Monday, October 26, 2020

 TRẬN PLEI RINH, TRÊN LTL-7, NGÀY 22/3/1954 


                 

SƠ ĐỒ TRẬN PHỤC KÍCH TẠI KM 15 NGÀY 4/4/54

https://dictionary.reverso.net/english-french/lowlanders+who+were+more+at+a+loss+in+the+jungle

...

Tháng ba đã trở nên một ác mộng của chiến đoàn 100 của quân đội Pháp tại Đông Dương, nhưng vì một lý do hoàn toàn khác. Lần này, Việt Minh CS, thay vì theo đuổi thuận lợi rõ ràng của chúng quanh Pleiku, lại lần nữa đã tan biến trong rừng núi. Dù binh sĩ đau chân và mệt mỏi, thường xuyên bị quấy rầy (plague) bởi muổi và vắt, lại phải đẩy và kéo theo các đại bác, chiến xa và xe tải, nhưng chiến đoàn (CĐ) lại được lịnh phải yểm trợ cho liên đoàn 3 Dù (gồm 3 TĐ và pháo binh và các đv cơ hữu) - đã được thả dù xuống ngày 1/3 để bao vây trung đoàn 803 hay 108 VMCS, trước giờ luôn tìm cách né tránh đụng độ với quân Pháp. CĐ sẽ tiến theo hướng đông dọc theo QL-19 để đến làng Pleibon. (Nói thêm: Theo bản đồ của hội Địa lý Quốc gia Mỹ in tháng 2 NĂM 1967, làng này nằm trên một hương lộ hay đường làng bắt đầu từ QL-19, đi về phía bắc; trước khi tới làng Kon Mahar, sẽ thấy núi Kon Lak khá cao tới 5643 ft hay 1720 m ở bên phải. Tới làng này, hương lộ quẹo trái sẽ tới làng Kon Bah, nằm rất gần và ở đông nam của Kontum -- người dịch). Sau vài ngày mưa gió, con đường rất xấu tới Pleibon đã trở nên đầy bùn tới-mắt-cá-chân khiến các xe cộ của CĐ giống như chạy trong vũng lầy (quagmire) ko đáy. 

Trong cái nóng ẩm ướt cháy da (searing), các người lính tiếp tục tiến tới với sức mạnh của tuyệt vọng - khi nghĩ rằng địch sẽ phải ở đâu đó! Nhưng nhật ký hành quân của TĐ 1 Korea vào ngày 1/3, đã ghi ngắn gọn (tersely), "Cảm giác trống không tiếp tục." Đây chính là điều đã được Bộ Tổng Tham Mưu của Pháp tại Đông Dương đặt tên là "cuộc chiến của những khoảng trống vĩ đại" -- hoàn toàn ko giống cuộc chiến mà họ đã dự trên những đồng bằng và ruộng lúa với những nông dân - ở vùng quê Nam phần. Ở đây, có thể cả một ngày trời họ ko thấy một bóng người; thật tình mà nói (to be sure), thì vẫn có vài túp lều, nhưng ko có ai. Vì những dân thiểu số trung thành với Pháp giờ đây sống trong đồn hay trại, và những kẻ khác thì theo VM rút vào những đồi núi chỉ cách đường vài km. 

Cuộc đột kích cuối cùng của lữ đoàn nhảy dù này vào phía bắc của (làng) DÉ  KYENG hay DE KIENG phía đông nam Kontum, hỗ trợ bởi một pháo đội của CĐ 100, ko mang lại kết quả, ngoài việc tìm thấy vài vị trí đóng quân của VM đã có người ở trước đó 3 tới 5 ngày - và ở phía bắc của Dé Kyeng bắt đầu là vùng đánh dấu màu vàng trên bản đồ. Ngày 14/3, cuộc HQ kết thúc, vì lính Dù phải rút ra để được thảy vào Điện Biên Phủ và CĐ 100 được chỉ định nhiệm vụ bảo vệ đoàn công-voa hàng tháng chạy từ Pleiku đi An Khê, dài 100 km. Một lần nữa, kẻ thù đã né tránh đụng độ, và một lần nữa, CĐ đã mệt đứt hơi (dead-tired) này phải di chuyển trở về Pleiku, sau đó theo QL-14, đi về hướng nam tới ngã ba Mỹ Thạnh, và quẹo trái vào LTL-7. Họ đã vượt qua 130 km trong hai ngày để đối diện một đe dọa mới từ kẻ thù cũ của họ, đó là trung đoàn 803, mà theo tin tức đang ở gần làng DO DAK BOT, nằm trên hương lộ đi từ TL-7 tới Ql-19. 

Giờ đây, hai trung đoàn VMCS tại khu vực cao nguyên (plateau) trung tâm đã chuẩn bị chiến thuật của họ đến từng chi tiết: ko vướng bận (unhamper) bởi chiến cụ nặng, cũng ko ràng buộc phải bảo vệ mấy trăm km đường xá, VM đã luôn luôn có thể di chuyển nhanh hơn bất cứ đv cơ giới nào - luôn luôn phải dựa vào hệ thống đường xá để di chuyển. (Tình hình này đã lập lại trong cuộc chiến từ 1954-75 -- người dịch). Với sự khéo léo của một cao thủ dày dặn (seasoned), trung đoàn 108 sẽ thu hút CĐ 100 về phía nam nơi ko có đường xá; trong khi chủ lực của trung đoàn 803, tức hai TĐ 39 và 59, nhanh chóng tiến về phía nam dọc theo sông Dak Ya-Ayun (chảy từ bắc xuống nam) sẽ đến ngã ba trên đây khoảng HAI NGÀY trước CĐ bắt đầu hành quân. Vào lúc mà BCH CĐ dựng trại đóng quân chung quanh làng Plei Rinh, nằm trên LTL-7, VM lại lần nữa giương bẫy. Bẩy sẽ căng ra ngày 22/3 lúc 0245. 

CĐ đã hạ trại chung quanh 1 đồn nhỏ ở làng này, đồn gồm một ngôi nhà với kẽm gai bao quanh được thiết kế để cung cấp chỗ trú ẩn trong mùa mưa cho một trung đội lính địa phương nhằm thu thuế hơn là một cứ điểm quân sự. CĐ lập tuyến phòng thủ theo hình bán nguyệt, tựa lưng vào sông Dak Ya-Ayun. BCH, pháo và xe tăng ở giữa và 3 TĐ ở chung quanh. Thung lũng hơi bằng phẳng cung cấp xạ trường tốt dù vài chỗ bị vướng các bụi cây (clump of brush). Các tiền đồn ở trước phòng tuyến chánh (military line of resistance hay MLR) đã báo ko gì khả nghi cho tới khoảng 0245, khi một khu vực của TĐ 2 Korea báo cáo có vài chuyển động ở gần sông Dak Ya-ayun .

Lúc 0245, toàn khu vực của CĐ bị tấn công bởi hỏa lực cực kỳ dữ dội của súng cối, và hầu như ngay sau đó bởi hỏa lực chính xác và tập trung của các súng trường và vài súng đại và trung liên. BCH và tđ 2 Korea gần như lập tức trúng vài quả cối, và vào khoảng 0330, những tiếng hét gây kinh hải (dread scream) "Tiến lên" đã vang dội trong khu vực của TĐ 2 Korea trong khi lính VM trong bộ đồ đen xung phong vào vị trí của đ.đ. 5 của TĐ 2 Korea, làm bị thương và bắt sống đại úy Charpentier. 

cùng lúc, cuộc tấn công nghi binh bởi súng không giựt của vm, vào trung đội lính địa phương ở đồn plei rinh, đã làm cháy đồn, và soi sáng chiến trường, và sau đó vài phút là hai xe GMC của tđ 2 Korea cũng bị cháy vì trúng đạn cối. Ánh lửa đã tạo thuận lợi cho lính Pháp vì các xe tăng của thiết đoàn có thể can thiệp dễ dàng, bằng cách xông vào khu vực của TĐ 2 Korea để cứu đ.đ. 5 khỏi bị tiêu diệt; những kẻ sống sót của đ.đ. đã phản công và cứu đ.u. Charpentier. 

Một số lính VM đã tới gần BCH CĐ, nhưng bị bắn vào phút chót bởi lính của đ.đ. chỉ huy. Tới 0430, tr.đoàn 803, nhanh chóng như lúc xuất hiện, đã tan biến vào rừng gần đó. Các oanh tạc cơ và L-19, đến vào lúc bình minh, dĩ nhiên, ko thấy gì hết. Sau đó, một toán trinh sát của TĐ 1 Korea đã tìm thấy một BCH và doanh trại trống rổng của tr.đoàn 803. Một số lớn băng cứu thương dẫm máu chứng tỏ rằng VM cũng bị tổn thất. Ba mưới chín VM bỏ xác tại trận và 2 bị thương. 

Nhưng phe Pháp cũng nặng ko kém - 36 chết, gồm 1 đ.u.; 177 bị thương, gồm thiếu tá Kleinman, TĐ trưởng của TĐ 2 korea, và 13 sq khác; và 8 mất tích. Ngoài ra, CĐ đã gần hết đạn và dụng cụ cứu thương. CĐ, như một võ sĩ, vẫn có thể chiến đấu, dù đã mất máu nhiều do thương tích (maul). 

Trong một nhật lịnh, đt Barrou đã khen lính của ông về can đảm và đã khiến cho "trung đoàn 803 VM bất khả chiến bại và luôn né tránh, phải nhục nhả trong trận này khi bỏ người chết và bị thương tại chiến trường."

"Cho phép tôi bày tỏ tới các chiến hữu," ông nói tiếp, "niềm hãnh diện, sự trìu mến của tôi và tin tưởng của tôi vào tương lai và vào chiến thắng của chúng ta."

Nhưng những ngày qua vẫn còn là khó khăn với CĐ 100 khi TĐ 1 Korea quân số từ 834 trong tháng 12 chỉ còn 532. May mắn là TĐ 2 korea và TĐ khinh chiến của trung đoàn 43 thuộc địa chỉ bị thiệt hại nhẹ (hardly less severe) - và điều xấu nhứt vẫn chưa đến. 

Với người bị thương đc di tản gần hết và đạn dược và xăng dầu đc thay thế gần hết, một tình trạng khẩn cấp khác chung quanh An Khê đã khiến CĐ lại lên đường. Cho tới nay, An khê đã đc xem như một khu vực tương đối yên tỉn, dù có bị xâm nhập/nội tuyến, nhưng ko đến mức sắp bị VM tràn ngập. Việc phòng thủ trong tay của CĐ 11, (tác giả Trần ngọc Nhuận của "Ký ức đời quân ngũ" đã từng phục vụ trong TĐ 1 của trung đoàn này -- người dịch),  gồm toàn lính VN gốc Kinh (Vietnamese lowlander). BCH của VM ko để cơ hội này tuột mất. 

NGÀY 30/3/54, hai TĐ độc lập của "Liên-Khu 5" đã tấn công đv VN bảo vệ ĐÈO MANG, có nhiệm vụ kiểm soát đường tiến sát phía đông của An khê. Khi bình minh xuất hiện đồn này đã bị hủy diệt và trang bị của cả một TĐ bộ binh và 4 khẫu 105 ly lọt vào tay vm. Cùng lúc, tình báo cho biết việc tái xuất của TĐ 39 và TĐ vũ khí nặng của tr.đoàn 803 vm ở vài km nam QL-19, trong một hành động có vẻ định cắt An khê từ hướng tây. 

NGÀY 1/4/1954, toàn CĐ - gồm xe tải, tăng, pháo - lại lần nữa đã vượt hơn 140 km để tới QL-19 hầu đảm nhiệm nhiệm vụ phòng thủ bán-tỉnh (semi-static) cho toàn khu vực cao nguyên trung tâm này, với đt Barrou làm TL vùng An khê và khu vực bộ lạc Bahnar, để giảm nhẹ gánh nặng của CĐ 11 ko còn tinh thần chiến đấu. Một lần nữa, cđ chuyển quân từ Plei Rinh trên LTL-7 ngược về Pleiku với không khí miền Viễn Tây, nơi mà vài chủ đồn điền trà người pháp còn lại tụ họp mỗi tối tại "Bar Embuscade" với súng Colt bên hông và xe jeep xích vào một cái trụ để khỏi bị trộm. CĐ đã ko ngừng và tiếp tục chạy trên QL-19, đi ngang nơi đóng quân cũ của TĐ 1 Korea và ngã ba nơi mà những người của Dak Doa đã đánh trận cuối cùng. (Trên QL-19, có một ngã ba để vào làng Dak Doa ở phía tây bắc của ngã ba này và một trận ác chiến đã xảy ra ở ngã ba này giữa CĐ 100 và VM -- người dịch). Và lần nữa, họ lại vượt sông dak ya-ayun, nơi mà tháng trước đây, họ đã truy đuổi vô ích tr.đoàn 108 tới một khu rộng lớn ở phía bắc làng Plei Bon, và bây giờ cđ đang tiến về đèo Mang Yang và căn cứ phòng thủ kiên cố kế nó, ở cây số 22, nghĩa là cách An khê đúng 22 km. 

QL-19 ko còn an toàn cho mọi thứ trừ các đoàn công-voa có hộ tống, và chuyến đi của ĐT Barrou tới An Khê cũng là một cuộc HQ. Với đ.đ. 1 và 4 của TĐ 1 Korea và hai đ.đ. của tđ thuộc tr.đoàn 43 thuộc địa, CĐ mở đường tới CÂY SỐ 11 trong khi CĐ 11 gửi ba đ.đ. từ An Khê tới cây số 11 để hộ tống ĐT và đoàn xe chỡ xăng tới cứ điểm An Khê. Sau khi đã tới An Khê vô sự, đoàn xe quay về và tới 1445, ĐT Barrou và các xe chỉ huy và những xe bồn ko còn xăng đã vượt cây số 11 để vào vùng bảo vệ bởi các toán tiền tiêu của tiểu đoàn 43 và tđ 1 Korea. 

Giờ đây họ bắt đầu chuyển quân như sau: mỗi đv bộ binh đều có pháo binh đi kèm. Khi đv đầu tiên bắt đầu di chuyển từ A tới B thì đv thứ 2 cùng vẫn ở tại B với đại bác sẵn sàng tác xạ. Khi đv đầu tiên đã tới B thì báo cho đv thứ 2 biết để đv này di chuyển và đại bác của đv đầu tiên phải sẵn sàng để bảo vệ đv thứ 2. Họ phải lần lượt làm như vậy tới lúc đến vị trí an toàn mới thôi. Và tđ 1 korea đã chuyển quân an toàn.

Lúc 1520, lịnh từ BCH ở cây số 22: "Đoàn xe đã tới an toàn. rút quân." Hai đ.đ. của tđ 43 bắt đầu đi bộ về phía tây vì họ ở gần bch, với đ.đ. 1 của đ.u. Léouzon đi kế.

Đoàn quân bắt đầu di chuyển trong tiếng lách cách của trang bị và súng đạn và họ rất mệt. Một tiểu đội dưới quyền chỉ huy của trung sĩ li-som, người miên (phần lớn tđ 43 thuộc địa là lính miên) dẫn đầu. Lúc này là 1530, mặt trời vẫn còn cao và tđ 43 thuộc địa ỏ khoảng 2 km tây của cây số 15.

Đột nhiên, Li-som đứng lại. "Cái gì vậy, Li-som," đại úy Léouzon của đ.đ. 1 nói. "Ông thấy cái gì?" mọi người của CĐ bây giờ đều biết, một trong phục kích tệ hại nhứt đã xảy ra vào lúc cuối một cuộc chuyển quân vô sự.

"Không, đích thân," Li Som nói, mặt y nhăn nhó, "Súng liên thanh. TĐ 1 korea đã đụng rồi."

Giờ mọi người trong đ.đ. 1 của TĐ 43 đều nghe: súng liên thanh và súng không giựt của VM nổ rền trời. Đây là một cuộc phục kích lớn, và cái giá xứng đáng để bỏ ra - hai đ.đ., 10 xe tải và một trung đội thiết giáp. Đ.đ. của Léouzon ko cần ai ra lịnh. Khoảng 1530, họ bắt đầu đi ngược về cây số 15, sau đó năm phút là trung đội 4 của chi đoàn 5 thiết giáp, chỉ huy bởi đ.u. Doucet.

Mọi thứ đã bùng nổ ở cây số 15. Đ.đ. 4 của tđ 1 Korea vừa vượt qua đ.đ. 1 của tđ và bắt đầu bố trí khi, ko có một tiếng động của cảnh báo trước, mọi xe tải của đ.đ. này bị hỏa lực của liên thanh và súng trường từ lề nam của đường. trước khi các binh sĩ có thời giờ để ngừng xe, xe tải đi đầu đã nổ tung và bốc cháy, và gây cản đường khi xe tải thứ hai vừa tới. Giây lát sau, lần nữa tiếng hô "Tiến lên" và lính chính quy VM (TĐ 19 của trung đoàn 108 và TĐ độc lập 30 của liên-khu 5 đã bắt đầu xung phong từ các bụi rậm (thicket).

Đ.đ. 4 gồm toàn lính dày dặn (seasoned); những ai còn sức chiến đấu nhảy khỏi xe tải và hướng về lề đường cao hơn bên phải. Lúc 1525, đúng vào lúc trung sĩ Li-som nghe tiếng súng đầu tiên, những kẻ sống sót của đ.đ. 4, bây giờ chỉ huy bởi các hạ sĩ (corporal) - vì các tất cả các sq và trung sĩ của đ.đ. đều chết hay bị thương, đã chiến đấu cho trận cuối cùng của cuộc đời. Thực tế, họ đã tập hợp lại đủ để tung ra hai cuộc phản công dù ko hiệu quả để chống kẻ thù với hy vọng cứu một số kẻ bị thương khỏi chết cháy trong các xe đang cháy hay giúp họ khỏi bị VM dùng làm khiêng đỡ đạn khi vm tiến qua đường. Hơn nữa, một yêu cầu gửi tới BCH, và những đv khả dụng của CĐ trên đường tới cây số 15. Đ.đ. 1 của tđ 43 thuộc địa tuy ko nhận được yêu cầu này nhưng cũng quay về địa điểm phục kích.

Đv đầu tiên tới địa điểm là đại đội đoạn hậu, với hai chiến xa nhẹ và chiếc half-truck  chạy hết tốc lực (hell-for-leather) xông thẳng vào trung tâm của chỗ phục kích, với hy vọng sự xuất hiện của thiết giáp ít nhứt sẽ khiến lính vm sợ hãi (startle) và tạo cơ hội cho đ.đ. 4 tập hợp lại. Nhưng lính vm cũng dày dạn. Chiếc half-truck có tên Dingo (theo truyền thống của quân Pháp, mọi xe thiết giáp đều được đặt tên) đã ngừng hẳn vì một đạn không giựt trúng vào trục trước; trong khi trên chiếc thứ hai, trung sĩ Lem trưởng xa và hạ sĩ Trần văn Srey bị thương. Một số lính trên các xe tăng khác cũng bị thương và vm bắt đầu trèo lên các xe này. 

Vị cứu tinh đã giúp đv này khỏi bị hủy diệt là đ.u. Doucet chỉ huy trung đội tăng số 4. Các xe tăng của ông đều bắn vào địch quân đã giúp giúp các xe bọc sắt hay half-truck khác tạo thành một hình vuông để giúp những kẻ sống sót của các đ.đ. có chỗ ẩn núp. Điều này đã làm chậm bước tiến của vm một lúc. Từ 1600 đến 1700, họ đã bốn lần tấn công các xe tăng, có vẻ bất chấp tổn thất về phía họ. Hai lần họ đã trèo lên hai xe tăng có tên Diable và Dingo, để rồi bị đánh bật bằng cận chiến bởi lính thiết giáp, và có một lúc hình như là giờ phút cuối của các xe tăng khi đạn sắp hết sau gần 90 phút tác xạ.

Điều lạ lùng là đại bác của cđ vẫn yên lặng. "Đại bác ở đâu?" Doucet gọi về bch CĐ. "Không thể can thiệp," là câu trả lời, "có một L-19 đang bay trên đầu bạn." Trong lúc đánh nhau, ko ai để ý chiếc máy bay này, nhưng bây giờ ng ta mới nghe nó. Liền sau đó là các oanh tạc cơ B-26, do Mỹ sản xuất, từ Nha Trang bay tới. VM bắt đầu rút lui vào rừng nhưng ko kịp. Lấy các xe bị cháy của đ.đ. 4 làm mốc, chúng bay sát ngọn cây, ném những bom màu đen. Đó là những bom napalm sẽ thiêu đốt đến chết cho những ai bị trúng bom. 

Đ.đ. 3 của tđ 1 Korea vừa tới với một xe chở đạn cho xe tăng đã thêm sức mạnh của quân Pháp. Vì vm lo đối phó với B-26, lính Pháp đã phản công lần cuối lúc 1715. 


Sunday, October 25, 2020

 Trong khi có bạn trẻ trên dưới 50 tại Mỹ có cuộc sống "như địa ngục" thì phụ nữ 100 t này vẫn yêu đời : tại sao ?

"Khi đủ 100 t , bà Marge Jetton đã gia hạn bằng lái thêm 5 năm . Nhưng điều thực sự khiến bà sống khỏe là niềm tin Thiên Chúa giáo của bà . (Bà theo đạo Seventh Day Adventist * (Cơ đốc Phục lâm) , có mặt tại SG trước 75 với BV ở ngã 4 Phú Nhuận ; theo 1 số ng , đạo này đang hoạt động ở VN) . Giáo hội này khuyến khích và cung cấp cơ hội cho tín hửu làm thiện nguyện .
Những ng 100 tuổi như bà Jetton sống tích cực , cuộc sống có Ý NGHĨA và tránh trầm cảm nhờ tập trung vào việc GIÚP KẺ KHÁC . (Centenarians like Jetton stay active, find sense of purpose, and stave off depression by focusing on helping others)" . Dịch từ NAT GEO
* Đạo này khuyên tín hửu ko ăn thịt heo , tôm cua sò hến (shellfish) , và những động vật được xếp là "ko sạch sẻ" . . . .Ko uống rượu , hút thuốc và ma túy . Một số tín hửu ko uống cà phê , trà , coca cola và thức uống có cà-phê-in . Theo wiki .

Saturday, October 24, 2020

 


                                      





                       

Bản đồ chi tiết về các trận đánh của CĐ 100 Pháp


Bản đồ trên sách Street Without Joy 







Friday, October 23, 2020

























 Truyện cười Mỹ : con ơi là con !!!

1 single mom , có con gái 16 t , đẻ ở Mỹ. Tuy chung nhà nhưng 2 mẹ con ít khi gặp và nói chuyện với nhau vì nó có phòng riêng . Bà này do có cửa hàng , rời nhà từ sáng đến tối mới về nên ko có thời giờ với nó .
Vì nó thường xuyên đi bộ đến trường trể , nhà trường báo cho mẹ nó biết . Vì 2 mẹ con ko hợp nhau nên bà chỉ gọi điện thoại nhắc nhở nó vào buổi tối rằng phải đi học đúng giờ . Nó gọi phone cho mẹ nó và để lời nhắn (bằng tiếng Anh) ' tôi ko thích ai gọi phone tôi vào ban đêm , gây phiền toái cho tôi' .
2/Truyện cười Mỹ .
1 single mom (độc thân , có con nhỏ) quen bạn trai qua internet và định tiến tới hôn nhân . Hai ng chưa gặp nhau nhưng thường xuyên 'chat' hay email : 1 hôm , anh chàng bị cô này gửi email , chửi rất tục tiểu . Anh liên lạc hỏi cô thì cô nói , tôi đâu có chửi anh ; anh kia nói 'có' và gửi cho cô các email - mà anh nghĩ rằng cô kia gửi cho anh .
Hóa ra , đứa con gái 10 t , đẻ ở Mỹ , ko biết giận mẹ vì lý do gì , đã xâm nhập vào email của mẹ và chửi bới anh này .
Cô này xin lỗi anh chàng và đành ngậm đắng nuốt cay (nghĩa là phải thay đổi mật mã để con gái ko vào được) , v.v... Đâu có dám đánh nó vì nó sẽ gọi CS hay mét cô giáo !
3/CHỉ CÒN NHỚ CHỮ "PLEASE" MÀ THÔI !
Có một cô gái ở vùng quê và nghèo, nhưng may mắn lấy chồng Mỹ trắng. Cô đi học Anh văn cấp tốc và thày giáo dạy: để cám ơn ai thì nói "thank you", còn muốn nhờ ai việc gì thì nói "please" và một vài câu nói ngắn khác. Đêm động phòng , vì xúc động quá , cô dâu quên hết mọi câu nói - đã học trước giờ. Thay vì nói "thank you" sau "việc ấy", cô chỉ nhớ mỗi chữ "please". Cũng may cho chú rể Mỹ, y ko cần gọi 911 (xe cấp cứu) dù mệt gần đứt hơi trong đêm đó !
----
Phần Anh ngữ:
The bride remembered ONLY one word .
A Vietnamese woman just passed the immigration services interview . Before coming to US to reunite with her husband , she already learned a lot of essential English words or idioms .
For example : the teacher gave her the instructions "when expressing gratitude to someone", say "thank you", "when asking someone to do something" , say "please", etc. . .
On the nocturnal night , after doing "the thing", because of thrill and happiness , she almost forgot everything she learned , and she remembered only ONE word. That means, instead of "thank you",she said "please".
So her husband almost exhausted in the night . Fortunately , he didn't need to call 911 .
So , to all dear brides, please never confuse "please" with "thank you"./.

 BÁC SỸ “KHÙNG”

(Bài này đăng trên blog Bùi văn Bổng , đăng lại để thấy đạo đức của giới trí thức Hà Nội thừa hưởng nền giáo dục của Pháp , thời còn BT Nguyễn văn Huyên .-- Tài)
* MINH DIỆN
Bệnh viện K8 nằm giữa vùng Mỏ Vẹt, Tây Ninh sát biên giới Campuchia. Những căn nhà hầm nửa nổi nửa chìm rải rác khắp cánh rừng khộp, liên kết với nhau bằng những con đường mòn ngoắt ngoéo băng qua trảng, qua suối, qua bãi bom, mỗi ngã ba, ngã tư có những mũi tên đẽo vào thân cấy chỉ hướng.
Thỉnh thoảng trên bầu trởi lại xuất hiện những vệt khói thẳng như dòng kẻ của bản nhạc,rồi tiếng máy bay B52 bay qua như tiếng sấm rền. Nhiều lần bom B52 bỏ rất gần,cả cánh rừng chao đảo như đưa võng. Rồi pháo bầy từ căn cứ Mỹ ở Trảng Lớn bắn tới , và những toán biệt kích thường xuyên đi lùng sục. Bệnh viện ngày đêm thấp thỏm trong không khí báo động . Thương bệnh binh từ các nơi ùn ùn đổ về. Các bác sỹ, y sỹ, y tá ngoài việc chữa trị cho thương bệnh binh phải làm nhiệm vụ chiến đấu như mọi người lính ngoài mặt trận.
Tôi nhập viện vào một buổi chiều giáp tết năm 1970, vì sốt rét. Bác sỹ khám cho tôi rồi nói như quát:
- Không được nằm lì trên võng nghe chưa? Nói không nghe là ra bãi le!
Nhìn ông bác sỹ không có chút cảm tình nào. Khuôn mặt dài ngoẵng,trán hói đầy nếp nhăn, mái tóc muối tiêu trùm kín cả gáy. Ông ta đi khỏi, tôi hỏi tay bệnh binh bên cạnh:
- Lão ấy tên gì mà hắc xì dầu vậy?
Tay bệnh binh nói:
- Bác sỹ Lê Mai. Biệt danh “Lão khùng”!
- Sao lão đe ném tớ ra bãi le?
Tay bệnh binh cười:
- Thằng nào vào lão cũng đe như vậy! Muốn biết bãi le đi với tớ!
Tay bệnh binh ấy tên Len, quê Hưng Yên, khá rôm chuyện.
Hắn khoe :
- Hai thằng cùng đơn vào đây với tớ , một đang bị tâm thần, một thằng đã ra bãi le rồi! Chiều nay tớ ra thăm nó , mai về đơn vị.
Vừa tò mò , vừa sợ bác sỹ Lê Mai, tôi không dám nằm lì trên võng, theo Len ra bãi le .
Cuối mùa khô, rừng khộp đỏ rực màu như nhuộm máu. Những cây khộp to hai người ôm không xuể, cao chót vót, da xù xí như da cá sấu, cành khẳng khưu. Lá khộp rụng xuống phủ kín mặt đất, khô dòn, rực lên một màu đỏ nhức mắt. Bãi le nằm giữa rừng khộp, cạnh con suối cạn, những bụi le thấp lúp xúp còn giữ được màu xanh và chút bóng râm, che cho những nấm đất lùm lùm như ụ mối , không bia mộ, không một khúc cây, hòn đá làm dấu.
Len chỉ ngôi mộ đất còn tươi bảo:
- Đây là thằng cùng đơn ví tớ. Nó nằm lỉ trên võng hai ngày nghẻo luôn!
Len tỏ ra là một tay có kinh nghiệm. Hắn nói:
- Nếu sốt cao 40-41 độ , rồi cắt cơn , đếch sợ. Nhưng cứ âm ỷ 38 độ là coi chừng. Không vận động mà nằm lì trên võng là đi tiêu!
Đúng như Len nói, tôi chỉ sốt 38,5 độ mà mệt rã rời, Những cơn sốt hâm hâm, li bì dài dẳng . Tôi bước đi không vững, đầu cứ ong ong, mắt cay và cứ híp lại. Tôi chỉ muốn nằm. Cứ đặt lưng xuống võng là không muốn và không thể đứng dậy được nữa.
Ba bốn lần tôi đã nằm lì, nhưng bị bác sỹ Lê Mai dựng dậy. Ông ấy la lối, chửi bới om sòm và giật võng cuốn lại không cho tôi nằm.Tôi cảm thấy căm ghét ông vô cùng.
Một buổi sáng tôi vào rừng, mắc võng giữa một lủm cây, nằm một mình trốn cặp mắt cú vọ của bác sỹ Lê Mai.
Tôi thiếp đi lúc nào không hay. Trong cơn mê tôi thấy mình nhẹ như chiếc lá khộp khô, bay chập chờn trên bầu trời mầu tím thẫm đầy sao nhấp nhánh, bay qua những con sông sóng vỗ và những mặt hồ phẳng lặng. Có lúc tôi đang bay thì bỗng rơi tõm xuống một hố đen ngòm, rồi lại chới với bay lên. Có tiếng gọi mơ hồ ở đâu vẳng lại. Tôi gặp ông bà nội ngoại tôi, chìa tay ra đón tôi , nhưng tôi không chạm vào được tay họ, và tôi nói họ không nghe ...
Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm trong lán điểm, chân tay bị cột chặt xuống giường , trên đầu bình huyết thanh treo lơ lửng.
Y sỹ Duyệt nói với tôi:
- Cậu đã hôn mê bảy ngày! Nhờ bác sỹ Lê Mai không thì ra bãi le rồi.
Duyệt kể, chiểu hôm ấy khám bệnh,bác sỹ Lê Mai không thấy tôi trong lán, ra lệnh mọi người đi tìm. Tìm suốt buổi chiều và suốt đêm , đến sáng mới thấy tôi ,chỉ còn thoi thóp. Có người thất vọng , định gói tôi vào ni lon mang ra gốc le chôn, nhưng bác sỹ Lê Mai nói còn nước còn tát, và ông đã cứu sống tôi.
Từ hôm đó tôi không dám nằm mà đi lang thang hết lán này sang lán khác, có khi xuống bếp phụ anh nuôi, hoặc sang phòng phẫu thuật phụ mổ. Ở đây có chiếc xe đạp gắn trên bệ gỗ, kê bổng hai bánh xe lên. Một sợi dây điện nối chiếc Dinamo với chiếc đèn pha trên bàn mổ. Mỗi khi mổ, một người ngồi lên xe đạp, đạp thật nhanh , để quay Dinamo phát điện, làm sáng bóng đèn trên bàn mổ.
Tôi tham gia đạp xe toát mồ hôi và cảm thấy người nhẹ nhõm hơn, nhưng điếc cả tai vì nghe tiếng quát tháo của bác sỹ Lê Mai. Tay ông cầm dao mổ , miệng ông quát tháo những người phụ mổ vì họ đưa dao, đưa kéo, đưa panh chậm, sai quy cách.
Y sỹ Duyệt nói với tôi :
- Lê Mai là bác sỹ phẫu thuật giỏi nhất K68, và cả mặt trận miền Đông. Nhiều khi bệnh viện K71 có những ca mổ phức tạp cũng phải triệu ông qua mổ. Ông đào tạo ra ê-kíp phụ mổ từ những chiến sỹ chưa biết gì về y khoa...
-Sao ông ấy có biệt hiệu khùng?
-Vì hay la và có lần chửi cả chính trị viên bệnh viện.
-Sao chửi?
-Thằng cha ấy không biết chuyên môn lại hay can thiệp vào công việc chuyên môn. Hắn phê bình bác sỹ Lê Mai hạn chế sử dung Coc- tê- in ,để thương binh đau rên la, mà không biết lạm dụng dùng loại thuốc đó có tác hại lâu dài, thậm chí tử vong...
Nghe Duyệt nói , tôi càng cảm thấy kính trọng bác sỹ Lê Mai. Ngày cũng như đêm , có thương binh trên bàn mổ là tôi lại thấy cái dáng người dong dỏng cao của ông cúi xuống , hai con mắt như lòi ra khỏi hai tròng kính và khuôn mặt đanh rắn gồ ghề như tạc bằng đá. Ông làm việc quên mình vì những người lính như chúng tôi. Bệnh nhân trong bệnh viện rất sợ ông và kính trọng ông. Có bệnh nhân tâm thần leo tít trên ngọn cây khộp,ai kêu cũng không xuống, nhưng bác sỹ Lê Mai ra, nói: “ Xuống đi em!” là từ từ leo xuống .
Một hôm bác sỹ Lê Mai mổ cho một thương binh còn rất trẻ. Ca mổ kéo dài gần bốn giờ đồng hồ. Tôi nghe ông la hét mà phát hoảng.
Ca mổ xong, bác sỹ Lê Mai tử hầm phẫu thuật đi lên, mặt hằm hằm rất căng thẳng. Rồi bỗng nhiên ông bật khóc. Tiếng khóc vỡ òa từ cái miệng rộng có hàm răng vổ quen nóng nảy quát tháo, nghe rất lạ , vừa buồn, vừa chao chát không thể tả được, như lát dao khứa vào tim.
Tôi hỏi y sỹ Duyệt có chuyện gì sảy ra , Duyệt nói:
- Bác sỹ Lê Mai thường cáu gắt và khóc vì bất lực và vì thương lính. Mỗi lần không đủ phương tiện để xử lý một ca mổ, hoặc không cứu được một chiến sỹ chưa đáng chết chỉ vì thiếu thuốc men, ông đều không nén được xúc động . Hôm nay cậu chiến sỹ bị thương , mảnh bom cắt gần đứt dương vật, vì đưa vào viện trễ, ông không giữ lại được cho cậu ấy.
Tôi đến bên cạnh bác sỹ Lê Mai, muốn bảy tỏ lòng mình, ông nắm tay tôi nói , giọng khản đặc :
- Nó còn trẻ quá, mới mười chín tuổi đầu, nó không được làm một người đàn ông nữa Tôi nhìn bác sỹ Lê Mai, xúc động tận đáy lòng. Tôi nhận ra trái tim nhân hậu và nhạy cảm của người bác sỹ bề ngoài rất nóng nảy cọc cằn. Chính ông đã cứu sống tôi, và ông đã khóc vì không giữ được chức năng làm chồng để duy trì nòi giống cho một người lính trẻ.
Năm ấy bác sỹ Lê Mai 42 tuổi, chưa có vợ con, cấp bậc trung úy. Quê ông ở phố Hàn Thuyên , Hà Nội, tốt nghiệp Đại học y khoa từ năm 1952, lúc 24 tuổi, và khi ra trường làm việc ở bệnh viện Bạch Mai. Sau ngày giải phóng Thủ Đô, vì không có thành tích tham gia kháng chiến, gia đình thuộc diện tư sản , nên ông không được trọng dụng, phải lên Tây Băc phục vụ những ngưởi miền xuôi lên khai hoang. Năm 1966, ông được gọi vào bộ đội, phong quân hàm trung úy và đi B2. Hơn ba năm qua ông ở bệnh viện K8, cứu sống nhiều thương binh, bệnh binh nhưng ông không được thăng cấp, thăng chức , không được kết nạp đảng vì tính ông thẳng thắn, nóng nảy, dám chửi cả chính trị viên bệnh viện, bị ông này gọi là "khùng".
Sau gần một tháng điều trị , tôi khỏi sốt rét trở về đơn vị. Mấy tháng sau tôi nghe tin bệnh viên K68 bị bom B52 , và bác sỹ Lê Mai đã hy sinh.
Ngày Sài Gòn giài phóng, tôi gặp Liên, nữ y tá phụ mổ cho bác sỹ Lê Mai. Cô Liên khóc , nói nói với tôi : “ Hôm đó bác sỹ đang mổ cho thương binh anh ạ!”
Hơn bốn chục năm đã qua rồi. Hôm kia ngồi ôn chuyện cũ với anh Vũ, anh Bồng và mấy cựu chiến binh miền Đông, không ngờ có người cũng đã từng điều trị ở bệnh viện K8 và biết bác sỹ Lê Mai như tôi. Nhớ tới ông, càm phục tấm lòng người thầy thuốc như ông bao nhiêu, lại cảm thấy buồn bấy nhiêu vì những điều đang diễn ra trước mắt. Bây giờ ngành y xuống cấp quá. Có những bác sỹ giỏi chỉ quan tâm đến bệnh nhân là quan chức, đại gia, nhiều tiền, khinh bệnh nhân nghèo như rác. Có kẻ trình độ non kém, thậm chí chỉ là y tá, lại nhân danh bác sỹ mở phòng khám tư để ‘chặt chém’ người bệnh, hốt bạc, coi thường tính mạng con người, mà vẫn nhơn nhơn tồn tại. Đến chuyện nhân bản máu mà họ cũng không từ...
Bây giờ thật khó tìm một người như bác sỹ Lê Mai tuy ông không phài là đảng viên và có người bảo ông khùng. Ứơc gì có nhiều bác sỹ “ khùng” như ông.
M D

 7 GIÁ TRỊ Ở MỸ

🇺🇸 KHÔNG THỂ MUA BẰNG TIỀN!
1. Một ca sĩ nổi tiếng từng nhổ nước bọt vào mặt một bà cụ, lập tức tòa án Liên bang phán quyết cô phải bồi thường 5 triệu đô-la Mỹ (khoảng 113 tỷ VNĐ) cho bà lão.
Quan tòa nói, sở dĩ mức phạt nặng như vậy không phải bởi miếng nước bọt đó đã mang đến tổn thương lớn ngần nào cho bà cụ. Lý do là với những người có tiền như cô ca sĩ nếu chỉ phạt bồi thường 50 nghìn đô-la, lần sau cô ấy chắc chắn sẽ tái phạm. Có thể cô ấy cũng sẽ gây tổn thương cho hơn 10 người khác nữa.
.2. Ở Mỹ, không có một hãng truyền thông nào thuộc về chính phủ. Bởi vì pháp luật nước Mỹ quy định, không thể lấy tiền của dân chúng để dát vàng cho mình mà lừa mị, mê hoặc dân chúng. Kênh truyền thông duy nhất mà chính phủ Mỹ bỏ vốn làm chủ là đài phát thanh VOA của Mỹ, nhưng nó không được phép phát sóng trên đất Mỹ. Trong con mắt của người Mỹ, dư luận nên phải là tự do, nhiều nguồn, muôn hình muôn vẻ, thậm chí là mâu thuẫn lẫn nhau.
.
3. Ở nước Mỹ, người dân có bệnh thì bệnh viện cần phải điều trị trước, sau đó mới gửi hóa đơn viện phí đến nhà bệnh nhân. Nếu bạn không gánh nổi khoản tiền trị liệu thì các tổ chức từ thiện hoặc chính phủ sẽ ‘ra mặt’ giải quyết. Trong trường hợp người nghèo khó chỉ vì không có tiền chi trả viện phí mà bệnh viện ngưng điều trị thì những người có liên quan sẽ bị chất vấn và nhận chế tài của pháp luật.
4. Nước Mỹ coi trẻ em là tài sản quý báu của quốc gia, trẻ em được pháp luật che chở cẩn thận. Nếu bạn không có tiền gửi con ở nhà trẻ, chính phủ sẽ chi trả, hoặc không có tiền mua sữa bột, chính phủ cũng sẽ chu cấp. Ngoài ra còn có nhiều chính sách đặc biệt trợ cấp cho phụ nữ mang thai, sản phụ thu nhập thấp và trẻ em chưa đến 5 tuổi.
.
Các gia đình thu nhập thấp có thể nhận được bữa cơm dinh dưỡng sáng và trưa miễn phí. Nếu bạn không có tiền thuê nhà, chính phủ sẽ chi trả, hơn nữa quy định trẻ nhỏ cần phải có phòng ngủ riêng. Ở nước Mỹ, bạn sẽ không bao giờ bắt gặp hình ảnh trẻ em đi xin ăn.
.
Có một bà mẹ mải mê bận rộn việc nhà, nhất thời không để ý trông con. Đứa con chẳng may ngã xuống bể bơi chết đuối. Trong lúc người mẹ đang đau khổ không thôi thì bất ngờ nhận được giấy triệu tập của tòa án.
.
Lý do mà tòa án đưa ra vô cùng đơn giản, bà đã không làm hết trách nhiệm của một người giám hộ nên sẽ phải đối mặt với việc bị tuyên án. Điều đó cũng giúp cảnh tỉnh ý thức chăm sóc con trẻ cho hàng triệu người mẹ khác.
.
Người Mỹ quan niệm, một đứa trẻ trước hết thuộc về bản thân nó. Đứa trẻ đó mang theo vô số quyền lợi sống vốn có trong xã hội này. Không kể là bản thân nó có ý thức được hay không, không kể là nó có thể lớn lên thành người hay không, xã hội này có tầng tầng pháp luật để bảo vệ nó.
.
5. Nhiều người cho rằng nước Mỹ bị giới quyền quý thao túng. Thật ra, 20% người có thu nhập cao nhất nước Mỹ đã đóng trả 67% tiền thuế. Những người có thu nhập vừa và thấp chiếm 49% căn bản không phải đóng thuế, hơn nữa còn được hưởng các đãi ngộ miễn phí về mặt giáo dục, vệ sinh, phòng cháy chữa cháy, y tế…
Điều quan trọng hơn cả là một nửa những người không đóng thuế này lại có quyền bỏ phiếu giống như những nhân vật thượng lưu như Bill Gates, Warren Buffett, Mark Zuckerberg, Clinton…
.
Sự khác biệt giữa các triệu phú Trung Quốc và Mỹ là rất lớn. Các triệu phú nước Mỹ phần lớn đều là tự gây dựng sự nghiệp làm giàu, còn triệu phú Trung Quốc phần nhiều đều là dựa vào mối quan hệ mà ăn nên làm ra. Triệu phú nước Mỹ trốn thuế là chuyện cực hiếm, còn đa số triệu phú Trung Quốc đều có hành vi này trong đời ít nhất một lần.
.
6. Năm 1988, trong thảm họa rơi máy bay Lockerbie, phần lớn hành khách là người Mỹ. Chính phủ Mỹ đã sử dụng hàng nghìn chuyên gia kỹ thuật, từ trong mấy triệu mảnh vụn của máy bay mà tìm ra thủ phạm là những phần tử khủng bố Libya.
Cuối cùng, nước Mỹ cứng rắn ép buộc chính quyền Tổng thống Gaddafi khi ấy giao nộp phần tử khủng bố. Chính phủ Mỹ đồng thời chi ra 2,7 tỷ đô-la tiền bồi thường cho nạn nhân vụ tai nạn này, gia đình mỗi nạn nhân nhận được 10 triệu đô-la (hơn 227 tỷ VNĐ).
.
Trong chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai (nổ ra vào tháng 3/2003), quân Mỹ huy động lực lượng quân sự lớn mạnh tấn công tầm xa trong sa mạc. Quân đội của nhà độc tài Saddam Hussein binh bại như núi đổ, nhếch nhác bỏ chạy. Lúc này, trong cát bụi mịt trời, một chiếc xe vận tải của quân Mỹ mất phương hướng, lạc vào trận địa của quân địch.
.
Người lái xe là một nữ quân nhân tên Lynch, bị thương và bị địch bắt giữ làm con tin để uy hiếp quân Mỹ. Cô bị nhốt ở một nơi hẻo lánh bí mật và bị canh giữ sát sao. Vì để cứu Lynch, quân Mỹ đã huy động đội đột kích Task Force 121 tấn công mãnh liệt khiến quân địch mất phương hướng, hoảng loạn tan vỡ.
.
Chỉ trong thời gian mấy phút, quân Mỹ đã giải cứu thành công Lynch. Cô nhanh chóng được đưa về hậu phương điều trị. Chiến tranh kết thúc, Lynch cùng với hai binh sĩ Mỹ từng bị bắt giữ khác trở về quê nhà và được chào đón như những người anh hùng.
.
7. Điều được giảng trong “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ không phải là quần thể, quốc gia, thậm chí không hề giảng đến dân chủ. Điều được giảng là 3 quyền lợi lớn: quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc. Ba quyền lợi này đều là quyền lợi của cá nhân, không phải là quyền lợi của quần thể hay quốc gia.
.
Những quyền lợi này có được ngay từ khi công dân Mỹ vừa mới sinh ra, chứ không phải do ai ban tặng. Mặt khác, những quyền lợi này có thể bảo vệ cá nhân, khiến họ không phải chịu đựng sự xâm hại của bất cứ ai. Chỉ có kiến lập trên cơ sở quyền lợi cá nhân, mọi người mới có thể có được một xã hội tự do chính nghĩa, tôn nghiêm và bình đẳng:
Có thể tự do phê bình chính phủ;
Làm việc không cần phải luồn lách quan hệ;
Không ai dám cưỡng chế, sách nhiễu;
Chỉ cần bản thân có thực lực là có thể thăng chức;
Gần như không có thực phẩm độc hại, quang cảnh nước biếc trời trong;
Vật giá rẻ, thu nhập cao, phúc lợi tốt;
Chăm lo người già, trẻ em, khám bệnh, giáo dục phần lớn đều là do chính phủ gánh vác;
Nếu như có quan chức không làm tròn trách nhiệm thì có thể bỏ phiếu phản đối;
Quan niệm mọi người bình đẳng đều đã ăn sâu vào lòng người;
“Con ông cháu cha” không dám ngông cuồng hống hách.
(Nguồn từ Secret China)
----------
Bởi vì như tổng thống Ronald Reagan đã khẳng định, rằng: NHIỆM VỤ HÀNG ĐẦU CỦA CHÍNH PHỦ LÀ ĐỂ BẢO VỆ NGƯỜI DÂN, CHỨ KHÔNG PHẢI HỦY HOẠI CUỘC SỐNG CỦA HỌ!
Mời nghe clip diễn thuyết của cố TT Regan: https://www.facebook.com/DailyCaller/videos/744444183007498/