Friday, October 4, 2013

NHỮNG Ý NGUYỆN CUỐI CÙNG CŨA ALEXANDRE ĐẠI ĐẾ .
Tôi vừa nhận được một lá thư của một anh bạn với nội dung  rất là  thâm thúy .  Tôi tự hỏi vua Alexandre đại đế , mà người TQ gọi là Á-lịch-sơn Đại đế , (sinh ngày 20/7 năm 355 trước Công nguyên , chết ngày 10/6 năm 323 trước Công nguyên , thọ 32 TUỔI , QUÁ TRẺ) không biết kiếp trước có phải là một cao tăng Phật giáo  hay không , mà ông rất thấm nhuần  triết lý ' Đời là vô thường ' của đạo Phật qua câu chuyện ngắn duới đây . Lá thư viết :
===
". . . Cho dù có sợ chết chúng ta cũng không qua khỏi cái quy luật tự nhiên của Tạo Hóa (Sinh Lão Bệnh Tử) ...
Ngài Alexandre Đại Đế cho triệu tập các quan trong triều đình đến để truyền đạt ba ý nguyện cuối cùng của mình. Ngài phán rằng:
1 - Quan tài của ngài phải được khiêng đi bởi chính các vị ngự y (bác sĩ) giỏi nhất của thời đó.
2 - Tất cả các báu vật của ngài (vàng, bạc, châu báu, ...) phải được rải dọc theo con đường dẫn đến ngôi mộ của ngài, và ...
3 - Đôi bàn tay của ngài phải được để lắc lư, đong đưa trên không, thò ra khỏi quan tài để cho mọi người đều thấy.
Một vị cận thần của ngài, rất đổi ngạc nhiên về những điều yêu cầu kỳ lạ này, và đã hỏi ngài Alexandre lý do tại sao ngài lại muốn như thế.
Ngài Alexandre đã giải thích như sau:
1 - Ta muốn chính các vị ngự y (bác sĩ) giỏi nhất phải khiêng quan tài của ta để cho mọi người thấy rằng một khi phải đối mặt với cái chết, thì chính họ (là những người tài giỏi nhất) cũng không có tài nào để cứu chữa.
2 - Ta muốn châu báu của ta được vung vãi trên mặt đất để cho mọi người thấy rằng của cải, tài sản mà ta gom góp được ở trên thế gian này, SẼ MÃI MÃI Ở LẠI trên thế gian này (một khi ta nhắm mắt xuôi tay từ giả cỏi đời).
3 - Ta muốn bàn tay của ta đong đưa trên không, để cho mọi người thấy rằng chúng ta đến với thế giới này với hai bàn tay trắng và khi rời khỏi thế giới này chúng ta cũng chỉ có HAI BÀN TAY TRẮNG .
Đến cuối cuộc đời, chúng ta sẽ nghiệm ra rằng, kho tàng quý giá nhất trên cuộc đời này là  TÌNH  YÊU THƯƠNG . " ./.
===
Chú thích : Trong suốt triều đại của ông, vị vua Hy Lạp này chủ yếu giành thời gian cho các cuộc chinh phạt,[2] và được xem là một trong những vị tướng thành công nhất trong lịch sử, người đã chinh phạt gần như toàn bộ thế giới MÀ ÔNG BIẾT trước khi qua đời;[3] và vì thế ông thường được xem là một trong những chiến lược gia quân sự vĩ đại nhất trong lịch sử.[4] . . .
Sau khi thống nhất các thành bang Hy Lạp cổ đại dưới sự cai trị của vua cha Philipos II[5], vua Alexandre chinh phục Đế chế Ba Tư, bao gồm cả Tiểu Á, Syria, Phoenicia, Gaza, Ai Cập, Bactria và Lưỡng Hà và mở rộng biên cương đế chế của ông đến xa tận vùng Punjab thuộc Ấn Độ ngày nay. . . .
Nguồn : http://vi.wikipedia.org/wiki/Alexandros_%C4%90%E1%BA%A1i_%C4%91%E1%BA%BF

Friday, August 23, 2013

TẠI SAO SMARTPHONE HAO ĐIỆN ?

Smartphone được trang bị rất nhiều công nghệ để mang lại những trải nghiệm tiên tiến nhất cho người dùng, như biết được vị trí bạn đang đứng, lướt web, chơi game, gửi và nhận email…

    >> Khám phá bản thân qua cách lưu danh bạ điện thoại
    >> 3 'không' để chống cháy nổ với smartphone
    >> Tìm điện thoại Android bị thất lạc: Chuyện nhỏ!
    >> "Ác mộng" chốn phòng the từ chiếc điện thoại thông minh
    >> Giới công nghệ "dậy sóng" vì smartphone liên tục phát nổ

GPS

Hệ thống định vị toàn cầu (GPS) được nhiều smartphone sử dụng để tìm kiếm vị trí của bạn dựa vào khả năng điện thoại nhận và giải mã tín hiệu thời gian được các vệ tinh xung quanh gửi ra. Quá trình giải mã đòi hỏi bộ xử lý bên trong điện thoại làm việc vất vả để thu nhận các tín hiệu yếu từ tiếng ồn xung quanh và sau đó so sánh chúng với nhau nhiều lần để xác định chính xác vị trí. Càng hoạt động nhiều, máy càng nhanh hết pin. Do đó cách tốt nhất nên tắt chức năng GPS khi không sử dụng.
Những tác nhân ngốn pin điện thoại nhiều nhất

Những tác nhân ngốn pin điện thoại nhiều nhất

Kết nối WiFi

Tác nhân lớn khác cũng ngốn pin khá nhanh là kết nối WiFi. Năng lượng chúng tiêu thụ tùy thuộc vào cường độ của tín hiệu sóng WiFi phát ra từ các bộ định tuyến hay bộ phát WiFi. Cường độ tín hiệu không chỉ phụ thuộc vào khoảng cách vật lý mà còn liên quan tới vật cản như bức tường. Một yếu tố khác là số lượng các tín hiệu WiFi khác nhau ở trong cùng một khu vực. Do đó, để chọn bộ định tuyến WiFi thông qua “rừng” tín hiệu này đòi hỏi phải tốn nhiều năng lượng hơn, tức là sẽ ngốn pin nhiều hơn. Do đó, tắt kết nối WiFi khi không sử dụng.

LTE

Tác động tương tự khi bạn sử dụng điện thoại để thực hiện các cuộc gọi hoặc email qua mạng GSM, 3G hoặc LTE (4G). Cho dù smartphone bị khóa trên một trạm cơ sở tại một thời điểm, chọn một trạm cung cấp tin hiệu mạnh nhất và giao tiếp với nó được thực hiện ngay cả khi điện thoại không sử dụng.

Tức là, trạm cơ sở (Basestation) kiểm tra để xem điện thoại có nằm trong phạm vi bắt được sóng hay không? Chúng có thể gửi tín hiệu tới điện thoại của bạn. Nếu điện thoại nằm trong phạm vi phủ sóng, điện thoại sẽ phản hồi lại báo rằng “tôi đang ở đây”. Hoạt động này thực hiện 15 phút mỗi lần. Người dùng có thể thỉnh thoảng nghe thấy điều này xảy ra nếu điện thoại đang sử dụng mạng. Bởi vì tín hiệu sẽ gây nhiễm nên các cáp âm thanh và bạn nghe thấy tiếng “líu ríu liên hồi” phát ra từ các bộ loa.

Ngoài ra, khi trạm cơ sở ở trong phạm vi của điện thoại nhưng không cường độ tín hiệu sóng, điện thoại sẽ tự động chuyển đến các trạm cơ sở khác. Truy cập vào trạm cơ sở khác đòi hỏi nhiều năng lượng hơn vì cường độ tín hiệu thấp hơn và một lần nữa ảnh hưởng đến thời lượng sử dụng pin.

Khi bạn đang di chuyển, bạn sẽ thay đổi trạm cơ sở nhiều lần. Giao tiếp phức tạp giữa các trạm đi và đến là cần thiết thiết để xử lý các cuộc gọi hoặc kết nối dữ liệu. Điều này tốn nhiều năng lượng hơn. Thậm chí điều đó vẫn xảy ra nếu bạn không di chuyển. Tại các khu đông dân cư, một tòa nhà duy nhất có thể có nhiều tín hiệu từ số lượng lớn các trạm cơ sở khác nhau. Khi bạn di chuyển vào bên trong tòa nhà, vì tín hiệu vô tuyến phản xạ từ các bức tường, cường độ tín hiệu sẽ tiếp tục thay đổi, buộc phải chuyển sang các trạm cơ sở khác và khiến cho điện thoại vất vả hơn và tốn pin hơn.

Ngoài ra, điện thoại thông minh hiện giờ cũng có tính năng truyền thông ngắn với nhiều dịch vụ khác để “đẩy” thông tin cho điện thoại. Chẳng hạn, ứng dụng thời tiết có thể kiểm tra thông tin thời tiết mới theo chu kỳ 5 phút hoặc 10 phút/1 lần. Bạn có thể nghĩ rằng, bạn không hề sử dụng điện thoại nhưng chúng rất bận rộn. Một cách để chống thất thoát năng lượng là tắt các thông báo tự động từ các ứng dụng mà bạn không sử dụng, vô hiệu hóa các kết nối LTE, 3G và WiFi.

Tiêu tốn vào đèn nền chiếu sáng

Nguồn pin smartphone cạn nhanh hơn so với các điện thoại truyền thống vì chúng có màn hình lớn hơn. Hơn nữa, đèn nền chiếu sáng dành cho màn hình LCD cũng tiêu thụ điện năng đáng kể. Vì vậy, hãy giảm thiểu thời gian sử dụng đèn nền chiếu sáng màn hình.

Trong khi đó, các loại màn hình OLED, phát ra ánh sáng của chính chúng nên không cần đèn nền chiếu sáng. Kết quả là, chúng tiêu thụ ít điện năng hơn và để tiết kiệm pin bạn chỉ nên bật màn hình khi sử dụng.

Bộ xử lý

Có hai bộ vi xử lý quan trọng trong điện thoại thông minh: bộ xử lý băng tần cơ sở và ứng dụng. Bộ xử lý băng tần cơ sở liên quan đến mạng. bộ xử lý ứng dụng xử lý các ứng dụng, âm thanh, video và màn hình cảm ứng.

Bộ xử lý ứng dụng ngày càng quan trọng vì các ứng dụng là yếu tố chính hút khách mua smartphone. Ban đầu, điện thoại chỉ sử dụng một lõi vi xử lý trong một bộ xử lý ứng dụng đơn. Nhưng bây giờ chúng được trang bị nhiều lõi xử lý. Sự gia tăng nhanh của các lõi xử lý, sẽ khiến cho nguồn pin nhanh cạn hơn.

Ngoài ra, một khối ngày càng quan trọng trong bộ xử lý ứng dụng là đơn vị xử lý đồ họa. Chúng hỗ trợ giao diện người dùng và là một trong những lý do tại sao các trò chơi của smartphone hiện giờ chạy nhanh và sống động hơn. GPU xử lý giao diện người dùng, tăng cường tính thực tế, hình ảnh động, 3D, nhận diện khuôn mặt và cử chỉ.

Các mẫu smartphone mới nhất sử dụng hai lõi và bốn lõi xử lý ứng dụng. Gánh nặng phát triển chuyển sang phần mềm: làm thế nào bạn có thể chia nhỏ các tác vụ giữa 4 lõi. Điều này sẽ càng trở thành thách thức lớn hơn khi tăng lên 8 lõi. Nói chung, các bộ xử lý càng nhiều lõi thì tiêu thụ nhiều pin hơn.

(VNMO)

Saturday, August 17, 2013

Không thể FULL SCREEN ở Windows VISTA : những nguyên nhân .
1/ Driver cũa video card ko được update .
2/ Thiếu RAM (memory module ko đũ) .
3/ Và một số thuộc về hardware .
Thông thường , những problem này ko xãy ra ở Windows 7 vì HĐH này tự động update cho các driver (nghĩa là Vista ko có chức năng đó) .
Bạn nào , gặp probem trên , cho tôi biết ID và PW cũa Teamviewer để tôi vào máy bạn để tìm nguyên nhân  .

Friday, August 16, 2013


Kiểm soát và cân bằng quyền lực

David Williams
Trần Duy Nguyên và Nguyễn Thị Hường dịch
Nguồn: Tia Sáng
Nam Tước Acton có một câu nói nổi tiếng: “Quyền lực luôn tham nhũng; quyền lực tuyệt đối thì tham nhũng tuyệt đối.” Khi có quá nhiều quyền lực trong tay, ngay đến người tốt cũng cai trị độc đoán. Do hiểu rõ bản chất của vấn đề như vậy, chủ nghĩa hiến chế mới nảy sinh, và đó là một bước ngoặt so với cách nghĩ truyền thống về quyền lực ở châu Á cũng như phương Tây. Trong cách nghĩ truyền thống, người ta thường ca tụng các nhà lãnh đạo và trao cho họ quyền lực tuyệt đối để bảo vệ an ninh quốc gia. Các nhà lãnh đạo truyền thống thì muốn xem thần dân trong nước như con cái, để họ làm nhiệm vụ của bậc cha mẹ và ra quyền hành xử như cha với con. Vượt ra khỏi tư duy đó là điều tiên quyết để thiết lập một chính phủ hiến định và công bằng.
1. Khi một người hay một nhóm nhỏ độc quyền quyền lực, họ sẽ trấn áp người khác.
Sau một thời gian, sự tập trung quyền hành quá mức dẫn đến tha hóa về cả tinh thần và vật chất, do đó người tốt dù có muốn đi nữa cũng mất khả năng lèo lái quốc gia một cách sáng suốt. Không một cá nhân nào hoàn toàn trong sạch. Ai cũng ít nhiều có thiên kiến, sai lầm về tư tưởng và vị kỷ. Một người tốt không phải là người không có nhược điểm. Người tốt là người biết kiềm chế và vượt qua được những nhược điểm đó. Nhưng để làm được điều này, họ cần có sự hỗ trợ của người khác. Nhưng khi tập trung quá nhiều quyền lực trong tay, người cầm quyền gạt bỏ khả năng và cơ hội hỗ trợ của những người khác.
Quyền lực tuyệt đối tha hóa tinh thần, vì khi một người có quyền lực trên hết thảy mọi người khác, những người khác sẽ chỉ nói những điều họ nghĩ rằng người cầm quyền muốn nghe. Họ giấu đi những điều gây phật lòng, và không bao giờ bày tỏ những quan điểm và ý kiến trái ngược. Kết quả là người cầm quyền chẳng bao giờ nghe được những điều cần biết để có thể lãnh đạo sáng suốt hơn. Tệ hại hơn, sự tha hóa tinh thần này có thể dẫn đến tha hóa tâm hồn. Nếu không ai dám đưa ra những thông tin hay ý kiến chói tai, hoặc phản đối người cầm quyền, người cầm quyền cứ tưởng mình không hề có thiên kiến, không hề mắc sai lầm và không hề vị kỷ. Từ đó anh ta cho rằng mọi ý kiến của anh ta đều đúng. Anh ta bắt đầu ngộ nhận rằng lợi ích cá nhân của anh ta chính là lợi ích của xã hội. Khi ấy, anh ta trở thành một kẻ độc tài.
Vì lý do này, một nhà lãnh đạo tốt sẽ không muốn nắm giữ quá nhiều quyền lực. Cái anh ta cần là một hệ thống trong đó nhiều người khác có thể góp phần vào quá trình ra quyết định. Khi đó, thay vì đơn thuần điều hành đất nước bằng mệnh lệnh, anh ta sẽ cân nhắc những quan điểm khác nhau. May ra lúc ấy anh ta sẽ buộc phải nhận ra rằng chính mình cũng có những thiên kiến, những sai lầm về tư tưởng, và cũng vị kỷ. Một nhà lãnh đạo thật sự anh minh cần sự sáng suốt ấy, và sẽ biết ơn những tiếng nói phản biện, thay vì trấn áp họ.
Dĩ nhiên, không phải nhà lãnh đạo nào cũng xuất thân là người tốt. Ngược lại, họ có thể ham muốn quyền lực chỉ để trấn áp người khác và thủ lợi cho bản thân, cho gia đình và cho những kẻ về hùa theo họ. Những người như vậy vốn đã tha hóa ngay từ trước khi họ có quyền lực. Một khi tập trung quyền lực trong tay, họ sẽ sử dụng ngay quyền lực đó để đàn áp kẻ khác.
Tóm lại, những chính quyền nắm quyền lực quá tập trung sẽ lạm quyền và tham nhũng. Cách duy nhất để giới hạn quyền lực của họ và tránh lạm dụng là tản quyền.
2. Vì lý do đó, hiến pháp cần phân bổ quyền hành cho nhiều thành phần khác nhau của chính quyền để có sự giám sát và cân bằng quyền lực.
Bởi quyền lực tập trung sẽ sinh lạm dụng, không có cách giải quyết nào khác ngoài việc phân chia quyền lực cho các thành phần khác nhau của chính quyền. Ý tưởng này được gọi là giám sát và cân bằng quyền lực: hiến pháp thiết lập nên sự cân bằng về quyền lực giữa các thành phần khác nhau của chính quyền để chúng có thể giám sát lẫn nhau. Giám sát và cân bằng quyền lực chính là cốt lõi của chủ nghĩa hiến chế. Vì không một cá nhân hay một nhóm nhỏ nào thâu tóm mọi quyền lực, sẽ không ai có quyền lực tuyệt đối để đàn áp kẻ khác. Khi các ngành trong chính quyền cần sự hợp tác của nhau thì họ phải lắng nghe nhau, phải thương thảo và phải cùng nhau làm việc. Khi nhiều người có khả năng tác động lên chính quyền và chính sách, chính quyền đó mới có thể trở nên công bằng và trung dung hơn, bởi vì khi đó chính quyền không chỉ còn phục vụ lợi ích của một nhóm nhỏ. Đồng thời, chính quyền cũng sẽ sáng suốt hơn, bởi các chính sách hay quyết định là kết quả của quá trình thảo luận trong đó nhiều cách nhìn khác nhau đã được cân nhắc.
Một số người, đặc biệt tại châu Á và châu Phi, lo ngại rằng giám sát và cân bằng quyền lực sẽ tạo nên bất ổn, tranh cãi, bế tắc, thậm chí nội chiến. Đúng là khi cơ chế giám sát và cân bằng quyền lực không được thiết kế hợp lý, hậu quả của nó có thể không như mong đợi. Nhưng nếu được thiết kế tốt, nó sẽ không dẫn đến bất ổn quá mức bình thường. Những đất nước ổn định và thịnh vượng đều có một cơ chế giám sát và cân bằng quyền lực nào đó. Lựa chọn duy nhất ngoài phân quyền là tập quyền. Mà tập quyền, như đã phân tích ở trên, luôn dẫn đến cai trị áp bức. Điều này rõ ràng tệ hại hơn nhiều so với những bất đồng bắt nguồn từ những tranh cãi chính trị thông thường.
Có nhiều mô hình giám sát và cân bằng quyền lực, do các yếu tố khác nhau được kết hợp một cách khác nhau. Nếu được thiết kế một cách cẩn trọng, giám sát và cân bằng quyền lực có thể giảm thiểu một cách có hiệu quả các bất ổn, cũng như tăng cường bảo vệ người dân chống lại chính quyền tha hóa và độc đoán.
3. Các hiến pháp phân quyền theo nhiều cách khác nhau
Có nhiều cách phân chia quyền lực giữa các nhân tố của chính quyền. Và các hiến pháp khác nhau thiết lập nên các chính quyền với kết cấu khác nhau. Có hiến pháp gọi người đứng đầu chính phủ là tổng thống, có nơi khác gọi là thủ tướng, lại có chỗ kết hợp ngành hành pháp và lập pháp với nhau trong một hội đồng mà người đứng đầu hội đồng không phải là tổng thống mà cũng chẳng phải thủ tướng. Vài hiến pháp công nhận chính quyền địa phương bán tự trị, nơi khác thì không. Có hiến pháp tổ chức hai viện lập pháp, có chỗ chỉ có một viện duy nhất. Như vậy, trong nhiều hệ thống hiến định khác nhau, kết cấu của chính quyền là khác nhau. Vì vậy, phân chia quyền lực giữa các thành phần chính quyền của các hệ thống hiến định khác nhau cũng sẽ khác biệt.
Thêm vào đó, cho dù các hiến pháp có quy định kết cấu chính quyền tương tự như nhau, chúng vẫn có thể phân chia quyền lực theo nhiều cách khác nhau cho các nhân tố đó. Thí dụ, tổng thống có thể có quyền phủ quyết những dự án luật do bên lập pháp đưa ra, hoặc có thể không có quyền đó. Thượng viện của ngành lập pháp có thể chỉ có quyền cố vấn cho hạ viện, nhưng viện này cũng có thể có quyền bác bỏ các dự luật của hạ viện. Chính quyền địa phương có thể có quyền lực rộng rãi trên các vấn đề liên quan đến cuộc sống của người dân trong khu vực đó. Nhưng họ cũng có thể chỉ có quyền lực hạn chế trong một số lĩnh vực mà thôi.
Trong bài viết ngắn ngủi này, thật khó để liệt kê hết tất cả hình thức phân quyền. Nhưng tựu trung lại, các mô hình chính là:
* Hầu hết các hiến pháp chia chính quyền trung ương thành ba phần – quyền lập pháp, quyền hành pháp và tòa án. Các quyền này được trao cho những người hay nhóm người khác nhau. Một số hiến pháp tách biệt hoàn toàn các quyền lực này, tức là các nhân tố trong chính quyền không hề có những mảng phận sự chồng lấn. Nhưng cũng có một số hiến pháp cho phép sự chia sẻ quyền lực nhất định, chẳng hạn tổng thống vừa có quyền hành pháp vừa có quyền phủ quyết dự luật (một phần của quyền lập pháp) trong một số trường hợp hạn chế. Phương thức phân quyền này được gọi là tam quyền phân lập.
* Một số hiến pháp phân chia quyền lực giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương hay vùng lãnh thổ. Do sự phân chia này được quy định bởi hiến pháp, chính quyền trung ương không thể can thiệp vào phạm vi quyền lực của chính quyền vùng lãnh thổ. Quan trọng hơn cả, chính quyền trung ương không thể giải tán chính quyền địa phương đó hoặc tước đoạt một số quyền đã được hiến pháp trao cho họ. Có trường hợp chính quyền vùng lãnh thổ có thể soạn hiến pháp cho riêng địa phương họ, với cả ba ngành lập pháp, hành pháp và tòa án như chính quyền trung ương. Phương thức phân chia quyền lực này được gọi là chính thể liên bang.
* Mọi bản hiến pháp chính danh phân chia quyền lực giữa chính quyền và công dân nhằm mục đích bảo vệ quyền cá nhân. Một số quyền cá nhân tự bản chất là quyền nhân thân, như quyền kết hôn. Nhưng một số quyền mang tính chính trị, như quyền biểu tình hoặc quyền thành lập hội đoàn chính trị. Bằng cách thực thi các quyền này, công dân có thể kiểm soát chính phủ. Phương thức phân quyền này được gọi là quyền cá nhân.
* Mọi hiến pháp dân chủ còn phân chia quyền lực giữa chính quyền công dân thông qua bầu cử. Trong một nước dân chủ, quyền lực thuộc về nhân dân. Chính quyền có bổn phận phục vụ người dân, chứ người dân không phải phục tùng chính phủ. Nhưng người dân không thể cáng đáng hết công việc hàng ngày của chính quyền vì còn phải lo cho cuộc sống riêng của họ. Vì vậy, hiến pháp cho chính quyền quyền thay mặt người dân để giải quyết công việc trong những lĩnh vực phù hợp, với tư cách là công bộc của nhân dân. Tuy vậy, nhân dân vẫn nắm quyền giám sát tối thượng. Nếu nhân dân không hài lòng với cách làm việc của các viên chức chính quyền, họ có thể bỏ phiếu bãi nhiệm các viên chức đó qua bầu cử.
4. Dù mọi quốc gia đều cần tản quyền, có nhiều hình thức phân quyền khác nhau, và các quốc gia khác nhau phải chọn những hệ thống khác nhau cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của quốc gia đó.
Như đã trình bày ở trên, có nhiều hình thức phân quyền. Một số hiến pháp áp dụng nhiều hình thức cùng một lúc, trong khi một số hiến pháp khác chỉ áp dụng một hình thức phân quyền mà thôi. Không có một hình thức phân quyền nào được xem là duy nhất phù hợp cho mọi quốc gia trong mọi thời kỳ. Đã có rất nhiều sách vở bàn đến các hình thức phân quyền trong bản hiến pháp. Đôi khi các phân tích đó mang nặng tính chuyên môn. Do đó, trong phạm vi bài viết ngắn này, khó có thể tóm gọn mọi khía cạnh của các tri thức đó.
Tuy vậy, bài viết này nhấn mạnh một điều quan trọng: các hình thức phân quyền khác nhau mang lại các hệ quả khác nhau. Bởi cân bằng và giám sát quyền lực là trọng tâm của thể chế hiến định, các nhà soạn thảo hiến pháp đã dành nhiều công sức nghiên cứu các hệ quả của mỗi hình thức phân quyền khi chúng được áp dụng riêng rẽ hay kết hợp lẫn nhau. Thế nhưng, không có một hệ thống hiến định nào hoàn hảo hay đạt mọi mục đích đặt ra. Các nhà soạn thảo hiến pháp luôn phải chọn lựa hoặc thỏa hiệp. Chẳng hạn, một số thể chế hiến định tạo điều kiện cho mọi khuynh hướng chính trị được đại diện trong chính quyền, nhưng lại có thể khiến chính trị bị chia rẽ và phân tán, vì sự tham gia của quá nhiều luồng ý kiến khác nhau sẽ khiến các bên khó đạt đồng thuận để ra quyết định. Một số thể chế hiến định khác có thể khiến vài khuynh hướng chính trị thiểu số không được đại diện trong chính quyền, nhưng bộ máy chính trị hoạt động suôn sẻ hơn. Một số hệ thống tập trung vào ý thức hệ chứ không phải quyền lợi “cục bộ” của từng địa phương. Một số hệ thống khác lại chú trọng đến các mối quan tâm cụ thể của các địa phương chứ không đặt nặng ý thức hệ, v.v… Mỗi thể chế hiến định này đều có những ưu và khuyết đỉểm.
Như vậy, mỗi quốc gia sẽ thấy có một số hệ thống thích hợp với họ hơn là những hệ thống khác. Tùy từng quốc gia cụ thể, những mục tiêu nhất thiết cần phải có, và những nhược điểm cần đặc biệt lưu tâm mà tránh, sẽ không giống nhau. Ví dụ, văn hóa của một số quốc gia có khuynh hướng tập trung quyền lực vào tay một người mà thôi, như người đứng đầu hành pháp, và rồi người này tìm cách thâu tóm những quyền lực khác cho riêng anh ta. Một số quốc gia khác xem việc hạn chế quyền hành pháp là quan trọng, nên trao nhiều quyền lực hơn cho ngành lập pháp và tòa án. Cách này có thể có nhược điểm là sự thiếu vắng một ngành hành pháp mạnh có thể ứng phó mau lẹ trước những thay đổi nhanh chóng của thế giới. Nhưng nếu phải cân bằng giữa các ưu và khuyết điểm của từng hệ thống cho một quốc gia cụ thể, hệ thống cho phép ngăn chặn chính quyền độc đoán có ưu điểm hơn hẳn so với một hệ thống chủ trương cho ngành hành pháp quyền được tự do làm theo ý họ. Nghệ thuật soạn thảo một bản hiến pháp cần lưu tâm đến các đặc điểm và nhu cầu cụ thể của từng quốc gia là vì thế.

Tam quyền phân lập:

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ bảy, ngày 20 tháng bảy năm 2013

Phân chia quyền lực là nền tảng của một bản Hiến Pháp tiến bộ với mục đính kiểm soát quyền lực của chính phủ và đảm bảo quyền lợi của công dân.
Về cơ bản, việc tâp trung nhiều hoặc toàn bộ quyền lực vào một người hoặc cơ quan sẽ dẫn đến độc tài. Quyền lực phải được chia đều giữa nhiều cơ quan, nhiều người. Mỗi cơ quan có một giới hạn quyền lực nhất định và bị kiểm soát qua lại bởi những cơ quan khác.
Hệ quả tất yếu của việc phân chia quyền lực là tốn thời gian và đòi hỏi sự đồng thuận cao để thông qua một quyết định, đạo luật. Tuy nhiên, điều này giúp quyền lợi của người dân được đảm bảo. Những chế độ độc tài thường thiết lập các thể chế chính trị rất đơn giản và ngược lại, đặc điểm của một nền dân chủ là tạo ra những hệ thống phức tạp. [3]


Có 2 dạng phân chia quyền lực:
• Theo chiều dọc: quyền lực được phân chia theo cấp độ, từ cao đến thấp. Ví dụ: những cấp bậc ở Đức gồm có Liên minh châu Âu, Chính quyền liên bang, chính quyền địa phương, chính quyền thành phố.
• Theo chiều ngang: quyền lực được phân chia đều giữa các nhánh hành pháp, lập pháp và tư pháp (Tam quyền phân lập)
----------------------------------
PHẦN 1: Tam quyền phân lập – phân chia quyền lực theo chiều ngang (Horizontal separation)
Ý tưởng về tam quyền phân lập được hình thành từ thời Hy Lạp cổ đại và phát triển trong thời kỳ Khai Sáng tại châu Âu. Vào thế kỷ 17, nước Anh đã hình thành được một thể chế gồm ba nhánh [1]
• Quốc hội (Parliament) giữ quyền lập pháp, gồm 2 viện là House of Commons (Hạ viện, chức năng gần tương đương với quốc hội của Việt Nam) và House of Lords (Thượng viện). Thành viên của Hạ viện được bầu trực tiếp từ nhân dân trong khi đa số ghế của Thượng viện là được kế thừa
• Quốc vương (vua hoặc nữ hoàng) thừa kế quyền lực, giữ quyền hành pháp. Một chuỗi những thoả thuận giữa quốc hội và quốc vương đã được thông qua giúp quốc hội có thể kiểm soát quyền lực của quốc vương.
• Toà án nắm quyền tư pháp. Cho đến thế kỷ 17, quan toà tại Anh vẫn phục vụ quốc vương và quốc vương có quyền sa thải thẩm phán. Vào năm 1710, quốc vương đã đống ý yêu cầu của quốc hội về việc bảo đảm tính độc lập của toà án. Quan toà sẽ được giữ chức vụ suốt đời nếu làm tốt việc xét xử. Tiền lương cho nhánh lập pháp sẽ luôn được đảm bảo và một thẩm phán chỉ có thể bị sa thải khi cả hai Viện đều đồng ý.
MÔ HÌNH NHÀ NƯỚC MỸ
Tại Mỹ, phân chia quyền lực được đề cập trong Hiến Pháp như một trong những điều cơ bản để xây dựng chính quyền. Ba nhánh được phân chia quyền lực đồng đều là quốc hội, tổng thống và toà án. [1]
--- Quốc hội ---
Hiến pháp Mỹ quy định chỉ duy nhất quốc hội có quyền lập pháp (tại Đức quyền lập pháp được chia ra cho 4 cơ quan khác nhau). Quốc hội Mỹ theo chế độ lưỡng viện bao gồm Hạ viện (the House of Representatives) và thượng viện (the Senate). Một dự thảo luật được thông qua chỉ khi có sự đồng ý của cả hai viện.
• Quốc hội -> Tổng thống: Quốc hội kiểm soát ngân sách chi tiêu của nội các, có quyền thông qua một đạo luật mà không cần thông qua tổng thống (yêu cầu 2/3 số phiếu). Có quyền tố cáo và bãi nhiệm tổng thống. Danh sách các ứng cử viên cho việc bầu cử tổng thống phải có sự đồng ý của quốc hội.
• Quốc hội -> Toà án: Việc đề cử các chứ danh cho toà án phải được thông qua bởi thượng viện. Quốc hội có quyền tố cáo và cách chức thẩm phán.
Trong lịch sử Mỹ, quốc hội đã tố cáo 17 thẩm phán, nghị sỹ và 2 tổng thống. Gần đây nhất là vụ buộc tội thẩm phán Thomas Porteous vào năm 2010 vì nhận hối lộ. Kết quả ông bị cách chức và không được nhận khoản lương hưu $174000.
--- Tổng thống và nội các ---
Quyền điều hành đất nước được trao cho tổng thống. Nhiệm vụ là phải đảm bảo luật pháp được thực thi một cách minh bạch và chính xác. Tổng thống có quyền bổ nhiệm các vị trí trong chính phủ. Tổng thống đồng thời cũng là tổng tư lệnh của quân đội quốc gia.
• Tổng thống -> Quốc hội: Tổng thống có quyền phủ quyết những dự thảo luật do quốc hội thông qua nếu nếu cho rằng luật này vi phạm hiến pháp. Franklin Roosevelt là tổng thống sử dụng quyền phủ quyết nhiều nhất trong lịch sử nước Mỹ, 635 lần (Bill Clinton 37 lần, George W.Bush 12 lần). Nguyên nhân là do ông tại vị suốt 4 nhiệm kỳ (1933-1945), và trong khoảng thời gian này, quốc hội có rất nhiều cải cách sau cuộc Đại suy thoái và Chiến tranh thế giới thứ 2. [4]
• Tổng thống -> Toà án: Tổng thống có quyền đề cử các vị trí trong toà án.
--- Toà án ---
Toà án Tối cao là cấp cao nhất trong nhánh tư pháp, đảm nhận nhiệm vụ kiểm tra Hiến pháp và các bộ luật liên bang. Hiến pháp bảo vệ sự độc lập của Toà án bằng việc đảm bảo chức vụ trọn đời của thẩm phán và không thể bị cách chức nếu không phạm sai lầm.
• Toà án -> Quốc hội: Toà án có quyền phán quyết một đạo luật là vi hiến và bị bãi bỏ. Trong năm 2013, Toà án tối cao Mỹ đã tuyên bố đạo luật về bảo vệ hôn nhân (Defense of Marriage Act) là vi hiến. Đạo luật được thông qua vào năm 1996, nội dung về việc không công nhận hôn nhân đồng giới. [5]
• Toà án -> Tổng thống: Toà án có quyền phán quyết những việc làm của tổng thống là vi hiến.
Hạn chế của ngành tư pháp Mỹ là ngân sách được quyết định bởi quốc hội. Tại Đức và Ý, Toà án Hiến pháp được quyền tự quyết ngân sách của mình một cách hợp lý [2]. Quốc hội Mỹ còn có quyền phủ nhận phán quyết vi hiến của toà án, mặc dù việc này rất khó khăn, đòi hỏi 2/3 số phiếu của quốc hội và 3/4 số phiếu từ các chính quyền địa phương.
KẾT
Có thể thấy việc phân chia quyền lực theo chiều ngang tạo nên một cơ chế kiểm soát qua lại rất chặt chẽ giữa các nhánh trong nhà nước. Dù điều này sẽ tạo nên sự phức tạp trong việc điều hành quốc gia nhưng giúp hạn chế tối đa việc lạm quyền, độc tài, đảm bảo tính độc lập và minh bạch trong từng nhánh của chính phủ.
Nhà nước Việt Nam hiện nay không theo cơ chế tam quyền phân lập, quyền lực nhà nước là thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Theo lời Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu tại Vĩnh Phúc ngày 25/2/2013, việc ủng hộ tam quyền phân lập tại Việt Nam được xem là suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức. [6]
----------------------------------
Tài liệu tham khảo
1/ Separation of Powers: The role of an Independent – Judiciarry in Sustaining our Democracy
2/ Judicial Independence in Europe, The Swedish, Italian and German Perspective – John Adenitire
3/ Teaching the German Way of Separating Powers – Joachim Detjen
4/ The American Presidency Project – Presidential Vetoes
5/ DOMA: US Supreme Court Declares Law Defending Traditional Marrige Unconstitutional – Watching America – Matteo Winkler
6/ Chương trình Thời sự VTV1, 19h ngày 25/2/2013
(Dân luận)

Thursday, August 8, 2013

Người tố cáo vụ 'nhân bản' xét nghiệm động trời

Thưa anh Thông ,
Bài 'Người tố cáo vụ 'nhân bản' xét nghiệm động trời' ở :
http://vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/134812/nguoi-to-cao-vu--nhan-ban--xet-nghiem-dong-troi.htm
có đoạn :
. . .
"Mục đích của chị khi làm đơn tố cáo những sai phạm xảy ra tại khoa Xét nghiệm (do Giám đốc Nguyễn Trí Liêm trực tiếp chỉ đạo) là gì?
- Mục đích của tôi trước tiên là đấu tranh bảo vệ người dân huyện Hoài Đức được quyền chăm sóc, khám chữa bệnh đúng với chuyên môn và quy định của pháp luật, sau đó là bảo vệ bản thân và các cán bộ khác của bệnh viện.
Chúng tôi đã bị ông giám đốc đè nén nhiều quá, độc quyền nhiều quá.
"Chị có thể nói rõ về điều này?
- Ông Liêm là người độc đoán và không tạo được môi trường làm việc lành mạnh, tích cực.
Ngoài tôi ra, có rất nhiều người làm chứng việc ông này đã CHỬI MẮNG cả vị phó giám đốc hay TÁT VÀO MẶT một vị trưởng khoa trước mặt bệnh nhân chỉ vì trái ý."
. . .
Tôi xin góp ý :  những việc trên đã xãy ra chĩ vì hai nguyên tắc sau đây không được tuân thủ hay tôn trọng : 'mọi người đều bình đẳng trước pháp luật' và 'không ai đứng trên pháp luật' .

phi công nguyễn thành trung

Thưa anh Thụy ,
Nhân đọc bài 'Giới blogger lên tiếng bảo vệ mẹ con Đoan Trang' , tôi xin góp ý :
Nguyên tắc pháp lý từ ở hầu như mọi nước là AI LÀM NGƯỜI ẤY CHỊU .
Xin lấy một ví dụ : ngày xưa phi công VNCH Nguyễn thành Trung đã lái máy bay F-5 để ném bom dinh Độc lập rồi sau đó đáp xuống vùng đã được CS 'giải phóng' .
Trong bài 'Đại tá Nguyễn Thành Trung: Vợ con tôi 'sẽ không bị đối xử một cách tàn nhẫn' , ông cho biết :
. . .
"Mặt khác, thời gian sống trong đội ngũ không lực Sài Gòn cho tôi một niềm tin rằng vợ tôi, một người phụ nữ không liên quan gì đến công việc của tôi, con tôi còn quá nhỏ (đứa lớn mới 5 tuổi, đứa nhỏ chưa tròn năm) sẽ không bị đối xử một cách tàn nhẫn.
Thực tế diễn ra đúng như tôi dự đoán. Cánh an ninh không quân đưa xe đến nhà bắt vợ con tôi. Vợ tôi phản đối vì mình không biết gì về công việc của chồng. Họ từ tốn: “Thưa bà, chúng tôi không bắt bà (nếu bắt chúng tôi đã dùng còng số 8, trói bà chẳng hạn), chúng tôi tới đây mời bà vào phòng an ninh sư đoàn, với trách nhiệm bảo vệ sự an toàn tính mạng của bà và các con bà. Nếu bà có tài sản quý giá nào thì bà cứ mang theo”. Một tuần sau vợ và con tôi bị đưa từ Biên Hoà về số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm - Sài Gòn cho đến ngày 30.4.1975. Đương nhiên, họ vẫn điều tra vợ tôi về những gì liên quan đến tôi, nhưng không bị đối xử vô nhân đạo. Có thể đó là những người có học và biết cách ứng xử một cách văn hoá với người thân của kẻ thù. Trong thời gian vợ tôi bị giam ở số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, trung tướng không quân Trần Văn Minh đến thăm với tư cách người chỉ huy có một người lính phản chiến. Ông ấy hỏi vợ tôi có cần bạn bè, người thân đến chuyện trò gì không hay cần mua sắm gì thì ông sẽ giúp đỡ."
. . .