Monday, February 19, 2024

 Cặp mắt long lanh của cô thày bói

02/06/2018
Tác giả: Chu Tất Tiến

Bài số 5403-19-31244-v7060218

Tác giả là một nhà giáo, nhà báo, nhà hoạt động xã hội quen biết tại Little Saigon.  Tới Mỹ theo diện Hát Ô Một từ 1990. Suốt 28 năm qua, ông  không ngừng viết văn viết báo tiếng Việt, tiếng Anh. Trong năm qua, có tới 7 cuốn sách mới. Góp sức với Viết Về Nước Mỹ, ông đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ từ những năm đầu, và vẫn tiếp tục thêm bài mới.
 

***
 

Đang chuẩn bị soạn chương trình cho một “show” ca nhạc, chợt điện thoại rung lên. Tôi cầm máy lên và thấy tên của P, một ca sĩ trong chương trình của tôi. “Hế Lô!, cô em! Có chiện chi dzậy?”, tôi đùa. Giọng P trầm hẳn:

-Anh biết gì không? M chết rồi!

Tôi hoang mang:

-Em nói sao? Cái gì chết? Ai chết?

-Thì M đó! M, cô con thầy bói H là người mà anh đi tìm hoài đó!

Không tin những gì vừa nghe, tôi lắp bắp hỏi lại:

-Cái gì? M chết? Thật không?

Hình như T gắt lên, giọng cô đẫm nước mắt:

-Còn hỏi? M chết hôm qua rồi!

Tôi ngước nhìn lên trời, cánh tay tôi tự nhiên nhũn ra. Chiếc điện thoại không giây, chợt như nặng hàng chục ký khiến không còn sức để giữ nó trong tay nữa và mặc cho nó rơi xuống đất cùng với tiếng gọi giật giọng của P: “Anh T...! Anh T...”

Như người bị tụt xuống hố sâu, tôi chợt thấy hoang mang, hụt hẫng, đầu óc tự nhiên trống rỗng... Tôi vẫn nhớ rõ khuôn mặt em, trái xoan, bầu bầu của người miền Nam, với đôi mắt linh hoạt, như hai hồ nước long lanh mà trong đó, khuôn mặt tôi chìm khuất đâu đó. Nụ cười của em, người con gái Nam Kỳ có hai lúm đồng tiền, mà mỗi khi cười thì đồng tiền lún sâu xuống, khiến gò má em căng lên, như hai trái táo thơm. Kỷ niệm từ đâu chợt về xôn xao, lồng lộng...

Năm 1968, tôi mới đi tu nghiệp ở Mỹ về, tương lai tràn trề, tươi sáng. Tôi như con chim ra ràng, thấy bầu trời cao là mê man, lúc nào cũng muốn cất cánh bay lên và không hề nghĩ rằng đời mình sẽ có lúc tàn mạt. Nghe nói có ông Thầy bói toán hay lắm, khách hàng đông nườm nượp, tôi rủ Q, một anh bạn lớn tuổi hơn tôi nhiều:

-Ê! Hôm nào đi coi bói chơi! Nghe nói ông Thầy kia nói trúng phong phóc. Đi thử xem lấy được cô vợ nào..

Q đồng ý ngay:

-Đi thì đi! Sợ gì?

Thế là hai thằng leo lên chiếc Vespa của Q phóng một lèo tới nhà Thầy. Dựng xe trước cửa, khóa lại, rồi hùng dũng tới bấm chuông. Chừng 30 giây sau, cánh cửa sẳt mở khẽ, một khuôn mặt trái xoan nhìn ra, thấy chúng tôi mặc quân phục sĩ quan, cô bé nhích môi cười và dang tay đẩy hết cánh cửa sắt rộng ra và lùi lại, nhường cho hai đứa tôi bước vào.

Vừa nhìn thấy cô bé có cặp má bầu bầu, chừng hơn 20 tuổi, tôi đã có cảm tình ngay, vì không hiểu sao, với tôi, các cô gái Nam Kỳ có điều chi hấp dẫn mà tả không nổi. Trong sự ngây thơ, hiền hậu của các cô, vẫn có thấp thoáng một bí hiểm chi đó, một quyến rũ chi đó, cũng như những nàng công chúa Ba Tư trong chuyện 1001 đêm, chỉ có đôi mắt thăm thẳm thôi mà tráng sĩ nào cũng như tê liệt. Cô bé con ông thầy này cũng có đôi mắt hấp dẫn lạ thường, nhất là nụ cười duyên, mỗi lần nhích mép là hai trái táo cấm của chuyện Bạch Tuyết lại đong đưa, mời gọi. Chiếc áo bà ba trắng miền Nam, chiếc áo làm cho ngay cả những kẻ hung dữ cũng phải chùng chân, như bừng sáng lên trên một thân thể tròn lẳn, gợi cảm vô cùng.

Cố trấn tĩnh chút tình cảm xao động vừa chợt đến, tôi cười, ghẹo em liền:

-Em tên chi?

Cô bé không vừa, đáp ngay:

-Dạ, em tên Chi. Mà anh hỏi làm chi dzậy?

Tôi tấn công em liền:

-Anh hỏi để làm quen, có được không? Mà có đúng em tên Chi không?

Hai trái táo hình như hồng thêm:

-Em cũng hổng biết tên em là chi nữa? Sao anh hỏi kỹ dzậy? Có chiện chi muốn nói đây?

Tôi bắt đầu lúng búng:

-À... à.. anh muốn... muốn.. coi bói! Mà Ba có nhà không em?

Tôi tỉnh bơ gọi ông Thầy bằng Ba để chọc em. Thật nhanh, không một chút ngần ngừ, người đẹp đáp liền:

-Ba thì hổng có nhà, chỉ có em thôi. Ba đi công chiện rồi. Anh muốn coi bói hả? Em coi cho! Em nói thiệt. Tên em là M. Em coi bói hổng thua ba đâu. Mà.. trước khi coi, anh.. tên chi?

Không thể dấu, tôi xưng tên và quay qua chỉ anh bạn: “đây là anh Q.”

Thấy cặp mắt nhìn về mình, annh bạn tôi từ nãy yên lặng, giờ mới mở được lời, có chút lơi lả:

-Em coi...có ngon lành không?

Một trái táo nhích lên:

-Dà....dà.. cũng ngon lành lắm! Anh muốn thử, thì đưa tay đây. Em coi làm phước!

Chà, dữ a! Cô bé này cũng không phải thứ hiền đâu. Tôi cười và xòe tay ngay trước mặt em:

-Thì làm phước cho anh một chút đi. Nè! Tay đây! Em coi thử xem. Nói trúng, anh thưởng... một chầu cà phê đen, không đá, không đường!

-Xí! Tưởng gì? Thứ đó, em hổng ham. Em hổng phải là dân cà phê đen như các anh đâu.

Tôi cười hích hích:

-Thế... em muốn gì nào?

-Em nói rồi! Em chỉ coi làm phước thôi! Không muốn gì hết á!

Nói xong, em cầm tay tôi tên, nhìn chăm chú. Chợt, nét mặt em đăm chiêu hẳn lên, hai lông mày cau lại vào giữa. Hai trái táo thôi hồng vì cặp môi em cắn vào nhau. M hơi nghiêng mặt sang một bên, và nhìn xéo lên trời như muốn tìm một câu trả lời. Yên lặng nặng nề. Hai đứa tôi, vốn quậy phá như điên, cũng chợt im lặng, căng thẳng.

Chừng 1,2 phút sau, M mới thở dài, ngước cặp mắt long lanh nhìn tôi:

-Em nói thiệt nhe. Tay anh xấu lắm. Bổn mạng anh xấu lắm!

Tôi hơi nhích môi cười gượng. Mình đang ngon lành như thế này, tương lai cứ đi lên vèo vèo, sao em lại nói xấu lắm? Em này “man-cô-đơn” rồi! (Hồi đó, tiếng lóng “Man” là từ tiếng Pháp ra, nghĩa là “tửng tửng”). M nhìn thẳng vào tôi:

-Tin em đi. Số mệnh anh bây giờ thì đang khá, nhưng chỉ vài năm nữa, thì đời anh tàn!

Tôi cười, có chút kiêu căng:

-Sao? Đời anh làm sao mà tàn được?

M lắc đầu, buồn bã:


-Thiệt đó mà! Em hông nói dỡn đâu. Em thấy.. em thấy.. chỉ vài năm nữa, là anh thân tàn, ma dại. Mất hết tương lai, sự nghiệp. Xa vợ, xa con. Gặp nạn lớn, có thể chết vài lần. Nghĩa là.. không biết có thoát không? Điều này thì em không chắc... Nghĩa là.. nghĩa là.. xấu lắm! Em chưa thấy ai có số xấu bằng anh.

Tôi kêu lên, giả giọng Huế: “Trời! Chi mà tệ rựa!”

Anh bạn tôi vội chìa tay ra:

-Em coi giùm anh xem có xấu như bạn anh không?

Cô bé ngập ngừng, rồi cũng cầm lấy tay bạn tôi, chăm chú một lúc rồi lắc đầu:

-Không! Số anh tốt! Anh không bị chi cả. Đời anh thong thả, bình thường.

Tôi cố nhịn cười. Cô bé này... thiệt... quái đản! Chưa thấy ông thầy bói nào mà dám nói xấu như thế:

-Vậy.. thì.. em xem có cách nào cứu anh không?

-Hừm! Để em ráng ...

Cô bé bảo tôi đưa cả hai tay, nghiêng qua nghiêng lại, có lúc cúi xuống gần sát, cắn môi, suy nghĩ. Rồi đột nhiên lại lật bàn tay phải của mình lên, nhìn ngó chăm bẳm. Một thoáng yên lặng nặng nề. Rồi cô ngước lên, nhìn thẳng vào tôi, nói dõng dạc:

-Có cách cứu được anh!

Tôi cười giỡn:

-Thiệt hông?

Em nghiêm nét mặt, trông như Ma Sơ:

-Không giỡn à nhe! Em nói thật, chỉ có môt cách cứu được anh thoát nạn đó. Có muốn nghe không? Nghe thì không được cười. Chịu không? Chịu thì em mới nói.

Vội gật đầu, tôi làm bộ suy tư. Cô gái nói chậm rãi:

-Có cách.. có cách.. giải nạn.. bằng cách.. cách.. anh ... phải cưới em!

Tôi muốn nhẩy lên, cười rũ, nhưng thấy nét mặt em trang nghiêm quá, lại không dám, mà làm bộ tin tưởng:

-Thật chứ? Anh phải lấy em thì mới thoát nạn hả?

Cô bé gật đầu, rồi cúi xuống, mắc cở làm hai trái táo hồng lên.

Không biết nói sao, tôi im lặng một lúc cùng với anh bạn. Hai thằng nhìn nhau, cười gượng. Tôi buột miệng:

-Em xinh quá! Lấy em là có phước cho anh lắm rồi. Nhưng anh phải.. anh phải.. phải...về hỏi mẹ anh đã nhé.. rồi anh trở lại... Cám ơn em.

Sau đó, tôi vội vã chào em, và hứa trở lại. Cô bé bây giờ trông nghiêm nghị lạ lùng, đôi mắt thăm thẳm nhìn tôi, không nói một lời.

Hai đứa tôi đi như chạy ra xe, leo lên Vespa rồi đạp máy, chạy vù đi, để lại sau lưng tiếng cửa sắt khép lại nghe “Ké...et...ét...ét...”

Đợi một lúc cho gió thổi bay đi cái không khí nặng nề vừa qua, chợt hai thằng phá lên cười như điên. Đời thiệt kỳ lạ. Ai dè cô thầy bói lại nói người xem phải lấy mình thì mới thoát nạn chết.. ha ha .. ha....

Những tưởng chuyện vui rồi qua đi, nhưng không ngờ hình bóng của cô bé mũm mĩm với hai trái táo duyên và cặp mắt trong xanh như hồ Lệ Thủy, lại bám vào hồn tôi, không rời. Cả ngày tôi cứ bị ám ảnh bởi hình dáng và giọng nói miền Nam “ngọt như đường cát, mát như đường phèn” của M.

Một tuần sau, chịu không nổi, tôi phóng xe lại gặp em. Lần này, đột nhiên không khí như trầm lắng, hai đứa ngồi nhìn nhau, bối rối. Vốn là môt tay quậy, không chuyện gì bậy bạ mà không dám làm, thế mà ngồi trước M, tôi như tên nhà quê, ngớ ngẩn, chẳng biết nói gì. Còn em, thì chắc mắc cỡ với kết luận của mình nên cũng lúng túng, hai tay cứ xoắn qua, vặn lại.

Cứ thế mà một vài lần tới gặp em, tôi vẫn không thể nào dám mở miệng, rủ em đi ăn chè, ăn bánh cuốn.. như tôi vẫn làm với những em khác... Những lời giỡn đùa của tôi biến đâu mất. Tôi như bị cụt lưỡi luôn.. Vì thế, mà tôi không đến em nữa, và em cũng chẳng bao giờ gọi điện thoại cho tôi, dù tôi đã đưa cho em... Cuộc đời chầm chậm trôi qua.. đến năm 1975!

Biến cố kinh hoàng của miền Nam làm tôi cũng như cả triệu người phục vụ cho Miền Nam bị xoáy vào cơn lốc chính trị, quân sự tít mù, khiến tôi quên mất hình bóng em, quên hết, quên thật sự, coi như một lần vui chơi, đùa giỡn, nhưng sau đó nhiều năm, nghĩ lại, thấy em quả là một thiên tài bói toán: em đã nhìn thấy trước cuộc thảm bại chính trị của miền Nam, đã nhìn thấy tôi chui vào cổng trại tù, thấy tôi xa vợ, xa con, bị đầy đọa, mất hết thân phận, và nhiều lần tưởng chết. Còn bạn tôi, thì anh vọt lẹ từ đầu tháng 5, sang Mỹ làm việc thong dong, cho đến ngày về hưu. Và em, em cũng ra đi trước cuối tháng 4. Giả sử, giả sử cho vui thôi nhé, nếu theo số phận an bài, nếu tôi lấy em, và dọt theo em cuối tháng 4 năm ấy, thì tôi đã không đi tù...

Năm tháng qua đi như “bóng câu qua cửa sổ”. Tôi qua Mỹ theo diện H.O.1. Vốn tính đam mê làm việc, tôi lao vào các công việc cộng đồng, tổ chức văn nghệ H.O, rồi Tù Ca, rồi các chương trình văn nghệ gây quỹ giúp bão lụt, xây tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ..

Từ quan hệ với các ca sĩ, tôi tình cờ biết rằng M chính là chị của một ca sĩ nổi tiếng ở miền Nam California. Một hôm, tôi gọi chàng ca sĩ này và kể chuyện xưa cho chàng nghe. Chàng buồn bã:

-Chị em bây giờ tu rồi! Chị vẫn không lấy chồng! Trước 75, chị vẫn ở vậy, mọi người giục chị đi lấy chồng, chị chỉ cười, không nói gì. Bây giờ, em mới biết là chị.. chờ anh!

Tôi ngần ngại:

-Em... cho anh gặp chị em được không?

-Thôi, anh, lỡ rồi! Chị em đã tu rồi, gặp nhau làm chi nữa...

“Số mệnh đã an bài” là câu nói ở cửa miệng của nhân vật nữ trong trường thiên phóng sự của nhà văn Nguyễn Đình Thiều. Bây giờ, nghĩ lại, thấy thật đúng. Không ai tránh khỏi số phận mà Trời đã định. Với những người theo đạo Thiên Chúa, thì đúng là “ý Chúa định!”

Và rồi, tuy cái cell phone đã rơi khỏi tay tôi, nhưng tiếng gắt và giọng nói đẫm nước mắt của cô ca sĩ vẫn lùng bùng trong tai.

-Còn hỏi? M chết hôm qua rồi!

Hỏi gì nữa và hỏi ai bây giiờ. Ô hay, cái mặt nhìn trời của tôi sao không thể nhúc nhích?

Qua cửa sổ là buổi trưa nắng nhạt. Trời cao không mây, nhưng hình như có đôi mắt long lanh, thăm thẳm...

Chu Tất Tiến

Next Home First Choice Realty.

GỬI Ý KIẾN CỦA BẠN
TẮT
TELEX
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 832,387,618
Con đường dài nhất của người lính không phải là con đường ra mặt trận, mà chính là con đường trở về nhà. Đúng vậy, con đường trở về mang nhiều cay đắng, xót xa của vết thương lòng, của những cái nhìn không thiện cảm của người chung quanh mình, và nhất là những cơn ác mộng mỗi đêm, cho dù người lính đã giã từ vũ khí mong sống lại đời sống của những ngày yên bình trước đây.
Khanh con gái bà chị họ của tôi, sinh năm Nhâm Tý xuân này tròn 48 tuổi, ông bà mình bảo, Nam Nhâm, Nữ Quý bảnh nhất thiên hạ. Mẹ nó tuổi Quý Tỵ, khổ như trâu, một đời vất vả gánh vác chồng con, con bé tuổi Nhâm mạnh mẽ như con trai nhờ ông ngoại hun đúc từ tấm bé.
Nhìn hai cây sồi cổ thụ ngoài ngõ cũng đủ biết căn nhà đã trả hết nợ từ lâu. Hai cái xe Cadillac của người già không lên tiếng nhưng nói biết bao điều về nước Mỹ. Khi còn trẻ thì người ta không có tiền để mua những cái xe đắt tiền như Cadillac, Lincoln. Những cô cậu thanh niên mắt sáng, chân vững tay nhanh, chỉ đứng nhìn theo những chiếc xe bóng loáng, mạnh mẽ…
Tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2014. Bà định cư tại Mỹ từ 26 tháng Ba 1992, hiện là cư dân Cher

Saturday, February 17, 2024

Cuộc đời của ca sĩ THIÊN KIM sanh ngày 29/8/1972.


Thay thế các chữ bằng số ta có:

               THIÊN   KIM

                45155    214

                   20         7

Rút gọn:      2          7

Vì 2 + 7 = 9, nhỏ hơn 10, nên ta phải cộng 20 với 7 = 27, đây là một số rất may mắn, mà ý nghĩa như sau.

Ý nghĩa của số 27
Gậy chỉ huy
Đây là một số xuất sắc, hài hòa, và may mắn của can đảm và quyền lực, với một nét quyến rũ (a touch of enchantment). Số này phù hộ cho người hay thực thể mà nó đại diện với một hứa hẹn về quyền lực và chỉ huy. Nó bảo đảm rằng các phần thưởng lớn sẽ đến từ những công việc hữu ích/có kết quả (productive labor), trí tuệ (intellect), và tưởng tượng, rằng những năng lực (faculty) sáng tạo đã gieo mầm tốt sẽ chắc chắn gặt hái một vụ mùa tốt (reap a rich harvest). Những ai hay thực thể đại diện bởi số 27 sẽ luôn luôn tiến hành những ý nghĩ và dự định riêng của họ, ko bị dọa nạt (intimidate) hay ảnh hưởng bởi ý kiến khác biệt hay chống đối từ kẻ khác. Đây là số do NGHIỆP TỐT, đã đạt được từ nhiều kiếp trước.
Dịch từ trang 261 của sách đã dẫn.

Wednesday, February 14, 2024

 Chiếc xà lan định mạng

https://youtu.be/oXGOxd3XOJ8?si=DR7GkqHggHVP7kMY

CÁC TRẬN ĐÁNH ĐẪM MÁU CỦA DÂN SỰ CHIẾN ĐẤU VÀ TĐ 22 BĐQ TRÊN QL-19 VÀ TRẬN KANNACK NĂM 1965.

Chuyển ngữ từ trang 92 - 96 của quyển Green Berets at War của Shelby Stanton. 

LỜI MỞ ĐẦU

"Ngày 5/1/1965, trại Trảng Sụp (ký hiệu A-411 do đại úy Healy chỉ huy) và Suối Đá (ký hiệu A-114 do đại úy Ekman chỉ huy) đã tổ chức hành quân vào Chiến khu C với 6 đại đội Dân sự Chiến đấu (DSCĐ). Sau một chạm súng ngắn ngủi với VC, các đại đội 326 DSCĐ người Campuchia và đại đội 324 DSCĐ người Việt đã mất tinh thần và rời bỏ trận địa. Hai đại đội này đã bị giải giới và giải tán (break up). Trong khi trại Phước Vĩnh (ký hiệu A-312 do đại úy Spargo chỉ huy) đã chiến thắng tại một căn cứ VC ở bìa của chiến khu D trong cùng tháng, các lính DSCĐ người Campuchia này sau đó đã từ chối hành quân cách xa trại hơn 1 dặm. Vì có đại đội 347 DSCĐ gốc Nùng rất trung thành tạm thời bảo vệ trại, nên lính Campuchia "được quyền chọn lựa giữa tuân lịnh cấp trên hay rời bỏ hàng ngũ," và lực lượng này đã được cải tổ toàn diện.

Một trong những việc xử dụng ko đúng cách và đáng buồn nhất các lực lượng dân sự chiến đấu (DSCĐ) của LLĐB Mỹ đã xảy ra trong những tháng đầu của năm 1965 dọc QL-19, con đường huyết mạch chánh nối liền bờ biển với cao nguyên miền Trung. Con đường này xuất phát từ Qui Nhơn ở ven biển và cao dần, quanh co các hẻm núi (gorge) đầy rừng rậm và các đèo cao trước khi tới Pleiku. Tướng Westmoreland, TL của BTL yễm trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam, viết tắt là MAC-V đã lo âu về khả năng VC có thể chia đôi nước này làm hai. Do đó việc bảo vệ QL-19 là một trách nhiệm quan trọng về quân sự. Ông dự định tới cuối mùa thu năm 1965 sẽ giao sđ 1 Không kỵ Mỹ trách nhiệm này. Nhưng từ đây tới ngày đó, việc hộ tống các đoàn xe và an ninh các đèo được đặt lên vai các người lính DSCĐ gốc Rha-đê kém may mắn (hapless) này của LLĐB. 

Vài trăm lính DSCĐ gốc Rha-đê đã từng tham gia cuộc nổi loạn của người Thượng (Montagard uprising), cùng với gia đình, đã buộc phải chuyển tới hai trại mới, đặt ở vị trí chiến lược ở hai ngọn đèo quan trọng là Mang Yang và An Khê. 

(Cuộc nổi loạn xảy ra từ 19 đến 28 tháng 9/1964, bắt đầu từ các trại LLĐB tại khu vực Ban Mê Thuột. Lính Thượng ở các trại này chỉ trung thành với cấp chỉ huy người Thượng và cố vấn Mỹ. Ở một số trại, họ đã giết các cố vấn LLĐB người Việt và giam giữ các cố vấn LLĐB Mỹ. Cuộc nổi loạn này đã chấm dứt nhờ sự dàn xếp của một số sĩ quan như đại tá Freund, cố vấn của quân đoàn 2 hay đại úy Gillespie, chỉ huy toán A-312 tại trại Buôn Brieng, và một số sĩ quan LLĐB Mỹ khác -- người dịch).

Trại An Khê, ký hiệu A-4 do đại úy Hendricks chỉ huy, gồm lính DSCĐ gốc Rha-đê, rất kỷ luật và trung thành, chuyển từ trại Bu Prang ở tỉnh Quảng Đức. Trại Suối Đôi, ký hiệu A-3, do đại úy Mireau chỉ huy, cũng là lính DSCĐ gốc Rha-đê nhưng tinh thần chiến đấu kém hơn. Những người này đã chuyển từ tháng 1/1964 từ trại Ban Don (tây bắc của Ban Mê Thuột) và đã chống đối kịch liệt vì cho rằng họ được dùng làm chốt thí (cannon fodder) dọc Ql-19. 

Từ lâu, QL-19 đã là một bãi chiến trường. Các đài kỷ niệm nằm rải rác ven đường giữa Đèo An Khê và Đèo Mang Yang, đánh dấu trận đánh phục kích Chiến Đoàn 100 của Pháp năm 1954. Giờ đây, mười năm sau, VC vẫn dùng chiến thuật đó. Ngày 15 tháng 2 năm 1965, một đoàn công-voa lớn của Nam VN bị phá hủy giữa đèo Mang Yang. Trại An Khê được lịnh lập hai căn cứ tiền tiêu (forward operational base), viết tắt là FOB số 1 và 2, ở phía tây của đèo vào ngày 17 tháng 2 năm 1965. (Theo thông tin trên mạng, đèo Mang Yang ở phía đông của đèo An Khê và cách nhau 22 km -- người dịch)

Ba ngày sau VC đã đồng loạt tấn công hai căn cứ này. Trong khi FOB số 2 chỉ bị thiệt hại nhẹ do địch chỉ tấn công thăm dò vào tối ngày đó, FOB Số 1 ở phía tây của FOB số 2 và gần Đèo Mang Yang bị tràn ngập. Máy bay thám thính và C-123 chuyên thả hỏa châu đã bất lực vì mây bao phủ 2 căn cứ này. Một đại đội (đ.đ.) tiếp ứng gốc dân Rha-đê, dưới chỉ huy của đại úy Hendricks đã tới FOB số 1 vào sáng ngày 21/2 sau khi vượt qua một phục kích nhỏ. Lực lượng của ông đã trở lại An Khê an toàn với người chết và bị thương từ tiền đồn này (FOB số 1). Một toán DSCĐ khác, chỉ huy bởi đại úy Em, đã ko gặp may mắn khi di chuyển bằng xe và xuất phát từ An Khê để tìm kiếm 20 DSCĐ mất tích tại FOB số 1. 

Trên đường trở về An Khê, đoàn xe của đại úy Em đã bị một trận phục kích khác lúc 5:30 chiều. Dù bị thương nhưng đại úy đã lập được một chu vi phòng thủ, cầm cự trong hai ngày với lính bắn sẻ cũng như tấn công định kỳ (periodic) của địch. Toán quân DSCĐ cứu viện của đại úy Hendricks cũng ko thể phá một nút chận mạnh mẻ của VC trên QL-19 để giúp đội quân của đại úy Em hay tới được FOB số 2. Ông buộc phải rút lui sau đó trước khi mặt trời lặn với phân nửa xe cộ bị phá hủy. 

Trung tá Lindsey Hale, chỉ huy C-2 LLĐB ở Pleiku đã có rất ít nguồn lực trước tình hình này. Lúc 11 g đêm ông ra lịnh cho đại úy (đ.u.) Mireau, chỉ huy Trại Suối Đôi, hành quân về phía đông đến Đèo Mang Yang và đặt trung đội "Diều Hâu" gồm toàn lính Rha-đê thiện chiến trong tình trạng báo động. Trung đội này đã được thành lập tại Pleiku ngày 16/10/64 với mục đích phản ứng nhanh. Ông đã tăng cường cho cuộc hành quân (HQ) này vài trực thăng võ trang, nhưng các máy bay ném bom A-1E Skyraider dự trù cho cuộc HQ này giờ chót dùng cho mục tiêu khác. 

Cũng như phần lớn các đ.đ. DSCĐ, đ.đ. 269 ở Suối Đôi đã ko huấn luyện để đánh đêm. Đ.đ. của trung úy (lieutenant) Y-Lang gốc Rha-đê đã có lịnh di chuyển từ sáng 22/2 nhưng chỉ di chuyển sau 12 g. Những người lính nhỏ thó này, với nón sắt gần như che cả mắt và ăn vận đồng phục màu olive của lính bộ binh và rằn-ri, đã khó khăn lắm mới trèo lên những xe tải với sàn xe quá cao của Mỹ. Với tổng cộng 167 người, ngồi san sát trên 6 xe tải, đoàn xe đã lên đường lúc 1245 trưa.

Lúc 3:30 chiều, đoàn xe này vừa vượt qua FOB số 1 đã bị phá hủy trước đó và bắt đầu đi vào một khúc cong. Khi họ gặp một xe đò chạy ngược chiều, thì xe đò này bị trúng B-40 và bốc cháy. Đoàn xe liền ngừng lại dưới làn đạn súng nhỏ và cối. Từ hai bên đường, VC đã tấn công đoàn xe và lính DSCĐ nhảy xuống đất tìm chỗ núp. Ba cố vấn LLĐB Mỹ đã cố gắng tập họp đ.đ. Súng liên thanh và súng nhỏ của địch từ cỏ voi cao đã phá vỡ cuộc phản công của lính DSCĐ. Chuyên viên bậc 5 Geral Rose đã chết khi cố gắng phá vòng vây (breakout) trong khi lính Rha-đê phía sau ông ko muốn chiến đấu (falter). Trong cảnh cận chiến (melee) hai bên đã dùng súng, lưỡi lê và bá súng. Trung úy Griggs đã trúng đạn ở cổ nhưng đã bắn hạ năm VC khi họ tiến gần trung sĩ Long, bị thương ở đùi (thigh). Sau đó Griggs trúng đạn ở ngực và ngất xỉu.

Một số lính DSCĐ định hàng khi hết đạn nhưng đã tập hợp lại sau khi VC tiếp tục giết kẻ bị thương. Họ đã dùng lưỡi lê, dao, và nắm đấm để phá vòng vây và chạy bộ về một tiền đồn ở Đèo Mang Yang. VC ko để ý tới trung úy Griggs vì nghĩ rằng ông đã chết. Sau đó ông tỉnh lại và bò tới một máy truyền tin, nằm bên dưới một hiệu thính viên đã chết. Ông gọi gunship tấn công VC. Gunship đã bốc trung úy Griggs và trung sĩ Long sau khi một trực thăng tải thương trúng đạn và đáp khẩn cấp xuống Suối Đôi vì phi công bị thương và buồng máy bị cháy. 

Trung đội phản ứng nhanh, còn gọi là "diều hâu" đã xuống phiá đông của trận đánh một giờ sau cuộc phục kích này bắt đầu. Năm lính LLĐB và 36 DSCĐ người Rha-đê nhảy ra khỏi máy bay khi càn trực thăng đụng đất. Khi gần tới địa điểm phục kích, họ bị trực thăng bắn lầm. Dù vậy họ vẫn tiến về đoàn xe bị phục kích, bất chấp bị bắn sẻ và đại liên của vc. 

Trung đội này được tăng viện lúc 7:30 tối ngày 22/2 bởi 60 người của đ.đ. 2 của TĐ 22 BĐQ VNCH từ Pleiku. Họ đã lập một chu vi phòng thủ và vượt qua địa điểm mà đ.đ. 269 bị phục kích vào sáng ngày hôm sau. Sau đó họ đã bắt tay với đám tàn quân gồm lính của đ.u. Em và lính của FOB số 2. Thành phần còn lại của TĐ 22 BĐQ đã đổ xuống An Khê và định di chuyển trên QL-19 để bắt tay với lực lượng trên đây vào ngày 23/2. Cuộc tiến quân đã bị đẩy lui trong một trận đánh dữ dội khiến TĐ này bị thiệt hại nặng và rút chạy (stumble back). Mọi lực lượng trừ bị của QĐ 2 đã cạn kiệt, và rất nhiều trực thăng đã huy động để bốc đội quân bị bao vây này khỏi chiến trường.

Dù trận Đèo Mang Yang đã chấm dứt khi bỏ vùng này cho VC ngày 24/2, những người lính sống sót của đ.đ. 269 DSCĐ vẫn chưa trở về đơn vị. Gia đình của họ ở Suối Đôi đã muốn tìm kiếm người chết để chôn theo truyền thống bộ lạc. Đ.u. Mireau nói với họ rằng VC đã bắn B-40 vào xe đò dân sự là chỉ dấu họ sẽ ko tôn trọng việc dùng xe đò để chỡ xác. Vào buổi tối, ông đã gửi trung sĩ nhất Scearce và trung sĩ McCann đến tiền đồn này ở đèo Mang Yang để tập hợp những kẻ sống sót trong cuộc phục kích. Họ đã bị tiếp đón lạnh nhạt (sullenly) bởi 112 lính Rha-đê mất hồn (listless) tại tiền đồn này. Trong lúc trung sĩ Scearce đang nói chuyện để cố gắng nâng cao tinh thần cho họ thì 1/3 quân số này đột ngột rời bỏ hàng quân. 

Hai trung sĩ này cuối cùng đã thuyết phục đội quân (contigent) này của Suối Đôi trở về địa điểm phục kích để thu nhặt xác chết đồng đội vào 27/2. Đội quân này đã đến Suối Đôi ngày 1/3 với những lời đe dọa của họ với trung úy Khim (có lẽ là người VN -- người dịch) của LLĐB và các cố vấn Mỹ. Ở Suối Đôi, những người Rha-đê này trở nên mệt mỏi, chán nản (lethargic) và ko hợp tác với cấp chỉ huy và ngày 10/3 đã từ chối bất cứ hành quân nào trong tương lai. Hậu quả, tất cả họ đã bị nghỉ việc và trại Suối Đôi được giao cho TĐ 3/42 thuộc sđ 22 bộ binh vào ngày 24/3/1965. BTL Mỹ tại Việt Nam hay MAC-V đã nhấn mạnh rằng việc dùng ko đúng cách DSCĐ như đã kể, ko những khiến họ thua trận, mà còn làm tiêu tan rất nhiều các cố gắng của LLĐB nhằm thu phục lòng trung thành và hổ trợ của các DSCĐ. 

VC đã ko thành công khi tấn công các trại LLĐB. Trại Kannack, ký hiệu A-231 với 550 DSCĐ do đ.u. Viau chỉ huy, nằm khoảng 12 dặm bắc của QL-19, bị tấn công bởi một TĐ VC ngày 8/3/65. Sau khi mở màn bằng đạn cối, bộ binh địch đã nhanh chóng tràn ngập 2 tiền đồn và vượt qua hàng rào kẻm gai ngoài cùng. Hai bunker nằm trên chu vi phòng thủ có bố trí súng đại liên, đã bị súng không giựt của địch phá hủy và các đặc công với mìn bangalore đã tạo lổ hổng trên vòng kẻm gai bên trong. Tinh thần chiến đấu tuyệt vời (superbe) của những người lính Thượng, chiến đấu từ những vị trí chuẩn bị kỹ lưỡng và chỉ huy dũng cảm bởi đ.u. Viau, cuối cùng đã bẻ gẫy cuộc tấn công. Đặc biệt, hai ổ súng đại liên, bị rung chuyển liên tục vì trúng đạn không giựt và các khối chất nổ, đã đầy xác chết của lính VC trước hai bunker này. Khi hừng đông xuất hiện, các oanh tạc cơ A-1E đã bắn phá và ném bom vào tàn quân VC đang rút lui, theo sau đó là một phản công của DSCĐ nhằm chiếm lại tiền đồn phía nam, nơi mà số lính Thượng vẫn còn sống. 

(Theo một YouTuber ở: https://www.youtube.com/watch?v=NID1JnQP3nIt

thì lực lượng tấn công trại gồm một TĐ đặc công thiện chiến, có sự trợ lực của một trung đoàn bộ binh. Nhưng việc điều quân của họ đã bị lộ cả tháng trước đó, nên quân phòng thủ đã chuẩn bị kỹ lưỡng chờ đợi. Do đó họ đã bị thiệt hại nặng với số người chết khoảng 500 người! Quân trú phòng phải dùng xe ủi đất để đào hố chôn các xác chết -- người dịch).

Theo báo cáo hành quân thì trận Kannack có 34 DSCĐ và 3 thường dân bị chết, 3 lính LLĐB mỹ và 32 DSCĐ bị thương; có 119 bộ đội chết dựa vào đếm xác và số lớn chết đã được kéo đi./.

Chuyển ngữ từ số báo TIME ngày Friday, Mar. 19, 1965.

https://content.time.com/time/subscriber/article/0,33009,833551,00.html.

Xem thêm: Khi trận Kannack chấm dứt: CENTRAL VIETNAM: AFTERMATH OF KANNACK CAMP BATTLE | Reuters Archive Licensing (screenocean.com)

San Jose ngày 14 Tháng 2 2024.

Tài Trần