Sunday, August 9, 2020

báu núi Tàu (Kỳ cuối): Tấm bản đồ ba thế hệ

Kho báu núi Tàu (Kỳ cuối): Tấm bản đồ ba thế hệ
(PLO) - Đầu năm 2003, sau một thời gian dài chờ đợi nhưng nhà ngoại cảm và viên đại úy đều bặt vô âm tín. 
Biết mình bị lừa, ông Hiền viết đơn tố cáo nhưng cho đến bây giờ tung tích của hai người này vẫn là một dấu chấm hỏi.
Niềm tin không suy suyển
Tính ra, ông Hiền đã bị lừa cả trăm triệu đồng từ tiền đi lại ăn ở, hóa chất v.v…cộng thêm quá trình tìm kiếm quá lâu vẫn không có kết quả. Thế nhưng, cả ông Tiệp và ông Hiền vẫn một mực tin rằng “kho báu” đang hiện hữu đâu đó trên đỉnh núi Tàu.
Với ý thức của những người từng vào sinh ra tử để giành độc lập tự do, việc săn lùng kho báu đối với họ đã trở thành một đức tin để tài sản không lọt vào tay kẻ xấu, bảo vệ nguyên vẹn cho đất nước. Ông Tiệp từng ngỏ ý nếu tìm được kho báu, ông sẽ xin xây một khu nhà trên đỉnh núi Tàu để cán bộ hưu trí, thương bệnh binh nghỉ mát, điều dưỡng. Tiếc thay, dự định tốt đẹp ấy đến nay vẫn chưa thành.
Kho báu núi Tàu (Kỳ cuối): Tấm bản đồ ba thế hệ - ảnh 1
 
Cụ Trần Văn Tiệp và bác sĩ Quýnh, người cùng đồng hành với ông Tiệp và hiện nay cũng rất tin kho báu núi Tàu là có thật
Đáng nói là có nhiều người khác cũng có niềm tin về kho tàng ấy. Như chủ xưởng gỗ tại Căn cứ 5 trước đây là ông Năm Thuận. Có tin rằng chính ông Thuận là người thông ngôn cho một số tướng tá của quân đội Nhật  cùng các quan chức người Việt về địa điểm chôn giấu kho báu vào thời điểm quân Nhật sắp bị giải giới. Đó cũng là niềm tin của bà Vũ Thị Thanh Xuân, vợ bé của Tỉnh trưởng tỉnh Bình Tuy Lê Văn Bường đã sang Pháp  định cư từ năm 1987, và ông Huỳnh Xuân Há, nguyên cán bộ Phòng Công nghiệp tỉnh Thuận Hải (Bình Thuận, Ninh Thuận hiện nay) cũng đồng tình quan điểm này. Chính ông Há cũng từng “lên xuống” núi Tàu nhiều lần vì kho báu.
Tấm bản đồ ba thế hệ
Giữa lúc Kho báu Yamashita đã chìm trong tuyệt vọng thì có một người đàn ông khoảng hơn 40 tuổi xuất hiện trên núi Tàu. Anh ta xưng tên T.V.A ngụ thị trấn Liên Hương (Tuy Phong) dưới chân núi Tàu và đang giữ bản đồ kho báu.
Theo lời kể thì cha ruột của anh ta chính là viên Trung đội trưởng lính Bảo An đã từng nhận lệnh dẫn trung đội của mình bảo vệ cho nhóm chuyên gia Mỹ đổ bộ bằng trực thăng xuống núi Tàu vào năm 1971. Đặc biệt là ông nội anh là công nhân gác ghi của đề-pô xe lửa Vĩnh Hảo đã phát hiện ra ánh đèn sáng rực suốt 18 đêm trên đỉnh núi Tàu vào năm 1943.
Người gác ghi đã bí mật theo dõi và ghi nhớ. Sau đó ông nội và cha đã dẫn anh A. lên đỉnh núi Tàu, hai người đã cùng vẽ lại tấm bản đồ vị trí kho báu. Thật kỳ lạ là tấm bản đồ này gần như trùng khớp với vị trí khai thác chính và những tài liệu mà ông Tiệp có được. Đối với ông Tiệp, điều này càng khẳng định hơn nữa Kho báu Yamashita là có thật.
Kho báu núi Tàu (Kỳ cuối): Tấm bản đồ ba thế hệ - ảnh 2
Một số ký tự được cho là để đánh dấu trên bản đồ kho báu Yamashita
Tuy nhiên khi anh A. ra điều kiện được hưởng cổ phần trong kho báu thì ông Tiệp kiên quyết từ chối. Đến nay anh A. vẫn còn giận vì cho rằng vị trí ông Tiệp đào là đúng nhưng “cửa hầm” sai hoàn toàn, nếu không căn cứ vào tấm bản đồ ba thế hệ của anh ta!
Huyền thoại về Kho báu Yamashita tại núi Tàu xem như đã khép lại với những thất bại mà ông Tiệp phải gánh.
Và …. những kho báu khác 
Thế nhưng ít ai biết từ 1990-1993, ông Tiệp còn thất bại thêm một lần nữa khi săn lùng “kho báu Ioshida” tại Bình Giã, Vũng Tàu.
Có tin cho rằng Ioshida là một đại tá và là sĩ quan thân cận của tướng Yamashita. Sau khi chôn giấu “kho báu” ở Bình Giả, quân đội Nhật bị giải giới và Ioshida phải về nước.
Năm 1971, Ioshida bất ngờ quay lại Việt Nam và đến Vũng Tàu trong vai một nhà sư. Thế là bằng mọi giá, ông Tiệp tiếp cận được Ioshida và nắm một số bí mật về “kho báu” này được chôn dưới nền một căn nhà rất lớn. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, qua hàng lọat thủ tục, ông Tiệp mới được cấp phép cho thăm dò, khai thác “kho báu Ioshida” tại Bình Giã.
 Ròng rã ba năm đổ hàng núi của cải vào “kho báu” này nhưng vẫn cuốc lấy thảm bại.
Đối với ông Tiệp, hai “kho báu” trên vẫn chưa phải là chấm hết. Do không còn sức khỏe và con cháu muốn ông vui hưởng tuổi già nên ông đành dừng bước.
Theo nhiều tài liệu, khi quân đội Nhật đang chiếm đóng Việt Nam biết mình sắp thua trận, họ đã bí mật đưa toàn bộ số của cải khổng lồ vơ vét, cướp bóc được ở Việt Nam đến Căn cứ 6 (thuộc thị trấn Tân Minh, Hàm Tân, Bình Thuận ngày nay) chôn giấu vào một khu rừng già giáp với Suối Kiết (Tánh Linh).
Một Tộc trưởng người dân tộc Rắc Lây đã biết được điều này và đã được “ngài cố vấn’ Ngô Đình Nhu mời vào Dinh Độc lập yết kiến. Sau cuộc gặp gỡ, người Tộc trưởng chết đột ngột còn Ngô Đình Nhu được Tỉnh trưởng Bình Tuy Lê Văn Bườn tháp tùng, chỉ huy lực lượng phản ứng nhanh, trang bị tận răng quần nát  vùng đất này
                           Kho báu núi Tàu (Kỳ cuối): Tấm bản đồ ba thế hệ - ảnh 3
 Việc thăm dò, đào bới nhiều năm liền đã tiêu tốn hàng tỉ đồng
Kho báu Yamashita”, “kho báu Ioshida” và “kho báu Căn cứ 6” cho đến nay vẫn là những huyền thọai. Dù sao, những người săn tìm kho báu ở Việt Nam vẫn còn được an toàn. Trong khi đó, tại Philippines, một người đã chết và ba người khác bị thương vì bị sụp hầm khi tìm kiếm “kho báu Yamashita’ tại đảo Mactan vào năm 2003.
Trước đó cựu chỉ huy lực lượng Mũ nồi xanh của Mỹ, Charles McDougan đã đưa hàng loạt nhân công đến Fort Santiago, nơi từng là nhà tù dưới thời Nhật chiếm đóng Philippines để săn tìm kho báu. Hai người đã thiệt mạng ở đây.
Vì ảo vọng, họ bất chấp tất cả để tìm kiếm. Chừng nào chưa tìm ra, chừng đó họ vẫn tin rằng niềm tin ấy vào kho báu là có căn cứ và hành động này là thực sự cần thiết. Bao nhiêu tiền của, công sức và hi vọng đã đổ ra, đến nay đem về vẫn chỉ là con số 0. 
Phương Nam

 Kho báu 6 tấn vàng: Cái chết của cựu tỉnh trưởng


Kho báu 6 tấn vàng: Cái chết của cựu tỉnh trưởng
(PLO)- Chỉ sau một chung rượu, viên cựu tỉnh trưởng Bình Tuy bỗng ôm ngực lăn lộn đau đớn rồi tử vong đầy bí ẩn. 
Dư luận nghi ngờ vợ bé ông này giữ tấm không ảnh và không lâu sau bà này bị tống giam!
Chung rượu định mệnh
Đầu năm 1971, ông Bường đột ngột xuất hiện tại Bình Tuy sau hơn 10 năm biệt tích. Viên cựu tỉnh trưởng hùn vốn với ông Năm Khôi mở trại cưa ở Căn cứ 5 (giáp ranh Bình Thuận-Đồng Nai) và làm một trang trại ở Căn cứ 6 hay còn gọi là cây số 58 (thị trấn Tân Minh ngày nay).
Kho báu 6 tấn vàng: Cái chết của cựu tỉnh trưởng - ảnh 1
Chiếc xe Falcon của cựu tỉnh trưởng Bình Tuy.
Dù là một tỉnh trưởng bị phế truất nhưng ông Bường khá sành điệu, ban đêm luôn chở người vợ bé xinh đẹp dạo quanh tỉnh lỵ Bình Tuy trên chiếc Falcon đen bóng loáng còn ban ngày viên cựu tỉnh trưởng tự tay lái chiếc Daihatsu lên Căn cứ 6 để “làm rẫy” (chiếc Falcon này sau đó đã được một chủ khu du lịch Coco Beach Camp ở thị xã La Gi (Bình Thuận) sưu tầm mua lại và trưng bày).
Thế nhưng đến cuối năm 1973, ông Bường được một số người Nhật mời vào Sài Gòn tiếp kiến. Và chỉ sau một chung rượu khai cuộc, viên cựu tỉnh trưởng bỗng ôm ngực kêu khó thở và chết ngay trên đường khi chưa kịp đưa đến Bệnh viện Nguyễn Văn Học (Gia Định) cấp cứu.
Nhiều thông tin từ người nhà cho biết đây chỉ là chuyện đồn thổi để gắn liền với câu chuyện kho báu Căn cứ 6. Thực tế đêm đó ông Bường có dự tiệc rượu sau đó ông Bường đã quay về một căn nhà khác của mình ở Gia Định. Tuy nhiên khi vào phòng tắm, ông Bường mới đổ gục và được đưa đến Bệnh viện Nguyễn Văn Học nhưng chết trên đường đi cấp cứu.
Sau cái chết đầy uẩn khuất của ông Lê Văn Bường, mọi chú ý đều đổ dồn vào bà Vũ Thị Thanh Xuân, vợ bé viên cựu tỉnh trưởng bởi bà Xuân là người gắn bó suốt thời gian ông Bường về nhận chức Tỉnh trưởng Bình Tuy cùng những hoạt động sau này của chồng trên vùng đất Căn cứ 6.
Nhiều tin tức lúc đó còn khẳng định chính bà Xuân mới là người đang giữ tấm không ảnh “Kho báu Yoshida”.
Cô hoa khôi trường trung học
Năm 1957, khi ông Bường đến nhận chức Tỉnh trưởng tỉnh Bình Tuy cũng là lúc Trường trung học Bình Tuy được thành lập. Trong hàng trăm nữ sinh với tà áo dài duyên dáng đến trường, ai cũng dễ nhận ra cô hoa khôi Vũ Thị Thanh Xuân học lớp Đệ ngũ với sắc đẹp rực rỡ và lối nói chuyện cuốn hút người đối diện.
Thời đó, người ta còn dám so sánh sắc đẹp của cô hoa khôi Trường trung học Bình Tuy với “Đệ nhất phu nhân” Trần Lệ Xuân hay với “Người đẹp Bình Dương” minh tinh điện ảnh Thẩm Thúy Hằng.
Chính cái nhan sắc vượt trội của mình nên cô hoa khôi Vũ Thị Thanh Xuân đã lọt vào tầm ngắm của tay tân tỉnh trưởng dù ông ta đã có vợ, con và đã bước vào tuổi trên 40.
Năm 1959, ông Bường lấy bà Xuân làm vợ bé và đưa cô hoa khôi ngày nào vào Sài Gòn ở hẳn. Khi ông Bường bị điều chuyển đi Lao Bảo và sau đó nổ ra cuộc đảo chính nhiều người đã không còn nhìn thấy đôi vợ chồng này nữa.
Sau này bà Xuân cho biết suốt thời gian trên ông Bường thay tên đổi họ thành Tôn Thất Bình để tránh phe đối lập do tướng Đỗ Cao Trí dẫn đầu tầm nã nhằm cướp lại tấm không ảnh. Vợ chồng ông Bường và bốn đứa con gồm một trai, ba gái sống ẩn náu ở một khu đất biệt lập ở vùng Tân Sơn Nhì, Gia Định.
Kho báu 6 tấn vàng: Cái chết của cựu tỉnh trưởng - ảnh 2
Bà Vũ Thị Thanh Xuân. Ảnh tư liệu.
Năm 1971, ông Cao Xuân Vỹ một người quen thân với cựu thỉnh trưởng Lê Văn Bường ra ứng cử dân biểu ở Bình Tuy. Nhờ thế lực này ông Bường đưa vợ con về La Gi, Bình Tuy tiếp tục nuôi hy vọng về kho báu cho đến khi bị chết sau chung rượu bí ẩn của những người Nhật mà nhiều người đồn thổi.
18 năm 11 đời tỉnh trưởng
Bình Tuy dù là tỉnh nhỏ mới thành lập nhưng lúc đó được xem là nơi phức tạp nhất trong bốn vùng chiến thuật. Chính vì thế nên từ 1957-1975, chỉ 18 năm đơn vị hành chính này tồn tại đã có đến 11 đời tỉnh trưởng và ông Bường là đời đầu tiên cũng là đời tỉnh trưởng lâu nhất.
Tháng 3-1974, trung tá Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Ánh do tham ô tiền triệu nên bị Quân đoàn III rút về và cử trung tá Nguyễn Văn Sĩ lên thay. Lúc bấy giờ, bà Xuân, phu nhân cố tỉnh trưởng đã bước vào tuổi 32 nhưng sắc đẹp của người thiếu phụ này lại càng lộng lẫy hơn.
Mỗi chiều, với chiếc áo dài đen đầy u buồn, người mệnh phụ này ngồi trên chiếc Falcon đen được một tài xế người Đại Hàn lái chỉ với một lộ trình vòng quanh thị xã La Gi mà ngày xưa chồng mình thường chở như để tiếc nuối một thời vàng son rồi trở về nhà. Dù đã có vợ con nhưng không lâu sau trung tá Sĩ vẫn công khai đi lại với bà Xuân và bà Xuân liền nhờ giúp đỡ.
Số là khi ông Lê Văn Bường đổi tên thành Tôn Thất Bình có đứng tên này gởi tiền vào Nam Việt ngân hàng hơn ba triệu đồng, một số tiền cực kỳ lớn vào thời điểm trên. Nay chồng chết, bà Xuân không có cơ sở để rút tiền trong nhà băng này ra để nuôi con.
Nghe người đẹp nhỏ to tâm sự, lập tức trung tá Sĩ cho triệu một số luật sư ở Bình Tuy đến để bàn bạc. Chỉ vài ngày sau, tỉnh trưởng Nguyễn Văn Sĩ chỉ đạo cho thuộc cấp là ông Võ Hữu Lạc, xã trưởng xã Châu Thành-Phước Hội, quận Hàm Tân làm một kết hôn giả giữa bà Xuân và Tôn Thất Bình ký năm 1970 sau đó đăng bố cáo ông Bình đã chết năm 1973.
Với kịch bản này bà Xuân đã dễ dàng đến nhà băng rút hết số tiền gởi mang tên Tôn Thất Bình.
Vụ việc trên sau đó bị bại lộ và trong khi thượng cấp chưa kịp xử lý trung tá Sĩ thì ngày 25-12-1974, quân cách mạng tấn công và chiếm giữ huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy. Quân cách mạng đã tiêu diệt hoàn toàn một tiểu đoàn lính bảo an; một trung đội pháo 105ly; hai trung đội thám kích và cảnh sát, 8 trung đội dân vệ và bắn cháy một trực thăng, nhiều xe tăng, thiết giáp, thu giữ trên 1.000 súng các lọai.
Trận đánh này đã giáng một đòn quá nặng nề bởi trung tướng Dư Quốc Đống, nguyên Tư lệnh sư đoàn dù vừa mới nhận chức Tư lệnh Quân đoàn III chưa đầy hai tháng từ tay trung tướng Phạm Quốc Thuần.
Do để mất đất vào tay Việt Cộng và dính dáng trong mối tình với bà Vũ Thị Thanh Xuân, ngày 13-1-1975, Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Sĩ bị Quân đoàn III rút về “an dưỡng” và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cử đại tá Trần Bá Thành, Trung đoàn trưởng trung đoàn 48, Sư đoàn 18 bộ binh về giữ chức Tỉnh trưởng Bình Tuy.
Trước khi bàn giao chức vụ, nhận thức được sự nguy hiểm sẽ đến với cô nhân tình vì trong bốn vùng chiến thuật đã râm ran về tấm không ảnh kho báu Căn cứ 6, trung tá Sĩ đã gởi cô nhân tình và các con cho đại úy Tơ.
Nguyễn Tơ lúc đó đang là Chi đội trưởng Chi đội cơ giới Tiểu khu Bình Tuy và là đàn em thân cận của trung tá Sĩ nên đã nhanh chóng nhận lời.


Kỳ 3: Phu nhân tỉnh trưởng bị tống giam
HẠ SÁT TRUNG TÁ VÕ VÀNG MẶT THẬT TÀN ÁC CỘNG SẢN LỘ RÕ. - Phạm Văn Hồng.
Inline image
Lời giới thiệu:
Tác giả, Thiếu Tá Phạm Văn Hồng xuất thân Khóa 20 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, phục vụ tại Bộ Tư Lệnh/Quân Đoàn I/Phòng 3. Ngày 16 tháng 1 năm 1974, đương sự và G. Kosh, một nhân viên của lảnh sự quán Hoa Kỳ tại Đà Nẳng có nhiệm vụ theo tàu Hải Quân VNCH ra đảo Hoàng Sa khảo sát, nghiên cứu kế hoạch thiết lập sân bay. Ba hôm sau, quân Trung cộng đánh chiếm Hoàng Sa, bắt tất cả quân nhân VNCH kể cả nhân viên của tòa lảnh sự Mỹ. Sau một tuần, Trung cộng đã thả người Mỹ vì lý do “nhân đạo”, và sau 29 ngày, các quân nhân VNCH mới được trả tự do. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Thiếu Tá Hồng K20 bị cộng phỉ giam trong trại lao động khổ sai hơn 8 năm ở Quảng Nam. Thiếu Tá Phạm Văn Hồng K20 là một trong những nhân chứng vụ cộng phỉ thảm sát Trung Tá Võ Vàng K17 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Trân trọng.
<!>
Khi nhắc đến danh tánh cố Trung Tá Võ Vàng, cựu Sinh Viên Sĩ Quan khóa 17 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, có lẽ rất nhiều chiến hữu phục vụ tại vùng I chiến thuật, nhất là các chiến hữu Biệt Động Quân và người dân thị xã Huế, hẳn không ai xa lạ gì với tên tuổi của anh. Lý do dễ hiểu là vì trong biến cố Mậu Thân 1968, với trách nhiệm tái chiếm các mục tiêu từ Vĩ Dạ, Dương Nổ, Bãi Dâu và cuối cùng là Gia Hội, đơn vị anh đã đạt chiến thắng lẫy lừng và thanh toán mục tiêu trước giờ ấn định, đến nỗi người dân cố đô Huế đã hết sức cảm phục và thỉnh cầu vị Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật lưu giữ Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân mà anh là Tiểu Đoàn Trưởng ở lại thị xã để dân chúng được yên tâm sinh sống hầu tái thiết, an cư lạc nghiệp. Ý dân là ý trời, tiểu đoàn cuả anh phải "trấn thủ lưu đồn" tại vùng sông Hương, núi Ngự suốt sáu tháng mới được “buông tha”, lên đường chiến đấu tại những chiến trường khác cũng đang rất cần sức chiến đấu cuả tiểu đoàn anh.
Tên tuổi cuả anh đã bị bọn quỉ đỏ ghi vào sổ đen từ dạo ấy.
Sau này với chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 5 thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh, anh lại tạo một chiến thắng lẫy lừng khác tại vùng cực Nam tỉnh Quảng Ngãi, đó là mặt trận Bình Đê, Sa Huỳnh: Trong cuộc thư hùng nẩy lửa này, Trung Đoàn 10 địa phương cộng phỉ gần như bị xóa sổ hoàn toàn. Và đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến cái chết đầy oan khiên và đau đớn của anh sau này.
Người viết bài tường thuật này có cơ duyên biết khá nhiều về Trung Tá Võ Vàng, nhất là sau khi tên dã thú bắn anh 7 phát đạn từ sau ra trước, người viết lại là người đầu tiên khiêng thi thể của anh từ suối lên mặt đường và làm biên bản về cái chết đau thương này ....
Sau ngày 29 tháng 3 năm 1975, ngày thành phố Đà Nẵng bỏ ngỏ, bọn cán ngố tiến vào thị xã, người dân xứ sông Hàn mới lần đầu tiên nghe được từ ngữ "Uỷ Ban Quân Quản”. Đến ngày 5 tháng 4 năm 1975, những quân nhân không còn đơn vị, từ sáng sớm đã nghe một bản thông cáo của Uỷ Ban Quân Quản thành phố đọc đi đọc lại trên đài phát thanh Đà Nẵng đại khái nói rằng: " Tất cả các sĩ quan Ngụy, không chậm trễ, hãy tập họp về số 2 đường Đống Đa, Đà Nẳng để nghe nói chuyện về tình hình đất nước.".
Đây là cú lừa đầu tiên mà tất cả quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vốn chân thật chưa hề bao giờ ngờ được sự trí trá xảo quỵêt của bọn lưu manh, đã vấp phải. Bị thôi thúc bởi bản thông cáo, tất cả các sĩ quan lũ lượt kéo nhau đến địa điểm nói trên để tìm hiểu xem hiện tình đất nước biến chuyển như thế nào. Và thế là, tất cả những người chân thật ngay thẳng, đã tự động.... chui vào rọ! Có vào mà không có ra!
Cuộc đời tù "cải tạo" của những quân nhân còn kẹt lại khắp các vùng xứ Quảng bắt đầu từ đây. Chúng tôi bị đưa lên trại Kỳ Sơn thuộc tỉnh Quảng Tín. Nơi đây chỉ là một vùng rừng núi hoang vu, cạnh một suối nước chảy quanh co dưới chân khu mỏ vàng Bồng Miêu. Bây giờ danh nghĩa của chúng tôi bị gọi là những người "tù cải tạo". Ngày ngày chúng tôi ăn không đủ no, mặc không đủ ấm nhưng phải lên rừng chặt cây, cắt tranh, rồi chính mình cùng nhau dựng lên những căn nhà để tự nhốt mình.
Mới đầu, anh Võ Vàng và chúng tôi ở cùng khối 2 thuộc trại 1 Kỳ Sơn nhưng khác nhà. Anh ở nhà 6 còn tôi ở nhà 9. Hai nhà này hầu hết là sĩ quan cấp tá, và thường đi lao động chung với nhau. Sau một thời gian ngắn, qua sự xào xáo "biên chế" lại, anh Vàng về ở cùng nhà với chúng tôi.
Thực sự thì khi anh còn ở Biệt Động Quân, tôi đang ở Tiểu Đoàn 3/1 thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh, tôi chỉ nghe danh anh chứ chưa hề biết mặt. Mãi cho đến sau này, khi anh rời binh chủng Biệt Động Quân về ngồi tạm tại Phòng 3 Quân đoàn I để chuẩn bị theo học khóa tham mưu tại Đà Lạt tôi mới hân hạnh được biết anh, vì tôi đã về Phòng 3/QĐI từ trước. Sau khi tốt nghiệp khóa học, Bộ Tổng Tham Mưu/Tổng Cục Quân Huấn chỉ định Trung Tá Võ Vàng K17 về phục vụ tại Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam do những chiến công mà anh đã đạt được cùng những kinh nghiệm chiến trường vô cùng quý báu mà anh đã thu thập qua những trận ác chiến với cộng quân. Những kinh nghiệm này cần được gìn giữ, lưu truyền cho các đàn em của anh. Trong thời gian phục vụ tại Trường Mẹ, Trung Tá Võ Vàng K17 đã đảm nhận chức vụ trưởng khoa chiến thuật rồi trưởng khối huấn luyện quân sự. Với chức năng của một Niên Trưởng, Anh đã đem tâm huyết trao hết kinh nghiệm đầy máu và nước mắt cho đàn em của mình đang còn miệt mài kinh sử dưới mái Trường Mẹ. Đến tháng 3 năm 1972, tình hình chiến sự vô cùng sôi động, Trung Tá Võ Vàng K17 muốn được trở lại chiến trường xưa, đơn vị củ… để cùng đồng đội chia xẻ hiểm nguy, mặc dầu chị Võ Vàng không vui! Anh đã đạt được ước nguyện của người trai Võ Bị.
Đến bây giờ anh lại tái ngộ với tôi ở một nơi, trong một cảnh ngộ thật nghiệt ngã mà cả anh cũng như tôi, chẳng ai mong ước: Trại 1 “Cải Tạo” Kỳ Sơn.
Mỗi ngày anh cùng tôi rong ruổi trong công tác đốn củi, cắt tranh, làm rẫy, trồng sắn, cuốc ruộng, cấy lúa v.v.... Thôi thì đủ thứ tạp dịch không tên, kể sao cho xiết.
Rồi ngày 11 tháng 4 năm 1976, ngày báo hiệu đại hoạ đã tới. Hôm đó là chủ nhật, anh Võ Vàng có tên gọi trong danh sách thăm nuôi. Người thăm anh không ai khác hơn là chị Võ Vàng.
Kịch bản đã được soạn thảo từ lâu, mãi đến hôm nay mới là thời điểm cho bọn khát máu thực hiện. Chúng chuẩn bị tạo yếu tố tâm lý rất ác độc, nhưng hoàn toàn là bịa đặt, về con người anh Võ Vàng, bằng cách là trong những lần sinh hoạt của toàn trại trên hội trường, tên Chính Uỷ Trung Đoàn đến nói chuyện với tù nhân đã ngược ngạo, láo khoét tuyên bố rằng:
- Tên Trung Tá Võ Vàng là một tên mang rất nhiều tội ác với nhân dân và chiến sĩ cách mạng. Tên này độc ác đến nỗi mỗi khi sát hại một chiến sĩ cách mạng, hắn đều cắt tai rồi xâu thành chuỗi đeo tòng teng trước ngực, đi nghênh ngang trong thành phố Đà Nẵng.
Thật rõ ràng là chỉ những người cộng sản chuyên nghề lừa đảo mới tuyên bố được những lời gian trá trắng trợn như thế. Thử hỏi vào thời điểm đó, thành phố Đà Nẵng có khoảng tám trăm ngàn dân, liệu có một người dân nào nhìn thấy anh Võ Vàng đeo tai Việt cộng trước ngực, đi nghênh ngang trong thành phố?
Song song với sự chuẩn bị yếu tố tâm lý, chúng đã tiên liệu thời gian anh Vàng sẽ có thăm nuôi, vì qui chế của tổng trại Kỳ Sơn lúc đó là 3 tháng được thăm một lần. Một tên quân báo từ quân khu 5 đã xuống chờ sẵn tại trại 1. Đến ngày anh được thăm nuôi, chúng cử một cảnh vệ tên Bốn, là một tên có máu lạnh, hướng dẫn bốn năm người trong danh sách ra khu thăm nuôi gặp gia đình. Sau ít chục phút gặp người thân, tên Bốn ra lệnh cho mấy anh em chuẩn bị về trại. Anh Vàng cũng cùng với mấy anh em khác sẵn sàng trở lại trại, thì tên quân báo nói trên đã chờ sẵn tại khu thăm nuôi, lấy uy quyền của một cấp lớn hơn cho phép ở lại với gia đình thêm một thời gian. Tên Bốn lại hô tất cả mọi người tập họp đầy đủ để trở lại trại. Anh Vàng thi hành lệnh, tên quân báo này lại một lần nữa ra lệnh cho anh Vàng được ở lại. Dĩ nhiên là lẽ thường tình được một cấp lớn hơn cho phép, lại thêm yếu tố tình cảm gia đình thì đương nhiên anh Vàng nghiêng về phía ở lại. Tên cảnh vệ đành tức tối dẫn toán được thăm nuôi trở về trại, trong đó không có anh Võ Vàng. Đây là một yếu tố tâm lý vô cùng thâm độc, chúng cố tình kích động vào sự tự ái của tên Bốn hầu gây lòng hận thù với tên vệ binh này, để chúng xử dụng tên này một cách đắc lực và hiệu quả trong chủ đích sát hại anh trong vài ngày sau.
Dường như linh tính được báo trước nên tuy được thăm nuôi và lại được hưởng thời lượng gấp đôi, gấp ba những anh em khác, nhưng khi về trại mặt anh lại lộ rõ vẻ không vui như lẽ thường tình. Và quả đúng, đến chiều anh bị gọi lên ban chỉ huy trại để nhận lệnh.
Xin được tản mạn ra ngoài đề, để mô tả căn nhà chúng tôi ở. Cũng giống như tất cả các nhà khác trong trại là có bốn sạp ở bốn góc, được ghép bằng những cây rừng do chính những người tù đi chặt về ghép lại với nhau thành bốn sạp để nằm. Bốn sạp bốn góc đã tạo thành chữ thập dùng làm lối đi ở giữa. Tôi may mắn được nằm ngay trung tâm chữ thập, còn anh Vàng thì ngược lại, xuyên tâm đối với tôi, nghĩa là anh nằm tuốt phía ngoài bìa. Mô tả như vậy để quí độc giả hiểu được rằng chỗ tôi nằm là đắc địa, vì tại tâm của chữ thập có đào một cái hố để tối đến đốt lửa, hun khói để vừa đuổi muỗi, vừa sưởi ấm cho bớt lạnh. Củi đốt thì khỏi lo, sống ở rừng, mỗi khi hết giờ lao động, mỗi người tù đều phải vác về một cây củi để dùng cho chính mình vào buổi tối.
Chính vì vị trí đắc địa này mà mỗi tối anh Vàng thường lân la đến chỗ tôi nằm để hút thuốc lào với anh Phạm Ngọc Bảo. Anh Bảo là người có quan hệ mật thiết với anh Vàng, vì hai anh có nhà ở cạnh nhau trong vùng bãi biển Thanh Bình, Đà Nẵng. Hơn nữa, anh Bảo thuộc khóa 12 còn anh Vàng khóa 17 Võ Bị. Phần tôi là em út của cả hai anh vì tôi thuộc khóa 20. Vì tình Võ Bị này mà ba anh em chúng tôi rất thương yêu và tuyệt đối tin tưởng nhau. Yếu tố tin tưởng này rất quan trọng, vì ở trong tù một sự kiện vô cùng ô nhục là tình trạng “ăng ten”, nên không ai dám hở miệng tâm sự với người khác. Ba anh em chúng tôi thì không phải e ngại về yếu tố này.
Và rồi, như thường lệ, ngay buổi tối hôm thăm nuôi định mệnh này, anh đã kể hết một cách tường tận về chuyện được thăm nuôi thêm giờ, gây tức tối cho tên vệ binh và trại bắt anh phải làm kiểm điểm, vì đã cưỡng lệnh cảnh vệ. Anh hỏi ý kiến tôi và anh Bảo xem nên viết kiểm điểm như thế nào. Tôi đã rất chân tình góp ý với anh là chỉ viết thật ngắn gọn rằng: “Khi tôi được anh cảnh vệ ra lệnh về lại trại, tôi đã nghiêm chỉnh thi hành và chuẩn bị trở về, thì cán bộ của quân khu đã có nhã ý cố giữ tôi được ở lại với gia đình thêm ít phút nữa. Tôi cam đoan đây là lời khai sự thật của tôi v. v...”
Sáng thứ hai, ngày 12 tháng 4 năm 1976, anh viết xong bản kiểm điểm ngắn gọn như tôi đã góp ý và nộp cho ban giám đốc trại, rồi trở về tiếp tục đi lao động cùng chúng tôi.
Buổi tối, anh lại đến chỗ tôi nằm và hút thuốc cùng anh Bảo, nhưng tâm trạng của anh vô cùng bồn chồn và lo lắng. Dường như tử thần đã báo trước cho anh thời điểm chấm dứt cuộc sống sắp tới. Tôi và anh Bảo trấn an anh cách nào cũng không làm anh giảm được sự bồn chồn lo lắng ấy.
NGÀY ĐỊNH MỆNH
Hôm nay là thứ Ba, ngày 13 tháng 4 năm 1976, như thường lệ, nhà chúng tôi được phân công đi phát rẫy trên đồng Cò Bay, lối đi lên vùng mỏ vàng Bồng Miêu và do chính tên Bốn dẫn đi. Khi vài anh có nhiệm vụ trực trong nhà, ra nhà kho để nhận dụng cụ phát rẫy gồm dao tông và rựa về, anh Vàng đã nhận một con dao tông giống như tôi. Và dường như muốn đè nén nỗi lo âu, anh luôn luôn đi cạnh tôi và trò chuyện cho khuây khoả... Đến khi vào khu vực phát rẫy, những người cầm rựa thì đốn những cây tương đối nhỏ, còn những người cầm dao tông như anh và tôi thì phải hạ những cây có đường kính lớn hơn. Gặp những cây quá lớn cành lá xum xuê thì hai anh em chúng tôi cùng đốn một cây.
Bỗng nhiên khoảng 10 giờ sáng, chúng tôi đã tiến lên cao được khoảng mươi thước cách đường mòn, thì từ phía dưới đường, tên Bốn nói với lên trên:
- Anh trưởng toán đâu, cho tôi mười người cầm dao tông đi theo tôi lên phía kia đốn những cây lớn hơn.
Lúc đó anh nhà trưởng đi kiếm những người cầm dao tông. Anh Vàng nói với tôi:
- Ê mày, thôi tụi mình xuống đi, nó đang kiếm người cầm dao tông kìa.
- Kệ cha nó, mình cứ lơ đi, coi như không nghe thấy. Tôi trả lời.
Chỉ một lát sau đó, tên Bốn đứng ngay sau lưng chúng tôi dưới đường mòn, vừa nói vừa chỉ thẳng vào anh Vàng:
- Anh kia! (Làm như tên này không biết tên anh Vàng) Xuống đây đi đốn chỗ khác.
Thế là anh Vàng rời tôi đi xuống, trong khi tôi vẫn đứng nguyên tại chỗ mà tên này không gọi tôi. Đấy là giây phút cuối cùng, sau đó tôi vĩnh viễn không bao giờ còn đứng cạnh anh nữa.
Anh mới rời tôi khoảng vài chục phút thì một loạt đạn chát chúa vang lên. Tôi chẳng hiểu chuyện gì xảy ra nhưng vẫn nhủ trong lòng chắc có chuyện chẳng lành....
Mãi cho đến giờ nghỉ trưa, tôi tụt xuống đường mòn để chuẩn bị ăn trưa thì gặp ngay anh Lê Văn Lộc, Thiếu Tá Cảnh Sát, nguyên Trưởng Khối CTCT, ty Cảnh Sát Thừa Thiên – Huế, hôm nay làm nhiệm vụ anh nuôi, nấu nước cho anh em uống. Thấy tôi, mặt anh chảy dài, mắt đỏ ngầu, ứa nưóc mắt và nói ngay với tôi rằng:
- Anh Vàng chết rồi!
Tôi hết sức bàng hoàng, tay chân bủn rủn. Lần lần tôi mới vỡ lẽ. Số là, sau khi tên Bốn tách mười người đi đốn cây ở chỗ khác, y đã dẫn toán này đi xa nơi cũ, chỉ chừng vài ba chục mét về hướng đồng Cò Bay, gần cây cầu lủng, điạ danh "cây cầu lủng" anh em trại 1 Kỳ Sơn ai cũng biết, tên Bốn chỉ cho mọi người lên đó mà đốn. Khu vực này cây cối cũng có lớn, nhỏ, có hơn chỗ cũ gì đâu, mục đích chính chỉ là y muốn tách rời mười người này ra xa khỏi toàn khối 2 của chúng tôi. Sau đó, Bốn lại lấy hai người trong số mười người dao tông này, để đi đốn đót về làm chổi cho trại! Màn trình diễn này quá tồi. Nếu đốn đót thì phải gọi những người cầm rựa mới đúng vì dễ khoèo, dễ phứt, chứ sao lại lấy người cầm dao tông?
Hai người mà Bốn chỉ định là anh Võ Vàng và anh Nguyễn Văn Bá, Trung Tá Thủ Khoa khóa 13 Võ Bị....
Rõ ràng quá! Ý đồ của Bốn là lấy anh Vàng ra khỏi đám đông để dễ dàng động thủ, che dấu dã tâm đầy thú tính của mình. Khi hai anh vừa rời toán được mấy chục thước, thì Bốn chỉ tay nói anh Vàng xuống suối mà tìm đót còn anh Bá thì đi thẳng qua bên kia cầu lủng, chứ hai người cùng đi với nhau thì đót đâu cho cả hai người cùng đốn!
Anh Vàng vừa xuống hướng suối không đầy mười thước, thì một tràng đạn AK nổ dòn. Mấy chục con người mang thân tù tội đang cặm cụi đốn cây, đều ngừng tay. Linh tính cho biết là chắc chắn có chuyện gì bất thường.
Phần tôi, tôi biết được chi tiết vừa trình bày là do anh Bá kể lại. Và rồi, tiến xa hơn một chút, tôi càng được tường tận hơn khi tên Bốn cất tiếng hỏi:
- Ai là nhà phó trong toán này?
Anh em chỉ vào tôi, trong tù ai cũng biết nhà phó là người chịu trách nhiệm về "cơm, áo, gạo, tiền."
Bốn đã nhìn tôi và chỉ xuống hướng suối để khiêng xác anh Vàng lên. Tôi và anh Trần Hữu Cảnh, Thiếu tá Phòng 2 Quân Đoàn I, cùng đi xuống suối. Vừa rẽ khỏi đường mòn chừng mươi thước, thì chứng kiến cảnh đau lòng đến xé ruột diễn ra trước mắt mình. Anh Vàng nằm úp mặt xuống dòng suối cạn. Từ thắt lưng lên đầu thì ướt, phần còn lại từ lưng xuống chân thì vẫn khô. Anh nằm úp mặt dưới suối. Hai anh em, tôi và Cảnh lật xác anh lên, chúng tôi muốn oà khóc vì thấy những phát đạn quá tàn bạo. Tôi đếm được tất cả bẩy vết đạn đều bắn từ sau ra trước, mà trong đó hình ảnh của hai phát đạn xuyên ra phía trước thân thể anh, đã ám ảnh, đã hằn sâu, trong tâm trí tôi cho đến suốt đời, vì hai phát này đã kết liễu đời anh, một phát từ sau lưng bắn toác ra phía trước ngực, hơi chếch về trái, có nghĩa là anh đã bị vận tốc xoáy của viên đạn phá tan tim và lồng ngực, phát thứ hai từ hàm phải xuyên qua cửa miệng trái, vỡ hết hàm răng khiến cho miệng anh không còn khép lại được nữa. Năm phát còn lại thì rải rác ở cánh tay, mông và ống chân...
Khiêng thi thể của anh lên mặt đường, đặt gần nơi anh Lộc làm anh nuôi, lúc này tôi mới lục trong túi của anh lấy ví, mở ra, thấy trong đó có tấm hình vợ con và số tiền 200 đồng. Một nhẫn vàng khoảng hai chỉ trên ngón tay và cổ tay còn đeo chiếc đồng hồ Longine. Xin mở ngoặc là thời điểm này do bên quân đội quản lý, nên các tù nhân vẫn còn được giữ các tư trang. Chỉ sau này, khi bọn bò vàng (công an) quản lý thì tư trang và tiền bạc mới bị ký gửi.
Khi làm biên bản, một sự lưu manh, xảo trá chuyên nghiệp của bọn cộng sản lại được thể hiện: cụ thể là chiếc nhẫn vàng thì chúng buộc tôi phải viết lại là chiếc nhẫn màu vàng và không ghi rõ trọng lượng! Sau này khi sang Hoa Kỳ, duyên may tôi được gặp chị Võ Vàng, tôi mới vỡ lẽ là họ trả lại cho chị chiếc đồng hồ hiệu Seiko. Quá lạ! Đồng hồ Longine đã bị “cải tạo” thành Seiko.
Sau khi làm biên bản, thi hài anh Vàng vẫn được để nằm tại chỗ cho đến khi ăn cơm trưa xong, một số anh em mới được phân công khiêng thi hài của anh về trại. Những anh này gồm anh Nguyễn Văn Tố, Trung tá nguyên Tỉnh Trưởng Phú Yên, anh Nguyễn Văn Chước, Trung Tá, nguyên gốc Biệt Động Quân cùng thời với anh Vàng, anh Đ H X, Thiếu Tá thuộc Thiết Đoàn M48, Quảng Trị, và anh Trần Hữu Cảnh, Thiếu tá P 2/QĐI.
Một chuyện lạ rất huyền bí không chứng minh được do chính anh Trần Hữu Cảnh kể lại cho tôi nghe, đó là khi về đến gần cổng trại, phía bên tay phải là một căn nhà nhỏ chúng tôi thường gọi là chuồng cu, dùng để nhốt những anh bị kỷ luật, cảnh vệ đã chỉ cho toán khiêng xác anh Vàng vào trong đó, thì bỗng nhiên xác anh nặng trĩu hai người khiêng bị trì hẳn xuống, không cách gì khiêng nổi. Anh Cảnh chợt nghĩ ra rằng đây là nhà kỷ luật chắc anh Vàng nhất định không chịu vào. Anh Cảnh bèn khấn vái với anh Vàng rằng:
- Xin anh hãy thông cảm cho chúng tôi được khiêng anh vào, vì đây là lệnh của trại bắt tụi tôi phải đưa anh vô, chứ không phải tụi tôi muốn như vậy.
Sau nhiều lời khấn vái thì xác anh bỗng nhẹ hẳn đi để anh em khiêng vô.
Chưa hết, sau này tôi lại được một vài anh em ở ngoài Tổng trại kể lại rằng tên Bốn sau này dường như bị điên điên, khùng khùng, suốt ngày cứ lảm nhảm vừa đi vừa nói:
- Tôi đâu có muốn giết anh! Tôi đâu có muốn giết anh!
Việc này tôi chỉ nghe kể lại chứ không được chứng kiến nên không hiểu thực hư ra sao, xin chỉ viết lại với sự dè dặt tối đa.
Về việc mai táng cho anh thì đến xế chiều, khi đào huyệt chôn anh lại gặp nhiều rắc rối. Những người đào huyệt đang đào nửa chừng thì người trưởng trại tên Nhất đi họp ngoài Tổng trại về, trông thấy bèn cho biết là chôn ở đây không được, vì vị trí này, sau này người ta sẽ phóng đường để cho xe cộ có thể chạy được lên mỏ vàng Bồng Miêu. Mọi người phải dừng tay, lấp hố, đi đào huyệt khác. Đến vị trí thứ hai mới đào sâu được vài chục phân, thì gặp phải đá tảng, không cách gì đào nổi, nên lại phải đi kiếm chỗ khác. Huyệt thứ ba ở khá cao trên triền núi. Lúc này đã xẩm tối toán chôn cất mới hoàn tất việc mai táng cho anh.
Kiểm chứng lại việc chúng muốn phục thù, cướp mạng sống của anh, mới thấy rõ là chúng chuẩn bị một kế hoạch rất tỉ mỉ. Từ việc cử một tên cán bộ quân báo của Quân Khu 5 xuống chờ sẵn, đợi dịp anh Vàng được thăm nuôi, chọn một tên vệ binh có máu lạnh dẫn anh đi, gây cho hắn lòng căm phẫn với anh Vàng. Sau ngày chủ nhật được thăm nuôi, ngày thứ hai bắt nộp bản kiểm điểm, rồi đánh giá là lời khai tránh trớ, quanh co, ngoan cố không nhận lỗi, ngày thứ ba cho đi lao động, cố ý cắt cử tên vệ binh Bốn hướng dẫn đi phát rẫy, rồi xuống tay hạ thủ và kết quả đã đúng như dự tính.
Thế nhưng nói như thế không có nghĩa là chúng không để lộ ra những màn diễn xuất quá tồi. Ngay sau khi bắn anh Vàng, tên Bốn đã xuống suối nhúng nước cho quần ướt đến đầu gối rồi thất thểu vác súng về trại, biết bao nhiêu cặp mắt anh em tù chúng tôi thấy khẩu súng của y còn nguyên vẹn, nhưng đến xế trưa, khi bọn cán bộ từ trung đoàn đến hiện trường làm biên bản thì báng súng lại có vết chém! Biên bản ghi rằng tên Vàng phản động, tính chém vệ binh để cướp súng khiến vệ binh buộc lòng phải bắn để tự vệ, nhưng lố bịch thay vết đạn bắn lại toàn từ phía sau ra phía trước! Về điểm này xin được nói thêm là nhà 9 chúng tôi, tối tối thường có một y tá người Bắc, thường lân la xuống trò chuyện và hút thuốc lào với anh em chúng tôi. Ngay buổi tối hôm đó, như thường lệ, anh y tá này lại xuống, vừa bước vào nhà anh đã buột miệng nói ngay:
- Đ.m. chúng nó, chúng nó đang tâm bắn một người vô tội, vết đạn rõ ràng bắn từ sau ra trước mà bảo người ta là phản động, cướp súng của vệ binh! Ngày mai ghi vào biên bản xác minh, bố mày sẽ ghi rõ ràng là vết đạn bắn từ sau ra trước.
Và tiếc thay, chỉ vài ngày sau khi mộc mạc thốt ra những lời kể trên, người y tá còn chút nhân tính này không thấy xuất hiện tại nhà 9 chúng tôi nữa.
Cướp đi mạng sống của anh Vàng, chúng vẫn chưa thỏa mãn được lòng hận thù của chúng. Chị Vàng sống tại Đà Nẵng cũng không được yên thân. Sau này khi được gặp chị, tôi mới được biết, chị bị cắt hết nguồn sống của mẹ con bằng cách không cho chị được tiếp tục dạy học tại trường trung học Phan Chu Trinh, Đà Nẵng nữa. Đồng thời còn cô lập gia đình chị bằng cách phao tin Võ Vàng là một tên phản động khát máu, mặc dầu được đưa vào trại cải tạo để giúp hắn trở nên người lương thiện nhưng vẫn giữ bản chất cũ, đã cố tình cầm dao chém cảnh vệ để cướp súng, nên đã bị đền tội. Thế là tất cả bà con chòm xóm, ngay cả người thân trong gia đình cũng phải xa lánh mẹ con chị, vì sợ bị liên lụy, ấy là chưa kể nhiều người quá ngây thơ khờ dại, tin lời bịa đặt, đã chê trách anh Vàng quá dại dột, dùng dao mà đọ sức với súng đạn thì làm sao mà thắng nổi! Anh hùng rơm!
Mãi sau này, trong một dịp nhà báo Huy Phương phụ trách chương trình “Huynh Đệ Chi Binh” của đài SBTN có nhã ý tìm gặp tôi và muốn được tôi kể lại chuyện Trung Tá Võ Vàng bị thảm sát trong tù, tôi mới có dịp tường thuật khá đầy đủ cùng khán thính giả của đài. Chị Vàng đã xem được cuộc phỏng vấn này và chị đã phần nào được an ủi:
- Xem như anh Vàng đã được rửa mặt. (Rửa mặt ở đây có nghĩa là rửa nhục, lấy lại danh dự).
Chỉ tiếc một điều là sao lại có một số người quá nhẹ dạ cả tin, nhất là tin lời tuyên truyền của cộng sản. Có lẽ họ chưa được nghe lời chỉ giáo của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
Mặt khác, mới thời gian ngắn trước đây tôi lại được dịp đọc một bài viết của anh Đ.H.X, cũng viết về cái chết của anh Vàng. Với anh Đ.H.X, tôi cũng biết khá nhiều về anh ngay từ khi mới nhập trại. Kẹt một nỗi là nay anh vẫn còn ở Việt Nam, bởi một lý do tôi không tiện nói ra vì sẽ rất có hại cho anh trong cảnh ngộ quá ngặt nghèo này. Đọc bài viết của anh, tôi vô cùng cảm phục cái tâm của anh, vì sau khi chứng kiến cái chết của anh Vàng, phải khiêng anh về trại, mai táng cho anh, anh đã nguyện trong tâm rằng sẽ kể lại đầy đủ cái chết đau thương này, thì anh mới yên lòng trước khi nhắm mắt. Chỉ tiếc là hoàn cảnh của anh vẫn còn trong tình trạng cá chậu chim lồng, nên chưa nói hết được những gì anh muốn nói. Vả lại, anh mới chỉ viết được phần anh chứng kiến kể từ đoạn thi hài anh Vàng được khiêng về trại và anh bị buộc phải làm biên bản sai sự thực, trái hẳn với những gì anh được chứng kiến rồi tiếp theo phải ký vào biên bản trước họng súng.
Tựu trung lại cái chết của anh Võ Vàng tính đến nay, năm 2017, đã trôi qua hơn bốn thập niên, nhưng hình ảnh quá đau thương tàn bạo, đối với người được chứng kiến tận mắt như chúng tôi lúc nào cũng vẫn còn hiện rõ mồn một…!
Nếu được đọc lịch sử về cuộc nội chiến Nam-Bắc của Hoa Kỳ, sự ứng xử của đoàn Bắc Quân chiến thắng với đội Nam Quân chiến bại hết sức mã thượng, danh dự của kẻ chiến bại vẫn được tôn trọng, hoặc gần hơn nữa, sự kiện bức tường Bá Linh sụp đổ, người Tây Đức cũng tiếp đón người Đông Đức vô cùng quân tử, không một chút hận thù, mà có ai đó mơ mộng rằng nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng đối xử nhân đạo, tử tế với Việt Nam Cộng Hoà thì quả là người đó đã mắc bệnh… hoang tưởng!
Mặt khác, cuộc cải cách ruộng đất còn đó, vụ án Nhân Văn Giai Phẩm còn đó, và mới đây nhất làn sóng đỏ tràn ngập miền Nam còn đó, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, các trại tù khổ sai, nhục hình mang danh "cải tạo" mọc lên như nấm gặp mưa, cách đối xử với người tù vô cùng dã man, ác độc, mà vụ sát hại anh Võ Vàng là một điển hình, thế mà lũ người Xạo - Hết - Chỗ - Nói vẫn lải nhải kêu gọi xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải dân tộc thì quả là chúng đang bị chứng...mộng du!
California, ngày 23 tháng 9 năm 2017.
Phạm Văn Hồng

Saturday, August 8, 2020

attached the following document:
Untitled document
Snapshot of the item below:
SONG BE Airfield :
-Theo Where We Were in Viet Nam trang 571-772  :
1- Song Be Airfield  (YU 141-070)
    one of 3 Airfields at Song Be , apx 115 km NNE Saigon, 4km SW Song Be AF,
    1km SW Phuoc Binh , 60 km NNE Phuoc Vinh AF, 33 km N Dong Xoai.
    El. 797' , 3400 ‘ alum-mat runway; C-130 cap  . 11o 49’05"N /106o 58'09" E
2- Song Be City Airfield (YU 182-109 )
    (possible aka Farley Field) : apx 120 km NNE Saigon, 4 km E Phuoc Binh , 7 km NE
    Song Be AF, 38 km NNE Dong Xoai
    El, 722' ; 2200 ‘ asphalt runway   11o 51'04" N / 107 o 00'11" E
3- Song Be Heliport (YU 183-112)
    Apparently on N side of Song Be City AF , 4km NE Phuoc Binh , 38 km NNE Dong
    Xoai . Heliport #655 , alt 660'; 80' diameter circle , asph
    (còn nhiều chi tiết về Phi trường trực thăng này… )
  • Theo Flying Dragons :
1- Song Be AF : phi đạo dài 4000 ft = 1219m, tráng nhựa
2- Song Be City : phi đạo 2200 ft = 671 m , tráng nhựa..
Tôi sẽ ko còn giúp kẻ khác ?.
- Sống lâu ko bằng sống có Ý NGHĨA .
Gần đây thói quen tiêu hóa của tôi đã đột ngột thay đổi : đau bụng thường xuyên , chỉ có thể ăn bánh mì khô Oroweat , hột gà luộc và thỉnh thoảng là mì ống (pasta) , ngoài ra những thứ khác bao gồm sữa Ensure hay cà phê Bulletproof - đều bị thải loại ngay lập tức . Đã vậy nuốt khó khăn hay bị sặc (choking) nên bs cho đi xét nghiệm về ung thư ruột và thực quản .
Tôi ra đi KHÔNG thành vấn đề nhưng sẽ là LUYẾN TIẾC hay mất mát cho nhiều người - đã từng được tôi giúp đỡ miễn phí về vi tính , máy tính bảng và điện thoại thông minh, và nhiều thứ khác (vì nhà tôi như cái kho , chứa mọi thứ cần thiết cho cuộc sống thường ngày) . Tôi sẽ ra đi trong thanh thản , do đã ko nợ ai một thứ gì , đã ko làm ai đau khổ dù là vô tình (làm cho họ đau khổ) .
Tử vi Tây Phương viết tôi có số "đào giếng cho kẻ khác uống" , còn tử vi Da Đỏ viết "tôi có TẦM NHÌN XA (vision) và NHÂN ĐẠO (humanitarian) . Đức tính đầu giúp tôi thông minh còn đức tính thứ 2 là thường xuyên giúp đỡ kẻ khác . Trong khi , ngay tại xã hội với bề ngoài giàu sang thừa mứa này , rất nhiều người ÍCH KỶ , VÔ CẢM , NGHI KỴ (kẻ khác hại mình) khiến họ DỐI LÒNG và SỢ SỆT đủ thứ vì trộm cướp tràn lan khắp nơi (kể cả xe đạp ko dùng khóa tốt sẽ mất) !!! .
"Theo dân Da Đỏ , người sanh từ 20/1 đến 18/2 DL thuộc tuổi RÁI CÁ (otter) . . . lại lần nữa chúng ta dễ thấy tại sao người tuổi này là những người bạn đồng hành được mọi người săn đón/ưa thích (sought-after) .
Như rái cá , họ thông minh , dũng cảm (bold) , hay vui đùa , hay giúp đỡ (helpful) và hòa nhã (gentle) . Họ có một ngữ vựng phong phú và thích vui đùa với chữ nghĩa và triết lý cũng như với những điều khác .
Họ hình như có cảm giác rằng họ có bổn phận giúp mọi người có được ÂN SỦNG TỐT (good grace) dưới bầu trời này . Họ có TẦM NHÌN (visionary) và NHÂN ĐẠO (humanitarian) , thường dùng phần lớn thì giờ và năng lực để tìm mọi cách hầu có thể giúp đồng loại của họ . Họ thật sự vui vẻ khi được giúp đỡ người khác và luôn mơ những cách mới để họ có thể phục vụ . Do có sự đồng cảm và trực giác , họ thường thành công trong việc tìm thấy những cách để mọi người giúp đỡ lẫn nhau . Nếu bạn xem xét các cơ sở từ thiện , bạn thường thấy người tuổi rái cá là người thành lập . Nhu cầu được phục vụ là phần lớn của tính cách của họ , và , nếu họ ko tìm ra cách phục vụ trên diện rộng , họ sẽ tìm cách để làm điều đó trên căn bản cá nhân (individual basis) .
Nếu bạn có một bạn bè tuổi này , và bạn đang cần một người thông cảm hoàn cảnh , hay bạn cần vay tiền , họ sẽ cho bạn vay càng nhiều càng tốt theo khả năng họ . Nhưng họ cũng thực tế , và nếu thấy bạn vay để làm điều ko đáng làm , trước nhứt họ sẽ cố gắng cho bạn biết việc đó ko thực tế . Nếu họ ko thể làm điều này , họ vẫn thường cho bạn mượn , dù biết rằng bạn sẽ ko thành công . . ."
(còn tiếp) .
Dịch từ trang 27-28 của The Medicine Wheel , tác giả Sun Bear và Wabun , in năm 1980 .
Chụp với em dâu vào mùa đông , đầu năm 2019 , trời bên ngoài rất lạnh nên tôi mặc áo dày cộm .


Má tôi có tên cộng lại bằng 15 , cùng định mạng với ca sĩ Pháp Johnny Hallyday (tài sản trước thuế 275 T đô năm 2013). Nhờ phúc đức của má , tạo ra trong nhiều kiếp trước, nên ba má tôi đã tạo một sản nghiệp lớn với dự định sẽ lập một hãng hàng không - cạnh tranh với Air Vietnam . VNCH sụp đổ khiến cơ nghiệp của ba má tôi đã tan biến trong sóng biển như "dã tràng xa cát" (sic) ! Con cháu phải tha phương cầu thực nơi xứ người từ Canada tới Mỹ , dù ngày xưa , người Mỹ từng làm công cho ba tôi .
Tôi nói đùa với 2 em gái : nếu miền nam ko sụp đổ , tụi bây ko thua hai công chúa của đại gia Korean Airlines , hình 2-3 .
Trong ảnh 1 : từ trái qua phải , chị cả đã chết khi khoảng 1 tuổi vì bị phong đòn gánh thời 1945 , kế đó là tôi và các em trai và gái .