Thursday, May 11, 2023

 CHIẾN DỊCH BU PRANG - ĐỨC LẬP NĂM 1969.

Dịch từ: Trang 259-262 của sách Green Berets at War của Shelby Stanton.

         sfB23ctz.drw* (specialforcesbooks.com)

. . . 

"Tới năm 1969, cả hai trại Bu Prang và Đức Lập lần nữa bị đe dọa trong mùa khô từ 28/10 tới 27/12, khi những trung đoàn quân csbv từng bao vây trại LLĐB Ben Het di chuyển xuống hướng nam tới lãnh thổ Cam-Bốt gần 2 trại này. Nói thêm: Trại Ben Het là một trại LLĐB ở cách vùng ba biên giới Việt-Lào-Cam bốt 7 dặm, và trại Dak To ở phía đông gần đó đã từng bị vây hãm bởi hai trung đoàn 66 và 28 csbv này từ 5/5 tới 29/6/1969. Xem ba bản đồ sau đây của Hội Địa lý Quốc gia Mỹ, và của sách Green Berets at War của Shelby Stanton, và của sách From Cease-fire to Capitulation của đại tá LeGro, thuộc Văn phòng Tùy viên Quốc phòng (D.A.O.)--người dịch). Hai trại Bu Prang và Đức Lập này có nhiệm vụ theo dõi những đồi núi rừng rậm giữa hai trại, nơi mà những khu rừng nhiệt đới có thể ẩn giấu những đại đv csbv. 


Quan hệ giữa quân nhân LLĐB Mỹ và VNCH rất tốt tại trại Bu Prang. Trại có 336 lính DSCĐ, phần lớn là người Rha-đê và Cam-bốt, với đại úy William Palmer là trưởng toán A-236. Trong khi quân csbv đang tập trung lực lượng quanh trại, lính Mike Force bắt đầu hành quân trong khu vực. Pháo binh Mỹ đặt tại ba căn cứ hỏa lực (CCHL) gần đó, được đặt tên Kate, Annie, và Susan. 
(Nói thêm: không giống như lính DSCĐ là những dân Thượng ở chung quanh các trại, được huấn luyện và trang bị ko đầy đủ, lính Mike Force, xem hình, được huấn luyện rất kỹ, biết nhảy dù và kỹ thuật cận chiến, vũ khí tối tân hơn và hưởng lương cao hơn; khi thành lập vào năm 1965 họ được tổ chức thành ba đại đội, phần lớn là người Nùng. Sau này có thêm người Thượng và VN, với quân số lúc cao điểm lên đến bốn TĐ, dưới quyền của BCH 5 Mike Force đặt ở Nha Trang, và được không vận nhanh chóng bằng máy bay vận tải C-130, để tiếp viện các trại LLĐB trên toàn quốc, khi có yêu cầu. Sau này, do tình hình đòi hỏi, có thêm BCH 1 Mike Force với 2 TĐ ở vùng 1 chiến thuật, BCH 2 Mike Force ở vùng 2 với 5 TĐ đặt tại Pleiku, BCH 3 Mike Force với 3 TĐ ở vùng 3, và BCH 4 Mike Force với 3 TĐ ở vùng 4;  tổng cộng có 17 TĐ Mike Force. Nguồn: Special Forces at War, trang 252, của Shelby Stanton -- người dịch). 
Lính Mike Force thuộc BCH 5 Mike Force, đặt căn cứ tại Nha Trang, chuẩn bị nhảy dù. Sau này, do tình hình đòi hỏi, lập thêm 4 BCH Mike Force tại 4 quân khu.

Trong khi TĐ 1 của BCH 5 Mike Force, đặt căn cứ ở Nha Trang, chiến đấu ở Núi Khét trong Châu thổ sông Cửu Long, TĐ 2, cũng thuộc BCH này, trong hình, đã chiến đấu ở vùng Núi Ek hiểm trở từ 28/4 tới 15/6/70. (Núi Ek ở 3 km bắc trại LLĐB Dak Seang-ở bắc Kontum). Trên đỉnh Núi Ek là CCHL 31, được xây dựng rất kiên cố với 12 bunker bằng bê-tông cốt sắt. Ngày 29/3/70, căn cứ này bị tràn ngập. Việc tái chiếm núi này bao gồm lính Mike Force phải leo lên một dốc đứng, khiến họ đã hứng chịu hỏa lực địch. Cuối cùng phải phá hủy các bunker này.
Ngày 25/8/68, vài đại đội Mike Force, gồm dân Thượng gốc Rha-đê, Raglai, và Jarai đã trèo khỏi (clamber out) giao thông để tái chiếm đồi bắc của trại LLĐB Đức Lập trong khi trung úy Norman Baldwin la to, "Tiến lên đỉnh! Xung phong!" Họ đã xung phong trực diện lên đồi dưới hỏa lực dữ dội của đối phương. Trung úy Baldwin, chuyên viên bậc 5 Forestal Stevens, và trung sĩ nhứt Leslie Brucker Jr. đã chết trong trận này. Trong ảnh, các xạ thủ đại bác 105ly, đặt trong trại, đang phản pháo. Họ đều gốc Thượng.
Trong một cuộc chạm súng ở đông nam Ban Mê Thuột, trung úy Dave Moley của BCH 2 Mike Force, đặt căn cứ ở Pleiku, và trưởng Toán B-20-đại úy Martin Green Jr. nhấc bổng (hoist) một người bị thương lên trực thăng. (Có lẽ do địa thể gồ ghề, trực thăng ko thể đáp xuống đất, nên phải đưa người bị thương lên máy bay như vậy -- người dịch). 

                   
Dao đi rừng của một quân nhân LLĐB Mỹ
Phù hiệu đeo vai của Mike Force.

TĐ 5 trung đoàn 22 pháo binh Mỹ có ba đại bác 105 ly tại CCHL Kate, ở phía đông Bu Prang. LLĐB Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ CCHL này, với lính DSCĐ từ các trại gửi tới. Trung sĩ Daniel Pierelli, hạ sĩ quan phụ trách vũ khí của toán A-233, được gửi tới trại Kate ngày 27/10/69 với một đại đội của trại LLĐB Bản Đôn. Đại úy William Albratch, chỉ huy trại A-236 ở Bu Prang, đã tới ngày kế để chỉ huy dscđ ở CCHL Kate. 

Bắt đầu từ ngày 29/10, CCHL trên đồi này đã bị pháo liên tục bởi súng không giựt, cối trung bình, và đạn B-40. Vào buổi tối hôm đó, đại đội DSCĐ của toán A-234 tại trại An Lạc, thuộc quận Lạc Thiện tỉnh Darlac, đã được trực thăng tới Kate, nhưng hỏa lực phòng không dữ dội ngăn cản khiến chỉ có 40 người đáp xuống. Với viện quân này, Kate có hai quân nhân LLĐB Mỹ và 2 quân nhân LLĐB VN, 196 lính DSCĐ, và một trung đội pháo binh Mỹ. 

Quân csbv đã tập trung thêm quân quanh CCHL này. Ngày 30/10, một gunship bị trúng đạn phòng không, đứt làm đôi và rơi xuống đất, giết chết phi hành đoàn. Trại lại thiếu nước và đạn trầm trọng. Vấn đề sau lại còn khó khăn hơn khi lính của trại Bản Đôn xài súng các-bin M2 trong khi lính của trại Bu Prang và An Lạc xài súng M16. Hai đại bác 155 ly bị bắn hư, ko dùng được, và khẩu thứ ba, 105 ly, cũng bị hư do pháo kích. Tối 31/10, CCHL được lịnh di tản. 

Đại úy Albratch đã tập họp mọi người ở Kate tại rìa phía bắc của đồi. Những gì ko mang được sẽ bị phá hủy bởi lựu đạn tạo nhiệt độ cao. Đột nhiên, quân csbv bắn hỏa châu và pháo cối lên đồi. Lính phòng thủ đã bắt đầu chạy băng ngang hàng rào kẻm gai, và trong khi cả đám người mất trật tự này lao xuống núi, một DSCĐ đã vô tình đụng phải mìn chiếu sáng. Mọi người nằm sát đất khi toàn triền núi được chiếu sáng. Rất may cho họ là Bắc quân ko nổ súng. Khi mìn chiếu sáng tắt phụt, ông tập họp họ để rút lui có trật tự. Nhưng người lính dẫn đầu đã đi theo một lối khác với dự tính, nhưng đại úy ko lo vì lính Thượng rất giỏi đi rừng, nghĩa là ko bị lạc, ngay cả trong đêm tối. 

Tuy nhiên, sau đó khi tới một khu rừng thưa, lính DSCĐ bị bắn. Khi nghe súng nổ, lính dscđ hoảng loạn và chạy khắp rừng. Dù cố gắng nhưng Albratch và Pierelli cũng ko cản được họ. Giờ đây, đại úy chỉ còn trong tay 20 lính dscđ và trung đội lính pháo binh Mỹ (sau này mất tích 2 người trong lúc di tản). Albratch đã bắt tay với hai đại đội 252 và 253 Mike Force do BCH 5 Mike Force ở Nha Trang gửi tới như dự tính, và họ kéo về Bu Prang an toàn. Vì CCHL Kate bị bỏ cho csbv, hai CCHL Annie và Susan cũng di tản ngày 2/11, chỉ còn pháo binh trong trại Bu Prang hoạt động. 

Trong chiến dịch gần 2 tháng để bảo vệ các trại LLĐB này, sđ 23 bộ binh VNCH đã chỉ huy hay phối hợp mọi hoạt động của liên quân Việt-Mỹ gồm bộ binh, pháo binh và không quân. Viên TL của sđ đã cho phép mọi phóng viên VN và quốc tế được đến các trại để làm phóng sự. Tuy nhiên chỉ huy của Toán B-23, đặt tại Ban Mê Thuột, lại ko cho phép phóng viên đến Bu Prang ngày 2/11. Báo chí phản đối và hỏi ai là người chỉ huy chiến dịch này, Mỹ hay Nam VN. Mặc dù đại tá Healey đã nhanh chóng hủy bỏ (countermand) lịnh của Toán 23, tướng Abrams đã tức điên lên (infuriate). 

Abrams đã giận dữ lên án (denounce) thành tích của LLĐB về chiến dịch đang diển tiến trong một cuộc họp tham mưu tại Sài Gòn ba ngày sau đó. Ông đã xác nhận (maintain) rằng tổng tham mưu trưởng QLVNCH, đại tướng Viên, và TL của vùng 2 chiến thuật, trung tướng Lữ Lan, nói với ông rằng lính DSCĐ đã ko tuân lịnh của sđ 23 bộ binh VNCH. Tướng Abrams cho rằng đây là lý do chính đáng (rationale) của Nam Việt Nam để không đến hỗ trợ lực lượng DSCĐ tại CCHL Kate. Ông nói thêm "cách duy nhứt để đảo ngược thái độ này là gia tốc việc tách rời chương trình DSCĐ ra khỏi LLĐB Mỹ."

Việc CSBV pháo kích mạnh mẻ và bộ binh thăm dò để chống lại quân đồng minh khắp khu vực Bu Prang và Đức Lập đã gia tăng cường độ. Trong 2 ngày 16-17/11/1969 Bu Prang đã bị pháo kích nặng nề từ trước tới giờ. Pháo kích và tấn công bằng đặc công đã tiếp tục tới hết tháng 11 nhưng giảm đi sau ngày 5/12 khi lính dscđ của trại bắt đầu đi tuần bên ngoài chu vi phòng thủ. Sau tuần lễ đầu của tháng 12, mọi hoạt động của csbv đã giảm đáng kể, và thỉnh thoảng chỉ còn pháo kích và chạm súng lẻ tẻ.

Chiến dịch Bu Prang-Đức Lập đã phần lớn quyết định bởi hỏa lực Mỹ. Trong vòng 60 ngày đã có 1.309 phi xuất chiến thuật để yểm trợ cho quân bạn. Thêm vào đó, 78 phi xuất của pháo đài bay B-52 đã thả bom xuống rừng rậm chung quanh hai trại. Sau cuộc vây hãm này, vì lý do chiến thuật, trại Bu Prang đã bị xe ủi đất cào bằng (razed) và xây dựng lại ở cách đó 11 dặm về phía đông nam, tại một khu vực ít nguy cơ hơn. 

Trại Bu Prang MỚI được xây dựng bởi TĐ 19 công binh Mỹ, khởi công ngày 28/1/70. Gió mùa đã khiến mặt đất đầy bùn khiến đến tháng 11 mới xong, thay vì xong trước tháng 5. Mọi vật liệu đều chỡ đến bằng máy bay, vì QL-14 dẫn tới trại Bu Prang ko an ninh. Từ đây, trại Bu Prang mới sẽ an toàn hơn vì ở xa biên giới (trại cũ cách biên giới 5km), trên một đồi cao và mọi sinh hoạt đều dưới mặt đất". 

. . .

Nói thêm: Việc mở trại Bu Prang đầu tiên, ở nơi xa nhứt về phía tây của tỉnh Quảng Đức, và chỉ cách biên giới 5km, đã được phô trương ầm ỉ bởi một màn nhảy dù tập thể của LLĐB và DSCĐ vào ngày 5/10/1967. 

Trước nhứt, thiếu tá Chumley Waldrop đã nhảy dù với 11 quân nhân LLĐB Mỹ và 37 lính viễn thám VN để lập một bãi nhẩy trên một vùng đồi núi hình điếu xì-ga, đầy cỏ tranh, xen kẻ với rừng rậm. Trần mây là 750 feet và trời lại mưa. Sau đó, trung tá Ludwid Faistenhammer, chỉ huy 50 lính llđb Mỹ và 275 lính llđb VN và lính Thượng của BCH 2 Mike Force, căn cứ ở Pleiku, nhảy xuống để lập trại này. 

Đại úy Spencer Folsom, chỉ huy toán A-236 và hai đại đội dscđ từ trại Lạc Thiện (gần Ban Mê Thuột vừa bị đóng cửa), được trực thăng thả xuống để xây dựng trại. Một hệ thống hầm hào và hàng rào kẻm gai nhanh chóng dựng lên, trong khi 2 đại đội này tuần tiểu chung quanh. Đoàn công-voa đầu tiên tới Bu Prang ngày 26/11 sau khi bị phục kích một lần, đã mở QL-14 từ Ban Mê Thuột tới biên giới Cam Bốt. Theo trang 142 của Green Berets at War -- người dịch.

Wednesday, May 10, 2023







 

 https://maps.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/duc_minh-6533-4.pdf


https://maps.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/duc_phong-6432-1.pdf 


Late in the morning of the 6th, friendly units set up a defensive perimeter on the rim of the volcano overlooking Bon Sar Pa, south of Duc Lap.

 

On 9 Nov while flying a hot resupply into the volcano, 2 155 aircraft were hit by .50 caliber fire and B-40 rocket fragments, resulting in one pilot wounded. He was later returned to CONUS.

 

On 11 Nov another aircraft was hit by 12.7mm anti-aircraft fire SE of Bu Prang, wounding one crewman. Later that morning one passenger was killed and 2 wounded when their aircraft took hits from 37mm anti-aircraft fire near Bu Prang.

 

One of the more significant actions took place on 17 Nov when 155 Falcon gunships expended 5 times on enemy locations near Bu Prang. As a result of Falcon gunship and Tac Air Support, 72 enemy were killed, more than half of which were credited to the Falcons.

 

In separate actions on the 17th, 2 Falcon gunships received damage from enemy fire.

 

On the 21st, Falcon guns expened 3 times on enemy locations, receiving credit for 23 enemy killed by air. During this action 3 gunships were hit bt ground by ground fire.

 

On 22 Nov, 2 Falcon gunships on standy-by at Gia Nghia were called to Duc Lap where they engaged enemy targets. Both ships took damage from ground fire and the pilot of one ship was wounded in the leg, causing his return to CONUS.

 

On 25 Nov another 155 ship took hits from ground fire while resupplying the volcano, wounding the pilot.

 

The activity at the volcano had now reached the point where the Stagecoach slicks performing resupply to the troops on the rim would always receive ground fire, either enroute to or from the volcano, or from within the crater of the volcano itself. Launching out of LZ Mike Smith, these resupply helicopters had to alter their routes and landing patterns every time they ran a mission. There were confirmed .50 caliber positions around 3 sides of the volcano, with heavy small arms and troop concentrations on the 4th side.

 

In addition there was one small spot on the rim suitable for landing and this pad was constantly wracked with direct mortar, rocket, and artillery hits. An aircraft landing on the volcano had to be fast. If the cargo couldn’t be kicked off or the wounded loaded within 27-28 seconds, they would have to wait for the next trip, because within 29-30 seconds after touchdown, a mortar would strike the pad. Many a StageCoach aircraft got an added boost on take-off from the concussion of a mortar round directly behind it.

 

This resupply and medevac mission put the crews under a great strain. Going into the volcano as many as 4, 5, or 6 times in one day under theses conditions put the crews under so much pressure that the ground commander insisted that the crews be changed daily so as not to overtax the same people day after day.

 

On 27 Nov, a gunship covering a volcano resupply mission received heavy ground fire and was forced to make an emergency landing in enemy territory. The crew destroyed the radios and cipher equipment before being safely extracted by another gunship. The gunship was destroyed in place.

 

On 4 Dec, while extracting a wounded ARVN from the volcano, the resupply command and control helicopter drew heavy fire, wounding a pilot.

 

It must be remembered that the battle of Bu Prang-Duc Lap was a full scale effort by the enemy. Although not mentioned in this history, the events and circumstances surrounding all operations 28 Oct-28 Dec required aviators and crews to daily risk their lives in an effort to provide support to the beseiged firebases and outposts.

 

Many more medevacs than are recorded were actually flown. Many more enemy were killed than the Falcons were given credit for. This is a result of the fluid maneuvering of both friendly and enemy units.

 

The constant enemy activity, the fact that if asked to pull a medevac a Stagecoach aircraft would go into an area that had been the target of over 200 enemy artillery rounds that day, the fact that though enemy mortars were sure to follow a resupply by seconds, all confirm that under under the most severe of conditions the 155 Falcon- Stagecoach team can and will provide optimum support, without reservation and without delay to the units which it serves.

 

The last and by far the busiest quarter of 1969 left in its wake a great sense of accomplishment, and a feeling of relief that the ordeal of 2 months was over. Although acting as controlling agency in conjunction with Vagabond Forward, the 155th operations had handled as many as 50 additional aircraft daily during Nov and Dec. This put quite a strain on 155 operations.

 

In addition, the company flew more hours than any other company in the 10th Avn Bn for long periods, still maintaining an extremely high aircraft availability record.

 

Although 28 aircraft from the 155 received damage from ground fire the knowledge of the enemy and terrain proved to be a factor in minimizing damage to aircraft. Aircraft from other units, in trying to support the 155, proved that anything less than a complete knowledge of terrain and tactics creates a dangerous situation. Hour for hour, the 155 took less damage from ground fire than outside units unfamiliar with the area of operation.

 

On 26 Dec 1969 Maj Dean Owen relinquished command of the 155 Av Co to Maj Gerald M. Luisi, formerly assigned as Assistant Div Aviation Officer of the 25th Inf Div.

 

The change of command ceremony was held at Camp Coryell. Major Owen was presented the Vietnamese Cross of Gallantry by Col Kanh of the 23rd ARVN Div.

 

 

1 July-30 Sept:

 

 

 

After a period of seven weeks without an enemy attack on Camp Coryell, the longest period of respite the 155th had seen in 2 years, the night quiet was again broken by incoming rounds. On 23 July at 2333 hours, 5 B-40 rockets and 10 82mm mortars struck the compound. Due to increased bunker facilities, and the overdue nature of the attack, the rounds inflicted negative damage.

 

Again, there was a long period without enemy attack on Camp Coryell in July and Aug. Finally, the compound was attacked on 12 Aug. Early in the morning, a total of 37 rounds struck the compound, landing not only in the corral and dustbowl, but in the billeting areas as well. 10 B-40 rockets and 27 82mm mortars impacted, causing damage to 4 UH-1H’s and one UH-1C, 10 structures, and 4 vehicles. 11 personnel were wounded during the attack. Falcon gunships and a flareship were launched, but because of difficulty encountered in getting clearance to fire, returned with negative results.

 

The 155 was not subject to enemy attack during the entire month of Sept.. In late Aug and early Sept. of 1968, the 155-supported areas of Bu Prang and Duc Lap were the targets of a long, hard-hitting offensive by the enemy. Duc Lap in particular was the focal point of enemy activity in the 155th’s area of operations during that year.

 

All sources of information gathered thus far in 1969 indicated that the enemy was planning a 1969 offensive aimed once again at Duc Lap.

 

The end of the summer monsoon and the beginning of the winter monsoon brought about a great increase in enemy activity in large parts of the 155’s area of operation. Although the rainy weather precluded any large scale enemy activity during July and Aug, toward the end of Sept the lessening rainfall afforded the enemy greater ease of mobility, as was indicated by large troop buildups in the border areas west and SW of Duc Lap.

Monday, May 8, 2023

 

Đôi 722 - Đắk Sắk

LTS: Đắk Nông là một tỉnh mới thành lập. Nơi đây có nhiều địa danh lịch sử, trong đó có không ít địa danh gắn liền với đường Trường Sơn huyền thoại. Thế nhưng, khá nhiều những di tích ấy chưa được biết đến. Báo SGGP xin giới thiệu đến bạn đọc Di tích lịch sử Đồn 722 - Đắk Sắk nhân kỷ niệm 45 năm ngày diễn ra trận đánh oai hùng của bộ đội ta tại đây.

Đồi 722 ở độ cao 722m so với mặt biển, diện tích khoảng 1km², trên địa bàn thôn Thổ Hoàng 4, xã Đắk Sắk, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. Trong kháng chiến chống Mỹ, Đồi 722 là căn cứ biệt kích của Mỹ - ngụy và là nơi diễn ra trận chiến ác liệt của bộ đội chủ lực cùng lực lượng quân sự địa phương tiến công tiêu diệt căn cứ biệt kích vào ngày 22 và 23-8-1968.

Cuối năm 1963, sau những thất bại trong càn quét, gom dân, lập ấp chiến lược, chính quyền ngụy Sài Gòn đã tăng cường đôn quân, củng cố các ấp bị phá và biến các cứ điểm Sa Pa, Phi Có, Đắk Sắk, Bu Prăng… thành các căn cứ biệt kích, nằm trong hệ thống biệt kích dọc biên giới miền Trung, để từ đây tung biệt kích, thám báo đánh phá đường giao liên nhằm cắt đứt hành lang chiến lược Bắc - Nam của ta, biến vùng núi của ta thành vùng trắng.

Riêng tại Đắk Sắk, chúng đã xây dựng điểm cao 722 thành căn cứ biệt kích hết sức kiên cố, trang bị nhiều vũ khí hiện đại, xây dựng sân bay dã chiến Thổ Hoàng, nhằm khống chế hoạt động của ta tại khu căn cứ kháng chiến B4 - liên tỉnh IV (trên địa bàn 2 xã Nâm Nung, huyện Krông Nô và xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’long, tỉnh Đắk Nông ngày nay) và ngăn chặn đường hành lang chiến lược Bắc - Nam của ta (dọc tuyến quốc lộ 14C bây giờ).

Tháng 1-1968, quân và dân Quảng Đức đã cùng cả nước thực hiện cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 trên địa bàn toàn tỉnh. Tháng 8-1968, Mặt trận Tây Nguyên (B3) quyết định mở đợt tấn công mùa thu 1968 và chọn chi khu quận lỵ Đức Lập là trọng điểm tiến công của một sư đoàn quân chủ lực Tây Nguyên phối hợp với quân dân Đức Lập. Ngày 22-8-1968, quân ta đồng loạt nổ súng tấn công quận lỵ Đức Lập và các vị trí đóng quân của địch trên toàn tuyến như Đắk Sắk, Sa Pa, Đắk Lao, Đắk Pet và chặn đường chi viện của địch từ Buôn Ma Thuột xuống tại Đắk Găn.

Trong 10 ngày của đợt tấn công Đức Lập, ta đã tiêu diệt 1.790 tên địch, trong đó có tướng ngụy Trương Quang Ân và một đại tá cố vấn Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 18 đại đội lính ngụy, biệt kích, thám báo, bảo an; phá 32 xe quân sự, 10 đại bác, 6 kho vũ khí, bắn rơi 42 máy bay các loại. Đại bộ phận quân chiếm đóng và hệ thống ngụy quyền cấp huyện, xã bị tan rã; đồng bào 15 bon làng quanh Đức Lập nổi dậy, trở về nơi cũ.

Riêng tại Đồi 722 - Đắk Sắk, trong 2 ngày 22 và 23-8-1968, quân ta tập trung hỏa lực tấn công, đập tan lực lượng biệt kích, thám báo Mỹ - ngụy đồn trú ở đây. Sau khi làm chủ hoàn toàn căn cứ, Trung đoàn 95 của ta có nhiệm vụ chốt giữ vị trí trọng yếu này. Tuy nhiên, 3 ngày sau, địch đã huy động tổng lực lượng, dùng máy bay B52 và các loại vũ khí hạng nặng để phản công chiếm lại cứ điểm 722 - Đắk Sắk.

Khi phản công, địch đã bao vây Đồi 722 và gài mìn dày đặc xung quanh, dùng hỏa lực mạnh và ném bom rải thảm nên lực lượng địa phương không thể tiếp cận được với quân chủ lực, trong tình thế bị địch bao vây chặt, không được tiếp tế vũ khí, đạn dược cũng như lương thực, bộ đội ta đã anh dũng chiến đấu tới viên đạn cuối cùng. Trong trận này, 153 cán bộ, chiến sĩ của ta hy sinh tại Đồi 722.

Sau ngày giải phóng, để tưởng nhớ sự hy sinh to lớn của cán bộ, chiến sĩ ta tại Đồi 722 - Đắk Sắk nói riêng, trong chiến dịch Đức Lập mùa thu 1968 nói chung, tỉnh Đắk Nông đã lập Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ; tháng 10-2012, Đồi 722 - Đắk Sắk được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia.

KHẮC CƯỜNG

Ý kiến bạn đọc

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Các tin, bài viết khác

 Đón năm mới trên đỉnh núi lửa Chư B'luk Dak'nong - Đức Lập Quảng Đức

06 Tháng Giêng 201910:04 CH(Xem: 6582)

VĂN HÓA ONLINE - BỘ ẢNH DU LỊCH  - THỨ HAI 07 JAN 2019


image023image024


Núi lửa Chư Pluk, buôn Choah, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông - Ảnh: Hà Bình


- Phát hiện núi lửa Krông Nô (Đức Lập-Quảng Đức)


Đón năm mới trên đỉnh núi lửa Chư B'luk Dak'nong - Đức Lập Quảng Đức


TTO - Quần thể hang động dung nham trong Công viên địa chất Đắk Nông được các nhà khoa học khảo sát, đo đạc với hơn 50 hang dung nham, mỗi nơi mang một nét độc đáo khác nhau.


Theo tiếng dân tộc Ê Đê, Chư có nghĩa là núi, B’luk là cội nguồn. Rời thành phố đông đúc, những ngày cuối cùng của năm,...


image025


Đã 4 năm trôi qua kể từ chuyến đi đầu tiên chúng tôi đặt chân đến miệng núi lửa Chư B’luk (huyện Krông Nô, Đắk Nông) với mục đích khảo sát du lịch. Đáng tiếc, vì vấp phải nhiều rào cản nên bao nhiêu kỳ vọng sau đó đành bỏ dở.


Nhưng hình ảnh ngọn núi lửa nổi bật giữa "thảo nguyên đá bazan" bát ngát cùng những hang động mờ sương… vẫn đeo đẳng trong ký ức. Đó cũng là động lực thôi thúc chúng tôi sớm trở lại Chư B’luk.


image026

image027

Cả nhóm rời trung tâm thị trấn Đắk Mâm từ sáng sớm. Cơn bão rớt những ngày cuối cùng của năm khiến bầu trời Tây nguyên ầng ậc nước. Chạy được vài trăm mét trên tỉnh lộ 684 đã thấy một chiếc xe tải "bơi" đi "bơi" lại trên con dốc trơn trượt đầy bùn đất trước mặt.


Sau một hồi thảo luận, mọi người quyết định đi vòng sang con đường băng ngang cánh đồng cách đó khoảng 3km, nhưng rồi cũng thất bại vì vướng cây cầu nhỏ bắc ngang con suối trên đường.


Quay lại đường cũ, tài xế đánh liều leo dốc, nhưng lên được 2/3 dốc cũng đành thoái lui vì bánh xe cứ xoay mòng trong bùn lầy, không tiến thêm được mét nào.


image028image029image030image031image032


Dừng tại ngã ba đường, chúng tôi mất thêm 1 giờ để cuối cùng leo lên chếc xe tải hạng nặng thuê được của một đại lý bán vật liệu xây dựng tiếp tục hành trình.


Trong cơn mưa phùn chợt đi chợt đến, cả nhóm 15 người với mọi lứa tuổi, lớp trong ngồi cabin, lớp "chất" lên thùng xe trong khi chiếc "ben" nhảy như ngựa trên con đường đầy ổ voi, đất đá lổn ngổn lừng lững tiến về phía trước.


Xuống xe gần căn nhà nhỏ của Ban quản lý rừng phòng hộ núi lửa (xã Buôn Choáh, huyện Krông Nô), mọi người trang bị nón bảo hộ, đèn mắt ếch, gậy chống, áo tơi… rồi theo chân anh Nguyễn Thanh Tùng, cán bộ Công ty Phú Gia Phát - đơn vị quản lý rừng phòng hộ núi lửa, vượt qua con đường mòn ngoằn ngoèo đầy đá bazan bọt hình thành từ dòng nham thạch núi lửa phun trào xa xưa tiến vào chân núi.


image022


"Điểm đến" vốn dễ nhận ra bởi dáng hình thang cân đã có thể nhìn thấy từ tỉnh lộ giờ đã cận kề, ấy vậy mà cuốc bộ ngót nghét 5km chúng tôi mới tiếp cận chân núi.


Bù lại, hai bên đường, chen lẫn bãi ngô cháy xém sau mùa thu hoạch của bà con người dân tộc trỉa "nhờ" là những bạt ngàn cỏ lau và hoa, cỏ dại.


Thỉnh thoảng lại bắt gặp những bụi cà chua rừng đầy quả chín mọng mời gọi khiến ai cũng "xao lòng", hết chụp ảnh lại sà vào hái và cứ thế cho ngay vào miệng để thưởng thức hương vị ngon ngọt thơm lừng mùi núi, mùi rừng.


image033image034image035image036image037image038


Núi lửa Chư B’luk đón chúng tôi bằng vạt rừng đầy cây gai, cỏ dại phủ kín sườn núi nghiêng hơn 40 độ.


image039image040image041image042image043


Để mở đường, anh Tùng phải đi trước dùng dao phạt từng cây le, dây leo mở lối vừa đủ cho người sau leo lên hoặc gập mình luồn lách qua các bụi gai rậm rạp trên đầu.


Trời lạnh nhưng áo ai cũng ướt đẫm, người đi trước kéo người đi sau, người đi sau nữa thì túm cả thắt lưng người… yếu đi trước cứ thế đẩy lên…


Cuộc "hành xác" chỉ chấm dứt khi trước mặt, lẩn trong đám cây rừng rậm rạp là miệng núi lửa hình tròn với đường kính 600m.


image044


Từ miệng núi lửa xuống đáy lòng chảo sâu 60m phủ kín bởi dầu và vô số bụi le mọc trên lớp đất bị phong hóa từ đá bazan bọt.


Dù dốc cao trắc trở vắt kiệt sức lực, nhưng đứng trên đỉnh núi, mọi mệt nhọc bỗng chốc tan biến, ai cũng nhìn nhau cười rồi reo lên sung sướng: "Tuyệt vời!"


image045


Chúng tôi rời khỏi núi lửa khi trời đã quá trưa, tiếp tục băng qua đồng cỏ lau bạt ngàn và những bụi cây dại mọc trên bãi đá bazan bọt gập ghềnh để đến hang C8 cách đó khoảng 2km theo đường chim bay.


Tưởng gần, nhưng cũng phải đi miệt mài mất hơn 1 giờ mới đến được miệng hang âm sâu dưới lòng đất khoảng 10m ẩn hiện sau đám môn rừng và dương xỉ xanh rì.


Mọi người men theo những bãi đá to chồng chất do đá trần hang sụt đổ để leo xuống cửa hang sau khi bị một ổ kiến vàng động tổ "quần" cho ra trò.

image046

Hang C8 độc đáo và khác biệt so với những hang dung nham trong khu vực Công viên địa chất Đắk Nông (trước là Công viên địa chất núi lửa Krông Nô - Đắk Nông) bởi 3 hang động có hình dạng ống trong hệ thống hang dung nham rẽ nhánh.


Chưa kể trong từng hang còn có nhiều nhánh nhỏ do khi núi lửa phun trào, dòng nham thạch chảy qua gặp nhiều khe rãnh tạo thành nhiều hang động.


Đây là trường hợp rất hiếm trong hệ thống hang động dung nham trên thế giới.


Ngồi trên những phiến đá gập ghềnh ngay cửa hang thưởng thức "bữa ăn trưa ngon nhất trong đời" lúc 2h giờ chiều, mọi người còn nghe câu chuyện kể của người người gác rừng.


image047


Chuyện rằng, xa xưa người Ê Đê theo tập quán sống dưới hang sâu tăm tối, lạnh lẽo. Một hôm, có người đàn ông vì phạm tội nên bị trục xuất ra khỏi hang. Sinh sống ngoài trời, kẻ bị trừng phạt này ngày ngày đi săn bắn, hái lượm, canh tác nên dần dần của cải dư dật.


Ngược lại người dân dưới hang thì cơ cực, thường xuyên đói khát nên dần dần họ rời hang lập làng trên mặt đất để mưu cầu cuộc sống sung túc. Dù thế, họ vẫn đặt tên chung cho ngọn núi lửa và những hang động xung quanh như lời nhắc nhở cho con cháu lịch sử, nguồn gốc của mình.


image048image049image050image051image052image053


Nội dung:


TRẦN THẾ DŨNG


Hình ảnh:


TRẦN THẾ DŨNG, HOÀI TRANG


Thiết kế:


KIỀU NHI


Concept:


BẢO SUZU


https://tuoitre.vn/don-nam-moi-tren-nui-lua-chu-bluk-dak-nong-2019010610530853.htm


image054image055


​Khám phá miệng núi lửa Chư B’luk


11/01/2015


image056

​Khám phá miệng núi lửa Chư B’luk


TT - Rời khu du lịch thác Đraysap, men theo tỉnh lộ 684 vào huyện Krông Nô (Đắk Nông), rồi vượt qua 20km đường cấp phối đầy bụi bặm và dốc cao, trước mắt chúng tôi là ngọn núi lửa Chư B’luk.

image057

Đoàn du khách vào hang C3 - Ảnh: Trần Thế Dũng.


Hệ thống hang động núi lửa vùng Krông Nô hội tụ đầy đủ các tiêu chí để thành lập công viên địa chất cấp quốc gia và hướng tới đề nghị UNESCO công nhận công viên địa chất toàn cầu nên rất cần bảo vệ nguyên trạng như một bảo tàng ngoài trời. Vì vậy trong khi chờ quy hoạch, chưa thể khuyến khích du lịch.


Ông La Thế Phúc (giám đốc Bảo tàng Địa chất VN)


Ngọn núi nổi bật giữa triền đồi cằn cỗi, hoang vắng thuộc địa phận xã Buôn Choah.


Từ đây vào chân núi chủ yếu là lối nhỏ trên nền đá gập ghềnh dài khoảng 2km và không ít lần phải băng qua những ngọn đồi thấp toàn đá bazan bọt (bọt khí nằm trong đá) được hình thành từ dòng nham thạch trong núi lửa tuôn trào xưa kia.


Ánh nắng chói chang, gió núi thỉnh thoảng thổi qua nhưng không đủ xua đi bức bối của cái nóng từ bãi đá bốc lên. Không gian yên vắng, hoang hóa như buổi chiều tà.


Thật may, trên đường đi rất dễ bắt gặp những bụi cà chua chi chít trái chín đỏ, kích thước chỉ lớn hơn ngón tay cái nhưng hương vị chẳng khác cà chua vườn đã giúp chúng tôi vượt qua cơn khát và tạm quên bao nỗi mệt nhọc.


Huyền ảo những hang động


Rời khỏi bãi đá là nối tiếp con dốc thẳng đứng đến tận miệng núi lửa. Chúng tôi tiếp tục đi, một vài đoạn phải leo trèo đồng thời vừa nhoài người nắm bắt rễ cây hoặc mỏm đá hầu làm điểm tựa tiến lên đỉnh núi.


Chúng tôi đặt chân tới đỉnh núi cao 593m so với mặt biển khi trời đứng bóng cũng là lúc sức đã cạn, mồ hôi chảy đầm đìa trên mặt. Biết bao cảm xúc lạ lùng liên tiếp dâng trào khi lần đầu tiên chiêm ngưỡng miệng núi lửa hình nón, đang hiện hữu trước mặt chúng tôi.


Lần theo những vách đá lòng chảo, chúng tôi từng bước xuống đáy miệng núi lửa với tâm trạng hồi hộp, lo lắng những tai ương khôn lường bất chợt xảy ra. Không gian càng lúc càng tối dần, âm u, tĩnh mịch. Lúc này chỉ cần một cánh chim tình cờ vụt bay cũng khiến khách phải giật mình, hoảng hốt.


Tuy nhiên, những gì chúng tôi nhìn thấy khi dừng chân dưới đáy lòng chảo thật thú vị. Đó là bãi đá bazan bọt nằm chồng chất trong khu vực chừng 100m2, xung quanh là những hang hốc tối om. Nhìn lên miệng núi lửa toàn là tán lá, cây rừng tranh tối tranh sáng che khuất tầm nhìn.


Từ đỉnh núi Chư B’luk, bấm máy định vị cầm tay GPS có thể thấy hệ thống hang động hình thành bởi dòng nham thạch phun, trong đó hang A1 được xem là gần núi lửa nhất. Riêng dòng chảy về hướng tây nam (thác Đraysap) khá mạnh nên hình thành vô số hang động lớn nhỏ khác nhau dài 25km. Và hang gần núi lửa nhất được đánh số là C9.


Phần lớn các hang dung nham có hình dạng ống nhưng mỗi nơi mang một nét độc đáo khác nhau. Nếu hang A1 nổi tiếng vì nhiều ngóc ngách, ngã rẽ trổ ra các hướng, thì cửa hang C9 xuất lộ trên ngọn đồi có độ cao 530m so mới mặt biển, hang cao nhất quần thể.


Điều thú vị là hang này dài vỏn vẹn 200m thông nhau từ hai cửa luôn được ánh sáng trời rọi vào nên dễ tạo ảo giác là lòng hang rất ngắn. Ngoài ra nó còn sở hữu những vách đá đầy vết đá trượt trông khá ấn tượng.


Với hang C6, mới được đoàn chuyên gia Nhật Bản khảo sát vào dịp đầu năm 2015, lại mang vẻ đẹp rất riêng. Đây là một trong những hang hiếm hoi có hố khí tựa như giếng trời do khối khí thoát ra trong quá trình dòng nham thạch tuôn chảy. Nhờ thế, trong động được ánh nắng chiếu vào nên cảnh quan luôn lung linh, huyền ảo.


image058

Đu dây để xuống hang C7 - Ảnh: Trần Thế Dũng.


Trong hang động đẹp nhất Đông Nam Á


Trong ba ngày lặn lội vùng Krông Nô, tâm điểm mà chúng tôi muốn khám phá là hang C7 (dài 1.066,5m), được công nhận dài và đẹp nhất khu vực Đông Nam Á, rất hiếm người đặt chân tới vì xa xôi hiểm trở.


Dù được anh Nguyễn Thanh Tùng - hướng dẫn viên đoàn hỗn hợp Việt - Nhật khảo sát hang động núi lửa vùng Krông Nô - Đắk Nông cảnh báo về những hiểm nguy có thể gặp phải trong hành trình dài hơn 6km trong rừng đặc dụng Dray Sap trước khi đến C7, nhưng chuyến đi rừng không hẳn chỉ mang đến sự mệt nhọc và căng thẳng, ngược lại cực kỳ thú vị.


Bởi đây là dịp đắm mình vào thiên nhiên trong lành yên ả, lắng nghe âm thanh chim hót thánh thót trên cây và thi thoảng bắt gặp những chú sóc chuyền cành thoắt ẩn thoắt hiện như trêu chọc các vị khách đang hướng ống kính chờ bấm máy.


Ngay từ giây phút đầu tiên tiếp cận hang C7, tôi rất ấn tượng bởi hình dáng cửa hang tựa như miệng núi lửa: tròn trịa, bằng phẳng không như những hang khác thường thẳng đứng theo vách đá, cách hơn 10m về phía dưới là mảng xanh của cây môn rừng và dương xỉ phủ kín.


Nhưng nghiệt ngã là nếu muốn xuống hang, chúng tôi buộc phải dùng thang dây loại nhỏ, ngoài ra không còn cách thứ hai.


Cuối cùng chúng tôi cũng lần lượt đạp lên thang dây và trải qua những giây phút căng thẳng tận cùng lúc đu mình đong đưa trong không trung do vụng về, thao tác sai kỹ thuật trước khi giẫm chân lên nền hang.


Trước đó, khi tình cờ gặp chúng tôi ở hang C3 (chiều dài 594,4m, xếp thứ hai về độ dài khu vực Đông Nam Á), nhiều người trong đoàn khách đến từ TP.HCM cứ trầm trồ về vẻ đẹp hiếm có của cảnh quan dung nham trong hang.


Chị Thương (Q.10, TP.HCM) - một du khách trong đoàn - cho biết từng nghe nhiều về núi lửa, dung nham nhưng đây là lần đầu tiên trong đời chị tận mắt chiêm ngưỡng một hang động kỳ vĩ ngay trên đất nước mình, đồng thời bày tỏ hi vọng địa điểm này sớm được đưa vào tour du lịch Tây nguyên.


Tuy nhiên, so với hang C3, hang C7 mà chúng tôi được khám phá còn đẹp và kỳ vĩ hơn nhiều.


Cách Chư B’luk - nơi nó tuôn trào - khoảng 5.030m theo đường chim bay và nằm ở độ cao 428m so với mặt nước biển, hang C7 hội tụ những nét đặc sắc hiếm thấy: từ hình dáng cửa hang, chiều dài, sự rộng lớn của lòng hang, những tầng địa mạo, họa tiết, nhũ đá, dấu vết cuộn xoắn phun ngược trên tường, trên nền hang hệt bề mặt dòng chảy dung nham cho đến hố khí, thảm thực vật thảy đều đẹp đến ngỡ ngàng. TRẦN THẾ DŨNG (Hiệp hội Lữ hành VN)