Monday, July 27, 2020

https://www.facebook.com/photo/?fbid=930745613605932&set=pcb.930747480272412&__cft__[0]=AZV3DRlZSLnGZWv0mdhVGU93VqzY59qyesmK3f-Adk_G4ydtMvzwOzIV116iG-Fqp94tUMPW13dRtacILkA-Sf-1mjr3l6EVL9x17WLvIplrQPAPbUETahSKaOSuR5rTmAjP-NA3bsZP-gg497pQ4JBf&__tn__=*bH-R
quân y mỹ tại việt nam - an khê - sđ 1 không kỵ
https://www.facebook.com/photo/?fbid=3480660351947766&set=pcb.3480660518614416&__cft__[0]=AZWycUAyEl_TfH98w5arKEuOoRoCW7HOvpBZq_4RoyEKWXyO-56hObhRFRs3FCFKWDWg9ZYNs8q98XSTpg3y_GFBw_kN741iOhpMa2Iqpe-20NkYaaaMebT29TzYgZJP9Lywfr2clZdpOAtbW0poaYlb&__tn__=*bH-R
Người thiếu phụ trong mưa phùn giữa núi rừng Việt Bắc
14 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 518)
Đoàn Trọng Hiếu
Tài Trần : trong truyện này , tác giả nhắc tới một thiếu tá lái trực thăng cho ông Thiệu cũng cùng trại tù .
"Viết để tưởng nhớ quý chiến hữu đã gục chết trong lao tù Cộng Sản, và cũng để tuyên dương những người vợ lính VNCH, đặc biệt là chị quả phụ của cố Đại úy CSQG Trần Thiên Thọ Hải.
Cuối năm 1977, tình hữu nghị anh em xã hội chủ nghĩa giữa Cộng Sản Ta và Cộng Sản Tàu đã trở nên tồi tệ. Đài phát thanh Hà Nội, cái loa tuyên truyền của Cộng Sản Ta đã không còn ra rả phát đi lời tuyên bố của tên Thủ Tướng Đồng "vẩu". Trước kia, nào là "tình hữu nghị Việt-Trung muôn đời bất diệt" nào là "tình hữu nghị Việt-Trung như răng với môi, môi hở thì răng lạnh" .v.v.. Vì sau khi cưỡng chiếm được miền Nam, các tên lãnh đạo Cộng Sản Ta đã ngả theo Nga, mà quên đi cái ơn của Cộng Sản Tàu trong những năm chiến tranh "anh bộ đội cụ Hồ" đã được Cộng Sản Tàu trang bị cho từ chân lên đến đỉnh đầu, từ đôi dép râu làm bằng lốp xe đến cái nón cối đội trên đầu, thậm chí là cả cái bát ăn cơm, anh bộ đội chỉ có duy nhất "cụ Hồ" là của chính anh. Để trừng trị thằng đàn em cứng đầu vong ơn bội nghĩa, Tàu Cộng liền cho tên Miên Cộng Polpốt quậy phá ở biên giới phía Nam. Nhưng tên Miên này không làm nên chuyện, nên Tàu Cộng đã dàn quân dọc biên giới phía Bắc để chuẩn bị cho Cộng Sản Ta bài học số một, và như vậy là răng đã cắn sứt môi.
Lo sợ khi Cộng Sản Tàu đánh xuống, anh em tù phía Quốc Gia đang bị giam giữ tại các tỉnh phía Bắc như Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ .v.v. sẽ tìm cách trốn sang biên giới phối hợp với lực lượng ly khai của Hoàng Văn Hoan đang được Tàu Cộng ủng hộ, nên gần cuối năm 1977 bọn Việt Cộng đã chuyển anh em tù xuống dần phía Nam đến các trại Vinh Quang hay Tân Lập thuộc tỉnh Vĩnh Phú hoặc các trại Hà Tây hay Nam Hà (Đầm Đùn, Ba Sao) gần Hà Nội. Tình hình sức khỏe anh em khi còn ở các trại do quân đội Việt Cộng quản lý đã tồi tệ, thì nay càng tồi tệ hơn dưới sự hà khắc dã man của bọn Công An, mà anh em tù quen gọi là bọn "Chó Vàng", tiêu chuẩn ăn uống thì bị cắt xén ăn bớt. Mỗi bữa ăn chỉ được một thìa cơm với hai khúc sắn tươi, hoặc gần chục lát sắn khô hay một chén sắn duôi (loại sắn được nạo thành sợi hay xắt thành cục phơi khô), vài muỗng canh đại dương (nước muối với vài cọng rau già), hoặc một vài miếng sắn được nấu với muối cho nhừ để làm canh. Họa hoằn, một đôi ba tháng vào các ngày Lễ Tết thì được một chén cơm trắng với hai ba miếng thịt lợn to bằng đốt ngón tay, hoặc một vài miếng thịt trâu từ một con trâu già đã không còn kéo cày nổi hay bị chết vì không chịu nổi cái lạnh mùa đông. Với chế độ ăn uống như vậy mà phải làm việc khổ sai, dẫn đến tình trạng kiệt lực, người nào cũng chỉ còn da bọc xương. Mỗi buổi chiều hết giờ lao động, anh em tù cởi áo xuống ao tắm, trông như một bầy khỉ ốm đói. Tình trạng bệnh tật và không có thuốc men thật là đáng sợ, bệnh kiết lỵ, phù thủng và thổ huyết rất phổ biến. Đã có một số anh em chết mà anh em tù quen gọi là "quay đầu về núi" vì hầu hết tù nhân chết đều được chôn trên các sườn đồi. Xin đơn cử một vài cái chết của vài anh mà tôi có dịp ở chung.
·Thiếu tá Hà Sỹ Phong, phó giám đốc đài phát thanh Tự Do, anh ở cùng đội với tôi, mấy ngày trước anh bị bệnh nên cho nghỉ ở nhà trực phòng, sau đó 2 ngày anh được mẹ ở miền Bắc lên thăm. Buổi tối anh cho tôi nửa chén cơm vắt và hai miếng thịt gà kho mặn, anh thì thầm tâm sự:
-Năm 54 tôi di cư vào Nam chỉ có một mình, ông bà cụ luyến tiếc tài sản không chịu đi, bố tôi bị đi tẩy não (tù cải tạo) trong đợt cải cách ruộng đất và chết trong tù, bây giờ mẹ tôi đã ngoài 70 tuổi lại phải đi thăm con ở tù. Đây là lần đầu gặp lại mẹ tôi sau hơn hai mươi năm xa cách.
Nói rồi hai hàng nước mắt anh lăn dài trên má. Tôi lí nhí cám ơn anh về món quà anh đã cho tôi. Sau gần 3 năm tù, đây là lần đầu tiên tôi được thưởng thức một món ăn quá sang trọng như vậy. Tôi xé từng sớ thịt, rồi lại liếm mấy ngón tay, tận hưởng cái hạnh phúc to lớn ấy rồi thiếp dần vào giấc ngủ. Sáng hôm sau khi ra khỏi phòng để điểm danh thì thiếu một người, tên thường trực thi đua (một tên tù được đưa lên phụ việc đóng mở cửa và kiểm soát anh em) đi vào thì phát hiện anh Phong đã mê man. Chúng tôi vội cõng anh lên trạm xá nhưng anh đã chết vài giờ sau đó. Ít ngày sau lại đến anh Trung Tá Lạc phòng 2 Bộ tư lệnh Quân Đoàn II. Một buổi chiều sau khi lao động về, anh Lạc ghé sang khu tôi ở, móc trong túi ra một cái bánh chưng đưa cho tôi và nói:
- Hai cháu nó mới ra thăm, cả hai đều được đi dậy học lại và là "giáo viên tiên tiến" nên được cho ra thăm "lăng Bác". Nó tìm lên thăm mua cho ít quà, chú dùng cái bánh chia vui với tôi, mấy ngày nữa các cháu sẽ lại lên thăm tôi lần nữa. Tôi đón cái bánh chưng to bằng cái bánh trung thu và lí nhí cám ơn anh rồi vội chia tay, vì sợ tụi cán bộ trông thấy sẽ ghép tôi quan hệ trái phép .v.v.. Quả thật những lúc đói khát khó khăn thế này mới thấy cái tình dành cho nhau nó to lớn và sâu đậm. Nhưng rồi không may cho anh, hai hôm sau anh đã chết ngay tại hiện trường lao động không kịp gặp lại các con. Giữa năm 78 vì đói khát suy dinh dưỡng, cộng thêm cơn sốt vàng da đã khiến tôi kiệt lực, thân thể chỉ còn trên 30kg. Tôi không còn bước đi được nữa, mà chỉ có thể bò được vài ba thước, tôi được đưa xuống trạm xá nằm trong "danh sách chờ". Tại đây đã có anh Tư, anh là người hạm trưởng đã sang Singapore rồi lại quay về, anh bị bệnh phù thủng lại thêm phần ân hận vì đã quay về để rồi bị đi tù mút chỉ, nên chỉ ít ngày thì anh chết. Rồi đến Trung Tá Mai Xuân Hậu, Tỉnh trưởng Kontum, Thiếu Tá Đặng Bình Minh lái trực thăng cho Tổng Thống Thiệu, Trung Tá Lý. Dường như chẳng còn ai quan tâm đến cái chết, chả thế mà vẫn còn nói đùa: "Đ.M. mày qua mặt tao mà đíu bóp còi."
Cũng thời gian này, có một bài hát đã được anh sáng tác tôi vẫn còn nhớ được ít câu: "Rồi một ngày mai không có anh, em không còn phải nhớ phải mong - Rồi một ngày mai thân xác anh quay đầu về núi - Cô đơn ngồi khóc một mình - Không một lần kịp vuốt mắt anh - Ôi mây lang thang về phía trời xa vời, nhìn trông theo cánh chim từng đàn, để mình ta với bao ngày tháng xanh rêu, bụi thời gian lấp kín hồn mình, đớn đau trong lòng mà nhớ về nơi xa, ôi ngày về còn dài bao lâu - Rồi một ngày mai anh chết đi, em không còn phải khóc phải thương - Rồi một ngày mai thân xác anh đi vào lòng đất, cô đơn phủ kín đời mình - Không một lần kịp nói tiếng yêu."
Nhưng rồi may mắn hơn, số tôi chưa tới, nên căn bệnh sốt vàng da không biết có phải nhờ ba cái lá ổi, lá xoan hay không, mà tự nhiên biến mất. Và may mắn thay, nhờ mảnh giấy tôi gửi lén về qua một chị ra thăm chồng, tuy bị tụi công an phát giác, nhưng chị cũng đã nhớ cái địa chỉ ở Biên Hòa, nên chị đã đi tìm báo cho gia đình tôi biết. Nhờ vậy, cuối năm 79 mẹ tôi và vợ con tôi ra thăm, tên Vinh cán bộ giáo dục của trại trước khi tôi ra gặp đã chỉ cho tôi gặp 5 phút vì tôi đã gửi lén thư, nhưng tên công an dắt tôi ra đã cho tôi gặp gần một giờ. Gặp lại mẹ và vợ con sau hơn 4 năm chỉ biết khóc. Chỉ nói được vài câu thì đã hết giờ, tôi đứng dậy chào từ biệt, lòng buồn rã rượi, rồi chống gậy lom khom lết về trại, một tên tù hình sự được chỉ định giúp tôi đẩy cái xe cải tiến chở đồ thăm nuôi vào trại.
Nhờ chuyến ra thăm này mà tôi dần dần hồi phục, lúc này mỗi tuần đều có một vài anh em "quay đầu về núi". Cái đồi sắn ở phía đội 12 sau hơn hai năm đã có gần 300 anh em tù chính trị được chôn ở đó. Gần tết năm 79 tôi chuyển sang đội 17 lâm sản, chuyên đi lấy củi để sử dụng cho bếp trại, thời gian này do áp lực của quốc tế, nên chúng buộc phải cho gia đình đi thăm nuôi, nên sức khỏe của đa số anh em đã dần dần hồi phục. Một số anh em "con bà phước" cũng được anh em đùm bọc, nên cái bóng thần chết đã bị đẩy lùi. Hàng đêm tại các phòng, anh em lại tụ tập quanh ngọn đèn dầu với ấm trà cặm tăm, loại trà thật đặc được pha hoàn toàn bằng búp trà "hai tôm một tép" sao sấy cẩn thận, do anh em đội trà lén mang về. Các tay văn nghệ lại bắt đầu tổ chức ca hát nhạc vàng hàng đêm, khiến tụi cán bộ trại điên đầu, chúng bắt đầu cảm thấy hoang mang vì thấy tù càng bị nhốt lâu lại càng ung dung tự tại, không còn hoang mang lo sợ, lại thêm đám cán bộ nhí bắt đầu bị anh em tù thu phục. Chúng bắt đầu xin anh em chép và dạy cho chúng hát nhạc vàng, có tên còn xin đồ ăn và thuốc hút. Những buổi lên lớp do tên Trung tá Thùy nói chuyện đã bị anh em phản kháng bằng cách vỗ tay và cười, đã làm cho hắn ngượng ngùng. Chẳng hạn như lúc hắn khoác lác về tên Phạm Tuân đã bay Mig21 lên, rồi tắt máy phục kích ở trong mây, đợi B52 đến rồi nổ máy tiêu diệt, hay làm phụ lái cho tàu vũ trụ bay lên không gian nghiên cứu bèo hoa dâu dể nuôi lợn .v.v. Rồi sang đến cuối năm 80 thì cũng chính tin đồn anh em tù sẽ đi Mỹ, phát ra từ trong đám cán bộ, dân chúng quanh vùng quý tù miền Nam và ghét cán bộ ra mặt. Anh em đã san xẻ thuốc men cho dân ốm đau trong vùng, khi đi lao động ngoài Bến Ngọc. Anh em thường gọi đây là công tác dân sự vụ.
Một buổi tối cuối năm, sau khi đã điểm danh vào phòng, anh em đang tụ tập đàn hát như thường lệ, lúc kẻng báo tắt đèn đến giờ ngủ thì tên cán bộ trực tại trại đến cửa phòng nói vọng vào yêu cầu Phan Thanh đội trưởng lâm sản cử 4 người đi "lao động đột xuất". Thanh, Diệp, Tân và tôi mặc quần áo cho thật ấm và cũng không quên mang theo tấm nylon đề phòng mưa, vì mùa đông miền Bắc thật lạnh, lại thường có mưa phùn. Chúng tôi được lệnh xuống chỗ đội 12 lấy cuốc xẻng và thùng xách nước bỏ lên xe cải tiến đi về phía khu nhà tiếp tân. Tên cán bộ đi theo đưa cho tôi cái đèn bão leo lét. Ngang khu nhà tiếp tân thì đã thấy một thiếu phụ trong bộ đồ tang trắng đang đứng đợi. Dường như đã được sắp xếp, người thiếu phụ lặng lẽ đi theo, tên cán bộ ra lệnh cho chúng tôi đi ra khu nghĩa địa. Đến nơi, hắn bảo chúng tôi đi tìm mộ của Trần Thiên Thọ Hải. Chúng tôi nhớ ra đại úy Hải chết vào đợt những anh em đầu tiên năm 1977, như vậy là nằm ở sâu trong cùng sát chân đồi. Sau gần 15 phút chúng tôi đã tìm được ngôi mộ của anh với tấm bia chỉ nhỏ bằng tờ giấy học trò ghi lờ mờ, còn nắm đất thì chỉ cao hơn mặt đất chừng một tấc. Chúng tôi được lệnh là đào để bốc cốt cho chị mang về trong Nam.
Việc đầu tiên là tìm một ít cành khô để đốt một đống lửa sưởi ấm và lấy ánh sáng, chị bắt đầu lấy ra môt bó nhang đốt lên rồi quỳ xuống vái ba lạy. Cầm nguyên bó nhang chị thổn thức khóc và nằm phủ phục lên ngôi mộ. Dưới ánh lửa tôi thấy thiếu phụ còn rất trẻ chỉ khoảng dưới 30, nét mặt xương xương. Chúng tôi đứng lặng yên tôn trọng nỗi đau của chị, cho đến khi tên cán bộ yêu cầu chúng tôi "khẩn trương" bắt tay vào việc, vì trời đã lâm râm mưa phùn.
Chúng tôi dìu chị đứng dậy sang bên cạnh và bắt đầu đào. Chỉ không đầy 20 phút chúng tôi đã đụng lớp ván đã mục, vì khi tù nhân chết thì chỉ được bỏ vào cái quan tài nhỏ vừa khít người được đóng bằng loại gỗ bạch đàn hay bồ đề, một loại cây được trồng để làm giấy, nên rất nhẹ xốp, được xẻ thành từng thanh và đóng hở như cái vạt giường, nên thấy cả xác nằm bên trong và đám tù hình sự khi đi chôn thì chỉ đào sâu khoảng 4 tấc rồi vùi lấp qua loa. Gỡ lớp ván trên mặt, bên trong là bộ quần áo tù đã rữa nát. Tôi đi xách một thùng nước ở dưới ruộng để rửa cho sạch đất, người thiếu phụ cũng đã lấy ra một cái thau nhựa và đổ vào đó một ít rượu. Chúng tôi cẩn thận nhặt từng cái xương rũ cho bớt đất, rửa cho sạch rồi trao cho chị. Chị cầm từng cái rửa trong rượu, rồi bỏ vào cái bịch nylon hai lớp. Chị đưa cho chúng tôi mỗi người một gói thuốc Tam Đảo rồi vừa làm chị vừa tâm sự:
- Giữa năm 79, em có xin phép ra thăm, nhưng khi đến trại thì họ nói là không có anh Hải ở đây, nhưng ít tháng sau thì em được tin anh Hải đã chết từ năm 77, do một chị bạn ra thăm chồng về cho biết. Như vậy là họ đã dấu nhẹm không báo cho gia đình, mới đây một người mách bảo cho em ra Bộ Nội Vụ ngoài Hà Nội làm đơn xin bốc cốt, sau mấy lần làm đơn cuối cùng họ đã phải cho. Nhưng khi đến đây thì họ chỉ cho làm vào ban đêm và sau khi xong, họ không cho em ở lại nhà tiếp qua đêm với lý do là ô uế.
Sau gần một giờ, thấy có thể đã không còn sót cái xương nào, chúng tôi bảo chị để tránh rắc rối chị không nên mặc bộ đồ tang này. Chúng tôi lấy bộ quần áo tang quấn quanh cái bao nylon đựng cốt bỏ vào cái bị cói lớn rồi lấy sợi dây chuối khô khâu miệng lại để không ai nhìn thấy. Trên đường về trại, lúc đến chỗ rẽ, chị lý nhí vừa thổn thức khóc vừa cám ơn rồi dúi vào tay chúng tôi mấy gói thuốc còn lại. Nhìn người thiếu phụ tay xách cái bị cói đựng cốt chồng, lặng lẽ đi trong đêm, trên con đường rừng cô quạnh, khiến chúng tôi vô cùng thương cảm, ngậm ngùi, đứng trông theo. Bỗng sự uất ức trào lên rồi không nén lại được, tôi thốt lên trong kẽ răng:
- Đ.M. Chúng mày rồi sẽ phải trả giá cho hành động này!
Chúng tôi đi vào theo cửa hông của cổng trại, rồi lặng lẽ đi về phòng. Tên thường trực thi đua đã đứng đợi sẵn để mở cửa. Đã quá nửa đêm, cái lạnh đã thấm sâu vào người, nằm co quắp dưới lớp chăn mỏng, tôi thầm ái ngại cho số phận của người đàn bà bất hạnh. Chị mang cốt chồng đi giữa đêm trời giá lạnh của vùng rừng núi Việt Bắc, như người vợ, người mẹ Việt Nam đang mang nỗi đau, nỗi bất hạnh của cả một dân tộc đi trong đêm tối bão bùng".
Đoàn Trọng Hiếu
Khanh Freedom King VuDuc, Si Tran and 4 others

Sunday, July 26, 2020

Bạn để ý tôi thường viết "dân Da Đỏ* hay dân Mỹ bản địa là CHỦ NHÂN của đất nước này" vì có lẽ trong các KIẾP TRƯỚC tôi là một thành viên trong cộng đồng của họ - mà tính tình đã được mô tả rất đúng trong tử vi của họ.
* Bị ng da trắng gọi lầm da đỏ do những sơn đỏ mà họ vẽ trên người.

. . .

"Theo dân bản địa Mỹ, người sanh từ 20/1 đến 18/2 thuộc tuổi rái cá (otter) . . . lại lần nữa chúng ta dễ thấy tại sao người tuổi này là những người bạn đồng hành được mọi người săn đón/ưa thích (sought-after).
Như rái cá, họ thông minh, dũng cảm (bold), hay vui đùa, hay giúp đỡ (helpful) và hòa nhã (gentle). Họ có một ngữ vựng phong phú và thích vui đùa với chữ nghĩa và triết lý cũng như với những điều khác.
Cũng theo dân bản địa Mỹ, những ai tuổi Rái Cá, sanh từ 20/1 - 18/2, hình như có cảm giác rằng họ có bổn phận giúp mọi người có được ÂN SỦNG TỐT (good grace) dưới bầu trời này. Họ có TẦM NHÌN (visionary) và NHÂN ĐẠO (humanitarian), thường dùng phần lớn thì giờ và năng lực để tìm mọi cách hầu có thể giúp đồng loại của họ. Họ thật sự vui vẻ khi được giúp đỡ người khác và luôn mơ những cách mới để họ có thể phục vụ. Do có sự đồng cảm và trực giác, họ thường thành công trong việc tìm thấy những cách để mọi người giúp đỡ lẫn nhau. Nếu bạn xem xét các cơ sở từ thiện, bạn thường thấy ng tuổi rái cá là người thành lập. Nhu cầu được phục vụ là phần lớn của tính cách của họ, và, nếu họ ko tìm ra cách phục vụ trên diện rộng, họ sẽ tìm cách để làm điều đó trên căn bản cá nhân (individual basis).
Dịch từ trang 27-28 của sách về tử vi của dân bản địa Mỹ, có tựa The Medicine Wheel.
Nếu bạn có một bạn bè tuổi này, và bạn đang cần một người thông cảm hoàn cảnh, hay bạn cần vay tiền, họ sẽ cho bạn vay càng nhiều càng tốt theo khả năng họ. Nhưng họ cũng thực tế, và nếu thấy bạn vay để làm điều ko đáng làm, trước nhứt họ sẽ cố gắng cho bạn biết việc đó ko thực tế. Nếu họ ko thể làm điều này, họ vẫn thường cho bạn mượn, dù biết rằng bạn sẽ ko thành công . . ."
(Còn tiếp)
Dịch từ trang 27-28 của The Medicine Wheel, tác giả Sun Bear và Wabun, in năm 1980.

====

Nhận xét: tôi mua quyển này trong một buổi triển lãm sách nước ngoài tại nhà sách Lê Phan Sài Gòn khoảng năm 1981-82. Tôi thấy nó khá đúng với tôi và đúng với một số ng khác.
Nhờ sách này, tôi biết mình giúp đỡ người khác theo TIỀM THỨC chứ chẳng phải vì nghĩ rằng mình phải làm như vậy để TẠO PHƯỚC ĐỨC, để kiếm ĐIỂM TỐT (good credit) cho kiếp sau.
(Tưởng cũng lên nhắc lại, dân bản địa Mỹ có một nền MINH TRIẾT (wisdom) đáng cho nhân loại thán phục khi họ cũng là một trong những CÁI NÔI của dân chủ của nhân loại khi quan niệm mọi người đều bình đẳng trong xã hội, ai cũng có quyền phát biểu trong các cuộc họp, khái niệm caucus, v.v...
Chỉ tiếc rằng, nền văn minh này đã biến mất theo thời gian, nhất là sau khi người Châu Âu tìm thấy châu Mỹ). Hồi ở VN, tôi dùng tử vi này để coi cho bạn bè và bà con, được nhiều ng khen là đúng.
Thanh Thương Hoàng - Những ngày tháng tù đày không thể quên .
Tài Trần : đọc xong bài này tôi thấy cuộc sống của tác giả trong tù CS còn hơn địa ngục khi "nước trong cầu tiêu tràn ngập phòng giam mỗi khi mưa , chuột cống bò khắp phòng giam, v.v..."
Tôi ko hiểu , sau khi đến Mỹ năm 1999 , sau tôi 5 năm , tác giả có về VN để được đón tiếp như "khúc ruột ngàn dặm" ?
Hình 1 : Quân cán chính VNCH bị bắt trong những ngày tháng tư, 1975.
Tôi bị bắt ngày 5 tháng 4 năm 1976, trong cái trò bắt người mà cộng sản gọi là “chiến dịch X2 đánh Văn Nghệ Sĩ phản động”. Chiến dịch X1 trước đó “đánh” tư sản mại bản (tức những nhà tỷ phú người Việt và người Việt gốc Hoa, đa số ở Chợ Lớn). Có 3 nhà tỷ phú người Việt bị bắt là cụ Hoàng Kim Quy (cựu Thượng Nghị Sĩ đệ nhị VNCH), hai anh em vua tầu thủy Phạm Quang Khai và Phạm Quang Hoa. Trước và sau tôi bị bắt vài ngày có hơn trăm người gồm đủ bộ môn văn nghệ Miền Nam (Văn, Thơ, Báo chí, Nhạc, Kịch, đạo diễn điện ảnh, đạo diễn Cải lương có đôi chút tên tuổi). Đa số giam ở T20 (số 4 Phan Đăng Lưu bên hông chợ Bà Chiểu, Gia Định) vài người đi khám Chí Hòa. Khoảng mười tháng sau một số lớn được tha về, chỉ còn mươi người bị quy kết tội “có nợ máu nhân dân” và “chống cộng ở thượng tầng kiến trúc” bị giữ lại. Đây là những “tội” có thể đưa tới tử hình. Sau hai năm tra vấn hỏi cung xong, họ đưa bọn tôi lên trại Gia Trung (xứ sương mù Pleiku) nằm trong khu rừng già, nghe nói trước đây là mật khu của Việt cộng, để lao động khổ sai. Tưởng cũng nên kể ra đây tôi là người trong giới Văn nghệ đầu tiên, mới nhập trại đã bị tống ngay vào “biệt giam” (cachot) khu B1, phòng 11 trại Phan Đăng Lưu. Có lẽ họ tưởng tôi là nhân vật quan trọng, là tay sai của CIA được dựng lên làm Chủ tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam hoạt động trong báo giới. Vì ngoài Bắc chức vụ này “to” lắm, do đảng đưa ra và quyền hạn cũng như quyền lợi ngang bộ trưởng. Trong cùng dẫy biệt giam khu B1 có những nhân vật tên tuổi như Thượng Tọa Thích Huyền Quang, Thượng Tọa Thích Quảng Độ, Linh mục Đỗ Bác Ái, Tiến sĩ Mai Văn Lễ (cựu Khoa trưởng Khoa Luật đại học Huế), Luật sư Nguyễn Hữu Doãn, Luật sư Nguyễn Khắc Chính, Nhà văn Doãn Quốc Sỹ, Nhà báo Hồ Văn Đồng, Nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến, Nhà văn Nhà báo (nguyên dân biểu) Hồ Hữu Tường. Những người này lần lượt vào biệt giam sau tôi 1, 2 tuần. Đầu dẫy khu biệt giam buồng số 1 là “tướng phục quốc Nguyễn Việt Hưng”. Tôi rất tiếc khi đó không biết nhiều về nhân vật này. Ông là người đầu tiên cầm đầu một số dăm bẩy người trấn trong nhà thờ Vinh Sơn (đường Trần Quốc Toản) đánh CS với vài vũ khí thô sơ, khi CS vào Saigon mấy tháng. Sau đó ông bị CS xử bắn. Vụ “vùng lên” khởi đầu chống đối CS này đã gây tiếng vang rộng lớn làm trấn động dư luận khắp nước khi đó. CS phải điều động bộ đội công an cảnh sát vây hãm quanh khu vực Nhà Thờ mấy ngày liền mới trấn áp được. Tôi nghĩ chúng ta thật vô tình khi ở ngoài này, trải qua mấy chục năm, không thấy một ai nhắc nhở tới ông (người được gọi là tướng Nguyễn Việt Hưng mà dư luận khi đó đồn đãi là biệt danh của Tướng NCK hoặc Tướng cảnh sát NNL ở trong mật khu lãnh đạo cuộc chiến đấu với rất nhiều “hồ hởi phấn khởi”). Theo tôi đây là người chiến sĩ quốc gia can trường bất khuất, dám đứng ra chống CS ngay từ ngày đầu, chúng ta nên tỏ bầy lòng ngưỡng mộ và khâm phục.
Phía sau dẫy biệt giam B1 là dẫy biệt giam B2 có giáo sư Vũ Quốc Thông, ông chủ nhiệm nhật báo Lẽ Sống Mới Ngô Công Minh (vào đầu năm 1975 làm phụ tá Tổng Trưởng Thông Tin), ông Tống Đình Bắc, Trưởng ty Công an nổi tiếng sát cộng Miền Tây, ông chủ Nhà sách Khai Trí và một vài người nữa từng giữ chức vụ cao chế độ cũ. Riêng ông Ngô Công Minh sau khi lên trại tù lao động Gia Trung với chúng tôi hơn tháng thì CS đưa ông đi nơi khác. Từ đó không ai biết tin tức về ông. Có dư luận nói ông bị đem thủ tiêu vì mấy tay tổ văn nghệ, báo chí CS (từng quen biết ông trước kia) muốn cướp không ngôi nhà lớn của ông ở Saigon và vàng bạc của cải. Theo tôi, ông không phải nhà hoạt động chánh trị, chỉ là nhà báo thuần tuý nên không thể bị sát hại vì lý do chánh trị. Khi tù về tôi có dò hỏi tin tức ông nhưng không ai biết một cách chính xác.
Trong thời gian “nằm” biệt giam tôi cũng có vài việc để nhớ xin kể ra đây. Cứ mỗi tháng tù biệt giam được cho ra ngoài cắt tóc. Bọn “thế nhân” chúng tôi tất cả đều bị “gọt” trọc đầu, kể cả vị Linh mục, nhưng với hai vị Thượng Tọa Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ thì cai tù lại bắt để tóc. Hai cụ phản đối, cai tù thản nhiên: “Đó là chính sách Nhà nước!”. Việc thứ hai là vì biệt giam mới làm chưa lắp ống dẫn nước nên mỗi ngày chúng tôi chỉ được từ hai tới ba phút vòi nước ở ngoài thọc vào để làm vệ sinh. Tôi không biết nên thản nhiên chà xà bông gội đầu (bằng xà bông giặt). Đang làm nửa chừng vòi nước rút ra mặc cho tôi nài nỉ. Báo hại đêm đó đầu tôi bị xà bông làm ngứa ngáy khó chịu không tài nào nhắm mắt ngủ yên được. Cũng vì “nước” tôi phải tự “tranh đấu” với mình mãi mới nuốt xong phần cơm tù. Tôi chỉ có 2 cái tô nhựa: một dùng đựng cơm, một dùng đựng canh. Vì phải chứa nước làm vệ sinh (khi đi cầu) tôi nhịn tắm lấy nước chứa vào cái tô lớn mầu xanh. Trong khi đi “làm việc” (hỏi cung) tôi viết mấy chữ bằng bút chì dặn anh tù hành sự để cơm vào nửa tờ giấy báo cũ, còn canh để vào tô nhựa mầu đỏ. Nhưng anh ta đổ hết nước trữ đi, để cơm canh vào 2 cái tô và đặt ngay trên bệ cầu tiêu chưa được dội nước còn nồng nặc mùi phân của mình. Tôi ngồi hơn nửa tiếng đồng hồ nhìn hai tô cơm canh muốn ứa nước mắt tự “tranh đấu” với mình. Ăn hay nhịn? Nếu ăn, khó nuốt trôi miếng cơm vì tởm lợm. Nhưng nếu không ăn sẽ bị đói tới trưa hôm sau. Tôi lại mắc chứng đau dạ dầy từ ngày CS chiếm Saigon nên sẽ khốn khổ lắm. Cuối cùng tôi đành nhắm mắt nuốt vội chút cơm canh lạnh ngắt với hai hàng nước mắt.
Tôi bị nhốt biệt giam hơn 10 tháng, vào một buổi sáng trời âm u, được gọi tên mang đồ ra khỏi buồng giam. Phía chéo buồng giam, tôi liếc nhìn thấy nhà văn Duyên Anh để mặt sát ô vuông cánh cửa sắt phòng giam tập thể hướng về phía tôi nói khá lớn: “Nhớ ghé nhà tao nói với vợ tao…”. Tôi chỉ nghe được tới đây thì bị viên cai tù nạt nộ cấm nói. Thì ra Duyên Anh tưởng tôi được tha về nhờ tôi tới nhà nhắn tin vợ.
Khi đi đến trước sân “nhà khách”trại giam tôi thấy vài người quen ngồi đó với đồ đạc cá nhân lỉnh kỉnh. Chúng tôi chỉ đưa mắt chào nhau. Mấy phút sau họ điểm danh từng người xong còng tay lại đưa lên chiếc xe hơi bít bùng chuyển về cơ quan An ninh nội chính (Nha Công an thành phố Saigon cũ đường Trần Hưng Đạo). Cùng trên chuyến xe có tiến sĩ Mai Văn Lễ, thạc sĩ Vũ Quốc Thông, ông Tống Đình Bắc và một vài người nữa (giờ tôi quên mất tên). Trong lúc ngồi ngoài sân cơ quan chờ làm thủ tục gì đó, các bạn tù của tôi bàn cãi sôi nổi về dự đoán chúng tôi được đưa lên đây làm giấy tờ tha. Có vị còn “cá” một chầu ăn uống linh đình ở Chợ Lớn. Rồi lần lượt từng người được gọi tên đem hành lý đi vào phòng…biệt giam! Tôi được gọi tên sau chót (may mắn cho tôi vì biệt giam hết chỗ(?) – viên công an tiếp nhận tù nói vậy) nên được nhốt vào khu tập thể A (làm từ thời Pháp). Gần 100 người đủ thành phần già trẻ lớn bé, tư sản, chính trị gia, Linh mục, Mục sư, Thượng tọa, Đại đức, trộm cắp, buôn lậu, nhốt chung trong một phòng dài trên 10 mét, bề ngang nhỏ hẹp, u tối, ẩm ướt, thiếu ánh sáng và khí trời. Phòng có 2 “sàn”, sàn trên cao khoảng một mét. Mỗi người được cấp manh chiếu rách cáu bẩn, nồng nặc mùi chua mồ hôi người tích tụ lâu năm đã kết thành “cao”. Ở trên tôi nói may mắn không phải vào lại biệt giam vì mấy tháng sau anh Mai Văn Lễ được thả khỏi biệt giam vào phòng tôi kể cho nghe thảm cảnh trong buồng biệt giam anh đã “chết trong cõi sống” mấy tháng qua. Buồng biệt giam Sở An ninh nội chính được xây từ thời Pháp thuộc có tuổi đời trên mấy chục năm. Tường bẩn thỉu lam nham dầy cáu bẩn đen đúa, sàn xi măng ẩm ướt quanh năm. Mùi mồ hôi, mùi phân nước tiểu người tích tụ bao năm tạo thành một thứ mùi hôi hám khó tả, ngửi phải muốn nôn ọe ngay. Khủng khiếp nhất là cái cầu tiêu đã nứt nẻ và vỡ nhiều mảnh, mỗi khi trời mưa nước từ trong lỗ cầu dâng lên tràn lan khắp buồng với những cục phân chưa tiêu hủy. Nếu mưa lâu khoảng một giờ nước cầu tiêu dâng ngập buồng giam hơn gang tay, tù chỉ còn biết đứng dựa vào tường chờ cho nước rút hoặc ngủ đứng. Và khi nước vừa rút hết, sàn xi măng còn ẩm ướt, tù mới ngả lưng nằm thì một hai chú chuột cống khá to, lông lởm chởm ghẻ lở khắp mình trông dơ dáy khủng khiếp chui lên từ miệng cầu, thản nhiên gặm bàn chân tù, đạp đuổi nó cũng cứ gan lỳ không chạy! Có lẽ từ lâu nó sống bằng xương thịt tù bị chết chưa kịp mang đi. Anh Mai Văn Lễ kết luận: “Đúng là tầng chót địa ngục trần gian, có một không hai trên thế giới!”. Tôi được biết Linh mục Hoàng Quỳnh, người lãnh đạo giáo dân khu Bùi Chu Phát Diệm nổi tiếng chống CS bằng vũ lực hồi còn ngoài miền Bắc. Linh mục bị bắt từ ngày đầu tháng 5. 1975, bị giam và chết trong “tầng chót địa ngục trần gian” này. Khi họ đem xác Linh mục đi trên cái băng ca, thân thể teo tóp gầy đét bé nhỏ như đưá trẻ lên 10.
Sau hai ngày đêm 15 chiếc xe vận tải lớn, trước đây dùng chở heo, chở mấy trăm tù ngồi bó gối trên sàn xe chật cứng nhúc nhích cánh tay cũng không được. Với bao gian khổ đói khát trên con đường dài mệt lả người, chập choạng tối chúng tôi tới trại tù lao động cải tạo Gia Trung (thuộc tỉnh Pleiku) nằm trong khu rừng núi hoang vu. Nghe nói nơi này khi trước là mật khu của CS. Trại Gia Trung lúc bọn tôi tới đã có 3 trại giam, mỗi trại cách nhau khoảng cây số. Trại nào cũng đầy nhóc người: từ 700 tới 1000. Tù đa số là các viên chức cấp nhỏ, địa phương quân, nhân dân tự vệ và đông nhất vẫn là tù hành sự từ các nơi đưa tới, có án hoặc chưa có án. Có cả tù chưa đến 10 tuổi, đói quá liều ăn tô bún riêu ở chợ không tiền trả bỏ chạy bị bắt.
Những nỗi đói khổ nhục nhã, sống cuộc đời trung cổ, sách báo đã nói nhiều từ hơn 30 năm, tôi xin miễn kể ra đây. Sự khổ sở nhục nhã chúng tôi còn có thể chịu đựng được. Nhưng cái khủng khiếp nhất đối với chúng tôi là sự vô vọng ngày trở về đoàn tụ với gia đình, với đời sống ngoài xã hội. Bọn cai tù bắt chúng tôi “học tập” chính sách Nhà nước là đem vợ con lên vùng đất tù đầy này cuốc đất trồng khoai sinh sống (như ngoài Bắc đã thực hiện).Tất nhiên chúng tôi không thể làm theo họ. Chúng tôi sẵn sàng hy sinh đời mình chứ không thể để vợ con đã khốn khổ phải gánh thêm tội.
Trong những năm tháng không tên dài dằng dặc như bao thế kỷ sống như cây cỏ như súc vật, chúng tôi hết cả hy vọng hết cả chờ mong thì có những tin tức như những làn gió mát mang theo hơi sống tới: tin đồn về chương trình HO, người Mỹ sẽ cứu chúng tôi đem sang Mỹ. Trong thời gian này các con tôi gửi thư cho tôi nói bóng nói gió là hai hội Văn Bút Quốc Tế và Việt Nam đang ráo riết can thiệp vận động cho anh em cầm bút chúng tôi. Và các con tôi cũng báo tin có nhận được “quà” của hai hội gửi. Thời gian này bọn tù chúng tôi “hồ hởi phấn khởi” lắm. Chỗ nào cũng bàn tán về chương trình HO (mỗi người tán một kiểu toàn có lợi cho mình) với bao hy vọng tốt đẹp. Và chúng tôi cũng hết lời ca ngợi Tổng Thống Carter – vị ân nhân vĩ đại – sẽ lập cầu Không vận đưa chúng tôi từ VN qua Mỹ sống một đời ấm no tự do tươi sáng. Tôi cũng nghe nói tới tên một bà lúc ấy còn rất xa lạ với chúng tôi: bà Khúc Minh Thơ. Biết bao giai thoại đồn đại thêu dệt về bà được dựng lên. Qua câu chuyện và lời bình luận của anh em tù, tôi có cảm tưởng bà Khúc Minh Thơ như một bà tiên đang cầm cây đũa thần giúp chúng tôi từ vực thẳm lên.
Rồi ngày tháng tiếp tục lặng lẽ trôi qua, tất cả mọi việc vẫn như cũ không có biến chuyển gì xẩy ra, chúng tôi lại tiếp tục buồn nản thất vọng lê cái thân tù đầy mòn mỏi héo hắt trong quốc nạn khổ sai. “Mong nhưng không đợi không chờ” như câu thơ của Giáo sư Vũ Quốc Thông làm và đọc cho tôi nghe.
Sau gần 10 năm thân thể rã rời hư hao chỉ còn bộ da bọc xương, tinh thần suy sụp chán nản chẳng còn gì để mong để chờ và cũng hết cả “cú” tha bất ngờ thì anh Doãn Quốc Sỹ được gọi tên tha, năm sau anh Hồ Văn Đồng rồi thời gian sau nữa là giáo sư Vũ Quốc Thông. Những người này được tha về làm sự hy vọng tưởng tắt ngấm trong chúng tôi lại lóe lên, dù là ở cuối đường hầm mù mịt.
Có lẽ do nguồn từ gia đình ký giả Cao Sơn lên thăm nuôi nói đài VOA vừa loan tin tôi và họa sĩ CHÓE (Nguyễn Hải Chí) hiện bị giam tù ở trại Gia Trung, Pleiku. Thế là ầm cả trại đến nỗi viên quản giáo đội tôi cũng tò mò hỏi anh tù nấu nước có biết tôi không và hiện ở đội nào (vì đài VOA chỉ loan bút hiệu của tôi nên anh ta không biết). Báo hại tôi từ khi có tin này không được tự động đi gánh phân người từ trại ra ngoài đồng nữa. phải về đội cuốc đất chặt cây đào mương như mọi anh em tù khác. Gánh phân tuy có vất vả bẩn thỉu hôi hám mất vệ sinh thật nhưng chỉ nửa buổi là “thanh toán” xong các hố xí. Thời gian còn lại thoải mái xuống suối tắm giặt và đi “va tạt linh tinh” kiếm củ khoai mì hay vài cọng rau lang “cải thiện”cho “ấm” cái bụng thường trực rỗng. Nếu tôi nói đã hơn một lần “tự động” ăn…phân người, có lẽ nhiều người không tin cho là tôi nói quá để kể khổ thân phận tù đầy dưới chế độ cộng sản. Lần thứ nhất quãng hơn 10 giờ, tôi vừa đói vừa khát ghé vào chỗ chòi đun nước uống của đội để uống nước. Anh bạn được phân công đun nước, nguyên đại úy cảnh sát quốc gia, vốn quý mến tôi, thấy tôi đến, anh mắt nhìn chỗ khác nhưng miệng nói nhỏ: “bác đi tới phía bụi cây bên trái”. Tôi biết là “có gì” rồi. Tới nơi nhìn vào trong bụi cây tôi thấy nửa trái dưa chuột nhỏ. Tôi cầm lên bỏ vào miệng nhai liền. Có lẽ trong đời tôi chưa bao giờ ăn miếng dưa chuột ngon đến thế (tôi vốn không thích ăn dưa chuột). Vừa nuốt xong nửa phần dưa chuột tôi chợt nhớ ra, ngừng nhai, tiến lại chỗ anh bạn đun nước, nói: “Này ông ơi, có phải trái dưa này “tẩm” phân người?”. Anh bạn gắt nhẹ: “Đã bảo, bác cứ ăn đi, không chết đâu mà sợ!”. Nghe anh bạn nói, tôi biết mình đã lỡ ăn rồi (hơn nữa cũng tại đói) nên tiếp tục cố nhai và nuốt nốt phần dưa chuột còn lại. Nguyên do thế này. Trong vườn ươm giống của đội trồng rau có một dàn dưa chuột. Khi dưa mới kết trái to hơn ngón tay đã bị tù (và cả cai tù) hái trộm ăn hết nên ban giám thị trại tù ra lệnh lấy phân tươi của người hòa với nước rồi hàng ngày quết vào những trái dưa chuột cho hết bị trộm. Nhưng tù vẫn hái trộm ăn sau khi rửa sơ qua. Thế là lần thứ nhất tôi ăn phân người. Lần thứ hai thì chính do tôi (và mấy ông bạn) chủ động ăn phân người. Tôi và mấy “đồng sự” được “bố trí” dọn phân cầu tiêu các phòng giam. Một số anh em tù hình sự ra ngoài đồng làm việc đã hái và ăn tươi nuốt sống các trái bắp. Vì ăn trộm nên không kịp nhai (sợ cai tù thấy) các bạn tù hình sự cứ thế mà nuốt. Bắp già hạt cứng dạ dầy không tiêu nổi, hôm sau đi cầu ra nguyên cả hạt. Chúng tôi lúc đầu còn sợ bẩn sợ hôi và bệnh nhưng sau khi sôi nổi “bàn thảo”, chúng tôi đi tới việc lấy những hạt bắp này đem ra suối rửa, luộc hai ba lần cho hết mùi hôi rồi ăn một cách ngon lành thoải mái! Nhiều bạn tù biết chuyện cũng xin ăn ké. Tôi được “ấm bụng” ít ngày thì bị “ngưng công tác” (vì tin đài VOA loan?). Đó là hai dấu ấn khủng khiếp trong trại tù cho tới ngày hôm nay, mỗi khi nghĩ tới tôi vẫn không khỏi rùng mình tự hỏi không hiểu sao mình lại có thể “ghê gớm” đến thế!.
Đầu năm 1985 tôi bất thần được gọi tên tha về cùng một số anh em quân nhân. Ngoài tôi không có thêm tên anh bạn văn nghệ sĩ nào. Các anh mừng cho tôi thì ít, lo lắng chán nản thất vọng cho mình thì nhiều. Viên quản giáo trở nên tử tế với tôi, gã chạy vào phòng nói: “Mừng cho anh nhé. Có thuốc men gì cho tớ xin.”. Tôi cho gã mấy viên thuốc cảm, gã đòi lấy hết nhưng tôi không cho để cho anh em tù nghèo không thăm nuôi.
Trại tù phát cho chúng tôi 50 đồng tiền đi xe, trong khi giá xe về Saigon 150 đồng. Đi bộ từ trại tù ra tới quốc lộ 25 gần 5 cây số. Chúng tôi phải nài nỉ mãi bà chủ xe đò mới “thông cảm” lấy 50 đồng. Xe đầy nhóc người ì ạch chạy như rùa bò trên con đường vòng vèo dốc núi cheo leo đầy bất trắc, nguy hiểm. Tôi và ba anh tù đi cùng chuyến xe không một đồng bạc dính túi, phải nhịn đói nhịn khát hai ngày đêm liền cho tới khi về tới nhà ở Saigon. Một anh có “sáng kiến” đem bộ quần áo tù mới tinh được trại tù phát khi tha, gạ bán cho mấy người trên xe để lấy tiền ăn, nhưng đều bị từ chối vì ai cũng sợ xui khi mặc đồ tù.
Rời nhà tù nhỏ ra nhà tù lớn sống mấy năm thì “phong trào HO” nở rộ và tên tuổi bà Khúc Minh Thơ được anh em tù về hết lời ca ngợi công đức. Bà là ân nhân của tù cải tạo. Tôi vì nghèo, tiền ăn không có lấy đâu ra vàng đút lót hối lộ để được đi HO. Nhưng nghe theo lời các bạn đồng nghiệp cũ may mắn thoát sang Mỹ trước, viết thư về khuyên tôi cứ đến đường Nguyễn Du nộp đơn kèm theo những giấy tờ can thiệp (từ trước tới nay) của các tổ chức như Hội Văn Bút Quốc Tế, Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Liên Đoàn Ký Giả Quốc Tế, Hội Nhân Quyền vv… Nhưng tất cả đều vô vọng. Lần nào cũng vậy, hai lần, tôi “ôm” hồ sơ xin xuất cảnh tới Sở Ngoại Vụ đường Nguyễn Du đều được các viên chức hữu quyền (công an CS) trả lời dứt khoát: “Nhà Nước không có chính sách cho anh xuất cảnh. Bọn lính cũ không có súng ống đâu còn đánh được chúng tôi nhưng với bọn anh chỉ một cây viết vẫn có thể chống phá chúng tôi như các anh đã làm trước đây. Anh nên biết bên đó bọn báo chí phản động nhiều như nấm”. Thế là con đường sống bị triệt. Hết hy vọng, hết chờ mong. Tôi đành sống kiếp mạt rệp – một thứ công dân hạng bét – ngay trên quê hương đất nước mình. Nhưng tới cuối năm 1989 tôi được anh bạn nhà văn Hoàng Hải Thủy từ Mỹ gửi thư về báo cho biết tôi và Nhà văn Uyên Thao được bà Khúc Minh Thơ, chủ tịch Hội Bảo Vệ Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam đã tận tình can thiệp với Bộ Ngoại Giao Mỹ để chúng tôi được sang Mỹ định cư. Chính Hoàng Hải Thủy sốt sắng giới thiệu hai chúng tôi với bà Khúc Minh Thơ và cộng tác mật thiết với bà trong công việc vận động. Con đường hy vọng, con đường sống, lại mở rộng trước mắt tôi.
Buổi tối ngày 18 tháng 5 năm 1999 tôi lên máy bay giã biệt quê hương tăm tối sang Mỹ định cư. Tôi lại được sống lại dưới bầu trời tự do dân chủ tại Miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Tuy nhiên nhiều đêm vẫn giật mình thức giấc vì những ám ảnh não nề của những năm tháng tù đầy. [TTH]
Last modified on Friday, 13 April 2012
Ở San Jose có bs Hứa Thị Năm*, vừa giỏi (đông khách) vừa đẹp. Chồng cũng là bs cũng rất giỏi (cũng đông khách) và cũng đẹp trai. Nghĩa là một cặp vc rất xứng đôi vừa lứa và mở chung phòng mạch.
* Có lẽ bà gốc Minh Hương, tổ tiên qua VN cách đây nhiều thế hệ .
Dùng LTS, tôi phân tách tên của bà
HỨA = 5 6 1 = 12 = 3
THỊ = 4 5 1 = 10 = 1
NĂM = 5 1 4 = 10 = 1
Vì 3 + 1 + 1 = 5 (nhỏ hơn 9), nên ta phải cộng các số chưa thu gọn: 12 + 10 + 10 = 32 = MAY MẮN .
Sau đây là ý nghĩa của số này .
Số 32 - ý nghĩa của số này .
SỰ GIAO TIẾP (COMMUNICATION)
Số kép này có năng lực kỳ diệu để lay chuyển (sway) quần chúng như số 14, và như số 23 - có cùng sự giúp đỡ từ những người có quyền lực cao. Cộng vào đó là khả năng tự nhiên để quyến rũ/lôi kéo (charm) với cách ăn nói thu hút như nam châm, và thật rõ ràng tại sao số 32 đôi khi được biết, khi hiện đại hóa biểu tượng của người xưa như "sự rung động của nhà chính khách". Những phức tạp của quảng cáo, viết lách, ấn loát, radio, và truyền hình, tuy không phải là luôn luôn, nhưng thường thường là một sách mở đối với người mang số 32, (họ) có khuynh hướng làm việc tốt dưới áp lực. Nhưng có lời cảnh cáo được ghi nhận trong giai điệu có vẻ hạnh phúc này. 32 là số RẤT MAY MẮN nếu người mà nó đại diện giữ vững hay không lay chuyển (inflexibly) những ý kiến và phán đoán riêng của họ trong cả hai vấn đề nghệ thuật và vật chất. Nếu không, những kế hoạch này sẽ bị làm hỏng bởi sự ngoan cố và ngu ngốc của kẻ khác.
Dịch từ Linda Goodman's Star Signs , trang 264.

Saturday, July 25, 2020

DAMBE, Cuộc Rút Quân Bi Hùng

Thứ Năm, 15 Tháng Ba 20187:06 SA
DAMBE, Cuộc Rút Quân Bi Hùng
DamBe1
Kính Tặng:
  • Chuẩn Tướng KB Trần Quang Khôi, Tư Lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh và LLXKQĐIII
  • Đại Tá KB Hà Mai Việt, Tư Lệnh Phó Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh . Tác giả Thép và Máu
  • Thiếu Tá KB Trương Văn Điền, Chi Đoàn Trưởng và các Chiến Hữu thuộc Chi Đoàn CĐ3/2TK
Trích dẫn: Từ bài viết Chiến Thắng An Lộc Năm 1972 do nhóm Quân Nhân QLVNCH tại Texas biên soạn. Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh chủ biên.
“Chiến thắng An Lộc năm 1972 đã tượng hình từ năm 1971 sau những cuộc hành quân Toàn Thắng của Quân Khu III do cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí phát động, dự định đổ quân lên Kratié (một quận lỵ của nước Cambodia) để tiêu diệt Cục R, bản doanh đầu não của cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, đồng thời là căn cứ hậu cần của quân Cộng Sản Bắc Việt xâm nhập vào miền Nam lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà. Nhưng không may, Đại Tướng Đỗ Cao Trí phải đền xong nợ nước vì lý do chiếc trực thăng chở ông bị nổ tung khi vừa mới cất cánh tại Tây Ninh, đến bây giờ cũng không ai biết đích xác về nguyên nhân gây ra tai nạn này.
Trung Tướng Nguyễn Văn Minh được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ định thay thế người tiền nhiệm tài ba và đầy lòng yêu nước đó.
Trong cái thế chẳng đặng đừng, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh buộc lòng phải có quyết định cho lệnh rút các lực lượng cơ hữu của Quân Đoàn 3 trở về nội địa Việt Nam Cộng Hoà để bảo toàn lực lượng, hoàn tất vào ngày 31 tháng 05 năm 1971.
Việc rút đoàn quân trên 2 Sư Đoàn (Sư Đoàn 18 Bộ Binh + 2 Liên Đoàn Biệt Động Quân + Trung Đoàn 8 của Sư Đoàn 5 Bộ Binh + Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ + Liên Đoàn 30 Công Binh Chiến Đấu) về đến nội địa vừa kịp lúc. Nhờ vậy mà khi quân Cộng Sản Bắc Việt mở cuộc tấn công vào lãnh thổ Quân Khu III vào ngày 05 tháng 04 năm 1972, phần lớn lực lượng kể trên của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã là thành phần nòng cốt, tương đối đủ khả năng cấp thời để chống trả lại 4 Sư Đoàn quân Cộng Sản Bắc Việt.
Cuộc rút quân từ chiến trường ngoại biên năm 1971 về nội địa Việt Nam Cộng Hoà là một cuộc hành quân lui binh đúng lúc trước tình hình biến chuyển ngõ hầu có đủ lực lượng phòng thủ diện địa, nhất là việc phòng thủ An Lộc trong trận chiến năm 1972 khi lực lượng bạn chỉ có một phải chống trả lực lượng địch đông hơn gấp sáu lần, trong khi đó địch có pháo binh và chiến xa yểm trợ trực tiếp, ta không có chiến xa chỉ có các phi vụ B52 và các phi tuần phản lực của Không Lực Hoa Kỳ và Không Lực Việt Nam Cộng Hoà yểm trợ.
Việc địch quân được biết trước cuộc rút quân là điều tối kỵ của binh pháp và là một chuyện chẳng đặng đừng mà Trung Tướng Nguyễn Văn Minh phải ra lệnh thi hành. Sự kiện này đã gây nhiều ấn tượng sâu sắc trong tâm khảm và cuộc đời binh nghiệp không những cho riêng Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, mà còn cho tất cả những chiến sĩ liên quan đến Trận Chiến An Lộc….”
Ngưng trích
Ngụy tui từng là một chiến sĩ của QLVNCH, là một Kỵ binh của binh chủng Thiết Giáp đã từng tham gia nhiều trận chiến trên chiến trường Kampuchea và Quân Đoàn IV nhưng Ngụy tui chưa hề và không hề có ý định viết về chiến sử QLVNCH hay đơn giản hơn viết về những trận đánh mà chính Ngụy tui đã từng tham dự. Ngụy tui chỉ thích viết dăm ba bài phiếm dị để chọt cha già dzĩ đại dzại đỉ hồ chí râu cho đỡ buồn đời tỵ nạn. Nhưng cuộc đời đưa đẩy dù lòng không muốn và một phần vẫn còn lăn lộn trên lối mòn cơm áo nên Ngụy tui rửa tay gát bút. Thế nhưng khi liên lạc với Thiếu Tá Trương Văn Điền (TT TVĐ) là một cấp chỉ huy của Ngụy tui ngày trước mà Ngụy tui hết lòng kính nể thì đã có phần thay đổi. Trong email Đông Phương (danh hiệu truyền tin của TT TVĐ) đã mong muốn được đọc những bài viết của Ngụy tui để xét lại quan điểm của Đông Phương và những anh em từng sống chết bên nhau như thế nào. Sau khi đọc nhiều bài viết của Ngụy tui thì Đông Phương bảo rằng nếu như Đông Phương vẫn còn là cấp chỉ huy của Ngụy tui thì Đông Phương sẽ ra lệnh cho Ngụy tui viết tiếp. Mà Ngụy tui thì lúc nào cũng coi Đông Phương như là cấp chỉ huy của mình dù cuộc đời có ra sao. Cho nên Ngụy tui trở lại viết lai rai nhưng không nhiều như ngày xưa nữa và cuộc đời lại đưa đẩy cho Ngụy tui khi đọc những bài viết tranh cãi chung quanh trận đánh đồi Phượng Hoàng. Viết lại, mà lại viết về chuyện lính tráng là điều mà Ngụy tui không muốn. Bởi vì khi viết chiến sử hay tường thuật lại những trận đánh phải để cái tôi của mình lại đằng sau. Phải quên tình bằng hữu. Bỏ qua lòng tự hào của cá nhân, của đơn vị, và niềm kiêu hãnh của binh chủng. Phải viết bằng lòng trung thực và lương thiện như Đại Tá KB Hà Mai Việt, tác giả quyển sách đồ sộ Thép và Máu, luôn ân cần khuyến khích và nhắc nhở. Vì danh dự của binh chủng và những KB anh hùng của Chi Đoàn 2/19TK đã anh dũng đền nợ nước tại mặt trận Khánh Dương nên Ngụy tui lại viết bài Khánh Dương, Trận Chiến Ngậm Ngùi. Rồi lại lang thang tìm đọc những bài viết liên quan đến trận chiến tại Khánh Dương. Có hai bài : một của Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang với Hồi Ức Trận Phan Rang và một của Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng trong bài Thiên Thần Mũ Đỏ Ai Còn Ai Mất. Định viết tiếp bài Thiên Thần Mũ Đỏ, Ai Đúng, Ai Sai nhưng bây giờ đọc bài Chiến Thắng An Lộc Năm 1972 do Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh chủ biên lại thấy cần phải viết một cái gì để trả lại Danh Dự cho Tướng Trần Quang Khôi, LĐ3KB và LLXKQĐ III. Bởi có nhiều người từng đảm trách những trách vụ cao nhưng vì cảm tình hay vì một lý do nào đó mà đã bẻ cong ngòi bút, ngụy biện, để bào chữa cho những sai lầm của Tướng Tư lệnh QĐ III và QK III .
Đọc phần trích dẫn trên ta nhận thấy điều gì? Tác giả Trung tá Nguyễn Ngọc Ánh xuất thân khóa 16 Võ Bị Đà Lạt (VBĐL). Là một khóa đầu tiên được huấn luyện trong chương trình 4 năm. Theo như nhà văn Phan Nhật Nam thuộc khóa đàn em thì Khóa 16 VBĐL đã tạo nên một thế hệ chỉ huy tài năng và đầy lòng yêu nước. Những sĩ quan tiêu biểu xuất thân từ khóa 16VBĐL, Nhảy Dù thì có Trung Tá Bùi Quyền , Trung Tá Trần Đăng Khoa… TQLC thì những Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc, Đổ Hữu Tùng, Nguyễn Năng Tống … , BB thì có Trung Tá Nguyễn Hữu Thông… họ là ai ? Là những Lữ Đoàn Trưởng, những Trung Đoàn Trưởng xuất sắc của QLVNCH. Trung Tá Ánh xuất thân từ một khóa nổi tiếng hẵn nhiên ông cũng là một sĩ quan đầy kinh nghiệm và có tài thao lược. Trong thời gian trận An Lộc thì Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh là Phụ Tá HQ Tư Lệnh QĐ III kiêm phát ngôn viên của Quân Đoàn. Với một chức vụ quan trọng như trên hẵn nhiên Trung Tá Ánh phải có một cái nhìn, một nhận thức đúng đắn về những gì xảy ra tại chiến trường thuộc phạm vi Quân Đoàn III (QĐ III). Ông bảo rằng chiến thắng An Lộc tượng hình từ năm 1971 sau những cuộc hành quân Toàn Thắng do Đại Tướng Đỗ Cao Trí chỉ huy. Tượng hình như thế nào thì ông không giải thích. Rất khó hiểu. Đọc tiếp thì ông cho rằng Trung Tướng Nguyễn Văn Minh được TT Thiệu chỉ định thay thế Đại Tướng Đỗ Cao Trí đền nợ nước trong tai nạn trực thăng và Tướng Minh không còn lựa chọn nào khác nên phải rút quân về nước để bảo toàn lực lượng.
Tới đây xin được dài dòng một chút. Từng là Tư lệnh SĐ 21BB đã lập nên nhiều “công trận” nên thăng cấp Trung Tướng và đảm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô. Tướng Minh được Phó Tổng Thống Trần Văn Hương đề cử làm Tư Lệnh QĐ III và QK III. Ngoài Tướng Minh. PTT Hương cũng đề cử Thiếu Tướng Phạm Văn Phú làm Tư lệnh QĐ II và QK II. Ngụy tui rất không thích PTT Hương từ thời còn đi học. Ngụy tui đã theo thầy (dạy học) trong nhóm liên trường đi ủng hộ và cổ động cho Liên Danh 5 Trần Văn Hương (TVH) và Mai Thọ Truyền (MTT) trong cuộc chạy đua vào Dinh Độc Lập năm 1967. Thuở đó còn đi học ngây thơ chưa biết gì về chính trị nhưng nể lời thầy nên đã hết mình làm việc không lương cho Liên Danh TVH và MTT để chống lại Liên Danh Quân Đội Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ. Dù Liên Danh 5 thất cử nhưng Ngụy tui đã có một số hiểu biết và kiến thức về những gì đã xảy ra cho Quốc gia thời buổi đó. Ghét độc tài quân phiệt, cho nên Ngụy tui luôn có mặt trong đoàn biểu tình của sinh viên chống chính quyền thời đó. Khi Trần Văn Hương nhận lời làm Thủ Tướng cho TT Thiệu thì chúng tôi hết sức ngỡ ngàng. Ông đã phản bội lại nguyên tắc đoàn thể đã ủng hộ ông trong kỳ tranh cử Tổng Thống. Và năm 1971 đã đứng phó cho TT Thiệu. Từ đấy Ngụy tui đã không còn thiện cảm với PTT TVH. Không còn thiện cảm nhưng không ghét. Cho đến khi vào lính qua hai sự việc khiến từ không thiện cảm trở thành ghét cay ghét đắng. Những khi ông về thăm Vĩnh Long khoảng năm 1974 thì Ngụy tui có đi đón ông. Từ trực thăng bước xuống phải có quân cảnh xốc nách hình ảnh đó bệ rạc quá chừng. Một người già bệnh hoạn như thế còn làm việc gì được nữa mà không chịu lui về vườn. Cũng khoảng cuối năm 1974 không nhớ tháng trong cuộc hành quân vào quê ông ở Vĩnh Long thì một ông Tiểu Đoàn Trưởng (TĐT) thuộc Sư Đoàn 7 BB thấy vài chậu kiểng đẹp vì là vùng xôi đậu nên Ông TĐT nhờ Đại úy Ngà Chi Đoàn Trưởng CĐ 3/6TK chở dùm. Hai ông đâu biết những chậu kiểng đó của gia đình PTT Hương và cuối cùng Thiếu Tướng NKN đã đích thân đem Quân Cảnh Tư Pháp còng tay hai vị SQ. Không chứng kiến nhưng nghe nói. Tha hồ mà chửi thề. Đọc hồi ký Đất Nước Tôi của Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn (NBC) kể chuyện thời đảo chánh Tổng Thống N Đ Diệm, Đại Tá Trần Thiện Khiêm yêu cầu Phó Tỉnh Trưởng NBC tạm giữ đoàn quân Nhảy Dù mà không tước súng vì sợ xúc phạm đến Danh Dự, niềm tự hào, sự dũng cảm của các chiến binh Nhảy Dù. Qua những sự việc trên Ngụy tôi rất chán PTT Hương. Dưới mắt Ngụy tôi PTT Hương chỉ là một anh già ngụy quân tử ham danh ham lợi sẵn sàng làm bất cứ điều gì kể cả phản bội lại những nguyên tắc mà chính ông đã cam kết (Đọc hồi ký Võ Long Triều để tham khảo thêm về PTT TVH). Ông biết gì về quân đội mà ông đề cử người nắm trọng trách của một Quân Đoàn. Ông đâu biết rõ khả năng tư cách của họ mà ông đề cử. Và chính vì sự đề cử của ông đã đặt TT Thiệu vào thể khó từ chối và chúng ta đã biết hậu quả của sự đề cử là QĐ II và QĐ III đã lâm vào tình trạng bi đát với hằng trăm ngàn Quân Dân Cán Chính VNCH đã nằm xuống vì những quyết định sai lầm của Tướng QD.
Trung Tá Ánh đã không giải thích tại sao chiến thắng An Lộc 72 tượng hình từ những cuộc hành quân Toàn Thắng trong năm 1971. Nhưng ông cho rằng vì ở vào thế chẳng đặng đừng cho nên Tướng Minh buộc lòng phải rút quân về nước để bảo toàn lực lượng. Trời hỡi trời, một Trung Tá xuất thân từ một khóa Võ Bị ĐL toàn là hảo hán mà có một nhận định trời ơi đất hỡi như thế nầy thì còn gì là mặt mũi những hào kiệt xuất thân từ khóa 16 VBĐL. Ngụy tui nín cười không được. Ngụy tui là tay hippy trốn lính bằng cách chui vào Đại Học Khoa Học SG tối ngày miệt mài những bài Toán và Vật Lý. Cho nên khi vào lính cũng có được cái văn bằng lận lưng và cũng chính vì thế mà Ngụy tui đâm ra coi thường mấy quan xuất thân từ Võ Bị Đà Lạt, coi thường luôn những bài học từ quân trường. Ra trường Sĩ Quan Bộ Binh hạng gần chót. May mà bị cua kẹp nên về binh chủng Thiết Giáp (TG). Ngụy tui lại không thích lính tàu bò nên miễn cưỡng trình diện quân trường TG. Tại quân trường TG, Ngụy tui rất lè phè, hay trốn học đi nhậu hay tình nguyện đi kiểm thực để khỏi phải đi học. Chỉ mỗi lần duy nhất trong bài học bắn gián xạ CX M48A3 thì huấn luyện viên vũ khi dạy hoài mà chả thằng nào chịu hiểu. Ngụy tui hứng sảng bèn tình nguyện lên hướng dẫn. Bằng kiến thức về Toán về Vật Lý từ Đại Học Khoa Học, Ngụy tui hướng dẫn bạn bè bắn theo cách thức của Ngụy tui và được hoan nghênh nhiệt liệt. Ra trường cũng gần hạng chót, ra đơn vị nhằm lúc đơn vị đang dưỡng quân nên Chi Đoàn Trưởng (CĐT) hay tổ chức nhậu nhẹt. Trong những bữa rượu đó CĐT hỏi bài thì Ngụy tui trớt quớt. Hỏi hành quân vượt lầy thì “than ôi nước mắm mặn mà không tiền mua dấm”. Bù trất! Bởi vì hôm đi học bài vượt lầy tại Suối Tiên thì Ngụy tui dù về SG lang thang với đào nên ngọng. CĐT não nề thế sự. Thế thì đánh đấm làm sao đây. Thế nhưng đời sống quân ngũ, tinh thần chiến đấu và tinh thần đồng đội đã thay đổi nhận thức và cuộc đời của Ngụy tui. Chỉ cần nhìn một lần và những gì học ở Đại Học Khoa Học một lần nữa đã giúp Ngụy tui giải quyết bài toán sình lầy dễ dàng. Không những vượt lầy mà Ngụy tui đã có thời vượt sông tại quận Ngã Năm. Nơi có 5 nhánh sông lớn đổ vào rất nguy hiểm. Trái với nhận thức ngày xưa coi thường những bài học về quân sự. Bây giờ Ngụy tui ước ao được thụ huấn tại những quân trường nổi tiếng như Fort Knox, như trường tham mưu Fort Leavenworth và lúc đó thì Ngụy tui mới có thể bắt đầu viết chiến sử với cái nhìn và nhận thức đúng đắn được.
Khác với Ngụy tui, với cấp bậc và chức vụ đó Trung Tá Ánh đã được huấn luyện qua các khóa tham mưu trung cấp và cao cấp hẳn nhiên là ông phải có một nhận định đúng đắn cớ sao ông lại làm cho độc giả là Ngụy tui phải tức cười. Ông bảo rằng Tướng Minh không còn chọn lựa nào khác ngoài chuyện rút quân về nước để bảo toàn lực lượng. Muốn bênh vực cho sếp thì Trung Tá Ánh cần phải tìm một nguyên do nào khác dễ chấp nhận hơn, chứ nói lấy được thì làm sao tui nín cười cho được. Theo Ngụy tui, Tướng Minh có rất nhiều chọn lựa. Chọn lựa dễ nhất là tiếp tục kế hoạch của Đại Tướng Trí. Nghĩa là cho một Sư Đoàn cơ hữu của QĐ III trực thăng vận vào Katié, xong điều động Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III và hai Chiến Đoàn 5 và 333 BĐQ tấn công vào Katié. Xong theo quốc lộ 7 rút về Snoul đang có Chiến Đoàn 8 BB/SD5 BB đang nằm tại đó tiếp trợ. Theo DT Khôi đây là một tuyệt tác phẩm của Đại Tướng Trí. Nó hay ở chỗ rất giản dị nhưng đầy tính sáng tạo tận dụng tối đa sức mạnh và tính di động nhanh của Lữ Đoàn 3 KB làm lực lượng xung kích. Tất cả các Tư Lệnh chiến đoàn đều hiểu cặn kẽ kế hoạch và đã thực hiện hoàn hảo kế hoạch trong giai đoạn đầu. Những Chiến Đoàn Trưởng chưa ai là tướng vậy thì Tướng Minh bắt buộc hiểu kế hoạch hành quân của Tướng Trí. Điều cần làm là Tướng Minh phải tới ngay trận địa, họp với những Chiến Đoàn Trưởng để hiểu tình hình địch, bạn và những nhu cần cần thiết cho cuộc hành quân, để phát họa hoặc thay đổi kế hoạch (nếu muốn). Tướng Minh không làm thế. Gần 1 tuần lễ án binh bất động không họp hành, không lệnh lạc đã là nguyên nhân tạo ra những khó khăn sau nầy. Một tuần lễ chết người. Các đơn vị dậm chân tại chỗ. Một tuần lễ chờ đợi trong nổi lo âu tột cùng của các Chiến Đoàn Trưởng. Không lệnh lạc, không kế hoạch. Chỉ với thời gian đó Bộ Chỉ Huy Cộng Sản Bắc Việt xâm lược (CSBVXL) phục hồi, tổ chức lại và điều động hai Công Trường 7 và 9 CSBV bao vây 3 Chiến Đoàn đang ngơ ngác lạc lỏng. Tướng Minh hoàn toàn im lặng. Cái im lặng đáng sợ. Im lặng vì tiến thoái lưỡng nan? Vì không hiểu kế hoạch? Vì nỗi sợ hãi hay vì mặc cảm thiếu khả năng? Dù là gì đi nữa một tuần lễ trôi qua đã là nguyên nhân cho bao điều bi đát. Cuối cùng Tướng Minh ra lệnh rút lui. Trong binh pháp hành quân rút lui hay danh từ thời đó gọi là di tản chiến thuật là một cuộc hành quân khó khăn nhất. Trong lịch sử lui quân của các quân đội trên thế giới rất ít cuộc lui quân thành công. Như thế bảo rằng “lui quân để bảo toàn lực lượng” của Trung Tá Ánh là một sự ngụy biện quá trắng trợn không thể chấp nhận được. Lui binh vào lúc đã bị hai Công Trường và một trung đoàn đặc công CSBVXL bao vây thì kết quả đã thấy trước mắt là từ chết tới bị thương. Đúng như thế khi ban lệnh lui binh ngày đầu tiên Tướng Minh cho rút Chiến Đoàn 5 Biệt Động Quân (CĐ5BĐQ) do Đại Tá Nguyễn Văn Đương chỉ huy từ Chlong về Bắc Dambe. CĐ5BĐQ bị chận đánh may nhờ Đại Tá Khôi cho Chiến đoàn 315 KB (CĐ315KB) do Trung Tá KB Nguyễn Văn Đồng chỉ huy tiếp cứu nên CĐ5BĐQ thoát hiểm về tới Dambe. Sau đó Quân CSBV bao vây CĐ5BĐQ và LLXKQĐIII cùng lúc phục binh đầy dẫy cắt đứt trục rút quân của QĐ III tại phía Nam Dambe và như thế CSBV đã tách rời chiến đoàn 333 BĐQ (CĐ333BĐQ) do Đại Tá Phạm Văn Phúc chỉ huy và LLXKQĐIII bằng chiến thuật bao vây chia cắt nên các đơn vị QĐIII đã không thể yểm trợ hỗ tương lẫn nhau. Vài ngày sau Tướng Minh từ trực thăng điều động cuộc rút lui. Từ Bắc Dambe CĐ5BĐQ và LLXKQĐIII rút về Nam Dambe. Trong khi đó CĐ333BĐQ từ Nam Dambe làm lực lượng tiếp trợ các đơn vị triệt thoái. Vì không có lệnh của QĐIII cho nên khi CĐ5BDQ bị chặn đánh thì LLXKQĐIII không biết phải làm gì để tiếp cứu. Cuối cùng hai chiến đoàn 5 và 333 BĐQ bị tổn thất nặng nề mà không thoát ra được. Đành co cụm lại dùng đèn pin để tải thương. Qua hôm sau Tướng Minh cho lệnh rút lần nữa. Nhưng lần nầy có 2 box B52 lúc 6:00 và 8:00 sáng. Sau đó rút ra theo đường xưa lối cũ và bị thiệt hại nặng nề mà vẫn không thoát ra được. Lần nầy Đại Tá Khôi đã phá bỏ nguyên tắc ban đêm cho M113 mở đèn bung đi tìm các thương binh tử sĩ BĐQ để tải thương suốt đêm. Tướng Minh điều động cuộc rút lui trên trực thăng bay thật cao chưa lần nào đáp xuống để tìm hiểu tình hình địch, bạn như thế nào. Điều quan trọng là Tướng Minh không biết điều động liên binh, hợp đồng binh chủng nói ngắn gọn là nhị thức BB/TG cho nên khi CĐ5BĐQ bị vây hãm mà không có lệnh lạc hay kế hoạch để LLXKQĐIII tiếp ứng. Lần thứ ba kế hoạch cũng với hai Box B52 rồi các đơn vị được lệnh Tướng Minh rút ra như hai lần trước. Lần nầy Đại Tá Khôi đánh điện xin Tướng Minh trao toàn quyền cho Tướng Khôi điều động chỉ huy rút lui. Không còn cách nào khác Tướng Minh chấp thuận với ý nghĩ nếu thành công thì Tướng Minh hưởng, thất bại Đại Tá Khôi là vật tế thần. Đại Tá Khôi biết thế nhưng vì tính mạng binh sĩ và sự an nguy của các đơn vị ông can đảm nhận trách nhiệm. Ông thay đổi cách tổ chức sáp nhập CĐ5BĐQ vào LLXKQĐIII. Sau 2 Box B52 chấm dứt lúc 8:00 sáng. Lập tức Đại tá Khôi cho Chiến Đoàn 318 KB (CĐ318) do Trung Tá KB Thái Minh Sơn chỉ huy theo đường cũ thoát đi và CĐ333BĐQ dụ địch tại miếu thổ thần ở hướng Nam Dambe. Quân CSBV cứ tưởng như hai lần đầu nên tập trung tất cả hỏa lực pháo binh 130 ly, 122 ly, 107 ly quyết ngăn chận không cho đoàn quân QĐIII rút lui. Ngay lập tức Đại Tá Khôi điều động Chi Đoàn 1/15 CX M41 mở đường mới về hướng Đông. Bằng tất cả sức mạnh và tốc độ tối đa mở một con đường máu xuyên rừng. Với quyết tâm và ý chí CĐ1/15 CX đã như con mãnh hổ gầm thét trong rừng không một sức mạnh nào cản nổi. Chiến Đoàn 315 KB mang BĐQ tùng thiết trên lưng theo sát. Khi CĐ315KB đã thoát đi thì CĐ318KB cũng mang BĐQ trên lưng quay đầu theo dấu xích của CĐ315KB bén gót. Đến 2:00 giờ trưa thì CĐ315KB đã tiếp cận với CĐ333BĐQ đang cầm chân CSBV tại miếu thổ thần. Đại Tá Khôi ra lệnh cho CĐ315KB tấn công vào quân CSBV. Hai bên đánh cận chiến dữ dội. Đại đội vận tải võ trang Hoa Kỳ yểm trợ thật hữu hiệu. Từng loạt hỏa tiễn đã đổ lên đầu quân CSBV xâm lược. Sau bao nhiêu ngày bị bao vây thiệt hại trầm trọng. Giờ đây các chiến sĩ thuộc LLXKQĐIII đã tác chiến dũng mãnh. Chỉ có mỗi con đường là phải chiến thắng để trở về quê hương trong vinh quang hay là tan hàng bỏ xác nơi xứ Miên. Thiết xa chỉ huy M113 của Đại Tá Khôi bị trúng đạn SKZ 75 nhưng ĐT Khôi vô sự tiếp tục chỉ huy cuộc chiến đấu. Đến 4:00 thì quân CS tan hàng bỏ chạy tán loạn trước hỏa lực hùng hậu của LLXKQĐIII. Bắt tay với CĐ333BĐQ đang nằm tại phía Nam miếu thổ thần. Trước mắt không còn chướng ngại LLXKQĐIII và Chiến Đoàn 333 BĐQ đã rút về nước trong vinh quang bằng trận chiến đẩm máu. Mang theo tất cả chiến cụ cùng các thương binh tử sĩ. Chấm dứt ý đồ bao vây tiêu diệt LLQĐIII của 2 Công Trường 7 và 9 CSBV xâm lược.
Bây giờ thử bàn xem tại sao Tướng Minh thất bại trong việc điều động rút lui. Tướng Minh không hề đáp xuống chiến trường để họp cùng các chiến đoàn trưởng. Không nắm vững tình hình địch, bạn. Thiếu khả năng điều động hợp đồng binh chủng cho nên các chiến đoàn không hổ tương yểm trợ lẫn nhau. Và 1 tuần lễ chần chờ quá tai hại. Đặc biệt là kế hoạch rút lui không có NGHI BINH. Quá đơn giản như những bài học rút lui trong quân trường. Đơn giản như cái tên Minh Đờn của Tướng Minh. Tướng Minh chỉ có khả năng chỉ huy cấp Sư Đoàn (SĐ) mà SĐ ở Quân Đoàn IV nơi những trận chiến ít khi điều động cấp Sư Đoàn. Tại sao Đại Tá Khôi lại thành công ? Đại Tá Khôi đã biểu lộ một tinh thần trách nhiệm cùng sống chết với ba quân tướng sĩ. ĐT Khôi đã từ chối bước lên trực thăng của Đại Đội Vận Tải HK đế thoát ra khỏi mặt trận. Khi thiết xa M113 chỉ huy bị SKZ 75 ly bắn trúng. Đại Tá Khôi không hề sợ hãi để bỏ đoàn quân rút lui. Trái lại ông rất bình tĩnh ở lại chiến đấu cùng LLXKQĐIII. Đại Tá Khôi đã sáp nhập CĐ5BĐQ vào LLXKQĐIII dùng NGHI BINH cho CĐ318KB giả bộ rút quân đường cũ để thu hút hỏa lực của địch và CĐ333BĐQ nhử địch tại phía Nam để cầm chân toàn bộ 7 Trung Đoàn CSBV xâm lược. Cho CĐ315KB mang hết BĐQ trên lưng dùng tốc độ để xuyên thủng rừng mở đường máu tấn công dũng mãnh vào đơn vị CQ đang chận bít đường về và bắt tay cùng CĐ333BĐQ. Kế hoạch hành quân rất đơn giản. Dùng Nghi Binh cầm chân quân địch để CĐ315KB thoát đi sau đó điều động nhị thức BB và TG để đánh tan 7 trung đoàn CSBV. Tướng Minh đã mắc phải sai lầm. Nếu Tướng Minh theo đúng kế hoạch của ĐT Trí là điều động SĐ18BB hay SĐ25BB trực thăng vận lên Kratié cùng lúc cho LLXKQĐIII và 2 CĐ 5 và 333 BĐQ từ Chlong đánh lên Kratié phối hợp cùng SĐ BB đã được trực thăng vận. Sau đó rút theo QL 7 về Snoul đang có Chiến Đoàn 8 BB đang chờ tiếp trợ. Còn nếu Tướng Minh muốn rút lui thì vẫn cho LLXKQĐIII và 2 CĐ 5 và 333 BĐQ tiến lên Kratié và rút về Snoul. Địch quân đã bị tán loạn trong giai đoạn 1 cho nên cuộc rút quân rất nhiều hy vọng thành công. Nếu muốn rút lui theo đường của ông thì Tướng Minh phải đáp xuống mặt trận họp cùng các chiến đoàn trưởng nâng cao tinh thần của binh sĩ. Giao hẳn cho Đại Tá Khôi, người có nhiều kinh nghiệm về hợp đồng binh chủng, chỉ huy LLXKQĐIII và CĐ5BĐQ. Dùng nghi binh để rút lui và như thế đã tiết kiệm được xương máu của rất nhiều chiến sĩ phải bỏ mạng vì những sai lầm hết sức căn bản mà một Tướng Quân Đoàn không được phép mắc phải.
Một điều nữa mà Ngụy tui không đồng ý cùng Trung Tá Ánh. TT Ánh cho rằng nhờ cuộc lui binh đó mà một năm sau Quân Đoàn III có đủ quân diện địa để chống lại cuộc tấn công vào An Lộc của CSBV XL. Đây là một nhận định hết sức ngu ngơ của một ông Trung Tá phụ tá HQ Tư Lệnh QĐ III. Tại sao QLVNCH phải hành quân tấn công qua Kampuchea? Rất đơn giản một người lính trình độ ABC như Ngụy tui cũng thấy rõ chứ đừng nói đến ông Trung Tá xuất thân từ khóa 16 VBĐL danh tiếng. Quân CSBV đã lợi dụng tính trung lập và tinh thần thiên cộng của Sihanouk, quốc vương Kampuchea, nên đã đưa nhiều quân trang, quân dụng, vũ khí vào Sihanoukville. Theo tin tình báo của Mỹ thì số lượng tiếp liệu đưa vào ngả Sihanoukville nhiều gấp mấy lần đưa vào qua ngả vĩ tuyến 17. Thiết lập những căn cứ tiếp liệu hùng hậu trên đất Kampuchea an toàn và khi tập trung quân đầy đủ vượt biên giới Việt Miên tấn công vào các đơn vị QLVNCH xong rút về Kampuchea bổ xung huấn luyện và tiếp tục vượt biên tấn công. Bao nhiêu lần chúng ta bất lực nhìn bọn CSBV chạy qua Miên trú ẩn. QLVNCH đã mất hẳn thế chủ động mỗi lần bị tấn công là mỗi lần thiệt hại. Binh pháp có nói tấn công là thế phòng thủ vững chắc nhất. Chính TT Nixon đã ra lệnh cho quân đội Hoa Kỳ bí mật tấn công oanh kích các khu hậu cần của CSBV trên đất Miên. Cho đến khi Quốc Vương Sihanouk bị lật đổ thì từ QK IV đến QK III đã tung nhiều cuộc hành quân Cửu Long, Toàn Thắng qua đất Miên đã phá hủy không biết bao nhiêu căn cứ hậu cần của địch và đất Miên không còn là an toàn khu của bọn CSBV xâm lược, cả cái chính phủ bù nhìn của MTGPMN phải chạy trốn như bọn chuột nhắt. Cho nên thời điểm từ 1969 đến 1971 Đại Tướng Trí đã đưa chiến tranh ra khỏi QĐ III. Săn đuổi các Sư Đoàn CSBV trên đất Miên dành thế chủ động trên chiến trường. Trong lãnh thổ QK III chiến dịch bình định nông thôn thành công mỹ mãn. Tướng Minh vì thiếu khả năng chỉ huy. Không có cái nhìn chiến lược, thiếu can đảm đã rút toàn bộ về diện địa tức là trải mỏng quân phòng thủ và khi địch được tiếp vận tiếp liệu đầy đủ bổ sung đầy đủ quân số hơn 4 sư đoàn vượt biên giới tấn công Lộc Ninh. Khi Lộc Ninh thất thủ thì An Lộc đà trở thành điểm nóng. Tướng Minh mắc phải sai lầm là giải tán LLXKQĐIII cho nên khi An Lộc bị tấn công thì không còn quân trừ bị để tung ra ứng phó, phải cầu viện QĐ IV gửi toàn bộ SĐ 21BB và Trung Đoàn 15BB/SĐ9BB lên tiếp ứng. LLXKQĐIII có sức mạnh tương đương như một Sư Đoàn Thiết Giáp với tính di động nhanh và hỏa lực hùng hậu trong quá khứ đã từng tiếp cứu nhiều đơn vị BB không bị tràn ngập, đã giải tỏa nhiều tiền đồn mà lừng lẫy nhất là trận giải vây căn cứ Đức Huệ do TĐ 83 BĐQ biên phòng trú đóng. Chỉ trong một ngày đã đánh tan tác CT 5 CSBV. Một chiến công vô cùng hiển hách trong dòng chiến sử oai hùng của QLVNCH.
Ngụy tui là một người lính bất đắc dĩ, một kỵ binh thừa thải của binh chủng TG. Không có ý niệm bảo quốc an dân. Khi đáo nhậm đơn vị với kiến thức quân sự là con số không. Nhưng Đông Phương Thiếu Tá Trương Văn Điền và Tư Tưởng Đại Úy Nghê Thành Thân đã nêu gương, đã huấn luyện, đã hướng dẫn Ngụy tui trở thành một người lính thuần túy của QLVNCH và là một Kỵ Binh đúng nghĩa cho binh chủng Thiết Giáp, có tinh thần đồng đội, biết hy sinh cho chính nghĩa cùng với ý thức Tổ Quốc Danh Dự Trách Nhiệm và nhất là có đủ kiến thức quân sự để viết những bài vinh danh những chiến sĩ can trường của QLVNCH. Ngụy tui vẫn nhớ mãi khi Chi Đoàn 3/2 Thiết Kỵ thuộc Thiết Đoàn 2 KB và một Tiểu Đoàn BĐQ đi giải tỏa cho lực lượng QĐ IV đang bị bao vây tại Kompong Trạch mùa hè đỏ lửa. Sau bao ngày đêm chiến đấu và thiệt hại. Còn một dãy chốt kiềng đã ngăn không cho CĐ3/2Thiết Kỵ bắt tay cùng lực lượng QĐ IV nhiều ngày. Đông Phương đã tập hợp Chi Đoàn ban quân lệnh tấn công bằng mọi giá. Kể cả giá phải chết. Chính Đông Phương đã dẫn đầu mũi xung kích sau khi nhắn nhủ nếu như Đông Phương có tử trận thì xin đem xác về cho vợ con. Xong lên ngựa bằng quyết tâm và sức mạnh và lòng hy sinh vô bờ bến. Chi Đoàn đã xuyên thủng dãy chốt kiềng và bắt tay cùng LL QĐ IV. Giữa khói súng mịt mùng Đông Phương đã khoan thai bước xuống bắt tay cùng Tư Lệnh Lực Lượng QĐ IV. Ngụy tui không bao giờ quên được hình ảnh hào hùng đó. Ngụy tui còn sống đến ngày hôm nay là nhờ vào tài thao lược, sự cân nhắc kỷ lưỡng, lòng quý trọng tính mạng binh sĩ của Đông Phương qua câu nói: “Không có chiến thắng nào to lớn hơn mạng người đau thương”.
Từ Thiếu Tá KB Trương Văn Điền đến Chuẩn Tướng KB Trần Quang Khôi đã thể hiện được chân dung những Kỵ Binh trong thời tao loạn. Lòng yêu nước. Tình huynh đệ chi binh đã phát huy tối đa trong đơn vị. Tổ Quốc Danh Dự Trách Nhiệm đã được chu toàn dù rằng QLVNCH đã bị bức tử. Chúng ta luôn tri ơn những Kỵ Binh xưa, những người con yêu của Tổ Quốc đã sống kiêu hùng và đã anh dũng đền xong nợ nước trên khắp nẻo đường đất nước.
nguysg_sign