Wednesday, April 10, 2024

 

Saturday, April 6, 2024

 VŨ XUÂN THÔNG - TRẬN PHƯỚC LONG .


. . . 

Vào tháng 1 năm 1975 khi Biệt Đoàn chúng tôi được lệnh tăng viện cho Tiểu Khu Phước Long, lúc này đang bị trên một sư đoàn địch vây hãm, các đơn vị địa phương hầu như đã tan hàng. Nói là Biệt Đoàn nhưng thật ra chỉ có 2 Biệt Đội 811, 814 và Bộ Chỉ Huy, tổng cộng khoảng 320 nguời. Không Đoàn 43 Chiến Thuật thuộc Sư Đoàn 3 Không Quân là đơn vị yểm trợ và đổ quân, dưới cơn mưa pháo 105 ly, 155 ly, hỏa tiễn 122 ly và súng cối, các phi đoàn trực thăng đã hoàn thành nhiệm vụ một cách phi thường với tổn thất không đáng kể.

Đích thân Chỉ Huy Trưởng của tôi, cựu Đ/Tá Phan Văn Huấn và Đ/Tá Triệu đã trực tiếp chỉ huy cuộc đổ quân. Nhìn từ trên trực thăng xuống thị xã Phước Long tôi nghĩ khó mà đáp được vì cả thị xã ngập trong khói lửa của đủ loại pháo chưa kể hỏa lực phòng không của địch tua tủa bắn lên đây trời với đủ loại từ đại liên 50,súng cá nhân, 23 ly và 37 ly. Tiếng đạn pháo nổ dưới đất cộng tiếng các loại phòng không nổ ngang trời nhắm vào các phi tuấn A-37 va F-5 đang cố thả những trái bom và bắn rocket yểm trợ cho cuộc đổ quân vang rền cả một vùng trời.

Tôi chỉ còn trông cậy vào tài bay bổng của các bạn đưa tôi an toàn xuống đất, chỉ cần chúng tôi đặt được chân xuống đất, dù chưa biết sau đó sẽ ra sao. Và thật như một phép lạ, cả hai lần đổ quân đều trót lọt, tất cả đều nhờ tài khôn ngoan của phi hành đoàn. Thay vì đáp ngay xuống thị xã, các phi hành đoàn của Không Đoàn 43 Chiến Thuật đã đáp xuống cạnh các khe suối cạnh thị xã, là những nơi khuất tầm quan sát của các tiền sát viên địch. Địch đã bố trí quanh khu vực Phước Long một trung đoàn phòng không với đủ mọi loại súng từ 12 ly 8 đến 23 ly và 37 ly. Tiền sát viên của địch ở khắp nơi, nhất là đỉnh núi Bà Rá đã bị địch chiếm mấy ngày trước. Biệt Đoàn I Chiến Thuật của tôi chỉ gồm có Bộ Chỉ Huy và 2 Biệt Đội (Biệt Đoàn -), không quá 300 người. Lực lượng trú phòng của Tiểu Khu Phước Long và các đơn vị tăng phái không còn bao nhiêu.

Tiểu Đoàn 7 thuộc Trung Đoàn 9 của Sư Đoàn 5 chỉ còn không quá 100, Đại Đội 5 Trinh Sát, Sư Đoàn 5 chỉ còn hơn 10 người đã dạt vào đơn vị tôi, Đại Đội Trinh Sát Sư Đoàn 18 Bộ Binh còn Đại Đội Trưởng và hơn một trung đội. Hai Tiểu Đoàn Địa Phuơng Quân đã tan hàng, quân nhân còn lại cũng lẫn lộn trong hàng rào phòng thủ của Biệt Đội 811 của tôi. Cộng chung lại không quá 500 tay súng để chọi lại với lực lượng địch trên 10 ngàn với đủ bộ xe pháo mã tốt. F-5 và A-37 vẫn yểm trợ tích cực nhưng với một hệ thống phòng không chằng chịt không thể xuống thấp để có thể đánh bom chính xác hơn. Từ dưới đất tôi thấy chỉ một chút sơ hở là những chiếc F-5 và A-37 kia sẽ vỡ tung, có một vài trái bom đã rơi vào vị trí bạn …phải chấp nhận thôi .Dù sao sự hiện diện của những chiếc phi cơ này cũng khiến dịch không dám điều động thiết giáp tiến sát đến vị trí chúng tôi. Dân và lính bỏ đơn vị tràn ngập vị trí chúng tôi khiến không thể nào kiểm soát được, tuy vậy chúng tôi vẫn đẩy lui được nhiều đợt xung phong của địch và đã hạ được 4 chiến xa địch. 

Vào lúc chạng vạng tối ngày 5 tháng 1 năm 1975, chiến xa địch và bộ binh tiến sát vị trí Bộ Chỉ Huy của tôi, sau đợt pháo 130 ly, 155 ly, 122 ly và 105 ly, chúng thả một toán đặc công vào 2 lô cốt trống , nhờ phát giác kip thời nên đã bị tiêu diệt ngay sau đó.

Suốt trong thời gian từ ngày 4 tháng 1 năm 1975 đến ngày 6 tháng 1 năm 1975, không lúc nào địch ngưng pháo vào vị trí chúng tôi, chúng mở nhiều đợt tấn công có chiến xa yểm trợ mong tiến sát vào vị trí chúng tôi. Sáng ngày 5 tháng 1 năm 1975, tôi đơn phương quyết định không cho C-130 thả dù tiếp tế nữa vì 1/2 khu vực thị xã đã rơi vào tay địch trước đó 2 ngày. Hầu như 9/10 những kiện hàng tiếp tế đều rơi vào tay địch, các phi vụ oanh kịch không hiệu quả, không còn pháo binh yểm trợ, không tiếp viện. Ở tại Quân Đoàn III, Trung Tướng Dư Quốc Đống từ chối lệnh thả phần còn lại của Liên Đoàn 81 BCND. Trong tình thế này, tôi buộc phải cho lệnh đơn vị rút khỏi Phước Long để bảo toàn đơn vị, tôi đã phải để lại hơn 60 xác đồng đội tại đây. Một điều đau đớn chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử của đơn vị tôi. Tôi đã phải phân tán đơn vị tôi thành từng toán nhỏ, lợi dụng đêm tối, vượt qua hàng rào bao vây của địch để thoát ra ngoài. Phước Long thất thủ vào sáng ngày 6 tháng 1 năm 1975.

Trong lúc đơn vị tôi còn đang tìm cách vượt qua vòng vây của địch thì ngày 7 tháng 1 năm 1975 đã có một buổi họp cao cấp của Quân Đội, giống như tòa án quân sự, họ cố gán ghép việc thất thủ Phước Long là do lỗi của Không Đoàn 43 Chiến Thuật thuộc Sư Đoàn III Không Quân Biên Hòa. Thật là vô cùng phi lý nếu không nói là ngược ngạo. Trong khi các phi cơ của các Phi Đoàn Trực Thăng 221, 223, 231 237 … phi cơ L-19 còn đang bay tìm kiếm và bốc các toán đã vượt qua được vòng vây địch thì tại hậu phương họ đang bị kết tội.

Trách nhiệm làm mất Phước Long nếu nói thuộc về tôi, người đã tự quyết định rút khỏi Phước Long, cao hơn là vì chỉ huy trực tiếp của tôi đã không buộc tôi phải hy sinh cả đơn vị để cố thủ một vị trí mà gần như đã hoàn toàn chiếm giữ bởi quân địch. Chúng tôi còn sống sót không trách cứ bất cứ cấp chỉ huy nào. Người lính chỉ biết tuân hành mệnh lệnh nhưng rõ ràng trách nhiệm làm mất Phước Long thuộc về người đã ra lệnh thả một đơn vị 300 người vào chỗ cầm chắc 90% để thua về một mục đích chính trị. Một ván bài tháu cáy, và đã thua, là khởi sự cho sự sụp đổ sau này.

Tôi đã ghi ở phần trước là giữa Không Quân và các anh em 81 BCND, ngoài tình huynh đệ chi binh, chúng tôi còn có một cái nghĩa “giang hồ”. Trong buổi họp, Đ/Tá Huấn, Chỉ Huy Trưởng 81 BCND đã dũng cảm tuyên bố trước mặt các tướng lãnh:

“Mất Phước Long, lý do tại sao quý vị đều biết nhưng không ai nói ra. Phần Liên Đoàn 81 chúng tôi vào chỗ chết đã đành bởi nghề nghiệp chúng tôi là chọn chỗ chết để đi vào. Riêng các anh em Không Quân, các phi hành đoàn trực thăng đã làm quá bổn phận của họ, đã chết lây với chúng tôi, thật tội nghiệp. Nay đưa họ ra tòa, tôi cho là vô lý, nếu có lỗi làm mất Phước Long, tôi nhận lỗi. Xin quý vị tiếp tục họp và cho tôi biết kết quả, tôi xin phép ra về vì còn nhiều việc phải làm”

Mãi 2 ngày sau, tôi và Bộ Chỉ Huy mới thoát ra khỏi được vòng vây địch. Ban đêm di chuyển qua các bãi trống, tôi phát giác được nhiều chốt của địch đang bám giữ các bãi đáp này. Sáng cuối cùng chúng tôi tới được một nương sắn (khoai mì), đã thấy nhiều trực thăng đang bốc các toán lẻ cách thị xã khoảng 5 đến 10 cây số. Tôi không còn máy để liên lạc với họ vì chiếc mày truyền tin PRC-25 cuối cùng đã bị Hiệu Thính Viên của tôi đánh rớt xuống nước khi vượt qua sông vào buổi tối. Phương tiện liên lạc duy nhất là một mảnh kiếng nhỏ bằng 2 đầu ngón tay, tôi cũng không hy vọng được bốc ra. Ở tại Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn, mọi người đều nghĩ tôi đã tử trận hoặc bị bắt . Còn đang kiểm điểm xem còn lại bao nhiêu người trong BCH của tôi, bất chợt tôi nghe lùng bùng ở tai. Tôi biết đang có trực thăng bay rất thấp vì tiếng quạt gió làm rung chuyển lớp không khí còn ướt hơi sương, chỉ trong một khoảnh khắc ngắn chiếc chiếc trực thăng UH1 đã ở ngay phía trước. Anh em vội bẻ gẫy một số cây khoai mì, trong lúc đang ra dấu cho trực thẳng vào vị trí, tôi chợt nghe nhiều loạt súng cá nhân từ các đồi bên cạnh bắn qua, có lẫn cả tiếng nổ của đạn súng cối bắn vào vị trí quanh bãi đáp. Vì số cây khoai mì còn nhiều nên trực thăng chỉ lơ lửng trên đầu ngọn cây khoai mì, anh em tự nhảy lên bám vào càng leo lên rồi kéo người khác lên. Đạn bắn càng lúc càng gần, đốn gẫy các cây mì chung quanh.

Vì đạn địch bắn quá gần nên phi hành đoàn buộc phải cất cánh vội vàng. Tôi và Đ/Úy Thành, sĩ quan liên lạc Không Quân (ALO) phải nhảy lên mới bám được vào càng bên trái của chiếc trực thăng.

Khi anh em kéo tôi lên được trên sàn tàu, tôi phải xoay người lại nhờ anh em bám chặt hai chân, cúi xuống nắm lấy hai cổ tay của của Đ/Úy Thành và la lớn để anh thả hai tay ra thì tôi mới kéo anh lên được. Nhưng Anh Thành vẫn không chịu buông tay ra và la lên “Cho tàu đáp xuống” …khi chiếc trực thăng đã bốc lên cao khoảng 200 bộ , bỗng nhiên anh bỏ tay ra không báo trước nên tôi đã để vuột anh. Nhìn anh rơi xuống như một chiếc lá rụng, chiếc áo jacket da bò xòe ra như một cánh bướm mất hút với tiếng la thảm thiết của anh, tôi như người mất hồn…Cả phi hành đoàn đều cúi xuống nhìn anh rơi mà không màng đến hàng trăm viên đạn phòng không đang túa theo chiếc trực thăng đang nặng nề rời bãi .

Chiếc trực thăng duy nhất của Không Đoàn 43 đó Tr/Uy Sơn (Sơn Rỗ) lái đã phải cất cánh với 32 nguời kể cả phi hành đoàn, nó đã bị quá tải (overtorque), chỉ bay mà không đáp được nữa vì nếu đáp sẽ không còn có thể cất cánh được nữa.

Trong đời binh nghiệp của tôi từ khi còn là một toán trưởng thám sát cho đến khi trở thành một cấp chỉ huy cao hơn, chưa bao giờ tôi phải ân hận như thế, đã để rớt Đ/Úy Thành. Hình ảnh của anh còn mãi trong tôi như một cơn ác mộng luôn đè nặng lên tôi trong nhiều năm.

Có rất nhiều phi hành đoàn trực thăng đã chết lây theo chúng tôi. Vì là một đơn vị lấy phương tiện không vận và không yểm là con chủ bài, hầu hết các cuộc hành quân của Liên Đoàn 81 BCND đến nằm trong vùng địch và sau lưng địch, không nằm trong tầm pháo binh, có khi còn phải chuyển tiếp qua căn cứ tạm để tiếp nhiên liệu vì thời gian bay của trực thăng không đủ bảo đảm số thời gian bao vùng. Nếu nói một cách tàn nhẫn hơn thì dù 81 BCND chỉ là một đơn vị nhỏ nhưng đã làm thiệt hại rất nhiều phi cơ của cả hai phía Hoa Kỳ và Việt Nam. Tôi đã sống hết đời quân ngũ trong chỉ một đơn vị duy nhất, 12 năm khởi đầu bằng nghề Toán Trưởng, leo lên đến được BCH/ Biệt Đoàn, tôi đã chứng kiến được nhiều điều đau xót. Quên sao được khi lần đầu tiên bước chân lên chiếc H-34 nặng nề như một con voi của Phi Đoàn 215 Thần Tượng, nhớ những Anh Vui, Vinh, Khôi, Mành, Trắng, Hiếu …Những con người hào hoa đã đưa chúng tôi vào những mặt trận “thắt cổ họng còn sướng hơn” như Bình Giả, Pleime, Đức Cơ, Đồng Xoài …và đã đón chúng tôi trở về trong niềm vui gặp lại vợ con, bằng hữu. Quên sao những bạn bè như Trọng, Vỹ, Bảo, Dõng, Duyên và hàng trăm phi công trẻ của Không Đoàn 43 Chiến Thuật, những cánh bay mong manh L-19 thủng hàng chục lỗ đạn. Quên sao được những buổi hàng đoàn trực thăng đáp xuống sân căn cứ hành quân ở Suối Máu, Biên Hòa, phi hành đoàn ngồi chờ phi vụ với một khúc bánh mì, gói xôi đậu xanh mua vội ở Biên Hòa. Những con người đã từng đối đầu với gian nguy cùng với chúng tôi qua bao nhiều mặt trận mà cuộc sống vật chất không đủ để nuôi vợ con, nhưng vẫn cười vang mỗi lần gặp gỡ.

Chúng tôi đã không có đủ khả năng để đãi các bạn một bữa cơm trưa thanh đạm mà phải để các bạn bay về căn cứ, nuốt vội bữa cơm ở Câu Lạc Bộ, để rồi lại phải tiếp tục suốt buổi chiều, có khi trở về khi trời đã tối. Thế mà các bạn vẫn cười, không có một lời phiền hà. Chúng ta đã cùng chiến đấu để không vì miếng cơm manh áo của chính mình mà vì để bảo vệ miền Nam tự do, tránh được cái họa cộng sản.

Mỗi lần đi tham dự ngày họp mặt của các Quân Binh Chủng bạn, nhìn lại các chiến hữu xưa, nay đầu đã bạc trắng bỗng bùi ngùi nhớ lại thân phận mình. Nhớ tới tôi đã chưa một lần gửi lời cảm ơn các bạn, vì lòng nhiệt thành của các bạn, biết bao nhiêu lần chỉ vì để cứu một người lính 81 BCND trong vòng vây địch, để rồi lại phải hy sinh cả phi hành đoàn, chúng tôi đã phải chấp nhận những tổn thất về nhân mạng. Chúng ta khác kẻ thù, chúng ta quý nhân mạng hơn, dù chỉ là một người lính bình thường. Biết bao lần tôi chứng kiến những chiếc trực thăng bị nổ tung khi vừa vào bãi đáp, không một người sống sót. Sự tiếp cứu sau đó chỉ để mang về những xác người đã cháy đen!!! Còn gì buồn hơn khi thấy người phi công thoát ra khỏi chiếc A-37 bị bắn cháy, chiếc dù cứ trôi theo gió rồi rơi vào đất địch. Hãy cảm nhận nỗi đau khổ của anh em chúng tôi, những người tiếp cứu một phi công L-19 của Không Quân Việt Nam bị bắn cháy chỉ mang về một thi thể trần truồng. Địch đã xỉ nhục hay căm thù đến nỗi lột hết quần áo của một người đã chết thân thế không còn nguyên vẹn. Cái bản chất cầm thú của kẻ địch đã đối xử với một người đã chết còn như thế, thử hỏi đối với những chiến hữu của chúng ta rơi vào tay địch còn phải chịu đựng những khổ nhục như thế nào? Bao nhiêu chiến sĩ Không Quân đã hy sinh, bao nhiêu người đã rơi vào tay địch?

Hoàng hôn ngày 27 tháng 4 năm 1975, giữa khung trời còn âm u khói từ kho bom phi trường Biên Hòa bị nổ trước đó vài ngày, tôi đứng bên nầy hàng rào nhìn hàng chục chiếc trực thăng cất cánh rời bỏ phi trường. Thế là hết, ẩn ý như một lời vĩnh biệt…đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy những cánh chim ấy, những cánh chim đã cùng chúng tôi trải qua bao gian nguy.

Bây giờ những cánh bay ấy có thể đã nằm mục rã ở một vài bãi phế thải nào đó, hoặc năm sâu dưới đáy biển sau lần bay cuối cùng, hay may mắn hơn được nằm trong các viện bảo tàng chiến tranh. Nhưng những con người điều khiển chúng vẫn còn nhiều, lòng yêu nước và tinh thần dấn thân vẫn còn và mơ ước một ngày nào đó được bay trên vùng trời Tổ Quốc Việt Nam Tự Do .

Cuộc chiến tranh này chưa bao giờ chấm dứt, nó chỉ được thay đổi hình thức mà thôi …

 alt

“Old soldiers never die; they just fade away.” 

General Douglas MacArthur

Vũ Xuân Thông

Liên Đoàn 81 BCND


All reactions:2Tarrega Tang and Nguyen Vinh Ken

O

Friday, April 5, 2024



chụp nhân dịp thủ về thăm vn, cách đây trên 20 năm.



 

 QUAN HỆ GIỮA ĐCSVN VÀ ĐCSTQ TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM


- "Không thể lấy bàn tay che mặt trời” và “không có lửa, sao có khói”.
- “Nếu buộc phải ngửi cứt thì nên ngửi cứt Tây, không nên ngửi cứt Tàu” -- Ông HCM đã trả lời trong một phỏng vấn của một nhà báo phương Tây. Đúng là ghét của nào trời cho của nấy.
Tôi đăng lại bài này để các bạn hiểu thêm về SỰ GIÚP ĐỠ TOÀN DIỆN của TC nhằm giúp CSVN nhuộm đỏ Đông Dương (từ 1949-1975) mà hậu quả là VN càng ngày càng lệ thuộc vào TC.
===========
Lời mở đầu: Trước đây, trên đài BBC đã có bài nói về sự tham dự của quân TC trong trận Điện biên phủ 1954 -- do các viên chức TC phổ biến.
Bài dưới đây dịch từ quyển Looking Back on the Vietnam War của William Head, ấn bản 1993 (từ trang 106-114). Tác giả W. Head đã dựa vào các tài liệu mà một phần lấy từ báo chí chính thức của TC. Theo tôi nghĩ bài viết này đã nêu được nguyên nhân chánh dẫn đến thái độ trịch thượng và đàn anh của TC trong thời gian qua.
Ba dấu chấm trong ngoặc (…) tượng trưng cho những đoạn nói về chính trị giữa hai phe trong cuộc chiến VN, tôi xin lược bỏ vì nghĩ rằng điều này không làm thay đổi ý tưởng của tác giả W. Head. Sau đây là phần chuyển ngữ.
======
I/ TRUNG CỘNG ĐÃ DỒN HẾT TIỀN CƯỢC VÀO HÀ NỘI
“Trong những năm đầu của thập niên 1960, Bắc VN đã là một trong những đồng minh về chính trị và quân sự thân thiết nhứt của Bắc kinh (BK). Khi cuộc khẩu chiến giữa TC và Liên Xô (LX) leo thang, và khi LX dưới thời Krushchev nhích từng bước tiến tới sự không can dự vào cuộc xung đột đang leo thang ở Đông dương thì Hà Nội (HN) ngày càng ngã theo BK. Vào khoảng đầu năm 1964, HN đã thực sự đứng hẳn về TC khi phong trào CS quốc tế đã tách làm hai nhánh. Khi Krushchev mất chức và Mạc tư Khoa theo đuổi một chánh sách can thiệp mạnh hơn dưới thời Kosygin và Brezhnev, thì dù cho HN đã cố gắng giữ khoảng cách bằng nhau đối với hai đàn anh nhưng quan hệ HN-BK vẫn luôn luôn thắm thiết. Theo lời ông Hoàng văn Hoan (từng là phó chủ tịch quốc hội VN), cho tới năm 1968, HN luôn thỉnh thị ý kiến BK trước khi quyết định một việc gì quan trọng (4). Tóm lại Mỹ đã lâm chiến với một trong những đồng minh thân thiết nhứt của TC. Ảnh minh họa:
. .
Sức nặng của quyền lợi của TC tại bắc VN đã được phản ảnh qua quy mô của hỗ trợ của TC đối với HN trong cuộc chiến. Theo BK, giữa 1950 và 1978, TC đã cung cấp chiến cụ tương đương với hơn 20 TỈ ĐÔ LA cho bắc VN. Số lượng này gồm vũ khí, đạn dược, và quân trang quân dụng đủ trang bị cho 2 triệu binh sĩ. Chỉ trong năm 1962 thôi, nhằm nâng cấp khả năng chiến đấu cho lực lượng CS tại nam VN để đối phó với những cố gắng chống du kích của Mỹ và VNCH, TC đã cung cấp 90.000 súng máy và súng trường. Theo những tiết lộ sau cuộc chiến, TC đã cung cấp sự hỗ trợ SỐNG CÒN cho bộ máy hậu cần (tiếp vận) của bắc VN gồm việc cung cấp hơn 30.000 xe tải, 2 triệu tấn xăng dầu, và sửa chữa 900 km đường xe lửa. TC cũng cung cấp cho HN một số lượng lớn đường ray, đầu máy và toa xe lửa; đã trang bị toàn bộ cho vài trăm nhà máy cho bắc VN; và đã cung cấp hơn 300 triệu mét vuông vãi và 5 triệu tấn gạo; cộng với một số lượng lớn lao những mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống hàng ngày của dân chúng bắc VN. (Thời gian đi tù ở miền Bắc từ 1977-81, tôi nhận thấy các nông cụ trong các trại tù đều sản xuất tại TQ; lương khô 701, quần áo, mền, kể cả quần đùi cho tù; áo khoác dài mùa đông 2 lớp cho CA cũng của TC.- người dịch). TC cũng cho HN ngoại tệ mạnh tương đương vài trăm triệu đô (6).
. . .
Có thêm những sự kiện quan trọng nói lên sự hỗ trợ mạnh mẽ của TC cho HN trong giai đoạn giữa thập niên 1960 (12).
Thứ nhứt, vào MÙA XUÂN 1966, gần 50.000 lính TC đã có mặt tại bắc VN để điều khiển súng phòng không, điều hành công tác hậu cần và sửa chữa các tổn thất do bom gây ra. Theo thống kế chính thức của TC, giữa tháng mười 1965 và tháng ba 1968 (khi quân TC đã rút đi) có tổng cộng hơn 320.000 quân TC đã phục vụ tại bắc VN với năm cao nhứt lên tới 170.000 người (13). Không quân của bắc VN đã xử dụng các sân bay ở nam TC. Một hệ thống ra-đa bao gồm các trạm ở nam TC đã được lập để bảo vệ không phận bắc VN cũng như theo dõi và cung cấp các hoạt động của không quân Mỹ cho KQ của bắc VN.

Thứ hai, các đơn vị giải phóng quân của TC được đưa vào bắc VN vẫn mặc quân phục chính quy, giữ nguyên phù hiệu của đơn vị và đã xử dụng cách liên lạc thông tin không có độ an ninh cao. Họ cố tình cho người Mỹ biết ý định và quyết tâm của họ trong cuộc chiến VN.
Thứ ba, trong một số trường hợp, máy bay TC đã giao chiến với máy bay Mỹ khi họ lỡ xâm nhập vào không phận TC để truy kích đối phương: BK cho biết đã bắn hạ 9 máy bay Mỹ và gây hư hại cho 2 chiếc khác. Dù cho thông tin này cũng như thông tin về số máy bay Mỹ bị bắn rơi trên bắc VN bởi máy bay bắc VN – nhưng do phi công TC lái – không được một nguồn tin độc lập kiểm chứng, nhưng điều này có thể đã xảy ra.
Theo những báo cáo sau này của TC, thương vong của quân TC, phục vụ tại bắc VN, do bom Mỹ gây ra khoảng 20.000 người gồm chết và bị thương.
Thứ tư, quân TC đã xây một khu phức hợp lớn lao, với hầm hào kiên cố tại Yên Bái (khoảng 140 km tây bắc HN), nằm trên đường xe lửa từ Côn Minh đến HN dọc theo sông Hồng. Khu phức hợp này với những súng cao xạ đặt trong hang cũng như trên đường rầy cộng với một phi đạo lớn, hình như được thiết kế để làm một thủ đô dự phòng trong trường hợp HN bị thất thủ bởi một cuộc tấn công của quân Mỹ và VNCH, hoặc để làm một căn cứ cho quân TC trong trường hợp quân TC can thiệp ồ ạt và công khai vào cuộc chiến VN.
. . .
Vào cuối năm 1967, vùng đệm/cấm bay, đối với phi công Mỹ, dọc theo biên giới Trung-Việt đã thu hẹp còn 5 km. Để đáp lại sự bành trướng này của KQ Mỹ, số sư đoàn phòng không của TC ở bắc VN đã tăng từ hai lên ba (24). “
CHÚ THÍCH :
4 . Hoàng văn Hoan, “Sự phản bội tình hữu nghị Việt-Trung của Lê Duẫn“, sách bằng tiếng Hoa, (BK : nhà xuất bản Nhân dân , 1982).
6 . Hoàng văn Hoan, “Không được phép bóp méo sự thật về tình hữu nghị Việt-Trung trong thời chiến”, (BK : Nhân dân nhật báo, ngày 27/11/1979): trang 1, 5.
12 . Allen Whiting, The Chinese Calculus of Deterrence, 1975: trang 170-95.
13. Nhân dân Nhật báo, BK, ngày 21/11/1979: trang 4.
24 . Theo thư của Allen Whiting gửi cho tác giả, ngày 9/4/1991.




II/ THÔNG TIN THÊM VỀ QUAN HỆ VIỆT TRUNG

A/ Quân viện của TC cho CSVN -- chỉ so sánh giữa năm 1964 với 1965.
- Súng nhỏ (gun): tăng 2.8 lần, từ 80,500 lên 220,767 khẩu.
- Súng đại bác (piece of artillery/có lẽ kể cả cối 61 ly, 82 ly, 120 ly và súng không giật 57 và 75 ly -- người dịch): tăng khoảng 3 lần, từ 1.205 lên 4.439 khẩu.
- Đạn súng nhỏ (gun bullet): tăng gần 5 lần, từ 25.2 triệu lên 114 triệu viên.
- Đạn đại bác (artillery shell): tăng gần 6 lần, từ 335.000 đến 1.8 triệu viên.
Giữa năm 1966-67, nguồn quân viện này giảm nhẹ so với năm 1965 trước khi đạt cao điểm vào 1968. Từ 1969-70, giảm mạnh khi Bắc Kinh rút lực lượng hỗ trợ khỏi miền Bắc VN. Nhưng tới năm 1972 lại có sự tăng gia quân viện cho bắc VN, hậu quả của quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh.
B/ Quân viện của TC cho một đv CSBV tại Lào.
Năm 1967, để giúp đỡ cho 1.890 quân chính quy CSBV tại Thượng Lào, ngoài súng đạn và quân dụng, TC đã giúp: 5.670 bộ quân phục (ba bộ mỗi năm cho một người), 5.670 đôi giày (3 đôi mỗi năm cho mỗi người), 567 tấn gạo (0.8 kí mỗi ngày cho mỗi người), 20.7 tấn muối , 55.2 tấn thịt (meat), 20.7 tấn cá, 20.7 tấn mè và đậu phộng, 20.7 tấn đậu, 20.7 tấn mỡ, 6.9 tấn xì-dầu, 20.7 tấn đường trắng, 8.000 bàn chải răng, 11.100 ống kem chải răng, 24.700 cục xà bông thường, 10.600 cục xà bông thơm, và 109.000 gói thuốc lá. Tổng cộng có 687 món khác nhau bao gồm banh bóng bàn, bóng chuyền (volley ball), kèn harmonia, bộ bài tây, kim gút, mực viết máy (fountain pen ink), kim máy may (sewing needle), và hạt giống rau cải (vegetable seed); xem chú thích 28.
C/ Dựa theo báo cáo về cuộc sống khó khăn của lính CSVN của các ký giả TC khi họ thăm các đv CS tại vùng núi của Nam VN vào năm 1965, tháng 11/65 Mao ra lịnh "phải gửi mùng, quần áo, thịt hộp (canned food), thịt sấy (dried meat), thuốc, quần áo kỵ nước (có lẽ bằng ni-lông -- người dịch), võng, và các thứ khác với số lượng lớn" cho những đv này. Chu ân Lai nói rõ, các thứ này phải "dễ dùng, dễ mang và dễ giấu". Ông yêu cầu các thùng quân trang quân dụng này ko nặng quá 30 kí vì các phụ nữ VN ko thể mang trọng lượng như vậy trên đầu hay vai", xem chú thích số 30.
Dịch từ: China & the Vietnam Wars, 1950-1975 của Qiang Zhai, nxb The University of North Carolina Press.

III/ CẬP NHẬT THỨ NHỨT.

Để giám sát việc chuyển vận quân viện cho VNDCCH, Bắc Kinh trong năm 1965 lập một nhóm lãnh đạo đặc biệt với đại tướng La Thụy Khanh (Luo Ruiqing), tổng tham mưu trưởng Giải Phóng Quân TQ từ 1959-65, làm giám đốc:
Quân viện cung cấp bởi TC, LX, và các nước XHCN khác được chở bằng xe lửa đến các TP gần biên giới VN, như Bằng Tường (Ping Xiang) tỉnh Quảng Tây, nơi mà chúng được chở sang VNDCCH bằng xe lửa hay xe tải. Chẳng bao lâu, những quân viện này đã quá khả năng vận chuyển của VN, và các ga xe lửa và nhà kho TQ đầy ấp quân viện này. Bắt đầu năm 1967, TQ đã dùng hơn 500 xe tải để giúp chở những hàng này vào VNDCCH.
Để đẩy mạnh việc vận chuyển quân viện đến Nam VN, TQ đã lập một đoàn tàu biển bí mật để chở hàng hóa tới vài đảo ngoài khơi miền trung VN để chuyển tiếp tới miền nam. Một cảng bí mật được lập tại đảo Hải Nam để phục vụ đoàn tàu biển này. Bắc Kinh cũng mở một đường biển rất tốn kém tới KPC để chuyển vũ khí, đạn, thực phẩm, và thuốc men cho Mặt trận Giải phóng Dân tộc tại Nam VN. Giữa 1965 và 1967, vũ khí TQ trang bị cho 50.000 quân đã tới cảng Sihanoukville. Một số vũ khí này trang bị cho quân đội KPC.
Biểu đồ (chart) dưới đây cho thấy tầm mức của quân viện từ 1964-1975 của Bắc Kinh cho VNDCCH: Quân viện của TQ cho Bắc VN tăng nhanh trong năm 1965.


NHẬN XÉT: Trước đây, các tỉnh ven biển miền Trung VN thỉnh thoảng thấy những bao gạo 50 kí, bọc ni lông kín nước, của TC tấp vào bờ . Thời gian đi tù ở miền bắc từ 1977-81, quần áo của tù cũng như của CA cai tù gồm cả quần đùi, áo khoát đi mưa và áo khoát mùa đông 2 lớp, v.v... đều làm tại TC.
Riêng quân trang của bộ đội chính qui Bắc Việt từ đầu tới chân đều do TC sản xuất.
Lúc được chuyển trại bằng tàu từ nam ra bắc, chúng tôi được phát lương khô 701 của quân đội TC, xem hình, làm từ các loại bột như đậu xanh, v.v... nghiền nát và trộn với đường và đóng thành bánh, rất bổ dưỡng. Có thể ăn liền hay nấu thành chè rất dễ dàng.
Dịch từ : China and Vietnam war , 1950-1975.


IV/ CẬP NHỰT THỨ HAI

"NHƯ CÁ TRONG NƯỚC: theo công thức của Mao, quân đội cách mạng của CSVN với đồng phục xanh lá cây và nón cối đang 'bơi lội trong dân'. Ở đây, tại sân vận động Đà Nẳng, 100.000 khán giả đã được tập họp cho buổi diễn hành lớn cho chiến thắng."
Dịch từ tuần báo Paris-Match số đặc biệt về 30.4.75.
Nhận xét: ngoài các biểu ngữ bằng tiếng Việt, đã xuất hiện biểu ngữ bằng tiếng Hoa; có lẽ nhằm báo cáo thành tích với đàn anh TC. Không rõ ngày chụp nhưng phải sau ngày 30.3.75, ngày Đà Nẳng lọt vào tay quân CSBV.


Ngày 5 tháng 4 2024.