Ý NGHĨA CỦA SỐ 18 -- XUI TẬN MẠNG.
Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
BS LÊ VĂN LÂN - CƠM TÀU VÀ QUÀ RONG TÀU
Chúng ta người Việt Nam vẫn thường có dịp ăn cơm Tàu. Nếu như trước đây ngoài Bắc năm thì mười họa rất đặc biệt người ta mới đi ăn ” hiệu khách”, ăn “cao lâu”, thì trong Nam chuyện ăn tửu lầu khá thường xuyên hơn qua những tiệc cưới hay những dịp đãi đằng khao mừng hay tiếp đón tiễn đưa, nhất là tại Saigon vùng Chợ Cũ hay tại Chợ Lớn… Ngoài ra thì ở mỗi thành phố lớn khác của miền Nam VN như Huế, Đà nẵng, Faifoo, Nha trang, Mỹ tho, Cần thơ …cũng có hiện diện ít nhất một tửu lầu của Hoa kiều nhưng vì trong thời chiến, tôi không có cái may mắn lê chân khắp bốn vùng Chiến thuật nên không rành các tên hiệu. Hình như trở thành một thông lệ chăng, những tiệm ăn nào có tên hiệu kèm chữ ” Ký” như Khê ký, Sáng ký, Vĩnh ký… thì ít nhiều cũng là liên hệ gốc Tầu, không đặng 72 phần dầu chánh gốc gia phả thì ít ra cũng lai căng đầu gà đít vịt, hay mối tình chồng Tàu vợ Việt…
Những tiệm ăn lớn của Hoa kiều ở Việt nam theo tôi hiểu thì đại đa số nấu nướng theo kiểu bếp Quảng Đông, kỳ dư nghe nói thì cũng có vài tiệm nấu theo kiểu Triều Châu hay Phước Kiến hay Hẹ (Khách gia hay Hakka) gì đó… Tuy nhiên , có những tiệm lai lai, ký này ký nọ ở các tỉnh miền Tây như Cần thơ Tây Đô thì nấu bếp rùa rắn cho dân nhậu tưng bừng… Ưu thế đa số của bếp Quảng Đông cũng dễ hiểu vì kể từ thời cuối thế kỷ 17, đám Minh thần gốc Quảng Đông không phục nhà Mãn Thanh như Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên, Mạc Cửu… đã đến xin thần phục Chúa Nguyễn Đàng Trong để được tá túc lập nghiệp thành những xóm Minh Hương miền Đông phố Biên Hoà hay Hà tiên rồi. Kể đúng ra thì khi tra lại sổ bộ thuế thuyền bè ngày xưa ở Hội An thì chúng ta còn thấy nhiều người Tầu đủ gốc ở các vùng khác đến buôn bán ở Đàng Trong như Sơn Đông, Thượng Hải, Quảng Đông, Phước Kiến, Hải Nam, Ma cao… nhưng họ đến thì rồi phải đi như ” Tàu từ Phước kiến đến thì nạp thuế 2.000 quan, lúc tàu trở về thì chỉ nạp thuế 200 quan… (trích Phủ Biên tạp lục, quyển IV của Lê Quí Đôn). Theo Lê Quí Đôn, tàu buôn từ Quảng đông đến Hội An thuận gió mùa thì chỉ hai ba ngày thôi. Có lẽ vì thương khách Trung Hoa đến tấp nập, đông đảo trên các tàu buôn lớn nên dân ta bèn gọi họ là ” dân Tàu” cho tiện! Về sau, trong thời Pháp thuộc, còn có vài đợt dân Tàu chạy giặc xin nhập cảnh cư trú mà ta quen gọi là dân”Các Chú” do chữ Khách trú mà ra, lần này thì thêm nhiều dân Tàu khác, do đó họ mới thành lập nhiều bang hội khác nhau. Có cả thảy 5 nhóm Hoa Kiều lập thành Ngũ Bang là Quảng Đông, Triều Châu, Phúc kiến, Hải Nam, Khách Gia (Hẹ hay Hakká) nhưng đa số vẫn là hoa kiều từ Quảng Đông, sau đó là dân Tiều nên các danh từ Quảng đông và Triều Châu được Việt- âm- hóa rất nhiều.
“Các chú” Quảng đông vẫn là đa số buôn bán” chạp phô”- tạp hóa- ở nhiều nơi, còn các ” chệc” Triều châu thì phần lớn ở Bạc Liêu hay Trà vinh làm rẫy, một số Tiều chuyên làm trà . Cũng nên lưu ý về tiếng Tiều gọi trà là ” té” nên do đó có những chữ ” thé” và ” tea” trong Pháp và Anh ngữ, còn tiếng “Tsà”theo tiếng Quảng Đông thì chuyển qua thành ” chai” hay “chá” trong tiếng Nga và Bồ đào nha… [Theo Lê ngọc Trụ trong Tầm-Nguyên Tự- điển Việt- Nam, ” chệc” là tiếng Tiều gọi chữ Thúc, nghĩa là “em trai của cha” Người bình dân gọi Chệc để chi người Hoa. Nhưng người Quảng Đông cho là giọng khinh bỉ, người Triều Châu trái lại, chấp nhận vì họ được tôn là ” chú”: Chú chệc, thím xẩm. Theo nhiều người nói thì ” các chú” Quảng làm ăn buôn bán khá hơn các ” chệc” Tiều lam lũ làm rẫy tằn tiện nên không biết có phải vì vậy mới có câu khá ngộ sau: Quảng Đông ăn cá bỏ đầu , Tiều Châu lượm lấy đem về kho tiêu! ]. Theo một người bạn Việt gốc Tiều của tôi, người Tiều chê dân Quảng không biết ăn cá: Món cháo cá Tiều ăn ngọt đặc biệt nhờ nấu cá chỉ rửa sạch bên ngoài còn giữ nguyên…vảy, đầu và cả ruột. Dân Tiều ở Việt nam chuyên trị về những món sau như Cá chim hấp, bò viên, tôm viên, ruột heo nấu cải chua…và nhất là nấu ” hủ tíu Tiều Châu” hay ” hủ tíu Nam vang”!
Dù xa quê hương chúng ta vẫn không quên những lần dậm xà (ẩm trà) tại các tiệm các chú bán cà phê, mì, hoành thánh (vân thốn hay hổn độn)”hủ tiếu”(qua điều) đóng chốt ở các góc đường, những xe mì bán khuya về đêm và nhất là những tiệm ăn sáng ở Chợ Cũ với các tên” phổ ky” (hỏa kế) chạy bàn bưng những món”xíu mại” (thiêu mãi), “há cẩu” (hà giao), những ly ” phé nại” (cà phê sữa – gia phi ngưu nãi). Theo các nhà văn Bình Nguyên Lộc hay Minh Hương, một thời tiền chiến trước 45, các phổ ky còn có thói rao ê-a như rao lô tô bằng tiếng Quảng Đông khi gọi lớn vào bếp những tên món ăn mà khách đặt:
- Bàn số 3, bên Đông, bà lùn, cà phê ít sữa nhiều!
- Bàn số 4, bên Đông, hủ tíu không giá.
- Bàn số 1, bên Tây thên bánh bao ngọt thằng nhỏ
- Bàn số 2, bên Tây, ông già râu, cà phê đen ly lớn, xíu mại to
Chủ quan thường biết rõ tính nết và sở thích ăn uống của mỗi khách quen, nên họ thường đặt cho mỗi người một cái ngoại hiệu hỗn danh nên khi khách ăn xong lại quầy trả tiền thì phổ ky rao những câu hóm hỉnh bằng tiếng Quảng Đông sau:
- Ông đầu hói mang khăn rằn, một đồng hai cắc
- Bà hai mập, ba đồng sáu cắc
- Ông chủ ốm nón nỉ, tám đồng tư, hai bánh bao mang về
Bên cạnh những tiệm ăn, ta thấy ở mỗi khu thị tứ đầy Hoa kiều, đều có ngự trị ít ra một tiệm bán gọi chung là ” lạp gia” bán những món gọi là ” lạp vị ” như lạp nhục, lạp áp (thịt heo hay vịt muối mặn) cùng với heo quay, vịt quay treo đỏ chói vui mắt, quyến rũ lạ kỳ… Ở nước Tầu rộng lớn, chỉ có dân Quảng Đông là nổi tiếng về món thịt heo ướp ngũ vị hương quay, ngoài thì da dòn rụm, trong thì thịt vừa mềm vừa thơm… khiến người sống ở dương gian thèm thì không nói làm gì, linh hồn ông bà ông vải và cô hồn các đẳng ở âm ty địa phủ cũng đòi hưởng mỗi năm vào rằm tháng bẩy… [ Món ” Lạp xưởng” tức là Lạp trường là thịt heo có lộn mỡ, ướp diêm tiêu dồn vào ruột (trường) rồi phơi nắng tháng Chạp (gọi theo lịch Tàu là Lạp Nguyệt). Lạp xưởng phơi là lạp xưởng khô, còn không phơi là lạp xưởng tươi.
Tôi không biết có nên kể thêm những xe bán đồ ngọt của các chú Quảng đông không? Họ bán Sắn pủ lường (Thanh bổ lương), các loại chè hổ tai (hay phổi tai – do chữ hải đái là rong biển), pạc quỏ (bạch quả hay trái của cây ngân hạnh – ginko)… Cũng nên lưu ý dân Tầu cũng ăn thịt cầy nấu thuốc Bắc gọi là ” hướng dục” (hương nhục) ăn trời lạnh cho ấm con tì con vị. Dân học sinh chắc không thể nào quên món lòng heo, lòng bò ” phá lấu” ăn kẹp với bánh mì. Phá lấu do chữ đả lỗ tức là ướp mặn bằng nước tương và ngũ vị hương rồi đem um lên cho rặc săn lại. Lại còn những xe bán ” ngầu dìn” (hay thịt bò vò viên – ngưu viên) Ngầu dìn chấm tương cay cay, nhai vừa dẻo dai vì có trộn gân bò, và vừa dòn vì trộn hàn the (hay bằng sa). Chú bán ngầu dìn còn bày ra trò đổ ba hột lúc-lắc chơi ” xí ngầu lác” để dụ các em trai học sinh chơi để “thiếm xực ” ăn thêm (xí ngầu lác tức là tứ-ngũ-lục!). Các em gái nhỏ khoái ăn chua chua, ngọt ngọt thì có các thứ: cà- na, cánh- chỉ, xí mụi! Cà na tức là trái trám hay Cảm lãm; Cánh chỉ do chữ Gia ứng tử đọc từng âm là cá-dính chỉ nhưng đọc lướt nhanh nuốt âm là kính chỉ hay cánh chỉ. Còn xí mụi hay xín mụi là quả mai chua (toan mai).
Lẽ tất nhiên, nói cho công bằng, bên cạnh đa số tiệm Tàu gốc Quảng Đông, ở Sàigòn Chợ lớn cũng có lai rai một vài tiệm Tàu khác như tiệm hủ tíu Triều Châu ở đối diện Chợ Lớn mới, Cơm Gà Hải Nam ở Chợ An Đông, hay đường Tôn Thọ Tường.
Cái kiểu ăn quà vặt thì dân Quảng đông gọi là xỉu-xực (tiểu thực). Nếu đi chơi đêm coi xi nê hay hành lạc về khuya ăn để dằn bụng trước khi về nhà ngủ thì gọi là “xíu dề” (tiêu dạ) Kỷ niệm kể lại có lẽ còn cơ man nhiều cái linh tinh lỉnh kỉnh khác, không kê đủ ra đây. Bây giờ thì tôi mời các bạn tới tửu lầu ăn đàng hoàng theo bữa hay đặt ” thồi” (đài là cái bàn). Dịp ăn cơm Tàu thông thường nhất là đám cưới. Tôi xin nhắc lại đây tên vài nhà hàng Tầu nổi tiếng vùng Chợ lớn như Đồng Khánh, Arc-en-ciel, Soái Kinh Lâm, Bát Đạt, Á Đông, Đại La Thiên, Triều Châu… Ba nhà hàng kể chót thì chủ nhân tuy gốc Tiều nhưng vẫn nhận đặt tiệc cưới nấu theo Quảng Đông, nhưng họ vẫn nấu ăn Tiều cho khách đồng hương nếu yêu cầu…
Trước đây, tôi có nghe người ta kháo rằng các ông lớn tham nhũng được Các Chú Ba mời mọc mua chuộc hối lộ với những buổi liên hoan Orgy ” Nhất Dạ Đế Vương” trong những Cercle Rouge kín đáo nào đó. Lẽ tất nhiên, kiểu ăn không giống kiểu tiệc” rừng thịt ao rượu – nhục lâm, tửu trì” của Trụ vương với nàng Đát Kỷ! nhưng tôi nghĩ cũng phần nào chắc cũng giống những bữa yến diên có đầy mỹ nữ hầu rượu của nhân vật Hàn Hi Tái trong lịch sử Trung Hoa. Thực đơn chắc chắn phải có nhiều món huyền thoại danh bất hư truyền về cái tính chất bổ dương khích dục đi đôi với các thứ rượu quí mấy ngàn Mỹ kim một chai. Đối với người dân thường kiếm đồng lương khiêm tốn lương thiện thì đi ăn cưới tại nhà hàng Tàu là một đại tiệc rồi. Thực đơn đám cưới đặt theo bàn tròn hay “thồi” (đài) – 10 hay 12 người, theo đủ loại giá. Thành phần thì đại khái có ba phần: phần đầu là phần khai vị (entrées, hay hors- d’oeuvres hoặc appetizers), phần giữa là phần chủ lực gồm các món nặng, vừa ăn vừa uống rượu, phần chót là phần dằn bụng với món cơm trắng ăn với món mặn hay món cơm chiên hay mì xào cho chắc trước khi bế mạc với phần tráng miệng. Theo lệ đám cưới Á Đông, vào giai đoạn chót của phần chủ lực để bước sang phần dằn bụng” chấm dứt chương trình văn nghệ tạp lục Tùng Lâm”, có màn chào bàn của tân lang và tân giai nhân, muốn uống rượu gì thì cố cạn ly mà uống đi chứ sau đó thì nên ngưng mà ăn cơm, ăn mì cho chắc dạ, kẻo về nhà khuya khoắt lại ăn mì gói nhé! Món ăn dằn bụng ở cuối tiệc Tàu thường là món cơm Dương Châu.
Ở Trung Hoa có hai địa danh Dương Châu: một Dương Châu là một vùng thị tứ nằm ở giao điểm sông Trường giang hay Dương tử với kinh Đại Vận Hà, con kinh đào lưu thông chuyên chở sản vật vùng Giang Nam lên Bắc kinh cống nạp cho triều đình. Một Dương Châu khác tuy là thuộc địa phận Quảng đông nhưng không sản xuất Cơm chiên Dương Châu (Dương Châu xảo phạn)! Cơm này chỉ là một trong những cách nấu nướng tiêu chuẩn từ những món ăn còn dư lại đem chế biến thành một món ăn mới ngon miệng hơn. Cơm vốn là ” cơm nguội” nấu dư từ hôm trước, nhưng còn nguyên, chưa dọn ra bàn cho thực khách đụng đũa ăn bỏ mứa lại, cũng như nhiều phụ gia phẩm khác như jambon, trứng tráng, đậu Hòa lan, hành lá…đi chợ còn dư được xắt lát rồi trộn với cơm mà chiên lên… Chiên là gì? Nó không phải là xào chính hiệu (stir-frying) hay chiên ngập dầu (deep frying), mà là một thứ xào rất ít dầu mỡ, để cho chín lâu trên lửa, – tạm gọi tương đương là ” sautéing”- khiến những hột cơm từ từ hút dầu săn lại rồi đến đúng độ nào thì lại nở tung ra nên khi ăn hột cơm thì thấy trong mềm dẻo nhưng ngoài lại dòn do lớp vỏ chiên. Cơm mới nấu không thể nào chiên như thế vì còn ướt, chỉ có cơm nguội đã ráo chiên mới ngon, bây giờ cơm nguội để tủ lạnh chiên còn ngon hơn. Điều ngộ là món cơm chiên Dương Châu không phải là một thứ ” danh thái” hàng đầu trong bếp Quảng Đông, nhưng thực khách trên thế giới ăn cơm Tầu phải nhớ tới nó, cũng như nhớ tới một món Quảng Đông tương đương khác là ” ch’ao mien” (mì xào). Mì đã luộc chín rồi để ráo, đem xào với măng tre xắt chỉ, giá đậu và thịt heo … [Cũng nói trong dấu ngoặc, Tàu hay bán món ” bánh bao” (Quảng Đông gọi là ” tài báo”) – một thứ bánh ngon lành mà vỏ làm bằng bột mì hấp nở xốp phình ra trông vô cùng hấp dẫn, trong có nhân thơm phức bằng thịt xào, lạp xuởng và trứng. Theo cuốn phim tàu Thần Bếp (Thần trù) rất ăn khách hiện nay, nhân bánh bao cũng là những món dư của nhà bếp từ hôm trước chế biến lại. Món bánh bao được vua Khang Hi nhà Thanh ăn khen ngon khi ông giả thường dân đi vi hành ngoài cung cấm. Về sau, vua biết bánh bao chế bằng đồ ăn thừa ông lại khen nức nở cho tinh thần dân Hán tiết kiệm nhưng biết sáng chế].
Nhân nói về cái ngon của cơm Quảng Đông, ngạn ngữ Trung Hoa có câu khen tứ đại danh của lãnh thổ Trung Quốc như sau: Thực tại Quảng Châu, Y tại Hàng Châu, Thú tại Tô Châu, Tử tại Liễu Châu (Cơm ngon ăn tại Quảng Châu, Áo đẹp may vải Hàng Châu, Vợ xinh cưới ở Tô Châu, Hòm chết chôn không bao giờ mục ở Liễu Châu). Quảng Châu là thủ phủ của tỉnh Quảng Đông. Tỉnh này rộng lớn ở vùng Hoa Nam thuộc miền bán nhiệt đới, mưa nhiều vào khoảng giữa tháng 5 và tháng 9 dương lịch. Vùng châu thổ sông Châu Giang của Quảng Đông và duyên hải là vùng nông nghiệp phát đạt thịnh vượng phì nhiêu. Lúa một năm trồng haivụ và gạo là cốc loại để ăn chính, mỗi ngày người dân ăn hai lần, ngoài các hoa màu khác cũng nhiều nhu khoai lang, bắp, khoai môn và ngay cả lúa mì cũng trồng. Về chăn nuôi thì có nhiều trại heo, trại gà, ao cá. Các thứ rau cải lá xanh lớn mọc sum xuê, trái cây nhiệt đới như cam, đào, thơm và lệ chi (vải) thì ê hề. Biển duyên hải thì nhiều loại hải sản ngon như cá (đặc biệt là hoàng ngư – yellow croaker), sò ốc, cua… Một yếu tố nhân sự khác quyết định cái ngon của Bếp Quảng Đông là nhiều đầu bếp ngự thiện của cung đình phương Bắc đã chạy giặc lánh nạn ở miền Hoa Nam, nên họ có dịp thi thố tài năng giữa đống sản vật địa phương phong phú, hơn nữa đây là vùng hải cảng giao tiếp với những nước ngoài nên họ không ngần ngại dùng những thứ rau củ ngoại lai như Cà chua (phiên gia), cà rốt ( Tầu chỉ có củ cải trắng gọi là la-bặc nên họ gọi cà rốt là hồng la bặc), khoai tây (mã linh thự – củ khoai hình lục lạc ngựa),củ la-đì (radish), hành tây (dương thông)…Do đó, bếp Quảng Đông rất uyển chuyển, thích nghi và đa dạng và thoát sáo…Thức ăn Quảng đông không nêm nhiều gia vị cay nồng như bếp Tứ Xuyên, nhưng có nghệ thuật pha trộn phong phú dung hòa nên khẩu vị nổi bật…Trên lịch sử, Bếp Quảng Đông phát triển muộn nhưng nó biết đầu sư học đạo sẵn lòng làm môn đệ thông minh của các địa phương danh tiếng ở miền khác ở Trung Hoa. Phần lớn các đầu bếp Tầu ở Mỹ đều là dân Tàu Quảng đông vùng Tứ Ấp di dân qua vào cuối đời Thanh trong giai đoạn cực kỳ loạn lạc. Sau đây là một thực đơn ” Tứ hải giai huynh đệ” của một nhà hàng Trung Hoa mà tôi đặt thành vần điệu cho vui, nói lên cái đa dạng phong phú dung hòa của Bếp Quảng Đông:
Bóng Cá khai mào
Hải vị thang
Chả giò Tam giác chúc an khang
Giỏ hoa Đồ Biển mừng vui nhộn
Heo Tứ Xuyên viên đón rỡ ràng
Sơn Đông Ngưu Xảo mời tân khách
Vịt rút xương mềm tiếp túy lang
Đông Cô Gà nấu duyên văn nghệ
Hoan hỉ Cơm Chiên thêm nở nang.
Và sau đây cũng là một thực đơn tiệc cưới tôi xin nhắc lại cũng để nói lên cái nét khẩu vị uyển chuyển dung nhập hài hòa nhiều nguồn gốc của nhà hàng Quảng Đông:
Súp vi cá mở đường
Bát bửuVịt Bắc kinh
Hải vị Tổ chim
Kế là: Cá hấp thơm lừng
Tôm Hùm vị ngọt xào gừng thiệt cay
Mời nhau tiếp: Gà Quay tuyệt hảo
Hãy gắp lên Đồ Biển Mì Xào
Cơm Chiên Tôm đỏ làm sao
Cải Xanh xào với Ngư Bào tuyệt ghê!
Cứ vui nhé! Chớ hề khách sáo
Rượu rót luôn, huyên náo nâng ly
Tiệc vui hồ hởi một khi
Chúc mừng phu phụ “happy” một nhà
(Lê văn Lân)
Cơm Tầu ăn ở Việt Nam theo bếp Quảng đông được đa số Việt nam chúng ta nhận định là thích khẩu, dù sau này người Việt đi tỵ nạn năm châu bốn biển ăn cơm Tàu khắp nơi và du lịch ở Trung Hoa vẫn nhớ và cho rằng không đâu ngon bằng cơm Tầu mình ăn đầu tiên trên quê hương mình! Điều này có lẽ là tại dân mình bị ”điều kiện cách”, vả lại trước đây có dịp nếm cơm nhiều xứ khác đâu mà nhận định và so sánh một cách khách quan. Thôi ta đành nhại thơ thi sĩ Tế Hanh mà tự thổn thức tâm tình vậy:
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Vị cơm Tàu quyến rũ chốn quê tôi
Thoáng con thuyền tỵ nạn chạy muôn nơi
Tôi thấy nhớ cái mùi… Chợ Lớn quá
Lê Văn Lân
TÁM NGƯỜI LÍNH TQLC MỸ LIỀU MẠNG TÌM XÁC ĐỒNG ĐỘI Ở THUNG LŨNG HAPPY VALLEY
The Doom Patrol: Eight Marines on a Suicide Mission in Vietnam
Tài Trần: Cách đây khoảng một tháng, một YouTuber có đọc bài "Câu chuyện bốc viễn thám - Đỉnh cao Happy Valley". Mấy hôm nay, vào mạng tìm hiểu, tôi được biết Happy Valley (Thung lũng Sung sướng) là tên do TQLC Mỹ đặt cho một khu vực ở phía tây Đà Nẳng, thuộc quận Đại Lộc (Quảng Nam), cũng là nơi diển ra các cuộc hành quân của TQLC Mỹ trong những năm từ 1968 trở về sau. Sau đây là câu chuyện về 8 người lính TQLC Mỹ tình nguyện đi tìm xác đồng đội bị bỏ lại sau một trận đánh cấp đại đội tại khu vực này.
======
Bài của Jack Wells
Tháng Tư 2019
Trong tháng Hai 1968, tám TQLC Mỹ đã tình nguyện cho một nhiệm vụ cảm tử.
Sau khi tiểu đoàn (TĐ) bị thiệt hại 32 người chết và bị thương trong 30 giờ đầu của cuộc hành quân, trung tá tiểu đoàn trưởng Bill Davis đã ra lịnh cho đại đội C và D của tiểu đoàn 1 trung đoàn 7 TQLC bỏ Đồi 270 và 310 để trở lại căn cứ ở đồng bằng phía đông. Được biết cuộc hành quân mang tên Pursuit này đã phát động trong giữa tháng Hai 1968 bởi sđ 1 TQLC Mỹ để tìm các kho vũ khí trong vùng núi phia tây của Đà Nẳng.
Một lát sau đó trong buổi sáng của ngày 16 tháng 2, quyền đại đội trưởng của đại đội C, trung úy (1st Lt) Dana F. Maccormack, đang rút quân từ đồi 270, đã báo với Davis: "Quân CSBV xuất hiện! Chúng tôi lại có thêm một người chết mà trực thăng ko xuống được (do not have room for). Chúng tôi lại gặp rất nhiều khó khăn khi phải mang xác này." Davis, từ BCH trên Đồi 10, nói MacCormack rút đại đội khỏi núi ngay lập tức để tránh thêm thương vong. Và điều đó có nghĩa để xác này lại.
Từ lâu tình báo Mỹ đã biết hàng ngàn quân csbv đã đi bộ dọc đường mòn HCM ở đông Lào và di chuyển xuống Thung lũng Ashau trước khi tiến về vùng đất cao, gồm Đồi 270 và 310, vùng đất này nhìn xuống một khu vực được người Mỹ đặt tên Happy Valley (Thung lũng Sung Sướng) và các vị trí TQLC ở phía đông.
Các đv của trung đoàn 31 và trung đoàn pháo 368B CSBV thường xuất phát từ Thung lũng này trước khi chuyển tới "Vành đai Hỏa tiển" (Rocket Belt) - một vòng cung chạy từ bắc xuống nam chung quanh bờ tây của Đà Nẳng để họ có thể bắn hỏa tiển 122 ly và 140 ly của Liên Xô vào căn cứ không quân Đà Nẳng, Căn cứ Ngũ Hành Sơn và những kho đạn và nhiên liệu quan trọng. Rìa bên trong của vành đai này cách các địa điểm quân sự trên đây chừng 5 dặm; rìa bên ngoài của vành đai này khoảng 7.5 dặm. Nếu hỏa tiển của CSBV đặt ở bên ngoài vành đai thì chúng ko thể bắn tới các căn cứ trên. Nhưng nếu chúng ở rìa phía trong của vành đai, đạn sẽ bay quá mục tiêu.
Mỗi TĐ của trung đoàn 7 TQLC trách nhiệm một đoạn của vành đai này, để bảo đảm rằng CSBV ko thể chuyển hỏa tiển xuyên vòng đai để bắn Đà Nẳng. BCH tiểu đoàn 1 đặt tại Đồi 10, nằm bên trong vành đai. Khu vực trách nhiệm của họ rộng 72-dặm vuông bao gồm các Đồi 270 và 310 ở phía tây, cách Đồi 10 chừng 3 dặm (các số 270 và 310 là độ cao bằng mét).
Ngày 13 tháng Hai, một ngày trước khi phát động hành quân Pursuit, Davis gặp đại tá Paul Graham, trưởng phòng 3 sđ. Vài ngày trước đó, một tiếng nổ phụ lớn đã được ghi nhận ở khu vực yên ngựa nối Đồi 270 và 310. Điều này cho thấy có kho đạn của CSBV, và Graham chuyển lịnh của tư lịnh sđ Thiếu tướng Donn J. Robetson, rằng "tiểu đoàn phải tiến hành lục soát khu vực này" -- một trong khu vực núi rừng hiểm trở nhứt trong khu vực trách nhiệm của TĐ.
Hành quân Pursuit bắt đầu lúc 11 g sáng ngày 14/2 khi đại đội C vượt đầu phía tây của Đồi 10 trong khi đại đội D xuất phát từ Đồi 41, khoảng 2 dặm ở đông nam của Đồi 10. Đi theo họ là trung sĩ Robert Bayer phóng viên chiến trường của sđ và hạ sĩ nhứt R.J. Del Vecchio chụp hình. (Theo tổ chức của quân Mỹ, đặc biệt là Lục quân, corporal (Cpl) là hạ sĩ, trên Pfc (binh nhứt) nhưng dưới sergeant (Sgt) trung sĩ; ở TQLC, corporal là hạ sĩ nhứt, dưới trung sĩ, nhưng trên lance corporal (hạ sĩ) -- Người dịch).
Hai đại đội đã bắt tay với nhau khi tiến gần Đồi 270 và 310. Cây rừng rậm rạp ở chân Đồi 270 khiến TQLC phải leo núi chậm chạp bằng cách đi hàng một vừa chặt cây bằng dao. Lúc 6:30 chiều, đại đội D đã chiếm Mục tiêu 1, một yên ngựa giữa Đồi 270 và 310. Đại đội C chiếm Mục tiêu 2 ở đỉnh của 270.
Trong hồi ký, trung úy (2nd Lt) Mark Whitter, chỉ huy trung đội 2 của đại đội C, viết: "Chúng tôi tới đỉnh của 270 và thấy một hầm trú ẩn (bunker) và một hệ thống truyền tin mà địch đang dùng. Chúng tôi cũng tìm thấy một nhật ký. Từ hầm này người ta có thể thấy toàn cảnh Đà Nẳng và nhật ký ghi chép những đv đã rời đồi ngày nào và đi đâu... Giòng cuối cùng ghi "nhiều TQLC Mỹ rời Đồi 10 để tới vị trí này." Địch đã rời hầm này trong vội vả và máy truyền tin còn hoạt động.
Ngày hôm sau, 15/2, đại đội C đã phá hủy hầm này. Khoảng thời gian đó, địch đã phục kích làm bị thương 4 TQLC của đại đội D ở khu vực yên ngựa. Đại đội C, với trung đội của Whitter đi đầu, nhanh chóng di chuyển xuống phía nam của đồi 270 để tăng cường cho tiểu đội bị phục kích này.
Đột nhiên, toán tiền tiêu (point squad) của Whitter, khi tới yên ngựa, đã bị quân CSBV, núp trong các hầm trú ẩn và hố cá nhân (spider hole), ngụy trang rất kỹ tấn công. Ba TQLC chết ngay lập tức, và vài người bị thương.
Binh nhứt (Pfc) khinh binh Michael Kelly, của tiểu đội đi đầu, mới về đại đội 2 tháng, bị đạn trúng vào lựu đạn đeo ở thắt lưng, khiến chân gần đứt lìa (severe) và tử thương.
Hạ sĩ nhứt (lance cpl) Russell Nauge, tổ trưởng đại liên của trung đội, chạy nhanh xuống núi vừa bắn khẩu M-60. Trong khi cố gắng kéo kẻ bị thương về phía sau, ông bị thương 4 lần và chết sau đó trong ngày, sau đó được truy thăng Ngôi Sao Bạc.
Các trực thăng cứu thương bay vào cấp cứu, nhưng phía Đồi 310 trên yên ngựa đầy cây cối rậm rạp khiến trực thăng phải thả dây xuống để kéo người lên, trong khi họ bị bắn bởi B-40, súng AK-47 và đại liên 12.7 ly. Cuối cùng, sau NĂM GIỜ chiến đấu và cố gắng tải thương, đại đội C đã đưa hết thương binh, trừ Kelly. Vào cuối ngày, hai đại đội này chết 5 người và bị thương 27.
Ngày kế, 16 THÁNG 2, khoảng 7:30 sáng, sau khi Davis ra lịnh cho hai đại đội này trở về căn cứ xuất phát, BCH tiểu đoàn và đại đội D chuẩn bị đi xuống thung lũng thì chỉ huy đại đội C gọi. Y báo rằng đv của y vẫn còn ở yên ngựa, bị bắn từ các hầm trú ẩn ngụy trang rất kỹ đặt ở sườn phía bắc của Đồi 310. Có sáu lính CSBV bắn họ -- chúng gần đến nổi lính của MacCormack có thể thấy đồng phục và nón cối của chúng.
Một đài quan sát của TQLC trên Đồi 502 ở phia tây, cho Davis biết một lực lượng lớn CSBV đang tiến về đại đội C. Đại tá này liền báo MacCormack, chẳng bao lâu y báo rằng y có thể thấy địch đang tiến tới và nói thêm rằng lính của y rất chật vật khi mang xác của Kelly.
Trong khi đại đội C tiếp tục xuống núi, MacCormack lần nữa gọi Davis: "Chúng tôi vừa bị thương thêm 5 người khi xuống Đồi 270, khiến chúng tôi đi chậm, do vậy tôi đã phải để xác Kelly ở một hố bom trên yên ngựa. Chúng tôi có thể trở lại và lấy xác sau đó".
Đầu buổi chiều, hết lương thực và nước uống, đạn dược sắp cạn, những lính TQLC mệt mỏi (weary) vì chiến đấu của đại đội C đã tới Đồi 10 và gặp quyền đại đội trưởng, đại úy Karl Ripplemeyer, vừa đi phép trở về. Trong khi đó, Đại đội D về căn cứ ở Đồi 41.
Tiểu đoàn trưởng Davis gọi đại tá Ross Miner, nói rằng TQLC đã về căn cứ nhưng bỏ lại một người chết. Vài giờ sau đó, đại tá Miner nói Davis rằng B-52 sắp tấn công Đồi 270 và 310 và bảo ông gửi một toán thu hồi xác của Kelly trước khi B-52 tới. Tuy nhiên, Davis ko muốn hy sinh thêm người tại vùng rừng núi này trước khi B-52 tới và đã tranh cãi về việc lấy xác này, nhưng Miner ko thay đổi (rescind) ý định.
Davis thảo luận về lịnh của Miner với Ripplemeyer, cũng như trưởng ban 3 tiểu đoàn và sĩ quan về không yểm của tiểu đoàn. Davis đã quyết định dùng các người tình nguyện của đại đội C để lấy xác vì họ biết vị trí của xác Kelly.
. . .
Toán tình nguyện lấy xác của Kelly chỉ có vài giờ để chuẩn bị. Họ gồm 8 người, gồm hạ sĩ và binh nhứt, dưới sự chỉ huy của trung sĩ John D. McCreless, 20 tuổi.
Trang bị của họ rất nhẹ -- ko nón sắt, ko áo giáp, ko băng đạn và trừ một người, tất cả đều xin đổi súng M-16 bằng súng M-14 tin cậy hơn. "Chúng tôi sẽ ko chạm súng, di chuyển âm thầm trong bóng tối, lấy xác và trở về. Nếu chúng tôi đụng lực lượng lớn của địch, chúng tôi mạnh ai nấy rút, tìm đường trở về." -- Hiệu thính viên Grandos nói.
Trước khi toán khởi hành, một trung sĩ nhứt đã nói với trung sĩ McCreless: "Dù tình hình xấu thế nào, anh cố gắng mang về cái chân của Kelly (do lựu đạn nổ ở thắt lưng nên một chân đã bị đứt rời)." Tám người lính TQLC ko hoạt động đơn độc vì các máy bay thám thính và ném bom sẵn sàng can thiệp lập tức khi có yêu cầu của họ.
Lúc 2 g sáng ngày 17 tháng Hai, toán cảm tử của McCreless rời Đồi 10. Hơn một giờ sau, gần ngôi làng bỏ hoang Phước Ninh (5) -- bản đồ quân sự phân biệt những làng trùng tên bằng cách đánh số--TQLC đã nhận thấy quân CSBV tiến tới vị trí của họ. Hạ sĩ Chamberlain đã nổ súng và giết một tên, giờ đây toán đã lâm nguy (compromise). McCreless đối diện khó khăn: hủy bỏ nhiệm vụ hay tiếp tục. Y báo về BCH tiểu đoàn và được lịnh tiếp tục. Không ai muốn thấy một quan tài ko xác gửi về cho gia đình Kelly, và những người trong toán đã biết những nguy hiểm khi họ tình nguyện.
Khi tiếp tục di chuyển tới chân của Đồi 270, TQLC thấy một toán tuần tiểu địch, và McCreless ngừng một giờ gần một làng bỏ hoang khác, Phước Ninh (7), một biện pháp phòng ngừa trong đêm tối để chắc chắn rằng ko có hoạt động khác của CSBV trong khu vực trước khi tiếp tục tiến quân.
Lúc rạng đông, khoảng 5 g sáng, toán đã vượt qua các ruộng lúa trống trải và bắt đầu đi vào rừng rậm ở sườn của đồi này. Ba giờ sau đó, khoảng 8 giờ, họ đã ở một khu bằng phẳng bên trên hố bom, nơi xác của Kelly, che bởi 1 poncho. Ở đó họ chờ thám thính cơ L-19 gọi máy bay tới ném bom.
Một phi công gọi McCreless cho biết bom lửa napalm thả từ máy bay Phantom II sẽ rơi phía trước hố bom (có xác của Kelly). Y yêu cầu các thành viên trong toán tìm chỗ nấp, hít sâu ba lần, thở ra và tiếp tục nín thở. Bom lửa rơi khoảng 100 yard ( = 91.44 m) trước toán. Granados vẫn còn nhớ sức nóng hừng hực và bụi đất bay ngang mặt y. Y cảm thấy bị nhấc khỏi mặt đất.
Sau khi lửa giảm bớt, Grandos thấy lính CSBV nhảy khỏi hầm trú ẩn và hố cá nhân. McCreless, lo sợ rằng địch quân sẽ tấn công toán quân của y nên la lên: "Lấy cái chân, và rút ngay!"
Giây phút sau đó, hạ sĩ Ranes và binh nhứt Adamson chạy nhanh tới hố bom. Họ nhanh chóng nhặt cái chân đã đứt rời của Kelly và cột vào ba-lô của Chamberlain. Và tám TQLC chạy nhanh về đường cũ, giữa bom napalm đang cháy âm ỉ (smolder) và đạn địch bắn vào cây và bụi rậm quanh họ. Các F-4 Phantom đã nhanh chóng câm họng hỏa lực địch.
Sau khi tới vùng đất bằng phẳng (flatland), toán đã gặp trung đội 1 của đại đội C, được gửi tới để giúp nếu có ai bị thương hay chết. Trung đội này đã hộ tống toán về căn cứ, và lúc 2 g chiều, tất cả đã đến Đồi 10.
Quá đổi vui mừng, tiểu đoàn trưởng David tập hợp họ để nói chuyện và mời họ bia lạnh và xì-gà để mừng thành tựu khó tin này. (Lúc đó ông ko biết rằng xác của Kelly chưa tìm được).
McCreless nói: "Lý do duy nhứt mà tôi có thể nghĩ rằng tại sao chúng tôi thành đạt (pull it off) vì quân csbv ko thể tin rằng chúng tôi ngu ngốc đến độ đi đến đó và làm điều chúng tôi đã làm. Họ có thể nghĩ rằng chúng tôi làm mồi nhử để dụ địch."
. . .
Trong vòng 10 g sau khi toán cảm tử trở về, các B-52 từ căn cứ Anderson tại đảo Guam đã tàn phá đồi 270 và 310. Nhưng Bắc quân đã trở lại Đồi 310 và thêm nhiều lính TQLC đã bị thương hay chết ở đó vào tháng sau trong hành quân Worth và trong tháng Tám trong hành quân Mameluke Thrust.
Ngày 8 tháng Ba, Whitter và McCreless bị thương. Sau đó cùng ngày, Whitter đã chết tại bịnh viện hải quân ở Đà Nẳng. Vài ngày sau đó, McCreless được chỡ tới Nhật để mổ. Trong cuộc chạm súng ngày 30 tháng Năm, Rodriguez, một thành viên trong toán cảm tử tử trận.
Đại đội E của tiểu đoàn 2 trung đoàn 7 đã tìm thấy xác của Kelly ngày 25 tháng Ba trong hành quân Worth. Một trực thăng cứu thương bốc di hài của Kelly đưa về một nhà xác ở Đà Nẳng. Một tang lễ với cái hòm chứa chân của Kelly được tổ chức ở quê anh tại Findlay bang Ohio tháng Ba 1968. Một tang lễ thứ hai , với di hài của Kelly, được tổ chức tháng Tư 1968.
Dịch từ: https://www.historynet.com/the-doom-patrol-eight-marines-on-a-suicide-mission-in-vietnam.htm?fbclid=IwAR2fXDMMdWlclhuG-fAXxP1KLabGLyeU3NvdYD19ZChVx9FZhN9GVAhI_
San Jose ngày 8 January 2022.
Tài Trần
==============
Ghi chú: Bắt đầu dịch sáng ngày 6 Jan và xong lúc chiều 8 Jan 2022.
PHẠM = 8514 = 18 = 9
THU = 456 = 15 = 6
HƯƠNG = 56753 = 26 = 8
Cộng lại: 9 6 8 = 23 = cực kỳ may mắn.
Thật là đau lòng cho một cuộc chiến mà người Mỹ không muốn thắng!
Bài này chép từ FB của Pham Thi My Hong .
Cuối năm, xin gửi đến các bạn một bài viết do một chiến hữu vừa gửi đến. Đọc xong, các bạn có thể hiểu được tại sao chúng tôi rất quí mến những quân nhân Hoa Kỳ sang chiến đấu tại Việt Nam, nhưng lại không ưa chính sách của Hoa Kỳ kể từ khi John Kennedy lên làm tổng thống.
Phi công Mark Berent cho rằng Mỹ và đồng minh Việt Nam Cộng Hòa có thể đã chiến thắng tại chiến trường Việt Nam vào những năm 67, 68. Nhưng qua những vụ ngưng ném thả bom trên đường mòn Hồ Chí Minh và miền Bắc Việt Nam, đã giúp cho Cộng Sản Bắc Việt mang quân và vũ khí vào miền Nam để đi đến chiến thắng cuối cùng vào tháng Tư 1975. Những phi công như ông đã bi trói tay và bịt mắt trước những cuộc di chuyển ồ ạt của cộng quân. Hãy nghe Mark Berent tâm sự… Nguyên tác là bài viết với tựa đề Rules Of Engagement, được in trong tác phẩm “To Bear Any Burden của Al Santoli".
Lần đầu tiên tôi tham chiến tại Việt Nam là vào năm 1965. Ðơn vị của tôi đóng tại căn cứ Không Quân Biên Hòa. Tôi bay phản lực cơ F-100s, tổng cộng hơn 200 phi vụ. Lần thứ hai tôi tham chiến ở Việt Nam là vào năm 1968, lúc đó tôi bay phản lực cơ F-4s cất cánh từ căn cứ Ubon, Thái Lan. Tôi thuộc phi đoàn Cú Ðêm (Night Owls), có nhiệm vụ bay trên đường mòn Hồ Chí Minh trong vòng 7 tháng. Cuối cùng, 5 tháng chót tôi được chỉ định chỉ huy Woff FAC (Lực Lượng Không Kiểm Tiền Phương (Forward Air Control)). Lực lượng này bao vùng đường mòn Hồ Chí Minh từ Lào đến suốt Bắc Việt Nam. Ðó là thời điểm mà Tổng Thống Johnson ra lệnh ngưng ném thả bom. Do đó, có lúc các phi vụ được chấp thuận ném thả bom, có lúc phi vụ không được chấp thuận.. Chẳng cần dấu diếm, nhiều lần một số anh em phi công chúng tôi tự thi hành nhiệm vụ thả bom đường mòn, mà không cho ai biết.
Tại Việt Nam, có vài điều rất đỗi ngạc nhiên. Thứ nhất là tôi được tưởng thưởng nhiều huy chương. Nhưng có một trường hợp tôi từ chối nhận một huy chương cao quý của Hoa Kỳ là Purple Heart, Lý do là vì một người bạn Lực Lượng Ðặc Biệt của tôi vừa mới trốn được Việt Cộng bằng cách đi bộ 26 cây số trong đêm tối, với viên đạn 51 ly còn nằm trong một cánh tay và tay kia dìu một người lính Việt Nam Cộng Hòa đang bị thương. Do đó, đối với tôi, cái huy chương cao quý Purple Heart không có một giá trị gì cả, tôi không xứng đáng để nhận!
Tôi hết nhiệm kỳ tại Việt Nam và được chỉ định về phục vụ tại một căn cứ không quân tại California. Không Quân Mỹ muốn xử dụng tôi hết mình và để tôi thăng tiến hơn, họ gửi tôi đi học để lấy bằng kỹ sư tại một đại học dân sự. Sau khi tốt nghiệp, tôi được bổ nhiệm một chức vụ khả quan về tiền bạc và tương đối nhàn hạ tại Phi Ðoàn 69 Chiến Thuật, sống cuộc đời thoải mái. Nhưng khốn nỗi, mỗi lần tôi cầm tờ báo thì lại được tin một người bạn thân của tôi bị bắn hạ và tử trận tại chiến trường. Không chịu nổi nữa, tôi xin với thượng cấp để được bay F-4s, một phản lực cơ tân tiến hơn so với F-100s và tôi đã được chấp thuận để trở lại chiến trường Việt Nam.
Trong 7 tháng đầu khi bay F-4s cất cánh từ căn cứ Ubon, Thái Lan. Tôi vẫn thuộc Phi Ðoàn Cú Ðêm (Night Owls). Lệnh ngưng thả bom của Johnson bắt đầu có hiệu lực một tháng trước khi tôi trở lại chiến trường. Do đó, phi công chúng tôi không có cơ hội thả bom miền Bắc Việt Nam. Chúng tôi chỉ còn biết bay ầm ì, rồi nhào lên lộn xuống trên đường mòn Hồ Chí Minh bên ranh giới nước Lào. Ðó là dọc theo vùng rừng núi cao Karst Mountains (Lào). Và nếu chúng tôi lợi dụng ngưng thả bom để bay xuống phía Nam thuộc lãnh thổ Việt Nam để phá hủy những đoàn xe tiếp liệu của Cộng Sản Bắc Việt dọc theo đường mòn, thì thực sự với F-4s không đủ khả năng này, vì chúng tôi phải bay trong bầu trời dầy đặc sương mù và mây thấp che kín tầm mắt quan sát. Nhiều lần chúng tôi cho một phản lực thả trái sáng và sau đó phản lực khác theo sau thả bom.
Nhưng khi trái hỏa châu vừa thả ra là mấy tên lái xe Việt Công đều chửi thề: “Mấy thằng phi công Mỹ ngu xuẩn đang sắp thả bom. Hãy ngừng xe lại và táp vào lề đường. Trước sau gì chúng cũng đâm vào dãy núi Karst…” Và đúng như thế, nhiều phi công của chúng tôi đã đâm máy bay vào dãy núi này mà chẳng thả trúng một xe tiếp liệu nào, chỉ vì tầm nhìn quá hạn chế do thời tiết.
Mãi đến khi Mỹ mang máy bay Spectre–AC130 có trang bị vũ khí và có trang bị cả dụng cụ quan sát ban đêm như màn hình TV và những dụng cụ điện tử có thể cảm giác được khói bay ra từ ống khói của xe vận tải, đồng thời máy bay này có khả năng nhìn qua đêm tối và mây mù.
Chúng tôi liên lạc chặt chẽ với Spectre-AC130 để thực hiện 2 nhiệm vụ: Một là áp lực những ổ súng phòng không của địch ngõ hầu chúng tôi có thể bắn hoặc thả bom trúng mục tiêu. Thứ hai là hướng dẫn chúng tôi tới mục tiêu cần tiêu diệt. Và kể từ đó, chúng tôi đã phá hủy rất nhiều xe vận tải tiếp liệu của địch. Tôi nhớ rõ, một lần, trong một đêm tôi bắn trúng 14 xe tiếp liệu của địch.
Mỗi khi máy bay Spectre-AC130 nhìn thấy đoàn xe, những phi công này sẽ đánh dấu cho chúng tôi bằng nhiều cách. Họ tác xạ vào mục tiêu bằng súng liên thanh 20 ly và cho chúng tôi biết đó là mục tiêu cần tiêu diệt. Hoặc giả họ ném hỏa châu để soi sáng cả đoàn xe phía dưới và chúng tôi cứ theo đó mà thả bom. Ngoài ra, họ còn có thể thả một khối hỏa châu nặng, có thể cháy sáng tới 20 phút. Họ ném một khối hỏa châu này trước đoàn xe và một khối khác phía cuối đoàn xe, và cho chúng tôi biết cứ thế mà thả bom trong đoạn đường giữa hai khối ánh sáng. Vì vậy, chúng tôi đã phá hủy được nhiều đoàn xe tiếp liệu của cộng sản. Ðường mòn Hồ Chí Minh đã bị cầy nát làm trở ngại cho việc cộng sản chở tiếp tế vào miền Nam Việt Nam. Thiển ý của phi công chúng tôi, chiến tranh đã có thể chấm dứt bằng quân sự!
Nhưng thật đau lòng, trong khi lệnh ngưng thả bom bắt đầu vào tháng 11 năm 1968, tất cả chúng tôi đau điếng! Anh em phi công chúng tôi đã trải qua bao nhiêu lần được lệnh ngưng thả bom và mỗi lần như thế chúng tôi cảm thấy như bị một quả đấm vào mặt, vì người ta đã phá tan đi những gì chúng tôi đang thắng thế.
Thi dụ, trong giai đoạn 1966-67, bạn bè chúng tôi, những phi công can trường, đang bay các phản lực cơ F-105s và F-4s trên lãnh thổ Bắc Việt, một nơi đầy nguy hiểm vì hỏa tiễn địa-không tối tân nhất SAM và màng lưới ra-đa của Nga đầy rẫy dưới đất. Nhưng vì Những Quy Tắc Giao Chiến (Rules Of Engagement), chúng tôi đã chiến đấu một cuộc chiến mà tay chúng tôi đã bị trói chặt, mắt chúng đã bị chọc thủng mù lòa và một nửa đạn dược trang bi đã bị cắt giảm.
Nhưng những viên chức chính phủ như Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara thì lại tuyên bố với công chúng rằng các phi cơ Mỹ không có bi cắt giảm bom đạn và bom đạn Mỹ không bao giờ thiếu?. Nhưng thực tế, chúng tôi đang chứng kiến bom đạn Mỹ ở Việt Nam đã bị cắt giảm nhiều, nhất là của không Lực Mỹ! Chúng tôi đã chứng kiến bạn chúng tôi bay ra Bắc với trang bị kém hơn thời Ðệ Nhị Thế Chiến, chỉ vỏn vẹn với 2 trái bom: 250 và 500 ký và 2 thùng bom lửa (Napalm) trong một phi vụ phá hủy đường rầy xe lửa. Ðiều hiển nhiên là chúng ta không thể cắt đường rầy xe lứa bằng bom lửa, mà thực ra bom này chỉ làm cháy cỏ và cây cối chung quanh đường rầy!. Chúng tôi cho rằng quyết đinh ngưng thả bom và cắt giảm đạn dược là MỘT TỘI PHẠM của những người có thẩm quyền. Nhiều khi chúng tôi đã đối đầu với một số hoa tiêu từ chối lệnh bay thả bom, dù họ có phải ra toà án quân sự!
Các quan chức này lại nói loanh quanh rằng không có thiếu bom tại Việt Nam. Nhưng tại Sài Gòn, những tầu thương mại chuyên chở bom đạn bị tắc nghẽn tại các hải cảng, vì hải cảng không đủ rộng để có thể đem xuống những bom và vũ khí lớn quá tầm trưc tiếp vào bờ. Trong khi đó, vũ khí nhỏ và dụng cụ y khoa thì được Việt Cộng hối lộ và chở về mật khu.
Vào thời điểm đó, tôi vẫn còn nghĩ rằng với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, chính phủ Sài Gòn biết phải làm gì để chiến thắng. Nhưng một thời gian sau đó, tôi nhận thức được rằng: “Hình như người ta (Mỹ) không muốn và không cho phép để thắng cuộc chiến tranh này!” chỉ vì Hoa Thịnh Ðốn đã áp đặt cái “Nguyên Tắc Giao Chiến “ oái oăm này!?
Chúng tôi đành phải bay lên phía bắc Lào để yểm trợ cho Vang Pao, người lãnh đạo của lực lượng H’mong, một bộ lạc sống trên đồi núi, đang chiến đấu với quân cộng sản Bắc Việt và cộng sản Lào (Pathet Lào). Nhưng tại đây, lại có lệnh không được thả bom gần các chùa chiền. Trong khi ai cũng biết cộng sản Lào đang đóng quân đầy trong các chùa chiền ở Lào với đầy đủ vũ khí. Nhiều lần chúng tôi đã bị bắn từ chính trong các chùa. Có lần chúng tôi không chịu được, đã bay qua chùa và thả một trái bom vào chỗ có súng bắn lên, và ầm ầm kho đạn của địch nổ vang và cháy suốt mấy tiếng đồng hồ.
Có một câu chuyện ai cũng biết là ở Trung Tâm Văn Hóa Trung Hoa (Chinese Cultural Center) tại Plaine des Jarres (Lào) như sau: Chúng tôi không được lệnh thả bom trong vòng 3 cây số chung quanh trung tâm này. Vào một đêm, một phi công tức khí lén thả một trái bom vào trung tâm này và kho đạn ở đây đã nổ trong suốt một tuần lễ!
Sau khi lệnh ngưng thả bom trên lãnh thổ Bắc Việt vào tháng 11 năm 1968, chúng tôi chỉ được phép thả bom khi xe tiếp tế của Việt Cộng ở đường mòn Hồ Chí Minh trên phần lãnh thổ nước Lào mà thôi, và chỉ được thả bom vào ban đêm. Như vậy là chúng tôi gần như tự tử rồi! Ban đêm không thấy đường, súng phòng không bắn như sao, chúng tôi chỉ còn cách đâm máy bay vào dãy núi Karst là xong! Có một ngày quang đãng, tôi đếm được 100 xe tiếp tế nối đuôi nhau tại Ðèo Mụ Giạ thuộc Bắc Việt Nam. Những chiếc xe này đậu sẵn để đợi đêm tối di chuyển vào đường mòn. Và dĩ nhiên chúng tôi được lệnh cấm chỉ thả bom đoàn xe. Ðó là quy tắc giao chiến đấy!!
Chúng tôi cũng không thể thả bom đường xe lửa tiếp tế từ Trung Cộng vào Bắc Việt. Mỹ cũng không thể phong tỏa hải cảng Hải Phòng… Tất cả những gì Nixon làm năm 1972 là để Bắc Việt có cơ hội mang tiếp tế vào miền Nam. Ðáng lẽ chúng ta phải chặn đứng việc cộng sản Bắc Việt tiếp tế vũ khí cho chiến trường miền Nam mới phải?
Vai trò ưu tiên của Không Lực Hoa Kỳ là chặn đứng khả năng tiếp tế vũ khí đạn dược vào chiến trường Miền Nam. Ðây là một sự “tuyệt đối phải ngăn chặn.” Ðó là mục tiêu duy nhất của Không Lực hầu yểm trợ lực lượng Mỹ và đồng minh tại Nam Việt Nam. Chúng ta phải thả bom các cơ sở chế tạo đạn dược và vũ khí, vì chính nơi này sản xuất phương tiện để giết những người lính Mỹ. Lý do nữa là Không Lực phải giúp lính tiêu diệt kẻ thù dưới đất. Tất cả Không Lực làm, từ chuyên chở, đến chiến đấu đều chung mục đích giúp cho toàn quân đội Mỹ ngoài chiến trường tại miền Nam Việt Nam.
Nhưng buồn thay, tại Việt Nam, chúng tôi đã không được phép thực thi những sự “tuyệt đối phải ngăn chặn” này. Thử nghĩ xem Tù Binh Chiến Tranh Mỹ (POW) do đâu mà có. 85% POW là hoa tiêu và phi hành đoàn. Họ bi bắn hạ chung quanh những vị trí có hỏa tiễn SAM và phi cơ MIG. Nơi mà những hoa tiêu này đã thấy từ khi cộng sản Bắc Việt và Nga Sô lúc còn dang xây cất. Còn tại chiến trường Miền Nam, lính Mỹ chết bởi những vũ khí, đạn dược và tiếp liệu do Bắc Việt chuyên chở vào Nam, mà chúng ta không ngăn chặn được hay chúng ta không muốn ngăn chặn?!.
Chúng tôi đã từng thấy từng đoàn xe vận tải nối đuôi nhau ngay ban ngày. Những xe này thuộc Lực Lượng Chuyên Chở 559 từ Hà Nội đổ vào.
Chúng tôi bay trên đầu đoàn xe và đôi khi chỉ cho chúng một chút sợ hãi bằng cách ném xuống vài thùng xăng phụ hay một vài trái hỏa tiễn gọi là. Vì chúng tôi không được phép mang cả phi đoàn phản lực đến đó để thả bom, chỉ vì lệnh cấm.
Tôi đã từng chứng kiến một làng người Thượng ở Nam Việt Nam bị Việt Cộng ném lửa đốt cháy cả làng. Chúng đốt sống cả trẻ thơ, phụ nữ và tất cả những gì còn sống, chỉ vì dân làng không chịu phục tùng lệnh của chúng.
Thật là đau lòng cho một cuộc chiến mà chúng ta không muốn thắng!
Tác giả: Mark Berent
Chuyển ngữ: Thái Dương
28-12-2018
Hình này do tôi tìm trên mạng: trong khi các lãnh đạo thực hiện cuộc chiến không muốn thắng thì lại có những cố vấn QS hết lòng với chiến hữu VNCH như thiếu tá Norman Schwarkopt Jr., cố vấn của TĐ 5 dù.
Trùm sòng bạc Macau Hà Hồng Sân không chỉ nổi tiếng vì sự giàu có mà còn khiến giới truyền thông tốn giấy mực về tình sử phong lưu của mình. Ông đã tạo nên cả 1 đại gia tộc với những 4 bà vợ và 17 người con cả trai lẫn gái.
Vợ cả của Hà Hồng Sân là Lê Uyển Hoa, một người phụ nữ có gia thế danh giá, tuy nhiên sau đó bà cả ốm nặng, Hà Hồng Sân quyết định có thêm 1 người phụ nữ khác để có người cáng đáng hậu phương. Không được mạnh mẽ có gia thế khủng như bà cả, cũng kém bà tư là cánh tay đắc lực trung thành của Hà Hồng Sân nhưng bà hai Lam Quỳnh Anh lại là người rất có đầu óc và thủ đoạn. Xuất thân từ gia đình giàu có nhưng đã xuống dốc, Lam Quỳnh Anh khiêu vũ rất giỏi và được mệnh danh là "Vũ hậu" và cũng nhờ thế mà bà có cơ hội tiếp cận Hà Hồng Sân khi đó đã 36 tuổi. Năm 1962, Hà Hồng Sân chính thức kết hôn với Lam Quỳnh Anh khi bà mới 19 tuổi và ngày 26/8 cùng năm sinh ra đứa con gái đầu lòng Hà Siêu Quỳnh. Cũng trong năm đó, Hà Hồng Sân lấy được giấy phép đặc quyền kinh doanh hợp pháp sòng bạc, bước lên đỉnh cao mới của sự nghiệp. Chính vì lý do này, Hà Hồng Sân vô cùng yêu quý cô con gái này, thường xuyên khen ngợi Hà Siêu Quỳnh "trời sinh phú quý", có thể mang lại vận may cho mình.
Trong lúc này, quan hệ giữa bà cả và bà hai có thể nói là rất yên bình. Bà cả thường sống ở Macau, còn bà hai Lam Quỳnh Anh vì thể hiện mình hiểu được "Lễ - Nghĩa – Hiếu" thì sống yên lặng ở Hong Kong gần 15 năm. Đến năm 1972, sau khi lấy cái chết đe dọa, Lam Quỳnh Anh mới được Hà Hồng Sân mang tới gặp mặt cha chồng Hà Thế Quang, khi đó, thân phận "bà hai" của Lam Quỳnh Anh mới chính thức được thừa nhận.
Dù được cha hết mực yêu quý nhưng Hà Siêu Quỳnh cũng bị ảnh hưởng không ít trong giai đoạn này. Vốn là 1 thiên kim tiểu thư nhưng suốt mười mấy năm, cô đều bị mẹ dặn dò không được nói cho người khác cha của mình là Hà Hồng Sân. Dù có 1 thê 1 thiếp nhưng trùm sòng bạc Macau đối xử với 2 vợ và các con vô cùng bình đẳng, không để xích mích.
Hà Hồng Sân lần lượt có thêm bà ba, bà tư và khi đó, cuộc chiến chốn thâm cung nhà họ Hà mới thực sự bắt đầu. Thất thủ trong cuộc chiến giành tình cảm, bà hai Lam Quỳnh Anh nhận ra rằng việc "tranh sủng" không bằng âm thầm chiếm lấy 1 vị trí trong đế chế thương nghiệp của ông chồng trăng hoa. Sau năm 1998, bà hai gần như không hề công khai lộ diện, tới Canada tranh giành thị phi và chuyên tâm giúp Hà Hồng Sân xử lý công việc. Mà khi đó, con gái cả của bà - Hà Siêu Quỳnh mới bắt đầu thể hiện thực lực của mình.
Bà hai sinh cho "Vua sòng bạc" tổng cộng 4 gái, 1 trai là Hà Siêu Quỳnh, Hà Siêu Phượng, Hà Siêu Gia, Hà Siêu Nghi, Hà Du Long. Có thể nói, cả 5 người con này đều thừa hưởng những đặc tính của "Vua sòng bạc": Ngoại hình xuất sắc, tình sử phong phú, thừa hưởng tài nhạy bén trong kinh doanh của bố, đồng thời, họ cũng là "tấm danh thiếp" vang dội nhất của nhà họ Hà đối với công chúng. Trong đó, Hà Siêu Quỳnh là người con ưu tú nhất, có thể coi là phiên bản thu nhỏ của cha mình và được mệnh danh là "Hoàng hậu sòng bạc", "Nữ tỷ phú số 1 Hong Kong".
Tài năng của Hà Siêu Quỳnh không thể thiếu được sự bồi dưỡng của bà mẹ cao tay. Trong khi công chúng suy nghĩ rằng nếu không có sự giáo dục khắc nghiệt của 1 người cha tài giỏi như Hà Hồng Sân thì chẳng thể nào có được 1 người con tài năng như thế thì Hà Siêu Quỳnh đã cho biết: "Mẹ tôi luôn là người dạy dỗ tôi khi còn nhỏ, còn cha thì luôn đem lại sự vui vẻ cho chúng tôi".
Tuy nhiên, ít ai biết rằng trước khi bộc lộ tài năng, Hà Siêu Quỳnh đã từng muốn học ngành văn học ở nước Anh. Vậy nhưng Hà Hồng Sân lại không muốn lãng phí tài năng của con gái nên đã thuyết phục cô chuyển sang ngành kinh tế.
Năm 1983, Hà Siêu Quỳnh đến ngân hàng để thực tập nhưng cái danh "con gái vua sòng bạc" đã khiến cô chẳng có gì để làm. Vì thế, Hà Siêu Quỳnh đã tập trung và việc làm từ thiện và tạo dựng các mối quan hệ của riêng mình. Năm 1995, Hà Siêu Quỳnh được cha triệu tập đến làm việc ở Tập đoàn Tin Đức. Khi đó, đường hàng không đang phát triển và cạnh tranh kịch liệt, đường vận chuyển bằng thuyền bè thì dần dần xuống dốc. Hà Siêu Quỳnh đã đề nghị liên kết giữa sân bay và bến tàu, tạo thành mạng lưới Không – Cảng. Động thái này của cô đã xoay chuyển được đà suy yếu của Tin Đức và khiến tập đoàn này "nâng tầm" lên gấp nhiều lần.
Dù có tài năng đến cỡ nào thì Hà Siêu Quỳnh cũng chỉ là 1 người phụ nữ, cũng từng có những mối tình lãng mạn lúc tuổi trẻ. Lúc đó, Hà Siêu Quỳnh từng ở đài TVB học tập 1 thời gian, từng làm ca sĩ kiêm diễn viên và rơi vào lưới tình với Trần Bách Cường. Một người là thiên kim tiểu thư nhà giàu, 1 người là chàng tài tử đẹp trai, sau khi cùng quay MV "Yêu Em Đậm Sâu", họ đã nhanh chóng trở thành cặp đôi trai tài gái sắc rất được giới trẻ Hong Kong thập niên 80 mến mộ. Cả 2 cũng thường xuyên dành những lời có cánh, thể hiện tình cảm cho nhau trước truyền thông.
Năm 1981, vợ chồng con trai bà cả bất ngờ qua đời vì tai nạn giao thông, Hà Siêu Quỳnh bỗng nhiên trở thành người nối nghiệp được Hà Hồng Sân coi trọng. "Thân bất do kỷ", mối tình đẹp đẽ này chẳng thể sánh được với sự kỳ vọng của gia tộc. Năm 1990, khi Hà Siêu Quỳnh và Hứa Tấn Hanh hứa hôn, Trần Bách Cường lập tức tuyên bố mình đang hẹn hò với bạn gái nước ngoài.
Biết tin Hà Siêu Quỳnh chuẩn bị gả cho Hứa Tấn Hanh, Trần Bách Cường lập tức tuyên bố mình có bạn gái.
Năm 1993, mối tình trong sáng trên sân khấu mang tên "nhà giàu" lại nhận lấy cái kết buồn. Trần Bách Cường bất ngờ qua đời, dù đã kết hôn nhưng Hà Quỳnh Siêu đã tới và khóc đến lịm đi ở lễ tang, thậm chí không màng đến phong tục, khiêng linh cữu cho tình cũ.
Ngoài Trần Bách Cường thì Hà Siêu Quỳnh còn có 1 bạn trai tin đồn rất nổi tiếng, đó là Trương Quốc Vinh. Năm 1988, "Vua sòng bạc" và con gái Hà Siêu Quỳnh đã cùng nhau trao cúp "Mười Đại Kim Khúc" cho Trương Quốc Vinh. Khi đó, Hà Hồng Sân đã đem Trương Quốc Vinh kéo đến bên cạnh con gái và có vẻ muốn thúc đẩy mối nhân duyên cho họ. Cũng vì lẽ đó, tin đồn Trương Quốc Vinh sắp thành con rể của Hà Hồng Sân đã rộ lên khắp nơi.
Hà Hồng Sân từng muốn se duyên cho con gái và Trương Quốc Vinh (Ca Ca ngồi hàng đầu tiên, vị trí thứ 2 từ trái sang)
Năm 1989, khi rời khỏi làng nhạc, Trương Quốc Vinh đã tự mình làm sáng tỏ tin đồn: "Sau khi nhìn thấu rất nhiều người và việc, tôi rất khó để tìm 1 đối tượng yêu đương". Tuy nhiên, mối quan hệ của họ lại gây nghi vấn sau 1 buổi tối lãng mạn. Hà Siêu Quỳnh gặp Trương Quốc Vinh trong 1 bữa tiệc của giới thượng lưu Macau và cả hai cùng khiêu vũ. Khi đó, Hà Siêu Quỳnh có chút say, không muốn bị quấy rầy nên đã yêu cầu tắt bớt đèn để cô có thể thả lỏng khiêu vũ. Giới truyền thông Hong Kong khẳng định, khi đó Hà Siêu Quỳnh đã kề sát mặt, thân mật thì thầm vài câu gì đó với Trương Quốc Vinh nhưng cụ thể là gì thì đến nay vẫn chưa ai biết.
Đó là 2 mối tình mà Hà Siêu Quỳnh đã trải qua trước hôn lễ thế kỷ với Hứa Tấn Hanh: Với Trần Bách Cường là tri kỷ khó tìm, với Trương Quốc Vinh lại là có duyên vô phận.
Năm 1991, cuộc hôn lễ nghìn tỷ giữa Hà Siêu Quỳnh và Hứa Tấn Hanh đã diễn ra rất long trọng suốt 3 ngày. Những nhân vật nổi tiếng lúc bấy giờ như Thiệu Dật Phu, Thành Long, Trương Quốc Vinh đều có mặt và Mai Diễm Phương đóng vai trò là phù dâu. Chú rể Hứa Tấn Hanh là con trai của tỷ phú Hứa Thế Huân, người lãnh đạo tập đoàn Trung Kiến, là cháu của "Thuyền vương" Hứa Ái Chu và nhà họ Hứa xếp thứ 15 trong bảng xếp hạng các phú hào. Ngoài ra, Hứa Tấn Hanh cũng nổi tiếng phong lưu và thậm chí còn từng định bàn việc cưới hỏi với Lưu Gia Linh nhưng đã chia tay vào năm 1988.
Không chỉ hoa tươi được vận chuyển bằng đường hàng không từ Hà Lan đến Hồng Kong mà Hà Siêu Quỳnh cũng thay 3 bộ trang phục đắt đỏ trong 3 ngày cưới.
Hôn lễ được tổ chức hết sức xa hoa nhưng lại chủ yếu mang ý nghĩa về sự "cường cường liên hợp" giữa 2 gia tộc. Sau khi kết hôn, họ thường xuất hiện trước giới truyền thông với hình ảnh trai tài gái sắc, xứng đôi vừa lứa.
Trong sự tính toán của "Vưa sòng bạc", Hà Siêu Quỳnh có thể mạnh mẽ, có dã tâm để phụ tá chính mình nhưng lại không thể quá lợi hại để uy hiếp đến quyền lực của mình. Như vậy, mỗi bước trong sự nghiệp của Hà Siêu Quỳnh đều phải nằm trong sự khống chế của cha mình. Tuy nhiên, sự không chế khắc nghiệt này đã tạo nên mối mâu thuẫn với Hứa Tấn Hanh – một thiếu gia xuất thân từ gia tộc giàu có và quyền lực khác.
Năm 2000, cuộc hôn nhân giữa 2 nhà Hà – Hứa đã gần như "hữu danh vô thực", tan đàn xẻ nghé sau ít năm mặn nồng, tuy nhiên để phân chia rõ ràng lại chẳng phải việc dễ dàng. Chính vì thế mà sau khi tuyên bố ly hôn, Hà Siêu Quỳnh và Hứa Tấn Hanh chưa ký tên làm thủ tục ly hôn và ngầm đồng ý cho nhau tự do. Trong lúc này, Hứa Tấn Hạnh hẹn hò với người đẹp Đặng Khải Hân, Hà Siêu Quỳnh cũng chẳng vừa khi yêu "Vương tử hộp đêm" Dương Chính Long.
Dương Chính Long là con trai của ông trùm làng giải trí Dương Thụ Thành. Anh có trong tay câu lạc bộ nổi tiếng nhất Hong Kong lúc bấy giờ và chìm đắm trong những mối tình chớp nhoáng. 1 lãng tử như vậy lại gợi lên sự phản nghịch tới muộn của Hà Siêu Quỳnh. Năm 1999, Hà Siêu Quỳnh và Dương Chính Long bị bắt gặp hẹn hò. Sau đó, thông tin họ ôm hôn nhau đã khiến cho cả Hong Kong phải chấn động. Hà Hồng Sân đã vô cùng tức giận, công khai mắng Dương Chính Long là "kẻ thối nát" và tuyên bố: "Cả đời này sẽ không chấp nhận".
Ngày 25/8/2000, ngay trước sinh nhật Hà Siêu Quỳnh 1 ngày, 1 chuyện lớn đã xảy ra, Dương Chính Long bất ngờ bị cảnh sát bắt giữ vì nghi ngờ liên quan đến tàng trữ ma túy. Có nguồn tin cho rằng Dương Chính Long đã bị ông trùm sòng bạc gài bẫy vì trong ngày bắt giữ có quá nhiều điểm bất thường: Truyền thông đã biết trước tin tức, khi bắt người lại chẳng hề có khăn trùm đầu,… Giới truyền thông gọi đây là "cuộc giằng co ác liệt giữa cha con nhà giàu". Hà Hồng Sân cũng đe dọa sẽ không chia tài sản cho con gái nếu tiếp tục giữ quan hệ với Dương Chính Long.
Tuy nhiên, Dương Chính Long lại bất ngờ bị bắt vì nghi ngờ tàng trữ ma túy và việc này được nghi ngờ là cái bẫy của trùm sòng bạc để bắt con gái chia tay.
Ngày 28/8/2000, 2 cha con Hà Siêu Quỳnh công khai họp báo, phân rõ giới hạn với Dương Chính Long. Hai ngày sau, Hà Siêu Quỳnh – Hứa Tấn Hanh công khai tuyên bố ly hôn.
Tuy nhiên, Hà Siêu Quỳnh lại chẳng chịu để việc này kết thúc tại đây. Sau khi Dương Chính Long được phóng thích, Hà Siêu Quỳnh giống như "thị uy" với cha mình, công khai nắm tay Dương Chính Long trên đường phố và tuyên bố Dương Chính Long không phải kẻ thứ 3. Điều này đã khiến Hà Hồng Sân phải 2 lần lên tiếng: "1. Sẽ khuyên nhủ con gái, ngoài Dương Chính Long dù con gái tìm ai làm bạn đời cũng sẽ không can thiệp. 2. Nếu muốn cưới cũng được nhưng nếu cưới thì sẽ 2 bàn tay trắng".
Có thể nói, "Vua sòng bạc" đã nắm đúng "mạch máu" của con gái mình. Trên sân khấu nhà giàu thì tình cha con, tình yêu đều chẳng hề đáng kể, lợi ích và thể diện mới vĩnh viễn là thứ quan trọng nhất.
Sau đủ các tin đồn tình cảm, Hà Siêu Quỳnh còn bị nghi ngờ đồng tính luyến ái. Cụ thể, năm 2009, bên cạnh Hà Siêu Quỳnh đã xuất hiện 1 vị "tri kỷ". Đó là Du Tranh – 1 thiên kim tiểu thư sừng sỏ và từng công khai mình là người đồng tính. Từ năm 2009 đến 2012, quan hệ giữa Hà Siêu Quỳnh và Du Tranh dần trở nên thân mật và nhiều lần bị chụp được nắm tay nhau đi dạo phố.
Nếu như năm xưa Hà Siêu Quỳnh không thể phản kháng lại cha mình thì giờ đây, cô đã có đủ tư cách nắm trong tay quyền quản lý tập đoàn Tin Đức. Vậy nhưng, bản thân Hà Siêu Quỳnh giờ đây tự xây dựng đế chế riêng của mình, không cần dựa vào cái mác "Con gái trùm sòng bạc Macau". Hiện giờ, Hà Siêu Quỳnh là 1 trong những nữ tỷ phú thành công nhất Hong Kong và Macau với tài sản ròng lên tới 3,8 tỷ đô.
Nếu xã hội là 1 sân khấu lớn, hào môn là cốt truyện bất biến thì nhà họ Hà là 1 vở kịch hay mới diễn được 1 nửa và chỉ riêng Hà Siêu Quỳnh đã là 1 nhân vật xuất sắc. So với những em trai, em gái con bà tư luôn cố quảng cáo mình là thiên kim/vương tử của trùm sòng bạc thì Hà Siêu Quỳnh lại luôn mong muốn có thể gỡ được cái mác này ra, dù nó có thể là 1 lợi thế lớn cho bà.