn Đồng ở cùng một nơi, ăn cùng một chỗ, ngồi cùng một mâm, nên hai ông thay phiên nhau phục vụ cả hai người.

Ông Lơ kể, nhà ông rất nghèo, chỉ học đến lớp 3 rồi vào bộ đội, trung đoàn 15, đại đội 421 đóng quân ở chợ Chu. Từ năm 1949, có nhiều cố vấn Trung Quốc sang giúp Việt Nam, vì vậy một số bộ đội được chọn đi học nấu món ăn Trung Quốc. Tổng cộng có 150 người, nhưng ông là một trong những học viên xuất sắc nhất, thường xuyên được nấu tiêu chuẩn đặc táo (tức là trên cả trung táo và tiểu táo).

Ông Đặng Văn Lơ
Ông Đặng Văn Lơ
Lý do ông được nhận vinh dự cao quý này là trong thời gian từ năm 1953-1954, Bác Hồ thường sang Đồi cố vấn làm việc với các chuyên gia. Ông Cẩn mượn bếp của ông để nấu cơm cho Bác. Thấy ông là người chăm chỉ, thật thà lại khỏe mạnh, nấu ăn ngon nên ông Cẩn chú ý. Kháng chiến thành công, Trung ương về Hà Nội, ông Cẩn đã giới thiệu ông và được chấp nhận.

Ông kể: “Ông Cẩn được Pháp đào tạo, nấu giỏi cả cơm Tây lẫn cơm Việt, tôi coi là bậc thầy. Anh em thường xuyên trao đổi nên sau này các món ăn Tây, Tàu, Việt cả hai đều thạo cả. Hai chúng tôi thay nhau phục vụ, khi tôi làm thì ông Cẩn nghỉ và ngược lại. Hàng ngày, người phục vụ đứng bên này ao, trông sang nhà sàn của Bác, nếu nghe tiếng chuông leng keng sẽ xuống bếp báo chúng tôi chuẩn bị.

Buổi sáng Bác ăn lúc 6h, trưa ăn lúc 10 rưỡi, còn chiều ăn vào lúc 17h30. Bác Đồng làm việc bên ngoài nếu về kịp thì ăn cùng, còn bận đi tiếp khách thì Bác ăn một mình. Các món ăn thay đổi luôn cho ngon miệng, nhưng thường thì bữa sáng Bác dùng cà phê đen, với bánh ngọt giống như bánh patêsô bây giờ. Có hôm Bác đổi sang xúc xích chấm mù tạt hoặc bánh mì trứng ốp la.

10h Bác uống một ly nước sâm, 10h30 thì ăn trưa. Đến 2h chiều Bác uống một cốc cà phê sữa, 4h lại uống 1 ly nước sâm, rồi 5h30 chiều thì ăn cơm. 8h tối Bác uống thêm một cốc cà phê sữa nữa, chỉ thế thôi.

Căn bếp nơi phục nấu ăn cho Bác Hồ và cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Phủ Chủ tịch
Căn bếp nơi phục nấu ăn cho Bác Hồ và cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Phủ Chủ tịch
Bữa cơm của Bác giản dị lắm, món ăn chính chỉ có 3 món: canh, rau, thịt (hoặc cá), ăn xong tráng miệng bằng một quả táo nướng. Đây là loại táo Trung Quốc, đem bổ đôi, bỏ ruột, nướng xém, phết một ít đường và bơ, Bác cầm chiếc thìa nhỏ xúc ăn.”

Bác ăn rất đúng giờ, luôn dặn người phục vụ chỉ làm vừa đủ, không được làm thừa, lãng phí. Khi ăn, món nào không ăn hết, Bác trở đầu đũa để riêng, bảo cất đi, đến chiều làm nóng lại cho Bác ăn tiếp.

Ông Lơ kể tiếp: “Chúng tôi muốn Bác ăn được nhiều, nên múc một bát súp lớn, nhưng Bác sẻ lại một nửa. Sau chúng tôi rút xuống 1/3 bát thì Bác ăn hết. Biết thói quen của Bác nên mâm cơm bao giờ chúng tôi cũng bày thêm một miếng cháy nhỏ. Hai anh em thường xuyên trao đổi với nhau, để kịp thời điều chỉnh. Tiêu chuẩn là phải vệ sinh, tinh khiết, chất lượng.”

Thực phẩm hàng ngày được ô tô đưa đến tận nơi, đựng trong một chiếc hòm bằng gỗ, đề số 401. Bên trong có 2 hộp nhôm để riêng hàng chín và hàng tươi sống kèm theo hóa đơn, cuối tháng thì thanh toán một lần.

Cơ bản thì hai bác ăn như nhau, nhưng buổi sáng bác Phạm Văn Đồng thích ăn các món vặt mỗi thứ một tí: 2 quả chà là, cốc nước chè tươi, một ca nhỏ cháo vừng đen. Hôm thì ăn miếng phomat kèm vài miếng đu đủ. Bữa chính thì bác Đồng thường ăn thêm khoai lang, 2 miếng đậu rán non và mấy nhánh tỏi.

Ông Lơ bật mí về công tác an ninh, an toàn thực phẩm phục vụ hai bác. Người phục vụ thường xuyên được kiểm tra sức khỏe, nhắc nhở cắt móng tay, quần áo phải luôn sạch sẽ. Hàng ngày cứ trước giờ ăn 1 tiếng, an ninh đến lấy mẫu thức ăn mang về xét nghiệm. Nếu không vấn đề gì thì thôi, nếu có họ sẽ gọi điện sang. Ông Lơ tự hào nói: “Nhưng trong từng ấy năm, chưa bao giờ chúng tôi bị gọi “gọi điện” cả.”

Để giữ bí mật, trên bảng chấm cơm ở nhà bếp Bác Hồ lấy tên là Cụ Hiền, Thủ tướng Phạm Văn Đồng lấy tên là ông Lành.
Để giữ bí mật, trên bảng chấm cơm ở nhà bếp Bác Hồ lấy tên là Cụ Hiền, Thủ tướng Phạm Văn Đồng lấy tên là ông Lành.
Những hôm Bác có khách là chuyên gia nước ngoài, hay anh hùng, chiến sĩ thi đua thì hai ông khá bận rộn vì chỉ có hai người tự tay nấu tất cả các món ăn. Ông Lơ làm thêm bánh bao, tráng bánh cuốn, ông Cẩn làm bánh mỳ. Khi nào Bác họp với Bộ Chính trị, các ông cũng phục vụ luôn, lúc thì bánh cuốn, bánh giò, lúc thì cháo cá quả, mì vằn thắn, phở… Ngay cả khi có khách, Bác đều dặn kỹ chúng tôi có bao nhiêu người, chỉ làm vừa đủ, không được làm thừa, lãng phí.

Ông Lơ tự hào kể, phục vụ Bác 9 năm trời, có 2 lần ông được Bác hỏi chuyện riêng. “Một lần tôi đi chăn bò về thì gặp Bác. Bác ra hiệu cho tôi dừng lại hỏi, chú đông con lắm phải không? Tôi thưa vâng. Bác hỏi thăm hoàn cảnh gia đình thế nào, tôi không dám thưa kỹ, nhưng Bác biết. Vài hôm sau thấy ông Vũ Kỳ mang chăn, áo len xuống bảo Bác cho tôi để gửi về nhà.

Lần khác tôi ngồi ở bờ ao, bấy giờ chưa kè đẹp như bây giờ đâu, đánh xoong nồi bằng trấu và cát. Bác đi bộ qua thấy, dừng lại hỏi chú đánh nồi bằng cái gì thế? Tôi thật thà thưa. Bác bảo, đánh bằng trấu và cát thì xoong nhanh mòn, lại không bóng, chú chịu khó đánh bằng tro bếp, nó lâu một tí nhưng nồi không bị mòn mà lại bóng. Ấy là Bác dạy tôi đức tính tiết kiệm.”

Ông Đặng Văn Lơ đã biểu diễn lại những món ăn từng phục vụ Bác Hồ. Bên cạnh là thiếu tướng Phạm Sơn Dương, con trai cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Ông Đặng Văn Lơ đã biểu diễn lại những món ăn từng phục vụ Bác Hồ. Bên cạnh là thiếu tướng Phạm Sơn Dương, con trai cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Những khi Bác đi công tác, hai ông xếp sẵn thức ăn vào cặp lồng. Đến trưa thì trải một tấm ni lông ra bày thức ăn lên. Bác không cho địa phương làm cơm, vì Bác bảo tiếp một mình Bác mà bày cỗ bàn linh đình sẽ tốn kém của dân của nước!

Món ăn Bác thích là thịt mỡ kho, nhưng vì tuổi Bác đã cao, nên các bác sĩ không đồng ý. Hai ông chỉ dám lọc thịt mỡ ra, cho vào miếng vải màn, ép thành nước, tẩm ướp với thịt nạc rồi đem kho, nhưng mỗi bữa cũng chỉ 2 miếng nhỏ thôi. Mỗi khi ăn xong, Bác đều xếp lại bát đũa gọn gàng, phục vụ chỉ việc bê đi.

Vui nhất là bữa cơm tất niên, mỗi năm hai bác ăn với anh em phục vụ vào ngày 28 hoặc 29 Tết. Bác ân cần bảo, anh em vất vả quanh năm, bữa cơm này phải ăn thật khỏe, thật nhiều, ăn cho hết nhé.

Chúng tôi hỏi, được phục vụ gần Bác lâu như vậy, điều gì ông rút ra cho mình từ tấm gương của Bác? Ông Lơ nói ngay: thường xuyên vận động. Bác Hồ đi bộ rất đều, ăn uống điều độ, đúng giờ. Bác luôn quan tâm đến mọi người, sống giản dị, tình cảm chân thật. “Những hôm trời mưa, chúng tôi định mang cơm lên nhà sàn, Bác trông thấy bắt bê về, rồi Bác tự xắn quần đi xuống nhà ăn.” Ông Lơ xúc động nhớ lại.

Sau ngày Bác mất một thời gian, ông Đinh Văn Cẩn cũng qua đời. Ông Lơ tiếp tục phục vụ Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến năm 1988 thì hết tuổi, tổng cộng ông nấu ăn trong Phủ Chủ tịch 28 năm 6 tháng. Ông được ưu tiên sang Trung Quốc làm đầu bếp tại Đại sứ quán Việt Nam 3 năm nữa thì về hưu. Hiện ông đang sống tại Hà Nội.

Cách đây không lâu, ông đã “biểu diễn” lại một số món ăn mình từng phục vụ Bác Hồ cho một nhóm cán bộ chiến sĩ, trong đó có thiếu tướng Phạm Sơn Dương là con trai cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Mời xem Video: Gia đình sẽ lên tiếng về tin đồn Tướng Phùng Quang Thanh bị thắt cổ trong nơi quản chế?


Cách làm một số món ăn phục vụ Bác Hồ của ông Đặng Văn Lơ
Gà rán Quảng Đông: Gà nhỏ 7-8 lạng, pha nước 3 sôi 2 lạnh, rửa sạch gà, thả vào nồi rồi mới vặt lông. Để ráo, ướp xì dầu trong ngoài đầy đủ. Trước khi ăn, cho vào chảo mỡ ngập, rán vàng hết hai mặt, khi chặt ra trong xương gà còn hơi hồng hồng.
Gà luộc Quảng Đông: Gà nhỏ 7-8 lạng, rửa gà, cho vào nước 3 sôi 2 lạnh. Vặt lông, để ráo, rắc muối gia vị lên con gà sau đó luộc đến độ sôi khoảng 80 độ thì bắc ra, để nguyên trong nồi 15 phút. Sau đó cho con gà đã luộc vào nồi nước thật lạnh, để 15 phút nữa. Khi chặt thịt bên trong vẫn còn nước hơi hồng hồng, như thế khi ăn thịt sẽ mềm và da gà vẫn giòn. Thái vát, bỏ xương, lấy nước dùng, pha thêm ít mì chính là ăn.
Cá bống kho tộ: bống sông rửa sạch, lấy khăn thấm khô, ướp gia vị, rồi tưới nước màu (nước hàng) lên. Sau đó cho vào nồi đất, có nước dùng gà xâm xấp, đun sôi đến chín, rồi để nhỏ lửa, khoảng 60 độ, chờ cá săn lại là được.
Hữu Việt

(VTC News)

Đăng bởi Tiểu Nhi on Tuesday, January 3, 2017 | 3.1.17


Tựa đề bài viết này có lẽ cũng là điều mà nhiều người đang tự hỏi. Cách đây vài năm, từ cuộc cách mạng Hoa Lài đầu năm 2011 ở Tunisia đến cuộc lật đổ nhà độc tài Muhammad Mubarak ở Ai Cập qua vụ biểu tình với hàng triệu người mang Dù ở Hongkong năm 2014, đã có nhiều dự đoán cho rằng chế độ và đảng CSVN sẽ sụp đổ trong tương lai gần.

https://anhbasam.files.wordpress.com/2015/10/h1150.jpg

Thế nhưng gần 6 năm đã trôi qua từ Cách mạng Hoa Lài đến Mùa Xuân Ả Rập, tình hình Việt Nam có nhiều biến động lớn về chính trị cũng như xã hội trong năm 2016 nhưng dường như chế độ CSVN vẫn chưa có dấu hiệu gì chứng tỏ sự sụp đổ đang kề cận.

Các biến động chính trị với chuyện thanh toán nhau giữa các đồng chí lãnh đạo thân thương, kính mến trong nội tình đảng CS như án mạng ở tỉnh đường Yên Bái, cái chết đầy bí ẩn của tư lệnh quân khu 2, hỏa hoạn tại quán Karaoke thiêu sống 12 cán bộ trung cấp... ồn ào một dạo khiến người dân hả hê, thích thú trông chờ những cuộc trừng phạt, sát hại, tranh ăn với nhau dữ dội hơn.

Bên cạnh đó, chế độ và đảng CSVN càng ngày càng công khai, táo tợn để lộ rõ bản chất nô lệ, bán nước, độc tài, gian manh, hung ác, nham hiểm hơn bao giờ. Việc TBT Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu tại hội nghị công an toàn quốc thứ 72 ngày 26. 12. 2016 đã nói rõ ràng “Cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân phải là những người hết lòng trung thành với Đảng, chỉ biết “còn Đảng, còn mình”. (*)

Biến động xã hội với các cuộc biểu tình của người dân ở Kỳ Anh đòi bồi thường thiệt hại và đòi hỏi nhà máy Formosa phải rút khỏi Việt Nam không làm bộ trưởng bộ công thương Trần Tuấn Anh run tay khi tiếp tục phê chuẩn dự án thép Cà Ná. Điều đó cho thấy việc xả chất thải từ nhà máy luyện thép Formosa ở Kỳ Anh tháng 04. 2016 gây ra hủy diệt môi trường ở bờ biển kéo dài trên 240 km qua 4 tỉnh miền Bắc-Trung phần không hề làm lãnh đạo đảng CSVN sợ hãi hay e dè trước sự tàn phá đất nước khủng khiếp cũng như số phận điêu đứng của vài trăm ngàn đến hàng triệu người dân các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế.

Những vụ xả lũ ồ ạt từ các nhà máy thủy điện cộng với những cơn mưa lớn kéo dài khiến 235 người chết, hàng chục ngàn gia đình mất trắng hoa mầu, nhà cửa, gia súc, nông cụ... thiệt hại gần 2 tỷ đô la Mỹ mà trách nhiệm chính là do bộ công thương cùng các cơ quan dưới quyền đã ký giấy phép cho thành lập các nhà máy thủy điện một cách bừa bãi.

Sau khi lũ rút đi, người dân trắng mắt nhìn nhau, các nhà máy thủy điện lại tiếp tục hoạt động như không có chuyện gì xẩy ra. Ba nhân vật lãnh đạo trong Tứ đầu chế Trọng, Quang, Ngân lặn mất tiêu, không thấy tăm hơi, chỉ có Nguyễn Xuân Phúc sau một hai tuyên bố mị dân xử phạt hành chánh các nhà máy thủy điện rồi cũng làm lơ mọi chuyện.

Trong khi đó nền giáo dục tiếp tục suy đồi tệ hại, văn hóa xuống cấp thê thảm, xã hội bất an, tham nhũng, hối lộ, cướp của, giết người giữa ban ngày càng lúc càng nhiều nhưng chế độ CSVN vẫn tiếp tục cai trị đất nước, không hề có dấu hiệu thay đổi đường lối, chính sách theo chiều hướng dân chủ, tự do hay cải cách xã hội tốt đẹp, bình yên hơn cho người dân.

Tunisia, chỉ một ngọn lửa của Mohamed Bouazizi đã làm bùng nổ cuộc cách mạng thay đổi cả thể chế. Ở Việt Nam, 235 người dân thiệt mạng vì lũ lụt do các nhà máy thủy điện gây ra trong việc xả lũ, mội trường ở 240 km bờ biển bị hủy hoại, tại sao gần như người dân cả nước vẫn thờ ơ như chuyện xẩy ra ở Phi châu, nơi một bộ lạc xa xôi, một đất nước nhỏ bé nào đó ít ai biết đến tên, không dính dáng gì đến mình?

Tại sao hàng chục ngàn người có thể đổ xô ra đường ở Hà Nội vào đêm khuya khoắt, hay hàng trăm ngàn người chen kín nhiều đường phố ở Sàigòn để chào đón tổng thống Barack Obama trong tháng 05. 2016, nhưng lại không có ai xuống đường để yêu cầu các nhà máy thủy điện xả lũ gây chết 235 người phải đóng cửa? Phải chăng người dân Việt Nam quá ích kỷ và hèn nhát, thèm khát tự do dân chủ nhưng không dám đấu tranh, hi sinh cho ước muốn của mình?

Không quá khó để đi tìm câu trả lời. Có nhiều nguyên nhân:

1. Chế độ CSVN đã thuần hóa được dân tộc sau hơn 41 năm cai trị cả nước bằng chủ nghĩa độc tài, toàn trị. Sức đề kháng, chống lại bất công xã hội của người dân đã cùn nhụt, ý thức tập thể của một dân tộc đa số sống bằng nông nghiệp vốn đã không cao nay trở nên rệu rã, không thể kết hợp để tạo thành một sức mạnh, một phong trào khả dĩ làm thay đổi được chế độ. Do bị tuyên truyền, nhồi sọ, không được phép suy nghĩ, có tư duy độc lập ngay từ lúc mới chào đời, đa số người dân kể cả thành phần trí thức, có học sống theo sự điều khiển, giật dây của chế độ một cách vô thức. Thiểu số nhận thức được sự toàn trị gian ác, lưu manh, nham hiểm của cộng sản nhưng vì an nguy bản thân, gia đình cũng đành im lặng sống qua ngày hoặc tệ hại hơn a dua theo để hưởng lợi.

2. Chế độ CS với khoảng 4, 5 triệu đảng viên gồm quân đội, công an, cán bộ chính quyền, dân phòng, dư luận viên... cùng với thân nhân, gia đình, những kẻ ăn theo, giai cấp trung lưu buôn bán... phỏng đoán tổng cộng có thể lên đến 20 triệu người hoặc hơn. Lực lượng này chắc chắn không (hoặc chưa) muốn thay đổi chế độ khi họ vẫn còn có thể kiếm ăn, làm giầu trong tình trạng hiện tại, cho dù nhiều người trong họ cũng thấy được sự bấp bênh và bản thân chịu nhiều áp lực, chèn ép, áp bức trong cuộc sống.

3. Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng nhất là Việt Nam nằm sát bên cạnh Tàu Cộng, một đất nước với hơn 1,4 tỉ người, lúc nào cũng muốn đặt ách đô hộ lên VN trong hơn 4. 000 năm qua. Đó là điều không may cho dân tộc. Một đất nước tự do, dân chủ với khoảng 94 triệu dân nằm sát sườn một nước cộng sản to lớn như Tàu Cộng chắc chắn không phải là điều dễ chịu cho các lãnh đạo Trung-Nam Hải. Do đó họ tìm đủ mọi cách để buộc lãnh đạo CS Hà Nội phải lệ thuộc hoàn toàn vào họ.

Như vậy tương quan lực lượng là 20/74 triệu (trên tổng số dân là 94 triệu) tức gần như 1 chống 4. Tuy nhiên, phe thuộc chế độ dù là thiểu số nhưng mạnh hơn về vũ khí, trang bị, liên kết (tạm thời) chặt chẽ hơn với nhau về quyền lợi, lại được lãnh đạo rõ ràng. Phe của người dân, dù đông hơn gần 4 lần nhưng vũ khí có được chỉ là lòng căm thù, thiếu hẳn sự đoàn kết, lãnh đạo và ý chí chiến đấu, ngại hi sinh.

Quan sát các cuộc biểu tình từ việc chống giàn khoan HD 981, dân oan khiếu nại đất đai bị cướp hoặc không được đền bù thỏa đáng đến chuyện đòi hỏi Formosa bồi thường thiệt hại, rời khỏi Việt Nam... có thể thấy rõ trong 74 triệu dân VN, những người ý thức được việc cần phải thay đổi chế độ CS càng sớm, càng nhanh càng tốt có lẽ không tới chục ngàn người. Phần còn lại gần 74 triệu dững dưng với mọi biến động ngay cả khi bản thân, gia đình họ bị mất đi miếng cơm, manh áo một cách gián tiếp như hàng triệu người bị liên hệ trong thảm họa Formosa tàn phá môi trường trên 4 tỉnh miền Bắc-Trung phần nhưng biểu tình đòi bồi thường thiệt hại và yêu cầu Formosa rút khỏi Việt Nam, cao nhất theo ước tính cũng chỉ khoảng hơn 10. 000 người vào ngày 02. 10. 2016.

Tương tự như thế, các nạn nhân điêu đứng vì lũ lụt miền Trung đến hàng trăm ngàn người nhưng không hề có một cuộc biểu tình nào của người dân yêu cầu đóng cửa các nhà máy thủy điện “xả lũ đúng quy trình”. Phải chăng 235 nạn nhân chỉ là con số nhỏ so với 94 triệu? Phải chăng dân VN đã quen quan niệm rằng người chết thì đã chết, không thể làm sống lại được, biểu tình đòi hỏi đóng cửa nhà mày thủy điện sẽ bị đàn áp, đánh đập, giam giữ, kết tội phản động, gây rối loạn trật tự xã hội... cho nên ai cũng thà chết sau chứ không chịu hi sinh trước cho các thế hệ con cháu mai sau.

Một cuộc cách mạng lật đổ chế độ CSVN từ những cuộc biểu tình với sự tham dự của hàng trăm ngàn người dân hoặc hơn ở các thành phố lớn như Sàigòn, Đà Nẵng, Hà Nội sẽ không bao giờ xẩy ra.

Từ những nhận định trên, người viết nghĩ rằng chế độ CSVN chỉ sụp đổ khi một trong các biến cố dự đoán sau đây trở thành hiện thực:

1. Một biến động quốc tế ở biển Đông đẩy hai nước Mỹ - Tàu cộng, do xung đột về kinh tế, vừa là thù vừa là bạn vào một cuộc chiến tranh quy ước, kéo theo các nước Nhật, Nam Hàn, Úc, Đài Loan, Việt Nam... vào tham chiến. Chế độ CSVN lúc đó bắt buộc phải chọn đứng về một phía, theo Tàu Cộng hoặc Mỹ. Đứng về phía nào thì chế độ CS cũng sụp đổ.

2. Việc “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong đảng CS xảy ra mạnh mẽ, dữ dội, nhanh chóng hơn khi tài nguyên đất nước cạn kiệt không còn gì để bán, ngân sách trống rỗng, không còn tiền trả lương cho công an, quân đội, dân phòng, dư luận viên…, đất nước tan hoang vì các dự án phá hoại môi trường nằm trong âm mưu của Tàu Cộng trong giai đoạn cuối đang được ồ ạt triển khai. Hàng loạt cán bộ lãnh đạo trung, cao cấp của chế độ sẽ tháo chạy trong tương lai.

Khi chiếc bánh tài nguyên đất nước càng ngày càng nhỏ, số người ăn càng lúc càng đông, các lãnh đạo cộng sản mới lên sau này bắt buộc phải tranh giành, tìm cách cướp lại những gì các người đi trước đã tham nhũng, hối lộ, rút ruột công trình trong mấy chục năm qua. Đó cũng chính là lý do giới tư sản trung lưu hiện đang bị dòm ngó tài sản, nay mai chắc chắn sẽ bị hỏi tội, bằng chứng đầu tiên là vụ đánh thuế hồi tố các doanh nghiệp buôn bán xe hơi với những xe bán sau ngày 01. 07. 2016.

3. Đảng CS Tàu bị phân hóa và sụp đổ do sự tranh giành quyền lực, thanh toán nhau giữa các lãnh đạo cao cấp nhất, khi đó chế độ CSVN tức khắc tan vỡ theo vì mất chỗ dựa về kinh tế và chính trị, biến loạn xã hội sẽ xẩy ra, máu sẽ đổ. Công an, quân đội sẽ rã ngũ, sẽ đứng vế phía dân hay chế độ?

Mời xem Video: Kết luận điều tra những sai phạm của Trưởng Ban Tổ chức TW Tô Huy Rứa gửi Bộ Chính trị



Năm 2017 đã bắt đầu, dân tộc, đất nước VN sẽ đi về đâu, chế độ CSVN tồn tại bao lâu nữa vẫn là câu hỏi bỏ ngỏ chưa có câu trả lời. 

Thạch Đạt Lang 

(Dân Làm Báo)

Đăng bởi Tiểu Nhi on Tuesday, January 3, 2017 | 3.1.17


Đây là một bài viết tôi sưu tầm được, nhưng tôi phải nói trước với bạn là ngôn từ của nó không hề ngọt tai, nếu bạn chưa sẵn sàng nhìn nhận thực tại bản thân hay thế hệ, có lẽ bạn sẽ thấy một chút khó chịu khi đọc.

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjspxC9_GvZbfumaE6Vsr1DkymUEucZ5NeCh6XzZIO4ivOymp5s2sGtq9tEoqqLZ_JO8mxWzcJIflsc1GA3LKywhW_PCuHMJmly9sGStkaden_x31afBvH5T5lBoFKwRwix7rAozWgTtTE/s400/t504390.jpg

Nếu bạn muốn thay đổi đất nước, nếu bạn đã 18 hay 20 tuổi hoặc hơn, hẳn là bạn cũng sẽ sớm trở thành những ông bố, bà mẹ. Thế nên, hãy chuẩn bị cho thay đổi, không cần biết trước đây bạn được giáo dục như thế nào, hãy chắc rằng, bạn sẽ trở thành hình mẫu mà bạn muốn con cái mình trở thành trong tương lai.

Bạn có biết lý do chính dẫn tới việc nước Việt ngày càng sa sút? Câu trả lời là: LƯỜI!

Người ta cứ đang kéo cố gắng đất nước này đi lên. Hàng loạt bài báo được viết nên. Trong đó chỉ ra rằng đất nước này đang bị ô nhiễm hóa, đang bị bóc lột hóa, đang bị bất công hóa, và đang bị căng thẳng hóa… Nhưng rồi các bạn biết được điều gì là quan trọng? Ừ, CHẲNG AI THÈM ĐỌC NHỮNG BÀI BÁO ĐÓ. Nghĩa là người ta không biết chuyện gì đang xảy ra chung quanh họ, không biết được mức độ căng thẳng leo thang của thế giới xung quanh. Tóm lại là, người viết thì cứ viết, người chơi thì cứ chơi, không ai thèm đọc. Dĩ nhiên là ta đang nói đến số đông thôi.

Vậy ra, người ta đang cố gắng thay đổi mọi thứ ở phần ngọn. Nghĩa là kêu gọi những con người đã góp sức gây nên hiện trạng này, hãy thôi đừng phá hủy đất nước nữa, hãy thôi xả rác, hãy thôi chém giết. Đó là một ý tưởng điên rồ. Kêu gọi người từng sát hại đất nước này hãy suy nghĩ lại, rũ chút lòng thương, đừng phá hoại nữa.

Bạn biết vì sao mà đất nước này cứ thụt lùi, thậm chí bây giờ thua cả Lào và Campuchia không? Nếu bạn định trả lời là chính phủ thì hãy tạm gác lại cái ý nghĩ đó. Bởi vì vấn đề là dân chúng ở đây mang một căn bệnh nan y không thể chữa nỗi: LƯỜI!

LƯỜI VẬN ĐỘNG, TẬP THỂ DỤC

So với số người tập thể dục, thì số người không tập chiếm gấp nhiều lần, nếu không muốn nói là áp đảo hoàn toàn. Bạn không tin? Sáng thức dậy 4 giờ sáng chạy bộ. Rất nhiều ông cụ, bà già sẽ chạy cùng bạn. Số trung niên cũng rất nhiều. Còn số thanh niên thì chiếm trên đầu ngón tay thôi nhé.

Mà không tập thể dục thì chẳng đào đâu ra sức khỏe, không có sức khỏe thì làm cái gì cũng mau mệt, mau mệt thì sẽ nhanh chán, mà nhanh chán thì sẽ sớm bỏ cuộc. Những người có sức khỏe yếu thường làm mọi việc qua loa. Tin tôi đi. Họ không chịu đựng nỗi bất cứ chuyện gì hết. Đó là khi chúng ta nên nói tiếp các kiểu lười khác là hệ lụy của lười vận động.

LƯỜI HỌC

Cái này thì khỏi nói rồi. Trừ các học sinh trường chuyên và công lập, đa số những trường khác, học sinh rất chi là lười. Khoan hãy nói đến việc kiến thức có hàn lâm hay không, có khó nuốt hay không, có kém thực tiễn hay không. Mà hãy tự hỏi, tại sao lại như vậy? Không ai chịu đựng nỗi 2 3 tiếng học bài ở nhà. Nói trắng ra là họ quá lười chịu đựng. Alan Phan đã từng nói rằng ông không hiểu tại sao một đất nước dân số vàng như Việt Nam lại có vẻ lù khù như các cụ già đến vậy.

Bạn hỏi tại sao? Hãy tạm trách Internet, Smartphone, Karaoke, Nhậu nhẹt, Lotte, Starbuck và các loại ăn chơi thời hiện đại nhé. Bạn lại hỏi tại sao nữa à? Bởi vì đó là thách thức của thời đại này. Thú vui hưởng thụ bao vây xung quanh, nhan nhãn đông tây nam bắc hướng nào cũng có. Tại sao phải chịu đựng học bài khi tụi bạn đi nhậu, đi hẹn hò, đi Lotte? À, quên nữa, đừng ai nói với tôi một câu mà đứa trẻ trâu nào cũng biết: Cái nào cũng có mặt lợi, quan trọng là đừng dùng quá liều lượng. Bởi vì, không có mấy ai biết kiểm soát chính họ ở cái vùng đất này đâu.

LƯỜI LÀM

Tất cả những người chủ ở Việt Nam đều khó tính, họ thường đốc thúc công nhân của mình. Bởi vì họ biết, không đốc thúc, bọn công nhân chỉ ngồi chơi, và làm kiểu đối phó, chủ tới thì luôn tay luôn chân, chủ đi thì phì phèo điếu thuốc, thậm chí là lướt facebook chat chit nữa là đằng khác. Nếu cha mẹ bạn là người trả tiền cho công nhân, chắc bạn sẽ rõ điều đó hơn cả.

Bạn hỏi vì sao họ lười làm, họ bắt đầu lười từ khi nào? Vì sao? Vì họ chẳng có thích thú gì với công việc. Bởi vì họ từ cái giây phút họ lười học, họ chẳng có kiến thức gì để giải quyết vấn đề nên họ chẳng muốn xảy ra thêm vấn đề gì nữa. Mà đấy, cách hay nhất để không có vấn đề gì để giải quyết là ngồi chơi. Làm việc thì tạo nên vấn đề, giải quyết vấn đề chính là một bước thăng tiến. Nhưng họ lại sợ gặp vấn đề biết bao. Không giải quyết được lại bị chửi, lại bị sỉ nhục, lại quê với người khác. Nên họ thà làm người nhàn rỗi tay chân, áo sạch đồ đẹp, không một vết bẩn còn hơn lấm lem mồ hôi, nhếch nhác không ai thèm dòm.

LƯỜI SUY NGHĨ

Lướt dạo hết vòng facebook là điều bạn có thể làm ngay. Nếu facebook bạn không có gì đáng để xem, không có gì để làm bạn cảm động, làm bạn thấy phải nhìn lại bản thân mình thì bạn chính là một ví dụ. Còn nếu có thông tin gì đó hay, viết về thực trạng của đất nước, về ô nhiễm môi trường, về động vật tuyệt chủng, hay các bài viết học thuật, hãy xem nó được bao nhiêu người like? À, thường thì không có bao nhiêu người like đâu. Không tin lướt ngay facebook là biết.

Chúng ta không có gì để học sao? Hay chúng ta chỉ quan tâm về tự sướng, em nào đẹp, em nào xài camera 360, anh nào GAY, chỗ nào chơi tốt, khu nào ăn ngon, quần áo chỗ nào bán đẹp? Nếu facebook của bạn không có bất cứ cái gì liên quan tới học thuật, kiến thức, thay vào đó là 90% ảnh girl xinh, trai đẹp, hãy yên tâm một cách chắc nịch rằng bạn là một trong những đứa lười suy nghĩ bậc nhất thế giới.

LƯỜI TRANH ĐẤU

Cái này thì khỏi phải nói luôn rồi. Cha chung chả ai khóc mà. Đất nước ngày càng đi xuống thì cũng mặc. Nói thật, chả ai quan tâm cả. Những người có tâm, những người làm báo cứ như những kẻ thui thủi một mình tự kỷ vậy. Bài nào họ viết ra, họ tự đọc, chả mấy ai đọc nói chi đến like và comment. Đi chơi noel xong rác thải đầy đường để phải viết lên báo, cũng chả cần thấy nhục mặt cho bản thân hay cho đất nước này, cứ thế năm nào cũng vậy, cũng lên báo, rồi cũng thôi, vì chẳng ai còn hơi sức để nói nữa.

Thờ ơ là căn bệnh của người Việt. Nếu không tin, search bài báo: “Người Việt vô cảm thứ 13 thế giới” là biết. Họ chẳng muốn tranh đấu. Họ chẳng muốn gì cả ngoài việc hưởng thụ những gì đang có. Tài nguyên chúng ta bán, cây rừng chúng ta cưa, voi rừng chúng ta giết, thú rừng chúng ta ăn, chả còn gì mà chúng ta “tha” cả. Khai thác triệt để cho thế hệ này tận hưởng, có thể đoán là trong vòng 10 năm tới sẽ cạn sạch. Nhưng mọi người thì cứ thờ ơ để mọi thứ ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Miễn là họ không ở những vùng hiểm trở, thiên tai; miễn là họ không bị gì hết. Càng ngày, người ta càng rút về thành thị, co cụm, bạn thấy không? Cả đám ăn chơi phè phỡn với nhau, rồi chuốc độc nhau trong từng thớ thịt, dĩa cơm… Nhưng không ai muốn tranh đấu! Chẳng ai muốn cả, vì họ bận phải hưởng thụ sự hiện đại này.

Đấy là những thế hệ đã được đào tạo. Việt Nam thuộc loại khủng của thế giới trong việc chi ngân sách cho giáo dục. Họ đã làm gì, và chúng ta đã tôi luyện bản thân như thế nào? Có khi nào chúng ta thấy nhục nhã, chẳng cần gì cao siêu, mà chỉ bởi vì chúng ta vừa quăng một cục rác xuống đường. Ai đó nhắc nhở, và chúng ta phản bác: TRƯỚC SAU CŨNG CÓ NGƯỜI QUÉT THÔI. Liệu có bao giờ chúng ta thấy nhục mặt vì cái độ lười nó ghê tởm đến nỗi những con chó thông minh, biết đi ị đúng chỗ cũng phải khinh thường?

Những thế hệ đi qua, và những bài học của các bậc mẹ cha ngày càng thực dụng. Bạn không thấy xã hội này quá co cụm từ khi bạn chuẩn bị cắp đồ lên thành phố học? 99,9% tôi đảm bảo sẽ được nhắc: Giữ tiền cẩn thận nha con, trộm cắp dữ lắm; Ở ký túc xá coi chừng nhà con, trộm cắp phức tạp lắm; ở Sài Gòn cẩn thận nha con, dân tứ xứ chẳng biết ai là ai đâu…

Bạn đã từng nghe, chắc chắn như vậy, và hãy thừa nhận là lũ người xung quanh bạn thật gớm ghiếc. Và bạn, tôi chỉ đích danh bạn đó, cũng chưa chắc là một trường hợp đặc biệt gì ngoài lũ gớm ghiếc đó đâu. Một lũ tệ hại, cười với nhau những nụ cười giả tạo, đôi tay vịn chắc túi tiền và trôi vào dòng cuộc sống. Chúng ta chắp vá đất nước này, rách chỗ nào vá chỗ đó, nhưng đúng như Lưu Quang Vũ nói:

“Có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá, gượng ép chỉ càng sai thêm. Chỉ có cách là đừng bao giờ sai nữa, hoặc phải bù lại bằng một việc làm đúng khác.”

Nhưng chúng ta chẳng quan tâm lời dạy này. Chúng ta chắp vá nhiều hơn là đằng khác. Ai đó đút lót, chúng ta đút lót nhiều hơn. Ai đó đối phó để được điểm cao, chúng ta quyết tâm biết được đề thầy sắp ra giờ kiểm tra. Ai đó quăng rác bừa bãi, chúng ta quăng rác một cách tinh vi. Ai đó lừa đảo ta, ta học cách đó để lừa đảo lại người khác. Và chúng ta có một xã hội như ngày hôm nay. Chẳng ra một cái gì cả.

Một dân tộc ghê tởm nhau, đề phòng nhau đến những chuyện nhỏ nhặt đến như vậy thì làm sao còn đầu óc để đầu tư vào những thứ tiến bộ khác hơn? Một xã hội co cụm, những ánh mắt đầy hoài nghi, ghê tởm thay cho chúng ta!

Chúng ta lười mọi thứ. Chúng ta lười vận động, rồi thì sức khỏe chúng ta kém, sức chịu đựng không có nên chúng ta nhác học, lười làm, buồn ngủ khi phải nghĩ và chán ngán khi phải chịu đựng. Tất cả những gì chúng ta có là đối phó, từ trong ra ngoài. Không đối phó bằng cách hối lộ tiền, thì đối phó bằng cách mua bằng cấp giả, nếu không được thì học đại cho xong, và trong lúc học cũng đối phó với thầy cô. Vâng, chúng ta đối phó n+1 các loại. Nhưng điều làm tôi ghê tởm hơn cả tật đối phó, chính là không thèm đối phó nữa mà sẵn sàng thải rác ra đường như không giữa ban ngày ban mặt, buông lời tục tĩu, dâm dục giữa thiên hạ. Số đó không hề ít, xin chớ coi thường.

Chịu đựng! Những người đi ra từ chiến tranh với sức chịu đựng ghê gớm lại nuôi dạy con họ một cách đầy nuông chiều. Quá nhiều người đi ra từ chiến tranh, quá nghèo khổ để nói đến đức hạnh, tất cả những gì họ lo lắng là tiền, là mưu sinh. Đó là lý do chúng ta ở đây. Cả một lũ không được giáo dục tốt. Cả một lũ đang làm đất nước này đi xuống. Đó không phải là lỗi của họ, hãy thông cảm vì điều đó. Họ đã cố phải xây dựng lại mọi thứ từ đống tro tàn. Nhưng còn chúng ta thì sao? Được nuông chiều từ nhỏ tới lớn, chẳng phải chịu đựng bất cứ cái gì, và giờ thì sẵn sàng ngồi quán cafe chém gió suốt ngày.

Bạn biết bọn nhậu nhẹt và ngồi quán cafe chém gió thường nói gì khi gặp nhau? Tao mới xin làm chỗ kia, lương 4 triệu mà toàn ngồi chơi. Liền lập tức, thằng đối diện sẽ bảo: NGON VẬY!

Cái tư duy ở xứ này là: Ngồi chơi và “khỏe”! Nhưng yên tâm đi, vũ trụ rất công bằng. Cái chỏm nhỏ ở chỗ này trước sau gì cũng bị trừng phạt nếu tiếp tục tồn tại theo kiểu đó.

Nếu bạn muốn thay đổi đất nước, nếu bạn đã 18 hay 20 tuổi hoặc hơn, hẳn là bạn cũng sẽ sớm trở thành những ông bố, bà mẹ. Thế nên, hãy chuẩn bị cho thay đổi, không cần biết trước đây bạn được giáo dục như thế nào, hãy chắc rằng, bạn sẽ trở thành hình mẫu mà bạn muốn con cái mình trở thành trong tương lai.

Đừng uống cạn tài nguyên này, đừng ăn mặn để con cháu khát nước. Đừng để thế hệ nối tiếp thế hệ sống cuộc sống như thế này. Và xin cũng đừng, đừng xấu xa cho đã để rồi sau này bắt con mình trở thành một người tốt. Con nít học qua hình ảnh, nó bắt chước tất cả những gì nó thấy. Đừng bao giờ cho phép bản thân tệ hại, và dạy con bằng cái lối nói rằng bạn dù có xấu xa thế nào cũng là hy sinh cho tương lai của nó. Bởi vì, cách đó nhàm quá rồi, một lời biện hộ không có nghĩa gì hết.

Tôi biết là Việt Nam vẫn chưa đến lúc có một cuộc cách mạng cải tổ lại tư duy người Việt. Nhưng từ giờ cho tới lúc đó, hy vọng tôi có thể giúp ai đó hiểu rằng, hãy luyện tập, hãy chịu đựng để bước đi những ngày tháng trưởng thành. Bạn không thể lớn thêm nếu không chịu đựng. Nếu bạn muốn đi lên, bạn phải chịu đựng, dù xung quanh không có ai hỗ trợ bạn, dù xung quanh mọi người đang say ngủ…

Mời xem Video: Trần Đại Quang áp đảo Đinh Thế Huynh trong cuộc chiến giành ghế Tổng Bí thư trước ĐH giữa kỳ


NẾU BẠN MUỐN TRƯỞNG THÀNH, HÃY CHỊU ĐỰNG

Trong nghĩa của từ chịu đựng, không có lười biếng. Trong nghĩa của từ chịu đựng là sức mạnh. Mỗi một cá nhân có sức mạnh, khỏi cần phải bàn tới chuyện đất nước có đi lên hay không, vì đôi tay của họ thậm chí có thể nhấc bổng cả bầu trời…

(Nếu bạn nào đặt một dấu chấm hỏi vì sao bài trước tôi viết là chẳng có ai lười thì bài này tôi lại đỗ lỗi cho việc người ta lười, thì xin hãy hiểu rõ là trong 2 bài tôi đang đề cập đến 2 chuyện khác nhau. Bài trước là cảm thông với những người chưa tìm ra họ là ai trong cuộc đời. Bài này nói về những con người xung quanh tôi mà đầu óc bị mụ mẫm hóa hết rồi, không còn biết gì ngoài những lạc thú tầm thường nữa.)

(Kiến Thức trẻ)

Sunday, January 1, 2017

TẦM NHÌN CỦA PHÁC CHÍNH HY - KTS CỦA PHÉP LẠ KINH TẾ HÀN QUỐC . 
Một người cũng như một quốc gia phải có tầm nhìn xa (vision) nghĩa là chọn một nghề có thể sống vửng hay hửu ích trong lâu dài cho tương lại . Như Hàn Quốc , từ nhiều thập niên trước đây đã đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ nặng và hóa học .
(Bài dưới đây dịch từ wikipedia) . 
Chiều hướng về kỷ nghệ nặng và hóa học của Đại hàn Dân quốc , thường đc gọi tắt là HCI là một chương trình phát triển kinh tế đc thực thi trong thập niên 1970 dưới chế độ của nhà độc tài Phác chính Hi (Park chung Hee) . 
Trong thập niên 1960 , Đại hàn Dân quốc (ĐHDQ) đã trải qua phát triển kinh tế nhanh chóng tiếp theo sự nắm quyền của tướng Phác . Những chính sách quốc doanh hóa đc đặt ra bởi tướng Phác - quốc hửu hóa hệ thống nhân hàng , và đưa tín dụng thấp cho khu vực xuất khẩu - đã tạo ra phát triển nhanh chóng trong kỷ nghệ dệt may và quần áo (textile and appareil) . Vào thời của hiến pháp Yusin 1972 , Nam Hàn đã chuyển từ 1 trong những nước nghèo nhứt thế giới vào hàng các nước hạng trung . Tuy nhiên , nước này vẫn thiếu bất cứ loại kỷ nghệ nặng nào , và lệ thuộc vào Mỹ về nguyên liệu thô và hàng hóa lâu bền (capital goods) trong những năm đầu tiên .
Cuộc xung đột tại vùng phi quân sự (PQS) , 1960-69 đã khiến ban lãnh đạo của ĐHDQ lo sợ . Trong khi chiến tranh VN tiếp diển , Park và bộ tham mưu đối diện với khả năng ghê gớm (grim) rằng nước Mỹ có thể giảm đáng kể sự hiện diện QS tại bán đảo Hàn quốc , để tập trung nguồn lực cho cuộc xung đột tại Đông Dương trong khi vẫn duy trì sức mạnh QS tại Âu châu . Bên kia vùng PQS , Bắc Hàn đã tập trung 1 quân đội khổng lồ , và bộ máy kỷ nghệ hầu như tập trung sản xuất vũ khí . Lo sợ cho an ninh của ĐHDQ , Phác lập ra việc xây dựng một cơ sở hạ tầng về kỷ nghệ để có thể hổ trợ cho 1 quân đội hiện đại . 
Cấu trúc của HCI 
Bỏ qua việc chống đối của nhiều nhà KT trong và ngoài Nam Hàn , nghĩ rằng kinh tế và cơ cấu của đất nước không đũ trình độ để tiếp nhận sự chuyển đổi sang một nền kinh tế toàn diện về kỷ nghệ , Phác đã quyết định chia luồng/channel khả năng phát triển kinh tế của đất nước vào việc phát triển của vài kỷ nghệ quan trọng : thép , hóa dầu , xe hơi , máy công cụ , đóng tàu , và điện tử . Tiếp tục những chính sách trước đây , ngân hàng NN hầu như chuyển những khoản vay ko lời cho các xí nghiệp tham gia những khu vực này . Khu vực XNK của Nam Hàn , trước đây bị thống trị bởi các hảng Nhật , đc chuyển vào tay các xí nghiệp xuất khẩu đc kiểm soát bởi các tổ hợp chaebol ; (các tổ hợp này) đã bắt đầu thống trị nền kinh tế từ thập niên 1960 . 
Thật vậy , các chaebol này là yếu tố quan trọng trong sáng kiến mới về KT nay , mà tướng Phác đặt tên là "Chiều hướng Kỷ nghệ Nặng/Hóa học." Vì là những cty lớn , chúng ở vị trí tốt để đảm nhiệm sự đầu tư ồ ạt cần thiết để lập khu vực kỷ nghệ nặng . Các bộ trưởng phát triển KT của tướng Phác đã cũng cố hơn nữa vị trí của các chaebol qua việc cung cấp những khoản vay đặc biệt dễ dàng .
HCI và dân Hàn .
Vào cuối thập kỷ 1970 , các đình công và biểu tình của SV đã xảy ra thường xuyên . Phác vẫn giử vửng quyết tâm với tầm nhìn KT của ông và phớt lờ (contemptuous) kêu gọi dân chủ và công bằng xã hội . Tuy nhiên điều này đã khiến ông mất mạng : sau khi ra lịnh đàn áp dữ dội 1 biểu tình vào tháng 10/79 , ông ta bị ám sát bởi mật vụ của ông , sau đó trung tướng Chun Do Wan đã lên làm TT
vào 1980 .

Friday, December 30, 2016

Thi thiện xạ dành cho lực lượng bắn tỉa của cảnh sat TQ .

Pháp Quyền thời Cổ Hy Lạp
(Đọc để thấy cách đây trên 2.500 năm , nhà nước pháp quyền đã được áp dụng tại vùng đất nay là Hy Lạp ; có những điều mà VN ngày nay chưa thể áp dụng vì sợ mất đặc quyền đặc lợi của giai cấp cầm quyền .-- Tài) .
Tạm dịch từ trang 5-7 của
http://worldjusticeproject.org/…/history_and_importance_of_…
. . . 
Bằng chứng đầu tiên về 1 xã hội Âu Châu cai trị bởi luật - nghĩa là một xã hội trong đó luật lệ dưới dạng (ascribe) văn bản lâu bền/vĩnh cữu và công khai - đã có từ thời cổ Hy Lạp (HL) ở cuối TK thứ bảy và đầu TK thứ sáu trước công nguyên (cách đây khoảng 2016 + 600 = 2.616 năm . -- Tài) . Một khi được viết ra giấy và mọi người dễ dàng truy cập (publicicly accessible) , luật lệ của HL không còn là đối tượng của diển dịch tùy tiện (arbitrary) bởi một giai cấp có đặc quyền (giống như ĐCSVN .-- Tài) . Một khi luật đã được viết xuống , người HL đặt ra những trở ngại đáng kể cho những ai muốn thay đổi luật , và các tòa án HL bị buộc phải áp dụng các văn bản về luật ngay cả đứng trước sự đối kháng/xung đột của những cân nhắc có vẻ hợp tình , hợp lý , ngang ngữa (even in the face of countervailing equitable considerations) . 
Ít nhứt về lý thuyết , người HL đã tin rằng luật pháp nên phổ thông và tổng quát (universal and general) . Solon được nói đã lập 1 nhà nước tại Athens cung cấp " bình đẳng về luật pháp cho mọi hạng người," và nhà nước này được quản lý/cai trị bằng cách áp dụng những luật quen thuộc .
Mô tả một nhà nước Athens sau đó , Pericles nói rằng, "về mặt luật pháp , mọi người đều có địa vị như nhau đối với những tranh cải (dispute) riêng tư/cá nhân ." Cuối cùng , người HL ít nhứt đã công khai cấm đoán việc ban bố những luật lệ nhắm vào những cá nhân đặc trưng (specific individual) (giống như điều 88 của luật hình sự đối với các nhà hoạt động dân chủ tại VN .-- Tài) .
Vừa hảnh diện và tuân thủ những luật lệ của họ , Herodotus đã khẳng định , "mặc dù tự do , người HL đã ko tự do trong mọi thứ : họ có một ông chủ , đó là luật pháp ," khiến họ sợ luật pháp hơn dân Ba-Tư sợ vị vua độc tài Xerxes của họ." Sự tuân thủ/tôn trọng này đã bắt nguồn từ tư duy thực tế của người HL rằng pháp quyền là cần thiết để thiết lập một xã hội thịnh vượng và công bằng . Plato đã mô tả một xã hội trong đó luật lệ trở nên bất lực khi đối diện sự suy đồi/thoái hóa (đang xảy ra tại VN ngày nay .-- Tài) , tương phản với những điều tốt đẹp dành cho những xã hội trong đó "các quan tòa là đầy tớ của luật pháp" (chỉ có ở những nhà nước pháp quyền.-- Tài) . Demosthenes , nhấn mạnh sự nối kết giửa an ninh cá nhân của quan tòa , và thiện ý của họ nhằm duy trì luật lệ nhân danh kẻ khác . 
Aristotle còn nhấn mạnh rằng trong khi một thế giới hoàn hảo ko cần luật pháp , trong 1 thế giới ko hoàn hảo , công lý "chỉ có thể tồn tại giửa những con người mà quan hệ qua lại của họ điều tiết bởi luật pháp." Người HL đã tin rằng mục đích chính của luật pháp nhằm thăng tiến điều tốt phổ quát (common good) (áp dụng cho mọi người-- Tài) , mặc dù họ đã công nhận rằng luật lệ , khi thực hành/áp dụng , thay vào đó , cũng thường được viết để đem lợi ích (advantage) cho những giai cấp có đặc quyền của xã hội . 
Các định chế chính trị của HL đã giúp hổ trợ pháp quyền . Ít nhứt , trong các đô thị dân chủ (democratic city) , luật pháp đã xuất phát từ sự đồng thuận của người dân (popular consent) . Dựa vào luật thành văn đã được ban bố rộng rãi trong dân , người HL đã áp dụng để điều hành nhà nước. Hơn nữa , họ còn dựa vào một chính phủ liên hiệp (mixed) (trong đó quyền lực phân chia giửa những nhóm đại diện cho những giai cấp khác nhau của quần chúng) để tránh sự tập trung tất cả quyền lực vào một thực thể , (một đảng hay một nhóm hay một phe phái .-- Tài) và chận trước sự chuyên chế (absolutism) . Nếu điều đó ko đạt được , người HL công nhận tính CHÍNH ĐÁNG (legitimate) của việc chống đối sự chuyên chế (tyranny) . (Nghĩa là dân có thể nỗi dậy chống lại chính quyền .-- Tài) 
. . . 
Aristotle nhấn mạnh rằng , vì những sai lầm ko thể tránh khỏi (inevitable infirmity) của người cầm quyền; luật pháp là tối hậu/tối cao : "Chúng ta ko cho phép một người nào đó cai trị dân ngoài luật pháp."
Lý thuyết của Aristotle về luật pháp rằng "luật pháp , chứ ko phải là người," đã đòi hỏi các quan tòa phải có một cá tính như sau - tính tình kiên định để hành động công bằng và theo đúng luật pháp . (Điều này khó áp dụng cho quan tòa dưới chế độ CS-- Tài) ; còn tiếp 
. . . 
Ngày 29/12/16 .
Hình 1-2 : mô hình của thành phố La Mã thời đế quốc La Mã .
Hình 3 : chú thích về các đền đài và lăng tẫm thời đó .
Hình 4 : sân vận động Colosseum , xây vào thời vua Vespasian 72 sau công nguyên và hoàn thành năm 80 sau CN dưới thời Titus . Sức chứa từ 50 tới 80.000 khán giả , dùng làm nơi thi giác đấu (gladitorial test) , tái phục các trận thủy chiến , trình diễn các vở kịch thần thoại cổ điển , v.v... Dù bị hư hại nhiều do động đất hay kẻ trộm tháo gở gạch đá , Colosseum vẫn là biểu tượng của La Mã thời Đế Quốc .





Sunday, December 25, 2016

Khi ngòi bút chạm vào quyền lực

Đăng bởi Ha Tran on Thursday, December 15, 2016 | 15.12.16


Mấy chục năm đấu tranh chống tham nhũng của “báo chí cách mạng Việt Nam” trong chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ có cuộc đấu tranh trên báo Lao Động đối với ban lãnh đạo Tổng cục Cao su đứng đầu là Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng cục trưởng Đỗ Văn Nguyện là giành được thắng lợi. Không phải các nhà báo làm vụ này tài giỏi hơn những đồng nghiệp ở các vụ khác mà chỉ vì vụ này bắt đầu ngay sau Đại hội 6 năm 1986 khi mà luồng gió dân chủ sau “đổi mới” đang mạnh và các nhà lãnh đạo cộng sản chưa bị hoảng sợ bởi sự sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu.
Ảnh bìa hồi ký Tống Văn Công

 Tôi về cơ quan miền Nam báo Lao Động đúng lúc phóng viên Trương Đăng Lân phát hiện chuyện trù dập rất man rợ ở Tổng cục Cao su: Đầu năm 1985, Đoàn Thanh tra Nhà nước đến thanh tra Tổng cục Cao su, phát hiện nhiều “phi vụ” mua bán, ăn chia bất hợp pháp mà đầu mối quan trọng là Công ty Phục vụ Đời sống do Tổng cục trưởng trực tiếp chỉ đạo. Đoàn thanh tra dành nhiều thời gian làm việc riêng với Ngô Văn Định phó giám đốc Công ty này. Ông Đỗ Văn Nguyện, ủy viên Trung ương Đảng, Tổng cục trưởng Tổng cục Cao su được mật báo là Ngô Văn Định đã bị Đoàn Thanh tra khuất phục, đã cung khai nhiều việc làm sai trái mà người chịu trách nhiệm cuối cùng chính là ông. Đỗ Văn Nguyện nghĩ cách vô hiệu hóa bản kết luận của Đoàn Thanh tra dựa vào lời khai của Ngô Văn Định. Ông ta cho rằng cách tốt nhất là phải biến Ngô Văn Định thành bệnh nhân tâm thần! Vậy là một kế hoạch cưỡng bức Định được tổ chức tỉ mỉ: Trước hết, Trưởng ban Y tế Tổng cục Cao su, bác sĩ Đoàn Huỳnh làm tờ trình chi tiết gửi lên Tổng cục trưởng, kể ra rất nhiều hiện tượng điên khùng của Ngô Văn Định và cho rằng “một người có bệnh tâm thần mà buộc phải đảm trách công việc kinh doanh, suốt ngày tính toán lo toan thì chẳng những sẽ làm hư hỏng công việc, có nguy cơ vi phạm pháp luật mà còn có hại cho sức khỏe của anh ta”. Ban Y tế kiến nghị: “Do người bệnh tâm thần không bao giờ nhận mình có bệnh, cho nên cần phải tổ chức cưỡng bách anh ta đi chữa bệnh”. Căn cứ đề nghị của Trưởng ban Y tế, ngày 18–5–1985, Tổng cục trưởng Đỗ văn Nguyện ký quyết định tổ chức đưa Ngô Văn Định đi Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa. Để che mắt cán bộ cơ quan Tổng cục, Bộ máy thực hiện việc cưỡng chế này huy động nhiều cán bộ đảng viên trung, cao cấp như, Phó vụ trưởng Vụ Tổ chức, Phó trưởng ban Bảo vệ, Trưởng ban Y tế và nhiều bác sĩ. Ngày 18– 5– 1985, như mọi ngày, Ngô Văn Định đang làm việc tại văn phòng Phó giám đốc Công ty thì Trưởng ban Y tế Đoàn Huỳnh tới đọc quyết định của Tổng cục trưởng. Thừa lệnh Tổng cục trưởng, ông Huỳnh yêu cầu Ngô văn Định tạm ngưng công việc để đi khám bệnh. Đứng sau Đoàn Huỳnh là Phó ban bảo vệ có mang súng và nhiều vệ sĩ mang theo dây trói. Ngô Văn Định kể: “Họ bảo tôi chích hai mũi thuốc cho khỏe. Chích xong tôi lịm đi, đến 7 tiếng đồng sau mới tỉnh dậy thì thấy mình bị nhốt trong gian phòng có chấn song sắt cùng với 4 bệnh nhân tâm thần”.

Các bác sĩ, y tá của bệnh viện Tâm thần Biên Hòa trực tiếp điều trị cho Ngô văn Định rất ngạc nhiên khi được Trưởng ban Y tế, bác sĩ Đoàn Huỳnh nhờ họ ghi tên những ai đến thăm Ngô văn Định. Do đó, anh em rất chú ý quan sát bệnh nhân đặc biệt này. Sau một ngày tiếp xúc, không thấy anh Định có biểu hiện của người bệnh tâm thần, lại nghe anh kể chuyện mình bị cưỡng bức, họ khuyên anh nên giấu số thuốc được cấp, để sau này làm chứng cứ cho cuộc đấu tranh. Nhờ sự giúp đỡ đó, anh Định giấu được một bọc to các thứ thuốc Aminazin, Séduxen.

Do việc cưỡng chế được tổ chức với quy mô và cách thực hiện không bình thường, khiến dư luận trong Tổng cục Cao su đặt ra nhiều nghi vấn: Tại sao Ngô Văn Định mắc bệnh tâm thần nặng mà lâu nay mọi người tiếp xúc với anh, cả những nhân viên dưới quyền anh không ai nhận thấy? Tại sao việc đưa một bệnh nhân đi bệnh viện mà Tổng cục trưởng phải ra quyết định? Tại sao không đưa bệnh nhân đi đúng tuyến là Bệnh viện Thống Nhất, nơi đây cũng có Khoa Tâm thần? Hằng trăm cán bộ nhân viên làm kiến nghị cá nhân và tập thể yêu cầu Tổng cục trưởng phải ký quyết định đưa Ngô văn Định trở về, nếu không họ sẽ tố giác với Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng. Ông Đỗ Văn Nguyện buộc phải ký quyết định cho Ngô Văn Định về làm việc để xoa dịu anh em.

Tôi xem rất kỹ hồ sơ tài liệu, nhưng vẫn băn khoăn: “Chẳng lẽ bao nhiêu người mang danh nghĩa rất khả kính, chỉ vì muốn che giấu sự thật mà nhẫn tâm dùng thủ đoạn cực kỳ tàn bạo đối với đồng chí của mình”? Tôi nói với phóng viên Trương Đăng Lân: “Trước khi quyết định đưa vụ này lên báo, mình muốn được gặp trực tiếp những anh chị có vai trò chủ chốt đứng ra tố cáo. Bởi nhiều năm làm báo đã cho mình bài học kinh nghiệm (hình như cũng đã được các bậc thày đúc kết thành bài giảng cho nghề báo) là: “Không có nguồn tin nào không đáng cho nhà báo phải nghi ngờ. Nên nhớ rằng người cung cấp nguồn tin có thể sử dụng nhà báo cho mục đích của họ, cũng ngang như nhà báo sử dụng họ cung cấp tư liệu cho bài viết của mình. Thông thường, nhà báo tìm nguồn tin ở các đối tượng: Kẻ chống đối, kẻ thua cuộc, nạn nhân, các chuyên gia, cơ quan chức năng. Ở trường hợp này, những người chúng ta định viết bài chỉ trích, phê phán đang là những cán bộ cách mạng cao cấp, “mũ cao, áo dài”. Do đó mình nghĩ rằng, chúng ta phải có những người “đạo cao, đức trọng” dám đứng ra đương đầu với cường quyền, cung cấp và bảo trợ nguồn tin”.

Hôm sau, Trương Đăng Lân đưa Ngô Văn Định và 5 cán bộ Tổng cục Cao su đến cơ quan miền Nam báo Lao Động. Trong số đó, tôi đặc biệt chú ý hai người thuộc lớp cán bộ cách mạng đàn anh là ông Nguyễn Gia Đằng, cán bộ tiền khởi nghĩa, hiện là Phó trưởng ban Thi đua của Tổng cục Cao su mà trưởng ban là Tổng cục trưởng (sau này, ông Nguyễn Gia Đằng sang Campuchia làm cố vấn an ninh cho các ông Heng Sam ring, Chia xim). Người thứ hai là ông Vũ Lăng, nguyên Tổng biên tập báo Hải Phòng Kiến thiết (nơi có cô nữ phóng viên Nguyễn Thụy Nga, tức Bảy Vân vợ hai của Tổng bí thư Lê Duẩn) đang làm Trưởng ban Thanh tra của Tổng cục Cao su. Cả hai ông có phong thái đỉnh đạc, khoan hòa, trình bày và phân tích sự việc rành mạch, khách quan. Hai người này đã cho tôi niềm tin rằng, họ chỉ vì sự thật và lẽ phải mà đứng ra. Bây giờ là cách đưa lên báo bài đầu tiên thế nào cho có sức thuyết phục cao, gây tiếng vang lớn. Chúng tôi cho rằng, nên dùng nguyên văn lá thư của chính Ngô Văn Định đứng ra tố giác việc mình bị cưỡng bức hơn là bài viết của phóng viên.

Ngày 7 tháng 8 năm 1986, báo Lao Động số 32 đăng lá thư tố giác của Ngô văn Định. Bài báo chẳng những chấn động trong ngành cao su mà còn gây xúc động nhân dân cả nước. Đây là lần đầu tiên, báo chí tố cáo một Ủy viên Trung ương Đảng bịt miệng người chống tiêu cực một cách thô bạo và có tổ chức. Tổng cục trưởng Đỗ Văn Nguyện phản ứng quyết liệt, ra lệnh toàn ngành cao su phải thu hồi tờ báo Lao Động số 32, không để cán bộ công nhân đọc. Ông đích thân gọi điện cho Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động VN Phạm Thế Duyệt (cơ quan chủ quản của báo Lao Động): “Báo Lao Động đã đăng bài của một kẻ đang mắc bệnh tâm thần phân liệt thể hoang tưởng. Anh ta đang là con rối trong tay những kẻ bất mãn. Bài báo này có tác động rất xấu, gây mất ổn định trong toàn ngành cao su, phá hoại sản xuất và đời sống của hàng vạn cán bộ công nhân cao su. Quan trọng hơn là nó xúc phạm một ủy viên Trung ương Đảng, cũng tức là bôi nhọ Đảng. Tôi đề nghị đồng chí Chủ tịch ra lệnh cho báo Lao Động ngưng ngay việc đưa tin sai trái về vụ này, đồng thời mau chóng có bài viết đính chính theo quan điểm của Đảng đoàn Tổng cục Cao su.” Chủ tịch Phạm Thế Duyệt hứa sẽ nghiêm túc xem xét vấn đề này. Sau đó, ông nghe Tổng biên tập Xuân Cang báo cáo tình trạng tiêu cực của ngành cao su và nguyên nhân vụ cưỡng chế Ngô Văn Định. Tuy đã nghe tổng biên tập Xuân Cang báo cáo, nhưng Chủ tịch Phạm Thế Duyệt vẫn trực tiếp gọi điện cho tôi, hỏi: “Anh Công có tin chắc bài này viết đúng sự thật không”? Tôi đáp: “Tôi tin chắc và xin chịu trách nhiệm”. Ông nói: “Chắc anh cũng đã lường trước là lần này các anh phải đương đầu với một thế lực rất mạnh, cho nên phải hết sức thận trọng, kiểm tra kỹ từng chi tiết trước khi đưa lên báo”. Cuối cùng ông hỏi: “Anh Công còn có điều gì lo ngại không”? Tôi đáp thực lòng: “Chúng tôi đã nhận thấy mình đang phải đương đầu với một đối tượng khổng lồ, những nguồn tin thu được cũng khổng lồ và đầy mâu thuẫn. Chúng tôi không chỉ làm một bài điều tra mà phải lập một kế hoạch rất chi tiết cho một loạt bài điều tra, chuyện nào trước, chuyện nào sau, phân công anh em chia nhau mà làm. Đồng thời chúng tôi còn lường trước các trở ngại, các bước ngoặt bất ngờ có thể xảy ra. Thú thực, trước khi bắt đầu vụ này, chúng tôi lo nhất là Tổng biên tập rụt rè trước một đối tượng đầy quyền lực và lo lãnh đạo Tổng Liên đoàn Lao động không ủng hộ. Còn bây giờ chúng tôi đã yên tâm”.

Những số báo sau đó, chúng tôi đưa liên tiếp ý kiến cán bộ, công nhân ngành cao sư hưởng ứng thư tố cáo của Ngô văn Định và cung cấp tài liệu phanh phui nhiều tiêu cực ở các Công ty Cao su nơi họ đang làm việc. Phó ban Thi đua Tổng cục Cao su Nguyễn Gia Đằng gửi đăng báo một lá thư “nặng ký”: Xác nhận tố cáo của Ngô Văn Định và các cán bộ công nhân toàn ngành là đúng sự thật: “Tất cả những bê bối tiêu cực của các vị trong ban lãnh đạo Tổng cục Cao su mà báo Lao Động đã nêu ra là có thật. Tôi xin đề nghị các cơ quan cấp trên của Đảng và nhà nước chỉ đạo các ban ngành chức năng vào cuộc, làm rõ đúng, sai để giúp cho những người đấu tranh chống tiêu cực ở ngành cao su không bị trù dập”.

Tổng cục trưởng Tổng cục cao su ra lệnh cho báo Cao su ngày 15–9–1986 phải đăng 2 văn bản “để cho cán bộ, công nhân toàn ngành cao su được biết sự thật về việc vì sao Tổng cục trưởng phải quyết định đưa Ngô Văn Định đi Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa”:

Một là, công văn số 2474 – ĐTR ngày 2–5–1986 của tiến sĩ Phạm Song, Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương xác nhận: Hội đồng giám định Y khoa do ông làm chủ tịch gồm nhiều giáo sư, tiến sĩ hàng đầu khoa tâm thần của cả nước đã giám định rất kỹ và nhất trí kết luận Ngô Văn Định bị bệnh tâm thần phân liệt thể hoang tưởng. Văn bản này còn ghi thêm một câu “Do bị bệnh tâm thần phân liệt thể hoang tưởng, ông Ngô Văn Định không phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình trước pháp luật”. Câu này có tác dụng “chiêu hồi” Ngô Văn Định, lúc bấy giờ là Phó giám đốc Công ty Phục vụ Đời sống, một trung tâm thực hiện những chủ trương mua bán, chia chác gian dối, nếu bị phanh phui thì anh phải liên đới chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Văn bản thứ 2 là công văn số 859– BV.TT ngày 16–6–1986 của bác sĩ Nguyễn Quốc Hà giám đốc Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa, có nội dung giống như công văn số 2474 – ĐTR của Thứ trưởng Bộ y tế tiến sĩ Phạm Song.

Chúng tôi nhận ra 2 điều không minh bạch của 2 văn bản nói trên: Một là, Tổng cục trưởng Đỗ văn Nguyện yêu cầu Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương giám định sau khi Ngô Văn Định đã xuất viện hơn 6 tháng, đang làm việc bình thường. Sự thật là biên bản của Hội đồng giám định Y khoa Trung ương không đạt được sự “nhất trí kết luận” như ông Thứ trưởng tiến sĩ Phạm Song nói. Một thành viên rất quan trọng là giáo sư Trần Đình Xiêm, giám đốc Bệnh viện Tâm thần TP. HCM (nhà thương Điên Chợ Quán cũ), không đồng ý ký tên. Giáo sư Trần Đình Xiêm chủ biên một công trình nghiên cứu Tâm thần học dài hơn 400 trang. Ông đã chủ trì một Ban giám định gồm nhiều giáo sư tâm thần hàng đầu ở phía Nam để giám định tâm thần Ngô văn Định, kết luận anh này không có bệnh. Ông là một bác sĩ trong Hội đồng giám định y khoa của Phạm Song có điều kiện biết rõ người và việc ở ngành cao su hơn cả. Chúng tôi còn có trong tay giấy xuất viện của Ngô Văn Định do Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa cấp trước cuộc giám định của Phạm Song 6 tháng ghi rằng: “Không thấy có hiện tượng của bệnh tâm thần”. Có lẽ lúc ấy Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa không dám liều lĩnh ghi Ngô Văn Định có bệnh, còn nay họ đã có chỗ dựa là biên bản của Hội đồng Giám định y khoa Trung ương do tiến sĩ Thứ trưởng Phạm Song làm chủ tịch!

Ngày 26–9–1986 báo Lao Động đăng bức thư của Ngô Văn Định “Kính gửi Thứ trưởng Phạm Song”, có đoạn viết: “Là người có phần trách nhiệm về các vụ tiêu cực, nếu muốn cứ tiếp tục lao vào bóng tối, chắc tôi phải cám ơn Thứ trưởng vì đã có văn bản cho tôi được miễn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Nhưng tôi không nhận sự “nhân đạo” giả dối ấy, tôi quyết rời khỏi bóng tối, tố cáo tiêu cực, đem lại sự trong sạch lành mạnh cho ngành cao su”.

Tôi trực tiếp đến Bệnh viện Tâm thần TP HCM xin gặp giáo sư Trần Đình Xiêm. Ông tiếp tôi rất lịch sự, nhưng xin được từ chối trả lời câu hỏi vì sao ông không ký tên vào biên bản của Hội đồng giám định Y khoa Trung ương do tiến sĩ Thứ trưởng Phạm Song làm chủ tịch. Ông nói “Xin nhà báo thông cảm vì lý do rất tế nhị trong ngành, tôi không thể trả lời. Bởi vì tôi không ký tên, nhưng nhiều đồng nghiệp của tôi đã ký”. Biết khó thuyết phục ông lúc này, trước khi chào từ biệt, tôi chỉ nói: “Việc giáo sư từ chối ký tên vào biên bản giám định do Thứ trưởng Bộ Y tế Phạm Song làm chủ tịch là rất trung thực và dũng cảm. Tôi rất cảm phục. Tuy nhiên nếu chỉ bấy nhiêu thôi thì vẫn không thể đẩy lùi cái ác. Biên bản đó đã giúp cho cái ác lộng hành. Tôi mong giáo sư suy nghĩ thêm vì số phận của nhiều người thấp cổ bé họng đang bị đày ải”. Ông im lặng tiễn tôi ra cửa. Hai hôm sau, bác sĩ trợ lý của ông đến trụ sở miền Nam báo Lao Động tìm tôi, cho biết: “Sau khi từ chối trả lời nhà báo, thầy Trần Đình Xiêm của chúng tôi bứt rứt không ăn không ngủ được. Thầy cử tôi lên mời nhà báo trở lại bệnh viện để thầy trả lời câu hỏi mà thầy thấy mình phải có trách nhiệm”.

Giáo sư Trần Đình Xiêm mời nhiều giáo sư, bác sĩ tâm thần đã cùng ông tổ chức giám định tâm thần cho Ngô Văn Định tiếp tôi. Ông cho biết: Sau khi từ chối ký tên vào biên bản của Hội đồng giám định y khoa do Thứ trưởng Phạm Song làm chủ tịch, ông đã cùng các giáo sư có mặt hôm nay tổ chức một cuộc giám định suốt 2 buổi đối với Ngô Văn Định. Trong cuộc giám định y khoa này, các giáo sư đã dùng các hiện tượng mà Hội đồng giám định Y khoa Trung ương dùng làm căn cứ để kết luận Ngô Văn Định mắc bệnh tâm thần phân liệt. Ông mời nhiều thành viên Hội đồng cùng tiếp tôi và tặng báo Lao Động 2 băng cát xét ghi âm cuộc giám định ấy. Ngoài ra, ông còn cử phó giám đốc bệnh viện đến Ban Tổ chức Thành ủy TP HCM xin Bản báo cáo dài 16 trang giấy A4 của chuyên viên Nguyễn Văn Đích được ban này cử đi điều tra việc cưỡng bức Ngô văn Định. Bản báo cáo tường thuật chi tiết, phân tích rành mạch nguyên nhân và hậu quả của việc này. Bản báo cáo đặt ra nghi vấn: Vì sao sau khi Ngô Văn Định đã có giấy xuất viện ghi là “không thấy có hiện tượng của bệnh tâm thần” và anh đã làm việc bình thường 6 tháng, mà sau đó Tổng cục Cao su lại tổ chức để Hội đồng giám định Y khoa Trung ương giám định bệnh tâm thần? Chuyên viên Nguyễn Văn Đích nhận xét “Nhiều kết luận của Hội đồng giám định y khoa Trung ương có tính áp đặt, không khách quan.” Các giáo sư đều cho rằng bản báo cáo của chuyên viên Nguyễn Văn Đích có giá trị khoa học rất cao.

Trên cơ sở các tài liệu đã có, tôi viết một bài báo bác bỏ biên bản kết luận của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương. Biên bản này đã giúp cho lãnh đạo ngành cao su che giấu bộ mặt gian trá và bào chữa hành động tàn bạo của họ. Rất tiếc, Tổng biên tập Xuân Cang không đồng ý đăng bài này. Ông cho rằng: Cuộc chiến với lãnh đạo Tổng cục Cao su đang hồi quyết liệt, không nên mở thêm một trận chiến khác, đối đầu với một lực lượng gồm nhiều giáo sư tiến sĩ khoa học hàng đầu của cả nước(!) Tuy vậy, ông đồng ý cho chúng tôi tiếp tục điều tra tình trạng tiêu cực tham nhũng ở toàn ngành cao su. Sự nhân nhượng của ông Xuân Cang đã đưa Phạm Song sau đó vào Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản khóa 7, thăng lên ghế Bộ trưởng Bộ y tế, được phong Thày thuốc Nhân dân, leo lên Viện sĩ Viện Hàn lâm Liên bang Nga, đoạt Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Chỗ yếu chí mạng của Phạm Song và Hội đồng giám định Y khoa của ông ta là sự giả dối: Ngô Văn Định, người mà họ kết luận điên khùng đang minh mẫn kết tội họ! Kết luận của Hội đồng giám định Y khoa do giáo sư Trần Đình Xiêm chủ trì có đủ căn cứ khoa học bác bỏ họ. Tiếc thay, trong chế độ toàn trị không có chỗ để làm điều đó.

Báo Lao Động số 39, đăng bài viết của tôi, tựa đề “Không thể để công nhân cao su sống như thế” dẫn chứng tình trạng: Các tiêu chuẩn gạo, thịt, dầu thắp sáng, thuốc chữa bệnh của công nhân đều bị cắt xén. Hầu hết cán bộ công nhân ngành cao su đang phải sống trong nhà tranh dột nát. Ban y tế Tổng cục Cao su nhiều năm bán thuốc cấp theo tiêu chuẩn của công nhân để lập quỹ đen. Bài báo kết luận: Chính các tổ chức được gọi là “phục vụ đời sống” của Tổng cục Cao su mới thực sự mắc bệnh tâm thần phân liệt!

Tiếp theo báo đăng bài “Cây cao su kêu cứu” của Minh Phương. Bài báo nêu những hành vi tiêu cực đang làm cho cây cao su ngày càng ốm yếu: Nạn buôn bán phân bón và các loại thuốc bảo vệ thực vật; tổ chức chăm sóc vườn cây không đúng quy trình kỹ thuật. Tuần kế tiếp báo đăng bài “Sự lộng hành của một giám đốc”, nói về “ông trời con” ở Công ty Cao su Chư Pah.

Sau mấy bài báo này, tôi được điện thoại của ông Trần Bạch Đằng mời tới nhà riêng để “bàn chuyện cao su”. Tôi đề nghị, sẽ đến cùng với một phóng viên chuyên trách theo dõi ngành cao su. Ông không đồng ý: “Cậu nên đến một mình thôi, chúng mình nói chuyện cho thoải mái”. Khi tôi tới, ông đã đứng đợi sẵn trước cỗng sau nhà ở đầu đường Phan Kế Bính, trong tay có cầm mấy tờ báo Lao Động. Ông đưa tôi vào phòng khách, bắt đầu câu chuyện: “Anh Sáu Dân (tức đồng chí Võ Văn Kiệt) mới hỏi mình có nắm được vụ Tư Nguyện trên báo Lao Động không. Mình bảo, theo tôi biết, thì vụ này do Tống Văn Công chủ trì. Mình hứa sẽ gọi hỏi cậu cho rõ. Ngày hôm qua, Tư Nguyện tới nhà mình cầu cứu. Chắc cậu chưa biết, Tư Nguyện thời chống Mỹ là chỉ huy đội bảo vệ cơ quan Trung ương Cục miền Nam. Như vậy có thể coi anh ta là cấp dưới của mình. Tư Nguyện tha thiết yêu cầu mình viết bài phản bác loạt bài của báo Lao Động. Mình đã được Tư Nguyện cung cấp nhiều tài liệu quan trọng, trong đó có biên bản kết luận của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương. Chắc cậu cũng thấy, nếu như tớ “xuất chiêu” thì có thể cán cân sẽ chao đảo, gây bất lợi cho các cậu”.

Tôi quen biết ông Trần Bạch Đằng từ năm 1952, khi ông là chủ bút báo Nhân Dân miền Nam còn tôi là cộng tác viên tích cực của báo này. Về mối quan hệ với tôi, ông Trần Bạch Đằng có kể trong hồi ký “Nhớ một thời làm báo Nhân Dân” (Nhà XBCTQG, 1996, trang 61). Do đó, tôi thẳng thắn nói với ông: “ Nếu anh viết bài thì chỉ có hại cho uy tín của anh thôi, chứ cán cân không thể chao đảo. Bởi vì trong tay tôi đang có:

1– Giấy xuất viện của Ngô Văn Định do Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa cấp tháng 11 năm 1985, tức là sau 6 tháng nhốt Ngô văn Định trong phòng bệnh có chấn song sắt để theo dõi. Giấy này ghi: “Không thấy bất cứ hiện tượng nào của bệnh tâm thần”.

Lúc này, chưa có Bản kết luận của Hội đồng giám định Y khoa Trung ương, cho nên ông giám đốc Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa chưa dám liều lĩnh ghi Ngô Văn Định có bệnh.

2– Chúng tôi có một băng ghi âm do ông Vũ Lăng, Trưởng ban Thanh tra của Tổng cục Cao su ghi lại cuộc hỏi đáp giữa ông với Ngô văn Định qua song sắt của gian phòng nhốt bệnh nhân tâm thần. Ngô văn Định đã trả lời rất rành mạch các câu hỏi của ông Vũ Lăng. Xen vào băng ghi âm này còn có tiếng của phát thanh viên “đài phát thanh Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa”.

3– Một băng ghi âm ý kiến nhận xét của các bác sĩ và y tá trực tiếp điều trị cho Ngô Văn Định, tất cả đều cho rằng, theo kinh nghiệm nhiều năm điều trị bệnh nhân tâm thần, họ đoan chắc rằng, Ngô văn Định bị trù dập chứ không hề có bệnh tâm thần.

4– Hằng trăm thư, kiến nghị của đảng viên, cán bộ, công nhân Tổng cục Cao su cung cấp nhiều chứng cứ tiêu cực, tham nhũng rất lớn ở các đồn điền cao su.

5– Bản báo cáo dài 16 trang của chuyên viên Nguyễn Văn Đích thực hiện theo chỉ thị của Ban Thường vụ Thành ủy TP HCM.

6– Hai băng ghi âm cuộc giám định y khoa đối với Ngô Văn Định do giáo sư Trần Đình Xiêm chủ trì.

Ông Trần Bạch Đằng công nhận những tài liệu tôi đang có là những chứng cứ khó bác bỏ. Tôi đề nghị ông dùng uy tín của mình khuyên ông Đỗ Văn Nguyện nên tiếp thụ phê bình và có kế hoạch xây dựng lại ngành cao su trong sạch, vững mạnh.

Ngày 1– 10– 1986, ông Đỗ Văn Nguyện gửi thư cho báo Lao Động, tuy không tiếp thụ phê bình, nhưng hứa sẽ làm rõ vụ việc và “sớm thông báo với báo Lao Động khi kết thúc nội vụ”.

Chúng tôi họp bàn về lá thư xin “hưu chiến” của ông và nhất trí cho rằng: Chúng ta phải độc lập tìm hiểu, điều tra để phanh phui ra sự thật đang bị che giấu và chịu trách nhiệm xã hội, chứ không thể ngồi chờ cơ quan thanh tra kết luận. Huống hồ ở đây những người đang nắm quyền lực, có nhiều hành động trấn áp cấp dưới, sau bài báo đầu tiên đã phản ứng kiểu bề trên, thì chớ tin họ!

Ngày 20 – 10– 1986 Tổng cục trưởng Tổng cục Cao su gửi giấy mời các báo Trung ương và TP HCM “lên Công ty Cao su Dầu Tiếng đón mừng dòng nhựa đầu tiên của Vườn cây Cao su hợp tác với Liên Xô, nhân dịp chào mừng ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng 10 Nga vĩ đại”.

Sau đây, xin trích bài viết có tựa đề “Mượn gió bẻ măng” của nhà báo Văn Thính tường thuật cuộc họp báo của Tổng cục Cao su tại Công ty Cao su Dầu Tiếng:

“… Tổng cục trưởng Tổng cục cao su chủ trì cuộc họp báo. Phía Tổng cục Cao su có mặt hầu hết các Tổng cục phó, Trưởng ban, Vụ trưởng, giám đốc các Công ty. Và đáng để ý là có cả các giám đốc Công ty cao su Chư Pah, giám đốc Công ty Cao su Tân Biên, là những người đã bị báo Lao Động và một số tờ báo khác nêu tên trong các bài viết về những vụ tiêu cực lớn ở Tổng cục Cao su.

Phó ban Thi đua– Tuyên truyền Tổng cục Cao su, người mà giới báo chí cho rằng có vai trò tham mưu cho Tổng cục Cao su về tiếp xúc báo chí, tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn tư liệu, giới thiệu khách và chủ, nêu mục đích yêu cầu cuộc họp báo và mời Tổng cục trưởng phát biểu mở đầu. Nội dung các bài báo Lao Động viết về Tổng cục Cao su được đặt ra như là nội dung chính mà cuộc họp báo có yêu cầu làm cho sáng tỏ, bởi vì báo Lao Động đã nói quá đáng, đăng sai sự thật”.
Đến đây, phóng viên Hữu Tính báo Lao Động đã đứng lên: “Tôi xin lưu ý các đồng chí về nội dung cuộc họp báo đã được ghi rõ trong giấy mời”. Hữu Tính đề nghị, các đồng nghiệp muốn tìm hiểu sự thật trong các bài báo Lao Động viết về những vụ tiêu cực ở Tổng cục Cao su thì xin đến Tòa báo Lao Động. Tôi đề nghị các đồng chí lãnh đạo Tổng cục Cao su tìm gặp Ban Biên tập báo Lao Động để bàn bạc cách tiếp thu những bài báo ấy.

Phía Tổng cục Cao su có phần lúng túng khi Tổng cục trưởng buộc phải công nhận đề nghị của phóng viên Hữu Tính là hợp lý. Nhưng các Trưởng ban, Vụ trưởng vẫn tiếp tục lên diễn đàn với tài liệu viết sẵn và những bản thống kê của họ. Vụ trưởng Vụ Tài vụ Đoàn Minh Sĩ lên diễn đàn với chiếc cặp dày cộp, mở đầu bằng câu: “Trong bài “Cây cao su kêu cứu” của báo Lao Động…”

Tôi chán ngán nhìn quanh thấy các bạn đồng nghiệp Nô– vôt– xki, Tass và các chuyên gia Liên Xô chừng như đang sốt ruột. Bỗng cả hội trường như giật phắt dậy bởi hành động bất ngờ của Hữu Tính. Anh đứng tại chỗ nơi hai phóng viên báo Lao Động ngồi đối diện với đoàn chủ tọa và Tổng cục trưởng) dõng dạc nói: “Tôi đề nghị đồng chí Tổng cục trưởng chỉ thị cho anh Đoàn Minh Sĩ rời diễn đàn vì anh này tiếp tục nói không đúng yêu cầu cuộc họp báo. Hãy trả diễn đàn này cho các nhà báo nêu những yêu cầu của mình”.

Mọi cặp mắt đổ dồn vào Đoàn Minh Sĩ đang đứng như “trời trồng” chờ đợi cách xử sự của Tổng cục trưởng. Tổng cục trưởng liếc nhìn vị “tham mưu” của mình rất nhanh và cũng rất nhanh hiểu rằng cần phải tự xử lý, nên đã ra lệnh: “Thôi, đi xuống!”

Qua vụ này chúng tôi càng thấy rõ sự ngoan cố tới cùng của những người tay trót nhúng chàm. Chỉ có thể buộc họ cúi đầu khi chúng ta đưa ra những bài báo đầy ắp chứng cứ khiến họ hết đường chối cãi. Lúc này báo Lao Động đã đăng hơn 30 tin và bài quan trọng. Chúng tôi đề ra hai việc cần làm tiếp:

Vận động các báo cùng vào cuộc, trước hết là báo Cao su Việt Nam của Tổng cục Cao su. Tôi đề nghị hai ông Nguyễn Gia Đằng và Vũ Lăng bàn bạc với anh Năm Xuân Tổng biên tập báo Cao su khéo léo đưa mục chống tiêu cực lên tờ báo của ngành. Năm Xuân đồng ý gặp tôi bàn cách cùng phối hợp công tác điều tra một số trọng điểm đã phát hiện có dấu hiệu tiêu cực. Chúng tôi gặp hai anh Bửu và Kim Tinh Tổng biên tập và Phó Tổng biên tập báo Ấp Bắc của tỉnh Tiền Giang là tờ báo địa phương mạnh lúc bấy giờ, có số phát hành khá lớn ở Sài Gòn, phối hợp xuất bản tập sách Cây cao su kêu cứu gồm những bài trên báo Lao Động. Chúng tôi giúp báo Ấp Bắc việc biên tập,in ấn và phát hành ở TP HCM. Sách in 20,000 bản bán hết trong vài ngày.

Ngày 10–10–1986 Ban bí thư Trung ương ra chỉ thị thành lập Đoàn thanh tra đến Công ty Cao su Chư Pah, nơi báo Lao Động đã có bài “Sự ngang ngược lộng hành của một giám đốc”.

Tổng biên tập báo Cao su Việt Nam hẹn làm việc với các Công ty cao su Tân Biên do Nguyễn Chí Đức (đang được Tổng cục trưởng đề nghị phong danh hiệu anh hùng lao động) làm giám đốc.

 Xin mời quý độc giả xem Video  : Tập thể tướng lĩnh Bộ CA cảnh báo Tổng Bí Thư không được lạm quyền để phá Đảng? 

              

Mặc dù anh Năm Xuân đã điện trước một tuần hẹn lịch làm việc, nhưng khi chúng tôi đến, chánh văn phòng Công ty cho biết: “Giám đốc chúng tôi cáo lỗi không thể tiếp và làm việc với các anh được. Chiều hôm qua, giám đốc chúng tôi mới nhận được lệnh triệu tập của Tổng cục trưởng. Vì thói ngạo mạn, hoặc có thể vì ngại phải trả lời những câu hỏi khó mà Nguyễn Chí Đức đã tìm cách lẫn tránh. Nhưng chúng tôi không bỏ đi mà tiếp tục thâm nhập xuống các đội, các tổ, các gia đình cán bộ công nhân. Nhờ đó chúng tôi thu thập được rất nhiều điều: Trước khi về đây, Nguyễn Chí Đức là quyền giám đốc Công ty cao su Đắc Min. Anh ta tham nhũng, ăn chơi trác táng, hiếp đáp công nhân, trù giập người tố cáo. Cơ quan chức năng Đắc Min thu thập hồ sơ đề nghị bắt giam. Trước khi xử lý hình sự, huyện ủy Đắc Min ra quyết định xóa tên Nguyễn Chí Đức trong danh sách đảng viên. Nhưng Tổng cục trưởng Đỗ Văn Nguyện lập tức bảo vệ cánh hẩu, ra quyết định thuyên chuyển Nguyển Chí Đức về Công ty Cao su Tân Biên làm giám đốc và chỉ sau đó 8 ngày, đảng ủy Công ty này tổ chức kết nạp Nguyễn Chí Đức vào Đảng. Cảm thấy có thể đạp lên lên pháp luật quá dễ dàng khiến cho Nguyễn Chí Đức “coi trời bằng vung”. Vừa nhận chức giám đốc Công ty Cao su Tân Biên, anh ta cấu kết với phó giám đốc Nguyễn Bình Thuận và giám đốc Xí nghiệp phục vụ đời sống Cao Hoàng Đức bày mưu kế tham ô tài sản, hiếp đáp công nhân và ton hót cấp trên. Đúng lúc chuẩn bị đón nhận danh hiệu anh hùng lao động thì Nguyễn Chí Đức bị một đòn “trời giáng”: Báo lao Động đăng bài tường thuật cuộc giải cứu của Tổng cục Cao su giúp một tên phạm pháp ở Đắc Min về Tân Biên, trở thành giám đốc giỏi và ứng viên danh hiệu anh hùng lao động đã diễn ra như thế nào? Lập tức, tỉnh Tây Ninh tổ chức điều tra các hành vi phạm pháp của Nguyễn Chí Đức từ lúc về đây. Chỉ mất vài tháng, Viện Kiểm sát Tây Ninh đã có đủ cơ sở để ra quyết định khởi tố bắt giam cả 3 tên.

Cuộc thanh tra ở Công ty cao su Chư Pah đưa tới quyết định bắt giam tên Hộ, một “giám đốc ngang ngược lộng hành”. Cuộc thanh tra của tỉnh Đắc Lắc lần theo những phát hiện của các bài báo về Công ty Cao su Đắc Min đã khởi tố bắt giam Hồ Doãn Đại kế toán trưởng và Phan Thanh Sơn trưởng phòng kiến thiết cơ bản. Viện kiểm sát nhân dân tối cao phê chuẩn quyết định khởi tố bắt giam 4 cán bộ lãnh đạo của Công ty phục vụ đời sống của Tổng cục Cao su. Đến đây, đã có đủ tài liệu để tôi chấp bút bài báo phân tích nguyên nhân của mọi nguyên nhân làm tan nát ngành cao su, gây khó khăn điêu đứng cho cuộc sống hàng vạn con người: Sự thoái hóa biến chất của cả hệ thống tổ chức Đảng do Ủy viên Trung ương Đảng Đỗ Văn Nguyện đứng đầu, đưa tới tình trạng bè phái, trù giập người ngay, bao che kẻ xấu, cất nhắc bọn khéo nịnh nọt! Cảnh báo của chúng tôi vẫn không được những người lãnh đạo của Đảng lắng nghe, để xây dựng nền tư pháp độc lập, do đó tệ nạn tham nhũng ở những năm sau đã sinh sôi ghê gớm hơn nhiều!

Nhà báo Tống Văn Công
(trích hồi ký Đến Già Mới Chợt Tỉnh)

(Dân Luận)