Sunday, January 29, 2017

Hàn Quốc: phụ nữ không còn lo Tết nhà nội hay Tết nhà ngoại

Tương tự như Việt Nam, Hàn Quốc cũng ăn mừng Tết Âm lịch. Trong tiếng Hàn, Tết Âm lịch gọi là Seollal, là một trong những ngày lễ lớn và quan trọng nhất trong năm tại đây. Tuy nhiên, phụ nữ Hàn hầu như không còn phải đau đầu với nan đề “Tết nhà nội hay Tết nhà ngoại” như ở Việt Nam.
Phụ nữ Hàn Quốc giờ đây tự do hơn và ít bị lễ giáo ràng buộc hơn. Ảnh: weddinggritz.com.
Trả lời phỏng vấn Luật Khoa tạp chí, cô Soo Suh, một nhà hoạt động nhân quyền và dân chủ tại Seoul, Hàn Quốc cho biết: “Trước đây, sau khi kết hôn thì phụ nữ Hàn Quốc cũng chỉ chú trọng vào việc chăm sóc gia đình chồng và thăm hỏi bố mẹ chồng vào các ngày lễ tết. Tuy nhiên, điều đó không còn đúng trong vòng 10 năm trở lại đây.”
Theo cô Soo, thực tế đang diễn ra ở Hàn Quốc là đa số các cặp vợ chồng đều ra riêng, và dịp Tết Âm lịch là khi họ đi thăm bố mẹ của cả hai. Kế đến là xã hội Hàn Quốc đang có xu hướng nhấn mạnh việc thăm viếng và chăm sóc gia đình hai bên nội ngoại phải được xem trọng như nhau.
“Nếu như vì ở quá xa hoặc không đủ thời gian thăm cả hai bên trong cùng một dịp lễ thì họ sẽ chia đều giữa ngày lễ Tết Âm lịch và ngày lễ Chuseok (ngày rằm tháng 8 lịch Âm và là lễ gia đình đoàn viên tại Hàn Quốc) giữa hai bên nội ngoại”, cô Soo cho biết.
Không còn chuộng sinh con trai hơn con gái
Bằng chứng mạnh mẽ nhất cho sự bình đẳng nam nữ ở Hàn Quốc là tỷ lệ giới tính của trẻ sơ sinh tại đây. Khác với các nước như Trung Quốc hay Việt Nam, phụ huynh Hàn không còn chuộng sinh con trai hơn con gái.
Câu khẩu hiệu “1 bé gái bằng 10 bé trai” của chính phủ Hàn Quốc trong những năm 1990 đã không chỉ là câu nói sáo rỗng.
Theo một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới năm 2007, Nam Hàn là nước Châu Á đầu tiên chuyển đổi được xu hướng mất cân bằng giới tính của trẻ sơ sinh.
Từ một nước có tỷ lệ giới tính sơ sinh là 116,5 bé trai/100 bé gái vào năm 1990, đến năm 2007 thì tỷ lệ này chỉ còn 107,4 bé trai/100 bé gái tại Nam Hàn. Và đến năm 2013, tỷ lệ này lại hạ xuống còn 105,3 bé trai/100 bé gái, ngang bằng tỷ lệ của các nước phát triển ở Âu Mỹ.
Cũng như những quốc gia Châu Á bị ảnh hưởng bởi tư tưởng Khổng Nho, Hàn Quốc vốn là một xã hội với hệ thống luật pháp coi trọng và bảo vệ nam giới một cách tuyệt đối.
Thế nhưng, tỷ lệ giới tính của trẻ sơ sinh tại Hàn Quốc từ năm 2013 đến nay đã cho thấy vấn đề trọng nam khinh nữ đang từng bước bị xóa bỏ, khi xã hội không còn cho rằng bé trai có giá trị hơn bé gái hay nam giới phải được xem trọng hơn nữ giới.
Điều gì đã và đang xảy ra ở Hàn Quốc?
Ảnh: Tỷ lệ giới tính của trẻ sơ sinh tại Hàn Quốc hiện nay là cân bằng giữa nam và nữ (aminoapps.com)
Phụ nữ có thể khai sinh con theo họ mẹ, được đứng tên trên hộ khẩu và có quyền thờ tự, thừa kế như nam giới
Là một quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của Khổng giáo, hệ thống pháp luật tại Hàn Quốc đã từng đặt nặng chế độ phụ hệ và nhấn mạnh yếu tố trọng nam khinh nữ.
Hàn Quốc đã từng sử dụng hệ thống đăng ký hộ khẩu để quản lý người dân tương tự như ở Việt Nam. Nhưng tại Hàn Quốc, hệ thống đăng ký hộ khẩu (hoju) còn là rào cản rất lớn đối với người phụ nữ vì chỉ cho phép nam giới là chủ hộ.
Trước năm 2005, một người phụ nữ chưa kết hôn phải đăng ký hộ khẩu tại nơi cư trú của cha mình và dưới tên của ông. Sau khi thành hôn, phụ nữ phải đăng ký hộ khẩu dưới tên chồng. Nếu ly hôn, con cái vẫn phải tiếp tục đăng ký hộ khẩu cùng người bố cho dù chúng có sống riêng với người mẹ đi chăng nữa. Nếu người mẹ tái hôn thì con riêng vẫn không thể nhập tịch vào hộ của cha dượng mà vẫn phải giữ cùng hộ với cha đẻ.
Vào năm 2005, 3 cải cách pháp lý lớn giúp thúc đẩy quyền phụ nữ đã được ra:
1. Tháng 2 năm 2005, Tòa Bảo Hiến (Constitutional Court of Korea) đã đưa ra một phán quyết lịch sử, tuyên bố hệ thống đăng ký hộ khẩu tại Hàn Quốc là vi hiến khi chỉ cho phép nam giới là chủ hộ. Tòa cũng cho phép con cái có thể theo họ mẹ chứ không chỉ được theo họ cha như trước đây.
2. Tháng 3 năm 2005, sau khi Tòa Bảo Hiến có phán quyết, Quốc hội Nam Hàn đã có quyết định xóa bỏ hệ thống hộ khẩu cũng như việc chỉ lập nam giới là chủ hộ trên toàn quốc bằng việc sửa đổi Bộ luật Dân sự (Civil Code). Bộ luật mới được chính thức thực thi vào đầu năm 2008.
3. Tháng 7 năm 2005, Tối cao Pháp viện Hàn Quốc (Supreme Court of Korea) đã đưa ra phán quyết cho phép phụ nữ có quyền sở hữu và thừa kế cũng như được thực hiện các nghi lễ với tổ tiên giống như nam giới trong phổ hệ (chongjung) của cha mình.
So với phán quyết của Tòa Bảo Hiến và việc sửa đổi luật của Quốc hội Hàn Quốc cùng năm, thì phán quyết của Tối cao Pháp viện lại được đánh giá cao hơn bởi sự ảnh hưởng trực tiếp và tức thì đến quyền của phụ nữ.
Theo đó, những quyền lợi và nghĩa vụ vốn chỉ dành riêng cho nam giới đối với gia đình và tổ tiên đã không còn giá trị pháp lý ở Hàn Quốc. Hơn thế, phụ nữ cũng có quyền được đòi hỏi sự công nhận của dòng tộc cũng như bắt buộc phải cho phép họ thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ đối với tổ tiên.
Phán quyết của Tối cao Pháp viện năm 2005 đã có ảnh hưởng rất lớn đến xã hội Hàn Quốc.
Trong năm 2006, một khảo sát của Viện Nghiên cứu các vấn đề Sức khỏe và Xã hội Hàn Quốc (Korean Institute for Health and Social Affairs) cho biết, chỉ có 10% trong số 5.400 phụ nữ đã lập gia đình được hỏi, trả lời là họ phải sinh con trai. Trong khi đó, vào năm 1991, với một khảo sát tương tự thì có đến 40% phụ nữ nói họ phải có con trai.
Hai năm sau, vào năm 2007, Ngân hàng Thế giới đã ghi nhận đó là năm đầu tiên tỷ lệ giới tính của trẻ sơ sinh tại đây có xu hướng đổi chiều, khi phụ huynh bắt đầu không phân biệt giới tính và ưu tiên việc sinh con trai nữa.
Vai trò lớn của các nhóm xã hội dân sự
Những cải cách pháp luật gây chấn động xã hội năm 2005 không tự nhiên mà có. Đó là kết quả của một quá trình vận động và đấu tranh rất dài hơi tại Hàn Quốc.
Ảnh: Phụ nữ Hàn Quốc tại một cuộc hội nghị hàng năm đòi quyền cho phụ nữ. Yonhap/EPA
Trong thời kỳ độc tài và trước khi bắt đầu quá trình dân chủ hóa vào năm 1988, chế độ phụ hệ đã được chính quyền nâng cao nhằm siết chặt các giá trị tự do dân chủ tại Hàn Quốc, từ gia đình cho đến xã hội. Vì thế, luật pháp Hàn Quốc lúc đó không ngại đẩy mạnh giá trị của nam giới bằng cách ban hành rất nhiều điều luật bất công đối với phụ nữ, mà hệ thống đăng ký hộ khẩu nói trên là một ví dụ.
Tuy nhiên, song song với việc đòi hỏi dân chủ hóa tại Hàn Quốc, những người đấu tranh cho quyền phụ nữ cũng bắt đầu cất lên tiếng nói của mình. Những cuộc vận động đòi hỏi sửa đổi Bộ luật Gia đình đã được tiến hành ở Hàn Quốc vào những năm 1965, 1977, và 1989.
Lần thay đổi Bộ Luật Gia đình vào năm 1989-1990 là lần thay đổi lớn nhất và đó cũng cùng vào thời điểm Nam Hàn bắt đầu quá trình chuyển đổi dân chủ.
Sau lần sửa đổi vào năm 1990, Bộ luật Gia đình Hàn Quốc đã công nhận quyền thừa kế của phụ nữ cũng như cho phụ nữ có thêm quyền lợi để vợ chồng có thể trở nên bình đẳng hơn trong hôn nhân.
Trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2000, các tổ chức xã hội dân sự (XHDS) tại Hàn Quốc tiếp tục công việc thúc đẩy bình đẳng giới thông qua vận động cải cách pháp lý. Các cuộc vận động xóa bỏ chế độ hộ khẩu và yêu cầu cho phép con cái có thể chọn theo họ mẹ đã được bắt đầu từ năm 1997.
Đối với vấn đề chuyển đổi xu hướng chuộng sinh con trai, chính phủ cũng sửa đổi một số luật y tế trong thời gian này. Nhằm chấm dứt việc bỏ thai bé gái, vào giữa thập niên 1990, đạo luật cấm các bác sỹ tiết lộ giới tính của thai nhi đã được thắt chặt hơn khi thêm vào điều khoản án tù cho những bác sỹ vi phạm.
Ngoài ra, các tổ chức XHDS cũng đã yêu cầu chính phủ phải thực thi các công ước quốc tế mà họ đã ký kết về bảo vệ quyền phụ nữ. Hàn Quốc đã ký kết Công ước Quốc tế loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (UN Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination Against Women – CEDAW) vào năm 1983 và đã thông qua tại Quốc Hội năm 1984.
Các thay đổi trong cấu trúc xã hội Hàn Quốc cũng góp phần xóa bỏ bất bình đẳng cho phụ nữ. Song song với việc phát triển kinh tế, địa vị xã hội của phụ nữ tại Hàn Quốc cũng có những thay đổi tiến bộ khi họ tham gia nhiều hơn vào đội ngũ lao động, đặc biệt là trong giới trí thức. Về chính trị, cũng có nhiều phụ nữ trở thành những nhà lập pháp và nắm giữ các chức vụ quan trọng hơn trong 20 năm qua.
***
Ngày nay, chính phủ Hàn Quốc vẫn tiếp tục tạo ra những chính sách góp phần thúc đẩy việc bình đẳng giới. Chẳng hạn như nam giới được khuyến khích giúp vợ chăm sóc con mới sinh qua việc họ cũng được hưởng chế độ nghỉ có lương như phụ nữ. Ngoài ra, các tổ chức XHDS có những chương trình giúp đỡ nam giới học làm việc nhà và chăm sóc trẻ em.
Một trong những lập luận đề cao việc sinh con trai ở các nước Á Đông, trong đó có Việt Nam, là quan niệm chỉ có nam giới mới có thể thực hiện hết các nghĩa vụ hiếu đạo đối với cha mẹ và tổ tiên.
Các thẩm phán của Tối cao Pháp viện Hàn Quốc trong án lệ lịch sử năm 2005 đã xóa bỏ các “lệ làng” này và công nhận phụ nữ cũng có thể gánh vác bổn phận hiếu đạo với dòng họ thuộc phổ hệ của cha mình.
Từ năm 2000 đến nay, trái ngược với Hàn Quốc, Việt Nam từ một nước vốn có tỷ số giới tính bình đẳng giữa bé trai và bé gái sơ sinh lại trở thành một nước có mức báo động về tình trạng tỷ số bé trai quá cao so với bé gái: từ 110,5 bé trai/100 bé gái năm 2009 lên 111,9 bé trai/100 bé gái năm 2011, và tăng lên 112,8 bé trai/100 bé gái năm 2015.
Liệu câu chuyện và bài học của Hàn Quốc có thể giúp cải thiện tình trạng mất cân bằng giới ở trẻ sơ sinh và xa hơn nữa là thực thi bình đẳng giới thực sự tại Việt Nam trong tương lai gần nhất?
Tài liệu tham khảo:
TẠI SAO HỌ ĐÃ VÀ ĐANG TÀN PHÁ ĐẤT NƯỚC NÀY KHÔNG GỚM TAY !
(bài này đăng ngày 29/1/2014 , cách đây đúng ba năm) .
Hình : Nử 'tỉ phú phố núi Hà Tĩnh' này  đã đập bỏ 1 villa gần 300 tỉ ở HN vì ko hợp phong thủy , v.v... 
1/ Theo hoangtrunghaihuelua.blogspot.com thì người đẹp này là người tình của Phó TT HOÀNG TRUNG HÃI . 
Bạn vào blog này , sẽ thấy các đại quan như Phạm Quý Ngọ , Hoàng Trung Hãi , Vũ đức Đam , v.v... đã và đang PHÁ NÁT nền kinh tế VN qua việc giao cho các nhà thầu TQ khai thác quặng mỏ kể cả mỏ quý hiếm, xây các nhà máy điện , v.v... . Những người viết hay comment trên blog đều là đảng viên , chuyên gia , v.v... từng là đồng nghiệp của HỌ ; và ghi tên và địa chỉ rõ ràng . Riêng về ngân hàng thì HỌ bất chấp luật lệ thế giới , đến nỗi ông Bùi Kiến Thành đã nói , các NH của VN hoạt động NGOÀI VÒNG PHÁP LUẬT .
2/ BS Hồ Hãi , trong 1 bài viết , đã nghĩ rằng , có thể trong kiếp trước HỌ là các QUAN QUÂN của CHIÊM THÀNH , nay đầu thai để trả thù dân Việt , vì tổ tiên của chúng ta đã tiêu diệt dân tộc này . Do vậy HỌ đã coi dân tộc này như KẺ THÙ của họ , nên 'tàn sát' không gớm tay . Tôi cũng suy nghĩ như vậy . Chỉ có giải thích như vậy mới hiểu được sự TÀN PHÁ KHỦNG KHIẾP của HỌ trên mọi lãnh vực của đất nước : chính trị , kinh tế , giáo dục , văn hóa , xã hội , v.v... Cả DÂN TỘC này đã và đang là NẠN NHÂN của HỌ !
Cả VŨ TRỤ này được chi phối bởi LUẬT NHÂN QUẢ . Đạo Phật có câu , 'muốn biết kiếp trước tạo nhân gì , hảy xem kiếp này hưởng quả gì' .

http://nguyentandung.org/muon-mat-dai-gia-viet-go-kho-bai-2-gia-nhu-ai-cung-dot-tien-nhu-chi-lieu.html
CẢNH SÁT BẮC KINH KỊP THỜI ĐÁP ỨNG PHẢN HỒI CỦA BỊNH NHÂN , CÒN VIỆT NAM THÌ SAO ?

"CS Bắc Kinh TQ đã bắt 12 cò (scalper *) bịnh viện tại ba bv ở nội ô của Bắc kinh tiếp sau 1 video gây bão mạng khi 1 phụ nữ nỗi giận khi bị cò làm tiền .
Phụ nữ trong video này nói cô đã chờ HAI NGÀY để làm hẹn khám ngoại trú (outpatient appointment) , nhưng vẫn chưa có phiếu . Một cò bảo cô đưa 4.500 NDT (684 đô) , để có phiếu , dù phiếu hẹn chỉ giá 300 ndt .
Cô ta nói NV của BV đã đồng lõa (collude) với cò . Nhưng BV đã chối bỏ kết cáo buộc này .
Cò vé (ticket scalping) là vấn đề lớn tại các bv và ga xe lửa trong mùa lễ .
Những bv trang bị đầy đủ tại Bắc kinh đã thu hút BN khắp nước , dẫn đến quá tải và gây khó khăn để làm hẹn .
Dầu làm hẹn bằng phone và internet đã dùng tại bv nhưng cò bv vẫn hoạt động (remain rampant) tại các bv lớn ở Bắc Kinh và các tp lớn ". Dịch từ : english.sina.com
http://english.sina.com/news/2016/0127/885453.html
* Scalp : động từ tiếng Anh có nghĩa "lột da đầu" , nghĩa bóng là "trấn lột" . Danh từ có nghĩa "mảnh da đầu" .

Saturday, January 28, 2017


Đăng bởi Tiểu Nhi on Thursday, January 26, 2017 | 26.1.17


Khi mới từ nước ngoài trở về Việt Nam, không ít người có cảm giác lạ lẫm khi đọc báo thấy những trí thức khoa bảng luôn được kèm theo danh hiệu Giáo Sư (GS), Phó Giáo Sư (PGS), Tiến Sĩ (TS), và nhất là khi những danh hiệu này đi kèm nhau: GS TS, PGS TS. [1] Thậm chí, nhiều bạn đã có tiến sĩ, là giáo sư ở nước ngoài, cảm thấy ngượng ngùng, bối rối khi “được” gọi như vậy trên các phương tiện truyển thông đại chúng, không liên hệ gì đến học thuật, ở Việt Nam. Hơi ngượng, khá bối rối, nhưng rồi lại không dám yêu cầu báo chí không gọi là tiến sĩ vì như thế lại e bị hiểu lầm là lập dị, là “kênh kiệu ngược” (reverse snobbery)

Thực ra, so với vô số đại sự của quốc gia thì chuyện danh xưng này quả là “nhỏ như con thỏ”, nhưng nhân dịp Tết nhứt, xin có đôi dòng phiếm luận để giải khuây cho bạn đọc.

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEijBs7p9AtKDRBceDeXM7Fj399-RP2YEupXM-9GXnTjqIVl63mh5KNsXkrYK-nk-TXH102Fo5qCEjOGd1pYD_he_tQE25Hb0bScKYMaPY8gP1l5Tn96Xsi38AnQnsaEvn0alZTKYk3Venc/s640/yta-dung1.jpg

Bằng tiến sĩ chứng tỏ điều gì và để làm gì? [2]

Ai đã lấy PhD ở Mỹ đều biết rằng bằng cấp này chỉ là một cái vé vào cửa để được phỏng vấn khi đi xin việc ở các đại học, các viện nghiên cứu ở nước ngoài. Thế thôi. Theo nhà kinh tế nổi tiếng Michael Spence (Nobel 2001) thì bằng cấp (do một đại học có uy tín cấp) cốt yếu là một tờ giấy chứng nhận cho những người không có cách nào khác để chứng tỏ khả năng (trong đó có sự kiên trì) của mình. Spence giải thích: Một người có thực tài, ai nhìn cũng thấy ngay, thì không cần bằng cấp khi đi xin việc! Nói theo thuật ngữ kinh tế: Bằng cấp là một “tín hiệu cho thị trường”.

Tiến sĩ là một bằng cấp tối hậu (terminal degree) của hệ thống giáo dục hiện đại, nhưng nó chỉ là một (trong nhiều) chỉ dấu của trí thức. Và ngay khi là chỉ dấu như thế, nó cũng không là chỉ đấu tột bực. Ở các nước có một nền học thuật lâu đời, bằng tiến sĩ chỉ là một tấm vé để bước chân vào ngưỡng cửa của cộng đồng nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học. Nó không phải là “vinh quang” tối hậu của một sự nghiệp học thuật. Uy tín của một nhà nghiên cứu, của một giáo sư tùy thuộc hoàn toàn vào những thành tựu của người ấy sau khi đã có tiến sĩ (Einstein, chẳng hạn, không cần ai gọi mình là GS TS!). Thậm chí, một nhà khoa học xuất chúng, dù không có bằng tiến sĩ vẫn được xã hội nễ trọng hơn những người có tiến sĩ, nếu người ấy có một sự nghiệp học thuật tầm vóc.

Đi đâu cũng tự xưng, hay đòi người khác gọi mình là Giáo Sư Tiến Sĩ (dù là giáo sư tiến sĩ thật, không phải dỏm), không chỉ là làm dáng, phô trương, nhưng còn cho mình một cảm giác (thường) sai lầm về những thành tụu thật sự của bản thân, rằng mình hiện đã đạt đến tột đỉnh của học thuật, và khó tránh khỏi sự tự mãn đầy kiêu căng. Không gì “phản trí thức” hơn phong thái ấy.

Tự xưng và gọi nhau là GS TS thì có hại gì?

Nhiều người sẽ bảo, dù các cơ quan truyền thông có tâng bốc các giáo sư tiến sĩ, không bao giờ quên kèm theo học vị học hàm khi viết tên họ, thì có hại gì ai? Sao không xem đó như phản ảnh sự kính trọng “kẻ sĩ” của văn hóa Việt Nam? Vâng, nhìn từ một góc cạnh nhỏ hẹp thì quả việc này là không đáng kể so với những vấn đề trọng đại đất nước. Tuy nhiên, nó có thể liên hệ đến những hiện tượng khác làm suy giảm chất lượng đòi sống của chúng ta. Chẳng hạn như:

Bằng cách tung hô danh xưng GS, PGS, TS... các cơ quan truyền thông vô tình đơn điệu hóa thang trí thức học thuật, và từ đó, đến giá trị xã hội. Bởi, như đã nói, những học hàm, học vị này là chức vụ trong lãnh vực giáo dục, là một chỉ dấu của khả năng nghiên cứu. Chúng không nhất thiết có hàm ý nào về giá trị toàn diện của con người (mà phần chính, hiển nhiên, là đạo đức). Gắn kết học vị học hàm, mà không một đặc điểm nào khác, với danh tính một người là mặc nhiên đưa nó lên vị trí hàng đầu. Nói thẳng ra, theo ý người viết bài này, chính “thói quen” này của giới truyền thông đã giúp duy trì nạn “sính bằng cấp” trong xã hội Việt Nam.

Nạn sính bằng cấp, từ đó, sẽ có hậu quả dễ hiểu đến chất lượng tiến sĩ: Khi mà sự ham muốn bằng cấp không thể được thỏa mãn vì khả năng học tập và nghiên cứu của “đương sự” là “có hạn” thì tất nhiên sẽ sinh ra những tiến sĩ dỏm, những luận văn không đáng được gọi là luận văn. Báo chí đừng gọi họ là tiến sĩ nữa thì chất lượng tiến sĩ sẽ khá lên, vì lúc ấy chỉ những người thật sự có năng lực, có trí tuệ, đam mê nghiên cứu, giảng dạy... mới bỏ công dùi mài kinh sách trong một chương trình tiến sĩ, loại bỏ những “phần tử” “sinh ra không phải để theo đuổi học thuật” (mà trong một xã hội bình thường là hoàn toàn bình thường, không có gì để mặc cảm), chạy chọt lấy "tiến sĩ' chỉ vì hám danh. Gạn lọc những phần tử “không thích hợp” này thì chất lượng tiền sĩ đương nhiên sẽ khá lên!

“Giải pháp”

Báo chí vô tình cũng là tòng phạm trong hiện tượng này. Vì thói quen, hay để “tâng bốc” đương sự, báo chí ít khi quên gọi một giáo sư tiến sĩ là GS/PGS TS. Bởi vậy, tôi nghĩ, các giáo sư tiến sĩ khi được phòng vấn, hãy nói thẳng với phóng viên là không cần để là GS TS trước tên ông/bà.

Song, phải nhìn nhận, đây là một tập quán khó thay đổi. Nếu một cá nhân muốn như thế và yêu cầu người phỏng vấn mình làm như thế thì cũng chưa chắc nhà báo sẽ nghe theo, vì nhà báo cũng muốn được hãnh diện là họ phỏng vấn một vị “giáo sư, tiến sĩ” chứ không phải “thường dân”!

Vậy, có vài đề nghị:

(1) Nếu người ấy có hiện giữ một chức vụ khác (Bộ trưởng, Chủ tịch...) thì chỉ nên dùng những chức vụ hiện tại, không cần phải thêm là GS TS gì cả.

(2) GS, hoặc TS là đủ, không cần gọi cả hai (GS TS). Ở các quốc gia có những danh hiệu này lâu đời, hầu hết giáo sư đều có tiến sĩ, gọi GS TS là thừa. Nên để ý rằng tiến sĩ có thể không là giáo sư (chẳng hạn như những nhà khoa học làm việc trong các viện nghiên cứu)

(3) Chỉ tự xưng là giáo sư hay tiến sĩ trong những hoàn cảnh mà danh hiệu ấy chuyển tải một thông tin có ich cho người đọc/nghe, và nếu người đối thoại không biết thông tin ấy. [3] Theo tôi, chỉ nên gọi giáo sư (hoặc tiến sĩ, không cần cả hai) trong khuôn viên đại học, viện nghiên cứu, hoặc trong các hội nghị, hội thảo khoa hoc.

Mời xem Video: Tử vi của cựu Thủ tướng Ba Dũng: Đinh Dậu lành ít, dữ nhiều, nạn binh đao có thể đầu rơi máu chảy



Tôn vinh những người có đạo đức, thực tâm, thực tài là một điều xã hội nên làm. Nhưng để tôn vinh những người xứng đáng, và với sự trân quý thật lòng, xã hội không nên dừng lại ở danh hiệu tiến sĩ mà phải chịu khó tìm biết xem người ấy có những công trình nghiên cứu, những đóng góp khoa học nào, dạy ở trường nào, bao nhiêu năm... và thể hiện sự nễ trọng (nếu thấy họ xứng đáng) bằng cách nghiêm túc lắng nghe ý kiến của họ, đọc những gì họ viết. Dù rằng việc kiểm chứng ấy sẽ không dễ đối với đa số không quen thuộc với môi trường học thuật (nhưng lắm khi Google vài phút là biết ngay!), song đó cũng là một cách nâng cao kiến thức của mọi người. Một trí thức đích thực sẽ vô cùng cảm kích khi đối thoại với một người quan tâm đến nghiên cứu của mình, được nghe những câu hỏi phản ảnh một sự hiểu biết về công việc và những thành tựu của trí thức ấy. Đó là cách tốt nhất để tôn vinh “tiến sĩ”!

Trần Hữu Dũng
15/12/2016

------------------------------
[1] Nhiều quốc gia khác, như Nga, Đức, cũng có phong tục này, nhưng tôi không biết nhiều về bối cảnh xã hội và truyền thống lịch sử của họ nên chỉ xin nói về trường hợp Việt Nam. Đèn nhà ai nấy sáng!

[2] Xin nói rõ, đây là nói về bằng tiến sĩ “thật”. Dường như vấn nạn tiến sĩ dỏm, tiến sĩ kém chất lượng, cũng rất trầm trọng ở Việt Nam, nhưng đó là một vấn đề khác.

[3] Ví dụ, nếu trên máy bay có một hành khách ngả bệnh, và nếu bạn là bác sĩ, thì bạn có quyền (đúng ra là bổn phận!) hô lớn: Tôi là bác sĩ! Nhưng bạn không cần phô trương học hàm học vị của bạn với người bán cà phê chẳng hạn!

(Thời Báo Kinh tế Sài Gòn)

HS Mỹ thuộc lòng quyền của mình ngay lớp 4 :
1. Quyền tự do tín ngưỡng theo cách riêng của mình
2. Quyền tự do ngôn luận và báo chí
3. Quyền than phiền một cách trung thực và công tâm nhất
4. Quyền có sự riêng tư trong nhà mình
5. Quyền sở hữu tài sản cá nhân
6. Quyền sở hữu, giữ và chống lại vũ khí
7. Quyền di chuyển tự do trong nhà và bên ngoài nhà
8. Quyền được hầu tòa – nếu không có tiền bảo lãnh
9. Quyền được xét xử – được cho là vô tội cho tới khi có chứng cứ
10. Quyền tự do bầu cử và bỏ phiếu
11. Quyền được nhận các dịch vụ của chính phủ với tư cách một người bảo hộ và người phân xử
12. Quyền không tuân theo những kiểm soát và những quy định độc đoán của chính phủ
13. Quyền làm việc trong những lĩnh vực và địa điểm mà chúng ta lựa chọn
14. Quyền mặc cả hàng hóa và các dịch vụ ở một chợ tự do
15. Quyền ký hợp đồng liên quan đến vấn đề của chúng ta
16. Quyền kinh doanh, cạnh tranh và thu lợi nhuận
Nguồn : http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/159266/hoc-sinh-lop-4-o-my-phai-hoc-thuoc-long-nhung-gi-.html 

Friday, January 27, 2017

Chắc nhiều người biết đào tạo một con người có tri thức về khoa học tự nhiên, về công nghệ kỹ thuật… là khó, nhưng lại tương đối dễ nếu so sánh với đào tạo một con người biết cách sống hòa hợp trong một xã hội văn minh hiện đại và hữu hiệu. Tôi muốn nói tới đào tạo một con người biết cách hành xử theo tiêu chuẩn phổ quát của xã hội văn minh, có lòng nhân bản yêu thương và tôn trọng con người, có tinh thần trách nhiệm với cộng đồng, có ý chí tự lập và độc lập khám phá mọi chân trời tri thức, hiểu rõ cách tổ chức xã hội chính trị của các nước trên thế giới, hiểu rõ trách nhiệm và quyền làm chủ của một cá nhân trong xã hội của thời hiện đại đang phẳng hóa rất nhanh…
Và sản phẩm của sự đào tạo đó không chỉ là một hai cá nhân xuất chúng, mà là cả một xã hội văn minh, có giáo dục cao, nếu chưa đạt mức được thế giới kính trọng như Nhật Bản thì ít ra cũng được dân chúng trong nước hài lòng. . . 
Hậu quả là, trong xã hội Việt Nam, tính trung thực ngày càng bị áp chế, tính không trung thực ngày càng được khuyến khích. Tính nhân đạo ngày càng bị thu hẹp, các hành động phi nhân tính ngày càng nhiều hơn và tàn ác hơn. Con người ngày càng ích kỷ và ngoảnh mặt với cộng đồng. Con người ngày càng ít được tôn trọng.  Kiến thức rộng rãi của thế giới hiện đại khó được tiếp cận và truyền dạy.--Lê Học Cảnh Vân 

Việt Nam sẽ sớm trở thành ‘siêu quốc gia’?

bài của Lê Học Cảnh Vân .

>> Người Việt phủ sóng nail trên đất Mỹ
>> Người đàn bà 30 năm vá xe ở lề đường Sài Gòn
>> Danh hài Chiến Thắng và cát-sê trăm triệu một ngày
>> Google thay logo chúc mừng Tết Nguyên Đán của Việt Nam
>> "Người Việt của trước những năm trước là người Việt lo tết"


Lê Học Lãnh Vân

MTG - Theo Ictnews, tại cuộc Gặp gỡ đầu năm ngành Công nghệ Thông tin do Sở TT-TT TP.HCM tổ chức vào đầu xuân năm ngoái (11.3.2016), GS.TS Đặng Lương Mô phát biểu rằng “Việt Nam có thể trở thành một siêu quốc gia (supernation). Nếu không đạt được các điều kiện để trở thành siêu quốc gia trong 10-20 năm nữa, cơ hội cho Việt Nam những năm sau đó sẽ rất khó”. Nhân dịp đầu năm mới 2017, tôi muốn trở lại vấn đề này.


Dù gọi GS.TS. Đặng Lương Mô là anh, ông thuộc thế hệ thầy của tôi. Tôi có dịp làm việc, bàn bạc với ông về việc phát triển công nghệ cao, và kính trọng tấm lòng ông mong muốn góp sức cho đất nước mạnh giàu.

Theo GS. Đặng Lương Mô, cần 5 điều kiện để thành một siêu quốc gia:

1) Dân số trên 100 triệu người

2) Có thể tự túc 100% về lương thực

3) Có một nền giáo dục hoàn chỉnh

4) Có một nền công nghiệp hoàn chỉnh

5) Chính trị ổn định, xã hội ổn định

Bài viết này xin được thảo luận về 5 điều kiện nói trên của GS, mà xin thưa trước rằng tôi không lạc quan như GS. Các ý kiến phân tích và thảo luận dựa trên bài tường thuật của Ictnews.

Theo tôi thì điều kiện căn bản để một quốc gia có thể tăng trưởng giàu mạnh và ấm no một cách bền vững là một nền giáo dục hoàn chỉnh với một dân trí đủ cao. GS. Mô cho rằng “Việt Nam có thể coi là đã đạt được” một nền giáo dục hoàn chỉnh. Tôi có thể ít nhiều đồng ý với đánh giá của GS, nhưng chỉ về mặt khoa học tự nhiên, kỹ thuật.

Chắc nhiều người biết đào tạo một con người có tri thức về khoa học tự nhiên, về công nghệ kỹ thuật… là khó, nhưng lại tương đối dễ nếu so sánh với đào tạo một con người biết cách sống hòa hợp trong một xã hội văn minh hiện đại và hữu hiệu. Tôi muốn nói tới đào tạo một con người biết cách hành xử theo tiêu chuẩn phổ quát của xã hội văn minh, có lòng nhân bản yêu thương và tôn trọng con người, có tinh thần trách nhiệm với cộng đồng, có ý chí tự lập và độc lập khám phá mọi chân trời tri thức, hiểu rõ cách tổ chức xã hội chính trị của các nước trên thế giới, hiểu rõ trách nhiệm và quyền làm chủ của một cá nhân trong xã hội của thời hiện đại đang phẳng hóa rất nhanh…

Và sản phẩm của sự đào tạo đó không chỉ là một hai cá nhân xuất chúng, mà là cả một xã hội văn minh, có giáo dục cao, nếu chưa đạt mức được thế giới kính trọng như Nhật Bản thì ít ra cũng được dân chúng trong nước hài lòng.

Có quá nhiều sự việc khiến nhiều người không thể cho rằng nền giáo dục Việt Nam là chấp nhận được, trong số đó có bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước, người phải thốt lời tâm huyết “Đã đến lúc phải rung lên hồi chuông báo động về vấn đề giáo dục nhân cách” (http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/nguyen-pho-ctn-nguyen-thi-binh-phai-rung-len-hoi-chuong-bao-dong-ve-giao-duc-nhan-cach-20161221161007134.htm).

Hậu quả là, trong xã hội Việt Nam, tính trung thực ngày càng bị áp chế, tính không trung thực ngày càng được khuyến khích. Tính nhân đạo ngày càng bị thu hẹp, các hành động phi nhân tính ngày càng nhiều hơn và tàn ác hơn. Con người ngày càng ích kỷ và ngoảnh mặt với cộng đồng. Con người ngày càng ít được tôn trọng.  Kiến thức rộng rãi của thế giới hiện đại khó được tiếp cận và truyền dạy…

Do đó, tôi không nghĩ như GS Mô rằng “Việt Nam có thể coi là đã đạt được” “một nền giáo dục hoàn chỉnh”. Hiện trạng này của nền giáo dục Việt Nam không thúc đẩy dân trí, sẽ có ảnh hưởng xấu trên việc xây dựng nền công nghiệp hoàn chỉnh và phát triển nông nghiệp.

Về một nền công nghiệp hoàn chỉnh. Tôi cũng không cùng hy vọng với GS Mô rằng “Trong nỗ lực đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” “Việt Nam sẽ đạt được”.

Trước hết là về lịch sử phát triển kinh tế chung. Việt Nam, sau năm 1975, đã có những cố gắng để nhanh chóng phát triển ngang bằng với những nước tiến bộ như Anh, Pháp. Bốn mươi năm đã trôi qua mà nền kinh tế của chúng ta, trên nhiều tiêu chí về kinh tế và kỹ thuật, hiện nằm trong tốp 4 nước thấp nhất trong khối ASEAN. Nhớ rằng GDP tổng của các nước ASEAN với dân số khoảng 650 triệu người chỉ tương đương GDP tổng của nước Pháp có dân số khoảng 65 triệu, ít hơn 10 lần. Với lịch sử đó, trên nền kinh tế đó, thật khó tin Việt Nam có thể có “nền công nghiệp hoàn chỉnh” sau 13 năm nữa! Nhất là trong trường hợp thời cơ thế giới và cả khu vực đang không thuận lợi.

Kế đó là về hiện trạng của nền công nghiệp. Công nghiệp Việt Nam, với tư cách là một bộ phận của nền kinh tế chung, hiện đang ra sao?

Một nền công nghiệp hoàn chỉnh phải có trụ cột là công nghiệp chế biến chế tạo hùng mạnh. Lãnh vực chế biến chế tạo của Việt Nam lại rất yếu ớt!

Các ngành công nghiệp chế tạo máy bay, xe hơi, công nghiệp đóng tàu, công nghiệp hóa chất… là những ngành có tính tổng hợp và tác dụng thúc đẩy nhiều ngành công nghiệp khác. Sự hùng mạnh của các ngành công nghiệp này góp phần quyết định vào sự hùng mạnh và hoàn chỉnh của nền công nghiệp quốc gia. Các ngành này ở Việt Nam có chung tính chất là nhỏ lẻ, yếu ớt, chủ yếu lắp ráp và công nghệ thấp. Một thí dụ về tính nhỏ lẻ này là số xe hơi Việt Nam xuất xưởng trong năm 2015 chỉ bằng 1/40 của Thái Lan, 1/20 của Indonesia. Đó là chỉ so sánh với Thái Lan, Indonesia chứ chưa nói tới Brazil, Hàn Quốc. Càng không dám ngó tới Pháp, Đức, Nhật!

Một nền công nghiệp như thế có thể nói là hoàn chỉnh được chăng? Và chừng nào mới có thể xem là tiến gần tới hoàn chỉnh?

Để ước lượng tốc độ phát triển của ngành công nghiệp nước ta trong các năm sắp tới, xin cùng nhau đặt các câu hỏi: Các ngành công nghiệp thật sự có thể cạnh tranh trên thế giới của Việt Nam là gì? Các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam có kích thước kinh doanh trung bình là bao nhiêu? Độ lớn của tổng doanh nghiệp tư nhân trong công nghiệp là bao nhiêu so với doanh nghiệp nhà nước? Có điều kiện chính trị, xã hội, tài chánh gì cho chúng phát triển? Trả lời những câu hỏi trên và so sánh với các nước bậc trung như Ba Lan, Hung, Thái Lan… là chúng ta sẽ tự có một cái nhìn tổng thể.

Về điều kiện tự túc 100% về lương thực, tôi có thể tạm đồng ý với GS Mô rằng “điều này Việt Nam có thể làm được” với tài nguyên thiên nhiên nông nghiệp của mình. Tuy nhiên trong điều kiện hòa bình, dân chúng không chỉ cần và cũng không đồng ý chỉ ăn cơm no. Họ yêu cầu ăn ngon, ăn bổ, ăn an toàn, có thực phẩm chức năng có ích…

Tài nguyên thiên nhiên phải có con người dùng kỹ thuật, công nghệ khai thác. Lại phải có trình độ quản trị, cấp nhỏ là nhà quản trị sản xuất nhỏ, cấp cao hơn là quản lý công ty, cấp cao nhất là tổ chức và quản lý xã hội, quốc gia. Nếu không có những điều đó thì tài nguyên chỉ là tiềm năng và đất nước vẫn chậm phát triển. Hãy nhìn xem ngành kinh tế lúa gạo của “cường quốc lúa gạo” Việt Nam. Thuốc bảo vệ thực vật và phân bón giả hay kém chất lượng tràn lan. Giá lúa trồi sụt thất thường. Thị trường không lành mạnh, thương lái ép giá nông dân, nông dân và thương lái bẻ kèo nhau. Sân sau của các quan chức rất nhiều.

Môi trường từng sạch và màu mỡ cho nông nghiệp nay bị ô nhiễm hay bị đe dọa ô nhiễm tràn lan. Xuất khẩu phải được Hiệp Hội Lương thực Việt Nam đồng ý, năng suất nông nghiệp hiện nay cho phép một người sản xuất hiệu quả trên hàng chục hec-ta còn Việt Nam lại hạn điền 3 hec-ta! Ngoài chợ, thực phẩm không an toàn là nỗi lo cho người tiêu dùng tầng lớp trung lưu. Tầng lớp này có sẽ là thị trường của các sản phẩm kém chất lượng so với cam kết hay không? Nền kinh tế lúa gạo chỉ là một thí dụ, cứ nhìn xem nền kinh tế cá tra, hay những loại nông sản khác chúng ta đều thấy sự bát nháo, thật giả khó phân trong đó.

Như vậy, Việt Nam có thể tự túc 100% về lương thực, nhưng chỉ đủ cung cấp cho một xã hội phát triển thấp, chứ không đủ cho một xã hội no ấm, phồn vinh, tri thức.

Các phân tích nhanh trên để thấy rằng trong 5 điều kiện để đất nước thành siêu quốc gia, trên thực tế thì Việt Nam, ngoài điều kiện dân đông, không có các điều kiện còn lại mà chỉ có chúng ở dạng tiềm năng.

Làm sao để biến tiềm năng thành hiện thực? Theo tôi, việc đầu tiên là Việt Nam nên đặt những câu hỏi như sau để tìm giải pháp tốt:

1) Cách tổ chức xã hội-chính trị Việt Nam có tính khai phóng không? Có đủ sức mời gọi sự góp sức của số đông các thành phần dân chúng không? Có đủ sức thúc đẩy tinh thần sáng tạo để phát triển không?

2) Các giá trị cốt lõi của xã hội có đủ hữu hiệu để đa số dân chúng sống và làm việc lương thiện, trung thực, tuân thủ luật pháp, tôn trọng con người, có tinh thần trách nhiệm với cộng đồng?

3) Sự hữu hiệu của chính quyền và chính phủ tới đâu trong việc phục vụ đời sống dân chúng, phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh xã hội, bảo vệ nền tự chủ dân tộc?

Các câu hỏi trên cần được đặt ra và trả lời bởi các chuyên gia độc lập trên nhiều lãnh vực, với một phương cách khoa học trong sự so sánh với các nước trong tốp 30% trên của thế giới. Thành quả của trách nhiệm cần được mô tả và định lượng rõ ràng để có sự đánh giá khách quan.

Như vậy thì mới có thể huy động kiến thức của dân chúng tìm ra những giải pháp hữu hiệu để cải tiến môi trường sống và làm việc của đất nước. Các giải pháp đó là căn bản của sự phát triển quốc gia, căn bản cho việc đạt được các điều kiện của một siêu quốc gia mà GS Đặng Lương Mô nêu lên.

Trong khi rất tin tưởng vào tiềm năng của dân tộc và đất nước, việc thiếu các điều kiện căn bản trên khiến tôi thực lòng lo lắng! Xin kính trình các độc giả cùng GS. Đặng Lương Mô những dòng chân thành với mong muốn được cùng nhau suy nghĩ…