Wednesday, June 19, 2013

CUỘC TRIỆT THOÁI CAO NGUYÊN 1975 QUA LÝ THUYẾT SỐ


San Jose ngày tháng 03 năm 2010 ( để nhớ lại nhửng ngày tháng 3 năm 1975 đầy bi thảm ) .

Thưa các bạn ,

Tôi xin gửi đến các bạn một bài nghiên cứu về cuộc triệt thoái cao nguyên năm 1975 qua lăng kính của khoa tử vi Lý Thuyết Số (Numerology) . Đây là một cái nhìn mới lạ về sự sụp đổ của Việt nam Cộng hòa , nó củng hổ trợ cho câu nói của người xưa “trong cái họa có che dấu cái phúc “ . Nếu không có Tháng Tư Đen thì làm sao có hàng triệu người VN được định cư ở nước ngoài mà phần lớn là các nước tiên tiến , giàu có ; một điều mà trước năm 1975 có nằm mơ củng không thấy . (Người viết bài này nhờ đả theo học “đại học lao động cải tạo “ trong gần 6 năm nên mới được đến Mỷ năm 1994 ) .


NHÌN LẠI CUỘC TRIỆT THOÁI CAO NGUYÊN NĂM 1975 QUA LĂNG KÍNH CỦA LÝ THUYẾT SỐ

Trong cái họa có che dấu cái phúc (lời cổ nhân) .

       A / Theo khoa Lý Thuyết Số (Numerology) , một nhánh của tử vi Tây phương – chuyên nghiên cứu về các số và ảnh hưởng của chúng đối với con người và sự kiện – thì mổi chử (letter) trong alphabet đều có một trị số tương ứng , ví dụ như a = 1 , b = 2 , c = 3 , v.v... ( xin xem bản trị số ở phần G của bài viết này ) . Từ yếu tố này , qua một vài phép tính cộng , ta có thể tính được tên họ của chúng ta bằng bao nhiêu . Con số cuối cùng này sẻ tác động lên số mạng của chúng ta .

       B / Chúng ta đều biết tên của nhửng nhân vật đả dự cuộc họp tối mật ngày 14 tháng 3 năm 1975 tại Cam Ranh – đả đưa đến một quyết định gây choáng váng cho toàn dân toàn quân VNCH , là bỏ cả vùng cao nguyên Trung phần rộng lớn , đưa các đơn vị chủ lực quân còn lại của quân đoàn 2 rút lui về vùng duyên hải (tỉnh Phú Yên) theo liên tỉnh lộ (LTL) 7 , một con đường hư hỏng nặng và đả lâu không xử dụng ; để sau đó tái trang bị , bổ sung quân số, và tái chiếm Ban Mê Thuột ! Các vị này cho rằng việc triệt thoái sẻ thành công nhờ yếu tố bất ngờ vì nghỉ rằng quân Cộng sản Bắc Việt chỉ tập trung quân để ngăn cản mọi di chuyển trên quốc lộ 21 (Nha Trang đi Ban Mê Thuột) và quốc lộ 19 (Qui Nhơn đi Pleiku) .   
     Nhưng làm sao giử được yếu tố bất ngờ khi một cuộc lui binh mà lại có sự tham dự của khoảng 180 ngàn dân thường . Chỉ vài ba ngày sau cuộc triệt thoái bắt đầu thì quân CSBV đả kéo đại pháo 130 ly tới quận lỵ Thuần Mẩn (ở phía đông bắc của Ban Mê Thuột) và từ đây pháo xối xả và chính xác vào đoàn quân xa và dân xa đang triệt thoái trên LTL 7 nhất là vào thị trấn Cheo Reo (tỉnh lỵ của tỉnh Phú Bổn ) .( Quyển Where The Domino Fell thì cho biết “đại pháo của quân CS đả cắt đoàn người và xe di tản thành nhiều khúc . . .và hơn 100 ngàn dân và 15 ngàn quân đả chết trong cuộc rút lui này “ . Các nhà báo đả gọi liên tỉnh lộ 7 là con đường của máu và nước mắt vì trong suốt cuộc chiến VN chưa bao giờ có một cuộc lui binh mà tổn thất về quân và dân lại khủng khiếp như vậy . )
     Như ta đả biết , cuộc triệt thoái này đả mở đầu cho sự sụp đổ dây chuyền – giống như các con cờ domino – của các tỉnh và thành phố còn lại của miền Nam Việt nam . Nay dựa vào cách tính toán của Lý Thuyết Số, tôi xin phân tích tên họ của nhửng nhân vật đả quyết định cuộc lui binh đầy bi thảm này .
     
    B1/ Tổng Thống Nguyển văn Thiệu :
                                              N G U Y E  N     V A N       T  H  I E U
Thay các chử bằng số :          5  3  6  1  5  5      6  1  5        4  5  1 5  6
Cộng các số này lại :                       25                 12               21
Biến các số thành hàng đơn vị :       7                    3                 3
Cộng lần chót : 7 + 3 + 3 = 13 = 1+3 = 4 .

    B2 / Thủ tướng Trần Thiện Khiêm :
                                                T R A N     T H I E N      K H I E M
Thay các chử bằng số :            4 2   1  5     4  5 1 5  5      2  5 1 5  4
Cộng các số này lại :                     12               20                  17
Biến chúng thành hàng đơn vị :      3                 2                    8
Cộng lần chót : 3 + 2 + 8 = 13 = 1+3 = 4 .

    B3 / Đại tướng Cao văn Viên :
                                                              C A O       V A N      V I E  N
Thay các chử bằng số :                          3  1  7        6  1  5      6  1 5  5
Cộng các số này lại :                                 11              12             17
Biến các số này thành hàng đơn vị ,
riêng 11 và 22 phải giử nguyên , do đó
ta lại có :                                                   11              3              8
Cộng lần chót : 11 + 3 + 8 = 22 = 2 + 2 = 4 .

    B4 / Trung tướng Đặng văn Quang :
                                                 Đ A N G      V A  N     Q U A N G
Thay các chử bằng số :             4  1  5  3       6  1   5      1  6  1 5  3
Cộng các số :                                  13              12               16
Biến các số thành hàng đơn vị :       4                3                 7
Cộng lần chót :           4 + 3 + 7 = 14 = 1 + 4 = 5 .

    B5 / Thiếu tướng Phạm văn Phú :
                                                      P H A M      V A N      P H U
Thay các chử bằng số :                  8  5  1  4       6  1  5      8  5 6
Cộng các số :                                      18               12           19
Biến các số thành hàng đơn vị :            9                 3             1
Cộng lần chót : 9 + 3 + 1 = 13 = 1 + 3 = 4 .

     C1 / Ta thấy các tướng Thiệu , Khiêm và Phú đều có tên họ cộng lại bằng 13 , tướng Viên bằng 22 và tướng Quang bằng 14 . Bà Linda Goodman , chiêm tinh gia nổi tiếng người Mỷ trong quyển Linda Goodman's Sun Signs đả giải thích : “ Số 13 không xấu như nhiều người nghỉ . Người xưa nói ai biết xử dụng số này sẻ có được quyền lực và sự phục tùng từ kẻ khác . Số 13 liên quan đến quyền lực và nếu điều này được dùng vào mục đích vị kỷ thì sẻ mang sự hủy diệt cho chính nó “ . (Trang 251-252 của sách đả dẩn) . Các nhân vật mang số 13 trên đây đều có nhiều quyền lực nhưng vì chỉ biết lo cho mình nên cuối cùng họ đả hủy diệt cả sự nghiệp và cả đất nước mà họ đả từng sống chết bảo vệ . Trừ tướng Phú đả tự sát , hai vị còn lại đả phải sống lưu vong ở nước ngoài – với thân bại , danh liệt , cô đơn , tủi nhục – trong nhửng năm tháng cuối đời .

     C2 / Củng theo bà Goodman , thì “ hình ảnh tượng trưng cho số 13 là bộ xương , là thần chết , tay cầm lưởi hái , đang tàn sát biết bao con người còn rất trẻ , đang chen lấn dẩm đạp lên nhau , tìm cách thoát thân trên một cánh đồng cỏ mới mọc . “ Một cảnh tượng gần như tương tự một cách kỳ lạ đả xảy ra tại tỉnh lỵ Cheo Reo , nơi mà dân thường và các đơn vị Thiết giáp , Pháo Binh , v.v... của VNCH đả dồn cụt trên một diện tích nhỏ hẹp và đả bị tàn sát trong tức tưởi bởi nhửng trận mưa pháo chính xác và kinh hồn của bộ đội CSBV . Một bà vợ lính Biệt động quân sau khi tới Tuy hòa nghỉ dưởng một tuần đả đi ngược đường lên tỉnh lộ 7 để tìm chồng con bị thất lạc . Chị cho biết “. . . ngổn ngang bao nhiêu xe cộ bị đốt cháy , nhửng bộ xương người còn vương vải đó đây , bao nhiêu nấm mộ lấp vội bên đường . Cả một vùng xông mùi tử khí . Chiếc khăn bịt miệng tẩm ướt dầu Nhị Thiên Đường đả giúp tôi và cậu em vượt qua chặng đường gần 100 cây số . . . “ . (Xin đọc Rừng Khóc Giửa Mùa Xuân của Phạm Tín An Ninh) . 

     C3 / Bà Goodman lại nói  “ số này củng cảnh báo về chuyện không ai ngờ được lại sẻ xảy ra “ .
Nào ai học được chử ngờ vì miền Nam Việt Nam đả sụp đổ quá nhanh , với hàng trăm ngàn người vào tù , các đợt cải tạo tư sản , đổi tiền , v.v... ; hàng triệu người phải bỏ nước ra đi mà gần nửa triệu đả chết , mất tích vì hải tặc , vì bộ đội biên phòng , hoặc vùi xác trong biển sâu v.v... Một số lớn phụ nử còn bị hảm hiếp , làm nô lệ tình dục , v.v...

     C4 /  Bà còn nói thêm “ Số 13 củng là số của đổi đời (upheaval) , để cho người ta có thể làm được điều hoàn toàn mới – mà trước đó không ai làm được . Số này dính liền với thiên tài – củng như với các nhà thám hiểm – là số phá vở nhửng gì có tính chính thống và là nhửng khám phá trên mọi lảnh vực “ .
     Sau biến cố bi thảm 30 tháng 4 , người Việt đả có mặt hầu như khắp thế giới mà phần lớn là các nước phương Tây , giàu có . Đa số đả có cuộc sống ổn định , sung túc thậm chí có người thành triệu triệu phú . Nhửng người đến Mỷ , nếu trên 20 tuổi thì thi vào đại học cộng đồng , hoặc vừa đi làm vừa đi học nghành nghề thích hợp , để mong tiến xa hơn nửa vì nhà nước sẳn sàng giúp đở tài chánh người muốn đi học dù cho họ ở tuổi 70 hay cao hơn . Còn trẻ em thì được chăm sóc y tế toàn diện đến ít nhứt là 18 tuổi và được hấp thụ một nền giáo dục – tiên tiến , phóng khoáng , kích thích tính sáng tạo và tự lập nơi các em mà lại hoàn toàn miển phí . Đây là nhửng điều mà ở VN ngày nay , đất nước của câu nói “vì lợi ích trăm năm ta trồng người “ có nằm mơ củng không thấy . Thật tội nghiệp cho đa số trẻ em VN .
     Tỉ lệ người VN có trình độ đại học củng tương đối khá cao nếu so với một số cộng đồng đả có mặt ở Mỷ trước chúng ta . Có lẻ một phần do truyền thống hiếu học . Một số đả giủ chức vụ chóp bu trong các nghành nghề kỷ thuật cao hay chỉ dành cho phái nam như nử kỷ sư Dương Nguyệt Ánh , người phụ trách việc chế bom áp nhiệt dùng phá hang động ở A Phú Hản . Hay một phụ nử Việt là phi công chiến đấu trong Thủy quân Lục chiến Mỷ , v.v... (Trong cuộc chiến VN , tuy là rất khốc liệt nhưng phụ nử dù có vào quân đội , củng chỉ phục vụ ở hậu cứ  hay các thành phố để làm công tác không chiến đấu như y tá , cán sự xả hội , v.v..  Tôi chưa thấy ai làm tài xế  lái quân xa , huống hồ lái máy bay chiến đấu  . . . ) .Tóm lại nhân tài VN ở hải ngoại đả nở rộ như hoa mai mùa xuân , đây là niềm an ủi cho người đả phải đau khổ rời bỏ quê hương , và củng là niềm hảnh diện cho họ ; đúng như lời người xưa “ trong cái họa có che dấu cái phúc “ .
      Trước 1975 ở miền Nam Việt Nam , ngoài một số ít được học bổng do quá xuất sắc , thành phần còn lại chỉ có thể du học với điều kiện học giỏi , hợp lệ tình trạng quân dịch và tự túc mọi chi phí ăn ở trường lớp . Củng có một số rất là ít được du học vì là con của các ông lớn . (Bản thân người viết bài này , gia đình rất giàu nhưng do học dở nên không thể du học ; mải đến năm 47 tuổi mới được sang Mỷ vì đả có tốt nghiệp đại học trong 6 năm về môn “lao động cải tạo” ở VN ! ) .
 
       D / Nay tôi xin nói về ý nghỉa của số 22 đối với tướng Cao văn Viên . Củng xin nói thêm là trong cuộc chiến trước 1975 , nhân dân và chính quyền miền Nam được xem là một thực thể (entity) chính trị của nhửng người quốc gia . Ta thử cộng lại : năm 1975 sẻ là 1 + 9 + 7 + 5 = 22 . Theo bà Goodman thì “ số 22 được tượng trưng bởi hình ảnh một Người Tốt (Good Man) bị mờ mắt vì sự ngu dốt (folly) của nhửng kẻ khác . . . Trên hình vẻ cho thấy người này có vẻ không phòng thủ gì trước một con cọp dử đang bắt đầu tấn công hắn . Số này củng cảnh báo về ảo tưởng và lừa dối . Nó cho thấy một người tốt (hoặc thực thể) đang sống trong hạnh phúc và thỏa mản , và tin tưởng không có vấn đề gì xảy ra , nhưng thực tế thì không phải vậy . Nó cho thấy một người đang nằm mơ , chỉ thức dậy khi nguy hiểm bao quanh hắn , nhưng lúc đó thì quá muộn . Nó cảnh báo về nhửng sai lầm trong phán đoán , khi đặt lòng tin vào nhửng kẻ không đáng tin cậy . . . “ . 
    Nếu 22 là ngày sanh , người này nên cẩn thận và luôn  cảnh giác/canh chừng  ( caution and watchfulness )  trong nhửng vấn đề về nghề nghiệp và cá nhân . Điều bắt buộc (karmic obligation) đối với người này phải tỉnh táo hơn  , phải kềm chế (curb) sự lười biếng về tâm linh  , và phát triển hơn sự năng nổ về tâm linh – để thực hiện khả năng riêng (của mình) nhằm thay đổi sự việc , củng như để ngăn ngừa sự thất bại bắng cách quyết tâm đạt được sự thành công ( by simply ordaining success ) . Khi trách nhiệm cá nhân này được nhìn nhận , thực hành và cuối cùng  được  nắm vửng , người mang số 22 sẻ làm chủ mọi sự kiện , không còn bị mờ mắt bởi sự ngu dốt của kẻ khác , và sẻ thấy ý tưởng và niềm mơ ước của mình được thực hiện . Bất cứ ai sanh ngày 22 cần phải đọc đoạn nói về số 4 và 8 , bắt đầu ở trang 269 “ .
(Dịch từ trang 258-259 của sách đả dẩn) .
Xin quý bạn hảy thay thế các từ một người tốt , người này hay thực thể bằng từ miền Nam Việt Nam thì quý bạn sẻ thấy sự chính xác một cách lạ thường của nhửng gì đả xảy ra vào năm định mệnh 1975 ở miền Nam Việt Nam .
 
      E / Không ai biết chính xác khoa tử vi này có từ lúc nào nhưng mọi người đều công nhận ông tổ của nó là Pythagore , nhà toán học cổ Hy Lạp (569-475 trước công nguyên) . Các bạn đả thấy sự ứng hợp một cách lạ thường giủa nhửng giải thích từ xa xưa về ý nghỉa của số 13 và 22 và nhửng gì đả xảy ra cho đất nước và dân tộc thân yêu của chúng ta trong và sau năm 1975 .

     F / Trị số của các chử :
a = 1 , b = 2 , c = 3 , d = 4 , e = 5 , f = 8 , g = 3 , h = 5 , I = 1 , j = 1 , k = 2 , l = 3 , m = 4 , n = 5 , o = 7 , p = 8 , q = 1 , r = 2 , s = 3 , t = 4 , u = 6 , v = 6 , w = 6 , x = 5 , y = 1 và z = 7 .

     G / Tôi viết bài này không nhằm chỉ trích năm nhân vật đả có quyết định dẩn đến sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam vì tôi rất thích câu châm ngôn “ chúng ta không thể quên , nhưng chúng ta có thể tha thứ ' (we can't forget , but we can forgive) và xin nhớ rằng sự sụp đổ này không chỉ đem đến tai họa mà thôi . (Xin xem lại phần C 4 ) . Tôi chỉ muốn cùng các bạn xem lại một giai đoạn đau thương nhất trong lịch sử Việt Nam qua lăng kính kỳ diệu của khoa tử vi Lý Thuyết Số . Xin chào quí bạn ./.


Nhiều người Việt ở Nhật bị kỳ thị vì ăn cắp vặt? http://www.gocnhinalan.com/bai-cua-khach/nhiu-ngi-vit-nht-cp-vt.html 
Dưới đây là một còm trên bài viết này :
JackZhang says:
Công đoàn tỉnh Aichi dọa kiện đại sứ quán Việt Nam tại Nhật
Sau nhiều vụ việc làm ăn bẩn thỉu, gian lận, trộm cắp của cơ quan chức quyền VN tại Nhật như:
- Vụ PCI (một tập đoàn chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn của Nhật phải đưa hối lộ để được trúng thầu các dự án thực hiện bằng tiền viện trợ của Nhật tại Việt Nam)
- Vụ nhân viên, tiếp viên và phi công của Vietnam Airlines, tổ chức trộm cắp hàng hóa trong các trung tâm mua sắm tại Nhật để vận chuyển hàng gian về Việt Nam tiêu thụ
- Vụ “tu nghiệp sinh” Việt Nam bị các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của chính quyền CSVN bóc lột như nô lệ
- Vụ lãnh sự quán VN tại Osaka tại Nhật bán passport Việt Nam cho tất cả mọi người
- Vụ đại sứ quán VN bị một công đoàn địa phương tại Nhật kiện
Trên nhiều diễn đàn điện tử tại Nhật, nhiều người Nhật cực đoan đang kêu gọi tẩy chay người Việt, đuổi hết người Việt về nước, cắt vĩnh viễn các khoản viện trợ cho Việt Nam. Có người so sánh viện trợ cho Việt Nam uổng hơn là đổ tiền vào… cống, bởi tiền thuế của họ đang được dùng để nuôi bọn “giòi bọ” ở VN…
Cảnh sát Nhật khám xét toàn bộ các văn phòng đại diện của Vietnam Airlines tại Nhật. Người phát ngôn của Vietnam Airlines vừa chính thức xác nhận: Tất cả các văn phòng đại diện của Vietnam Airlines tại Nhật vừa bị cảnh sát Nhật lục soát để tìm kiếm hàng hóa bị ăn cắp.
Vụ tai tiếng liên quan tới Vietnam Airlines bắt đầu từ ngày 10 tháng 8, sau khi cảnh sát quận Kumamoto bắt quả tang hai “tu nghiệp sinh” người Việt đang ăn cắp hàng hóa của một trung tâm mua sắm. Hai “tu nghiệp sinh” này đến Nhật để làm việc cho một công ty xây dựng hồi tháng 2. Mỗi tháng họ nhận được 70,000 Yen nhưng bị các doanh nghiệp “xuất khẩu lao động” của chính quyền CSVN “trấn lột” 50,000 Yen/tháng nên không đủ sống và được một nhân viên của Vietnam Airlines tại Nhật tuyển mộ để đi ăn cắp mỹ phẩm… Báo chí Nhật cho biết, cảnh sát Nhật đã xác định có tới 85 người Việt liên quan tới tổ chức trộm cắp này. Ðồng thời, cảnh sát Nhật tuyên bố, việc đưa “tu nghiệp sinh” Việt Nam sang Nhật làm việc có dấu hiệu buôn người nên đã đề nghị cảnh sát hình sự quốc tế hợp tác điều tra.
Hôm 17 tháng 12, cảnh sát Nhật đã bắt quả tang, phi công của Vietnam Airlines đang vận chuyển hàng gian về VN. Cảnh sát xác định có khoảng 50 nhân viên (bao gồm cả phi công lẫn tiếp viên hàng không) của Vietnam Airlines dính líu đến tổ chức trộm cắp và vận chuyển hàng gian đang bị điều tra. Vì các nghi can cùng cho biết những Văn phòng đại diện của Vietnam Airlines tại Nhật là nơi cất giấu hàng trộm cắp nên một đợt khám xét những văn phòng này vừa được thực hiện.
Theo báo điện tử VnExpress, người phát ngôn của Vietnam Airlines chỉ xác nhận cảnh sát Nhật đã khám xét các văn phòng của hãng này và đã “làm việc” với một số tiếp viên, phi công. Phía Vietnam Airlines từ chối bình luận trước khi giới hữu trách ở Nhật công bố thông tin. “Tu nghiệp sinh” Việt Nam tại Nhật – một loại nô lệ…Vụ bê bối liên quan tới Vietnam Airlines tại Nhật không chỉ giới hạn trong phạm vi tổ chức-vận chuyển-tiêu thụ hàng ăn cắp. Báo chí Nhật và một số du học sinh tại Nhật đã cung cấp thêm nhiều thông tin để lý giải vì sao “tu nghiệp sinh” Việt Nam tại Nhật phải tham gia vào các tổ chức trộm cắp do nhân viên Vietnam Airlines tổ chức. Về lý thuyết, “tu nghiệp sinh” là một dạng học nghề nên dù sang Nhật để làm thuê song không được trả lương mà chỉ được hưởng “trợ cấp”. Ðó là sự bất công thứ nhất mà người nghèo ở Việt Nam phải gánh chịu khi chập nhận sang Nhật làm thuê.
Bất công thứ hai là muốn được đi sang Nhật làm “tu nghiệp sinh”, những người nghèo ở Việt Nam phải đóng khoảng 1 triệu Yen/người cho Sovilaco hoặc Suleco (những doanh nghiệp quốc doanh, độc quyền xuất khẩu lao động sang Nhật). Vì sợ “tu nghiệp sinh” bỏ trốn, Nguyễn Gia Liêm – đại diện của Bộ Lao Ðộng Thương Binh Xã Hội được cử sang Nhật để “giám sát, bảo vệ quyền lợi cho người lao động Việt Nam” đã yêu cầu giới chủ ở Nhật thu giữ passport, thẻ ngoại kiều của “tu nghiệp sinh” nhằm bảo vệ quyền lợi cho Sovilaco hoặc Suleco. Ða số chủ hãng của Nhật chỉ dám giữ passport của “tu nghiệp sinh” vì thu giữ giấy tờ tùy thân của người khác là vi phạm luật pháp của Nhật.
Gần như tất cả “tu nghiệp sinh” tại Nhật phải làm việc khoảng 20 tiếng/ngày và 7 ngày/tuần nhưng chỉ được trả “trợ cấp” 70,000 Yen/tháng (khoản thu nhập chỉ bằng một nửa mức thu nhập tối thiểu) vì là… “tu nghiệp sinh”. Bất công thứ ba là 50% khoản trợ cấp 70,000 Yen/tháng đó được giới chủ Nhật chuyển vào tài khoản của Sovilaco hoặc Suleco tại Nhật, để Sovilaco hoặc Suleco khống chế “tu nghiệp sinh”: Một mặt ngăn ngừa họ bỏ trốn do lao động cực nhọc, lương thấp, mặt khác để hưởng tiền lời. Nếu “tu nghiệp sinh” đau bệnh, xin trở về nguyên quán sớm hoặc có lỗi lầm dẫn tới bị sa thải trước khi “hợp đồng gửi đi làm tu nghiệp sinh” hết hạn, Sovilaco hoặc Suleco sẽ tịch thu toàn bộ số tiền 50% đã giữ mỗi tháng để “bồi thường các thiệt hại do vi phạm hợp đồng”. Ðó là chưa kể, mỗi tháng, một tu nghiệp sinh còn phải trả cho Sovilaco hoặc Suleco 10,000 Yen “quản lý phí”.
Một người Việt, sống tại Nhật khẳng định: “Với 25,000 Yen còn lại, phải dành 10,000 Yen trả tiền nhà/tháng, 15,000 Yen để trả các loại chi phí ăn, uống, điện, nước, ga,… gái không làm điếm, trai không ăn cắp cho bọn hàng không Việt Nam mới là chuyện lạ vì họ đã bị bóc lột đến tận xương tủy. Mong sao cảnh sát Nhật phối hợp với ICPO (Hình cảnh Quốc tế), điều tra, hốt hết bọn bất lương trong các đường dây buôn người của chính phủ Việt Nam như họ đã tuyên bố”…..Viên chức ngoại giao Việt Nam tại Nhật: Bẩn thỉu và thô lỗ Bên cạnh các scandal “PCI”, “Vietnam Airlines”, “Tu nghiệp sinh”,… các viên chức ngoại giao của Việt Nam tại Nhật cũng đang tạo ra vô số tai tiếng.
Từ dư luận, báo chí Nhật đã cử phóng viên điều tra việc các cơ quan ngoại giao của Việt Nam tại Nhật bán giấy tờ giả. Một phóng viên Nhật đã thử liên lạc và cuối cùng mua được một passport từ lãnh sự quán VN tại Osaka với giá chỉ có 30,000 Yen, dù anh ta hoàn toàn không phải là công dân Việt Nam và không biết nói tiếng Việt.
Ngoài vụ “Quốc tịch Việt Nam trị giá 30,000 Yen”, tòa đại sứ VN tại Tokyo cũng đang nằm trong tầm ngắm do bị nghi chuyên chứng thực các bằng lái xe giả (để người sử dụng được miễn thi lấy bằng lái xe tại Nhật). Sở Cảnh sát Tokyo đã ban hành một chỉ thị, theo đó, những giấy tờ do tòa đại sứ VN chứng thực chỉ có giá trị sử dụng sau khi đã được Bộ Ngoại Giao Nhật chứng thực lại, rằng con dấu của Tòa Ðại sứ VN trên giấy tờ là dấu… thực.
Vụ mới nhất, đang khiến dân chúng Nhật phẫn nộ đó là việc một viên chức của tòa đại sứ VN tại Nhật lăng mạ công đoàn tỉnh Aichi (Airoren), một chi nhánh thuộc Tổng Công Ðoàn Nhật. Trước đó, Airoren đã nhận sự ủy thác của tổ chức công đoàn đại diện cho các công nhân làm việc cho Toyota, yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho 64 “tu nghiệp sinh” Việt Nam, vốn đang bị Sovilaco, Suleco của phía chính quyền VN và các công ty trung gian ở Nhật bóc lột.
Sau khi Airoren liên lạc với 64 “tu nghiệp sinh” này để làm các thủ thục thay mặt họ nộp đơn kiện đòi quyền lợi, cả 64 người đã bị viên chức của tòa đại sứ VN tại Nhật gọi lên “làm việc”. Trong buổi “làm việc” đó, “tu nghiệp sinh” được yêu cầu chấm dứt quan hệ với Airoren bởi Airoren là một “tổ chức phi pháp” hoạt động như “Mafia”. Ai đó trong số 64 “tu nghiệp sinh” đã bí mật ghi âm và sau khi băng ghi âm được chuyển cho Airoren, Airoren đã gửi văn bản phản kháng cho chính quyền VN, yêu cầu thủ tướng VN phải xin lỗi, nếu không, họ sẽ kiện đại sứ quán VN ra tòa án Nhật.
Trước sự kiện này, nhiều nhận xét: “Chắc chắn những nhân viên của tòa đại sứ là đảng viên. Họ phải hiểu rằng đảng là đại diện của giai cấp công nhân nhưng họ đã không đứng về phía công nhân mà còn sỉ nhục người ta. Họ là nhân viên ngoại giao nhưng quên mất nghiệp đoàn lao động là biểu tượng của nhân dân lao động Nhật”. Như Tanaka Masao – một cảnh sát viên của tỉnh Gunma đang tham gia điều tra vụ hàng không Việt Nam, có cha từng là cố vấn quân sự cao cấp của Việt Minh, nói như thế này với báo chí Nhật: Tôi không thể tưởng tưởng và hiểu được, tại sao một dân tộc có 4,000 năm văn hiến, dũng cảm, lại để thế hệ con cháu phải đi làm nô lệ ở xứ người như vậy”.
Chính phủ còn làm bậy thì dân làm bậy là chuyện đương nhiên…Thật là NHỤC NHÃ thay

Monday, May 27, 2013

Trận Tuyến Truyền Thông
Trần Quốc Kháng (1)
Chắc hẳn các bậc cao niên ở Hà Nội vẫn còn nhớ xảo kế Buôn Thần Bán Thánh hồi tháng 7 năm 1954?
‘Trong quẻ xâm này, Thánh dạy chớ có đi xa, nhất là đi về hướng Nam. Không nên đi tàu bay, hay tàu thủy … Năm nay mà đi xa thì dễ gặp sóng gió, hay tai nạn hiểm nghèo. Cần săn sóc mồ mả tổ tiên rồi cầu xin điều gì, sẽ được điều nấy’.
Vì tin vào lời ‘Thánh dạy’ trong quẻ xâm có nội dung đại cương như thế, một số khá đông dân cư ở Hà Nội, đã bỏ dự định vào Nam tỵ nạn Cộng Sản. Trong đó có thân nhân của chúng tôi. Hồi ấy, ít người biết VC đội lốt thầy tu, xâm nhập vào chùa chiền — như ở đền Quán Thánh, chùa Trấn Quốc và nhiều nơi khác — để thực hiện xảo kế Buôn Thần Bán Thánh kể trên. Hệ quả là nhiều nạn nhân bị nhiễm độc, rồi sa vào thảm cảnh, gia đình ly tán: Người tin theo lời ‘Thánh dạy’ trong quẻ xâm thì ở lại quê nha để ‘săn sóc mồ mả tổ tiên’. Kẻ sợ hãi Cộng Sản hơn là sợ ‘tai nạn hiểm nghèo’ thì nhất quyết, tìm đường trốn vào Nam tỵ nạn.
Thật ra, xảo kế nêu trên chỉ là trường hợp điển hình — trong muôn vàn trường hợp khác —cho thấy, tác hại do SÁCH LƯỢC tuyên truyền lừa bịp của Cộng Sản trên ‘Trận Tuyến Truyền Thông’ (TTTT).
Chúng tôi xin minh định, TTTT được hiểu theo nghĩa rộng, đó là lãnh vực Tâm Lý Chiến, bao gồm việc loan tin, hay phổ biến tác phẩm (văn thơ, nhạc kịch, phim ảnh, hội hoạv.v) qua nhiều phương tiện khác nhau, như Internet, đài phát thanh, đài truyền hình, sách báo, truyền đơn, băng video, đĩa DVD v.v. với CHỦ Ý tạo ảnh hưởng CÓ LỢI cho phía chủ trương và gây TAI HẠI cho phía đối kháng.
Ôn lại bài học lịch sử thời chiến tranh VN (1954-1975), nói khái quát thì Quân Đội VNCH và Hoa Kỳ không thua Cộng Sản trên chiến trường. Nhưng ngược lại, trên TTTT thì phía VNCH và Hoa Kỳ bị thảm bại: Cả hai quốc gia, nhất là Hoa Kỳ, chỉ chú trọng vào sức mạnh quân sự, nên không có kế hoạch nào hữu hiệu để làm SÁNG TỎ CHÍNH NGHĨA trong cuộc chiến chống lại CS Bắc Việt, làm tay sai cho Nga-Tàu, đánh chiếm miền Nam Tự Do.Vì vậy, dưluận quần chúng Mỹ mới ‘nhiễm độc’, NGỘ NHẬN cho rằng chính quyền Mỹ là ‘tội phạm chiến tranh’!
Chính Tổng Thống R. Nixon đã xác nhận sự thật này trong cuốn ‘No More Vietnams’. Ngay Chương 1 của cuốn sách (từ trang 9 đến trang 23), TT Nixon đã chứng minh, phía CS đã tung ra 22 HUYỀN THOẠI trên TTTT để lừa gạt quần chúng.
Hệ quả là phong trào Phản Chiến ở Mỹ lên cao, gây áp lực, khiến Quân Đội Mỹ phải rút lui khỏi chiến trường năm 1973. Không những thế, Quốc Hội Mỹ còn cắt đứt viện trợ cho VNCH. Quân Đội VNCH không đủ vũ khí để chiến đấu (1973-1975) thì đất nước sa vào ách nô lệ Mác-Lênin ngày 30-4-1975 là lẽ đương nhiên.

Trước kinh nghiệm xương máu nêu trên, nhiều người cầm bút như chúng tôi mới đặt trọng tâm vào việc viết sách báo để góp phần trên TTTT: Nêu cao Chính Nghĩa Quốc Gia Dân Tộc, nung nấu ý chí đấu tranh, vạch trần tội ác và xảo kế của CS Mác-Lênin. Đến nay, cuốn Ebook TTTT này được thành hình không ngoài chủ đích ấy.
***
Tuyển Tập Tham Luận& Bình
Luận Thời Sự (*)
Free downloads for personal,
educational or academic uses, but NOT
for trade or commercial purposes. (1)
Hàng chục năm trước đây, khi bàn luận về việc sử dụng CHỮ NGHĨA trên TTTT (qua bản tin, lời bình luận, hay trong sách báo v.v.), triết gia Eric Hoffer (1902-1983) đã nêu lên nhận định sâu sắc:
“We know that words cannot move mountains, but they can move the multitude; and men are more ready to fight and die for a word than for anything else. Words shape thought, stir feeling, and beget action; they kill and revive, corrupt and cure.
The ‘men-of-words’ priests, prophets, intellectuals have played a more decisive role in history than military leaders, statesmen, and businessmen”.
Xin lược dịch: “Chúng ta biết chữ nghĩa không thể di chuyểnđược núi đồi, nhưng có thể lay chuyển được cả biển người. Và số người sẵn sàng chiến đấu và chết vì chữ nghĩa nhiều hơn vì chuyện khác. Chữ nghĩa uốn nắn tư tưởng, khơi dậy nguồn xúc cảm và phát sinh ra hành động. Chữ nghĩa huỷ diệt và làm sống lại; làm hư hỏng và chữa trị.
Những‘người của chữ nghĩa’ chẳng hạn như các vị Linh Mục, các nhà Tiên Tri, các vịTrí Thức, thường giữ vai trò quyết định trong lịch sử nhiều hơn là các cấp lãnhđạo quân đội, hay các chính trị gia và thương gia”.
Tương tự như vậy, khi bàn luận vềsức mạnh của chữ nghĩa, người VN thường nhắc đến lời nói của cổ nhân:
‘Nhất ngôn hưng quốc. Nhất ngôn táng quốc’. Có nghĩa là: ‘Một lời nói làm đất nước thịnh vượng. Một lời nói khiến đất nước suy vong’.
Triết gia Eric Hoffer người Hoa Kỳ và tác phẩm “The True Believer”
Điển hình trong lịch sử VN là lời nói ‘hưng quốc’ của Trần Thủ Độ và ngược lại là lời nói ‘táng quốc’ của Trần Nhật Hiệu. Thiết tưởng, đây là bài học Tâm Lý Chiến, cần được lưu tâm hàngđầu trên TTTT.
Thật vậy. Năm 1257, trong lúc quân Mông Cổ tiến quân như vũ bão, đánh chiếm VN lần Thứ Nhất, vua Trần Thái Tông cùng quần thần phải rút lui về sông Thiên Mạc. KhiVua ngựthuyền đến hỏi quan Đại Thần là Trần Nhật Hiệu về kế hoạch chống giặc thì ông ta dùng tay vạch trên mặt nước hai chữ ‘nhập Tống’ — ngụ ý khuyên Vua chạy ra nước ngoài. Rõ ràng, vì khiếp nhược trước sức mạnh của giặc thù, Trần Nhật Hiệu chủ bại, ngỏ lời ‘táng quốc’.
Nhưng đến khi vua Thái Tông hỏi Thái Sư là Trần Thủ Độthì nhà vua nhận thấy lòng son sắt của bậc lão thần, quyết tâm chống giặc đến cùng:
‘Đầu tôi chưa rơi xuống đất thì xin bệ hạ đừng lo’!
Nhờ lời ‘hưng quốc’ ấy của Trần Thủ Độ, vua Trần Thái Tông vững tâm, lãnh đạo quân dân chuyển bại thành thắng —đánh tan quân Mông Cổ.
Thế rồi sau đó 26 năm, quân Mông Cổ lại sang xâm lăng VN Lần Thứ Hai (1283-1285). Thế giặc lần này mạnh hơn lần trước. Hưng Đạo Vương nhận thấy bất lợi, nên phải rút quân khỏi Lạng Sơn. Thấy vậy, vua Trần Nhân Tông liền gọi Hưng Đạo về Hải Dương để cùng Ngài, bàn việc chống quân Mông Cổ.
‘Thế giặc lớn như vậy, chống với nó e dân sự sẽ tàn hại, hay là hàng chúng để cứu lấy dân’?
Hưng Đạo Vương khẳng khái trả lời nhà vua:
‘Bệ Hạ vì lòng thương dân mà nghĩ như vậy, nhưng còn tôn miếu xã tắc thì sao? Nếu Bệ Hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu tôi trước đã”.
Nhờ lời ‘hưng quốc’ nêu trên, vua Trần Nhân Tông vững tâm và quân dân VN đoàn kết, đánh tan quân Mông Cổ Lần Thứ Hai.
Như vậy thì quả thật, sức mạnh của chữ nghĩa đã góp phần không nhỏ trong lãnh vực tâm lý, quyết định việc thành bại trong cuộc chiến. Nói cách khác, đó là vấn đề Tâm Lý Chiến. Chủ đích là động viên tinh thần chống giặc, hoặc ngược lại là làm băng hoại tinh thần tranhđấu.
Tuy nhiên, đối với CS thì bất kể thời bình hay thời chiến, chúng luôn luôn sử dụng chữ nghĩa mỹ miều để lừa bịp dân chúng: Thường xuyên thêu dệt huyền thoại và đánh bóng lãnh tụ; thường xuyên cưỡng từ đoạt lý để nguỵ tạo ‘chính nghĩa’; thường xuyên tung ra bánh vẽ để xoa dịu khổ đau, hay lòng căm phẫn của dân chúng v.v.
Chính ông ‘Hoàng Đế Đỏ’ Mikhail Gorbachev, cựu Chủ Tịch Liên Bang Sô-Viết sau khi cải tà quy chính, đã xác nhận trước cử toạ trong buổi thuyết trình hôm 18-3-2002 tại trường Columbia University Hoa Kỳ — về đề tài ‘Nước Nga, Hiện Tại Và Tương Lai’:
‘Chế độ Cộng Sản mà tôi phục vụ gần cả đời người, toàn là tuyên truyền lừa bịp. Người Cộng Sản chúng tôi dựa vào những điều gian dối để che dấu sự thật (relied on lies to hide the fact)……
‘Trong khi Liên Bang Sô-Viết, càng ngày càng tụt hậu, ở phía sau các nước Tư Bản Tây Phương rất xa thì người Cộng Sản rao rêu là ‘Chú nghĩa Tư Bản đang sa vào thảm trạng phá sản, còn chủ nghĩa Cộng Sản đang phát triển tốt đẹp’. Điều ấy, hoàn toàn là luận điệu tuyên truyền lừa bịp quần chúng’.
Trong cuốn ‘Sách Lược Xâm Lăng Của CS’ do ông Minh Võ biên soạn, trên trang 112 có đoạn đã viết nguyên văn:
‘Nhưng công tác mà CSQT chú ý hơn cả và cũng gây ảnh-hưởng tai-hại nhất cho thế-giới tự-do là công-tác tuyên-truyền’…..
‘Đểlàm công-tác này, CS đã sử dụng những phương-tiện, nhân-sự và tài-chính khổng-lồ mà chi phí hàng năm, theo nữ sĩ Suzane Labin, lên tới 2 tỷ Mỹ-Kim. Số người phục-vụ cho công- tác này lên tới 500 ngàn’.
Nhìn lại sự thật trong lịch sử cậnđại (1945-2012), ai cũng thấy: Hàng chục triệu người Việt, liên tục bị Hồ Chí Minh và đảng CSVN lừa bịp. Nào là chiêu bài ‘đánh Pháp chống Mỹ cứu nước’. Nào là chiêu bài ‘cách mạng, giải phóng dân tộc’. Nào là chiêu bài ‘hoà hợp hoà giải. Nào là mỹ từ ‘dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh’ v.v.
Trên thực tế, rõ ràng nhất là sau khi đất nước thống nhất dưới ÁCH NÔ LỆ MÁC-LÊNIN, cụm từ mỹ miều ‘Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc’ đã hiện nguyên hình là ba cái ‘bánh vẽ vĩ đại’ mà ‘Bác và Đảng’ đã tung ra để nhử mồi quần chúng.
Không những CSVN lừa bịp đồng bào VN mà chúng còn cấu kết với Mỹ Cộng và bọn truyền thông bất chính để lừa bịp dân chúng Hoa Kỳ. Trên trang 111 của cuốn eBook ‘How the Americong Won the War in Vietnam’, Tiến Sĩ Roger Canfield đã nêu lên hậu quả do quỷ kế tuyên truyền của Cộng Sản Hà Nội và bọn Mỹ Cộng gây ra:
Hanoi’s propaganda was so successful that the U.S. was summarily judged as the immoral actor in the Viet Nam War and Hanoi often could confidently count in its order of battle ABC, CBS, and NBC, the New York Times, the Washington Postand the Los Angeles Times, and the university faculties of Harvard, Cornell, Columbia and many more.Propaganda and psychological warfare multiplied the effectiveness of Hanoi’s ruthless Communist leaders, decades-bloodied troops, and, of course, the NVA’s fine Soviet tanks and artillery and terrorized Vietnamese civilians”.
Xin lược dịch: Việc tuyên truyền của [Cộng Sản] Hà Nội đã thành công, khiến dư luận lên án, nói tóm lược thì ‘Hoa Kỳ là kẻ vô luân trong chiến tranh VN và Hà Nội thường tự tin trong việc ‘đặt hàng’ trên mặt trận truyền thông qua các đài truyền hình ABC, CBS, và NBC; báo the New York Times,the Washington Post và the Los Angeles Times; cùng các phân khoa của các trường đại học Harvard, Cornell , Columbia và nhiều trường khác. Việc tuyên truyền và chiến tranh tâm lý đã gia tăng hiệu lực bội phần [giúp cho] bọn lãnh đạo tàn ác của CS Hà Nội, bọn binh lính [VC miền Nam] khát máu trong nhiều thập niên, và dĩ nhiên, giúp cho Bộ Đội Bắc Việt, sử dụng xe tăng và đại pháo tối tân của Sô-Viết tàn sát dân chúng VN”.
Thật ra, trước đây nhiều năm, Tổng Thống Mỹ Richard Nixon đã minh định, chiến tranh VN (1954-1975) là cuộc chiến có nhiều gian dối nhất trong lịch sử Mỹ(Vietnam is the most lied-about war in our nation’s history). Chỉ vì giới truyền thông thiên tả đã loan tin lươn lẹo làm nhiều người ngộ nhận, nên gây ra thảm họa khốc liệt.
Trên trang 111 của cuốn ‘Real Peace No More Vietnams’, TT Richard Nixonđã viết: ‘No event in American history is more misunderstood than the Vietnam War. It was misreported then and it is misremembered now. Rarely have so many people been so wrong about so much. Never have the consequences of their misunderstanding been so tragic’.
Xin lược dịch: “Không biến cố nào trong lịch sử Mỹ bị [nhiều người] hiểu lầm bằng chiến tranh VN. Nó đã bị [giới truyền thông] trình bầy lươn lẹo để rồi, bây giờ [chuyện gian dối ấy] chìm vào lãng quên. Điều hiếm hoi [trong lịch sử] là có quá nhiều người lầm lẫn mà lại lầm lẫn quá nhiều. Chưa bao giờ có những hậu quả [tại hại] của chuyện lầm lẫn trầm trọng như vậy”.

Trong đoạn kế tiếp, TT Nixon còn cho biết, có trên 1200 cuốn sách và hàng ngàn tài liệu khác xuất bản ở Mỹ, xoay quanh chủ đề Viet Nam với nỗ lực, thêu dệt ẢO TƯỞNG, khiến nhiều người hiểu sai sự thật về chiến tranh VN; hiểu sai về ‘Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam’; hiểu sai về quốc tặc Hồ Chí Minh; hiểu sai sự thật về TT Ngô Đình Điệm cùng nền Đệ Nhất và Đệ Nhị VNCH. Hệ quả là Chính Nghĩa và quyền Tự Vệ của VNCH bị lu mờ trong cuộc chiến chống lại CS Bắc Việt — đánh chiếm miền Nam Tự Do.
Như phần trên đã nêu lên, càng ngày phong trào phản chiến ở Mỹ càng lên cao. Mỗi tuần, có hàng trăm ngàn người rầm rộ biểu tỉnh,đòi hỏi chính phủ Hoa Kỳ chấm dứt chiến tranh. Nhưng họ không hề đòi hỏi CS Bắc Việt từ bỏ ý đồ đánh chiếm miền Nam TựDo. Nhiều nhân vật nổi tiếng như Dr Martin Luther King, Dr. Spock, tài tử Jane Fonda, ca sĩ Joan Baez và Nghị Sĩ John Kerry v.v đã góp phần không nhỏ, chống lại NGHĨA HIỆP của Hoa Kỳ — gởi quân tham chiến và viện trợ cho VNCH.


Biểu tình phản chiến tại Mỹ do báo chí và bọn thân cộng giựt giây, xuyên tạc thời Tổng Thống Richard Nixon 1970.
Trong thời gian này, có khoảng 200 tổ chức chống chiến tranh ở nước Mỹ. Có khoảng 60% thanh niên Mỹ trốn quân dịch. Trong đó có 75 ngàn người, kể cả cựu TT Bill Clinton, đã sang các nước khác để hoạt động chống chiến tranh VN.
Như phần trên đã nêu lên, sự kiện này chứng tỏ, VNCH và Hoa Kỳ không có kế hoạch nào hữu hiệu để làm SÁNG TỎ CHÍNH NGHĨA trong cuộc chiến chống lại CS Bắc Việt, làm tay sai cho Nga-Tàu, đánh chiếm miền Nam TựDo. Ngược lại còn bị kẻ thù bôi nhọ. Hậu quả tai hại là Hoa Kỳ phải rút lui khỏi chiến trường và cắt đứt viện trợ cho VNCH.
Thảm cảnh nước mất nhà tan xẩy ra hồi Tháng Tư Đen 1975 là chuyện không thể tránh khỏi. Đây là bài học lịch sử OAN KHIẾN cho Chính Nghĩa; OAN KHIẾN cho VNCH và Dân Chúng VN; OAN KHIÊN cho Quân Đội Hoa Kỳ thi hành nghĩa vụ ‘HIỆP SĨ’, ngăn chặn THẢM HỌA CS tràn vào miền Nam Tự Do.
Từ đó đến nay, hàng chục năm trời đã trôi qua. Trên TTTT quốc nội và hải ngoại, CSVN vẫn tiếp tục giả nhân giả nghĩa để lừa già dối trẻ. Nghị Quyết 36 của CSVN là chứng cớ rõ ràng nhất cho thấy ý đồ của chúng muốn khống chế Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn CS — được nguỵ trang với nhiều cụm từ ‘hoa lá cành’ khác nhau.
Mặc dù chủ nghĩa CS, thực sự chỉ là chỉ THẢM HỌA cho Nhân Loại và hoàn toàn, đã bị phá sản. Mặc dù ĐẾ QUỐC ĐỎ là Liên Bang Sô-Viếtđã tan rã. Nhưng hàng ngàn cuốn sách — kể cả những cuốn hồi ký ba láp, cùng tài liệu bóp méo sự thật lịch sử — vẫn còn nguyên trong các thư viện, hoặc trong văn khố ở các nước Âu Mỹ.
Chẳng hạn như cuốn phim ‘Vietnam: A Television History’ —có nhiều đoạn chắp nối ‘kịch ảnh’, hay tài liệu tuyên truyền của CS, nhưng vẫnđược đài PBS ở Mỹ trình chiếu! Lộ liễu nhất là đoạn Hồ Chí Minh diễn trò ‘thân thiện’ với dân chúng qua màn kịch cười nói với mấy cháu ‘nhi đồng’ — ở bên cạnhđống rơm trong khi cô thư ký mang công văn cho gã xem.
Hàng ngàn tài liệu như trên, tác dụng như những hang ổ VIRUS, có thể làm cho nhiều người chưa có kinh nghiệm, hay thiếu suy nghĩ, rất dễ dàng bị nhiễm độc tuyên truyền của CS.
Bà con chớ có tưởng bở, bộ phim Mỹ này đầy dẫy sự gian dối trong đó., một thời đã bị đồng bào tị nạn biểu tình phản đối.
Không những thế, từ nhiều năm qua, CSVN còn cho bọn VĂN NÔ đóng kịch ‘phản tỉnh, chống đảng’. Chúng thay phiên nhau, liên tục tung ra tác phẩm này, bài viết nọ. Nói chung, tất cả tác phẩm của chúng đều tiềm ẩn nọc độc, lẩn quẩn trong mấy điểm chính yếu, được tóm lược như sau:
1- Cổ xuý chiêu bài ‘Hoà Hợp Hoà Giải DÂN TỘC’ mà không hề nêu lên vấn đề cốt yếu: CSVN phải từ bỏ Mác-Lênin, trở về với Quốc Gia Dân Tộc. Rõ ràng, dã tâm của chúng là muốn đầu độc đồng bào tỵ nạn ở hải ngoại, chấp nhận cúi đầu sinh hoạt theo ‘luật rừng’ dưới ách đô hộ Mác-Lênin.
2- Gây phân hoá trong cộng đồng VN Tỵ Nạn — khởi sự là bất đồng ý kiến về tác phẩm của chúng, rồi sinh ra bất hoà với nhau.
3- Giảm thiểu, hoặc chạy tội cho Hồ Chí Minh và đồng đảng — đã mang thảm họa Mác-Lênin về VN dầy xéo quê cha đất tổ.
4- Ca tụng công lao HÃO HUYỀN của Hồ và đồng đảng trong 30 năm ‘đánh Pháp, chống Mỹ’.
Dù sao, sự thật lịch sử đã cho thấy, CSVN là bọn TỘI ĐỒ kinh hoàng nhất trong lịch sử cận đại (1945-2012). Chỉ vì dã tâm của Hồ Chí Minh và đồng đảng, làm tay sai cho Nga-Tàu, LỪA BỊP đồng bào qua chiêu bài ‘độc lập, tự do, hạnh phúc’ để đem thảm họa Mác-Lênin vào VN, nên VN mới trởthành bãi chiến trường thảm khốc giữa hai khối Tư Bản Âu Mỹ và khối CS Nga-Tàu (1945-1975). Chính Lê Duẩn, Tổng Bí Thư đảng CSVN, đã xác nhận sự thật nêu trên khi tuyên bố với đồng đảng năm 1976:
‘Chúng ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Sô, đánh cho Trung Quốc…. và chúng ta đã thành công trong việc cắm lá cờ quốc tế Mác Lê trên toàn cõi Việt Nam’.
Như đã trình bầy từ phần mở đầu, trước những xảo kếthâm độc trên TTTT như vậy, đối với các thế hệ trẻ — kể cả những người có học vị hay khả năng chuyên môn cao, nhưng chưa có kinh nghiệm về CS —nếu không cẩn trọng thì rất dễ dàng bị nhiễmđộc. Nhất là các thanh thiếu niên ở trong nước, thường xuyên bị CS nhồi sọ ởhọc đường, chưa có dịp tìm hiểu sự thật về Hồ Chí Minh và đảng CSVN từ 1945 đến nay.
Tuy nhiên, đối với thành phần có TRÍ TUỆ, có LƯƠNG TRI, có TÌNH ĐỒNG BÀO thì CSVN KHÔNG THỂ NÀO ‘Trồng Người’ theo ý chúng mong muốn được. Điển hình như Blogger Huỳnh Thục Vi và hai nhạc sĩ trẻ Việt Khang (Võ Minh Trí) và Trần Vũ An Bình. Bỏ qua những chuyện khác để cô đọng vào việc đấu tranh của các đương sự hiện thời (2012), ai cũng thấy họ là những người yêu nước và can đảm. Qua 2 bài hát ‘VN Tôi Đâu’ và ‘Anh Là Ai’, Việt Khang đã nêu lên nhận định chính xác về hiện tình đất nước cùng THỰC CHẤT và TỘI ÁC của CSVN.
·“Việt Nam ơi… Thời gian quá nửa đời người….. Và ta đã tỏ tường rồi ….Giờ đây… Việt Nam còn hay đã mất…. Mà giặc Tàu ngang tàng trên quê hương ta….. Lòng nào làm ngơ trước ngoại xâm… Người người cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi…..Già trẻ…. gái trai… giơ cao tay chống quân xâm lược, chống kẻ nhu nhược bán nước Việt Nam“….
·” Anh là ai?…. Sao đang tâm làm tay sai cho Tàu ….Để ngàn năm ghi dấu…. Bàn tay nào nhuộm đầy máu đồng bào?….. Tôi không thể ngồi yên, khi nước Việt Namđang ngã nghiêng. Dân tộc tôi sắp phải đắm chìm một ngàn năm triền miên tăm tối…..”
Thiết tưởng, lời ca tiếng hát CHÂN THÀNH và THA THIẾT nêu trên đã phản ánh trung thực ý chí đấu tranh và suy tư sáng suốt của giới trẻ: Ngoài đảng CSVN, không ai có quyền lực ‘bán nước VN’ cho quân xâm lược Tàu Cộng. Ngoài đảng CSVN, không tổ chức nào có công an và bộ đội ‘làm tay sai cho Tàu’ — đánh đập, bắt giam, tra tấn, thủ tiêu những người yêu nước: ‘Bàn tay nhuộm đầy máu đồng bào’!
Mặc dù hai bài hát nêu trên bị VC ngăn cấm, nhưng chắc chắn, qua mạng lưới Internet, hoặc các phương tiện truyền thông khác, có hàng triệu người lắng nghe.
Khi cơ duyên lịch sử đến gần thì toàn dân sẽ vùng lên, xoá bỏ chế độ gian manh VC — đúng như kêu gọi của NS Việt Kháng:
“Già trẻ…. gái trai… giơ cao tay chống quân xâm lược, chống kẻ nhu nhược bán nước Việt Nam”.
     Tổng kết những phần trình bầy ở phần trên — từ trang sử oanh liệt thời Nhà Trần chống Quân Mông Cổ đến trang sử đen tối thời VNCH năm 1975 — quả thật, sức mạnh của chữ nghĩa góp phần không nhỏ trên TTTT. Đúng như triết gia Eric Hoffer đã nêu lên: Chữ nghĩa uốn nắn tư tưởng, khơi dậy nguồn xúc cảm và phát sinh ra hành động. Chữ nghĩa huỷ diệt và làm sống lại; làm hư hỏng và chữa trị.
Đây là động lực chính yếu, thúc đẩy nhiều người cầm bút như chúng tôi, viết sách báo từ nhiều năm qua để góp phần trên TTTT: Nêu cao Chính Nghĩa Quốc Gia Dân Tộc, nung nấu ý chí đấu tranh, vạch trần tội ác và xảo kế của CS Mác-Lênin. Đến nay, cuốn Ebook TTTT này được thành hình không ngoài chủ đích ấy.
San Ramon 27-12-2012
Trần Quốc Kháng
Rev 30-4-2013

Tuyển Tập Tham Luận& Bình
Luận Thời Sự (*)
Free downloads for personal,
educational or academic uses, but NOT
for trade or commercial purposes. (1)
****
Quý vị muốn nhận eBook‘Trận Tuyến Truyền Thông’
hoàn toàn miễn phí
xin viết email cho NXB LamSon
(NXBLamSon@Gmail.com).
Chúng tôi sẽ gởi toàn bộ
eBook TTTT đến Đ/C email của quý vị.
————————————————–
(*) Nhiều bài được viết trước năm 2012, nên phần thời sự có thể mất ‘thời gian tính’.  Tuy nhiên, phần chính yếu về XẢO KẾ, TỘI ÁC và THƯC CHẤT CỦA CSVN.  không có gì thay đổi – bất chấp không gian và thời gian.
(1) Copyright © by Trần Quốc Kháng Aka Đỗ Quốc Anh-Thư. All rights reserved. No part of the text in the eBook (Trận Tuyến Truyền Thông)may be reproduced, stored in a retrieval system, or transmitted, in any form or by any means, electronic, photocopying, recording, etc., without the prior written permission of Tran Quoc Khang AKA Đỗ Quốc Anh-Thư or NXB Lam Sơn (NXBHLamSon@GmailH.com).
Tác gỉa GIỮ BẢN QUYỀN tất cả các bài viết phổ biến trên Internet, hoặc báo chí ở hải ngoại.
1- Nếu quý vị đồng ý về bài viết này, xin vui lòng FWDđến các diễn đàn (Egroups), hoặc các địa chỉ Emails cá nhân. Chúng tôi gởi lời tri ân.
2- Nếu quý vị muốn phổ biến bài viết của chúng tôi trên Website,Đặc San, Tuần Báo, Nhật Báo v.v. Xin vui lòng liên lạc với chúng tôi qua địa chỉ Email: NXBLamSon@…,chúng tôi sẽ hoan hỷ phúc đáp.
3- Ngược lại, bất cứ cơ quan ngôn luận, hay cá nhân nào KHÔNG TÔN TRỌNG TÁC QUYỀN, tự ý lấy bài viết của chúng tôi sử dụng để ‘làm cảnh Chống Cộng’, hoặc có chủ đích mờ ám, sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước công luận và luật pháp. Điển hình như vài ba tuần báo ở Nam Bắc California và mấy trang Websites KHÔNG BIẾT TỰ TRỌNG, đã gây ra tệ trạng sai trái trầm trọng cho bài viết của chúng tôi. Nên buộc lòng chúng tôi phải có phản ứng, kể cả việc viết ghi chú này.
Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links:









Saturday, May 18, 2013

Các bác ơi ,
Chúng ta phải tập sống trong một đất nước dân chủ , nghĩa là mọi người được nói lên quan điểm của mình trong sự LỊCH SỰ VÀ TÔN TRỌNG LẪN NHAU . Trong còm trên , đoạn từ link (phần chữ có gạch dưới) đến gần hết bài là của còm sĩ tên Chan . Chỉ có nhận xét NHỏ ở cuối còm là của tôi .
Thế mà một bác đã phê tôi " bị man man ! Mà bày đặt nhận xét người khác về vùng miền nữa chứ , hắn cũng người miền Bắc chứ bộ , hắn viết chĩ kìa chứ không phải chỉ " . Lại nữa , một bác đã phê tôi là "Nói không thể ngửi được ! Đéo bít mình là ai !!!" .
Hai bác cho rằng tôi đang binh vực cho chế độ TƯ BảN DảY CHẾT ! Thế TẠI SAO rất nhiều ông lãnh đạo cũa VN hiện nay , có con/cháu đi học hay dâu/rể ở các nước này , như ở Thụy sĩ (con gái TT Dũng) , ở Anh (con trai út của TT Dũng) , ở Mỹ (con trai và rể của TT Dũng , cháu của cựu CT Lê đức Anh , ...) ? Và còn nhiều con cháu các cụ cũng như vậy.
Đặc biệt , bà Doan , PCT nước với câu nói nỗi tiếng "CNXH tốt đẹp gấp ngàn lần CNTB" thì " . . .từ 1981 đến 1992 . . . sau đó sang PHÁP học và làm luận án tiến sĩ quản trị kinh doanh tại Trường Quản lý Kinh doanh châu Âu. . . " (theo wikipedia) . Ông N.T.Nhân , vừa vào BCT cũng từng học ở ĐH Harvard Mỹ .
CNTB đang dảy chết nhưng TẠI SAO nó là niềm ước mơ của nhiều người trẻ ở VN : đó là được 1 suất du học , được lấy vợ hay chồng ở các nước này , . . . ? Còn đối với các đảng viên trung và cao cấp thì là nơi mà họ chuyển ngân , bỏ tiền đầu tư , mua nhà , . . . để một mai có thay đổi chế độ thì con cháu họ (hay cả chính họ) có chỗ dung thân .
Của cải của các vị này đều chuyển thành đô-la , hay đồng euro . Cũng vì , vừa có QUYỀN LỰC KHÔNG HẠN CHẾ trong tay , vừa mê say những tờ giấy bạc này , các vị này đã làm cho nền kinh tế VN điêu đứng với hàng triệu người thất nghiệp với những chính sách làm lợi cho các NHÓM LỢI ÍCH , mà báo Anh gọi là TƯ BảN THÂN HỮU (theo tintuchangngayonline) .
Chỉ tội cho người dân đen KHÔNG CÓ quyền hành gì trong tay ! Riêng những người công nhân viên chức cấp thấp , nếu có MỘT CHÚT quyền hành trong tay cũng phải TỰ CỨU LẤY MÌNH , đễ có thễ tồn tại trong lúc cuộc sống giá cả ngày càng gia tăng . Thày giáo thì bắt học thêm : tôi có 1 đứa cháu kêu bằng bác nói rằng "dù cho cháu học giõi , cháu vẫn phải đi học thêm , nếu ko thì thày giáo đì . Mỗi tuần cháu học thêm Toán , Văn và Anh ngữ , có khi vào ngày thứ 7 hay CN" . Còn bịnh nhân phãi dúi tiền cho y tá , BS để được vào BV , điều trị bởi BS giỏi ... Nói tóm , gần như ở mọi nghành nghề trong xã hội , người dân đen phải hối lộ , mà người ta gọi là THủ TỤC ĐẦU TIÊN .
Còn vào tù , thì người dân phải có thăm nuôi hàng tháng ; phải nhờ người nhà lo lót CA để được đối xử tử tế . . .
Có thể hai bác không gặp những hoàn cảnh như trên nhưng bạn bè , bà con cũa hai bác đã phải HỐI LỘ Để CHO ĐƯỢC VIỆC !
Xin dừng bút ở đây , bởi vì CHUYỆN DÀI XHCN này nói hoài không hết !

Friday, May 11, 2012

Nhân thể và Âm Dương
Tác giả: Đệ tử Đại Pháp tại Bắc Mỹ

[Chanhkien.org] Cơ thể người đã liên tục phát sinh biến hóa trong suốt chiều dài lịch sử. Với sự băng hoại trong đạo đức nhân loại, cấu trúc cơ thể người đã thay đổi rất nhiều. Vào thời kỳ đầu, cơ thể người là rất hoàn hảo. Nhưng sau đó, vì tiêu chuẩn đạo đức xuống dốc, cơ thể người đã trở nên ngày càng phức tạp.
Tại sao người ngoài hành tinh lại rất thèm muốn cơ thể con người? Đó là bởi vì cơ thể nhân loại ngày nay được tạo ra rất hoàn thiện và thuận tiện, trong khi cơ thể người ngoài hành tinh thì có rất nhiều nhược điểm. Ví dụ, cơ thể nam của họ chỉ có Dương, còn cơ thể nữ của họ chỉ có Âm, và ngoại hình họ trông rất xấu xí. Nếu muốn tu luyện, họ chỉ có thể áp dụng phương pháp “nam nữ song tu”, lấy Âm bổ Dương, lấy Dương bổ Âm. Phương pháp tu luyện “nam nữ song tu” ở Tây Tạng hiện nay nguyên là phương pháp tu luyện của người ngoài hành tinh. Người ngoài hành tinh ngày nay đã sống trên Trái Đất từ rất lâu rồi, và cơ thể họ đã thay đổi thành như bây giờ.
Ngày nay, khi Đại Pháp hồng truyền, con người trên thế gian có thể tu trở về mang theo hình tượng của chính họ. Họ không thể làm được điều này nếu họ có hình dạng của người ngoài hành tinh. Nếu như vậy, họ phải nhất định phải tu thành hình tượng của Thần. Lý do con người ngày nay được tạo ra chiểu theo hình tượng của chư Thần là vì Đại Pháp được truyền ra tại nơi đây, và sự tu luyện trong Đại Pháp sẽ hoàn toàn khác với bất cứ phương pháp tu luyện nào trước đó. Cơ thể con người tương lai sẽ còn tốt hơn cơ thể con người ngày nay, và cấu trúc cơ thể người cũng sẽ phát sinh biến đổi. Khi đạo đức nhân loại đề cao, Âm và Dương trong cơ thể người cũng biến đổi theo hướng tốt hơn, và thuận tiện hơn cho con người thực hành tu luyện, hễ muốn tu luyện là có thể tu luyện ngay. Người ngoài hành tinh chỉ có thể tu luyện thành đôi. Nếu một trong hai không muốn tu luyện nữa, người kia sẽ không thể tu được tiếp. Họ không thể tự mình tu luyện.
Âm và Dương liên đới đến các không gian khác nhau, chúng không chỉ hiển hiện tại không gian của nhục thể này.
Dịch từ:
http://www.zhengjian.org/zj/articles/2001/10/6/11968.html
http://pureinsight.org/node/131

Saturday, April 21, 2012

TƯỚNG NG TRỌNG VĨNH

Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh – “con rối” của Huệ Chi, Xuân Diện
Thật buồn cho một đồng chí lão thành cách mạng. Chẳng thể tưởng được, từng là thiếu tướng, đại sứ… lại có ngày thành hàng độc của nhóm “nhân sỹ” Xuân Diện, Huệ Chi. Họ đang khai thác triệt để vị tướng 96 tuổi này dưới cái mác “yêu nước”, làm công cụ bảo trợ cho các mưu đồ chính trị cho họ.
Trong chiến dịch “bảo vệ” Cù Huy Hà Vũ, cụ Vĩnh trở thành người xông xáo với cả tá bài viết, trả lời phỏng vấn, viết tay… để nhằm bao biện cho “người bảo trợ pháp lý” của trang mạng ông Huệ Chi. Từ đó, cụ Vĩnh trở thành ngọn cờ các “nhân sỹ” nọ giương lên thách thức dư luận, đối lập với chính quyền, vận động một số cụ lão thành, tướng tá nghỉ hưu ký tên vào đơn kiến nghị của nhóm ông Chi đòi trả tự do cho Vũ và cả tá các thư kiến nghị có nội dung góp ý thì ít nhưng phá bĩnh thì nhiều. Tên của cụ Vĩnh, tất nhiên được nhóm ông Chi bệ lên hàng đầu làm “mồi nhử” cho những ai thích thể hiện “lòng yêu nước” gắn với thương hiệu “lão thành cách mạng” Việt Nam.
Bất cứ có sự kiện gì nóng sốt, nhà Chi, nhà Diện đều khôn ngoan gí tên cụ, mớm lời cụ diễu võ dương oai cho các chiến dịch mà mục tiêu không ngoài nã pháo hủy hoại niềm tin, reo giắc [sic!] nghi ngờ về khả năng lãnh đạo đất nước của Đảng, khả năng tồn tại của chế độ mà chính lớp người cụ đã đổ bao xương máu dựng lên. Trên trang nhà Diện, sau mỗi “lời vàng ý ngọc” của cụ là đám ruồi bu tha hồ ca tụng, tâng bốc cụ như thánh hiền. Chắc chắn nhà Diện và nhà Chi chẳng đời nào cho cụ biết được là mỗi bài về cụ trên các trang mạng của họ là được hệ thống “tiêm kích” ở hải ngoại đem cụ ra làm “bằng chứng sống” cho “cuộc đấu tranh chính nghĩa” của đội quân Việt Nam Cộng hòa chưa từ bỏ mưu đồ phục quốc. Tởm nhất là ngay trong việc tôn vinh “người đẹp biểu tình”, “người phụ nữ của năm”,… bằng các thương hiệu mỹ miều nhất cho madam xã hội đen Bùi Thị Minh Hằng, cụ Vĩnh cũng được trưng dụng đắc lực. Cụ thí “lòng yêu nước” của cụ làm vật đảm bảo rằng Hằng cũng yêu nước “nồng nàn” như cụ; cụ chẳng ngại đường xa đêm tối đến làm “khách danh dự” trong bữa tiệc vinh danh Hằng của nhóm “nhân sỹ” nhà Diện trong dịp 8/3 vừa qua…
Có vẻ như mục tiêu quan trọng nhất là nhóm này TRIỆT ĐỂ KHAI THÁC cụ Vĩnh khoét sâu mối hận thù hai dân tộc Trung Việt thực hiện ý đồ Việt Nam phải trở thành thành đồng minh chiến lược về quân sự với Mỹ (như thời Việt Nam Cộng hòa?) giống như các tuyên bố của Cù Huy Hà Vũ với đài VOA chăng? Nhà Chi, nhà Diện khi “khai thác” được bất cứ cái gì động chạm đến mỗi quan hệ này đều dùng cụ làm “phát ngôn” khởi xướng cho vụ việc. Đại loại VN không “kỉ niệm” gì ngày 17/2 – sự kiện Trung Quốc đem quân nã các tỉnh biên giới phía BẮc, cụ Vĩnh được trưng dụng, lên án lãnh đạo Đảng, Nhà nước hèn nhát, nhu nhược vì không dám thể hiện sự bình đẳng với Trung Quốc bằng cách khơi lại quá khứ hiềm khích 2 dân tộc! Nếu cứ áp dụng tiêu chí này thì quanh năm Việt Nam có vô khối các ngày ghi dấu “hận thù” với Trung Quốc khi đã có cả bề dày nghìn năm Bắc thuộc, hàng trăm cuộc chiến xâm lược lớn nhỏ. Quan hệ với cái anh láng giếng to tổ bố, lúc nào cũng hằm hè nuốt Việt Nam mà cụ cứ hô hào phải “bình đẳng”, ăn miếng trả miếng thì khó cho con cháu cụ quá. Để được anh bạn khủng này xem như “bình đẳng” trong giao tế là chật vật với mấy anh ngoại giao ngành cụ lắm lắm rồi, đào đâu ra bình đẳng theo đúng nghĩa bây giờ. Hèn gì quan hệ Việt Trung thời cụ làm đại sứ “căng” như dây đàn. Sao cụ không học được cách bang giao của cụ Hồ với anh bạn Khổng này nhỉ, tư tưởng “hòa” luôn phải đặt lên hàng đầu. Tất nhiên là “hòa” để bảo vệ lợi ích của ta chứ không phải là “hòa” là “thiệt thòi”.
Chẳng nghe cụ Vĩnh kể về “thành tích” bảo vệ ta, đối phó với Trung Quốc thời cụ làm Đại sứ cả chục năm bên đó cả, Được biết, một số người trong ngành này và tướng tá đồng sự với cụ tâm sự, hồi đó cụ cho việc đi sứ bên đó ngang với đi đày nên cụ Vĩnh cũng bất mãn lắm lắm. Cụ luôn cho rằng đồng đội cụ bên nhà yên ấm, quyền cao chức trọng, hưởng thụ vinh hoa, còn cụ thì bị đẩy ra “chiến tuyến”. Nhiều lần cụ đòi về mà chẳng được. Thế nên cũng dễ hiểu sao mang danh từng là Đại sứ mà cụ phát biểu chẳng có tí chính trị hay ngoại giao cho xứng tầm gì sất, cứ với sách lược thẳng băng đó đối phó với anh Tàu thâm hiểm thì chắc chẳng mấy, cụ đem đất nước ta ra biển khơi cũng nên. Nguyên lãnh đạo kỳ cựu ngành ngoại giao, không thể nói cụ Vĩnh không tường chuyện nghi lễ bang giao với nước lớn, đòi cho được sự trọng thị, bình đẳng trong giao tế là những mặc cả, đấu trí cực kỳ chật vật của bộ phận “hậu cần” dọn dẹp cả năm tháng trước mỗi sự vụ, ăn thua nhau từng cử chỉ, chứ đâu dễ dàng gì.
Tiếc rằng, cụ Vĩnh đã thành con rối cho sự mơ hão của đám nhân sỹ tưởng bở bám váy Mỹ, chẳng biết đến chính quyền VNCH khi xưa cũng từng bị Mỹ bán rẻ ra sao khi “lợi ích” của Mỹ không đạt được.
Có anh Trung tướng, Tư lệnh quân khu kém cụ Vĩnh ít tuổi chia sẻ với tôi rằng, cụ Vĩnh từng vận động anh ký tá đơn thư kiến nghị, hay tham gia nhóm nọ nhóm kia, nhưng anh chẳng ngại nói thắng, tôi tham gia CLB Thăng Long rồi – đó là diễn đàn chất lượng, sôi động của cán bộ nghỉ hưu, lão thành cách mạng góp ý, bàn thảo mọi chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước, được các đồng chí trong Bộ Chính trị đặc biệt quan tâm, thường xuyên gặp, lắng nghe. Nếu có kiến nghị gì, chúng tôi bàn thảo kỹ lưỡng, rồi gửi văn bản thẳng tới các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, chứ đâu cần hội nhóm nào nữa. Anh buồn bã nói, chỉ tiếc cho những người như tướng Vĩnh và một số anh em đã lớn tuổi thiếu minh mẫn.Với vị tướng Võ Nguyên Giáp, tôi chắc chắn là bị ngụy tạo, bởi một người bản lĩnh, dù có bị làm Phó Thủ tướng phụ trách mảng KHHGD, mà ông còn hy sinh vì đại cục, nói chi đến lúc trăm tuổi. Còn nếu cụ Giáp có bất đồng về việc phá nhà Quốc hội, dự án bauxite thì chẳng nhẽ cụ không gọi thẳng, nói thẳng với các đồng chí trong Bộ Chính trị, đâu cần phải ký tá đơn thư để cho cái nhóm tự gọi mình “nhân sỹ trí thức” được cớ phá hoại nội bộ.
Kết thúc bài viết này, tôi không thể quên được những tâm sự của anh, với tuyệt đại những cựu chiến binh như mình, dù đã đến tuổi gần đất xa trời đều tự hào mình là lính cụ Hồ. Có những người con cháu phải dìu từng bước vẫn không bỏ các cuộc gặp mặt đồng đội, họ gặp nhau để động viên nhau giữ bản chất người lính cụ Hồ. Với những ai còn minh mẫn thì đóng góp được gì cho con cháu thì làm, tuyệt nhiên, đừng tự đề cao mình quá hoặc vì một số bức xúc xuất phát quyền lợi cá nhân mà gây hại cho đất nước, con số đó rất ít và thật đáng tiếc cho họ.
Nguyễn Biên Cương

Wednesday, April 18, 2012

Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập


Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập
Định nghĩa
Tình báo, gián điệp là người hoạt động bí mật của phe địch để dọ thám lấy tin tức về tình hình quân sự, chính trị, kinh tế hoặc tác động, phá hoại.
1* GIÁN ĐIỆP NGA Ở HOA KỲ.
Ngày 28-6-2010, ông Michael Forbiarz, phụ tá biện lý Hoa Kỳ phát biểu trước tòa án liên bang ở Manhattan là việc truy tố 10 người sinh sống ở Đông Bắc Hoa Kỳ (HK) chỉ là "Phần nổi của tảng băng" về âm mưu của cơ quan tình báo Nga SVR , hậu thân của KGB, nhằm thu thập tin tức chiến lược về HK.
Thật vậy, ông Oleg Gordievsky, 71 tuổi, một cựu chỉ huy phó đường dây điệp báo KGB ở Luân Đôn, đã đào tỵ năm 1985, cho biết là hiện có từ 40 đến 50 cặp gián điệp hoạt động dưới nhiều cái vỏ bọc khác nhau tại HK.
* Hoạt động của gián điệp Nga
Họ hoạt động theo từng đôi, giả làm vợ chồng, trà trộn vào xã hội HK, làm quen các giới chức có trách nhiệm, tạo sự quen biết lâu dài để thu thập tin tức tình báo chiến lược.
Cụ thể như về chính sách ngoại giao của tổng thống Obama đối với Nga, về lập trường của HK trong việc thương thảo thỏa ước giảm thiểu vũ khí nguyên tử với Nga, START, về Afghanistan, về Iran và chương trình nghiên cứu đầu đạn nguyên tử loại nhỏ dùng để phá hầm ngầm ở sâu dưới mặt đất.
Các điệp viên liên lạc với nhau bằng hệ thống vô tuyến trên máy điện toán xách tay (Mobile Wireless Transmission). Hai bên ngồi gần nhau để chuyền thông điệp từ máy nầy sang máy kia.
Đây là vụ phá ổ gián điệp lớn nhất từ nhiều năm nay của cơ quan FBI.
2* GIÁN ĐIỆP CỘNG SẢN TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM
Trong chiến tranh, ở miền Nam, ngoài những tên VC nằm vùng, còn có những điệp viên thuộc tình báo chiến lược như Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thuý và Phạm Ngọc Thảo.



2.1. VŨ NGỌC NHẠ
Vũ Ngọc Nhạ là nhân vật then chốt trong vụ án Cụm Tình Báo A.22 làm rung động chính quyền miền Nam năm 1969.
Tên thật là Vũ Xuân Nhã, sinh ngày 30-3-1928 tại tỉnh Thái Bình. Được kết nạp vào đảng CSVN năm 1947. Vũ Ngọc Nhạ còn nhiều cái tên khác nữa như Pière Vũ Ngọc Nhạ (tên Thánh), Vũ Đình Long (Hai Long) bí danh Lê Quang Kép, Thầy Bốn, "Ông Cố Vấn".
2.1.1. Hoạt động
Năm 1955. Xuống tàu di cư vào Nam.
Vũ Ngọc Nhạ cùng 1 số điệp viên khác trà trộn vào đoàn người di cư vào Nam. Nhạ cùng vợ và con gái xuống tàu Hải Quân Pháp cùng hàng triệu người Công giáo di cư vào Nam.
- Làm thư ký đánh máy ở Bộ Công Chánh. Chinh phục được cảm tình của Linh mục Hoàng Quỳnh và trở thành "Người giúp việc" của Giám mục Lê Hữu Từ.
Năm 1958
Tháng 12 năm 1958, Nhạ bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung của Nguyễn Tư Thái, tự Thái Đen, bắt giữ và giam tại trại Tòa Khâm (Huế) để chờ điều tra xác minh. Linh mục Hoàng Quỳnh can thiệp cho nên Nhạ không bị buộc tội.
* Người Giúp Việc của Đức Cha Lê Hữu Từ
Một khuyết điểm lớn của Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung là giam giữ những nghi can gián điệp chung với nhau tại trại Tòa Khâm. Chính ở đó, Vũ Ngọc Nhạ đã móc nối với các "cơ sở" (những cá nhân) tình báo khác, đặc biệt là trùm tình báo VC Mười Hương.
Tạo dựng niềm tin đối với Ngô Đình Cẩn.
Năm 1959
Vũ Ngọc Nhạ làm tờ trình "Bốn Nguy Cơ Đe Doạ Chế Độ" được sự chú ý của Ngô Đình Cẩn và sau đó, của ông Nhu, ông Diệm. Do sự dự đoán chính xác về cuộc đảo chánh 11-11-1960 của tướng Nguyễn Chánh Thi, anh em ông Diệm đã chú ý đến Vũ Ngọc Nhạ.
Nhờ danh nghĩa "Người Giúp Việc" của Đức Cha Lê Hữu Từ mà Nhạ được xử dụng như là Người Liên Lạc giữa anh em Họ Ngô và giới Công Giáo di cư. Nhờ đó, Nhạ thu thập được nhiều tin tức tình báo có giá trị. Từ đó, Nhạ có biệt danh là "Ông Cố Vấn".
* Xây dựng Cụm Tình Báo Chiến Lược A.22
Sau đảo chánh 1-11-1963, thế lực Công giáo phát triển mạnh dưới tay của Linh mục Hoàng Quỳnh.
Cuối năm 1965, sự tranh giành quyền lực trong "nhóm tướng trẻ", do sự giới thiệu của LM Hoàng Quỳnh, Tướng Nguyễn Văn Thiệu đã xử dụng Vũ Ngọc Nhạ trong vai trò liên lạc giữa tướng Thiệu và Khối Công giáo. Nhạ đã khéo léo lợi dụng vai trò đó để tạo ảnh hưởng đến các chính trị gia dân sự và quân sự.
Năm 1967
Sau khi tướng Nguyễn Văn Thiệu đắc cử Tổng thống, cấp trên nhận thấy cần thiết phải mở rộng mạng lưới tình báo, thành lập Cụm A.22. (A.22 là mật danh của Vũ Ngọc Nhạ) Cụm do Nguyễn Văn Lê làm cụm trưởng, Nhạ làm Cụm Phó trực tiếp phụ trách mạng lưới. Toàn bộ Cụm A.22 được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nguyễn Đức Trí, chỉ huy phó Tình Báo Quân Sự ở miền Nam.
Bắt đầu, Cụm A.22 "phát triển" thêm Nguyễn Xuân Hoè, Vũ Hữu Ruật đều là những điệp viên mà Nhạ đã bắt liên lạc trong khi bị giam chung tại Tòa Khâm. Sau đó, thu nhận thêm Nguyễn Xuân Đồng và quan trọng nhất là vào đầu năm 1967, bổ sung thêm Lê Hữu Thuý (hay Thắng) mật danh là A.25.
Các điệp viên nầy được giao nhiệm vụ "Chui sâu, leo cao" nắm lấy những chức vụ quan trọng để thu thập thông tin và để tác động vào chính quyền.
Thành công của Cụm A.22 là cài được 1 điệp viên dưới quyền của Lê Hữu Thuý là Huỳnh Văn Trọng làm "Cố Vấn" cho tổng thống Thiệu.


Chính Huỳnh Văn Trọng đã cầm đầu một phái đoàn VNCH sang HK, tiếp xúc, gặp gỡ hàng loạt các tổ chức, các cá nhân trong chính phủ và chính giới HK, để thăm dò thái độ của chính phủ Johnson đối với cuộc chiến ở VN. Huỳnh Văn Trọng thu thập được nhiều tin tức tình báo chiến lược.
* Vụ án Huỳnh Văn Trọng và 42 điệp báo
CIA nhanh chóng phát hiện điều bất thường là sự tập hợp của các cá nhân là những bị can đã bị bắt giam ở Tòa Khâm.
Giữa năm 1968
Hồ sơ các cựu tù nhân ở Tòa Khâm được mở lại. Do tính phức tạp trong ngành điệp báo, CIA phải mất 1 năm mới hoàn tất hồ sơ và chuyển giao cho Tổng Nha Cảnh Sát QG VNCH.
Vào trung tuần tháng 7 năm 1969, một đơn vị đặc biệt có mật danh là S2/B được thành lập để tiến hành bắt giữ hầu hết những người của Cụm A.22.
Toàn bộ điệp viên Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thuý, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Hoè, Nguyễn Xuân Đồng, Huỳnh Văn Trọng, và hầu hết những gián điệp khác, kể cả giao liên là bà Cả Nhiễm cũng bị bắt.
Riêng cụm trưởng Nguyễn Văn Lê kịp thời trốn thoát.
Cụm tình báo A.22 bị phá vở hoàn toàn.
Chính quyền Saigon rung động vì 42 gián điệp từ cơ quan đầu nảo là Phủ tổng thống cho đến các cơ quan khác, nhất là 1 "Cố vấn" của tổng thống đã bị bắt.
* Biến vụ án gián điệp thành vụ án chính trị
Đây là vụ án gián điệp lớn nhất lịch sử. Các bị can đều khai, nhất cử nhất động của họ đều là thi hành chỉ thị, là do sự uỷ thác, do lịnh của tổng thống, của các tổng trưởng, nghị sĩ, dân biểu và cả CIA nữa.
Tòa án Quân Sự Mặt Trận Lưu Động Vùng 3 CT bối rối vì không có thể gởi trác đòi những nhân chứng như tổng thống ra hầu tòa để đối chất.
Do không có đủ yếu tố để buộc tội tử hình, cho nên tòa tuyên án:
- Chung thân khổ sai:
Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thuý, Huỳnh Văn Trọng, Nguyễn Xuân Hoè.
- Án từ 5 năm đến 20 năm tù khổ sai cho những bị can còn lại.
Khi quân cảnh dẫn các tù nhân ra xe bít bùng, thì Vũ Ngọc Nhạ quay sang nhóm ký giả ngoại quốc và thân nhân, nói lớn "Tôi gởi lời thăm ông Thiệu".
* Cho rằng CIA dàn cảnh
Một bất ngờ của vụ án là TT Thiệu không tin đó là sự thật mà cho là CIA đã dàn cảnh. Do đó, thời gian Vũ Ngọc Nhạ bị đày ở Côn Đảo thì TT Thiệu đã triệu hồi viên tỉnh trưởng Côn Sơn về Saigon và thay thế vào đó một người thân tín của mình để có điều kiện chăm sóc cho Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng như là những thượng khách. Vì thế, Vũ Ngọc Nhạ đã đánh giá:"Đó là một cuộc dạo chơi trên Thiên Đàng".
* Tiếp tục hoạt động
Đầu năm 1973
Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng được đưa về khám Chí Hòa, Saigon. Trong thời gian ở Chí Hòa, nhờ sự giúp đở của LM Hoàng Quỳnh, Vũ Ngọc Nhạ móc nối, bắt bắt liên lạc với nhóm "Thành Phần Thứ 3" của Dương Văn Minh.
Ngày 23-7-1973
Chính quyền VNCH trao trả Vũ Ngọc Nhạ cho Mặt Trận DTGP/MNVN với danh xưng là "Linh mục Giải Phóng".
Năm 1974

Vũ Ngọc Nhạ được CSBV phong Trung tá QĐNDVN. Tháng 4, 1974, Vũ Ngọc Nhạ trở về Củ Chi, hoạt động bí mật mục đích xây dựng lại Cụm Tình báo chiến lược, móc nối với Thành phần thứ 3 và khối Công giáo .
Ngày 30-4-1975
Vũ Ngọc Nhạ có mặt tại Dinh Độc Lập bên cạnh tướng Dương Văn Minh.
* Bị thất sủng và được tôn vinh
Ngày 30-4-1975 thân phận của Vũ Ngọc Nhạ vẫn chưa được xác nhận.
Năm 1976
Vũ Ngọc Nhạ được điều về Cục 2 Bộ Quốc Phòng với quân hàm Thượng tá.
Năm 1981
Được thăng Đại tá nhưng vẫn còn ngồi chơi xơi nước. Hàng ngày đọc các tin tức báo cáo, tổng hợp lại rồi trình lên thượng cấp, Phạm Văn Đồng, Mai Chí Thọ, Nguyễn Văn Linh.
Năm 1987
Tác giả Hữu Mai xuất bản cuốn tiểu thuyết "Ông Cố Vấn, Hồ Sơ Một Điệp Viên" ca ngợi thành tích tình báo của Vũ Ngọc Nhạ. Công chúng đã biết đến và Nhạ được phong Thiếu Tướng.
Vũ Ngọc Nhạ mất ngày 7-8-2002 tại Saigon, 75 tuổi. Phần mộ của Nhạ nằm chung với các phần mộ của các điệp viên khác như Phạm Xuân Ẩn, Đặng Trần Đức và Phạm Ngọc Thảo.


2.2. PHẠM XUÂN ẨN
* Thân thế Và Hoạt động
Phạm Xuân Ẩn sinh ngày 12-9-1927 tại xã Bình Trước, Biên Hòa, là một thiếu tướng tình báo của QĐNDVN.
Từng là nhà báo. Phóng viên cho Reuters, tạp chí Time, New York Herald Tribune, The Christian Science Monitor.
Theo học trường Collège de Can Tho.
Năm 1948
Tham gia Thanh Niên Tiền Phong và sau đó, làm thơ ký cho hãng dầu lửa Caltex.
Năm 1950
Làm nhân viên Sở Quan Thuế Saigon để thi hành nhiệm vụ là tìm hiểu tình hình vận chuyển hàng hóa, khí tài quân sự từ Pháp sang VN. Đây là lần đầu tiên làm nhiệm vụ tình báo cùng với 14 ngàn gián điệp được cài cắm vào hoạt động.
Năm 1952
Phạm Xuân Ẩn ra Chiến Khu D và đã được bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Ủu viên Uỷ Ban Hành Chánh Nam Bộ giao cho nhiệm vụ làm tình báo chiến lược.
Năm 1953
Phạm Xuân Ẩn được Lê Đức Thọ kết nạp vào đảng tại rừng U Minh, Cà Mau.
Năm 1954
Phạm Xuân Ẩn bị gọi nhập ngũ và được trưng dụng ngay vào làm thư ký Phòng Chiến Tranh Tâm Lý Bộ Tổng Hành Dinh Liên Hiệp Pháp tại Camps Aux Mares (Thành Ô Ma) Tại đây, Ẩn được quen biết với Đại tá Edward Landsdale, trưởng phái bộ đặc biệt của Mỹ (SMM), trên thực tế, Landsdale là người chỉ huy CIA tại Đông Dương. cũng là trưởng phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ (US.MAAG) tại Saigon.

Năm 1955
Theo đề nghị của Phái Bộ Cố Vấn Quân Sự Mỹ, Phạm Xuân Ẩn tham gia soạn thảo tài liệu tham mưu, tổ chức, tác chiến, huấn luyện, hậu cần cho quân đội. Tham gia thành lập cái khung của 6 sư đoàn đầu tiên của QLVNCH, mà nồng cốt là sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ người Việt trong quân đội Pháp trước đó.
Phạm Xuân Ẩn còn được giao nhiệm vụ hợp tác với Mỹ để chọn lựa những sĩ quan trẻ có triển vọng đưa sang Mỹ đào tạo, trong số đó có Nguyễn Văn Thiệu, sau nầy trở thành tổng thống VNCH.
Năm 1957
Tháng 10 năm 1957, Mai Chí Thọ và Trần Quốc Hương (Mười Hương) chỉ đạo cho Phạm Xuân Ẩn qua Mỹ du học ngành báo chí để có cơ hội đi khắp nơi, tiếp cận với những nhân vật có quyền lực nhất.
Năm 1959
Phạm Xuân Ẩn về nước, nhờ những mối quan hệ, Ẩn được bác sĩ Trần Kim Tuyến, giám đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị Và Văn Hóa Xã Hội (Thực chất là cơ quan mật vụ của Phủ tổng thống), biệt phái sang làm việc tại Việt Tấn Xã, phụ trách những phóng viên ngoại quốc làm việc ở đó.
Năm 1960
Từ năm 1960 đến giữa 1964, Phạm Xuân Ẩn làm việc cho hảng thông tấn Reuters. Từ 65 đến 67, Ẩn là người Việt duy nhất và chính thức làm việc cho tuần báo Time. Ngoài ra, còn cộng tác với báo The Christian Science Monitor...
Từ 1959 đến 1975
Với cái vỏ bọc là phóng viên, nhờ quan hệ rộng với các sĩ quan cao cấp, với các nhân viên tình báo, an ninh quân đội và với cả CIA , Ẩn đã thu thập được nhiều tin tức quan trọng từ quân đội, cảnh sát và các cơ quan tình báo.
Những tin tức tình báo chiến lược của Ẩn đã được gởi ra Hà Nội thông qua Trung Ương Cục Miền Nam. Tài liệu sống động và tĩ mỉ khiến cho Võ Nguyên Giáp đã reo lên "Chúng ta đang ở trong Phòng Hành Quân của Hoa Kỳ".
Tổng cộng, Ẩn đã gởi về Hà Nội 498 tài liệu gốc được sao chụp.
Giai Đoạn 1973-1975
Hàng trăm bản văn nguyên bản đã phục vụ "Hạ Quyết Tâm Giải Phóng Miền Nam " của đảng CSVN.
Phạm Xuân Ẩn là nhân vật được chèo kéo của nhiều cơ quan tình báo, kể cả CIA .
Ngày 30-4-1975, Phạm Xuân Ẩn là một trong những nhà báo chứng kiến cảnh xe tăng của VC hút đỗ cổng Dinh Độc Lâp. Từ đó cho đến vài tháng sau, các phóng viên, đồng bào và cả chính quyền mới cũng chưa biết Phạm Xuân Ẩn là một điệp viên Cộng sản.
Vợ con của Phạm Xuân Ẩn đã di tản sang Hoa Kỳ. Ẩn cũng được lịnh của cấp trên sang HK để tiếp tục hoạt động tình báo. Nhưng Ẩn đã xin ngưng công tác vì đã hoàn thành nhiệm vụ.
Do kế hoạch thay đổi, cho nên mãi 1 năm sau, vợ con của Ẩn mới có thể quay về VN bằng đường vòng Paris, Moskva, Hà Nội, Saigon.

* Sau chiến tranh
Ngày 15-1-1976, trung tá "Trần Văn Trung", tức Phạm Xuân Ẩn, được phong tặng "Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang".
Tháng 8 năm 1978, Ẩn ra Hà Nội dự khóa học tập chính trị 10 tháng vì Ẩn "sống quá lâu trong lòng địch".
Theo Larry Berman thì Ẩn bị nghi kỵ và bị quản chế tại gia. Cấm liên lạc với báo chí ngoại quốc và cấm xuất cảnh, do cách suy nghĩ của Ẩn quá "Mỹ" và do Ẩn đã giúp bác sĩ Trần Kim Tuyến ra khỏi VN ngày 30-4-1975 .
Năm 1986
Trong 10 năm, luôn luôn có 1 công an làm nhiệm vụ canh gác trước nhà của Phạm Xuân Ẩn.
Năm 1990
Đại tá Phạm Xuân Ẩn được thăng thiếu tướng.
Năm 1997
Chánh phủ VNCS từ chối không cho Ẩn đi Hoa Kỳ để dự hội nghị tại New York mà Ẩn được mời với tư cách là khách mời đặc biệt.
Năm 2002
Phạm Xuân Ẩn về nghỉ hưu.
Con trai lớn của Ẩn là Phạm Xuân Hoàng Ân, đã du học Mỹ, hiện đang làm việc tại Bộ Ngoại Giao ở Hà Nội. Con gái của Ẩn hiện đang sống ở Hoa Kỳ.
Thất Vọng
Trong những năm cuối đời, Phạm Xuân Ẩn cảm thấy rất thất vọng vì dân chúng không được viết tự do. Ẩn trối trăn trước khi chết là, "đừng chôn ông gần những người Cộng Sản".
* Nhận định về Phạm Xuân Ẩn.
Lê Duẩn
Đã biểu dương Phạm Xuân Ẩn coi đó là 1 chiến công có tầm cỡ quốc tế.
Frank Snepp, cựu chuyên viên thẩm vấn CIA , tác giả cuốn sách Decent Interval (Khoảng cách thích đáng) nói:"Phạm Xuân Ẩn đã có được nguồn tin tình báo chiến lược, điều đó rõ ràng, nhựng chưa ai "Dẫn con mèo đi ngược" để thực hiện 1 cuộc xét nghiệm pháp y về các tác hại mà ông đã gây ra, Cơ quan CIA không có gan để làm việc đó." Hết trích.
Murrray Gart, thông tín viên trưởng của báo Time nói "Thằng chó đẻ ấy, tôi muốn giết nó".


2.3. PHẠM NGỌC THẢO
1. Thân thế
Phạm Ngọc Thảo sanh ngày 14-2-1922 tại Sàigon. Cha ông là Phạm Ngọc Thuần, một địa chủ lớn, có quốc tịch Pháp, người Công giáo. Còn có tên là Albert Thảo hoặc 9 Thảo, vì Thảo là con thứ 8 trong gia đình.
Sau khi đậu tú tài, Thảo ra Hà Nội học và tốt nghiệp kỹ sư công chánh.
Thảo tuyên bố bỏ quốc tịch Pháp và tham gia kháng chiến.
2. Hoạt động VC
Sau khi tốt nghiệp trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn, Thảo về nhận nhiệm vụ giao liên ở Phú Yên. Một lần, Thảo đưa 1 cán bộ về Nam Bô. Đó Là Lê Duẩn, người đã có ảnh hưởng lớn về hoạt động tình báo của Thảo sau nầy.
Được bổ làm Tiểu đoàn trưởng TĐ 410, quân khu 9. (Có tài liệu nói là TĐ 404 hoặc 307). Trong thời gian nầy, Thảo hướng dẫn chiến tranh du kích cho Trần Văn Đôn, Nguyễn Khánh, Lê Văn Kim, những người sau nầy trở thành tướng lãnh của QLVNCH.
Vợ là Phạm Thị Nhậm, em ruột giáo sư Phạm Thiều, nguyên đại sứ tại Tiệp Khắc.
3. Hoạt động tình báo
Sau Hiệp Định Genève, Lê Duẩn chỉ thị cho Phạm Ngọc Thảo không được tập kết ra Bắc phải ở lại để hình thành Lực lượng thứ 3.
Từ đó, Thảo dạy học ở một số tư thục Saigon.
Phạm Ngọc Thảo đã bị Đại tá Mai Hữu Xuân, Giám Đốc An Ninh Quân Đội, lùng bắt nhiều lần nhưng đều trốn thoát. Sau cùng, Thảo về Vĩnh Long làm nghề dạy học. Tỉnh nầy thuộc địa phận của Giám mục Phêrô Ngô Đình Thục, vốn đã quen biết với gia đình Thảo từ trước. Ngô Đình Thục coi Phạm Ngọc Thảo như con nuôi và bảo lãnh cho vào dạy học ở trường Nguyễn Trường Tộ.
Năm 1956
Phạm Ngọc Thảo được phép đưa vợ con về Saigon và vào làm việc ở Ngân Hàng QG. Rồi được chuyển ngạch sang quân đội với cấp bậc Đại uý "Đồng Hóa".
Năm 1956
Do sự giới thiệu của Huỳnh Văn Lang, Tổng Giám đốc Viện Hối Đoái, Bí thư Liên Kỳ Bộ của đảng Cần Lao, Phạm Ngọc Thảo được cử đi học khóa Nhân Vị ở Vĩnh Long. Và Thảo đã gia nhập đảng Cần Lao.

4. Hoạt động trong Quân Lực VNCH
- Chức vụ Tỉnh Đoàn Trưởng Bảo An Vĩnh Long.
- Tuyên Huấn đảng Cần Lao Nhân Vị.
Thảo biết cách khai thác nghề viết báo của mình và về Binh pháp Tôn Tử. Chỉ trong vòng một năm, Thảo đã viết 20 bài báo nói về chiến lược, chiến thuật, nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy, huấn luyện quân sự, phân tích binh pháp Tôn Tử, Trần Hưng Đạo. Những bài báo được giới quân sự chú ý và cả TT Diệm và Ngô Đình Nhu.
Năm 1957
Phạm Ngọc Thảo được chuyển về Phòng Nghiên Cứu Chính Trị Phủ Tổng thống với cấp bậc thiếu tá. Sau đó, giữ chức Tỉnh Đoàn trưởng Bảo An Bình Dương.
Năm 1960
Phạm Ngọc Thảo tham dự khóa Chỉ Huy Tham Mưu ở Đà Lạt. Giữ chức vụ Thanh Tra Khu Trù Mật.
Năm 1961
Phạm Ngọc Thảo được thăng trung tá, giữ chức Tỉnh trưởng Kiến Hòa để trắc nghiệm chương trình bình định. Thời gian nầy, Kiến Hòa (Bến Tre) trở nên ổn định không còn phục kích hay phá hoại nữa.
Tuy nhiên có nhiều tố cáo Thảo là Cộng sản nằm vùng. Thảo bị ngưng chức tỉnh trưởng Kiến Hòa và đi học khóa Chỉ Huy THam Mưu ở Hoa Kỳ.
Lý do là, Thảo đã thả hơn 2000 tù nhân đã bị giam giữ và liên lạc với bà Nguyễn Thị Định.
5. Tham gia các cuộc đảo chánh
1. Đảo chánh lần thứ nhất, 1963
Tháng 9 năm 1963, bác sĩ Trần Kim Tuyến, nguyên Giám Đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị (Thực chất là trùm mật vụ) và Phạm Ngọc Thảo âm mưu 1 cuộc đảo chánh Ngô Đình Diệm.
Phạm Ngọc Thảo đã kêu gọi được một số đơn vị như Quân Đoàn 3, Quân Đoàn 4, Biệt Động Quân, Bảo An sẵn sàng tham gia. Nhưng âm mưu bị nghi ngờ. Trần Kim Tuyến bị đưa đi làm Tổng Lãnh Sự ở Ai Cập.
Sau ngày đảo chánh 1-11-1963 , Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đỗ. Phạm Ngọc Thảo thăng chức Đại tá làm Tuỳ Viên báo chí trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Một thời gian sau, được cử làm Tuỳ viên Văn hóa tại Tòa đại sứ VNCH ở Hoa Kỳ.
2. Đảo chánh lần thứ hai năm 1965
Đầu năm 1965, Phạm Ngọc Thảo bị gọi về nước vì Nguyễn Khánh muốn bắt Thảo. Vì thế, khi về đến phi trường Tân Sơn Nhất, Thảo đào nhiệm, bỏ trốn và bí mật liên lạc với các lực lượng đối lập để tổ chức đảo chánh.
Đảo chánh với lý do rất quan trọng mà Thảo nắm được là Nguyễn Khánh và Hoa Kỳ thỏa thuận sẽ ném bom xuống miền Bắc vào ngày 20-2-1965 . Vì vậy phải đảo chánh lật Nguyễn Khánh vào ngày 19-2-1965 .
Ngày 19-2-1965
Phạm Ngọc Thảo và Tướng Lâm Văn Phát đem quân và xe tăng vào chiếm trại Lê Văn Duyệt, đài phát thanh Saigon, bến Bạch Đằng và phi trường Tân Sơn Nhất. Tướng Nguyễn Khánh đào thoát bằng máy bay ra Vủng Tàu.
Ngày 20-2-1965
Hội Đồng các tướng lãnh họp tại Biên Hòa các tướng cử Nguyễn Chánh Thi làm chỉ huy chống lại đảo chánh. Nguyễn Chánh Thi ra lịnh cho Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát và 13 sĩ quan khác phải ra trình diện trong 24 giờ.
Ngày 21-2-1965
Các tướng tiếp tục họp tại Biên Hòa quyết định giải nhiệm Nguyễn Khánh và cử tướng Trần Văn Minh làm Tổng Tư Lệnh QLVNCH.
Ngày 22-2-1965
Quốc trưởng Phan Khắc Sửu ký sắc lịnh bổ nhiệm tướng Nguyễn Khánh làm Đại sứ lưu động. (Một hình thức trục xuất ra khỏi nước)
Ngày 25-2-1965
Nguyễn Khánh rời Việt Nam. Phạm Ngọc Thảo bỏ trốn.
6* Bị bắt và qua đời
Ngày 11-6-1965
Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát tuyên bố trả quyền lãnh đạo quốc gia lại cho Quân đội.
Ngày 14-6-1965
Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia được thành lập do tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch.
Phạm Ngọc Thảo phải rút vào hoạt động bí mật. Thảo cho xuất bản tờ báo Việt Tiến mỗi ngày phát hành 50,000 tờ, tuyên truyền tinh thần yêu nước chống Mỹ và Thiệu.
Phạm Ngọc Thảo có 1 hàng rào bảo vệ rộng lớn từ các Xứ Đạo Biên Hòa, Hố Nai, Thủ Đức, Saigon. Có nhiều linh mục giúp đở in ấn và phát hành. Chính quyền Thiệu-Kỳ kết án tử hình và treo giải thưởng 3 triệu đồng cho ai bắt được Thảo.
Võ Văn Kiệt (Sáu Dân) kể lại "Tôi thấy Thảo gặp khó khăn nên đi tìm anh để đưa về chiến khu, nhưng anh bảo vẫn còn khả năng đảo chánh để ngăn chận việc đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam". (Võ Văn Kiệt)
Lâm Văn Phát ra trình diện và chỉ bị cách chức.
Phạm Ngọc Thảo phải trốn nhiều nơi, cuối cùng bị bắt tại Đan Viện Phước Lý, xã Vĩnh Thanh, quận Nhơn Trạch, Biên Hòa.
Lúc 3 giờ sáng ngày 16-7-1965, Thảo vừa ra khỏi Đan Viện Phước Lý thì bị An ninh Quân Đội phục kích bắt và đưa về 1 con suối nhỏ gần Biên Hòa để thủ tiêu. Tuy nhiên, Thảo không chết, chỉ bị ngất xĩu vì đạn trúng vào càm. Khi tĩnh dậy, Thảo lê lết về một nhà thờ và được Linh mục Cường, Cha Tuyên Uý của Dòng Nữ Tu Đa Minh cứu chữa.
Và Thảo bị phát giác, bị đưa về Cục An Ninh QĐ đường Nguyễn Bĩnh Khiêm. Thảo bị tra tấn cho đến chết vào đêm 17-7-1965. 43 tuổi.
Theo Larry Berman trong cuốn "Perfect Spy" thì TT Thiệu ra lịnh tra tấn và hành hạ Thảo cho thật đau đớn bằng cách dùng 1 cái thòng lọng bằng da, buộc quanh cổ và 1 cái khác thì siết mạnh nơi tinh hoàn. Cũng có tin nói rằng Đại uý Hùng Sùi bóp dái Thảo cho đến chết.
Phạm Ngọc Thảo có 7 con và vợ Thảo đi dạy hoc. Tất cả hiện đang sinh sống ở Hoa Kỳ. Có người con là bác sĩ ở Quận Cam, Cali.
Phạm Ngọc Thảo là 1 điệp viên đơn tuyến. Không có thượng cấp và thuộc cấp. Không thu thập tin tức mà chỉ tác động vào chính quyền.
Nhà nước CSVN truy tặng Thảo danh hiệu Liệt sĩ và quân hàm Đại tá QĐNDVN.
Cũng có nguồn tin cho rằng Phạm Ngọc Thảo là 1 gián điệp nhị trùng, nghĩa là làm việc cho CIA nữa.

Trúc Giang
Minnesota ngày 20-10-2011