Monday, February 17, 2020

SONG VŨ - Sông Mao , những ngày cũ
(Mến tặng các chiến hữu trung đoàn 44/SĐ23 BB)
Trích Tâp san BĐQ số 33 : Sông Mao,…
Tốt nghiệp khóa 4 Chỉ huy Tham mưu vào cuối tháng 6/ 1968. Tôi nhận được sự vụ lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu (TTM) ra trình diện Sư đoàn 23 BB. Theo lời ghi trong lệnh: để bổ sung cán bộ tiểu đoàn trưởng theo phiếu trình của SĐ23 trước đó.
Thật lòng mà nói, tay cầm tờ sự vụ lệnh mà chẳng thấy chút nào vui. Nửa tháng trước ngày mãn khóa, tôi nhận được tin cáo phó khi đọc trên báo hay tin tiểu đoàn trưởng của tôi là đại úy niên trưởng Nguyễn văn Tạo, Khóa 16 Tiểu đoàn trưởng 2/11 sư đoàn 7, bị tử thương trong một trận đánh nội tuyến ngay tại căn cứ đóng quân của tiểu đoàn tại căn cứ Đồng Tâm.
Nhớ lại, chúng tôi có một thói quen, cứ mỗi buổi tối, khi tới giờ phát hình của đài vô tuyến truyền hình Việt Nam, các sĩ quan tham mưu tiểu đoàn thường tụ tập tại ngay căn phòng khách của bộ chỉ huy tiểu đoàn (BCH/TĐ) để nghe tin tức trong ngày và xem chương trình văn nghệ. Buổi tối ngày 17 tháng 6 năm 1968 định mệnh ấy đã xẩy ra ngay khi chương trình chấm dứt và đám tân binh mới mãn khóa huấn luyện tại trung tâm huấn luyện sư đoàn tại Bình Đức vừa được bổ sung cho đơn vị chúng tôi đã đồng loạt tung lưu đạn và xả súng bắn vào ngay khu phòng ngủ và phòng khách của BCH/TĐ. Đơn vị cộng sản này vốn là các binh sĩ đặc công trá hình đầu quân vào làm lính tình nguyện của sư đoàn! Đó là tất cả những gì sau này tôi được biết qua lời kể của các bạn bè còn sống sót sau trận nội ứng đêm 17 tháng 6 ấy.
Nhìn bản tin cáo phó ghi danh tính đầy đủ của của những đồng đội đã hy sinh trên nhật báo vào buổi sáng thứ bẩy ngày 20 lòng tôi xúc động đứng không muốn vững. Tôi thật sự không tin vào đôi mắt mình. Tôi tự nhủ thầm “Nếu tôi không được gọi đi học lớp Chỉ huy tham mưu này không biết tôi có còn sống sót không?”
Tạo là đàn anh của tôi. Anh tốt nghiệp trước tôi một khóa. Vốn là một sĩ quan thủ kỳ của Tiểu đoàn 1 SVSQ khi còn ỡ trường Võ Bị nên anh khá bảnh trai, trắng trẻo và cao lớn. Anh về làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2/11 vào khoảng gần cuối năm 1967. Còn tôi cũng bàn giao lại đại đội 11 trinh sát cho một người bạn đồng khóa, đại úy Nghê hữu Cung, để về làm Tiểu đoàn phó cho anh. Hai anh em phải nói là rất ăn ý với nhau, từ cách quản trị đơn vị cho tới việc bàn thảo kế hoạch hành quân. Anh cho rằng tôi có nhiều kinh nghiệm chinh chiến trong suốt thời gian lăn lóc với đại đội trinh sát nên anh thường đồng ý với những gì tôi làm khi điều động trong tác chiến. Tính anh thẳng thắn và không ngại va chạm với cả thượng cấp trong những kiểu chỉ huy tùy tiện hoặc ra lệnh miệng nên anh thường nói đùa với tôi: “Tớ nói thật với Vũ đời tớ chỉ có sợ ông bà già thôi. Còn bất kỳ ai ra lệnh cho tớ cũng phải hợp lý và hợp pháp mới được. Đời mình nhà binh, lính tình nguyện, đi đâu cũng vậy, làm gì cũng được nhưng làm sao để cho thuộc cấp và đồng đội đừng khinh mình. Còn lon lá cùng mình mà dùng thủ đoạn lén lút thượng đội hạ đạp thì không có tớ đâu”. Từ lúc về làm việc chung với anh thời gian chừng nửa năm, trải qua hai ba trận đụng độ lớn, lúc ở chiến trường Đồng tháp với tiểu đoàn 261, 263, 265… hoặc trận đánh tại Hoà Đồng Gò Công khi đụng với tiểu đoàn 514. Cả hai trận thắng đã mang lại danh tiếng cho tiểu đoàn với danh hiệu tiểu đoàn Chim Ưng Cổ nâu vì chiếc khăn choàng cổ mầu nâu phân biệt với các đơn vị bạn khác có màu xanh vàng hoặc đỏ.
Tôi nhớ hôm chia tay nhận sự vụ lệnh đi học, anh em trong đơn vị ăn bữa cơm thân mật buổi chiều tại bộ chỉ huy tiểu đoàn. Cả “một lò” Võ bị gồm gần chục tên kể cả đám khóa đàn em từ tiểu đoàn 3/11 đóng sát bên hè cũng qua “ăn ké” . Anh Tạo là đại niên trưởng, Tôi là khóa kế, tiếp sau là đám Trần tấn Trung K19 Chương Khóa 19, Phạm ngọc Tài, Nguyễn đào Đoán Ngô gia Truy; Bùi văn Nữa, Thanh Khoá 21. Anh em vui vẻ uống bia, nói chuyện tán dóc. Tan tiệc, Tạo kéo tôi ra sân dặn dò đủ thứ rồi luôn nhắc chừng “Học xong thì về lại đơn vị với tụi này nghe không “. Tôi bùi ngùi nhìn anh. Cả hai anh em im lặng chia tay. Không biết tại sao lúc đó tôi lại cảm nhận một điều gì đó rất lạ lùng không mấy vui khi xa anh.
Mới đọc tin buồn trên báo, hai ngày sau tôi nhận được điện tín của trung tá Trần tiến Khang, trung đoàn trưởng 11, yêu cầu tôi sau khi mãn khóa về ngay trung đoàn để giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2/11 thay thế cho anh Tạo. Trong lòng biết bao ưu tư. Tôi nhớ tới những sĩ quan trong ban tham mưu tiểu đoàn, nhớ tới những sĩ quan đàn em đồng trường mới hôm nào còn nói vui đùa với nhau giờ đây không còn nữa.
Ba tuần lễ sau cái tin sét đánh đó chúng tôi tốt nghiệp. Trước khi tốt nghiệp 3 ngày, tôi nhận được lệnh gặp trung tá trưởng phòng I của Sư đoàn 23, trung tá Nguyễn văn Nam. Ông cho tôi biết tôi được chọn về SĐ 23 theo nhu cầu bổ sung sĩ quan chỉ huy cấp tiểu đoàn của đơn vị này. Tướng Trương quang Ân là Tư lệnh SĐ 23 lúc đó đang muốn trẻ trung hoá các cấp chỉ huy tiểu đoàn trong đơn vị của ông. Thực lòng tôi muốn trở về lại đơn vị cũ, vì dù ở đâu, tôi cũng vẫn chỉ huy tiểu đoàn nhưng ở một nơi tôi đã biết rõ thuộc cấp của mình, thông thuộc địa thế và tình hình địch bạn dù sao, theo tôi nghĩ cũng vẫn thuận lợi hơn. Còn thêm một yếu tố riêng tư nữa, gia đình tôi đang sinh sống tại Sài Gòn và mẹ tôi sức khoẻ cũng ngày càng yếu vì căn bịnh phổi của bà. Tôi thực sự mong được sống gần bà để có thể chăm nom săn sóc.
Tôi đã từ chối và nêu ra các lý do kể trên với Trung tá Nam. Ông có vẻ không hài lòng. Ông bảo ai cũng muốn về đơn vị cũ thì làm sao thi hành được lệnh này. Tôi nhớ trong 4 người do ông muốn điều chuyển gồm các đại úy Phạm Dũng thuộc SĐ1, Lê văn Thâm SĐ22, Nguyễn minh Quân (cùng khóa với tôi) SĐ5, và tôi thuộc SĐ7. Chỉ có duy nhất Dũng là một sĩ quan tình báo thuộc SĐ1 không về 23, còn lại 3 chúng tôi đều phải ra trình diện BTL/ SĐ23 để nhận nhiệm vụ mới.
Giữa tháng 8/1968 Tôi theo phi cơ C47 từ Tân Sơn Nhất đi Ban mê Thuột sau hai tuần nghỉ phép khi mãn khóa học. Đại úy Dương đức Sơ, người bạn cùng khóa, lúc đó là phó phòng I ra đón và đưa tôi về nghỉ tạm tại câu lạc bộ sĩ quan của sư đoàn có tên là Hội quán Biên Thùy ngay tại trung tâm thành phố Ban mê thuột.
Trong thời gian này, Tướng Ân đang bận chỉ huy hành quân tại Đức Lập nên tôi phải chờ đợi gần 10 ngày mới được gặp ông. Ông dặn dò đủ điều và với cung cách cư xử của ông tôi có phần càng buồn hơn. Khác hẳn với lần trình diện đơn vị đầu tiên của tôi khi mới ra trường vào đầu tháng 4/1963 với Đại tá tư lệnh SĐ 7 lúc đó là Đại tá Bùi đình Đạm. Đại tá Đạm vui vẻ thân thiết và cởi mở hơn. Ông tạo cho các tân sĩ quan chúng tôi một niềm hãnh diện và tin tưởng vào công việc của mình. Tướng Ân ngược lại, tỏ ra không mấy thiện cảm với tôi, một tên đại úy non choẹt dám có ý kiến ý cò thẳng thắn với ông, mà vốn dĩ tính cách của ông, một cấp chỉ huy luôn yêu cầu tinh thần phục tùng tuyệt đối nơi thuộc cấp của mình. Tính tôi vốn từ lâu vẫn thói nào tật nấy, tôi luôn tôn trọng mọi người bất kể người đó cấp bực gì, và cũng đòi hỏi được tôn trọng trở lại. Vốn có thành kiến với một số sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn cũ dưới quyền mà ông cho là kém khả năng và sử dụng đơn vị dưới quyền như một phương tiện thu vén cá nhân. Dưới mắt ông mọi sự “đánh phủ đầu” là cần thiết! Ông quên một điều căn bản, là quân nhân, bất kể cấp bực gì, họ cũng có niềm tự hào riêng về cá nhân và mọi ý kiến của thượng cấp không phải lúc nào cũng là chân lý tuyệt đối, nhất là những giả định có tính áp đặt kiểu ai cũng giống ai là điều rất khó chấp nhận.
Cho nên hậu quả là thay vì “Để bổ xung cán bộ tiểu đoàn trưởng” chiếu theo phiếu trình của BTL/SĐ 23 do Bộ TTM/P1 cấp cho tôi thì khi tôi được lệnh xuống trình diện Trung đoàn 44 trở thành ” Bổ sung cán bộ chỉ huy, tùy theo khả năng chỉ định chức vụ!” Trung tá Nguyễn bá Thịnh là trung đoàn trưởng 44 lúc đó, ngay trong đêm hôm tôi chờ phương tiện di chuyển xuống Sông Mao trình diện đã điện thoại cho tôi phàn nàn “Chú mày làm gì để cho ông tướng bực mình vậy?‘’ Trung tá Thịnh là thầy dậy chúng tôi môn tác chiến ở trường Võ bị. Tôi trả lời ông “Chuyện dài lắm, khi nào xuống gặp trung tá tôi sẽ kể”.
Tôi lại đáp phi cơ C47 đi Sông Mao vào đầu tháng 9 năm 68. Khi bánh phi cơ chạm đất, nhìn phi đạo lót bằng những tấm PSP đục lỗ tròn nằm lọt thỏm giữa một thung lũng nhỏ mà hướng bắc, và đông bắc là những rặng núi trùng điệp cao vòi vọi tôi thấy trống trải trơ trọi lạ lùng. Kể từ ngày ra đơn vị, lăn lộn trên chiến trường đồng bằng cò bay thẳng cánh nhìn bốn hướng chẳng tìm thấy một bóng đồi núi giờ đây là ngược lại. Đeo trên lưng chiếc ba lô nhỏ, tay xách một “sac” đựng quân trang lớn tôi lên xe jeep của BCH/TRĐ ra đón tại sân bay do thiếu úy Mai xuân Bê, sĩ quan ban 1 TR/Đ.
Xe chạy chừng chưa tới 5 phút, tôi ghé ngang qua ban 1 gặp trung úy Huỳnh tương Đương, trưởng ban, để trình sự vụ lệnh. Ngồi chờ nửa tiếng tôi được Đương hướng sẫn đi gặp trung tá Thịnh trung đoàn trưởng. Trung tá Thịnh vẫn ốm nhom như hồi nào còn ở quân trường, ra đón tôi trước cửa văn phòng, ông kéo tôi vào ngồi trên bộ ghế salon bằng ghỗ pháo binh ở góc phòng rồi bắt chuyện.
Ông hỏi tôi từ chuyện gia đình vợ con, những đơn vị tôi đã phục vụ kể từ ngày ra trường… cho tơí lý do khiến vị Tư lệnh sự đoàn không hài lòng trong buổi tôi trình diện. Tôi kể ông nghe hết các chi tiết trong buổi trình diện ấy. Tôi nói với ông “Tôi là một sĩ quan hiện dịch. Từ ngày ra trường tôi đã lăn lộn trên nhiều chiến trưòng tôi luôn thực hiện nhiệm vụ được giao trong tinh thần trách nhiệm và tôn trọng kỷ luật của quân đội. Tôi tự nhận mình không làm những điều gì sai trái với quân kỷ, lại càng không vi phạm những quy tắc đạo đức của một sĩ quan. Tôi luôn tôn trọng thượng cấp và thi hành nghiêm chỉnh lệnh được ban ra. Tuy nhiên, tôi cũng đòi hỏi cấp chỉ huy của tôi cũng phải tôn trọng tôi trong tư cách một sĩ quan thuộc cấp.”
Tôi cũng kể ông nghe, khi tướng Ân nói với tôi “Tôi không muốn một sĩ quan từ ở đơn vị khác xin về đây cướp cơm chim của các sĩ quan trong sư đoàn chúng tôi”. Câu nói đã làm tôi mất kiên nhẫn và vượt qua sự chịu đựng của tôi. Tôi đã trả lời ông “Tôi quan niệm vào quân đội để phục vụ đất nước, bảo vệ dân chứ không phải phải vào quân đội để kiếm cơm. Vả lại tôi được điều ra đây là do lệnh điều động bổ sung cán bộ chỉ huy của Bộ TTM và ngược với nguyện vọng của tôi là muốn trở về phục vụ tại đơn vị cũ. Điều này trung tá Nam trưởng phòng 1 có thể xác nhận cho tôi.” Đó là lý do khiến Tư lệnh không hài lòng. Trung tá Thịnh cười bảo tôi “Tao nghĩ chú mày chỉ là gà non háu đá! Ông tướng dặn dò điều ấy đâu có gì qúa đáng mà phải phản ứng?” Tôi cười buồn trả lời ông: “Có lẽ trung tá nói cũng đúng, tôi quá mẫn cảm và không hiểu rõ ý của ông ấy.
Dù sao câu chuyện cũng đã xẩy ra rồi. Tính tôi là vậy, trung tá còn nhớ lời Đại tá Trần ngọc Huyến chỉ huy trưởng trường Võ Bị trong một bài học Lãnh đạo chỉ huy tổ chức hàng tuần trước ngày chúng tôi ra trường không? Thầy Huyến khuyên chúng tôi muốn là một sĩ quan giỏi trước hết phải là một con người trong ý nghĩa đích thực của nó trước đã. Thành công tuy quan trọng nhưng không quan trọng bằng thành nhân. Muốn thành nhân phải đặt ra cho mình một lý tưởng mà noi theo. Lý tưởng giống như chiếc la bàn chỉ hướng cho mình đi suốt cuộc đời. Cái hướng chỉ đường đó được cụ thể hóa ra bằng một câu châm ngôn. Rồi ông nêu ra câu châm ngôn cho chính ông. Câu đó là “Thà sống cho người ta ganh ghét chứ không để cho chúng khinh”. Trung tá Thịnh đứng lên khỏi ghế vỗ vai tôi “Chú mày còn lý tưởng lắm, hãy ráng sống với lý tưởng của mình đeo đuổi, nhưng cũng không nên quên ngộ biến tùng quyền.” Tôi đã ghi nhớ lời dặn dò ân cần của ông trong buổi nói chuyện thân mật ấy mãi cho đến tận ngày hôm nay.
Tôi được ông cho theo Bộ chỉ huy trung đoàn để học làm quen trong lúc chờ giao nhiệm vụ. Cùng một đợt ra trình diện với tôi, các đại úy Thâm và Quân lần lượt nhận được lệnh bàn giao các chức vụ tiểu đoàn trưởng 1 và 4/44.
Đầu tháng 9 trung đoàn tổ chức cuộc hành quân vào mật khu Văn Lâm thuộc lãnh thổ Ninh Thuận, vùng giáp ranh với tỉnh Bình Thuận. BCH/TRĐ đóng ven quốc lộ 1 cách Cà Ná chừng 5 cây số. Tiểu đoàn 1/44 của thiếu tá Trương văn Anh là nỗ lực hành quân chính. Sau khi được xe GMC chở đến tuyến xuất phát, tiểu đoàn nhắm thẳng hướng đông là rặng núi Đá Bạc cao độ 644 mét chạy song song với Quốc lộ Một hướng ra biển. Cuộc hành quân kéo dài ba ngày không có đụng độ gì lớn ngoại trừ vài lần chạm súng lẻ tẻ với các toán du kích trong vùng. Buổi chiều ngày hành quân thứ tư, trong lúc BCH/TRĐ đang theo dõi diễn tiến thì sĩ quan truyền tin vào báo tướng Tư lịnh Sư đoàn ghé thăm. Sĩ quan ban ba lúc đó là trung úy Đặng trung Đức K19 chuẩn bị phần thuyết trình. Thiếu tá Nguyễn công Ba nguyên trước đó là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3/44 đã bàn giao đơn vị đang chờ nhận nhiệm sở mới và tôi là người mới được bổ nhiệm về chờ quyết định đang xớ rớ không biết làm gì thì Tướng Ân bước vào lều chỉ huy. Sau khi trung tá Thịnh thuyết trình xong tình hình, tướng Ân quay qua nhìn thấy tôi, ông hỏi trung tá Thịnh “Ông này làm gì ở đây?” Trung tá thịnh trả lời “Thưa thiếu tướng, tôi đang cho đại úy Vũ đi theo làm quen với đơn vị để chờ bổ nhiệm”. Tướng Ân ra lệnh “Làm quen thì đi theo đơn vị tác chiến chứ làm quen gì ở đây?! Cho ông ta ra ngay theo tiểu đoàn đang hành quân.” Ngay sau đó, tướng tư lệnh cho phép dùng trực thăng chỉ huy của ông để đưa tôi ra ngay đơn vị đang trên đỉnh núi Đá Bạc. Quyết định khá bất ngờ khiến cho thiếu tá Anh tiểu đoàn trưởng phải cho dọn gấp một bãi đáp khẩn cấp để trực thăng hạ cánh.
Ngoài chiếc ba lô, thậm chí cả cây súng cá nhân tôi cũng chưa kịp lãnh, tôi đã trình diện thiếu tá tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 trong tình trạng như thế. Thiếu tá Anh tiếp tôi trong cái bắt tay đầy cảm thông. Và tôi được biết sau đó, trung tá trung đoàn trưởng ra lệnh miệng cho thiếu tá Anh bổ nhiệm tôi là tiểu đoàn phó tiểu đoàn này. Buổi tối trên núi cao đầu tiên trong cuộc hành quân leo núi của tôi là một đêm nhiều hoài niệm. Nằm nghe tiếng gió rì rào hoà trong tiếng sóng biển ào ào nghe rất lạ, khác hẳn với không khí yên ắng tịch mịch của những đêm miền đồng bằng mà tôi đã gắn bó trước đó rất lâu. Tôi buông lỏng hồn mình bay bổng vào khoảng không bao la đầy ắp sao đêm trên trời
Sông Mao là một thị trấn nhỏ còn có tên nghe mỹ miều hơn: Quận Hải Ninh, hoặc quận Phan lý Chàm. Từ ngã ba Phan Lý nằm trên quốc lộ 1 đi vào hơn 3 cây số là quận lỵ. Dân số phần đông là thân nhân của những quân nhân thuộc Sư Đoàn Nùng từ miền bắc di cư vào trấn đóng trước đó mang theo. Sư đoàn này là tiền thân của sư đoàn 5 sau này. Ngoài khu ven chợ Sông Mao, thị trấn chỉ có những con đường nhỏ có những căn nhà trệt một hoặc hai lầu. Dân số không đông, đa phần là người Hoa vùng Móng Cáy.
Phía bắc đông bắc là ngọn núi Bèo cao độ 632m cây thưa vách đá dựng. Tây bắc là ngọn Cà Tăng thấp hơn, cao độ trung bình 600m. Nước từ trên các cao độ này theo đường thông thủy chảy vào Sông Mao theo hướng tây bắc đông nam. Mang tiếng là sông nhưng nước lúc nào cũng cạn lắm, giống như một con suối lớn thì đúng hơn.
Nói chung thị trấn có phong cách của một khu trại lính hơn là một thị trấn bình thường. Trên phố xá lính luôn nhiều hơn dân. Thị trấn luôn làm cho người ta quên đi nếp sống bình thường thoải mái đáng lẽ nên có của một nơi dựa lưng vào núi ngoảnh mặt ra biển như nơi đây.
Năm tôi ra trình diện đơn vị tình hình chiến sự nói chung không căng thẳng và gay cấn như thời gian trước đó khi tôi còn ở trong Nam. Quốc lộ 1 quãng đi qua Sông Mao chỉ có một đoạn là nguy hiểm, khúc Lương Sơn, nơi đó thuộc mật khu Lê Hồng Phong. Mật khu này nằm thu gọn trong vùng rừng cây rậm gồm nhiều bụi cây gai, loại cây thích hợp cho khí hậu sa mạc nằm ở phía nam quốc lộ, một mặt giới hạn bằng quốc lộ còn phía kia là bờ biển Phan Thiết. Nằm giữa mật khu là ngọn núi Tà Dôm không cao lắm. Trên đỉnh là một đồn do địa phương quân (ĐPQ) tiểu khu trấn đóng. Nơi đây BCH44/TRĐ đặt một toán truyền tin để chuyển tiếp thông tin từ Tiểu khu Phan Thiết với Sông Mao, đồng thời cũng dùng làm điểm trung chuyển truyền tin cho các đơn vị của Trung đoàn khi hành quân xa căn cứ.
Ngày 8 tháng 9, buổi sáng ngày hành quân cuối cùng sau một tuần lặn lội. Tiểu đoàn lục soát xong mục tiêu trên đỉnh Hòn Mai và được lệnh hạ sơn lục soát mục tiêu cuối cùng trên đồi nhỏ 358 ở hướng bắc. Cũng phải đến hơn sáu giờ chiều chúng tôi mới ra tới điểm tập trung nằm ngay tại khúc dẫy Trường sơn đâm ngang ra biển. Nơi đây quốc lộ 1 đổi hướng từ đông tây trở thành hướng chính bắc.
Nằm trên ghềnh đá sát bên tuyến đường sắt, lính của tiểu đoàn chia phiên nhau xuống tắm biển. Tôi tự nhủ thầm đây quả thật là một kỷ niệm khó quên trong đời lính. Thỉnh thoảng một chiếc xe hàng chở khách đi Ninh Thuận hoặc Nha Trang chạy ngang qua, hành khách trên xe dơ tay vẫy chào lính, lính đưa tay vẫy chào trở lại cười đùa…
Buổi chiều khoảng bẩy giờ, tôi được tin thiếu tá Anh cho biết tướng Ân Tư lệnh sư đoàn cùng phu nhân tử nạn trong một tai nạn máy bay khi đang bay hành quân trên vùng trời Đức Lập. Tôi nhớ lại mới đó không lâu, trong lần trình diện ông, ông chắc hẳn không mấy hài lòng về tôi, một tên đại úy vô danh tiểu tốt dám “có ý kiến ” với ông, một điều tối kỵ với tính cách riêng của ông trong cung cách cư xử với thuộc cấp của mình. Đặc biệt là một tên lính mới được bổ sung đến, chưa lập được thành tích gì. Tôi tự nhủ thầm cầu mong ông bà được siêu thoát, đừng vướng bận gì với cõi ta bà đầy rẫy những trí trá lọc lừa này nữa. Những muộn phiền vì nhiệm vụ và công việc của một cấp chỉ huy có tinh thần trách nhiệm cao như ông nên được bỏ xuống để nghỉ ngơi. Suy cho cùng, làm thân phận một người lính lẽ sống chết là điều hiển nhiên chỉ có khác chăng là cách hy sinh thôi. Tôi vẫn nghĩ, một vị tướng chết trong khi thi hành nhiệm vụ luôn xứng đáng và đáng trân trọng hơn bất kỳ những kiểu ra đi nào khác. Bất giác tôi nhớ tới hai câu thơ cổ “Giai nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.”
Buổi tối nằm trên ghềnh đá nghe tiếng sóng biển ì òm đập lên vách đá nghe thật thoải mái dễ chịu dễ ngủ. Thân thể mát mẻ, tâm hồn buông lỏng cùng đất trời, những âm thanh của tự nhiên như tiếng vỗ về giống tiếng hát của mẹ tôi khi tôi còn nhỏ. Giấc ngủ đến rất tự nhiên và ngọt ngào.
Đoàn xe đến đón chúng tôi trở lại Sông Mao vào sáng hôm sau. Khi chạy vào đến doanh trại của trung đoàn bụi cát mù trời. Tiếng lính tráng gọi nhau ơi ới, gia đình binh sĩ từ những trại gia binh kế cận cũng ùn ùn kéo tới đón chồng con thân nhân. Tôi xách ba lô vào phòng ngủ sĩ quan độc thân, quăng chiếc ba lô lên ghế bố nằm suy nghĩ vẩn vơ.
Kể từ ngày ra trường cho tới thời gian này tôi mới được hưởng cái thú đơn vị sau khi hành quân về, trở về doanh trại nghỉ ngơi! Nghĩ đến đơn vị cũ của tôi mà lòng lại thấy thương đồng đội vô cùng. Các đơn vị tôi phục vụ trước đó thuộc trung đoàn 11 thuộc Sư Đoàn 7 BB. Mang tiếng là có bộ tư lệnh (BTL) đóng tại Mỹ Tho và bộ chỉ huy trung đoàn (BCH/TRĐ) tại Phú Lâm nhưng chưa bao giờ tôi biết đến doanh trại là gì! Hành quân xong là kéo về một xóm hẻo lánh nào đó hoặc dọc theo quốc lộ để trú qua đêm. May mắn lắm, năm thì mười họa đôi khi về ghé nghỉ ở chùa Vĩnh Tràng, Mỹ Tho một hai đêm. Còn phần lớn là trên các xóm bên đường dọc theo quốc lộ 4. Suốt cuộc đời người lính trong đơn vị cũ của tôi thực sự chẳng bao giò có được một thời gian nghỉ quân theo đúng nghĩa. Chỗ nào cũng là mặt trận, chỗ nào cũng có thể bị đánh lén hay pháo kích. Có những gia đình binh sĩ, hạ sĩ quan sống lay lất theo lính đi hành quân. Quân vừa tới vị trí dừng nghỉ là đã có gia đình vào thăm ở lại. Câu chuyện lính và gia đình đi theo ngay sau khi đơn vị dừng nghỉ quân từng là mối đau đầu của các cấp chỉ huy chúng tôi thời điểm ấy. Nhu cầu chiến trường qúa lớn, lực lượng tham chiến lúc nào cũng thiếu. Thành ra có lúc chúng tôi nói đùa với nhau chỉ có súng đạn có lúc được nghỉ còn lính thì chỉ được phép nghỉ khi cuộc sống dừng lại. Một cuộc nghỉ ngơi theo đúng nghĩa.
Đang mơ màng tôi choàng dậy khi nghe tiếng gọi tên. Tiếng Quân người bạn đồng khóa và cùng học chỉ huy tham mưu với tôi đi tới. Quân bảo; “Tao về nhận bàn giao tiểu đoàn 4.” Mày muốn làm việc chung với tao chứ?” Tôi hững hờ, “Sao cũng được”.
Sáng hôm sau Mai xuân Bê sĩ quan ban 1 TR/Đ tới tiểu đoàn chuẩn bị lễ bàn giao giữa thiếu tá Anh và Đại úy Quân đồng thời thông báo cho tôi biết trở về BCH/TRĐ nhận lệnh mới. Mai xuân Bê là anh chàng chuẩn úy tôi quen khi còn ở trung đoàn 11 cũ. Bê bảo ” Anh được bổ sung qua tiểu đoàn 2 làm tiểu đoàn phó cho đại úy Lê văn Anh nhân tiện mời anh đi ăn sáng luôn với em”. Chúng tôi vui vẻ kéo nhau ra quán Kỳ Hương, quán ăn ngon nhất của Sông Mao. Quán nổi tiếng với hai món đặc sản bồ câu quay và chân giò heo hầm. Bê cười hỏi tôi “Anh thấy tình hình sinh hoạt ngoài này ra sao?” Tôi ậm ừ “Bình yên hơn so với đơn vị cũ phải không?” Rôì thêm vào “Ở đây buồn qúa, một Thị trấn buồn hiu!” Cả hai cùng cười.
Đại úy Anh là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2/44 tốt nghiệp khóa 8 Đà Lạt. Người gốc miền tây, tính tình xởi lởi dễ thân. Đại úy Anh bảo tôi “Cậu về làm việc với tôi là tôi vui rồi.” Ông mời tôi về nhà ông tại khu cư xá gia đình sĩ quan ăn bữa cơm gia đình. Ông hỏi tôi “Sao đang ở vùng đồng bằng vui vẻ thế mà lại lặn lội ra nơi khỉ ho cò gáy này? ” Tôi mỉm cười, “Đại úy cũng biết đấy, đời nhà binh nào ai cứ muốn là được đâu” Đại úy Anh nói với tôi “Ở nơi này có khi hành quân cả tuần chẳng thấy bóng một người! Chẳng bù cho vùng đồng bằng miền tây đi đâu cũng gặp dân gặp đồ ăn nước uống!” Chúng tôi ngồi ăn uống trò chuyện với nhau cho tới gần 9 giờ đêm mới ra về.
Về tiểu đoàn 2 chưa đầy ba ngày thì tôi lại nhận được lệnh bàn giao nhiệm vụ tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2/44 với đại úy Anh. Đại úy Anh được thuyên chuyển vể tiểu khu Định Tường- Nơi tôi từng làm việc và có biết bao kỷ niệm đời lính- Tôi nhủ thầm quả đất thật vần xoay kỳ lạ. Duy có điều tôi biết chắc khi nhận được lệnh thuyên chuyển này, đàn anh của tôi, đại úy Anh rất vui, khác hẳn tâm trạng của tôi khi cầm tở sự vụ lệnh trình diện đơn vị mới.
Tháng 10, tôi được lệnh đưa tiểu đoàn đi trình diện tiểu khu Phan Thiết để hành quân khu đông bắc vùng Thiện Giáo và Phú Hội, Phú Long. Những ngày hành quân tại đây cũng chỉ là những cuộc hành quân nhỏ phối hợp với lực lượng ĐPQ tìm lùng địch. Đơn vị địch đối đầu với chúng tôi là các đơn vị địch thuộc quân khu 6 của tướng cộng sản Nguyễn văn Ngà là tư lệnh. Hai tiểu đoàn cơ động chính là là các đơn vị 491 và 492. Đa phần hoạt động của các đơn vị này là tổ chức các cuộc phục kích trên quốc lộ 1, trên các khu vực tiếp giáp với mật khu lê Hồng Phong.
Cuối năm 1969 có những cuộc đụng độ cấp tiểu đoàn khi địch tổ chức phục kích các đoàn xe cơ giới của Hoa Kỳ khai quang mật khu Lê Hồng Phong. Từ đó, các đơn vị của trung đoàn 44 luân phiên nhau tăng cường hành quân phối hợp cùng tiểu đoàn 3 thuộc Lữ đoàn 506 Nhẩy dù của Hoa kỳ. Thay thế trung tá Thịnh, Trung đoàn trưởng 44, lúc này là trung tá Phạm Ngân cũng là người tôi biết khi ông còn là một tiểu đoàn trưởng của trung đoàn 10 Sư đoàn 7, thường tham gia hành quân chung với đơn vị cũ của tôi.
Sau trận đánh phục kích của cộng quân thất bại trên quốc lộ 1 khu gần Lương Sơn đã gây tổn thất lớn cho đơn vị địch, địch quân phân tán nhỏ để tránh giao chiến và hoạt động du kích. Cho đến khi mật khu Lê Hồng Phong bị chia ô khai quang thành từng giải rừng cách nhau 3, 4 trăm thước trông giống như một sân bóng tròn thì mưu đồ dùng mật khu Lê hồng Phong của địch để quấy rối không còn áp dụng được nữa.
Mãi đến tháng 4 năm 1970, địch mới tổ chức được một cuộc tấn công có tính quy mô. Lần này mục tiêu là Sông Mao. Đơn vị địch tham chiến là hai tiểu đoàn chủ lực 481 và 482 cùng đặc công. Chỉ có điều những tính toán của địch và kế hoạch tấn công không được nghiên cứu kỹ nên khi cuộc tấn công khởi động họ không xác định được chính xác mục tiêu chủ yếu thành ra các đơn vị dẫn đầu đi lạc lung tung bên ngoài bờ rào kẽm gai các doanh trại đơn vị của trung đoàn. Mớ đạp phải mìn claymore, mớ bùng nhùng trong giây kẽm gai khiến cho sau đợt pháo kích bằng 82 ly của họ không đủ để hỗ trợ cho các đơn vị đặc công và xung kích xâm nhập mục tiêu. Thậm chí sau này khi bắt được tù binh, qua cung từ, chúng tôi được biết họ muốn nhắm đánh vào BCH/TRĐ nhưng trên thực tế họ lại đi lộn vào khu vực của tiểu đoàn 2 chúng tôi!
Gần 1 giờ đêm họ mới khai hỏa, cho đến gần 3 giờ sáng thì biết chắc đã thất bại, địch cho lệnh rút quân. Sáu giờ sáng Tiểu đoàn 2 và 3/44 cùng đại đội trinh sát 44 được lệnh hành quân truy kích địch.Tám giờ sáng một hợp đoàn trực thăng thuộc phi đoàn 269 từ Nha Trang vào hỗ trợ hành quân theo yêu cầu của trung đoàn. Tiểu đoàn 2/44 được trực thăng vận thẳng vào chân núi Cà Tăng phía tây bắc lục soát dọc theo các đường thông thủy Sông Mao đi ngược về căn cứ. Đại đội 44 Trinh sát được thả vào chân núi Bèo ở hướng bắc lục soát về hướng nam. Tiểu đoàn 3 mở rộng vòng đai lục soát khu vực phi trường Sông mao. Từng toán nhỏ địch quân lần lượt lọt vào tầm hỏa lục của chúng tôi và các trực thăng võ trang bay truy đuổi trên đầu. Bốn giờ chiều cùng ngày, cuộc hành quân truy kích chấm dứt. Kết quả thiệt hại bên ta không đáng kể, đặc biệt là không có ai bị tử thương. Ngòai số xác chết địch bỏ lại ngòai vòng rào các doanh trại tiểu đoàn 2 và 3 trong cuộc truy kích chúng tôi còn tiêu diệt và bắt sống một số lượng tù binh và thương binh binh địch đáng kể. Đây là trận đánh quy mô tôi tham dự kể từ ngày về trình diện đơn vị này.
Từ giữa năm 1970 trở đi, khi trung đoàn phối hợp hành quân cùng đơn vị Hoa kỳ thuộc Lữ đoàn nhẩy dù 506 tăng phái cho tiểu khu Bình Thuận nhằm phá nát mật khu Lê Hồng phong, chúng tôi sử dụng chiến thuật mới. Thay vì như trước đây, cả tiểu đoàn tiến theo một trục và các mục tiêu được xác định rồi đánh số trên các phóng đồ hành quân thì bây giờ tiểu đoàn được giao phó cho một khu vực hành quân. Căn cứ theo tình hình, tiểu đoàn trưởng tùy theo địch tình khu vực và sáng kiến cá nhân, tự hoạch định mục tiêu cho đơn vị mình. Thực ra, chiến thuật này không mới mẻ gì, chỉ là áp dụng theo kiểu hành quân của các đơn vị Hoa kỳ đang làm thôi. Trước đây vì thiếu phương tiện yểm trợ và chuyển quân nên không thể áp dụng được.
Giờ đây, trong kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh, các đơn vị không quân trực thăng tăng trưởng nhanh nên việc xin phương tiện tương đối dễ dàng hơn nhiều. Ngoài ra cũng phải nói thêm một điều, đó là lực lượng địch trong vùng sau các lần giao tranh trước đây, bị tổn thất lớn không bổ xung kịp nên tương đối yếu, phần vì thiếu lương thực và tiếp tế quân trang dụng, phần vì địa thế núi non hiểm trở không dễ dàng gì che dấu khi di chuyển trên các thung lũng hoặc các đụn cát vốn dĩ rất rộng của khu vực này. Những đụn cát trắng mênh mông đặc biệt từ khu vực giáp ranh giữa Phan Thiết và Phan Rang nằm chen giữa khu vực núi đá trọc ở phía bắc và một khoảng bãi cát rộng trên bờ biển phía nam. Nằm giữa là quốc lộ 1 chạy nối liền giữa những tỉnh lỵ duyên hải.
Tôi nhớ lại thời gian trước đây, trong vùng hành quân Đồng Tháp, cả đơn vị kéo nhau đi trong mưa trên trời đổ xuống và biển nước phèn mênh mông của đồng ruộng dưới chân, Giờ đây thì ngược lại. Dưới chân là cát trắng trắng đến lóa mắt, trên trời là nắng chói chang. Mồ hôi đầm đìa trên mặt, những hạt cát theo từng cơn lốc ùa vào đoàn quân đang di hành mù mịt. Cơ thể trở nên ngứa ngáy khó chịu vì mồ hôi hoà với cát trên người, trên mặt. Suy cho cùng, từng vùng chiến thuật có những đặc tính riêng cho mình, duy chỉ có một điều chung nhất đó là trên từng địa hình người lính đều có những vất vả khó nhọc như nhau.
Tháng 8, đơn vị tôi và tiểu đoàn 1/44 cùng đại đội 44 Trinh sát tham dự cuộc hành quân quy mô thứ hai. Lần này mục tiêu là khu tam giác giáp ranh 3 tỉnh Phan Thiết, Lâm Đồng và Đà Lạt. Nơi đây là nơi đặt Bộ chỉ huy của quân khu 6 cùng các cơ quan hành chánh thuộc các tỉnh kể trên của cộng sản.
Nắm vững tin tức tình báo về tổ chức lực lượng của địch đa phần là các đơn vị hậu cần và y tế nên kế hoạch hành quân cũng đổi khác. Thay vì tổ chức tìm và tiêu diệt địch theo theo cấp tiểu đoàn lục soát một cánh quân theo các mục tiêu được xác định sẵn từ trước. Lần này vì khu vực hành quân khá rộng và là vùng núi đồi xen lẫn nhau giữa các đồi thưa và vùng rừng rậm rạp nên tiểu đoàn được trực thăng vận xuống một khu trung tâm, từ đó thiết lập căn cứ hành quân rồi tung ra các lực lượng để lục soát truy quét. Chiến thuật này rất thích họp vì với phương thức này, vùng hành quân sẽ được lục soát kỹ càng hơn và gần như phủ khắp khu vực với chĩ hơn hai tiểu đoàn và một đại đội trinh sát trong khu vực hành quân trên một diện tích diện tích hơn 100 cây số vuông trong khoảng thời gian 10 ngày.
Có thể nói trong 10 ngày hành quân tại đây, phần lớn các cuộc đụng độ là tao ngộ chiến, trung đoàn 44 đã dọn dẹp phá hủy và tiêu diệt đa phần hậu cần của địch, một vùng ẩn trú cuả quân khu 6. Ngoài một số căn cứ chế biến thuốc men đông và tây y, bắt sống hoặc tiêu diệt một số cán bộ yểm trợ hậu cần, tịch thu đạn dược và lương thực, chúng tôi còn thu được nhiều tài liệu qúy giá về tổ chức và danh sách một số cơ sở nằm vùng của địch. Cuộc hành quân tuy không có những trận đánh tiêu hao nhân lực nhưng lại mang đến những hậu quả lâu dài cho khu vực vì địch quân mất đi chốn ẩn náu cố hữu. Từ đó giải thích được tình hình an ninh của các tiểu khu, thành thị liên hệ trong thời gian kế tiếp trở nên khả quan và an ninh hơn hẳn.
Cuộc hành quân chấm dứt sau gần hai tuần lục soát và phá hủy căn cứ địch. Các đơn vị tham gia hành quân bị tổn thất không đáng kể về nhân mạng. Các đơn vị được không vận từ vùng hành quân trở về căn cứ Sông Mao an toàn. Nhưng có lẽ cũng phải kể một hậu quả kỳ cục khi về đến hậu cứ, binh sĩ tham gia hành quân bị sốt rét cấp tính ác liệt. Cơn sốt đến rất nhanh, nhiệt độ tăng cao chuyển từ rét sang nóng rồi nóng cao độ, đặc biệt đối với những ai lười uống thuốc ngừa sốt rét thì chì vài tiếng đồng hồ là bịnh nhân tử vong. Chính căn bịnh ngặt nghèo này lại gây cho đơn vị hành quân nhiều tổn thất nhân mạng!
Ba
Đầu năm 71 tôi bàn giao lại đơn vị cho đại úy Phạm văn Cẩm, khóa 18 Đà lạt, để giữ chức vụ trung đoàn phó trung đoàn 44. Đây là khoảng thời gian được coi là “nhàn hạ” nhất trong đời binh nghiệp của tôi. Tôi làm việc giống như một công chức. Ngày nào không bay đổ quân, tôi vào văn phòng ngồi xem xét hồ sơ hoặc xuống trung tâm hành quân trung đoàn theo dõi tình hình địch bạn trong ngày.
Sau mỗi đợt hành quân các đơn vị trở về nghỉ ngơi, tụ họp nhau trong doanh trại, uống với nhau vài chai bia; nhậu với khô mực hoặc cua ghẹ, cá khô là những món hải sản sẵn có của Phan Thiết. Những thú vui chơi khác muốn có cũng chẳng thể tìm ra tại nơi đây. Mở mắt buổi sáng, luôn nhìn thấy mình bị núi non bao bọc. Những dẫy núi đá vách dựng thưa thớt cây luôn tạo nên cảm nhận trơ trọi và cằn cỗi. Băng qua phía nam của quốc lộ 1 là một giải đất pha cát hẹp rồi đi xuống tới biển. Chạy theo ven biển là xóm nhà gỗ của dân chài lẩn khuất trong những hàng dừa xanh. Nhiều khi chở vợ con chạy xuống Phan Rí cửa, ngồi trên bờ cát, nhìn ra xa biển khơi xanh biếc, tôi vẫn tự nói với mình “Giá mà đừng có chiến tranh…” Chiến tranh làm cho mọi thứ tự giá trị bị đảo lộn. Tàn ác lươn lẹo lên ngôi và được xưng tụng. Con người nhìn nhau qua khe nhắm tới thẳng đỉnh đầu ruồi của súng ống. Cuộc đời con người vốn đã ngắn, chiến tranh lại làm cho nó càng thêm ngắn.
Tình hình Sông Mao mỗi ngày một khá hơn lên, trong lúc tình hình cao nguyên ngày thêm tệ. Những trận đánh đẫm máu trên các căn cứ hành quân của các đơn vị bạn, sư đoàn 22 BB và các Lữ đoàn nhảy dù là lý do chúng tôi lần lượt dời Sông Mao trở lên cao nguyên vào giữa năm ấy. Bắt đầu là từng chiến đoàn gồm hai tiểu đoàn. Rôì kế tiếp là cả trung đoàn 44 di chuyển lên cao nguyên đang mịt mù khói lửa đạn bom. Từ giai đoạn đầu hành quân chung với Thiết đoàn 3 Kỵ binh tại An Khê do trung tá Trần Lý Hưng là thiết đoàn trưởng. Ở nơi đó tôi lại được làm quen với bao bạn mới, thiếu tá Nguyễn văn Đêm thiết đoàn phó, các chi đoàn trưởng, Lương, Huỳnh văn Mỹ…
Đầu tháng 3/1972, cả trung đoàn di chuyển đi Kontum tham dự cuộc phòng thủ để tạo nên một Kontum kiêu hùng ngày nào. Trong cuộc chiến đẫm máu ấy, tôi đã chia tay với các chiến hữu xuất sắc nhất của mình. Các tiểu đòan trưởng Đặng trung Đức, Võ anh Tài, Trần công Lâm, và bao nhiêu sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ ưu tú khác. Máu cuả đồng đội của tôi đã tô thắm mảnh đất quê hương điêu linh khốn khổ này để cho chúng tôi, những người lính sống sót trong cuộc chiến còn có dịp viết và nói về họ. Thời gian sẽ trôi qua rất nhanh nhưng hình ảnh các đồng đội của tôi sẽ còn mãi mãi trong tâm tư những người còn lại hôm nay và sẽ được biết tới và tri ân bởi các thế hệ con cháu kế tiếp.
Tháng 9/1972, sau nửa năm bầm dập đạn bom, tôi bàn giao lại chức vụ quyền trung đoàn trưởng trung đoàn 44 cho đại tá Võ Hữu Hạnh để trở về quân y viện trị thương. Đây là lần bị thương thứ ba trong đời lính của tôi.
Tháng 6/1974, khi trở ra lại trung đoàn cũ, nhận bàn giao trung đoàn từ trung tá Nguyễn Hữu Lữ, nhìn lại chiến trường, khói súng vẫn còn vây phủ mịt mù nhưng những người lính và các cán bộ chỉ huy nay gần như hoàn toàn mới. Tôi nhìn ra ai cũng lạ, chỉ còn mùi súng đạn và mìn bom là quen thuộc. Nguyên một dàn cán bộ chỉ huy từ trung đoàn phó xuống tới các đại đội trưởng và tiểu đoàn trưởng toàn là người từ các đơn vị khác chuyển về trừ vài ngưòi quen cũ, hai trong số đó là thiếu tá Phạm văn Cẩm, khóa 18 đàn em, là trung đoàn phó và đại úy Nguyễn văn Pho. Cẩm nguyên là tiểu đoàn phó và Pho là đại đội trưởng khi tôi còn là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2/44. Hiện tại Pho là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn này.
Hậu cứ Sông Mao, nơi thị trấn buồn hiu hắt đó, giờ đây chỉ còn là những kỷ niệm nghĩ đến lại buồn. Không khí đìu hiu của thị trấn ngày nào khi tôi trên vai mang chiếc “sac” quân trang ra trình diện giờ đây đã biến đổi hẳn. Nơi đó tôi đã có dịp làm quen với biết bao chiến hữu thân thương của mình. Chỉ cần năm năm sau ngày đầu tiên đặt chân bước tới, cả đơn vị vẫn còn đó nhưng hầu như toàn bộ con người đã hoàn toàn đổi khác. Chiến tranh luôn làm mới các đơn vị tham chiến trên chiến trường. Chỉ có điều khác nhau về nhịp độ nhanh hay chậm. Thực tình tôi không thể ngờ được mức độ thay đổi lại xẩy ra nhanh chóng đến thế kể từ ngày đầu tiên tôi về đơn vị này.
Tháng 4/1982, trên chuyến tầu xuôi Nam sau cùng chở đoàn tù “cải tạo” từ miền Bắc về Nam, tôi đã cố gắng không ngủ để cố nhìn lại Sông Mao sau 10 năm xa cách. Khi đoàn tầu chạy ngang qua thị trấn, những dấu vết binh lửa một thời hầu như còn nguyên vẹn không đổi thay theo thời gian. Vẫn những dẫy doanh trại quân đội lợp tôn nay đã loang lổ xét rỉ hoặc trốc mái xiêu vẹo. Vẫn những vòng kẽm gai bị cỏ dại mọc phủ trùm. Một vài bóng người quần áo rách rưới đội nón mê mang quang gánh trên vai đi lại. Một hình ảnh thật buồn. Đoàn tàu chạy chầm chậm khi băng qua thị trấn. Hình ảnh một Sông Mao ngày nào mang dấu ấn của bao nhiêu kỷ niệm cứ ám ảnh tôi mãi trên suốt lộ trình còn lại trước khi đoàn tầu dừng hẳn gần trại Z30A đễ tôi tiếp tục cuộc sống ở đó thêm 6 năm nữa.
(Tháng Tư 2011)

Saturday, February 15, 2020

TỪ ĐỀN BÙ THIỆT HẠI CỦA DÂN BẢN ĐỊA MỸ ĐẾN TÍNH TỰ LẬP CỦA TRẺ CON MỸ
1/Như bạn đã biết: tổ tiên người Mỹ, có thời gần như tận diệt dân bản địa Mỹ (Native-Americans) . . . đưa những người sống sót vào các khu tập trung (reservation) ở nơi hẻo lánh . . .
Từ nhiều thập kỷ, để đền bù những thiệt hại - mà người bản địa đã gánh chịu, cũng như để sửa sai, chuộc lại tội lỗi của tổ tiên mình, CP Mỹ đã có những chính sách ƯU ĐÃI dân bản địa trong các lãnh vực như y tế, giáo dục, xã hội, v.v...
Ở mọi thành phố, đều có 1 Phòng lo cho người bản địa, ở đó họ được cung cấp nhiều dịch vụ và phúc lợi HƠN CẢ các dân tộc khác. Trong khi các dân tộc khác ko có 1 phòng như vậy.
Các sắc dân khác đều biết điều đó nhưng ko ai phàn nàn vì mọi người đều biết họ chỉ là người nhập cư (immigrant) - kể cả Mỹ trắng, con cháu của những người Âu châu đầu tiên đến nước Mỹ, còn chủ nhân thật sự của đất nước này chính là dân bản địa.
Các sòng bạc lớn (không tính Las Vegas) với cả ngàn máy kéo (slot machine), đều được lập tại lãnh địa của dân bản địa bên ngoài các đô thị. Lợi nhuận được chia theo tỉ lệ thỏa thuận giữa bộ lạc (làm chủ vùng đất đó) và nhà đầu tư. Phần bộ lạc hưởng được chia cho các người dân trong bộ lạc. Theo thống kê , mỗi dân bản địa tại Mỹ được chia khoảng trên dưới 100.000 đô /năm (sic)!
Đây là tiền lời từ sòng bạc, không ăn nhập đến lợi tức do công việc của cá nhân đó tạo ra. Do vậy, nếu có đi làm thì có 2 lợi tức.
Người da trắng hay các sắc dân khác có thể bị homeless, v.v... nhưng người bản địa thì ko bao giờ vì họ có Phòng phụ trách lo cho họ + tiền lời sòng bạc. Tóm lại, vì được xem như chủ nhân của đất nước (master of the nation), nên dân bản địa được nhiều dịch vụ, phúc lợi hơn sắc dân còn lại nhưng về trách nhiệm/nghĩa vụ thì họ cũng như người Mỹ khác .
2/ CP Mỹ quan niệm chuyện cờ bạc là tự do của con người, CP ko cấm, chỉ quản lý mà thôi. Còn ai mê đánh bạc đến nổi treo cổ hay đi cướp nhà băng là do họ quyết định. CP ko dạy ai phải làm điều này, ko làm điều kia; điều đó do chúng ta lựa chọn và quyết định.
CP MỸ KHÔNG SUY NGHĨ VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÙM CHO NGƯỜI DÂN 
(Nếu họ có quyết định thế cho dân là do dân ỦY NHIỆM (mandate) qua bầu cử phổ thông, trực tiếp và kín).
Ví dụ : ở TP tôi ở có nhiều quán nhậu mà tiếp viên mặc áo lưới, nghĩa là thấy hết. Họ hoạt động hợp pháp, có bảng hiệu và đóng thuế đầy đủ. Ai thích thì vào chứ các tôn giáo ko thể yêu cầu CP cấm vì vi phạm niềm tin tôn giáo. Đó là quyền tự do của cá nhân.
3/ Từ lâu, tôi đã quan sát cách dạy con của người Mỹ. Ngay từ lúc con còn nhỏ, họ chỉ tư vấn cho trẻ con chứ ko làm thay chúng. Ví dụ: nhà trường đã dạy HS biết cách xử dụng hay quản lý đồng tiền. Khi nghĩ rằng chúng đã đủ trí khôn, cha mẹ cho tiền, còn tiêu xài như thế nào là tự chúng: chúng đi siêu thị với cha mẹ, tự tay chọn hàng, tự tay trả tiền, ko để cho cha mẹ trả (dù đó là tiền cha mẹ cho). Bởi vậy, có những đứa khoảng 10 tuổi đã dùng internet để lập FUND để cứu trợ bão lụt hay làm những gì mà chúng nghĩ có lợi cho cộng đồng, theo suy nghĩ thông thường (common sense) của chúng; cha mẹ ko can thiệp vào việc làm của chúng. Các bạn ở VN sẽ lạ lẫm khi biết như vậy!
Tóm lại, ngay từ nhỏ, chúng đã học TỰ LẬP, không chịu để người lớn quyết định thay chúng; chúng cũng biết những quyền lợi và trách nhiệm của chúng đối với xã hội.
Theo 1 bài báo đăng trên 1 website lề phải ở VN, ngay từ mẫu giáo, trẻ con Mỹ đã học về Nhà nước Pháp quyền, cách phát biểu suy nghĩ của mình, lắng nghe ý kiến khác biệt, tôn trọng sự công bằng , giải quyết mọi tranh chấp bằng lời nói, lý lẽ, không dùng sức mạnh, v.v...
Ở một XH như vậy, làm sao mà tham nhũng và lạm quyền có thể phát triển đại trà, công khai và ngày càng tệ hại hơn (như VN hiện nay). Tôi ko nói ở Mỹ hay các nhà nước pháp quyền khác ko có tham nhũng hay lạm quyền, nhưng mức độ thấp và kín đáo. TT Hollande chỉ mới lén lút thăm bồ mà báo chí làm ầm . . . Nhà của bồ nhí - ko do ông sắm, cô ta có lợi tức do đóng phim . . .ko như các bà lớn VN chạy áp phe hay mua quan bán tước mạnh bạo ... được đăng trên hoangtrunghaihuelua.blogspot.com - mà người viết là đồng nghiệp hay từng làm ở cơ quan của người bị tố cáo.
Trận Phước Long đầu năm 1975 - mở đường cho sự sụp đổ của VNCH .
TB. Tôi luôn nhớ ơn những quân dân cán chính VNCH đã chết, mất tích hay bị thương trong trận Phước Long kéo dài từ tháng 12/1974 đến 6/2/1975. Nhờ sự hy sinh của họ cũng như hy sinh sau đó của quân dân các tỉnh thành trong tháng 3 và 4/75 nên mấy triệu người mới có cơ may định cư ở các nước giàu có.
San Jose ngày 15/2/20
—————
Hai ảnh sau trên báo ĐCSVN:
Chiến sĩ QĐ 4 cắm cờ “Quyết chiến Quyết thắng” trên Dinh Tỉnh trưởng Phước Long lúc 10 giờ 30 phút ngày 6-1-1975. Ảnh: T.L

Xe tăng trong đội hình Đại đội Tăng 10 do Đại đội trưởng Nguyễn Văn Thành chỉ huy cùng bộ binh tấn công vào Dinh tỉnh trưởng PL ngày 6-1-1975.     Ảnh: T.L
Tài Trần : Sau đây là bản tường trình khá đầy đủ về trận Phước Long , tương đối khách quan của phe thắng cuộc hay quân xâm lăng CSBV. Có những chi tiết rất nhiều người chưa biết (kể cả tôi vì lúc đó tôi chiến đấu ở sư đoàn 7 bộ binh VNCH) về sự chống trả rất anh dũng nhưng trong tuyệt vọng của các đơn vị cấp tiểu đoàn hay đại đội của sư đoàn 5 , 18 và 25 bộ binh , liên đoàn 81 BCD , không quân , pháo binh và thiết giáp M-113 thuộc QL VNCH.
"Chiến dịch đường 14-Phước Long là trận đụng độ quân sự lớn giữa Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân lực Việt Nam Cộng hòa diễn ra trên địa bàn tỉnh Phước Long trong chiến tranh Việt Nam, kết quả là Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam] chiến thắng và chiếm được Phước Long. Tuy không nằm trong chiến dịch Tây Nguyên nhưng trận Phước Long (từ đêm 13 tháng 12 năm 1974 đến ngày 6 tháng 1 năm 1975) có ý nghĩa như một trận đánh trinh sát chiến lược, thử sức đối với hai bên cũng như thăm dò phản ứng của quốc tế, nhất là của Hoa Kỳ để mở đầu cho những diễn biến tiếp theo của Chiến dịch Mùa Xuân 1975 đưa đến sự sụp đổ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Địa bàn tác chiến
Vào những năm 1974, 1975, Phước Long là một trong số 11 tỉnh bao quanh Biệt khu thủ đô Sài Gòn-Gia Định Ở cách Sài Gòn khoảng 120 km về phía Bắc, Phước Long có địa giới giáp với Bình Long (phía Tây), Quảng Đức (phía Đông), Long Khánh (phía Nam) và Campuchia (phía Bắc) và nằm trong địa bàn tác chiến của Quân khu III (Quân đoàn III) của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Đây cũng là địa bàn hoạt động của các lực lượng thuộc Mặt trận Đông Nam Bộ (B2) sau này được tập hợp thành Quân đoàn 4 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Phước Long có vai trò chiến lược quan trọng trong thế trận phòng thủ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa ở Đông Nam Bộ. Giống như Bình Long với trung tâm phòng thủ là An Lộc, Phước Long gồm các chi khu quân sự Đôn Luân (Đồng Xoài), Bố Đức, Đức Phong, quận lỵ Phước Bình, thị xã Phước Long và căn cứ Bà Rá nằm trong tuyến phòng thủ từ xa của Quân lực Việt Nam Cộng hòa để bảo vệ Sài Gòn và các tỉnh đông dân trù phú ở Nam Bộ. Do có các giao lộ của đường số 2(cũ) nối với đường 14 qua ngã ba Đồng Xoài và của đường 311 nối với đường 14 qua ngã ba Liễu Đức; Phước Long là điểm án ngữ, ngăn chặn hành lang vận tải của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam qua Lào và Campuchia vào Đông Nam Bộ; đồng thời giữ vị trí chia cắt thế liên hoàn của các vùng do Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm lĩnh, cô lập vùng Lộc Ninh với các vùng Nam Tây Nguyên và các tỉnh miền Đông khác.7
Binh lực các bên tham chiến
Bản đồ hành chính Miền Nam Việt Nam trước năm 1975, Phước Long nằm tiếp giáp với Bình Long, Quảng Đức, Long Khánh, Lâm Đồng và Campuchia
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
Các đơn vị chiến đấu
Nhiệm vụ mở trận đánh tại Phước Long được Bộ Tổng tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam giao cho Quân đoàn 4 (của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam) do Thiếu tướng Hoàng Cầm làm tư lệnh kiêm chính ủy. Đây cũng là trận đánh lớn đầu tiên của đơn vị này từ ngày thành lập (20 tháng 7 năm 1974). Để chuẩn bị tác chiến tại khu vực Phước Long, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 đã rút ra từ các sư đoàn và trung đoàn trực thuộc một lực lượng xung kích mạnh gồm có:
Sư đoàn 3 (sau này là sư đoàn 302) chỉ có hai trung đoàn (271 và 201) được phối thuộc trung đoàn 165 (sư đoàn 7) là đơn vị chủ công của đợt 1, được tăng cường một đại đội xe tăng T-591 đại đội pháo hỗn hợp 105 mm và 85 mm, một tiểu đoàn súng máy phòng không 14,5 mm và 12,7 mm.
Sư đoàn 7 bộ binh (chỉ còn hai trung đoàn 141 và 209) được phối thuộc trung đoàn 2 (sư đoàn 9) là lực lượng chủ công đợt 2. Các đơn vị này được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng gồm 14 chiếc, trung đoàn 210 pháo binh hỗn hợp các loại pháo 105 mm, 122 mm, 85 mm và súng cối các cỡ 120 mm, 160 mm; 1 tiểu đoàn phòng không hỗn hợp pháo cao xạ 37 mm và súng máy phòng không 14,5 mm.
Trung đoàn 429 đặc công;
Trung đoàn công binh 25;
Các đoàn hậu cần 210 và 235 (tương đương trung đoàn).
Sư đoàn 9 bộ binh gồm 3 trung đoàn bộ binh 1, 2 và 16.8
Phương án tác chiến
Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 dự kiến trận đánh sẽ diễn ra theo 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: tấn công đánh chiếm các cứ điểm phòng ngự vòng ngoài của QLVNCH xung quanh Phước Long gồm: Chi khu quân sự Bù Đăng, cứ điểm Bù Na, quận lỵ Bố Đức, chi khu quân sự Đức Phong, chi khu quân sự Đôn Luân (Đồng Xoài cũ); kiềm chế căn cứ quan sát của pháo binh tại núi Bà Rá.
Giai đoạn 2: đánh thẳng vào thị xã Phước Long, chi khu quân sự Phước Bình, và căn cứ Bà Rá, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long.8
Trong cả hai giai đoạn của trận đánh, các đơn vị vòng ngoài tổ chức cắt đứt các đường giao thông đến Phước Long: đường số 14, liên tỉnh lộ 1, liên tỉnh lộ 12, đường 311 và đường số 2 (cũ), tổ chức các trận địa phục kích ngăn chặn các lực lượng của các sư đoàn 5, 25 và 18 của QLVNCH kéo đến ứng cứu cho Phước Long. Các đơn vị khác thuộc Bộ tư lệnh Miền tổ chức các trận đánh phối hợp để kìm giữ các đơn vị chủ lực của Quân đoàn III - QLVNCH tại các căn cứ, cản trở tối đa, không cho các đơn vị này rảnh rỗi để ứng cứu cho Phước Long.9
Với hai lý do: 1) để tiết kiệm đạn (đặc biệt là đạn pháo) sẽ dành cho các chiến dịch lớn hơn trong năm 1975, 2) vừa đánh vừa thăm dò phản ứng của đối phương để kịp thời ứng phó, Tổng Quân ủy yêu cầu B2 không được sử dụng pháo lớn (130 mm) và xe tăng trong đợt 1. Vì vậy, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 phải điều chỉnh lại kế hoạch: chuyển mục tiêu Đồng Xoài từ hướng chủ yếu thành hướng thứ yếu, hành động tác chiến chủ yếu là kiềm chế, bao vây đối phương. Hướng tấn công chủ yếu của giai đoạn 1 được nhằm vào Chi khu quân sự Bù Đăng. Không gian chiến dịch trong giai đoạn 1 được thu hẹp.9 Theo trung tướng Hoàng Văn Thái, lý do là Bù Đăng và Bù Na là những căn cứ nhỏ, dễ công kích hơn và lại có khả năng thu được nhiều đạn pháo và pháo lớn để tiếp tục đánh Đồng Xoài (Đôn Luân).10
Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Tại tiểu khu Phước Long
Khu phòng thủ Phước Long thực chất là tiền đồn phía Bắc trong tuyến phòng thủ miền Đông Nam Bộ của Quân đoàn III - Quân lực Việt Nam Cộng hòa nhưng do vị trí nằm ở tuyến tiếp giáp giữa Quân khu II với Quân khu III và cách xa các trung tâm tác chiến quan trọng (Sài Gòn-Gia Định-Biên Hòa-Bến Cát-Chơn Thành) nên Quân lực Việt Nam Cộng hòa chỉ bố trí ở tiểu khu Phước Long 5 tiểu đoàn bảo an và 48 trung đội dân vệ. Trong đó: Các tiểu đoàn 341 và 352 giữ Đồng Xoài và kiểm soát đoạn đường 14 từ Đồng Xoài đến cầu số 12; tiểu đoàn 363 giữ Bù Na và kiểm soát đường 14 từ cầu 11 đến ngã ba Liễu Đức; tiểu đoàn 362 giữ Vĩnh Thuận và kiểm soát đường 1 từ ngã ba Liễu Đức đến Bù Đăng; tiểu đoàn 340 là lực lượng dự bị cơ động đóng trong thị xã Phước Long. Tiểu khu Phước Long cũng có một tiểu đoàn pháo binh riêng với tám khẩu HM-2 105 mm và bốn khẩu HM-3 155 mm với trận địa chính bố trí trong trung tâm thị xã.11
Các đơn vị tuyến sau
Cũng như trong Chiến dịch Nguyễn Huệ, các lực lượng mạnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong đội hình Quân đoàn III có thể tăng phái cho quân phòng thủ tại Phước Long gồm các sư đoàn bộ binh 5, 18 và 25 trong đó có lữ đoàn thiết giáp số 2 và 7 thiết đoàn khác được bố trí từ Long An đến Biên Hòa thành một vòng cung xung quanh Sài Gòn từ ba hướng Bắc, Đông và Tây. Giữ cửa ngõ vào tiểu khu Phước Long chỉ có Liên đoàn biệt động quân số 31 đóng tại Chơn Thành, cách Phước Bình hơn 70 km đường bộ. Đơn vị lớn hơn có khả năng tiếp cận giải tỏa cho Phước Long nhanh nhất khi bị tấn công là sư đoàn 18 đóng ở Biên Hòa. Gần hơn nữa có sư đoàn 5 ở Bến Cát trong đó có một chiến đoàn đóng tại An Lộc. Tuy nhiên, đơn vị này phải chịu trách nhiệm phòng thủ hướng đường 13 nên khả năng tăng viện cho Phước Long bị hạn chế. Ngoài ra, Quân đoàn III còn có Liên đoàn biệt kích dù 81 với hơn 100 máy bay trực thăng các loại HU-1A và CH-47 đóng tại Biên Hòa làm lực lượng dự bị cơ động cho các hướng khi bị tấn công. Các máy bay phản lực tiêm kích - oanh tạc của các sư đoàn không quân số 3 và số 5 tại các sân bay Tân Sơn Nhất và Biên Hòa có thể yểm hộ cho các lực lượng phòng thủ ở Phước Long chỉ sau hơn chục phút bay.12
Diễn biến trận đánh
Trên các tuyến phòng thủ vòng ngoài
Ngày 12 tháng 12 năm 1974, tiểu đoàn 4 của trung đoàn 165 (sư đoàn 7) đánh chiếm một tiền đồn của QLVNCH tại cây số 19 - đường 14 do một đại đội bảo an đóng giữ. Đêm 12 tháng 12, chi khu quân sự Bù Đốp bị tiến công bởi 1 đại đội đặc công QGP thuộc tỉnh đội Phước Bình. Đến ngày 16 tháng 12, các lực lượng bảo an của QLVNCH chiếm lại chi khu này nhưng không giải toả được vị trí bị cắt đứt tại cây số 19. Ngày 13 tháng 12, đại tá Nguyễn Thống Thành 13 , tiểu khu trưởng Phước Long đã đến kiểm tra Bù Đăng và ra lệnh nâng mức báo động từ "vàng" lên "da cam" đối với tất cả các đồn bốt của QlVNCH trong tỉnh.11 Do mưa lớn ngập đường chuyển quân, giờ G và ngày N mà Bộ Tư lệnh quân đoàn 4 dự kiến vào ngày 13 phải lui lại một ngày. Yếu tố bí mật bất ngờ không còn.
Rạng ngày 14 tháng 12, trung đoàn 271 (thiếu) của sư đoàn 302 nổ súng tấn công tiểu đoàn bảo an 362 - QLVNCH đóng tại Bù Đăng. Quân lực Việt Nam cộng hòa chống trả ác liệt nhất tại khu cửa mở. Phải sau hơn 2 tiếng đồng hồ và bị thương vong gần hết đại đội 12 (chỉ còn 11 người sau trận đánh), Các đơn vị của trung đoàn 271 mới lọt được vào bên trong khu phòng thủ.14 . Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, các đơn vị của Trung đoàn 271 đã tràn ngập chi khu quân sự Bù Đăng. Cũng trong ngày 14 tháng 12, các trung đoàn 165 và 201 (sư đoàn 7) sau một ngày đêm bao vây, tạo thế đã đánh chiếm căn cứ Vĩnh Thiện và khu hành chính Bù Đăng sau gần 2 giờ công kích.15
Ngày 15 tháng 12, hai tiểu đoàn đặc công thuộc trung đoàn 429 (B2) tấn công yếu khu Bù Na do một đại đội của tiểu đoàn bảo an 363 QLVNCH và 1 trung đội pháo binh đóng chốt. Tiểu đoàn bảo an 363 với sự chi viện từ trên không của 32 phi vụ cường kích do sư đoàn 5 không quân ở Biên Hòa thực hiện đã chống trả quyết liệt từ sáng đến chiều 15 tháng 12 nhưng vẫn thất thủ vì không nhận được sự chi viện nào từ Phước Long và Đôn Luân do đường 14 bị cắt đứt và hai cứ điểm này cũng đang bị vây lỏng. Trong trận này, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được 2 khẩu trọng pháo.16 Ngày 16 tháng 12, tướng Dư Quốc Đống bay lên thị sát Phước Long và tăng phái cho khu phòng thủ này tiểu đoàn bộ binh số 2 rút từ trung đoàn 7 (sư đoàn 5). Cùng ngày, đại tá Đỗ Công Thành tổ chức phản kích khai thông đường 14 nối với Bố Đức nhưng đều bị các lực lượng mạnh hơn của QGP đẩy lùi.17
Ngày 22 tháng 12, chi khu quân sự và quận lỵ Bố Đức do tiểu đoàn bảo an 341 đóng giữ bị tấn công và đánh chiếm lần thứ hai trong chiến dịch bởi các đơn vị của trung đoàn 165, sư đoàn 7 (Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam). Cùng ngày các đồn quan trọng trên đường 14 như Phước Tín, Phước Quả, Phước Lộc thất thủ. Đại tá Thành điều tiểu đoàn 1 (Chiến đoàn 7) mới được tăng cường và 2 đại đội thám báo phản kích nhưng bị tiểu đoàn 6 (trung đoàn 165 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam) đẩy lùi, phải rút về núi Bà Rá cùng với số quân còn lại từ các đồn kể trên.18 Ngày 24 tháng 12, Tướng Dư Quốc Đống dự định điều 1 chiến đoàn của sư đoàn 18 lên giữ Phước Long nhưng không được Nguyễn Văn Thiệu chuẩn y vì theo lệnh của ông ta, mọi sự điều động các đơn vị cấp trung đoàn phải do chính tổng thống quyết định.19 . Tướng Đống đành phải ra lệnh cho chuẩn tướng Lê Nguyên Vĩ dùng trực thăng đưa 1 tiểu đoàn và 1 đại đội bộ binh rút từ sư đoàn 5 đổ quân xuống Đồng Xoài nhưng đã quá muộn, toàn bộ chi khu quân sự Đôn Luân đã nằm trong tầm bắn thẳng của các loại pháo, cối và súng máy của đối phương. Mặc dù được 48 phi vụ cường kích từ sư đoàn 5 không quân yểm trợ nhưng QLVNCH chỉ đổ được 1 đại đội xuống Đồng Xoài. Tướng Lê Nguyên Vĩ phải ra lệnh cho các trực thăng quay lại.17
5 giờ 37 phút sáng 26 tháng 12, chi khu quân sự Đôn Luân với 11 lớp rào thép gai, nhiều bãi mìn và hơn 50 chốt phòng thủ kiên cố đã bị các đơn vị của trung đoàn 141 (sư đoàn 7) tấn công từ bốn hướng sau 15 phút bắn phá đường của 7 khẩu pháo các cỡ 85mm, 105mm, 122mm và 4 khẩu cối 120 mm. Pháo binh QLVNCH ở căn cứ Phước Vĩnh bị trung đoàn pháo binh 210 của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chế áp, không chi viện được. Hoả lực phòng không mạnh của tiểu đoàn 20 súng máy cao xạ đã hạn chế tối đa khả năng chi viện từ trên không của các máy bay A-1 và A-37 của Không lực VNCH. Đến 10 giờ 30 phút, chi khu quân sự Đôn Luân thất thủ. Thiếu tá Đặng Vũ Khoái, chỉ huy căn cứ chi khu Đôn Luân và nhiều sĩ quan dưới quyền thuộc tiểu đoàn bảo an 352 bị bắt làm tù binh tại Suối Rạt. Chiều 26 tháng 12, các đơn vị thuộc trung đoàn 141 (sư đoàn 7 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam) phối hợp với trung đoàn 201 tiếp tục đánh chiếm các đồn Tà Bế, Phước Thiện, Cầu số 2 và sân bay trực thăng.20
Chỉ trong hai tuần, Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã mất 4 mục tiêu quan trọng trên tuyến phòng thủ từ xa tại địa bàn tại Quân khu III. Ở phía Nam, các trung đoàn 209 (sư đoàn 7), 201 (sư đoàn 302) và sư đoàn 9 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã chốt chặn các con đường đến Phước Long: đường 14, đường 7 ngang, đường 311, các liên tỉnh lộ số 1 và số 2. Quận lỵ Phước Bình và thị xã Phước Long hoàn toàn bị cô lập trên bộ với các đơn vị khác của QLVNCH tại Quân khu III.21
Tại khu trung tâm phòng thủ
Để giải vây cho Phước Long, QLVNCH cần ít nhất 1 sư đoàn hỗn hợp bộ binh, kị binh thiết giáp và quân dù nhưng trong tình hình các đơn vị tổng trù bị đã bị giam chân tại Quân khu I và Bắc Tây Nguyên, không thể điều động được nếu không có quyết định của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Nhận thấy tình hình nguy ngập tại Phước Long, ngày 29 tháng 12, đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa đề nghị tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phê duyệt gấp bản kế hoạch phòng thủ Phước Long đã được đệ trình từ tháng 10 năm 1974. Kết quả là đại tướng Cao Văn Viên nhận được mấy lời phê vắn tắt: "Báo trung tướng (chỉ tướng Dư Quốc Đống) điều nghiên, tùy nghi quyết định. Cần lưu ý động viên các chiến hữu tử thủ".21 22
Khi những lời phê trên đây được chuyển đến tay tướng Dư Quốc Đống thì cũng là lúc Phước Long bị tấn công ngày 31 tháng 12 năm 1974. Khu phòng thủ Phước Long của QLVNCH dựa vào ba cụm điểm tựa chính là thị xã Phước Long, quận lỵ Phước Bình và căn cứ Bà Rá thành thế chân vạc yểm trợ cho nhau. Theo thuyết trình phòng thủ quân sự của đại tá Đỗ Công Thành, tỉnh trưởng Phước Long, mặc dù chu vi phòng ngự đã bị thu hẹp nhưng để nối liên lạc giữa các cụm phòng thủ này, còn phải giữ được các tuyến ngăn chặn ở Thác Mơ, Phước Lộc, các đường 309, 310... Đây là những điểm yếu của khu phòng thủ Phước Long.23
Từ ngày 27 đến ngày 30 tháng 12, các đơn vị của Quân đoàn 4 đã hành quân đến các tuyến xuất quanh Phước Long và Phước Bình. Đến chiều 30 tháng 12, trung đoàn 165 (sư đoàn 7) đã tập kết ở phía Đông và Đông Nam Phước Bình; trung đoàn 141 (sư đoàn 7) dùng ô tô cơ động theo đường 2 cũ đến phía Bắc và Tây Bắc Phước Bình; trung đoàn 271 (sư đoàn 3) chặn đường 309 ở Thác Mơ; trung đoàn 16 từ Tây Ninh về bắc Sông Bé chuẩn bị hợp vây; tiểu đoàn 78 đặc công đã tập trung dưới chân núi Bà Rá; trung đoàn 2 (sư đoàn 9) và trung đoàn 209 (sư đoàn 7) làm lực lượng dự bị. Trong đợt 2 của chiến dịch đường 14-Phước Long, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được Quân ủy Trung ương cho phép sử dụng một đại đội pháo 130 mm với 1/2 cơ số đạn và 2 đại đội xe tăng T-54 (14 chiếc). Các loại súng lớn khác yểm hộ mặt đất cho cuộc tấn công có 12 khẩu pháo 85 mm, 105 mm, 122 mm và 8 khẩu cối các cỡ 120, 160 mm. Nhiệm vụ yểm hộ phòng không được giao cho trung đoàn 210 gồm một tiểu đoàn pháo cao xạ 37 mm, hai tiểu đoàn súng máy 14,5 mm và 12,7 mm.24
Rạng sáng ngày 31 tháng 12 năm 1974, các trung đoàn 165 (thiếu), 141 và tiểu đoàn 3, bộ đội địa phương Phước Long nổ súng tấn công Phước Bình. Tuy nhiên, tiểu đoàn 78 đặc công và trung đoàn 271 khai trận chậm hơn nên QLVNCH đã dùng pháo binh trong thị xã Phước Long được hiệu chỉnh bằng trinh sát pháo trên núi Bà Rá bắn cản đường. Chỉ huy trưởng tiểu khu Phước Long được chiến đoàn 7 (sư đoàn 5 QLVNCH) điều tiểu đoàn 1 từ chân núi Bà Rá đánh vào sườn tiểu đoàn 4 và tiểu đoàn 6 (trung đoàn 165 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam) đang tấn công qua cửa mở. Trong khi trung đoàn 165 ở hướng Đông Nam Phước Bình phải dừng lại đối phó với cánh quân phản kích thì trung đoàn 141 từ hướng Tây Bắc tràn xuống đánh vào trung tâm quận lỵ. 13 giờ chiều ngày 31 tháng 12, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 điều 4 xe tăng T-54 yểm hộ cuộc tiến công. Một chiếc bị trúng mìn khi đi qua ngã tư chi khu, 3 chiếc còn lại đã hỗ trợ bằng hỏa lực bắn thẳng cho các tiểu đoàn 3 và 5 (trung đoàn 141) đánh chiếm chốt Vạn Kiếp và sân bay Phước Bình. 15 giờ chiều cùng ngày, Phước Bình thất thủ. Tiểu đoàn 2 (Chiến đoàn 7 QLVNCH) bị đẩy lùi về Suối Dung.25
Trong ngày 31, Không lực Việt Nam Cộng hòa thực hiện hơn 50 phi vụ oanh tạc quanh chân núi Bà Rá, ngăn chặn được tiểu đoàn 78 đặc công Quân đội Nhân dân Việt Nam đang tấn công căn cứ này. Phải đến nửa đêm, với sự chi viện của lựu pháo và pháo cao xạ 37 mm hạ nòng bắn thẳng, tiểu đoàn đặc công 78 mới chiếm được núi Bà Rá và tổ chức ngay một đài quan sát chỉ điểm cho pháo lớn bắn vào thị xã Phước Long sáng ngày 1 tháng 1 năm 1975. Quân lực Việt Nam cộng hòa bị mất 8 khẩu pháo 105 mm và 4 khẩu 155 mm tại trận địa pháo trung tâm thị xã do trúng đạn pháo của đối phương.26 Đến sáng ngày 2 tháng 1 năm 1975, tiểu khu Phước Long đã nằm trong tầm hỏa lực bắn thẳng bằng súng bộ binh của các trung đoàn 16, 141, 165, 201 và 207.27
Trước nguy cơ bị tiêu diệt, đại tá Đỗ Công Thành gấp rút tái phối trí lại lực lượng. Sở chỉ huy nhẹ của tiểu khu Phước Long được chuyển về trại Lê Lợi. Tiểu đoàn bảo an 340 và đại đội thám báo số 5 giữ cầu Suối Dung và chốt Vân Kiều. Tiểu đoàn 2 (chiến đoàn 7 - sư đoàn 5 tăng phái giữ các ngã ba Tư Hiền 1 và Tư Hiền 2. Đại tá Thành cũng yêu cầu chi viện nhưng chuẩn tướng Lê Nguyên Vĩ đã không thi hành lệnh của trung tướng tư lệnh Quân đoàn III Dư Quốc Đống với lý do sợ "mắc bẫy dương Đông kích Tây của Cộng quân"28 . Trong ngày 1 tháng 1 năm 1975, Không lực Việt Nam cộng hòa đã tổ chức 53 phi vụ oanh tạc vào tuyến tấn công của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ở khu vực nghĩa trang thị xã, tạm thời chặn được mũi tiến công của tiểu đoàn 4 (trung đoàn 165), phá hủy một khẩu đội cao xạ 37 mm.29 QLVNCH báo cáo lên cấp trên là họ đã bắn cháy 15 xe tăng của đối phương . 30
Các trận đánh phòng ngự của QLVNCH tại vùng phụ cận thị xã chỉ làm chậm tốc độ tiến quân của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam thêm 24 giờ. Sáng ngày 2 tháng 1, một trận pháo kích kéo dài gần 1 giờ từ sáu khẩu 130 mm, sáu khẩu 105 mm, bốn khẩu 85 mm đã mở đường cho đợt tấn công tiếp theo của các trung đoàn 165, 141 và 271. Ở phía Nam, trung đoàn 165 chiếm trại Đoàn Văn Kiều. Ở hướng Tây, trung đoàn 141 giằng co với tiểu đoàn 1 (chiến đoàn 9 QLVNCH) ở bắc Hồ Long Thủy và khu gia binh. Hai bên đều tổn thất nặng. Ở hướng Đông Nam, trung đoàn 271 chiếm được ngã ba Tư Hiền và bãi xe. Sáng ngày 3 tháng 1, các đơn vị đi đầu của trung đoàn 141 (4 đại đội) đã lọt vào thị xã nhưng bị cô lập. Tư lệnh quân đoàn điều động trung đoàn 201 (thiếu 1 tiểu đoàn) từ tuyến 2 lên tăng cường cho trung đoàn 141.31 . Trưa ngày 3 tháng 1, tướng Dư Quốc Đống điều động chiến đoàn 8 (sư đoàn 5 QLVNCH) sử dụng trực thăng định đổ bộ xuống thị xã nhưng vấp phải lưới lửa phòng không của trung đoàn 210 và pháo binh bắn chặn trên mặt đất, các trực thăng của QLVNCH không dám hạ cánh đổ quân. Không quân vận tải của QLVNCH thả dù tiếp tế 20 tấn đạn pháo xuống phía Bắc thị xã nhưng do bị pháo binh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bắn chặn, các đơn vị phòng thủ Phước Long không thu hồi được số hàng này sau đó để rơi vào tay Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.32 Cũng trong ngày 3 tháng 1 (tức ngày 4 tháng 1 theo lịch VNCH), Sở chỉ huy tiểu khu Phước Long bị pháo kích gây tổn thất nặng, phó chỉ huy trưởng tiểu khu tử thương, chỉ huy trưởng chi khu Phước Bình bị thương nặng.33
Ngày 4 tháng 1, không lực VNCH tiếp tục oanh kích các tuyến tấn công của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, buộc các đơn vị này phải dừng lại đào công sự phòng tránh. 10 giờ ngày 4 tháng 1, trong nỗ lực cuối cùng để ứng cứu Phước Long, tướng Dư Quốc Đống điều động liên đoàn biệt kích dù số 81 bằng không vận lên Phước Long. Sau đợt đổ bộ đầu tiên xuống đồi Đắc Song, 2 đại đội biệt kích dù bị pháo binh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bắn chặn và bị tổn thất 2 tiểu đội. Ngay lập tức, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam điều trung đoàn 16 (đang làm dự bị tuyến 2) chiếm lĩnh bãi đổ quân tại đồi Đắc Song và bên cầu Đắc Lung; dùng một bộ phận lực lượng truy đuổi số quân dù đã đổ bộ, làm các đơn vị dù tổn thất thêm một phần ba quân số và buộc họ phải chia thành từng toán nhỏ để liên lạc và hội quân với các lực lượng đang phòng thủ trong thị xã.34 Tuy nhiên, tình hình đã quá muộn để giải cứu cho Phước Long. Hai phần ba thị xã đã rơi vào tay Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Khu phòng thủ Phước Long bị thu hẹp tối đa ở Đông Bắc thị xã, chỉ còn lại dinh tỉnh trưởng, khu hành chính tỉnh và khu chợ.35
Ngày 5 tháng 1, các đơn vị của trung đoàn 201 (mới tăng cường) và trung đoàn 165 tiếp tục vây ép các lực lượng phòng thủ còn lại của QLVNCH trong khu hành chính tỉnh kết hợp với pháo binh bắn phá liên tục các mục tiêu. Sáng sớm ngày 6 tháng 1, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 điều thêm Trung đoàn 2 (sư đoàn 9) và 10 xe tăng đến tăng cường cho các đơn vị đang tham chiến và mở đợt tổng công kích đánh chiếm thị xã. Lần lượt các chốt cuối cùng của QLVNCH tại đường Cách mạng, đường Đinh Tiên Hoàng, khu Tâm lý chiến vị tràn ngập. 10 giờ 30 phút sáng ngày 6 tháng 1, dinh tỉnh trưởng Phước Long bị các đơn vị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam thuộc trung đoàn 141 (sư đoàn 7) và trung đoàn 2 (sư đoàn 9) đánh chiếm. 19 giờ ngày 6 tháng 1, điểm cố thủ cuối cùng của lính biệt kích dù QLVNCH dưới hầm ngầm dinh tỉnh trưởng bị chiếm.36 Số quân còn lại của hai Biệt đội 1 và 4 biệt kích dù rút khỏi thị xã dưới quyền chỉ huy của trung tá Thông. Một số bị bắt, một số bị hoả lực bộ binh bắn gục tại Suối Dung. Không lực Việt Nam Cộng hòa ném bom hủy diệt xuống thị xã Phước Long.37 Trong số 5400 sĩ quan và binh sĩ QLVNCH phòng thủ Phước Long, chỉ có 850 thoát được về trình diện tại Quân đoàn III. 38 . Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cho biết họ bắt được 2444 tù binh, trong đó có 26 sĩ quan cấp tá và cấp uý, thu hơn 5000 vũ khí các loại và một kho đạn đại bác trên 10.000 viên . 39
Phản ứng của các bên và của quốc tế
Tại Quân đoàn III và Sài Gòn
Quân đoàn III - Quân lực Việt Nam Cộng hòa là đơn vị chỉ đạo lực lượng phòng thủ Phước Long và tất các đơn vị có khả năng tăng viện cho nó. Ngay từ khi các chi khu quân sự Đức Phong, Bố Đức, Đôn Luân (Đồng Xoài) bị đánh chiếm, tướng Dư Quốc Đống đã thỉnh cầu Bộ Tổng tham mưu cho rút sư đoàn dù (đang đóng tại Quân khu I) về giải vây cho Phước Long nhưng không được chấp nhận. Ngày 3 tháng 1, khi tình hình tại Phước Long đã trở nên nguy ngập, đề tài tăng viện cho Phước Long lại được bàn tại cuộc họp tại Dinh Độc Lập do giữa đích thân tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chủ toạ. Tướng Dư Quốc Đống nhắc lại đề nghị của mình và đề nghị nếu không tăng phái quân dù thì tăng phái một sư đoàn bộ binh cũng được. Vì một lần nữa không được Nguyễn Văn Thiệu chấp nhận, tướng Đống xin từ chức sau ba tháng chỉ huy Quân đoàn III nhưng cũng bị tổng thống bác bỏ. Kết quả là Quân đoàn III phải tự lực xoay xở việc giải tỏa Phước Long với Liên đoàn 81 Biệt kích dù, đơn vị dự bị cuối cùng của Quân đoàn. Do không có lực lượng trên bộ phối hợp nên cuộc giải vây Phước Long của biệt kích dù chỉ thực hiện được một phần và thất bại.40
Sau cuộc họp ngày 3 tháng 1, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lệnh cho Bộ Tư lệnh Quân đoàn III gửi một bức điện đến tiểu khu Phước Long; có đoạn viết: "Tổng thống đã họp nội các phiên đặc biệt ngày 3 tháng 1 để cứu xét tình hình quý tiểu khu. Rất thông cảm. Tổng thống và quân lực Việt Nam Cộng hòa ưu ái gởi tặng các chiến hữu 3,2 triệu đồng tiền thưởng, khen ngợi và mong các chiến hữu cố gắng tử thủ".39 Trong khi chưa thực hiện được phần thưởng nói trên thì Phước Long Thất thủ ngày 6 tháng 1. Ngay trong đêm 6 tháng 1, Hội đồng an ninh quốc gia VNCH đã họp khẩn cấp để cứu xét tình hình. Ngày 10 tháng 1 năm 1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố trên đài phát thanh: "Toàn quốc dành ba ngày truy điệu, cầu nguyện cho Phước Long" và kêu gọi "kiên quyết lấy lại Phước Long".39 . Ngày 11 tháng 2 năm 1975, trong thông điệp đầu năm đọc trên đài phát thanh, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu yêu cầu toàn quốc cần thực hiện ba nỗ lực chính trong năm 1975:
Hỗ trợ tối đa tiền tuyến,
Ổn định tối đa hậu phương
Tích cực tăng gia sản xuất 21
Hoa Kỳ
Ngày 10 tháng 1 năm 1975, người phát ngôn Nhà Trắng tuyên bố: "Tổng thống Gerald Ford đã và đang theo dõi cuộc chiến ở Việt Nam Cộng hòa nhưng không có ý vi phạm sự cấm chỉ việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam". Người phát ngôn Lầu năm góc, ông William Betche cho rằng Hoa Kỳ vẫn tin chắc vào sự lượng định cách đây một tháng về tình hình ở Việt Nam, mặc dù có những biến động mới mà theo đó, Lầu Năm Góc đã không trù liệu một cuộc tổng tiến công của cộng sản trên toàn Việt Nam Cộng hoà. Bị ràng buộc bởi đạo luật "War power act" do Quốc hội Hoa Kỳ thông qua cuối năm 1973 cấm tổng thống Hoa Kỳ sử dụng quân đội nếu không được sự chấp thuận của Quốc hội trước 6 tháng. Hoa Kỳ chỉ có thể hành động hạn chế.41 Bộ Tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ ở Tây Thái Bình Dương điều động một lực lượng hải quân đặc nhiệm gồm tàu sân bay Enterprise, tuần dương hạm Long Beach, hai tàu khu trục và một số tàu hậu cần rời cảng Subic tiến vào Biển Đông. Sư đoàn thủy quân lục chiến số 3 của Hải quân Hoa Kỳ đóng tại Okinawa cũng được đưa vào tình trạng báo động sẵn sàng chiến đấu.42
Tuy nhiên, tất cả chỉ có vậy. Khi Hoa Kỳ chỉ chấp nhận chiến đấu ở miền Nam Việt Nam bằng lời nói chứ không phải bằng súng đạn thì niềm vui tràn ngập ở Hà Nội. Ký giả Hoa Kỳ Alan Dawson nhận xét: "Nó chính lại là một trong những chiếc đinh cuối cùng đóng lên chiếc quan tài của quân đội Sài Gòn".43
Dư luận quốc tế
Khác với các hoạt động quân sự năm 1968 và 1972, chiến dịch đường 14-Phước Long không gây ra những phản ứng sôi động của dư luận quốc tế; ngay cả khi Phước Long thất thủ ngày 6 tháng 1. Điều này đặc biệt hiếm có trong chiến tranh Việt Nam. Ngoại trừ các tin tức được đưa ra từ Hà Nội, Sài Gòn và Washington, Phước Long không phải là chủ đề nổi bật của dư luận thế giới (kể cả phía ủng hộ bên này hay bên kia) vào thời điểm đó.
Kết quả trận đánh
Về quân sự
Chiến thắng Đường 14 - Phước Long là sự đóng góp, hy sinh rất lớn của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và nhân dân tỉnh Bình Phước. Đây là sự đóng góp to lớn về sức người, vật chất của các tầng lớp công nhân cao su và đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh, đã tích cực tham gia Chiến dịch Đường 14 - Phước Long, giải phóng toàn tỉnh. Nhờ có chiến thắng này Quân Giải phóng đã bước đầu đánh giá được thực lực của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trước khi tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giữ vững bàn đạp cho các binh đoàn chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến về giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.44
Chiến thắng Phước Long đã giúp Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam mở thông được hành lang chiến lược (Đường Hồ Chí Minh) từ Vĩnh Linh vào đến Bù Gia Mập, nối liền với Lộc Ninh và các căn cứ khác tại miền Đông Nam Bộ; nối liền các vùng chiếm đóng của họ với các căn cứ của Khu 6 trước đây từng bị cô lập ở Long Khánh, Bình Thuận. Với tuyến hành lang chiến lược từ Tây Trị-Thiên xuyên qua phía Tây cao nguyên Trung phần đến Đông Nam Bộ, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã căng kéo tối đa các lực lượng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trên ba Quân khu I, II và III trong khi Quân khu IV không thể đưa quân ứng cứu do phải bảo vệ phía sau lưng Biệt khu Thủ đô và là vùng phòng thủ cuối cùng trong trường hợp mất Sài Gòn. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có thể tự do di chuyển lực lượng dọc theo tuyến mặt trận này và tấn công Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại bất cứ địa bàn quân khu nào mà họ chọn.45
Sau giai đoạn đầu, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã chiếm được nguyên vẹn 4 khẩu lựu pháo 105 mm và 7.000 viên đạn pháo. Vào ngày 6 tháng 1, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam hoàn tất việc chiếm tỉnh Phước Long và thu được thêm 10.000 viên đạn pháo. Chiến lợi phẩm ngoài dự tính này làm các nhà chỉ huy Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam rất vui mừng: 17.000 viên đạn pháo còn nhiều hơn tổng số đạn mà Bộ Tổng Tham mưu có kế hoạch sử dụng trong suốt năm 1975. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có thể kỳ vọng sẽ chiếm được thậm chí còn nhiều đạn dược hơn ở các căn cứ lớn hơn. Do vậy, kế hoạch tấn công năm 1975 đã được điều chỉnh theo hướng tăng thêm cường độ và tốc độ tiến công (kế hoạch ban đầu dự tính sẽ giành thắng lợi trong 2 năm 1975-1976, nay được điều chỉnh là chỉ cần trong năm 1975 nếu thời cơ thuận lợi). Trong các chiến dịch sau đó, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam rất tích cực sử dụng chiến lợi phẩm để khắc phục tình trạng thiếu đạn pháo của mình.46
Về chính trị
Việc để mất Phước Long đã gây ra những suy sụp về tinh thần trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Đại tá Phạm Bá Hoa, phụ tá hành quân của đại tướng Cao Văn Viên nhận xét:
“ Có thể nói tất cả chúng tôi đều bàng hoàng. Không khí lo ngại bao trùm, ưu tư đè nặng mọi người. Cái chính là thất bại Phước Long đã nói lên thế và lực của Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Chỉ mới bị đánh một điểm mà đã không còn lực lượng để đối phó, hỏi bị đánh mạnh nhiều nơi thì sẽ ra sao? Tình hình đó đã dồn chúng tôi đến sự hoang mang, bi quan. ”
— đại tá Phạm Bá Hoa, 39
Về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trận Phước Long đã củng cố niềm tin rằng họ có thể thắng trong cuộc chiến tranh này do phía Hoa Kỳ không có phản ứng gì hơn là điều một hạm đội vừa phải đến Biển Đông với những mục tiêu không rõ ràng là đe dọa hay thực sự tham chiến trở lại. Mục đích đó được giải đáp trong lời tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ James R. Schlesinger trước báo chí: "Đây chưa phải là một cuộc tiến công ồ ạt của Bắc Việt Nam" và thông báo của Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn Graham Martin với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: "Việc yểm trợ của Hoa Kỳ lúc này là chưa được phép"47
Ngay sau thất bại Phước Long, cố vấn Mỹ John Pilger đã tiên liệu trước về sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn sẽ diễn ra trong nay mai. Ông viết:
Sài Gòn đang sụp đổ trước mắt, một Sài Gòn được người Mỹ hậu thuẫn, một thành phố được coi là “thủ đô tiêu dùng” nhưng chẳng hề sản xuất được một mặt hàng nào ngoài chiến tranh. Trong hàng ngũ của quân đội lớn thứ tư thế giới vào thời điểm đó, binh lính đang đào ngũ với tốc độ cả nghìn người trong một ngày...48
Chú thích
http://baobinhduong.vn/quan-doan-4-qua-dam-thep-phia-nam-ph…
^ a ă Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2004. trang 79
^ a ă Vương Hồng Anh. Trận Phước Long. Dẫn theo Lê Đại Anh Kiệt. Tướng lĩnh Sài Gòn tự thuật. Nhà xuất bản Công an nhân dân. Hà Nội. 2003. trang 133
^ Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2004. trang 77
^ a ă George C. Herring. Cuộc chiến tranh dài ngày nhất nước Mỹ. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 1998. trang 340
^ Phạm Ngọc Thạch - Hồ Khang và tập thể tác giả. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2008. trang 200.
^ Dương Hảo. Một chương bi thảm. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1980. trang 137
^ a ă Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2004
^ a ă Hoàng Cầm. Chặng đường mười nghìn ngày. (Hồi ức do Nhật Tiến ghi). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2001
^ Hoàng Văn Thái. Những năm tháng quyết định. (Hồi ký). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1985
^ a ă Vương Hồng Anh. Trận Phước Long. Vantuyen.net
^ Cao Van Vien, The Final Collapse. Washington DC: U.S. Army Center of Military History, 1983
^ trong Tài liệu "Trận Phước Long" của Vương Hồng Anh (vantuyen.net) ghi là đại tá Đỗ Văn Thành
^ Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long (1974-2004). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2004
^ Hoàng Cầm. Chặng đường mười nghìn ngày. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2001
^ Vương Hồng Anh. Trận chiến Phước Long. Vantuyen.net
^ a ă Cao Văn Viên. The Final Collapse. Washington DC: U.S. Army Center of Military History. 1983.
^ Lịch sử sư đoàn bộ binh 7 (1966-2006). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2006
^ Cao Văn Viên. The Final Collapse. Washington DC: U.S. Army Center of Military History. 1983
^ Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long (1974-2004). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2004
^ a ă â Cao Văn Viên. The final collapse.
^ Dương Hảo. Một chương bi thảm. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội.1980
^ Bản thuyết trình quân sự của đại tá tỉnh trưởng Phước Long. Dẫn theo Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long (1974-2004). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội.2004
^ Hoàng Cầm. Chặng đường mười nghìn ngày. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2001
^ Lịch sử sư đoàn bộ binh 7 (1966-2006). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2006
^ Vương Hồng Anh. Trận chiến Phước Long. Vantuyen.net
^ Hoàng Cầm. Chặng đường mười nghìn ngày. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2001
^ Dương Hảo. Một chương bi thảm. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội.1980
^ Hoàng Cầm. Chặng đường mười nghìn ngày. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2001
^ Vương Hồng Anh. Trận chiến Phước Long. Vantuyen.net
^ Lịch sử sư đoàn bộ binh 7 (1966-2006). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2006
^ Vương Hồng Anh. Trận chiến Phước Long. Vantuyen,net
^ Vương Hồng Anh. Trận chiến Phước Long. Vantuyen. net
^ Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long (1974-2004). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội.2004
^ Vương Hồng Anh. Trận chiến Phước Long. Vantuyen. net
^ Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long (1974-2004). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội.2004
^ Lời kể của Đàm Hữu Phước, sĩ quan quân y Liên đoàn 81 biệt kích dù. Dẫn theo Tướng lĩnh Sài Gòn tự thuật. Nhà xuất bản Công an nhân dân. Hà Nội. 2003
^ Trần Đông Phong. Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà. (Trích dẫn: Trần Văn Hương. Kẻ sĩ cuối cùng). Vantuyen.net
^ a ă â b Dương Hảo. Một chương bi thảm. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1980.
^ Vương Hồng Anh. Trận chiến Phước Long. Vantuyen.net
^ Trần Đông Phong. Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà. Vantuyn.net
^ Tin tức UPI ngày 7 tháng 1 năm 1975. Dẫn theo: Dương Hảo. Một chương bi thảm. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1980.
^ Alan Dawson. 55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ. Dịch giả: Cao Minh. Nhà xuất bản Sự thật. Hà Nội 1990.
http://www.mod.gov.vn/…/vZTZju…/dl4/d5/L2dBISEvZ0FBIS9nQSEh/
^ Gabriel Kolko. Giải phẫu một cuộc chiến tranh. Dịch giả: Nguyễn Tấn Cưu. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2003.
^ Tổng Tiến công Mùa Xuân 1975: đấu pháp chiến lược kết thúc chiến tranh có một không hai. Tác giả Merle L. Pribbenow, đăng trên tạp chí Parameters, số mùa đông 1999 - 2000
^ Văn Tiến Dũng. Đại thắng mùa Xuân. Nhà xuất bản Sự thật. Hà Nội. 1976
Nguồn : http://nguoikesu.com/…/chien-dich-duong-14-phuoc-long-nam-1…