Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Sunday, January 29, 2017
Sách ‘Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền’ thời Việt Nam Cộng hòa
Luật Khoa xin giới thiệu đến quý bạn đọc tập sách Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền do Bộ Giáo dục – Việt Nam Cộng hòa dịch và ấn hành năm 1965 tại Sài Gòn.
Tập sách này có kích thước 12×15 cm, dày 40 trang, được in nhân kỷ niệm 17 năm ngày Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 tại Paris, đánh dấu một bước ngoặt lớn của nhân loại trong lĩnh vực nhân quyền.
Những thảm hoạ nhân quyền trong Chiến tranh Thế giới thứ hai đã thúc đẩy các quốc gia cần thừa nhận một chuẩn mực chung về nhân quyền, đảm bảo không ai bị phân biệt đối xử, ai cũng như ai, đều có quyền sống trong an bình và no ấm.
Gần 70 năm qua, nhiều quốc gia đã lấy bản tuyên ngôn này làm cơ sở cho việc soạn thảo hiến pháp và pháp luật. Khi đưa ra phán quyết của mình, cả Tòa Công lý Quốc tế và các tòa quốc gia đều xem tuyên ngôn như một công cụ giải thích các điều luật. Bản tuyên ngôn luôn ở vị trí hàng đầu trong các cuộc tranh luận chính trị, ngoại giao về thực thi quyền con người tại các quốc gia.
Thời Việt Nam Cộng hòa, học sinh trung học (lớp 6 đến lớp 12 ngày nay) được tiếp cận với nhân quyền và chính trị khá sớm qua môn Công dân giáo dục.
Trong chương trình cập nhật hóa năm 1970-1971, học sinh lớp 6 được dạy về Luật đi đường; học sinh lớp 7 và lớp 8 được học về tổ chức học đường, đời sống xã hội, đời sống tôn giáo và bổn phận của học sinh.
Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền được dạy cho học sinh lớp 9 cùng với Công dân quyền, Quyền tự do cá nhân, Quyền tự do tư tưởng, Quyền kinh tế xã hội và Bổn phận của công dân.
Học sinh lớp 10 được học chủ yếu về quốc gia, yếu tố cấu thành quốc gia, quốc gia độc lập, tổ chức bộ máy công quyền của Việt Nam Cộng hòa, giao tế xã hội và vấn đề thiếu nhi phạm pháp.
Lên lớp 11, học sinh được học khái lược về kinh tế: chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội, kinh tế tự do, kinh tế chỉ huy và vai trò của tiền tệ, ngân hàng, mậu dịch quốc tế.
Tập sách Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền này được trích từ tạp chí nghiên cứu Mémoires d’Indochine (Hồi ức Đông Dương) tại Pháp.
Tạp chí này là diễn đàn mở cho sinh viên và các nhà nghiên cứu thảo luận, trao đổi tài liệu nhằm làm rõ lại lịch sử Đông Dương (Campuchia, Lào và Việt Nam) không qua lăng kính của kẻ chiến thắng, mà thông qua những câu chuyện đời thường, hồi ức của các diễn viên, các phiên xét xử và các tác phẩm báo chí, văn học, điện ảnh bên lề của lịch sử.
Dưới đây là 40 trang của tập sách Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền được dịch và in tại miền Nam năm 1965.
Tương tự như Việt Nam, Hàn Quốc cũng ăn mừng Tết Âm lịch. Trong tiếng Hàn, Tết Âm lịch gọi là Seollal, là một trong những ngày lễ lớn và quan trọng nhất trong năm tại đây. Tuy nhiên, phụ nữ Hàn hầu như không còn phải đau đầu với nan đề “Tết nhà nội hay Tết nhà ngoại” như ở Việt Nam.
Phụ nữ Hàn Quốc giờ đây tự do hơn và ít bị lễ giáo ràng buộc hơn. Ảnh: weddinggritz.com.
Trả lời phỏng vấn Luật Khoa tạp chí, cô Soo Suh, một nhà hoạt động nhân quyền và dân chủ tại Seoul, Hàn Quốc cho biết: “Trước đây, sau khi kết hôn thì phụ nữ Hàn Quốc cũng chỉ chú trọng vào việc chăm sóc gia đình chồng và thăm hỏi bố mẹ chồng vào các ngày lễ tết. Tuy nhiên, điều đó không còn đúng trong vòng 10 năm trở lại đây.”
Theo cô Soo, thực tế đang diễn ra ở Hàn Quốc là đa số các cặp vợ chồng đều ra riêng, và dịp Tết Âm lịch là khi họ đi thăm bố mẹ của cả hai. Kế đến là xã hội Hàn Quốc đang có xu hướng nhấn mạnh việc thăm viếng và chăm sóc gia đình hai bên nội ngoại phải được xem trọng như nhau.
“Nếu như vì ở quá xa hoặc không đủ thời gian thăm cả hai bên trong cùng một dịp lễ thì họ sẽ chia đều giữa ngày lễ Tết Âm lịch và ngày lễ Chuseok (ngày rằm tháng 8 lịch Âm và là lễ gia đình đoàn viên tại Hàn Quốc) giữa hai bên nội ngoại”, cô Soo cho biết.
Không còn chuộng sinh con trai hơn con gái
Bằng chứng mạnh mẽ nhất cho sự bình đẳng nam nữ ở Hàn Quốc là tỷ lệ giới tính của trẻ sơ sinh tại đây. Khác với các nước như Trung Quốc hay Việt Nam, phụ huynh Hàn không còn chuộng sinh con trai hơn con gái.
Câu khẩu hiệu “1 bé gái bằng 10 bé trai” của chính phủ Hàn Quốc trong những năm 1990 đã không chỉ là câu nói sáo rỗng.
Theo một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới năm 2007, Nam Hàn là nước Châu Á đầu tiên chuyển đổi được xu hướng mất cân bằng giới tính của trẻ sơ sinh.
Từ một nước có tỷ lệ giới tính sơ sinh là 116,5 bé trai/100 bé gái vào năm 1990, đến năm 2007 thì tỷ lệ này chỉ còn 107,4 bé trai/100 bé gái tại Nam Hàn. Và đến năm 2013, tỷ lệ này lại hạ xuống còn 105,3 bé trai/100 bé gái, ngang bằng tỷ lệ của các nước phát triển ở Âu Mỹ.
Cũng như những quốc gia Châu Á bị ảnh hưởng bởi tư tưởng Khổng Nho, Hàn Quốc vốn là một xã hội với hệ thống luật pháp coi trọng và bảo vệ nam giới một cách tuyệt đối.
Thế nhưng, tỷ lệ giới tính của trẻ sơ sinh tại Hàn Quốc từ năm 2013 đến nay đã cho thấy vấn đề trọng nam khinh nữ đang từng bước bị xóa bỏ, khi xã hội không còn cho rằng bé trai có giá trị hơn bé gái hay nam giới phải được xem trọng hơn nữ giới.
Điều gì đã và đang xảy ra ở Hàn Quốc?
Ảnh: Tỷ lệ giới tính của trẻ sơ sinh tại Hàn Quốc hiện nay là cân bằng giữa nam và nữ (aminoapps.com)
Phụ nữ có thể khai sinh con theo họ mẹ, được đứng tên trên hộ khẩu và có quyền thờ tự, thừa kế như nam giới
Là một quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của Khổng giáo, hệ thống pháp luật tại Hàn Quốc đã từng đặt nặng chế độ phụ hệ và nhấn mạnh yếu tố trọng nam khinh nữ.
Hàn Quốc đã từng sử dụng hệ thống đăng ký hộ khẩu để quản lý người dân tương tự như ở Việt Nam. Nhưng tại Hàn Quốc, hệ thống đăng ký hộ khẩu (hoju) còn là rào cản rất lớn đối với người phụ nữ vì chỉ cho phép nam giới là chủ hộ.
Trước năm 2005, một người phụ nữ chưa kết hôn phải đăng ký hộ khẩu tại nơi cư trú của cha mình và dưới tên của ông. Sau khi thành hôn, phụ nữ phải đăng ký hộ khẩu dưới tên chồng. Nếu ly hôn, con cái vẫn phải tiếp tục đăng ký hộ khẩu cùng người bố cho dù chúng có sống riêng với người mẹ đi chăng nữa. Nếu người mẹ tái hôn thì con riêng vẫn không thể nhập tịch vào hộ của cha dượng mà vẫn phải giữ cùng hộ với cha đẻ.
Vào năm 2005, 3 cải cách pháp lý lớn giúp thúc đẩy quyền phụ nữ đã được ra:
1. Tháng 2 năm 2005, Tòa Bảo Hiến (Constitutional Court of Korea) đã đưa ra một phán quyết lịch sử, tuyên bố hệ thống đăng ký hộ khẩu tại Hàn Quốc là vi hiến khi chỉ cho phép nam giới là chủ hộ. Tòa cũng cho phép con cái có thể theo họ mẹ chứ không chỉ được theo họ cha như trước đây.
2. Tháng 3 năm 2005, sau khi Tòa Bảo Hiến có phán quyết, Quốc hội Nam Hàn đã có quyết định xóa bỏ hệ thống hộ khẩu cũng như việc chỉ lập nam giới là chủ hộ trên toàn quốc bằng việc sửa đổi Bộ luật Dân sự (Civil Code). Bộ luật mới được chính thức thực thi vào đầu năm 2008.
3. Tháng 7 năm 2005, Tối cao Pháp viện Hàn Quốc (Supreme Court of Korea) đã đưa ra phán quyết cho phép phụ nữ có quyền sở hữu và thừa kế cũng như được thực hiện các nghi lễ với tổ tiên giống như nam giới trong phổ hệ (chongjung) của cha mình.
So với phán quyết của Tòa Bảo Hiến và việc sửa đổi luật của Quốc hội Hàn Quốc cùng năm, thì phán quyết của Tối cao Pháp viện lại được đánh giá cao hơn bởi sự ảnh hưởng trực tiếp và tức thì đến quyền của phụ nữ.
Theo đó, những quyền lợi và nghĩa vụ vốn chỉ dành riêng cho nam giới đối với gia đình và tổ tiên đã không còn giá trị pháp lý ở Hàn Quốc. Hơn thế, phụ nữ cũng có quyền được đòi hỏi sự công nhận của dòng tộc cũng như bắt buộc phải cho phép họ thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ đối với tổ tiên.
Phán quyết của Tối cao Pháp viện năm 2005 đã có ảnh hưởng rất lớn đến xã hội Hàn Quốc.
Trong năm 2006, một khảo sát của Viện Nghiên cứu các vấn đề Sức khỏe và Xã hội Hàn Quốc (Korean Institute for Health and Social Affairs) cho biết, chỉ có 10% trong số 5.400 phụ nữ đã lập gia đình được hỏi, trả lời là họ phải sinh con trai. Trong khi đó, vào năm 1991, với một khảo sát tương tự thì có đến 40% phụ nữ nói họ phải có con trai.
Hai năm sau, vào năm 2007, Ngân hàng Thế giới đã ghi nhận đó là năm đầu tiên tỷ lệ giới tính của trẻ sơ sinh tại đây có xu hướng đổi chiều, khi phụ huynh bắt đầu không phân biệt giới tính và ưu tiên việc sinh con trai nữa.
Vai trò lớn của các nhóm xã hội dân sự
Những cải cách pháp luật gây chấn động xã hội năm 2005 không tự nhiên mà có. Đó là kết quả của một quá trình vận động và đấu tranh rất dài hơi tại Hàn Quốc.
Ảnh: Phụ nữ Hàn Quốc tại một cuộc hội nghị hàng năm đòi quyền cho phụ nữ. Yonhap/EPA
Trong thời kỳ độc tài và trước khi bắt đầu quá trình dân chủ hóa vào năm 1988, chế độ phụ hệ đã được chính quyền nâng cao nhằm siết chặt các giá trị tự do dân chủ tại Hàn Quốc, từ gia đình cho đến xã hội. Vì thế, luật pháp Hàn Quốc lúc đó không ngại đẩy mạnh giá trị của nam giới bằng cách ban hành rất nhiều điều luật bất công đối với phụ nữ, mà hệ thống đăng ký hộ khẩu nói trên là một ví dụ.
Tuy nhiên, song song với việc đòi hỏi dân chủ hóa tại Hàn Quốc, những người đấu tranh cho quyền phụ nữ cũng bắt đầu cất lên tiếng nói của mình. Những cuộc vận động đòi hỏi sửa đổi Bộ luật Gia đình đã được tiến hành ở Hàn Quốc vào những năm 1965, 1977, và 1989.
Lần thay đổi Bộ Luật Gia đình vào năm 1989-1990 là lần thay đổi lớn nhất và đó cũng cùng vào thời điểm Nam Hàn bắt đầu quá trình chuyển đổi dân chủ.
Sau lần sửa đổi vào năm 1990, Bộ luật Gia đình Hàn Quốc đã công nhận quyền thừa kế của phụ nữ cũng như cho phụ nữ có thêm quyền lợi để vợ chồng có thể trở nên bình đẳng hơn trong hôn nhân.
Trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2000, các tổ chức xã hội dân sự (XHDS) tại Hàn Quốc tiếp tục công việc thúc đẩy bình đẳng giới thông qua vận động cải cách pháp lý. Các cuộc vận động xóa bỏ chế độ hộ khẩu và yêu cầu cho phép con cái có thể chọn theo họ mẹ đã được bắt đầu từ năm 1997.
Đối với vấn đề chuyển đổi xu hướng chuộng sinh con trai, chính phủ cũng sửa đổi một số luật y tế trong thời gian này. Nhằm chấm dứt việc bỏ thai bé gái, vào giữa thập niên 1990, đạo luật cấm các bác sỹ tiết lộ giới tính của thai nhi đã được thắt chặt hơn khi thêm vào điều khoản án tù cho những bác sỹ vi phạm.
Ngoài ra, các tổ chức XHDS cũng đã yêu cầu chính phủ phải thực thi các công ước quốc tế mà họ đã ký kết về bảo vệ quyền phụ nữ. Hàn Quốc đã ký kết Công ước Quốc tế loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (UN Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination Against Women – CEDAW) vào năm 1983 và đã thông qua tại Quốc Hội năm 1984.
Các thay đổi trong cấu trúc xã hội Hàn Quốc cũng góp phần xóa bỏ bất bình đẳng cho phụ nữ. Song song với việc phát triển kinh tế, địa vị xã hội của phụ nữ tại Hàn Quốc cũng có những thay đổi tiến bộ khi họ tham gia nhiều hơn vào đội ngũ lao động, đặc biệt là trong giới trí thức. Về chính trị, cũng có nhiều phụ nữ trở thành những nhà lập pháp và nắm giữ các chức vụ quan trọng hơn trong 20 năm qua.
***
Ngày nay, chính phủ Hàn Quốc vẫn tiếp tục tạo ra những chính sách góp phần thúc đẩy việc bình đẳng giới. Chẳng hạn như nam giới được khuyến khích giúp vợ chăm sóc con mới sinh qua việc họ cũng được hưởng chế độ nghỉ có lương như phụ nữ. Ngoài ra, các tổ chức XHDS có những chương trình giúp đỡ nam giới học làm việc nhà và chăm sóc trẻ em.
Một trong những lập luận đề cao việc sinh con trai ở các nước Á Đông, trong đó có Việt Nam, là quan niệm chỉ có nam giới mới có thể thực hiện hết các nghĩa vụ hiếu đạo đối với cha mẹ và tổ tiên.
Các thẩm phán của Tối cao Pháp viện Hàn Quốc trong án lệ lịch sử năm 2005 đã xóa bỏ các “lệ làng” này và công nhận phụ nữ cũng có thể gánh vác bổn phận hiếu đạo với dòng họ thuộc phổ hệ của cha mình.
Từ năm 2000 đến nay, trái ngược với Hàn Quốc, Việt Nam từ một nước vốn có tỷ số giới tính bình đẳng giữa bé trai và bé gái sơ sinh lại trở thành một nước có mức báo động về tình trạng tỷ số bé trai quá cao so với bé gái: từ 110,5 bé trai/100 bé gái năm 2009 lên 111,9 bé trai/100 bé gái năm 2011, và tăng lên 112,8 bé trai/100 bé gái năm 2015.
Liệu câu chuyện và bài học của Hàn Quốc có thể giúp cải thiện tình trạng mất cân bằng giới ở trẻ sơ sinh và xa hơn nữa là thực thi bình đẳng giới thực sự tại Việt Nam trong tương lai gần nhất?
TẠI SAO HỌ ĐÃ VÀ ĐANG TÀN PHÁ ĐẤT NƯỚC NÀY KHÔNG GỚM TAY ! (bài này đăng ngày 29/1/2014 , cách đây đúng ba năm) . Hình : Nử 'tỉ phú phố núi Hà Tĩnh' này đã đập bỏ 1 villa gần 300 tỉ ở HN vì ko hợp phong thủy , v.v... 1/ Theo hoangtrunghaihuelua.blogspot.com thì người đẹp này là người tình của Phó TT HOÀNG TRUNG HÃI . Bạn vào blog này , sẽ thấy các đại quan như Phạm Quý Ngọ , Hoàng Trung Hãi , Vũ đức Đam , v.v... đã và đang PHÁ NÁT nền kinh tế VN qua việc giao cho các nhà thầu TQ khai thác quặng mỏ kể cả mỏ quý hiếm, xây các nhà máy điện , v.v... . Những người viết hay comment trên blog đều là đảng viên , chuyên gia , v.v... từng là đồng nghiệp của HỌ ; và ghi tên và địa chỉ rõ ràng . Riêng về ngân hàng thì HỌ bất chấp luật lệ thế giới , đến nỗi ông Bùi Kiến Thành đã nói , các NH của VN hoạt động NGOÀI VÒNG PHÁP LUẬT . 2/ BS Hồ Hãi , trong 1 bài viết , đã nghĩ rằng , có thể trong kiếp trước HỌ là các QUAN QUÂN của CHIÊM THÀNH , nay đầu thai để trả thù dân Việt , vì tổ tiên của chúng ta đã tiêu diệt dân tộc này . Do vậy HỌ đã coi dân tộc này như KẺ THÙ của họ , nên 'tàn sát' không gớm tay . Tôi cũng suy nghĩ như vậy . Chỉ có giải thích như vậy mới hiểu được sự TÀN PHÁ KHỦNG KHIẾP của HỌ trên mọi lãnh vực của đất nước : chính trị , kinh tế , giáo dục , văn hóa , xã hội , v.v... Cả DÂN TỘC này đã và đang là NẠN NHÂN của HỌ ! Cả VŨ TRỤ này được chi phối bởi LUẬT NHÂN QUẢ . Đạo Phật có câu , 'muốn biết kiếp trước tạo nhân gì , hảy xem kiếp này hưởng quả gì' . http://nguyentandung.org/muon-mat-dai-gia-viet-go-kho-bai-2-gia-nhu-ai-cung-dot-tien-nhu-chi-lieu.html
CẢNH SÁT BẮC KINH KỊP THỜI ĐÁP ỨNG PHẢN HỒI CỦA BỊNH NHÂN , CÒN VIỆT NAM THÌ SAO ?
"CS Bắc Kinh TQ đã bắt 12 cò (scalper *) bịnh viện tại ba bv ở nội ô của Bắc kinh tiếp sau 1 video gây bão mạng khi 1 phụ nữ nỗi giận khi bị cò làm tiền .
Phụ nữ trong video này nói cô đã chờ HAI NGÀY để làm hẹn khám ngoại trú (outpatient appointment) , nhưng vẫn chưa có phiếu . Một cò bảo cô đưa 4.500 NDT (684 đô) , để có phiếu , dù phiếu hẹn chỉ giá 300 ndt .
Cô ta nói NV của BV đã đồng lõa (collude) với cò . Nhưng BV đã chối bỏ kết cáo buộc này .
Cò vé (ticket scalping) là vấn đề lớn tại các bv và ga xe lửa trong mùa lễ .
Những bv trang bị đầy đủ tại Bắc kinh đã thu hút BN khắp nước , dẫn đến quá tải và gây khó khăn để làm hẹn .
Dầu làm hẹn bằng phone và internet đã dùng tại bv nhưng cò bv vẫn hoạt động (remain rampant) tại các bv lớn ở Bắc Kinh và các tp lớn ". Dịch từ : english.sina.com
Đăng bởi Tiểu Nhi on Thursday, January 26, 2017 | 26.1.17
Khi mới từ nước ngoài trở về Việt Nam, không ít người có cảm giác lạ lẫm khi đọc báo thấy những trí thức khoa bảng luôn được kèm theo danh hiệu Giáo Sư (GS), Phó Giáo Sư (PGS), Tiến Sĩ (TS), và nhất là khi những danh hiệu này đi kèm nhau: GS TS, PGS TS. [1] Thậm chí, nhiều bạn đã có tiến sĩ, là giáo sư ở nước ngoài, cảm thấy ngượng ngùng, bối rối khi “được” gọi như vậy trên các phương tiện truyển thông đại chúng, không liên hệ gì đến học thuật, ở Việt Nam. Hơi ngượng, khá bối rối, nhưng rồi lại không dám yêu cầu báo chí không gọi là tiến sĩ vì như thế lại e bị hiểu lầm là lập dị, là “kênh kiệu ngược” (reverse snobbery)
Thực ra, so với vô số đại sự của quốc gia thì chuyện danh xưng này quả là “nhỏ như con thỏ”, nhưng nhân dịp Tết nhứt, xin có đôi dòng phiếm luận để giải khuây cho bạn đọc.
Bằng tiến sĩ chứng tỏ điều gì và để làm gì? [2]
Ai đã lấy PhD ở Mỹ đều biết rằng bằng cấp này chỉ là một cái vé vào cửa để được phỏng vấn khi đi xin việc ở các đại học, các viện nghiên cứu ở nước ngoài. Thế thôi. Theo nhà kinh tế nổi tiếng Michael Spence (Nobel 2001) thì bằng cấp (do một đại học có uy tín cấp) cốt yếu là một tờ giấy chứng nhận cho những người không có cách nào khác để chứng tỏ khả năng (trong đó có sự kiên trì) của mình. Spence giải thích: Một người có thực tài, ai nhìn cũng thấy ngay, thì không cần bằng cấp khi đi xin việc! Nói theo thuật ngữ kinh tế: Bằng cấp là một “tín hiệu cho thị trường”.
Tiến sĩ là một bằng cấp tối hậu (terminal degree) của hệ thống giáo dục hiện đại, nhưng nó chỉ là một (trong nhiều) chỉ dấu của trí thức. Và ngay khi là chỉ dấu như thế, nó cũng không là chỉ đấu tột bực. Ở các nước có một nền học thuật lâu đời, bằng tiến sĩ chỉ là một tấm vé để bước chân vào ngưỡng cửa của cộng đồng nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học. Nó không phải là “vinh quang” tối hậu của một sự nghiệp học thuật. Uy tín của một nhà nghiên cứu, của một giáo sư tùy thuộc hoàn toàn vào những thành tựu của người ấy sau khi đã có tiến sĩ (Einstein, chẳng hạn, không cần ai gọi mình là GS TS!). Thậm chí, một nhà khoa học xuất chúng, dù không có bằng tiến sĩ vẫn được xã hội nễ trọng hơn những người có tiến sĩ, nếu người ấy có một sự nghiệp học thuật tầm vóc.
Đi đâu cũng tự xưng, hay đòi người khác gọi mình là Giáo Sư Tiến Sĩ (dù là giáo sư tiến sĩ thật, không phải dỏm), không chỉ là làm dáng, phô trương, nhưng còn cho mình một cảm giác (thường) sai lầm về những thành tụu thật sự của bản thân, rằng mình hiện đã đạt đến tột đỉnh của học thuật, và khó tránh khỏi sự tự mãn đầy kiêu căng. Không gì “phản trí thức” hơn phong thái ấy.
Tự xưng và gọi nhau là GS TS thì có hại gì?
Nhiều người sẽ bảo, dù các cơ quan truyền thông có tâng bốc các giáo sư tiến sĩ, không bao giờ quên kèm theo học vị học hàm khi viết tên họ, thì có hại gì ai? Sao không xem đó như phản ảnh sự kính trọng “kẻ sĩ” của văn hóa Việt Nam? Vâng, nhìn từ một góc cạnh nhỏ hẹp thì quả việc này là không đáng kể so với những vấn đề trọng đại đất nước. Tuy nhiên, nó có thể liên hệ đến những hiện tượng khác làm suy giảm chất lượng đòi sống của chúng ta. Chẳng hạn như:
Bằng cách tung hô danh xưng GS, PGS, TS... các cơ quan truyền thông vô tình đơn điệu hóa thang trí thức học thuật, và từ đó, đến giá trị xã hội. Bởi, như đã nói, những học hàm, học vị này là chức vụ trong lãnh vực giáo dục, là một chỉ dấu của khả năng nghiên cứu. Chúng không nhất thiết có hàm ý nào về giá trị toàn diện của con người (mà phần chính, hiển nhiên, là đạo đức). Gắn kết học vị học hàm, mà không một đặc điểm nào khác, với danh tính một người là mặc nhiên đưa nó lên vị trí hàng đầu. Nói thẳng ra, theo ý người viết bài này, chính “thói quen” này của giới truyền thông đã giúp duy trì nạn “sính bằng cấp” trong xã hội Việt Nam.
Nạn sính bằng cấp, từ đó, sẽ có hậu quả dễ hiểu đến chất lượng tiến sĩ: Khi mà sự ham muốn bằng cấp không thể được thỏa mãn vì khả năng học tập và nghiên cứu của “đương sự” là “có hạn” thì tất nhiên sẽ sinh ra những tiến sĩ dỏm, những luận văn không đáng được gọi là luận văn. Báo chí đừng gọi họ là tiến sĩ nữa thì chất lượng tiến sĩ sẽ khá lên, vì lúc ấy chỉ những người thật sự có năng lực, có trí tuệ, đam mê nghiên cứu, giảng dạy... mới bỏ công dùi mài kinh sách trong một chương trình tiến sĩ, loại bỏ những “phần tử” “sinh ra không phải để theo đuổi học thuật” (mà trong một xã hội bình thường là hoàn toàn bình thường, không có gì để mặc cảm), chạy chọt lấy "tiến sĩ' chỉ vì hám danh. Gạn lọc những phần tử “không thích hợp” này thì chất lượng tiền sĩ đương nhiên sẽ khá lên!
“Giải pháp”
Báo chí vô tình cũng là tòng phạm trong hiện tượng này. Vì thói quen, hay để “tâng bốc” đương sự, báo chí ít khi quên gọi một giáo sư tiến sĩ là GS/PGS TS. Bởi vậy, tôi nghĩ, các giáo sư tiến sĩ khi được phòng vấn, hãy nói thẳng với phóng viên là không cần để là GS TS trước tên ông/bà.
Song, phải nhìn nhận, đây là một tập quán khó thay đổi. Nếu một cá nhân muốn như thế và yêu cầu người phỏng vấn mình làm như thế thì cũng chưa chắc nhà báo sẽ nghe theo, vì nhà báo cũng muốn được hãnh diện là họ phỏng vấn một vị “giáo sư, tiến sĩ” chứ không phải “thường dân”!
Vậy, có vài đề nghị:
(1) Nếu người ấy có hiện giữ một chức vụ khác (Bộ trưởng, Chủ tịch...) thì chỉ nên dùng những chức vụ hiện tại, không cần phải thêm là GS TS gì cả.
(2) GS, hoặc TS là đủ, không cần gọi cả hai (GS TS). Ở các quốc gia có những danh hiệu này lâu đời, hầu hết giáo sư đều có tiến sĩ, gọi GS TS là thừa. Nên để ý rằng tiến sĩ có thể không là giáo sư (chẳng hạn như những nhà khoa học làm việc trong các viện nghiên cứu)
(3) Chỉ tự xưng là giáo sư hay tiến sĩ trong những hoàn cảnh mà danh hiệu ấy chuyển tải một thông tin có ich cho người đọc/nghe, và nếu người đối thoại không biết thông tin ấy. [3] Theo tôi, chỉ nên gọi giáo sư (hoặc tiến sĩ, không cần cả hai) trong khuôn viên đại học, viện nghiên cứu, hoặc trong các hội nghị, hội thảo khoa hoc.
Mời xem Video: Tử vi của cựu Thủ tướng Ba Dũng: Đinh Dậu lành ít, dữ nhiều, nạn binh đao có thể đầu rơi máu chảy
Tôn vinh những người có đạo đức, thực tâm, thực tài là một điều xã hội nên làm. Nhưng để tôn vinh những người xứng đáng, và với sự trân quý thật lòng, xã hội không nên dừng lại ở danh hiệu tiến sĩ mà phải chịu khó tìm biết xem người ấy có những công trình nghiên cứu, những đóng góp khoa học nào, dạy ở trường nào, bao nhiêu năm... và thể hiện sự nễ trọng (nếu thấy họ xứng đáng) bằng cách nghiêm túc lắng nghe ý kiến của họ, đọc những gì họ viết. Dù rằng việc kiểm chứng ấy sẽ không dễ đối với đa số không quen thuộc với môi trường học thuật (nhưng lắm khi Google vài phút là biết ngay!), song đó cũng là một cách nâng cao kiến thức của mọi người. Một trí thức đích thực sẽ vô cùng cảm kích khi đối thoại với một người quan tâm đến nghiên cứu của mình, được nghe những câu hỏi phản ảnh một sự hiểu biết về công việc và những thành tựu của trí thức ấy. Đó là cách tốt nhất để tôn vinh “tiến sĩ”!
Trần Hữu Dũng 15/12/2016
------------------------------ [1] Nhiều quốc gia khác, như Nga, Đức, cũng có phong tục này, nhưng tôi không biết nhiều về bối cảnh xã hội và truyền thống lịch sử của họ nên chỉ xin nói về trường hợp Việt Nam. Đèn nhà ai nấy sáng!
[2] Xin nói rõ, đây là nói về bằng tiến sĩ “thật”. Dường như vấn nạn tiến sĩ dỏm, tiến sĩ kém chất lượng, cũng rất trầm trọng ở Việt Nam, nhưng đó là một vấn đề khác.
[3] Ví dụ, nếu trên máy bay có một hành khách ngả bệnh, và nếu bạn là bác sĩ, thì bạn có quyền (đúng ra là bổn phận!) hô lớn: Tôi là bác sĩ! Nhưng bạn không cần phô trương học hàm học vị của bạn với người bán cà phê chẳng hạn!
(Thời Báo Kinh tế Sài Gòn)
HS Mỹ thuộc lòng quyền của mình ngay lớp 4 :
1. Quyền tự do tín ngưỡng theo cách riêng của mình
2. Quyền tự do ngôn luận và báo chí
3. Quyền than phiền một cách trung thực và công tâm nhất
4. Quyền có sự riêng tư trong nhà mình
5. Quyền sở hữu tài sản cá nhân
6. Quyền sở hữu, giữ và chống lại vũ khí
7. Quyền di chuyển tự do trong nhà và bên ngoài nhà
8. Quyền được hầu tòa – nếu không có tiền bảo lãnh
9. Quyền được xét xử – được cho là vô tội cho tới khi có chứng cứ
10. Quyền tự do bầu cử và bỏ phiếu
11. Quyền được nhận các dịch vụ của chính phủ với tư cách một người bảo hộ và người phân xử
12. Quyền không tuân theo những kiểm soát và những quy định độc đoán của chính phủ
13. Quyền làm việc trong những lĩnh vực và địa điểm mà chúng ta lựa chọn
14. Quyền mặc cả hàng hóa và các dịch vụ ở một chợ tự do
15. Quyền ký hợp đồng liên quan đến vấn đề của chúng ta