Tuesday, December 6, 2022

 

Nguồn gốc danh từ ‘Mạnh Thường Quân’

30/03/2015 Cổ Học Tinh Hoa 915 lượt xem

Chúng ta thường gọi những người hay làm từ thiện là các nhà Mạnh Thường Quân. Câu chuyện cổ về nguồn gốc của danh từ này là một bài học quý, đáng để suy ngẫm.

Nguồn gốc tên gọi Mạnh Thường Quân
‘Mạnh Thường Quân’ là danh từ chỉ người làm việc thiện.(Fotolia)

Mạnh Thường Quân là một người nghĩa hiệp thời Chiến Quốc, có tên là Điền Văn, làm tể tướng của nước Tề, được vua Tề phong ấp ở đất Tiết. Trong phủ ông luôn nuôi trên 300 thực khách, tính ông lại rất rộng rãi, thường đem tiền cho người khác vay mượn. Vì thực khách mỗi ngày một đông, số tiền chi tiêu không đủ, nên một hôm ông sai một thực khách là Phùng Hoan đi qua đất Tiết đòi nợ.

Trước khi lên đường, Phùng Hoan hỏi Mạnh Thường Quân: “Khi thu được tiền nợ, tướng công có cần mua gì về chăng?”

Mạnh Thường Quân đáp: “Xem trong nhà thiếu gì thì mua”.

Khi đến đất Tiết, Phùng Hoan triệu tập dân đến tụ họp và nói:

“Hôm nay ta đến đây không phải là đòi nợ, mà là đến báo một tin mừng, chủ ta là Mạnh Thường Quân nói tiền nợ của quý vị phụ lão đã vay mượn đều khỏi trả, nên hôm nay sai ta đến đây để hủy bỏ tất cả những khế ước mà quý vị đã lập trong lúc vay mượn”.

Phùng Hoan nói xong, liền đem khế ước vay nợ của dân Tiết mang ra xé hết và đốt trước mặt mọi người. Khi đốt xong. Phùng Hoan từ giã dân Tiết, trở về báo cùng Mạnh Thường Quân.

Thấy Phùng Hoan về đến nhà, Mạnh Thường Quân hỏi:

“Thu nợ xong rồi có mua gì về chăng?”

Phùng Hoan đáp:

“Trước khi đi tôi đã xem xét kỹ lưỡng, thấy nhà của tướng công ngọc ngà châu báo chứa đầy kho, người đẹp đầy nhà, chó ngựa cũng đầy chuồng, chẳng thiếu gì hết. Chỉ có chữ  nhân nghĩa là chưa đủ, nên hôm nay đi đòi nợ tôi đã dùng số tiền đó mua chữ nhân nghĩa cho tướng công rồi”.

Mạnh Thường Quân nghe Phùng Hoan nói xong, trong lòng biến sắc:

“Ta vì lo sợ trong nhà khách đông, bổng lộc không đủ chi tiêu mới sai tiên sinh đi thu nợ, nay tiền không thu được lại đem giấy nợ mang đi đốt, sau này chi tiêu không đủ thì thực khách sẽ bỏ ta mà đi hết, như thế gọi là mua nhân nghĩa hay sao?”

Phùng Hoan đáp:

“Đất Tiết là đất thế phong của tướng công, nhân dân đó sẽ là người cùng nhau sẻ ngọt chia bùi với tướng công. Nay kẻ hèn này mạo muội đốt bỏ giấy nợ, mục đích là để dân đất ấp biết cái đức của tướng công là trọng người khinh tài, như thế lòng nhân nghĩa của tướng công sẽ được truyền đi khắp nơi, đó là giúp tướng công thu phục nhân tâm vậy”.

Về sau, Mạnh Thường Quân bị người gièm pha, bị vua Tề thu hồi ấn tướng và đuổi vế ấp Tiết. Dân ấp Tiết nhớ ơn xưa, trăm họ già trẻ đều dìu nhau, xếp hàng trăm dặm mà nghênh tiếp, Mạnh Thường Quân nhìn thấy cảnh này mới nói với Phùng Hoan:

“Ý nghĩa mua nhân nghĩa của tiên sinh, đến bây giờ ta mới rõ”.

Thí ơn cho người, người sẽ ghi lòng tạc dạ, cảm nghĩa đời đời.

Nguồn gốc tên gọi Mạnh Thường Quân
Người đất Tiết, già trẻ lớn bé xếp hàng trăm dặm mà nghênh đón vị ân nhân Mạnh Thường Quân.

Câu chuyện này rất nhiều người đều biết, qua đó sự đa mưu túc trí và tầm nhìn xa trông rộng của Phùng Hoan khiến người ta cảm phục. Mạnh Thường Quân không thiếu thốn gì về vật chất, nhưng ông ta thiếu một chút ‘nhân nghĩa’, Phùng Hoan đã nhìn ra được thứ mà tương lai khi thế sự thay đổi hoặc chủ nhân thất thế có thể dùng đến.

Một trí giả hiểu rằng trời đất phong ba bão táp khó lường, con người có lúc thăng lúc trầm, cho nên khi có điều kiện thì phải biết tích đức hành thiện, phòng khi biến cố thì vẫn có thể bình an. Cho nên Phùng Hoan đã để lại cho chủ nhân của mình một con đường ‘nhân nghĩa’.

Trong lịch sử Trung Quốc, những trí giả như Phùng Hoan nhiều như sao buổi sớm, rất nhiều câu chuyện về họ còn lưu lại để truyền dạy người đời cách sống cho phải Đạo.

Cái tên Mạnh Thường Quân từ đó mà được dùng để chỉ những nhà hảo tâm, làm việc thiện vì người mà gây dựng đạo nhân nghĩa, Thần linh vì thế mà luôn phù hộ, độ trì.

Theo Minhhue

BÀI XEM NHIỀU - CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Cái chết của Giang Trạch Dân: ‘Kẻ sát nhân hung tàn cuối cùng đã chết, sứ giả của địa ngục sẽ nghênh đón ông’

01/12/22, 06:23 Trung Quốc

Sau khi truyền thông đưa tin về cái chết của cựu lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) Giang Trạch Dân, người dùng của nhiều nền tảng mạng xã hội đã bình luận rằng, thế thì ‘Quá hời cho ông ta’, ‘Tội ác chồng chất, có chặt hết tre làm sách cũng không ghi xuể’… 

Giang Trạch Dân, cựu lãnh đạo ĐCSTQ. (Ảnh: Internet)

Theo Epoch Times Tiếng Trung, tin tức về cái chết của cựu lãnh đạo ĐCSTQ Giang Trạch Dân tối qua (30/11) đã được nhiều người dùng mạng xã hội bình luận sôi nổi. 

Theo đó, sau khi Tân Hoa Xã công bố thông tin Giang Trạch Dân đã qua đời tại Thượng Hải lúc 12h13 ngày 30/11 (theo giờ địa phương), do bị bệnh bạch cầu và suy đa tạng, mạng xã hội Twitter ở nước ngoài đã nhanh chóng xuất hiện những cuộc thảo luận. 

Không ít cư dân mạng có chung suy nghĩ, bình luận rằng: 

– “Kẻ sát nhân hung tàn cuối cùng đã chết, sứ giả của địa ngục sẽ nghênh đón ông”

– “Tên đao phủ chuyên đàn áp giết hại nhân dân lại sống tới 96 tuổi”

– “Cuối cùng cũng chết! Khắp chốn mừng vui!”

 “Nhiệt liệt chúc mừng lão cóc già xuống địa ngục! Trời diệt ĐCSTQ”

 “Tội ác chồng chất, có chặt hết tre làm sách cũng không ghi xuể tội lỗi của ông ta”

– “Rất nhiều người ở Trung Quốc đang ăn mừng, đốt pháo, phát bao lì xì, phát những bài hát chúc ngày tốt lành. Có người còn mong chờ những ngày tốt lành như vậy tới thêm vài lần nữa…”

– “Tên ma đầu này phải xuống 19 tầng địa ngục, không bao giờ được đầu thai, phải chịu đau đớn vô tận”

– “Suy nghĩ đầu tiên của tôi là quá hời cho ông ta, so với những học viên Pháp Luân Công bị bức hại thì… À! Tôi quên mất là có một thế giới khác đang đợi ông ta, cánh cổng địa ngục đang đợi ông ta”…

Cựu lãnh đạo ĐCSTQ Giang Trạch Dân là thủ phạm chính trong cuộc đàn áp môn tu luyện ôn hòa Pháp Luân Công, hay còn gọi là Pháp Luân Đại Pháp. Ông ta đã bị Tổ chức Quốc tế Điều tra Cuộc đàn áp Pháp Luân Công (WOIPFG) ở hải ngoại truy xét trách nhiệm. 

Ngày 10/6/1999, Giang Trạch Dân thành lập ‘Phòng 610’, cơ quan đứng trên cả pháp luật và chuyên trách đàn áp Pháp Luân Công.

Tới ngày 20/7/1999, Giang và ĐCSTQ đã phát động cuộc đàn áp Pháp Luân Công trên khắp Trung Quốc, sử dụng mọi thủ đoạn và bộ máy nhà nước để bức hại dã man các học viên Pháp Luân Công. Cuộc bức hại này vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Hàng trăm triệu học viên Pháp Luân Công đã bị giam giữ phi pháp, bị lao động cải tạo, bị kết án tù, bị đánh đập đến chết, bị thương, gia đình tan nát, vợ con ly tán.

Tập đoàn Giang Trạch Dân còn mổ cướp nội tạng của các học viên Pháp Luân Công còn sống, đây được gọi là ‘tội ác chưa từng có trên hành tinh này’.

Về tội ác mổ cướp nội tạng, một số cư dân mạng bình luận như sau: 

– “Bao nhiêu sinh mạng đã bị giết, bao nhiêu nội tạng đã bị cướp đi, tôi cảm thấy vô cùng bi thương và cảm thán: ‘Tại sao… tại sao lại chết muộn như vậy, tại sao chỉ chết một mình ông ta!!!'”

– “Cuối cùng cũng chết rồi, nạn buôn người và cấy ghép nội tạng cuối cùng cũng có thể dừng lại một thời gian”

– “Thay nội tạng quá nhiều, cuối cùng cũng báo ứng”…

Theo Epoch Times

Tên lửa sát hạm của Trung Quốc có sức mạnh đáng sợ như thế nào?

  • Những hình ảnh khó tin Tổng thống nghèo nhất thế giới

    Những hình ảnh khó tin Tổng thống nghèo nhất thế giới

  • TT Trump gặp gỡ người tập Pháp Luân Công và các nạn nhân bị đàn áp tôn giáo

    TT Trump gặp gỡ người tập Pháp Luân Công và các nạn nhân bị đàn áp tôn giáo

  • Bao lâu rồi bạn chưa trò chuyện với bố?

    Bao lâu rồi bạn chưa trò chuyện với bố?

  • Bí ẩn cao tăng Ấn Độ thọ 1072 tuổi

    Bí ẩn cao tăng Ấn Độ thọ 1072 tuổi

  • Sự tích thần kỳ về thần y Tôn Tư Mạc

    Sự tích thần kỳ về thần y Tôn Tư Mạc

  • Lãnh đạo nhiều quốc gia phải cúi đầu nể phục Donald Trump vì 2 điều này

    Lãnh đạo nhiều quốc gia phải cúi đầu nể phục Donald Trump vì 2 điều này

  • Chiến tranh thế giới thứ 3 suýt nổ ra: Nếu không có vị anh hùng thầm lặng này

    Chiến tranh thế giới thứ 3 suýt nổ ra: Nếu không có vị anh hùng thầm lặng này

  • Hacker tiết lộ Sự thật ngày 11/9 và chính phủ ngầm ở Mỹ

    Hacker tiết lộ Sự thật ngày 11/9 và chính phủ ngầm ở Mỹ

  • Lòng trung thực đáng giá bao nhiêu?

    Lòng trung thực đáng giá bao nhiêu?

Sunday, December 4, 2022

         Chuyện Kỷ Niệm 40 năm trận chiến  

                Khánh Dương tháng 3 1975

 

                Ai về Dục Mỹ Buôn Ma Thuột
          Nếu có dừng chân ghé Khánh Dương
                                                        Chậm chân người hởi nhè nhẹ bước
                   Kẻo đạp lên mình các bạn tôi.

                  Ngày nào sinh tử thề hẹn ước.
                  Sao đành để lại một mình tôi
                 Đã mấy ĐÔNG về Anh vẫn đợi
                Là bấy XUÂN qua thấy thẹn lòng

 

                           Mũ Đỏ Cù Lũ Nhí

      Từ trước tới giờ có rất nhiều bài viết nói rằng Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Nhảy Dù tham chiến Khánh Dương. Thật sự là Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù mới là Tiểu Đoàn tham dự trận Khánh Dương. Có rất nhiều người biết, nhưng không có ai đính chính chắc tại vì cùng là Nhảy Dù cả ai cũng vậy thôi. Nhảy Dù luôn nêu cao tinh thần đồng đội đó là truyền thống của Binh Chủng Nhảy Dù. LĐ3/ND đổ quân vào Khánh Dương trên hai chiếc Dương Vận Hạm. Theo đích thân Tố Quyên thì chiếc Dương Vận Hạm LST 404 chở các TĐ 2, 5, 6 và ĐĐ3 Trinh Sát /ND. Còn chiếc Dương Vận Hạm LST 504 chở BCH/LĐ3, các ĐĐ Công Binh, Công Vụ,Truyền Tin và TĐ2 Pháo Binh Nhảy Dù. Chiếc LST 404 chở quân tới trước. Anh em Nhảy Dù ở trên đó cũng khá lâu trước khi xuống cảng vào sáng sớm. Phía Hải quân cho người nhái và tàu nhỏ vây quanh LST 404, quăng lựu đạn liên tục xuống nước đề phòng đặc công VC.

Trời gần sáng thì TĐ 2, 5, 6 và ĐĐ 3 Trinh Sát đổ quân xuống Cầu Đá. Tôi gặp lại MĐ Liễu Hùng Nghị SQ/Tiền Sát/TĐ5 (không nhớ đề lô cho ĐĐ nào) người bạn cùng khóa TĐ16 Đồng Đế, cùng khóa Dù 329, cùng khóa CBSQ/PB lần cuối gặp nhau ở cây số 17 Huế. Tụi tôi rủ nhau ra ngoài uống cà phê.

           Hai thằng sĩ quan nhỏ xíu mang 2 cây Colt 45 xệ xệ đi bộ ra ngoài cổng. Quân Cảnh có hỏi nhưng rồi cũng cho hai đứa ra. Chúng tôi lựa quán đối diện cổng có hai cô bán hàng khoảng tuổi 17,18t ngồi xuống uống cà phê tán dóc với hai cô. Thì ba của hai cô bước ra . Khi biết chúng tôi là Nhảy Dù từ Đà Nẵng về. Ông không nói gì cả mà đi vào trong.Một lát sau ông lái chiếc La Dalat ra kêu 2 cô gái nói gì đó tôi không nghe. Tán dóc với 2 cô khoảng 15 phút tôi đứng dậy tính tiền,nhưng 2 cô nói : Hai anh đợi ba em một chút ,còn tiền cà phê ba em dặn không được lấy.Chúng tôi ngồi xuống tiếp tục tán dóc không quên lợi dụng cơ hội xin tên và địa chỉ để nếu có dịp ra thăm hay thư từ làm quen.

            Một lát xe La Dalat về không phải một xe mà là 3 chiếc trên xe đầy những bánh mì,thuốc lá , đồ hộp v.v. toàn là đồ ăn liền . Ông nhờ tụi tôi chuyển vào trong cho anh em Nhảy Dù. Không có gì là cảm động hơn ,tôi ko nói được lời gì cả. Cái gì đó nghẹn trong cổ họng của mình.Một lát tôi mới có thể nói :Chuyện nầy để cháu dẫn chú vào gặp cấp cao hơn vì tụi con không có thẫm quyền. Sau khi cảm ơn 2 cô chúng tôi dẫn ông về cổng và trình bày sự việc . Xong chúng tôi chào ông về lại đơn vị của mình .Một lát sau bánh mì ,thuốc lá ,đồ hộp được phát ra cho anh em..

             Không những vậy khi đoàn GMC chở LĐ3/ND đi qua thành phố Nha Trang tiến về Dục Mỹ thì rất là nhiều đồ đa số là thuốc lá từng cây ,từng gói một quăng lên xe cho anh em .Không thể diển tả được tình cảm mà đồng bào Nha Trang dành cho anh em Nhảy Dù .Bao nhiêu mệt mỏi ,thất vọng,bất mản vì tưởng được về Sài Gòn sau cuộc hành quân đầy gian nan,vất vả tại Thường Đức tan biến hết .Anh em LĐ3/ND vào Khánh Dương với quân số hao hụt nhưng khí thế hào hùng chưa từng có . LỰC BẤT TÒNG TÂM, SỨC NGƯỜI CÓ HẠN . Mũ Đỏ LĐ3/ND đã làm hết những gì có thể.Máu của anh em đổ tràn trên đèo Phượng Hoàng để đền đáp ân tình mà người dân Nha Trang đã dành cho họ. 


               Tôi được lảnh lương tháng 3, tháng lương cuối cùng của đời lính ở đèo Phượng Hoàng trước khi cuộc chiến xảy ra .Lãnh lương có tiền tôi rủ Hiệp và Hùng 2 khinh binh Tr/Đội4/ĐĐ21 ra Dục Mỹ chơi. ĐĐ21/TĐ2 đang đóng an ninh cho Pháo Đội C2/TĐ2/PB/ND. Chúng tôi quá giang được xe GMC về Dục Mỹ, trên xe có khoảng 10  Nhảy Dù của các TĐ/ND, tôi có cấp bực lớn nhất. Xe ngừng ngay tại chợ Dục Mỹ. Chúng tôi vừa xuống xe thì từ trong quán nước bên đường một ông mặc đồ Dù hai bông mai đen một gạch dưới vẩy tay gọi lại đây lại đây. Tôi mặt mày xanh lè, kỳ nầy là tiêu rồi. Nhanh như con sóc tôi la lên: "Tất cả tập họp, anh em sửa sang lại quân phục. Hiệp làm chuẩn một hàng ngang trước mặt ông. Ch/U Nguyễn Phạm Phúc SQ: 75/118249 trưởng toán 9 người trình diện Tr/Tá chờ lệnh". Tôi la to và rỏ ràng từng chữ một cả chợ cũng còn nghe.Ai cũng quay lại nhìn chúng tôi chắc rất ư là khâm phục quân phong, quân kỷ của Nhảy Dù. Trúng tâm lý ông hiền từ hỏi: Đi đâu vậy ? Sao tóc dài vậy. Tôi trả lời :Thưa Tr/T tụi em xuống chơ hớt tóc và mua ít đồ . Ông bảo :Nhớ về đơn vị sớm .Tôi mừng hơn bắt được vàng trả lời dạ, rồi đàng sau quây hô to :Tan hàng cố gắng rồi dọt lẹ,hú hồn. Nhưng vẫn nhớ bảng tên Phát đó là Tr/Tá Phát LĐT/LĐ3/ND.

                   Chúng tôi ăn sáng ở Câu Lạc Bộ A của Trường Pháo Binh ,xong ra chợ Dục Mỹ mua đồ và uống cà phê.Cô Loan chủ quán nhận ra tôi ngay .Trước đây 7 tháng tôi là khách hàng thường trực của cô khi học CBSQ/PB. Cô có dáng người cao nước da trắng của con gái Đà Lạt,

 Ở tới chiều chúng tôi đón xe về lại Đơn Vị. Tối đó thiết giáp rút lui, không hiểu tại sao lại bắn loạn xạ hai bên đường như sợ bị phục kích làm chết và bị thương lính của TĐ6. Tờ mờ sáng ĐĐ21 được lệnh hành quân. Ai rút không biết chứ ĐĐ21 tiến lên giải vây cho TĐ6/ND đang bị tấn công. Tr/Uý Hà ĐĐT/ĐĐ21 điều các trung đội tấn công với pháo binh yểm trợ. Đóng quân trên đỉnh đồi nhỏ cách Quốc Lộ 21 khoảng trăm mét sau lưng BCH/TĐ6, tôi bắn pháo vào cứ điểm xung quanh Buôn Ea Thi bên kia đường, đạn nổ từng tràng ngăn các cuộc tấn công. VC mấy lần bắn sẻ bằng CKC, tôi suýt chết trong gang tấc. Tr/Úy Hà cho Hiệp khinh binh bò lên nhưng bị một CKC khác bắn bể tay cầm M16. VC ở khắp nơi tấn công nhưng không làm gì được phòng tuyến vẫn vững vàng. Nhưng VC không để yên cho các căn cứ Pháo của ND. Với quân số đông áp đảo, họ dể dàng bọc hậu, xuyên hông tấn công các căn cứ PB/ND. Không có quân tác chiến bảo vệ căn cứ PB/ND đều bị tràn ngập. Sau đó VC không đánh ĐĐ21 nữa mà đi vòng qua chúng tôi xuống Quốc Lộ 21 về Nha Trang, đi từng đoàn trên quốc lộ như đi diển hành theo đội hình thiết giáp và bộ binh tùng thiết.

       Tr/U Hà ĐĐT21 phải cho mở đường máu xuống núi, Hiệp khinh binh dẫn đầu ĐĐ21 chỉ với BCH và Trung Đội 4 tràn xuống băng qua quốc lộ hội quân với BCH/TĐ6/ND của Tr/T Thành TĐT/TĐ6. Vừa tấn công xông qua được quốc lộ tôi nghe tiếng của Th/Sỉ Hùng Thường Vụ ĐĐ21: Pháo Binh có đây không? Vì sợ tôi theo không kip. Đó là lần cuối cùng tôi nói chuyện với Th/Sỉ Hùng (Th/Sỉ Hùng đã vỉnh viển ở lại cùng với rất nhiều anh em khác). Hiệp khinh binh chạy theo dụ́i vào tay tôi cây AK47 bá xếp và bảo: Ông giữ phòng thân khi nào về Nha Trang bán lấy tiền xài rồi cười ha hả. Chưa chi mà đã lo sợ về Nha Trang không có tiền xài. Trên nét mặt của người lính ĐĐ21 không có chút gì là lo lắng hay sợ sệt, họ kỷ luật, hồn nhiên như là đang tham dự hành quân thao dợt. ĐĐ21 và BCH/TĐ6 cắt rừng, lội suối, nhổ chốt hướng về Dục Mỹ. VC phản ứng không kịp trong 2 ngày đầu rồi cái gì tới thì phải tới. Khi gom đủ quân VC bao vây và tấn công ĐĐ21 và BCH/TĐ6. Quân số ít ỏi, không liên lạc, tiếp tế, thiếu đạn dược và yểm trợ tan hàng là điều không tránh khỏi. Ngày 2 tháng 4 năm 1975 ĐĐ21 và BCH/TĐ6 tan hàng. Tr/T Thành, TĐT/TĐ6, Tr/U Hà ĐĐT21 bị bắt.

       ĐĐ21 và BCH/TĐ6 bị phục kích vào rạng sáng ngày 2 tháng 4 năm 1975. Sau đợt tấn công đầu tiên và bất ngờ của VC vào đội hình ĐĐ21 anh em hy sinh rất nhiều. Tr/u Hà sắp xếp lại đội hình ra lệnh chiếm cao điểm vì ĐĐ21 đang ở triền suối. Tôi theo Tr/u Hà xung phong lên chiếm cao điểm, cây AK của Hiệp bây giờ mới hửu dụng. Tôi làm một tràng lấy tinh thần rồi theo chân Tr/u Hà và Trung Đội 4. AK, lựu đạn rải theo tôi phóng người nằm bẹp dưới gốc cây. Trái lựu đạn bay bổng rớt lăn trước mặt chừng 3 mét. Vì đang trên đà phóng người tới té xấp cạ̣nh gốc cây nên tôi bất lực khi thấy lựu đạn. Lấy tay ôm mặt dí người sát đất. Ầm tôi mở mắt ra sau tiếng nổ, thấy xác Việt Tr/Đội 4 gục xuống.Việt cũng xung phong cũng trên đà phóng người tìm chổ ẩn núp vô tình đè trên trái lựu đạn hoặc là che mảnh cho tôi. Sống chết số trời. Tôi định thần nhìn qua thì không thấy Tr/u Hà đâu nửa chắc là đã lên tới đỉnh rồi. Tôi dạt qua trái cùng anh em. AK lại nổ nhiều anh em dính đạn ngả gục. Tôi đáp trả siết cò hết luôn băng AK và dọt vào bụi rậm cắt đường xuống suối trở lại. Súng vẫn nổ dòn khắp nơi. Tôi men theo suối theo sau là 3 ND. Mà lạ lùng càng xuống suối tiếng súng càng xa lần chúng tôi tiếp tục đi. Tôi tìm một chỗ kín đáo gần con suối, cả 4 người núp mình vào đó đợi trời tối sẽ̉ đi. Một lát sau chúng tôi nghe nhiều tiếng con gái giọng Bắc nói chuyên hình như đang lấy nước và giặt đồ. Thì ra chổ nầy là hậu cần của VC. Chúng tôi đã vô tình lọt vào ổ VC mà chúng cũng không ai ngờ là có 4 ND đang nằm kế bên. Đúng là chổ nguy hiểm nhất là chổ an toàn nhứt.

      Rừng già nên trời tối rất nhanh. Học bài học xương máu vừa qua nên tôi quyết định đi sâu vào rừng càng xa Quốc Lộ 21 càng tốt trước khi đi xéo về Dục Mỹ. Tôi chọn Dục Mỹ vì bản đồ tôi cầm chỉ tới đó thôi biết đi đâu bây giờ và lúc nào cũng nghĩ Dục Mỹ đang là tuyến chiến đấu vì có cả 3 Quân Trường ở đó (QT Pháo Binh, QT Lam Sơn, và QT Biệt Động Quân). Bỏ lại cây AK mà Hiệp đưa hết đạn rồi, hỏa lực còn lại 2 M16 với 2 băng đạn và Colt 45. Tôi dẫn đầu với chiếc la bàn trong tay người sau vịn vai người trước. Trời tối đen như mực chúng tôi lên đường. Đi suốt đêm tới trời sáng, cẩn thân băng qua trảng tranh lớn tôi hối đi nhanh để vào lại trong rừng thì nghe tiếng gọi Nhảy Dù, Nhảy Dù. Xa chừng khoảng 30 mét là hai bộ đồ ND đứng lên từ bụi cây thấp kêu chúng tôi. Đó là 2 ND của TĐ5 thất lạc mấy ngày rồi gặp chúng tôi nên mừng lắm. Thế là chúng tôi có 6 người 2 TĐ2 ,2 TĐ5 và 2 TĐ6 và thêm 1 con chó nhỏ. Chúng tôi đi không nghỉ để chạy với thời gian. Đi không kể ngày đêm khi mệt hoặc đói thì nghỉ nấu cháo húp mỗi người một ít xong cứ thế mà đi không hề biết ngày giờ chi cả. Dọc đường chứng kiến xác của anh em ND rải rác khắp nơi. Tôi cẩn thận tháo thẻ bài cất giữ để khi về được Dục Mỹ thì báo tin đã gần chục cái .Lương thực thì chỉ có 2 bịch gạo tươi mà Nương đệ tử đã nhét vào túi cho tôi. Còn 2 đệ tử Nương và Hồng theo tôi không biết giờ nầy ở đâu đã lạc từ cú "tấp pi" đầu tiên của VC, chắc là theo Tr/uy Hà. Hai bịch gạo và 1 con chó là lương thực của 6 người chúng tôi và đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi ăn thịt chó. Một ngày vào buổi trưa chúng tôi nghe nhiều tiếng trực thăng bay trên đầu như là đang đổ quân tuy không cách nào liên lạc được nhưng lại tăng niềm tin cho chúng tôi. Tôi cắt xéo đường hướng về Dục Mỹ và cuối cùng cũng tới .

      Từ trong rừng trên cao nhìn xuống Dục Mỹ sao im lìm quá không giống như đánh nhau. Và tôi cũng không nghe tiếng pháo binh từ lâu lắm rồi. Chúng tôi vẫn đổ xuống Dục Mỹ vào buổi sáng sớm, lẻn vào một chòi canh rẩy của ai đó. Chúng tôi nhổ khoai mì nấu ăn xong lại tiếp tục vào rừng đi bọc vòng qua hướng khác.Tôi đã đoán được chuyện gì đã xảy ra với Dục Mỹ. Đói khát tả tơi chúng tôi lại xuống làng, lần nầy tôi quyết định xuống vào buổi chiều để tối đột nhập vào làng gặp dân hỏi thăm tin tức và tính đường khác chớ không thể ở mã̉i trong rừng được. Cũng như lần trước 4 người canh 2 người nấu. Ăn xong trời chưa tối chúng tôi nằm nghỉ rồi ngũ quên lúc nào không biết. Cái gì đó chọt vào ngực làm tôi thức dậy hai họng súng AK đang chỉa vào tôi. Hai ba người đè tôi xuống và trói chúng tôi lại. Khi biết tôi là sỉ quan, người cán bộ trung niên tới hỏi đơn vị và cấp bực rồi dẫn chúng tôi ra ngoài lên xe Lam chở về chợ Duc Mỹ. Chúng tôi bị bắt bởi đơn vị quân dân mới thành lập ở Dục Mỹ nên cũng dể thở. Họ bỏ chúng tôi ngay chợ Dục Mỹ Ngay lúc đó có vài tên đơn vị chánh qui mặc dồ xanh đi qua, chúng chửi thề giọng Bắc gầm gừ như muốn ăn tươi nuốt sống chúng tôi." Địt Mẹ làm sao tụi bây xuống tới đây được." Dân chúng bu lại rất đông nhìn chúng tôi như che chở. Người cán bộ trung niên nói gì với tụi chính qui, mấy tên đó hậm hực bỏ đi. "Mấy anh ăn gì chưa để em nấu mì cho mấy anh "-- tiếng người con gái nghe quen quen. Tôi nhìn lên thì ra là CÔ LOAN chủ quán cà phê mà tôi quen. Người cán bộ trung niên không nói gì. Im lặng là đồng ý Chúng tôi được đưa vào tru sở nhìn vào tấm lịch treo tường NGÀY 9 THÁNG 4 NĂM 1975. Chúng tôi đã 7 ngày lang thang trong rừng kể từ ngày xa đơn vị. Cô Loan mang lại cho chúng tôi 6 tô mì và nước uống. Riêng tôi là ly chanh đường quen thuộc mà tôi thường gọi khi tới quán CÔ uống nước vì tôi không biết uống cà phê, và nhiều miếng thịt bò nằm dưới đáy tô mì. Ôi kỷ niệm không bao giờ quên được của những ngày cuối tháng 3.

Tặng và Tưởng Nhớ Các Bạn Tôi Những Người Một Lần Áo Hoa và Mủ Đỏ



 


                                                                                  Dạo đó anh đi mười bảy tuổi

                                                                              Thiên Thần Mũ Đỏ Xứng đời trai

                                                                                   Vũ trụ mình ta chân đạp gió

                                                                                   Không gian lơ lửng bắt mây trôi

                                                                                   Ngang dọc tung hoành vùng hỏa tuyến

                                                                                   Giữ yên bờ cỏi đất Phương Nam

                                                                                   Thần Kinh thương nhớ tình lưu luyến

                                                                                    Đồng Khánh trường tan má đỏ hồng

                                                                                    Anh rời Hiệp Khánh vào chiến địa

                                                                                    Phong Điền nối tiếp Động Ông Đô

                                                                                   Thường Đức vang danh quân giặc khiếp

                                                                                    Vu Gia vượt sóng giữ sông xanh

                                                                                     Một không sáu hai đầy xác cộng

                                                                                    Sư ba lẻ bốn chốc tan tành

                                                                                    Mùa xuân năm ấy hoa mai rộ

                                                                                    Đại Lộc bình yên có Hoa Dù

                                                                                   Tháng ba mười sáu theo quân lệnh

                                                                                   Lướt sóng quân hành xuôi giang Nam 

                                                                                   Bỏ lại sau lưng nhiều tình lở

                                                                                   Tiển Anh nước mắt ước vai nầy

                                                                                   Về mái trường xưa qua Đồng Đế

                                                                                   Được nhìn tượng đá đứng ngàn năm

                                                                                  Có người em gái nằm xỏa tóc 

                                                                                  Để đợi anh về dẩu trăm năm

                                                                                  Nha Trang chào đón đoàn quân lạ

                                                                                  Dục Mỹ chiều nay ngập bóng Dù

                                                                                  Quân Đoàn Hai thối theo lộ 7 

                                                                                  Để lại Nhảy Dù chốt Khánh Dương

                                                                                  Hai sư đoàn cộng tràn nhau xuống

                                                                                  Một Lử Đoàn Dù gắng tiến lên

                                                                                  Tứ bề thọ địch Đèo M'Rack

                                                                                  Xung phong tiếp viện Buôn Ea Thi

                                                                                  Ngạo nghể trên tay viên đạn cuối

                                                                                  Nhảy Dù hai chử cố gắng thôi                                                                               


                                                                                  Thiên Thần gẩy cánh ngàn thây đổ

                                                                                  Khánh Dương thương nhớ Lử Đoàn 3

                                                                                  Chí trai vị quốc không danh lợi 

                                                                                  Vong thân bất nhục đáng anh hùng

                                                                                  Máu đào tươi thắm màu Mũ Đỏ

                                                                                  Xác thân tô điểm áo Hoa Dù

                                                                                  Nợ nước muôn đời trên vai nặng

                                                                                  Ơn nhà trọn kiếp mãi trong tâm.


             Những ngày cuối tháng 3 / 2015


                                   Mũ Đỏ Cù Lũ Nhí


Saturday, December 3, 2022

 

Battle of Binh Gia - Battle

Battle

During the early hours of December 28, 1964, elements of the Viet Cong 271st Regiment and the 445th Company, signalled their main attack on Binh Gia by penetrating the villages’ eastern perimeter. There, they clashed with members of the South Vietnamese Popular Force militiamen, which numbered about 65 personnel. The South Vietnamese militia fighters proved no match for the Viet Cong and their overwhelming firepower, so they quickly retreated into underground bunkers, and called for help. Once the village was captured, Colonel Ta Minh Kham, the Viet Cong regimental commander, established his command post in the main village church and waited for fresh reinforcements, which came in the form of heavy mortars, machine guns and recoilless rifles. To counter South Vietnamese helicopter assaults, Colonel Kham’s troops set up a network of defensive fortifications around the village, with trenches and bunkers protected by land mines and barbed wire. The local Catholic priest, who was also the village chief, sent a bicycle messenger out to the Ba Ria district headquarter to ask for a relief force. In response, the Ba Ria district chief sent out elements of two Vietnamese Rangers battalions to retake Binh Gia. On December 29, two companies of the ARVN 33rd Ranger Battalion and a company from the 30th Ranger Battalion were airlifted into area located west of Bình Gia, by helicopters from the U.S. 118th Aviation Company to face an enemy force of unknown size.

However, as soon as the soldiers from the 30th and 33rd Ranger Battalions arrived at the landing zone, they were quickly overwhelmed by the Viet Cong in a deadly ambush. The entire 30th Ranger Battalion was then committed to join the attack, but they too did not initially succeed in penetrating the strong Viet Cong defensive lines. Several more companies of the Rangers then arrived for an attack from multiple directions. Two companies of the 33rd Ranger Battalion advanced from the northeast. One of them came to the outskirts of the village but was unable to break through the enemy defenses. The other one, trying to outflank the enemy, had been lured into a kill zone in open terrain at the coffee plantation and were quickly obliterated in an ambush by the three VC battalions using heavy weapons. The two companies suffered a 70 percent casualty rate, and survivors were forced to retreat to the nearby Catholic church. The 30th Rangers had more success by assaulting from the western direction and succeeded in fighting their way into the village, aided by local residents. It however also suffered heavy losses, with the battalion commander and his American adviser severely wounded. The local civilians in Bình Gia retrieved weapons and ammunition from the dead Rangers, and hid the wounded government soldiers from the Viet Cong. The 38th Ranger Battalion, on the other hand, landed on the battlefield unopposed by the Viet Cong, and they immediately advanced on Bình Gia from the south. Soldiers from the 38th Rangers spent the whole day fighting but they could not break through their enemies’ defences to link up with the survivors hiding in the church, and fell back after calling in mortar fire to decimate Viet Cong fighters moving to encircle them.

In the morning of December 30, the 4th South Vietnamese Marine Battalion moved out to Bien Hoa Air Base, waiting to be airlifted into the battlefield. The 1/4th Marine Battalion was the first unit to arrive on the outskirts of Bình Gia, but the 1st Company commander decided to secure the landing zone, to wait for the rest of the battalion to arrive instead of moving on to their objective. After the rest of the 4th Marine Battalion had arrived, they marched towards the Catholic Church to relieve the besieged Rangers. About one and a half hours later, the 4th Marine Battalion linked up with the 30th, 33rd and 38th Ranger Battalions, as the Viet Cong began withdrawing to the northeast. That afternoon the 4th Marine Battalion recaptured the village, but the Viet Cong was nowhere to be seen, as all their units had withdrawn from the village during the previous night, linking with other Viet Cong elements in the forest to attack the government relief forces. On the evening of December 30, the Viet Cong returned Bình Gia and attacked from the south-eastern perimeter of the village. The local villagers, who discovered the approaching Viet Cong, immediately sounded the alarm to alert the ARVN soldiers defending the village. The South Vietnamese were able to repel the Viet Cong, with support from U.S. Army helicopter gunships flown out from Vung Tau airbase.

While pursuing the Viet Cong, a helicopter gunship from the U.S. 68th Assault Helicopter Company was shot down and crashed in the Quang Giao rubber plantation, about four kilometres away from Bình Gia, killing four of its crewmen. On December 31, the U.S. Marines Advisory Group sent a team of four personnel, led by Captain Donald G. Cook, to Bình Gia to observe conditions on the battlefield. At the same time, the 4th Marine Battalion was ordered to locate the crashed helicopter and recover the bodies of the dead American crewmen. Acting against the advice of his American advisor, Major Nguyen Van Nho, commander of the 4th Marine Battalion, sent his 2/4th Marine Battalion company out to the Quang Giao rubber plantation. Unknown to the 4th Marine Battalion, the Viet Cong 271st Regiment had assembled in the plantation. About one hour after they had departed from the village of Bình Gia, the commander of the 2/4th Marine Battalion reported via radio that his troops had found the helicopter wreckage, and the bodies of four American crewmen. Shortly afterwards, the Viet Cong opened fire and the 2/4th Marine Battalion was forced to pull back. In an attempt to save the 2nd Company, the entire 4th Marine Battalion was sent out to confront the Viet Cong. As the lead element of the 4th Marine Battalion closed in on the Quang Giao rubber plantation, they were hit by accurate Viet Cong artillery fire, which was soon followed by repeated human wave attacks. Having absorbed heavy casualties from the Viet Cong’s ambush, the 2/4th Marine Battalion had to fight their way out of the plantation with their bayonets fixed. During the entire ordeal, the company did not receive artillery support because the plantation was beyond the range of 105mm artillery guns based in Phuoc Tuy and Baria. They however escaped with the crucial support of the U.S. aircraft and helicopters whose rocket attacks forced the enemy to pull back and halted their attempt at pursuit.

In the morning of December 31, the 4th Marines Battalion returned to the crash site with the entire force and the American graves were located and their corpses were dug up. At about 3 pm, a single U.S. helicopter arrived on the battlefield to evacuate the casualties, but they only picked up the bodies of the four American crewmen, while South Vietnamese casualties were forced to wait for another helicopter to arrive. At 4 pm, Major Nguyen Van Nho ordered the 4th Marine Battalion to carry their casualties back to the village, instead of continuing to wait for the helicopters. As the 4th Marine Battalion began their return march, three Viet Cong battalions, with artillery support, suddenly attacked them from three directions. The battalion's commanding and executive officers were immediately killed and air support was not available. Two ARVN Marine companies managed to fight their way out of the ambush and back to Bình Gia, however the third was overrun and almost completely wiped out. The fourth company desperately held out at a hilltop against Viet Cong artillery barrages and large infantry charges, before slipping out through the enemy positions at dawn. The 4th Marines Battalion of 426 men lost a total of 117 soldiers killed, 71 wounded and 13 missing. Amongst the casualties were 35 officers of the 4th Marine Battalion killed in action, and the four American advisers attached to the unit were also wounded. Backed by U.S. Air Force bombers, on January 1 three battalions of ARVN Airborne reinforcements arrived, they were too late as most of the Viet Cong had already withdrawn from the battlefield.

Read more about this topic:  Battle Of Binh Gia