Tuesday, February 11, 2020

Ngọn đồi cuối cùng
Cứ cách nhau 3 phút là các phóng pháo khu trục cơ cất cánh và đáp xuống phi trường. Trên bãi đáp trực thăng số 42, đang có 4 chiếc gồm 2 chiếc vận tải loại lớn Chinooks CH47C và 2 trực thăng võ trang UH1D đang sắp sửa cất cánh. Nhiệm vụ: Tiếp tế đạn cho một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 48 Bộ binh đang đụng địch ở chân núi Thị, một ngọn núi chế ngự hết cả vùng của đồn điền cao su Xuân Lộc rộng lớn (S.I.P.H.), và đang chuẩn bị chống trả những trận tấn công dữ dội hơn của Bắc quân.
Thiếu tá Luân, 36 tuổi (với 4.000 giờ bay, 12 huy chương), đã chấp nhận cho tôi cùng bay với ông ta. Chúng tôi sẽ nghỉ đêm tại mỏm núi và sáng sớm ngày mai chúng tôi sẽ bay lượn trên khắp vùng trận địa 60 cây số dàn quân của chiến trường Xuân Lộc trên Quốc lộ 1 và Tỉnh lộ 24.
Có một số thợ máy mặc quần áo chống cháy đang gắn những tấm lưới thép dưới lườn thực thăng Chinooks CH47C và chất đầy ắp các thùng đạn vào đó. Trong phòng lái là thiếu tá Luân và sĩ quan hoa tiêu. Bên trái của tôi là một sĩ quan pháo binh có cả ống nghe trên mũ và ống nói dưới cằm. Phía sau, hai bên hai ụ súng là hai anh xạ thủ với hai khẩu đại liên 50 chĩa ra ngoài, và dưới lườn trực thăng có hai ống phóng mỗi ống chứa 8 quả rốc kết. Chúng tôi cất cánh lúc 18 giờ 15 phút. Trực thăng lấy cao độ và trực chỉ hướng đông. Xuyên qua các đám mây chúng tôi thấy một đường thẳng dài của Quốc lộ 1, lấm chấm có vài dấu nổ của đạn pháo: Đó là tác xạ ngăn chặn của pháo binh Sư đoàn 5 đang phòng thủ các ngõ vào Trảng Bom.
Trực thăng sau đó chui qua các đám mây xuống thấp, bay rà rà trên các ngọn cây cao su của hãng S.I.P.H. Trên một con đường mòn thẳng vắt ngang đồn điền cao su, trên 12 xe vận tải molotova chở đầy bộ đội đang chạy rất gần. Thiếu tá bẻ cần quẹo gấp, Luân đưa trực thăng nằm đúng ngay trên trục của đường mòn. Thình lình hai, rồi bốn rung chuyển ngắn làm chấn động chiếc trực thăng. Bốn quả rốc kết đã được Luân phóng đi từ hai ống phóng và nổ đúng vào đoàn xe vận tải của Bắc Việt. Nhiều tiếng nổ dữ dội cho thấy là các quả rốc kết đều trúng mục tiêu. Lửa, khói và miểng đạn bắn ra tung tóe gần như bao trùm chiếc trực thăng, vì nó bay rất thấp. Chiếc trực thăng võ trang UH1D rung lên từng chập. Các đại liên thôi thì thi nhau nhả đạn. Xuyên qua cửa ngang hông được mở toang ra, trong chớp nhoáng tôi thấy một chiếc xe đang cháy và những tên bộ đội bé nhỏ mặc quân phục xanh bị cháy đang nhảy tứ tung như những tia lửa bắn lên tứ hướng từ một cục than hồng. Thế rồi không còn nghe thấy gì nữa cả.
Chiếc Chinooks CH47C lại bay rà lên trên tấm thảm xanh của rừng cao su, chỉ còn nghe tiếng phành phạch của hai cánh trực thăng. Cuộc tấn công vừa rồi chỉ kéo dài có 20 giây. Sáu phút sau, chúng tôi đã thấy núi Thị. Một mỏm đá với một chòm cây và một gian nhà lớn chỉ còn nửa nóc. Đó là biệt thự của chủ đồn điền cao su. Thiếu tá Luân đáp xuống một bãi đất rộng được đánh dấu bằng mấy trái khói mầu vàng, nằm cao hơn mỏm đá. Một anh thiếu úy đưa chúng tôi đến bộ chỉ huy của trung tá Phát, một phòng lớn ở tầng trệt của biệt thự, có bao cát chung quanh, và một số bàn đầy máy móc truyền tin và điện thoại. Trung tá Phát hớt tóc ngắn, cầm to, tôi có cảm tưởng ông toát ra sức mạnh và nghị lực. Trung tá Phát bắt tay tôi, tay kia đấm Luân một phát, rồi đãi chúng tôi mỗi người một cốc cà phê nóng có chế vào một chút rượu mạnh, xong vùa cười vừa nói:
– Các anh đừng lo, căn nhà này chắc lắm, toàn là xi măng cốt sắt. Năm 1947 biệt thự này đã bị cháy và người Pháp đã bỏ đi. Hai chục năm sau người Mỹ lại sửa lại, tăng cường tới nóc nhà bằng các tấm thép. Họ đặt mấy chiếc máy lạnh và sơn phết lại hết, màu xanh lá cây.
Rồi sau đó ông ta nghiêm sắc mặt lại, nói với thiếu tá Luân :
– Tôi đã mang lên được trên ngọn đồi nầy 4 khẩu 105 ly và 3 khẩu 155 ly. Nhưng tôi thiếu đạn, tôi chỉ có 30 quả cho mỗi khẩu. Tôi cần gấp ba lần như thế, và một số đạn bích kích pháo. Anh cố tìm mọi cách mang lên đây cho tôi. Đi làm 6 hay 8 chuyến. Và làm sao để tôi có một chiếc AC-119K trước 12 giờ đêm và cho nó trực thôi, sẳn sàng chờ lệnh, vì bọn Bắc quân chắc chắn sẽ chơi tôi vào lúc 2, 3 giờ sáng.
– Hai chiếc Chinooks đang mang đến cho anh 3 tấn đạn. Họ sẽ đến đặt trước nhà cho anh trong một vài phút nữa thôi. Về phần còn lại tôi sẽ làm cho anh tối đa.
Thiếu tá Luân tiến tới một máy truyền tin và gọi Biên Hòa,
Trung tá Phát đốt một điếu thuốc, lật bản đồ ra và giải thích cho tôi nghe về tình hình…
Sư đoàn 18 và Liên đoàn Biệt động quân của đại tá Phước đã đánh nhau với bọn nó trong suốt 12 ngày ở thành phố Xuân Lộc đổ nát nầy. Họ đã lãnh đủ hơn 20.000 quả pháo và rốc kết. Nhưng họ đã bắn sụm 37 chiến xa T54. Thứ hai vừa rồi, Bắc quân đã bọc vòng phía sau thành phố chiếm lại giao lộ Suzannah và sơi luôn một đoàn xe tiếp tế của mình. Sau đó họ bố trí cẩn thận hai bên ngã tư, điều chỉnh sẳn tác xạ và để 2 sư đoàn gần đó trong tư thế chờ đợi, hy vọng đánh tan xác chúng ta khi ta rút quân. Nhưng tướng Đảo đã “chộp” được chúng nó.
Trưa thứ hai tướng Đảo đã phản công và giải tỏa phần đất chung quanh phi trường trên hơn 2 cây số, đồng thời xin tiếp tế đạn thật nhiều cả bằng trực thăng và thả dù. Sau đó ngày thứ ba, nghĩa là mới hôm qua đây, thay vì lui về ông đã cho cả sư đoàn đi thẳng về phía trước theo trục các đồn điền Courtenay, Xa Bang, Bình Ba, Bà Rịa. Ông đã bất thần phá vỡ vòng vây Bắc quân, mang theo tất cả thương binh, tất cả xe cộ (50 xe vận tải và trên 30 chiến xa). Để giúp cho tướng Đảo thành công trong sự điều quân của ông ta, chúng tôi đã cho 2 tiểu đoàn đánh ngược hướng tiến quân của chúng để cho Bắc quân tưởng rằng chúng ta sẽ rút lui về hướng Sài Gòn theo Quốc lộ 1. Tiểu đoàn dù tình nguyện đâm thẳng vào Gia Kiệm để cầm chân một trung đoàn địch. Tiểu đoàn của tôi đã băng ngang đồn điền S.I.P.H. đánh ngay sau lưng địch, hạ sát trên 300 tên, cắt hết đướng dây điện thoại của chúng, và bất ngờ đã bắn hạ 2 chiến xa T54. Chúng tôi đã lên thẳng trên ngọn đồi nầy vốn chỉ được có một đại đội địa phương quân phòng thủ, và chúng tôi đã mất hết hai ngày hai đêm để tổ chức vị trí phòng ngự. Muốn đuổi chúng tôi ra khỏi đây hả? Chúng cũng phải trả một giá hết sức đắt.
Thiếu tá Luân đã cất cánh với chiếc trực thăng của ông ta. Đêm đã xuống hoàn toàn. Binh sĩ đã nằm ở vị trí chiến đấu, Và rải rác ở phía bên đường dẫn xuống đồng bằng, giữa những hòn đá, ở những vị trí pháo binh và bách kích pháo, các xạ thủ củng đã sẵn sàng. Dài theo bìa phía đồn điền, là một đại đội biệt động quân với các khẩu trung liên, súng phóng lựu và súng không giật 57 ly. Phải biết chờ đợi và biết giữ yên lặng. Vào lúc 10 giờ đêm, có tiếng phành phạch của trực thăng Chinooks nghe được mỗi lúc một gần. Binh sĩ cho đốt những ngọn đèn mà ánh sáng chỉ có trên không mới nhìn thấy, đánh dấu bãi đáp để nhận hàng tiếp liệu. Những chiếc trực thăng đảo tròn trên bộ chỉ huy, với những kiện hàng nặng trong các lưới thép lòng thòng dưới lườn. Chỉ trong vòng vài phút, họ đã đặt các kiện hàng xuống đất, hệ thống dây bịt thả ra hết và trực thăng lại bay đi. Và họ trở lại hai lần nữa. Từ xa, các tiếng nổ của đại bác gầm thét như những tiếng sấm trong cơn mưa. Nhưng cơn bão mà chúng tôi đang chờ đợi lại không thấy tới. Nằm gọn trong một hốc đá, tôi không tài nào ngủ được. Chỉ nghe tiếng dế gáy liên hồi…
Nhưng đến 3 giờ sáng thì mọi sự đều biến chuyển. Nhiều chùm lửa đỏ rực của pháo binh Bắc quân bay vào ngọn đồi. Có một số cây bị trốc cả gốc lên. Rồi có một đợt tiếng la vang dội dưới chân các mỏm đá, phía dưới chân đồi. Đó là lệnh xung phong của Bắc quân. Bộ đội Bắc Việt tấn công trực diện dọc theo hai bên con đường. Binh sĩ miền Nam không bắn phát súng nào. Họ chờ cho “bộ đội” đến gần hơn dưới 100 thước. Và lúc đó tất cả các loại súng đều nổ một lượt. Mấy ống bich kích pháo nhắm vào hai bên đường, nã đạn, nòng súng gần như thẳng đứng cho tầm tác xạ ngắn lại. Pháo binh 105 ly tác xạ ở cự ly 0 độ. Thấp hơn phía dưới, về phía bên trái các khẩu trung liên của biệt động quân nổ như bắp rang. Có vài trái sáng được bắn lên xé tan màn đêm tối, cho thấy các bóng người tan tác, ngã lăn oằn oại dưới đất với những tiếng kêu la thảm thiết. Rồi hai chiếc AC119K lại xuất hiện, đang xé gió bay tới…Sau tiếng gầm, lao xuống như hai con chim ưng gặp mồi và dùng các khẩu đại liên điện bắn như mưa xuống đám cán binh Bắc Việt còn sống sót đang tháo chạy tán loạn dưới cánh đồng. Có nhiều tràng pháo 130 ly bắn quá ngắn nên rơi hết xuống đám rừng làm trốc gốc thêm một số cây. Pháo binh 155 ly của miền Nam phản pháo lại cũng dữ dội như sấm sét..
Đến 5 giờ sáng thì mọi tiếng súng đều ngưng. Lúc trời sáng tỏ binh sĩ mới cẩn thận bước ra khỏi phòng tuyến và đi lần xuống đồi, súng lăm lăm cầm tay sẳn sàng nhả đạn. Trên mặt đất có rất nhiều xác của cán binh Bắc Việt mặc quân phục xanh lá cây, đội nón cối.
Đại úy Nhân trao cho tôi một ly cà phê nóng và nói:
– Đêm rồi mọi việc đều rất tốt. Nhưng mà họ sẽ trở lại. Một tiếng đồng hồ nữa thiếu tá Luân sẽ có mặt ở đây, và anh sẽ về với ông ta.
Vào 7 giờ sáng tôi lên trực thăng của thiếu tá Luân, và chúng tôi cất cánh, lên cao độ 1200 bộ và bay về hướng bắc. Nhìn từ trên cao, Xuân Lộc chỉ là một đống gạch vụn đầy bụi, duy nhất chỉ còn mỗi lầu chuông của nhà thờ sừng sững như một ngọn hải đăng. Trực thăng đổi hướng về hướng đông và xuống thấp là là trên ngọn cao su. Qua khỏi đồn điền Hàng Gòn, chúng tôi thấy một đoàn xe dài của Bắc Việt, các chiến xa, các xe pháo binh, và xe vận tải chở đầy cán binh đang di chuyển dài trên mấy cây số ngang nhiên như chỗ không người và không thấy có nghi trang. Thiếu tá Luân tạt thật nhanh đi chỗ khác, dùng vô tuyến báo động ngay cho Biên Hòa và vọt thẳng lên cao độ 1500 bộ. Mười phút sau, chúng tôi chứng kiến một cảnh tượng quá kinh hồn. Hai, rồi bốn, rồi sáu chiến đấu cơ A37 đâm bổ xuống tác xạ từ phía sau của đoàn xe gây nhiều đám cháy, lửa khói mịt mù…
Vài giây sau đó lại có hai chiếc vận tải cơ C130 thả xuống từ trên cao hai thùng tròn đen, có dù và khi gần chạm đất gây ra hai tiếng nổ thật kinh khủng và phi thường, tiếp theo sau đó là hai lằn ánh sáng ngắn màu xanh kỳ dị. Hai ngọn khói hình nấm tròn bốc lên cao với một luồng gió mạnh phi thường đến nỗi trực thăng của chúng tôi ở cao độ 1500 thước bị lắc lư rung chuyển thật mạnh, rồi rơi tuột xuống một khoảng không như một hòn đá, đến cao độ 800 bộ mới lấy lại được thăng bằng. Khi khói tan mới thấy được con đường ngổn ngang đầy xe cộ bị lật ngã, nghiêng ngữa, tan nát, các khẩu pháo bị tung xuống hố và thây người chết nằm rãi rác trên 200 thước bề ngang, cây cối bị trốc gốc ngã lộn nhào đưa cả rễ lên trời. Thật là một cái nhìn khiếp đảm, cả một sự hủy diệt chỉ trong nháy mắt. Thiếu tá Luân cho trực thăng bay sà xuống đường và bắn hết tất cả rốc kết dọc theo hai bên đường. Không có một tiếng súng bắn trả:
Thì ra thiếu tá Luân đã bắn vào một đoàn người chết…..
Sau khi đáp xuống sân bay Biên Hòa, thiếu tá Luân vừa cởi nón bay ra vừa nói với tôi:
– Anh có thấy rõ mức độ thiệt hại không? Hai thùng tròn đen được thả xuống ban nảy là hai trái bom CBU 55. Một đầu đạn được gắn vào phía trước hai thùng đen đó là bộ phận kích hỏa phát nổ gần mặt đất. Như vậy là không có góc độ “tử giác”. Trong vòng 150 thước đường bán kính, không còn một chút không khí nào hết, dĩ nhiên là không còn dưỡng khí ở đâu cả. Cộng thêm với làn sóng cực mạnh của sức nổ. Đây là một loại vũ khí kinh hoàng, chỉ có thể dùng nó khi nào địch quân tập trung đông đảo thì mới có hiệu quả cao.
– Như vậy họ dùng thuốc nổ loại nào?
– Tôi cũng không biết chính xác cho lắm. Loại bom nầy đã có từ lâu rồi, nhưng vì sợ dư luận của dân chúng Hoa Kỳ nên người Mỹ chưa bao giờ xử dụng. Khi rời khỏi Việt Nam, họ để lại cho chúng tôi một số loại bom này và có dặn chúng tôi là chỉ nên xử dụng khi nào tối cần thiết, coi như đó là biện pháp sau cùng. Gần như đây là loại vũ khí của “cơ may cuối cùng”, chúng tôi đã xử dụng nó trong vòng 3 ngày nay.
(Pierre Darcourt)
KHÔNG TẠI ĐÂY THÌ TẠI ĐÂU , KHÔNG BÂY GIỜ THÌ BAO GIỜ .
Có lần , trong 1 bửa ăn tại 1 tiệm phở ở San Jose , có 1 VK Mỹ * dự . Y khoe việc ăn chơi ở VN rẻ thúi nếu so với Mỹ , như massage tại nhà chỉ có 10 đô - thay vì 40 đô/giờ như ở mỹ , v.v...
* Vì y về VN thường xuyên nên tôi gọi y là VK , còn tôi ko về VN ngày nào nên ko là VK .
Tôi bèn lên tiếng : VK các anh chỉ làm HƯ HỎNG PHỤ NỮ VIỆT NAM , TIẾP TAY CHO BỌN CỘNG SẢN CAI TRỊ LÂU DÀI ĐẤT NƯỚC .
Trong khi có những NỮ LƯU như Mã Tiểu Linh , Lisa Phạm , Trang Nguyển , v.v... ngày đêm liên tục chửi bới CS , vạch mặt bọn chúng , v.v... các anh là nam nhi khỏe mạnh lại coi việc tranh đấu cho dân chủ là việc của người khác . Các anh cứ nêu lý do : sau bao năm làm "cu li" ở Mỹ , nay có quyền về VN HƯỞNG THỤ .
Cựu sĩ quan như anh và tôi không ít thì nhiều CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA VNCH , ĐÃ KHÔNG LẤY ĐÓ LÀM NHỤC MÀ CÒN KHOE KHOANG ĐÃ TUNG TIỀN ĐÔ ĐỂ MUA VUI TRÊN THÂN XÁC PHỤ NỮ VN !
Y ngồi im ko dám trả lời tôi . Tôi nói thêm : sống ở đời phải sống có Ý NGHĨA , nếu ko làm như vậy thì chết đi để khỏi chật đất !
Tôi cũng từng vào sinh ra tử * cho chế độ - và gia đình tôi đã ăn nên làm ra dưới chế độ này để rồi mất sạch sau ngày 30.4 : tôi chỉ tiếc là thành phần hết lòng với đất nước như tôi - CHIẾN ĐẤU tới giờ phút cuối cùng của cuộc đời - không nhiều .
* Chụp lúc là thiếu úy ở sư đoàn 7 bộ binh VNCH của tướng Nguyễn khoa Nam và Trần văn Hai .


Dân chủ đến thế là cùng !
Xem 3 hình này , Nguyễn phú Trọng đã nghĩ rằng : Vì bọn trẻ này muốn ở truồng hay làm các việc cực nhọc , hình 3 , là theo ý của chúng , chứ đảng đâu có bắt chúng phải làm điều đó . Đảng không có trách nhiệm chăm lo phúc lợi (welfare) của người dân , trừ đảng viên và gia đình chính sách hay có công với cách mạng .
Do vậy , trước 1975 , ở miền Nam có câu thơ :
- Mấy đời bánh đúc có xương ,
Mấy đời CS nó thương dân mình .




Cuộc rút quân khỏi Tiểu Khu Quảng Đức
Posted on March 29, 2016 by dongsongcu
Cựu Thiếu Tá Trần Văn Bường
Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh kiêm Tham Mưu Phó Hành Quân Tiểu Khu Quảng Đức
Giới thiệu tỉnh Quảng Đức




Sau khi thắng trận đánh thừa chết thiếu sống tại Căn cứ 42A (đèo Chu Pao – Pleiku), ngày 19/6/1972, tôi được vinh thăng Thiếu Tá đặc cách tại mặt trận. Đó là một phần thưỡng cao quý nhất tôi may mắn được (vì lên cấp tại mặt trận rất hiếm hoi đối với quân đội,đặc biệt binh chủng Pháo Binh (PB) như tôi lại càng khó khăn gấp trăm lần). Một tháng sau, tôi rời Tiểu đoàn 233 PB sang làm Tiểu đoàn Phó Tiểu đoàn 69 PB đóng tại Biển Hồ Pleiku. Với chức vụ mới này tôi thường đi hành quân với tư cách sỉ quan liên lạc Pháo Binh cạnh Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân (BĐQ) Quân Khu II của Đại Tá Phạm Duy Tất (sau lên Chuẫn Tướng), hoặc Bộ Chỉ Huy tiền phương của QĐII.
Vào giữa tháng 12/73,từ Pleiku tôi theo bộ chỉ huy Tiền Phương Quân Đoàn II do Đại Tá Nguyễn Trọng Luật chỉ huy bay đến Tiểu khu Quảng Đức (TK/QĐ) điều động cuộc hành quân giải tỏa áp lực địch tại căn cứ (trại LLĐB) Bu Prang (quận Kiến Đức). Căn cứ này nằm cạnh Quốc Lộ 14 sát ranh giới Campuchia,cách thị xã Gia Nghĩa tỉnh Quảng Đức chừng ba mươi cây số,được bảo vệ bởi Liên đoàn Địa phương Quân (ĐPQ) của Tiểu khu Khánh Hòa và Tiểu khu Quảng Đức. Vừa đến trung tâm hành TK/QĐ chưa tới hai đêm, căn cứ Buprang bị thất thủ bởi đặc công địch được xe tăng T54 yểm trợ. Thiếu Tá Nguyễn Hưũ Nghiã (Phan Thiết) – Chỉ huy Trưởng PB/TK/QĐ bị mất tích trong trận này. Tôi nhận lệnh thay thế thiếu tá Nghĩa ngay hôm đó. Một tuần sau, Đại Tá Phạm Văn Nghìn về làm Tỉnh Trưởng Quảng Đức thay thế Trung Tá Nguyễn văn Thiện và sau đó ông giao tôi kiêm nhiệm luôn chức vụ Tham Mưu Phó Hành Quân Tiểu khu. Vì vậy tôi có dịp đi lại nhiều nơi, biết nhiều điều đặc biệt về quân sự thuộc TK/QĐ từ lúc tới cho đến khi rút quân.
Trước khi trình bày cuộc rút quân của TKQĐ, tôi xin nói sơ lược về tỉnh này. Quảng Đức là một tỉnh nhỏ được thành lập từ thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm nằm dọc theo Quốc Lộ 14 giáp ranh Campuchia và các Tiểu khu Phước Long, Lâm Đồng,Tuyên Đức và Ban Mê Thuột. Tỉnh có ba quận: Kiến Đức, Đức Lập, Khiêm Đức (Gia Nghĩa), và Chi khu biệt lập Đức Xuyên. Dân chúng hầu hết là người Thượng sống về nghề làm rẫy và săn bắn thú rừng, còn lại là người Kinh. Hầu hết là gia đình quân nhân, công chức và dân buôn từ miền xuôi lên. Đặc biệt quận Đức Lập nằm về hướng Bắc của tỉnh Quảng Đức, giáp với tỉnh Ban Mê Thuột, đất đai màu mỡ, dân chúng phần nhiều là người Miền Trung di cư vào lập nghiệp từ năm 1954, sau ngày chia đôi đất nước, sống về nghề trồng trà và café rất thịnh vượng. Quảng Đức là một tỉnh nhỏ và nằm sát ranh giới Campuchia – hành lang xâm nhập của quân Bắc Việt- nên chịu áp lực của Cộng Quân rất nặng nề. Từ năm 1972, quốc lộ 14 nằm song song và sát với ranh giới Miên Việt xuyên qua ba tỉnh Phước Long, Quảng Đức, Ban Mê Thuột,bị gián đoạn giửa ranh giới Phước Long và Quảng Đức. Vì vậy Quảng Đức chỉ còn sử dụng được đoạn đường bộ duy nhất từ Bù Binh xuyên qua thị xã Gia Nghĩa đi Ban Mê Thuột mà thôi. Tỉnh Phước Long rơi vào tay địch đầu năm 1974.
Trận đánh mở màn “Chiến dịch mùa Xuân của VC”
Theo tin tình báo cũng như tài liệu thu được tại chỗ do Pháo Binh bắn quấy rối và hệ thống điện tử chung quanh chi khu Đức Lập cho biết: sư đoàn 968 tân lập cùng sư đoàn 10 Bắc Việt có thể sắp tấn công Ban Mê Thuột. Tiểu khu Trưởng Tiểu Khu Quảng Đức, Đại Tá Phạm Văn Nghìn đã xin thêm quân phòng thủ quận Đức Lập nhưng chưa được. Sáng ngày thứ bảy (8/3/75),tôi tháp tùng Đại Tá Nghìn đáp trực thăng ra quận Đức Lập có gặp đại Tá Vũ Thế Quang -Tư Lệnh Phó Sư đoàn 23 Bộ Binh (BB)- cũng đến đây thị sát tình hình. Sáng hôm đó,Đại Tá Nghìn chỉ thị trung tá Trần Nguyên Khoa (k18ĐL) – Trung đoàn Phó Trung đoàn 53 BB- đang chỉ huy trung đoàn trừ đóng gần chi khu Đức Lập, phải dời bộ chỉ huy nhẹ của ông cùng các đơn vị bảo vệ vào căn cứ Daksak (trại LLĐB Bon Sar Pa ở tây nam của Đức Lập) – một căn cứ thật kiên cố do lực lượng đặc biệt Mỹ để lại- cách vị trí đóng quân hiện tại chừng ba cây số. Hiện Trung đoàn 53 BB trừ đang được tăng phái cho Tiểu Khu Quảng Đức.
Nói là Trung đoàn trừ (-) chứ thực sự quân phòng thủ tại bộ chỉ huy nhẹ này chỉ có một Chi đoàn trừ (-) 1/8 thiết vận xa M-113 của Đại uý Tánh, Đại đội Trinh Sát của trung đoàn mà phân nửa đã hoạt động bên ngoài tìm tin tức, một trung đội Pháo Binh 105 ly (TĐ 231PB), một Trung đội PB155 ly thuộc Tiểu đoàn 230 PB và một ít bệnh binh của tiểu đoàn 2/53BB. Thám sát xong nhận thấy không có đủ thời gian, việc di chuyển dời lại sáng hôm sau (9/3/75). Nào ngờ, khoảng năm giờ sáng, trước giờ quân ta chuẩn bị di chuyển vào căn cứ Daksak như dự định, Cộng quân bắt đầu pháo ào ạt rồi sau đó tấn công biển người vào các đơn vị ta.
Đáng tiếc thay những đợt pháo đầu tiên lại trúng ngay vào bộ chỉ huy nhẹ của Trung Tá Trần Nguyên Khoa. Dù ông là một sỉ quan giỏi, lanh lợi, đã từng được thăng cấp tại mặt trận, nhưng vì nơi đóng quân hiện tại là một căn cứ dả chiến hầm hố không được kiên cố lắm nên không chịu nổi sức công phá của các loại pháo địch, đặc biệt Pháo 130 ly. Cầm cự không lâu, hơn phân nửa số thiết vận xa bão vệ bộ chỉ huy nhẹ bị tê liệt, hầm chỉ huy của Trung Tá Khoa bị sập. Đại uý Buì Minh Ngọc (Phanthiết) -sỉ quan liên lạc pháo binh của trung đoàn 53 BB- bị thương nặng và chết ngay sau đó. Trung Tá Trần Nguyên Khoa bị thương ở sau ót và cánh tay trái gảy gần đứt lìa được lính pháo binh dìu ra khỏi căn cứ nhưng rồi bị bắt làm tù binh ngày hôm sau. Nếu.. nếu… hôm đó (8/3/75), bộ chỉ huy nhẹ trung đoàn 53 di chuyển đi, Việt Cộng không điều nghiên kịp mục tiêu, tình hình có thể khác. Điều này rất đúng với câu ta từng nghe: “không nên để lại ngày mai những gì có thể làm hôm nay”.
Chi khu Đức Lập gần đó cũng bị pháo và tấn công tơi bời cùng một lúc, nhưng nhờ hầm hố kiên cố cộng với sự gan lì,mưu lược của Trung Tá Quận Trưởng Nguyễn Cao Vực (K13ĐL),Việt Cộng không làm gì được lại bỏ đầy xác ngoài bờ rào quận. Cũng lúc này, tại căn cứ Núi Lửa cách chi khu Đức Lập về phía Tây chừng sáu cây số, nơi trung đội pháo binh 105 ly của Trung úy Nguyễn Văn Quý (Phan Thiêt) đóng, được bảo vệ bởi đại đội chỉ huy thuộc Tiểu đoàn 261 ĐPQ/QĐ (các đại đội tác chiến hoạt động bên ngoài) của Thiếu Tá Bùi Ngọc Long cũng bị pháo khủng khiếp.
Tóm lại Việt Cộng đồng loạt tấn công ba nơi trên cùng một lúc với những cơn mưa pháo tới tấp khiến chúng ta không thể yểm trợ hỗ tương nhau được. Chúng đã áp dụng tiền pháo hậu xung biển người trận này rất hiệu quả. Khoảng bảy giờ sáng, sau khi nhận được chiếc trực thăng tăng phái từ phi đoàn 235 trực thăng Pleiku, tôi tháp tùng đại tá Nghìn bay về hướng Đức Lập. Trước khi rời trung tâm hành quân tiểu khu ra trực thăng, tôi còn nghe Trung uý Quý (căn cứ Núi Lửa) vừa nói vừa cười báo cáo thành tích hạ địch của đơn vị mình: “Bắn đã tay quá Bắc Bình ơi”.. Bắc Bình là danh hiệu tôi thường dùng trong nội bộ Pháo Binh. Tôi mừng thầm lên phi cơ gọi tiếp anh để biết tình hình nhưng không thấy trung úy Qúy trả lời. Bên tần số bộ binh bảo vệ anh cũng không liên lạc được. Bay gần tới căn cứ Núi Lửa cũng không thấy hồi âm mà chỉ thấy một làn khói trắng từ căn cứ bốc lên. Làn khói đó chính địch đã đánh dấu cho phe chúng biết đã chiếm được mục tiêu Núi Lửa. Thấy làn khói bốc lên chúng tôi nhìn nhau không ai nói gì ngoài sự ngậm ngùi thương xót số phận đau thương chết chóc của quân mình, thuôc cấp mình và chỉ còn có cách báo cáo lên thượng cấp và xin tăng viện từ Sư Đoàn 23BB và Quân đoàn II.
Tôi xin mở dấu ngoặc ở đây để nói rõ hơn về sự mất liên lạc đột ngột nói trên. Cuối năm 1983,sau khi được phóng thích khỏi trại tù cải tạo (từ Nam ra Bắc), trên đường về Phan Thiết thăm Ba Má tôi, tình cờ gặp anh Nguyễn Văn Quý (Trung đội trưởng PB Núi Lửa nói trên) đang bán quán café chồm hổm tại bến xe đò Phan Thiêt- Sài Gòn. Anh em nhìn nhau nghẹn ngào trong lần tái ngộ đau thương giữa cuộc đổi đời cay nghiệt. Anh mời tôi dùng ly càfê đen gọi là tình nghĩa thầy trò thuở nào trong đơn vị. Nhắc lại chuyện mất liên lạc tại căn cứ Núi Lửa năm nào. Anh trầm ngâm một lát, ánh mắt hướng về nơi xa xăm dường như để hồi tưởng lại quá khứ đầy u ám rồi cho biết: “Sở dỉ mất liên lạc với tôi vì đang bắn địch ngon lành, bỗng dưng đài tác xạ bị pháo sập chết mấy quân nhân và địch ùa vào từ lưng đồi phía sau bất ngờ không trở tay kịp đành phải tìm đường tẩu mã”. Anh vừa nói vừa cười một cách chua chát, đắng cay vì phải dùng từ “tẩu mã”. Tôi hỏi anh: “Anh bắn hay quá,sao để chúng bắn sập hầm chỉ huy?” Mặc dù biết tôi đùa nhưng anh cũng giải thích cho vui: “Chúng trốn chui trốn nhủi nơi nào mình đâu có biết ,trong khi đó mình đóng quân một chỗ trơ trơ chúng bắn điều chỉnh hoài phải trúng thôi”. Và… cũng tại bến xe đò Phan Thiết – SàiGòn đó, năm nay (11/2006) khi từ Mỹ trở về thăm gia đình, người chạy Honda ôm cho tôi biết anh Quý đã ra người thiên cổ. Tôi không còn cơ hội mời lại anh dùng một ít chất cay. Tôi tìm đến gia đình anh hầu thắp một nén nhang cho người em vắng số nhưng không thấy. Rồi! Lại một đàn em vắng số ra đi. Vĩnh biệt Quý,một chiến hữu đáng mến từng chung chiến đấu thuở nào.
Tóm lại,lúc bấy giờ chỉ còn chi khu Đức Lập của Trung Tá Nguyễn Cao Vực, dù không được yểm trợ của quân bạn vẫn cầm cự với địch. Ngoài việc kêu gào cấp trên tăng viện gấp, Đại Tá Tỉnh Trưởng vẫn bay vòng vòng rất thấp trên khu vực quận Đức Lập đến trưa để hướng dẫn, trấn an và khuyến khích Trung Tá Vực và thuộc hạ cố gắng phòng thủ chờ quân ta tiếp viện. Xa xa đằng kia,cũng tại vùng trời Đức Lập, Trung Tá Võ Ân (K12 TĐ), trung đoàn trưởng trung đoàn 53 BB (lên đại tá trước ngày quân ta nhận lệnh đầu hàng) cũng đang bay tìm quân của bộ chỉ huy nhẹ trung đoàn 53 BB đang thất lạc. Hình như anh đã tử bệnh tại Mỹ sau nhiều năm năm bị Cộng Sản bắt đi tù đày hành hạ đói rét. Khác với những lần trước, mỗi khi bị địch tấn công mạnh, ngoài lực lượng Pháo Binh sẵn có, phi cơ yểm trợ đủ loại bay đầy trời;lần này,mấy ngày nay vùng trời Đức Lập phẳng lặng,vắng vẻ làm sao!Tàu bay tàu bò biến đâu cả ngoài hai chiếc trực thăng chỉ huy nói trên. Trong khi đó tại Ngã Ba Dakson cách căn cứ Núi Lửa chừng tám cây số về hướng Tây Nam do Tiểu đoàn 2/53 BB của Đại úy Nguyễn Tiên (k11 TĐ vừa thay thế Thiếu Tá Võ Đức Lai) và một trung đội pháo binh 105 ly đóng quân, không thấy đấm đá gì, nhưng không hiểu tại sao chúng tôi không liên lạc được họ. (Núi Lửa giữa chi khu Đức Lập và Ngã Ba Dakson). Quá đau lòng trước sự thất thủ của quân bạn gần đó không được yểm trợ nên sau khi Đại Tá Phạm Văn Nghìn quay về trung tâm hành quân tiểu khu, tôi cùng phi hành đoàn mỗi người một khúc bánh mì bay trở lai hướng Ngã Ba Dakson.
Trực thăng bay vòng nhiều lần trên vùng này, càng lúc càng thấp để cố gắng liên lạc và quan sát tình hình. Thấy tiểu đoàn 2/53BB vẫn đang tư thế bố trí sẵn sàng chiến đấu, tôi yêu cầu phi cơ trưởng (hình như anh Hùng Thầy Tu hay anh Vệ ) tìm cách đáp xuống. Sau khi được lệnh, anh bay thêm mấy vòng để xem hướng nào thuận tiện và an toàn, rồi anh… đột nhiên nhào xuống rất nhanh trông như chú diều hâu đang sà xuống gắp mồi dưới đất. Đang tư thế sắp đậu, bỗng nhiên nhiều loạt pháo đối phương rớt cạnh máy bay khiến anh ta cho tàu lướt về phía trước cất cánh lên nhanh, xém đụng rừng cây trước mặt. Một phen xém chết đã qua! Anh quay lại nhìn tôi với nét mặt thầm trách “nguy hiểm vậy mà bảo đáp”. Anh phi công này rất lanh lợi và bình tĩnh, nếu không thì cả đám không chết vì pháo địch cũng chết vì các cành cây. Từ đó đến khi rút bỏ tiểu khu Quảng Đức,tôi không liên lạc được với cánh quân này.
Ngày thứ nhất trôi qua, ngày thứ hai trông chờ quân ta tăng viện như cấp trên đã định. Bất hạnh thay! Ngày thứ hai dài lê thê đó lại là ngày thất vọng nhất khi Cộng quân tấn công thẳng vào thị xã Banmêthuột và phi trường Phụng Vực. Riêng các lực lượng khác của ta đồn trú tại Quảng Đức đều bị địch cầm chân cả không thể nào lấy đi giúp Đức Lập được. Càng chờ đợi, sự tổn thất càng tăng lên trước những loạt pháo đủ cỡ cuả địch. Mặt khác không còn trông chờ vào sự tăng viện của quân bạn được nửa, trung tá Vực cùng thuộc cấp đành rút khỏi quận, băng rừng về căn cứ Đạo Trung mấy ngày sau và được trực thăng đón về TK/Quảng Đức. (Đạo Trung cách QĐ trên 15 cây số).
Rút quân
Đức Lập và Ban Mê Thuột đã mất. Như vậy từ trái (tỉnh Phước Long) sang phải,cả về hướng trước mặt của tỉnh Quảng Đức đã hoàn toàn lọt vào tay VC, chỉ còn một phần phía sau xa, giáp với tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng,phân ranh bởi con sông Kinh Đà. Con lộ duy nhất nối liền hai tỉnh Quảng Đức và Lâm Đồng đã bỏ phế từ lâu chỉ có dân “xe be” sữ dụng và do VC kiểm soát).
Như vậy tỉnh Quảng Đức đã mất gần phân nửa lãnh thổ. Trước tình trạng tỉnh bị cô lập ba hướng lại không còn được yểm trợ quân sự và địch ngày càng bám sát đánh phá ta nhiều nơi trong tỉnh, khiến tinh thần chiến đấu quân dân có phần sa sút. Các vị thân hào nhân sĩ trong tỉnh đã liên lạc với trung ương xin tỉnh Quảng Đức được rút bỏ sớm hầu giảm thiểu sự thiệt hại. Chưa thấy kết quả ra sao, bỗng trưa ngày 25 tháng 3 năm 1975, khi biết tin quân đoàn II bị tổn thất nặng nề lúc rút lui và toán liên lạc không quân (ALO của Đại úy Cầu) đặt tại tiểu khu Quảng Đức đột nhiên lên trực thăng rời tỉnh, mang theo tất cả phương tiện điều động Không yểm, khiến tinh thần quân dân trong tỉnh đã nao núng càng nao núng thêm. Lúc đó, Đại Tá Phạm Văn Nghìn đang đi họp ở QĐ II chưa về, Trung Tá Phạm Đức Dư vừa chuyển về làm Tham Mưu Trưởng tiểu khu, liền tổ chức buổi họp khẩn cấp. Ngoài sự hiện diện của trung tá Dư còn có trung tá Hoàng Kim Thanh, liên đoàn trưởng Liên đoàn 24 BĐQ đóng tại quận Kiến Đức; Thiếu Tá Trần Văn Bường Chỉ huy Trưởng Pháo Binh kiêm Tham mưu Phó Hành quân Tiểu khu; Thiếu Tá Phạm Văn Tư Trưởng phòng 3 TK (đừng nhằm với Thiếu tá Phạm Văn Tư khóa 19 Đà Lạt Trưởng phòng hai tiểu khu vượt ngục bị bắn chết tại trại tù Suối Máu Biên Hòa năm 1976). Vừa vào họp Trung Tá Dư tuyên bố: “Hôm nay chúng ta hành quân về phương Đông”. Chỉ một câu đơn giản ai cũng hiểu đó là lệnh rút lui, không cần sơ đồ phóng đồ gì cả. Thành ra,với vị trí đóng quân hiện tại, Liên đoàn 24 BĐQ đi theo phương giác từ, từ quận Kiến Đức về Lâm Đồng, các đơn vị cơ hữu hoặc tăng phái tiểu khu cũng từ nơi đóng quân di chuyển về Lâm Đồng theo phương giác từ.
Sau khi rời phòng họp, tôi cho lệnh thiếu tá trưởng phòng 3, Phạm Văn Tư ra lệnh các đơn vị tăng phái cũng như các đơn vị trực thuộc đóng quân quanh thị xã, đi theo đường mòn xe be đến bờ phà sông Kinh Đà về quận Di Linh (Lâm Đồng), các đơn vị còn lại tùy tình trạng an ninh tại chỗ rút về Lâm Đồng. Trung tâm Hành quân, Trung tâm Tiếp vận Tiểu khu, đặc biệt kho xăng và kho đạn phải phá huỷ. Không được phá phách bệnh viện, phố xá, chợ búa. Cần nói thêm, trong thời gian này tiểu khu Ninh Thuận tăng phái cho tiểu khu Quảng Đức hai đại đội biệt lập (4 đại đội luân phiên), một của Đại uý Nguyễn Văn Đức (Phan Thiết K20 ĐL), một của Đại uý Tôn Thất Kỳ (Huế), Đại uý Trần Công Triệt (Phan Rang,K18ĐL) và… Riêng Pháo Binh, tôi cho lệnh các Trung đội Trưởng phá huỷ súng bằng loại lựu đạn M-14. (lựu đạn có chứa chất chì đặc biệt chảy ra bám vào nòng súng đại bác không sữ dụng được). Chỉ có Trung đội Pháo binh của Trung uý Bá đóng trên đường hành quân được giữ nguyên kéo theo đoàn quân mà thôi.
Đoàn quân dân rời bộ chỉ huy Quảng Đức được khoảng năm giờ đồng hồ, một tin không vui đưa đến. Từ đầu máy bên kia,trung úy Bá báo cáo: “chiếc cầu nhỏ bắc qua suối bị hư không thể nào kéo súng qua được Bắc Bình ơi”! (Bắc Bình là danh hiệu của tôi trong đơn vị). Chết cha! Đi hành quân không có đại bác yểm trợ là cả một sự bất lợi khi địch xuất hiện ngoài tầm vũ khí cá nhân hay bị tấn công bằng biển người. Tôi than thầm như vậy,nhưng mặt khác vẫn cố giử bình tỉnh ra lệnh cho anh Bá cố gắng thám sát hai bên cầu tìm mọi cách kéo súng qua. Trời vừa tối,ánh hoàng hôn cuối cùng vừa khuất sau rặng núi cao,mọi người hầu như mệt mỏi. Tôi cho đoàn quân tạm nghỉ chờ. Chừng nửa giờ sau, Trung úy Bá cho biết không có nơi nào đem súng qua được. Con rạch tuy nhỏ nhưng đất mềm xe và súng nặng dễ bị lún. Tôi đành cho lệnh phá súng pháo binh và tiếp tục bám sát theo đoàn quân trước. Đi được hơn một giờ đồng hồ đoàn quân nghỉ qua đêm và tới bờ sông Kinh Đà khoảng năm giờ chiều ngày hôm sau.
Đang chuẩn bị vượt sông để theo đường mòn về hướng Quận Di linh như lời đề nghị của Thiếu Tá Nguyễn văn Ấn (Quận trưởng Di Linh cùng K18 ĐL với Trần Nguyên Khoa và tôi), bổng từ bên kia bờ sông có tiếng la của đám VC dội lại:“Muốn qua sông phải bỏ súng xuống, đi từng người một,đưa hai tay lên đầu”. Nghe chúng hô “Đưa tay lên đầu”, mình đâm tức xổ nho: “Đ.. M… đầu hàng cái …”. Quan sát kỹ thấy chúng chỉ có chừng mươi lăm người nối tiếp nhau đi chung quanh các gốc cây cổ thụ bên bờ sông để chúng ta lầm tưởng họ nhiều lắm. Biết vậy, nhưng vì khúc sông này rộng khoảng bốn năm trăm thước; nước sâu tới rốn chảy hơi mạnh khó lòng vượt nhanh để lấn áp chúng. Tôi tiếc thầm, nếu súng Pháo Binh không bị hủy, ta chỉ cần trực xạ mấy quả cha con chúng nhảy hết, tha hồ lội qua sông. Nhưng dù sao cũng may cho chúng ta phát hiện được chúng bên đó, nếu không, đoàn quân ta cứ tà tà lội qua như chỗ không người thì sẽ… nếu không bị bắt làm tù binh thì cũng bị đi mò tôm cả đám giữa giòng sông.
“Biết Người biết Ta trăm trận trăm thắng”, ông bà ta nói như vậy. Biết mình ở thế bất lợi,thôi đành nhịn nhục tìm đường khác đi để tránh thiệt hại,đó là thắng vậy. Sau khi thảo luận với Trung Tá Dư, tôi cho lệnh Đại úy Ngô văn Nhị (K12TĐ), Chỉ huy Phó của tôi, hướng dẫn toán quân hỗn hợp Địa phương quân và pháo binh đi lui về sau, dùng phương giác từ đi về hướng Tây dọc theo bờ sông tìm chỗ vượt sông dễ hơn để đánh bộc hậu địch cho đoàn quân sau vượt qua. Mục đích cho đi luì về sau để đánh lạc hướng địch và dân chúng khỏi bám theo. Nếu dân chúng bám theo sẽ làm lộ kế hoạch; hơn nửa họ không thể gồng gánh, bồng bế con cái lên đồi xuống dốc được. Bảo vệ an ninh họ, phía sau còn có quân của chi khu Khiêm Đức do Thiếu Tá Quận trưởng Nguyễn Khắc Hiếu (K19 ĐL) chỉ huy, bên cạnh đó còn có mặt cả hai vị Trưởng và Phó ty An Ninh Quân Đội (Thiếu tá Đậu Văn Đề, Thiếu tá Nguyễn văn Điệp) và nhóm Cảnh Sát Quốc Gia của Trung Tá Giang.
Trong khi cánh quân của tôi đi về phía phải (hướng Tây) thì Tiểu đoàn 259 ĐPQ của Thiếu tá Phan Văn Giỏi đi về phía trái (hướng Đông) dọc sông Kinh Đà về cầu Đại Ninh ( ranh giới Đà Lạt và Lâm Đồng). Đi nhiều hướng địch không thể theo dỏi và bám sát hết. Trời vùa tối, màn đêm dầy đặc, đoàn quân di chuyển rất chậm, nhiều lúc phải xữ dụng đèn pin tìm lối đi. Thỉnh thoảng nghe nhiều tiếng kêu “oan oát” từ xa của các chú mang (nai con) lạc đàn hoặc thấy những đôi mắt ngơ ngác dại khờ của các chị mển đang nhìn chăm chăm ánh đèn pin. Bình thường gặp như vậy số mạng các chị xem như đã xong, đơn vị có bửa thịt rừng ngon lành rồi. Đằng này có lệnh không được nổ súng chỉ trừ trường hợp gặp địch thôi. Nhờ vậy các chị được thêm tuổi thọ. Lội suốt đêm gần tới năm giờ sáng, Đại úy Ngô Văn Nhị báo cáo đã tới khúc sông cạn hẹp có thể vượt được. Đại úy Nguyễn Duy Huynh, xử lý thường vụ Chị Huy Trưởng trung tâm tiếp vận (thay thế thiếu tá Trương Minh Dũng đi học),tiến về phía trước tăng cường cho Đại úy Nhị tìm cách vượt sông. Vì đường đồi lên xuống khó khăn,t ối om như mực lại đi theo phương giác từ trong màn sương bao phủ nên khi gặp bờ sông, chỉ cách điểm đứng chiều hôm qua ba bốn cây số thôi. Khúc sông hơi cạn, đá lỏm chỏm, nước chảy hơi siết có thể vượt được. Đại úy Nhị cho anh hạ sĩ quan Pháo Binh buộc sợi dây thừng lội qua bờ sông bên kia cột vào gốc thông nào đó cho đoàn quân sau nắm đi qua. Chẳng may anh này bị trượt chân bị nước cuốn trôi chết giửa giòng sông. Toán quân gần đó đổ xô tới tiếp cứu nhưng vô vọng. Sợ bị lộ điểm vượt sông bởi những tiếng la ồn ào khi tiếp cứu,đoàn quân tiếp tục theo đường mòn đi về hướng Tây tìm nơi an toàn hơn để vượt. Đi mải đến chiều mới gặp khúc sông sâu rộng, nước chảy lờ đờ có thể vượt qua dễ hơn.
Vượt sông Kinh Đà về Bão Lộc
Theo các quân nhân từng sống ở đây cho biết khúc sông này có thể có cá sấu nguy hiểm. Dù vậy,nhưng không thể nào đi xa hơn về hướng Tây sợ bị ngộ nhận với liên đoàn 24BĐQ cũng đi về Lâm Đồng phát xuất từ phi trường Nhơn Cơ. Hơn nửa,càng đi xa về hướng Tây điểm đến Bảo Lộc càng xa, thà vượt sông nơi đây ruổi gặp cá sấu đói chỉ nuốt vài người xấu số còn hơn quanh quẩn lâu trong rừng càng nguy hiểm mà chưa chắc có nơi nào tốt hơn. Lệnh chặt cây kết bè ban hành, chỉ có những người yếu hoặc không biết lội mới được ngồi trên bè thôi.
Bộ chỉ huy qua bờ sông bên kia trời đã khuya. Tất cả đoàn quân nghỉ đêm, đồng thời giử an ninh cho đoàn quân qua sau. Dù hai ngày qua chưa có hạt cơm nào trong bụng nhưng không cảm thấy đói. Phải chăng cái đói nhường chỗ cho sự mệt nhọc lo âu. Qua theo dỏi hệ thông truyền tin, được biết đoàn quân dân hôm qua kẹt tại bờ Kinh Đà, được đại tá tỉnh trưởng lần lượt chuyển qua Bảo Lộc (LĐ) bằng trực thăng, nên ý nghỉ quay lại cứu họ không còn nữa.
Với tình hình hiện tại, tôi nghĩ địch không còn lẩn quẩn trong rừng như trước mà đã ra thị thành uy hiếp quân ta. Nghỉ vậy nên sự e ngại bị phục kích trên đường rút quân không còn cao nên khi gà rừng vừa dứt tiếng gáy báo hiệu bình minh đang đến, tôi cho lệnh đoàn quân phía trước tiếp tục đi theo đường mòn về hướng xã Tân Rai (LĐ) mặc dù phải băng qua các hậu trạm của VC. May mắn không có gì trở ngại trên đường rút quân, nhờ vậy thời gian đến Lâm Đồng rất nhanh chỉ mất ba ngày bốn đêm. Toán quân đi trước băng qua các nhà lô VC chỉ gặp mấy chàng thương binh bệnh hoạn, chúng bắn vài phát súng lẻ tẻ báo động rồi đâm đầu giọt hết. Các trạm này chứa nhiều bao gạo Mỹ còn mới tinh, lính ta đốt bỏ. Trên đường về Tân Rai vài quân nhân cho tôi biết: “đêm vượt sông,khi bè gần đến bờ có nghe vài tiếng la ơi ới rồi buông tay không hiểu nguyên do và cũng không phân biệt được ai vì trời tối thui”. Có thể một vài quân nhân xấu số nào đó bị đuối sức buông tay hay có thể bị cá sấu đói ăn thịt chăng! Chỉ một trong hai điều đó hay cả hai! Thật đáng thương. Trung tá Phạm Đức Dư xuất thân từ sỉ quan tài chánh, làm Tham Mưu Trưởng Tiểu khu Lâm Đồng từ khi còn Đại uý cho đến khi chuyển qua làm tham mưu trưởng tiểu khu Quảng Đức gần một tháng thôi (tôi xử lý chức vụ này trước khi ông đến). Trung Tá Dư đã lớn tuổi, chưa quen lội hành quân, thành ra ông đã để tôi điều động tất cả đoàn quân từ lúc bắt đầu di chuyển. Và sau mấy ngày vất vả trong rừng, Trung tá Dư bị mệt xiểu khi đoàn quân vừa tới xã Tân Rai (LĐ). Ông được Nghỉa Quân xã này (đệ tử cũ) đưa ông về nhà riêng của ông tại quận Bảo Lộc chăm sóc. Từ đó tôi không còn gặp ông.
Đến Tân Rai được nữa giờ, bộ chỉ huy nhẹ chúng tôi được Đại tá Nghìn cho trực thăng đón về tỉnh Lâm Đồng. Riêng Đại úy Ngô Văn Nhị vẫn tiếp tục chỉ huy cánh quân về thẳng thị xã Bảo Lộc. Bộ chỉ huy chúng tôi đến phi trường Bảo Lộc trời đã xế chiều. Thời tiết mát diệu với những cơn gió hiu hiu phàn phất mang theo mùi hương thơm ngào ngạt từ các cánh đồng trà vừa mới đâm bông đầy hương sắc. Tình hình rất yên tỉnh, chợ phố sinh hoạt bình thường, chỉ nghe lai rai những tiếng đạn đại bác của ta từ xa dội lại; có thể đang yễm trợ cho một tiền đồn nào đó đang bị địch tấn công. Chúng tôi yên tâm như không có gì xảy ra, thong thả dùng một bửa cơm chiều no nê với lẩu canh chua cá bông lau nóng bỏng, dỉa thịt kho tàu kèm theo ít rau chua thật ngon miệng, bù đắp lại phần nào những ngày đói khác hiểm nguy băng rừng vượt suối. Với tình hình còn sáng sủa đó,sau khi dùng cơm xong chúng tôi vào ngủ một giấc ngon lành đến sáng như chưa bao giò có. Sáng ra, Đại úy Nguyễn Duy Huynh, tôi và các quân nhân thuộc toán chĩ huy ra ăn bún bò tại một quán xập xệ ngoài chợ. Tứ bề yên tỉnh không nghe một tiếng súng nào cả. Dự định ăn xong sẻ dạo phố kiếm đôi giày nhà binh khác thay thế cho đôi giày Mỹ lội mấy ngày nay đã bị há mõ rồi. Nào ngờ,đang ăn ngon miệng bà chủ quán bổng nói “Xe tăng VC vào thành phố từ hôm đến giờ,sao mấy ông còn ngồi đây?” ‘Vậy hả! Bà nói đùa hay nói thật đó?‘ Tôi hỏi lại bà chủ quán.
“Ai đám đùa với mấy ông chuyện quan trọng như vậy.” Bà chủ nói tiếp.
Nghe xong,tôi vẫn bình tĩnh. Tính tiền xong (không thuộc loại cao lâu ăn quỵt thổ đỉ chơi lường), vội rời quán. May thay lúc đó có một chiếc xe Jeep của toán liên lạc không quân (ALO) thuộc tiểu khu Lâm Đồng trờ tới, trong xe chỉ có một anh tài xế thôi. Đại úy Huynh là bạn của thầy anh tài xế này từ lâu nên chận lại hỏi: ‘Thầy mầy đâu rồi?’ “Dạ, ổng bay khi hôm rồi”. Người tài xế trả lờì như vậy. “Vậy mầy theo tao” Đại úy Huynh nói như ra lệnh. Anh tài xế bước ra sau nhường tay lái cho tôi, Huynh ngồi ghế bên cạnh, các quân nhân còn lại ngồi hết phía sau. Tôi trực chỉ ra phi trường Bảo Lộc cách đó không xa vì lính Quảng Đức về tập trung nơi đây từ tối hôm qua. Vừa đến cổng phi trường, tôi lấy làm ngạc nhiên khi thấy lính Lâm Đồng từ trong phi trường túa ra. Họ nói tăng VC tới đầu phi đạo rồi,lệnh Trung Tá Tỉnh Trưởng Vương Đăng Phong bảo họ về Đà Lạt. Tôi chưa tin vì tình hình còn yên lặng quá, chỉ thấy phe ta túa ra ngày càng đông mà chả nghe tiếng “xe tăng xe tiết”gì cả.
Đang do dự, bổng thiếu tá Nguyễn Văn Ấn từ quận Di Linh rủ rê tôi: “Mầy đến đâu rồi, đến quận ăn cơm rồi tử thủ với tao”. Tôi trã lời nửa đùa nửa thật: “Mầy lạnh cẳng rồi hay sao rủ tao. Mầy hảy chuẫn bị heo gà nhiều đi, Cậu sẻ đến ngay”. Thế là tôi lái xe hướng về quận Di Linh (Di Linh nằm khoảng giửa Bảo Lộc và ĐL). Xe đang “phon phon” trên đường nhựa, bổng lệnh của Đại Tá Nghìn từ trực thăng bảo tôi: “Sao bây giờ anh mới mở máy” Tôi chưa kịp trã lời, đại tá Nghìn lệnh tiếp: “Anh phải tập trung các đơn vị của mình vào phòng thủ với quận Di Linh”. Nhận được lệnh trên, tôi cố lái xe nhanh hơn (thua cao bồi một xiếu thôi, nếu chậm các xe lính phía trước giọt hết sao!), qua mặt một số xe chở lính đằng trước rồi thắng gấp giửa đường và xuống xe bắt đầu chận các xe chở lính lại. Chiếc xe đầu tiên tôi chận lại là lính thuộc tiểu khu Lâm đồng. Họ thấy tôi mang hia đôi mảo trông oai vệ chứ chưa biết tôi là ai nên còn cự nự chưa muốn xuống xe; viện cớ lệnh Trung Tá Phong bảo họ về Đà Lạt. Nói vậy chứ cuối cùng thấy gương mặt tôi có chút Cô Hồn vương vấn nên họ đành xuống (không phải hiền lành như nai tơ khi gặp các cô đâu). Chỉ có lính Quảng Đức khi thấy tôi ra hiệu tự động xuống xe. Bố trí quân tạm xong, tôi và Huynh vào gặp Quận Ấn. Vừa đi vừa mừng thầm “trong hoàn cảnh này hai thằng cùng khóa,chiến đấu bên nhau càng vững tâm hơn”. Tại quận, chúng tôi tình cờ gặp Trung Tá Tỉnh trưởng Vương Đăng Phong rời Lâm Đồng đến đây từ bao giờ. Tôi chỉ nghe tên ông thôi. Đây là lần đầu tiên được gặp. Tôi chào và trình Trung Tá Phong về ý định phòng thủ của Đại Tá Nghìn. Vừa nghe xong ông hỏi tôi:
– Anh đảm nhận chức vụ gì bên Tiểu khu Quảng Đức?
– Chỉ huy Trưởng Pháo Binh kiêm Tham mưu Phó Hành Quân TK/QĐ. Tôi trã lời.
– Anh có quân đây không?
– Dạ có, đang bố trí ngoài kia. Tôi lại đáp.
-Tỉnh Trưởng anh đang ở đâu? Ông lại hỏi tiếp.
– Đang bay trên vùng để hướng dẫn các cánh quân còn kẹt trong rừng ra. Tôi lại trả lời tiếp như vậy.
Không cần suy nghỉ, Trung Tá Vương Đăng Phong nói: ‘Tình hình như thế này, Tỉnh trưởng anh có máy bay, có chuyện gì ông ta bay đi, còn tôi với anh … thì sao?’ Không cần tôi có ý kiến ông tiếp: ‘Vậy anh muốn ở lại thì ở, tôi đi.‘ Nói xong,ông ra lệnh Thiếu Tá Nguyễn văn Ấn nhổ antenna 292 và chuẫn bị di chuyển. Trầm ngâm một lát, tôi báo cáo Đại tá Nghìn quyết định của Trung Tá Phong như vậy. Im lặng một hồi lâu, Đại tá Nghìn nói:’Thôi, ai sao mình vậy!!!’ Suy nghỉ một lúc không tìm ra kế hoạch nào khác, chúng tôi âm thầm buồn tênh suy nghỉ mông lung quên nói câu nào từ giã người bạn đồng khóa, Nguyễn Văn Ấn. Ra đứng trước thuộc cấp đang bố trí chờ lệnh bên ngoài, tôi chậm rải nói trong nghẹn ngào: “Thôi… các anh tìm mọi phương tiện về Đà Lạt“. Tôi cắn môi than thầm: ”Như vây“Cả đoàn quân rút về từ Quảng Đức ra sau bị kẹt hết rồi”.
Trở lại Đà Lạt
Tới cầu Đại Ninh trời vừa xế bóng. Thấy Trung sĩ Vũ Nguyên Cường đang đứng xớ rớ cạnh hai chiếc xe thiết giáp V100 của Tiểu khu Lâm Đồng. Anh cho biết hai chiếc xe V100 được tăng cường giử cầu Đại Ninh mấy ngày nay và Trung tá Tỉnh trưởng Vương Đăng Phong đã qua cầu rồi. Lúc bấy giờ, Đại úy Ngô Xuân Diên, Yếu khu Trưởng khu cầu Đại Ninh, đứng đầu thành cầu chuyển lệnh trên: “Quân Quảng Đức được qua cầu còn quân Lâm Đồng chưa thấy địch đã bỏ chạy phải ở lại chiến đấu”. Dù không bị ràng buộc bởi lệnh trên, chúng tôi vẫn quanh quẩn nơi đó như còn nuối tiếc một cái gì quý giá lắm vừa đánh rơi. Hơn nửa giờ sau mới bắt đầu về Đa Lạt.
Đã lâu lắm rồi tôi mới trỡ lại xứ sương mù Đà Lạt trong trường hợp ngoài dự định này. Đà Lạt thời tiết mát lạnh quanh năm rất thích hợp với bao loài hao quý kể cả loài “Hoa Biết Yêu”. Nơi đây có nhiều trường Trung học và Đại học nỗi tiếng của cả nước .Về quân sự có Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam thân thương mà bao chàng trai trí thửc ao ước được học. Quân trường đã từng một thời nổi tiếng đẹp và lớn nhất Đông Nam Á (trước năm1975). Ở đó tôi được mặc vào người bộ đồ lính đầu đời, được huấn luyện từ lúc chập chững bước vào đời binh nghiệp đầy gian lao nguy hiểm, bỏ lại sau nếp sống thư sinh nơi SaiGòn hoa lệ. Ở đó tôi vào đời với một niềm tự hào mảnh liệt, một tương lai huy hoàng đầy hứa hẹn của trai thời lọan như ta từng học:
“ Làm trai cho đáng lên trai,
Xuống Đông, Đông tỉnh, lên Đoài, Đoài yên”.
Đà Lạt chiều cuối Xuân trời vẫn man mác lạnh. Thỉnh thoảng từng cơn gió nhẹ thổi qua làm bay bay những mái tóc bồng bềnh của các nàng kiều nữ cao nguyên quanh năm môi thắm má hồng, đang rảo bước trên các con đường đồi thoi thỏi quanh co. Hình ảnh gợi tình đó hôm nay hơi vắng so với những ngày thanh bình trước đây; dù vậy vẫn đủ sức quyến rũ khách hữu tình lui tới nơi này. Chung quanh cái hồ nổi tiếng thơ mộng ngàn đời mang tên Nử sĩ tài hoa đầy nhựa sống -Hồ Xuân Hương- hằng ngày thường đầy ấp nam thanh nử tú, những cặp tình nhân, những đôi uyên ương vừa mới kết tóc se duyên, đến đây tâm sự, tay trong tay, cặp từng cặp, dìu nhau theo nhịp đập con tim -nay thưa thớt làm sao!!! Hàng hoa Anh đào tươi mát rộ nở trong khí tiết xuân đang khoe sắc trắng hồng nằm ngạo nghể dọc bên đường từ Hồ đến rạp chiếu bóng Hòa Bình, chắc không mấy ai còn đũ tinh thần chiêm ngưởng hay ca tụng vẻ đẹp kiêu sa đài các của nó.
Rất tiếc,thời gian và hoàn cảnh không cho phép đến thăm lại tất cả những thắng cảnh tươi mát bốn mùa như: Thung Lủng Tình Yêu, Hồ Than Thở, Thác Prenne, Thác Camly, Trại Hầm, Chùa Sư nử… vân vân và vân vân. Những nơi đã từng có ít nhiều vương vấn bao kỹ niệm vui buồn khắc sâu trong tìm thức ở tuổi đôi mươi, lúc còn trong quân trường Đàlạt, nhất là vào những dịp dạo “phố Hoa Đào” cuối tuần. Còn nhớ lúc bấy giờ, có rất nhiều người đẹp từ bốn vùng chiến thuật (thỉnh thoảng trong đám xuân xanh ấy,cũng có mấy Nàng trông khá quen,thuộc dạng Hoa Khôi Xứ Mắm Phan Thiết như Hùynh M, Quỳnh U., Hồng.L.. .v.v.) vào thăm các Chàng Võ bị Hào Hoa. Những đoạn phim tình cảm ngắn ngủi tươi mát đó hiện ra trong tìm thức tôi không lâu,rồi tan biến nhường chỗ cho nổi âu lo của những ngày hiểm nguy sắp đến, như cụ Nguyễn Du đã viết:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
Thật vậy, Đà Lạt đang ngột ngạt trong không khí chiến tranh. Những người giàu có, các sinh viên từ xa đến học hầu như di tản gần hết. Phố xá mở cửa lưa thưa, người bộ hành vội vã trên đường về, thỉnh thoảng đó đây những chiếc xe nhà binh đầy lính chạy tuần tra trên đường phố trong thế sẵn sàn chiến đấu với quân thù. Qua một đêm ngon giấc trên nệm ấm giường êm tại khách sạn cao sang “La Palace” bên cạnh bờ hồ Xuân Hương; sáng hôm sau, sau khi điểm tâm ở cà phê Tùng xong, tôi được lệnh bay về Lâm Đồng hướng dẩn các cánh quân đang trong rừng ra. Bầu trời Lâm Đồng hôm nay rất quang đãng, tầm nhìn rất tốt. Từ trực thăng nhìn xuống thấy đoàn người đang hối hả vừa đi vừa chạy trên đường hướng về Đà Lạt. Trong quận Di Linh loáng thoáng một ít bóng người ăn mặc hỗn tạp ra vào. Trực thăng xuống thấp hơn các bóng người này trốn mất. Đoán chắc đó không phải là quân ta mà cũng không phải là dân hôi của, thành ra khi liên lạc được với các cánh quân bạn, tôi hướng dẫn họ đi xa quận này, về hướng cầu Đại Ninh an toàn hơn. Khi biết tôi đang bay trong vùng Bảo Lộc, từ cánh quân dưới đất thuộc tiểu khu Quảng Đức doThiếu Tá Nguyễn Khắc Hiếu (K19ĐL), quận trưởng quận Châu Thành Quảng Đúc) chỉ huy, gọi tôi. Anh cho biết đã bị sốt rét mấy ngày nay không thể tiếp tục đi được, yêu cầu tôi bốc dùm anh ra khỏi vùng đồng thời cho xin mấy cục pin PRC 25. Anh cho biết đã giao quyền chỉ huy lại cho Đại úy Tích, sĩ quan phụ tá của anh rồi. Quan sát một lúc thấy bải đáp khá trống trải, tôi yêu cầu phi cơ trưởng (hình như anh Huỳnh Chí Thành hay Trần Hoài phi đoàn 215 trực thăng) đáp cạnh quả đạn khói màu vừa đánh dấu baỉ đá. Thiếu Tá Hiếu vào trực thăng xong, phi hành đoàn cất cánh lên ngay lại bị mấy loạt súng AK47 bắn theo tới tấp. Lại một phen nguy hiểm vì địch bắn ta mà ta không thấy hướng địch. Nếu bắn lại không trúng địch mà trúng quân bạn lại càng ân hận, vì vậy phi cơ chỉ tiếp tục bay. Bình phi xong, trực thăng bay thêm nhiều vòng nửa hầu tìm thêm có cánh quân nào cần giúp không, nhưng vì thiếu tá Hiếu quá mệt chúng tôi phải rời vùng trở về Đà Lạt. (anh Hiếu qua Mỹ dịp tháng 4/75 tại Nam Cali và tử bệnh năm 2003. Một niên đệ thân tình ra đi!). Và ngày hôm sau bộ chỉ huy tiểu khu chúng tôi gồm cả đaị tá tỉnh trưởng, được lệnh đi đường bộ về Nha Trang.
Sở dỉ phải quan sát kỷ quận Di Linh như đã nói trên vì tôi biết chiều hôm qua, sau khi quận này bỏ ngỏ, tiểu đoàn 202 ĐPQ thuộc Tiểu khu Tuyên Đức đóng tại cầu Đại Ninh (Di Linh cách cầu Đại Ninh chừng 60 cây số) được lệnh tái chiếm quận này mà không biết sáng đó đã vào được chưa! Sau này mới biết địch đã chiếm quận rồi và quân ta chưa vào được. Chính Trung uý Nguyễn Thắng Lợi, sĩ quan quân số kiêm Xử lý Thường vụ Trưởng ban ba tiểu đoàn 202ĐPQ xác nhận. Anh cũng cho biết thêm trên đường tiến đến quận Di Linh, tiểu đoàn anh đánh bắt được một chiếc xe be trang bị súng 57 ly không giật,giả làm tăng T54 của địch để hù ta. Tiểu đoàn anh chưa chiếm lại được quận Di Linh, một phần vì các nút chận của địch khá mạnh, một phần vì áp lực tâm lý rút lui của quân bạn lúc đó.
Xin nói thêm,tiểu đoàn 202 ĐPQ của tiểu khu Tuyên Đửc là một đơn vị đánh giặc nổi tiếng ở quân khu II, dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Lê Xuân Phong. Anh Phong là một vị chỉ huy dũng cảm và lanh lợi,đã từng hai lần vượt ngục ngoài bắc nhưng không thoát nổi để rồi chịu nhiều trận đòn thù trối chết. Tôi từng ở tù chung với anh tại trại giam huyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ Tĩnh vào thập niên 1980. Lúc ở tù anh lao động tà tà cho qua ngày mà mình thường dùng từ “cà nhỏng chống xăm lăng”chứ không phải thuộc diện lao động là vinh quang’ như VC dụ khị.
Liên Đoàn 24 BĐQ
Lâm Đồng mất không chỉ làm cho lực lượng TK/QĐ chới với mà còn làm cho LĐ24 BĐQ một phen xính xáng. Xin mở dấu ngoặc ở đây để giới thiệu sơ qua về LĐ24 BĐQ. Đứng đầu tàu là trung tá Hoàng Kim Thanh, liên đoàn phó là trung tá Đào Đức Châu. Liên đoàn gồm ba tiểu đoàn sau:
Thiếu Tá Trần Đình Đàng (K15ĐL) – Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 63 (TĐ63BĐQ).
Thiếu Tá Hoàng Đình Mẫn (K2 Đồng Đế Nhatrang) – Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 81 (TĐ81BĐQ)
Thiếu Tá Vương Mộng Long (K20ĐL) – Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 82 (TĐ82BĐQ).
Pháo đội Pháo binh 105 ly của Đại úy Giang yễm trợ trực tiếp cho Liên đoàn này..
Như phần trên đã nói, LĐ24 BĐQ được tăng cường cho TK/QĐ, nhiệm vụ chính bão vệ quận Kiến Đức. Sau khi rời phòng họp TK/QĐ, Trung Tá Hoàng Kim Thanh về lệnh cho các đơn vị trực thuộc thi hành kế hoạch như đã định.(không phải TK/QĐ bỏ quên LD24BĐQ). Khi liên đoàn còn ở điểm vượt sông Kinh Đà, quân ta vô ý để lựu đạn nổ khiến Trung Tá Liên đoàn Trưởng và Trung úy Minh – sĩ quan Truyền tin Liên đoàn – và vài binh sĩ bị thương phải chờ tải thương. Ngày hôm sau Thiếu Tá Hoàng Đình Mẫn cũng được rời liên đoàn vì cơn bệnh sốt rét cấp tính và hai ngày sau nửa Trung Tá Đào Đức Châu cáo bệnh cũng được trực thăng bốc đi. Bấy giờ Liên đoàn như rắn mất đầu cụt đuôi (từ của Thiếu Tá Trần Đình Đàng xát nhận tình trạng LĐ lúc đó). Tuy là khóa đàn em, kém thâm niên cấp bậc và quân vụ so với các vị Tiểu đoàn Trưởng khác nhưng nhờ tài chỉ huy, lanh lợi, gan dạ chịu đánh đấm, Thiếu Tá Vương Mộng Long được cấp trên chỉ định chỉ huy Liên đoàn này từ lúc đó. Vì Liên đoàn phải di chuyển theo phương giác từ lại xuyên qua rừng thông rậm rạp và phải chờ tải thương nhiều lần nên khi ra tới Bảo Lộc thấy cờ VC đã “cấm dùi”tự hồi nào, Liên đoàn đành phải chuyển hướng về Đức Trọng, rồi Thiện Giáo (Bình Thuận). Liên đoàn phải lòng vòng trong rừng mất nhiều ngày quần áo tả tơi, lương thừc khô cạn. Mải đến ngày 5 tháng 4 năm 1975, từ chiếc L19 của quân đoàn IÌI, Trung Tá BĐQ Nguyễn Khoa Lộc (K18ĐL) mới liên lạc được với LĐ24BĐQ và khẩn cấp xin trực thăng bốc đơn vị này ra. Sau mấy ngày dưởng thương bình phục, Trung Ta Hoàng Kim Thanh trỡ lại nhiệm vụ, lần lượt trực thăng vận liên đoàn về Phan Thiết an toàn.
Tiểu đoàn 82 BĐQ của Thiếu Tá Vương Mộng Long được xem như đơn vị chủ lực, và cũng là đứa con cưng của Liên đoàn, được Không vận ra trước tiên tại phi trường Phan Thiêt đổ thêm xăng rồi được tăng cường cho Sư đoàn 18BB tại Long Khánh trong ngày 6/4/75. Tại đây tiểu đoàn này đã đánh một trận oai hùng với VC mà chúng ta biết được lúc còn trong tù hay hải ngoại sau này.
Nhưng với tình hình đất nước lúc bấy giờ, dù gan dạ và tài giỏi đến đâu cũng khó lòng chận đứng được sức tiến cũa Cộng Quân. Lúc đó,taị Long Khánh, địch quân bị dội lại vì ăn phải hai quả bom tinh khôn (CPU) bất đắc dĩ của ta mà thôi. Vì không đủ trực thăng bốc Liên đoàn ra cùng ngày nên hai Tiểu đoàn 63 và 81 được chuyển ra sau bảo vệ phi trường Phan Thiết. Sau đó không chịu nổi áp lực địch, hai tiểu đoàn này rút ra hướng biển để được trực thăng vận về Hàm Tân. Không được đi suông sẻ như Tiểu khu Quảng Đức, Liên đoàn 24BĐQ phải trải qua nhiều ngày đói rách tả tơi, băng rừng vượt suốt hiểm nguy, song vẫn duy trì được kỹ luật và tinh thần chiến đấu cao. Đó mới là điểm đáng kính phục. Chính Tiểu đoàn 82 BĐQ đã chứng minh điều đó qua trận đánh với VC tại Long Khánh trong những ngày cuối cùng. Họ chỉ buông súng đầu hàng vào giờ chót vì lệnh thượng cấp. Thật đáng ca ngợi thay!
Nhân đây tôi xin được giới thiệu về Thiếu Tá BĐQ Vương Mộng Long, cựu Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 82 BĐQ.
Năm 1972-1973, tôi thường hành quân với tư cách sĩ quan liên lạc Pháo binh cạnh bộ chỉ huy BĐQ/QKII dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Phạm Duy Tất, lúc đó anh Vương Mộng Long là Trưởng phòng 2 của BĐQ quân khu ÌI. Anh đã từng chỉ huy Quân báo nhảy từng toán nhỏ vào sào huyệt địch, đôi lúc anh nhảy cùng với họ để làm gương và tìm những tin tức sốt dẻo. Ngoài trận Long Khánh nói trên, nếu ai đã từng ở Pleiku tháng chín năm 1974 chắc không quên mình đã từng xuống đường chào mừng Tiểu đoàn 82 BĐQ của Thiếu Tá Vương Mộng Long về thành phố khao quân sau trận tử thủ căn cứ Pleime (Pleiku). Tiểu đoàn anh đã đánh tan trung đoàn 48 thuộc sư đoàn 320 CSBV khi họ thí mạng cùi tấn công căn cứ này. Khi bị tù ngoài Bắc, với sự can đảm có thừa, anh đã hai lần vượt ngục trốn lâu cả tháng trời nhưng cuối cùng vẫn không vượt khỏi gông cùm Cọng Sãn. Mỗi lần bị bắt lại đều được “đấm bóp” kỷ,bị bề hội đồng xém chết. Dở mủ xin chào lòng dũng cảm đầy gan dạ của anh – Thiếu Tá Vương Mộng Long- khóa 20 Trường Võ Bị Đà Lạt – Con Cọp Độc của Biệt Động Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Đạn khói Pháo Binh trị tăng địch
Nói về xe tăng địch, tôi xin trình bày một sự việc dù muộn màng nhưng mục đích không phải để khoe mình; còn nói để lấy kinh nghiệm thì trể rồi không còn nửa. Giữa tháng 12/1973, tại quận Kiến Đức tỉnh Quảng Đức (nay là tỉnh Đắc Nông), sau khi chiếm đồn Buprang địch thừa thắng xông lên, tăng T54 tiếp tục tiến chiếm đồn Bu-Bông gần đó chừng hai cây số đường chim bay. Trung úy Nguyễn Văn Năm (Bến Tre), Trung đội Trưởng PB 105 ly tại đồn Bu Bông dùng đạn nổ bắn trúng tăng địch nhưng nó vẫn lù lù tiến về căn cứ anh; quá thất vọng anh báo tôi như vậy. Từ bộ chỉ huy nhẹ hành quân của QĐII đặt tại Tiểu khu Quảng Đức, tôi cho lệnh anh nạp đạn khói vào bắn (súng cách xe địch gần hai cây số).
Thế rồi,quả đạn khói thứ nhất đi, một chiếc tăng địch bị khự lại; quả đạn khói thứ hai đi, một chiếc tăng nửa đứng yên và các chiếc tăng còn lại đâm đầu chạy trốn vào rừng gần đó. Đơn vị anh reo hò mừng rỡ. Khi nghe anh báo cáo về trung tâm hành quân đã hạ được hai xe tăng địch (lần đầu tiên PB hạ xe tăng địch bằng đạn khói), chúng tôi rất vui mừng và thấy “cặp lon đại uý sắp lắp lánh trên cổ áo anh”. Nhưng… nhưng tiếc thay, đơn vị bảo vệ trung đội PB của anh bị đánh toe tua không đũ khả năng chống lại tăng T54 địch, buộc anh phải rút, nếu không họ bỏ lại (Pháo Binh không trực tiếp chiến đấu một mình ngoài trường hợp bất khả kháng). Vì vậy, anh đành ngậm ngùi nuối tiếc nếu không nói là ấm ức, phá súng tháp tùng theo họ. Nửa giờ sau các anh không quân vào vùng lại báo cáo hạ được hai tăng địch.!!! (trể rồi anh bạn,nhưng dù sao cũng cám ơn anh đã xác nhận có hai xe tăng địch CHẾT tại trận). Thóang nghỉ của tôi khi cho bắn đạn khói lúc đó là vì trong đạn khói có chất lân tinh (phot pho); khi đạn trúng xe chất lân tinh tỏa ra tứ hướng trúng da thịt người,cháy âm ỉ không chịu nổi hoặc nếu trúng đứt xích,xe sẽ không xữ dụng được. Sách vở cả Mỹ lẫn Việt không có dạy đạn khói pháo binh hạ tăng địch. Tôi cho bắn đạn khói vì vài thoáng nghỉ nói trên, nào ngờ đạn khói lại hiệu quã như vậy. Rất tiếc lực lượng ta lúc bấy giờ không tái chiếm lại đồn Buprang nên không thể khai thác được hiệu quả thật sự của đạn khói như thế nào ngoài việc làm xe tăng địch đứng cứng như trên. Vì trận này quân ta tổn thất khá nặng (mất đồn Buprang) ngoại trừ pháo binh hạ được hai chiếc tăng địch nên thành tich của Trung úy Nguyễn Văn Năm không được cấp trên lưu ý. Anh chỉ được thượng cấp cho đi du lịch Đài Loan năm 1974 trong đoàn “chiến sĩ xuất sắc” qua sự giới thiệu của tôi.
Đầu tháng 1/1974,trước mặt Trung Tướng Nguyễn Xuân Thịnh – Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh quân lực VNCH – tôi xác nhận “đạn khói pháo binh trị được xe tăng” nên sau đó Bộ Chỉ Huy Pháo Binh có ra văn thư về việc phải xử dụng đạn khói pháo binh bắn tăng địch ,nhưng có lẻ văn thư này không được phổ biến rộng rải cho toàn thể quân lực VNCH nên quân ta rất còn e sợ khi nghe có tăng địch xuất hiện. Đã e sợ thì không còn tinh thần chiến đấu. Giới đá gà goị những con gà mới thấy mặt đối phương đã bỏ chạy là gà rót. Thất bại từ tâm lý đó!!!
Về vùng Cát Trắng
Kẻ viết bài này xin được nói rõ hơn một chút về mình sau khi rời Đa Lạt. Chúng tôi về đến Nha Trang trời vừa chạng vạng. Đường xá tấp nập xe chạy. Người đi, hầu hết là quân đội và dân chúng chạy giặc từ cao nguyên về, hoặc từ vùng ngoài vào. Tôi lê la ra quán cơm Viêt Nam nằm sát bờ biển, mục đích không phải để nhìn trăng “di chuyển qua các làn mây” (lúc nhỏ tôi tưởng như vậy) mà cũng không phải để ngắm dáng Chị Hằng phản chiếu dưới mặt nước, hay nghe những tiếng sóng vổ rì rào pha lẫn những tiếng rao “đậu hủ nóng hôn”của các cô bán tào phủ về đêm, mà chỉ muốn cho tâm hồn bớt căng thẳng và kiếm chút gì bỏ bụng sau một ngày mệt mõi. Tình cờ gặp hai người bạn cùng khóa năm xưa (Thiếu Tá Phạm Văn Trung thuộc Trung tâm Huấn luyện Không Quân Nha Trang và Thiếu Tá Huỳnh Văn Giai phòng Tuyển mộ Nhập ngủ Khánh Hoà). Gặp nhau tay bắt mặt mừng nhưng nụ cười không trọn vẹn trên vành môi vì sự bi thảm của đất nước hiện tại. Như đàn chim sau khi đũ lông đũ cánh phải lìa tổ ấm tung bay khắp bốn phương trời. Sau hai năm tròn dồi mài văn võ, chúng tôi đã rời mái trường mẹ thân yêu cuối năm 1963 về phục vụ bốn vùng chiến thuật. Nay tình cờ hội ngộ trong hoàn cảnh éo le này. Tuy nhiên dù hoàn cảnh nào, chúng tôi cũng không quên nhắc nhở những kỹ niệm thời sinh viên sĩ quan, nay thằng nào sống chết ra sao và cũng không quên mời nhau “năm mươi phần trăm em ơi” để vơi đi phần nào nổi lo hiện tại và cũng làm tăng thêm niềm vui cho dịp tao ngộ này. Đang thao thao bất tuyệt những chuyện đánh nhau sống chết, bổng Phạm Văn Trung hỏi tôi: “Vợ con mầy đâu rồi, sẵn sàn sáng mai tao gửi máy bay về Saigòn cho sớm?” Trong hoàn cãnh này, được người bạn nhả ý vậy thật là quá quý. Riêng vợ chồng Giai đã biết gia đình tôi nhiều trong những lần đi học hay nghỉ mát ở Nha Trang rồi, còn Trung chỉ mới gặp lần đầu nên tôi cám ơn và giải thích lòng vòng một tí cho anh biết. “Cám ơn hảo ý của mầy, vợ tao đang làm tại Tổng Cục Du Lịch ở Saìgòn. Riêng hai đứa con vừa được cậu nó đưa lên thăm tao.Thấy tình hình không yên;Tao gửi tụi nó theo trực thăng của cơ quan Dao (cố vấn tiểu khu) về nhà ba má Trần Thiện Thanh ở Bão Lộc để nhờ hai ông bà lo xe cho chúng về Saigòn cách nay gần mươi ngày,nếu trể tụi nó bị lội hành quân với tao rồi”.
Hôm nay, tình hình quân sự tại đèo Khánh Dương hơi bi quan, quân dù đóng tại đèo Khánh Dương có vẻ muốn nhúc nhích. Dù trời chưa khuya nhưng chúng tôi vẫn ý thức được: “vui chơi không quên bổn phận”. Khoảng chín giờ, chúng vội chia tay nhau sớm về lo việc mình. Riêng phần tôi trưa hôm sau vào trình diện Bộ Chỉ Huy/PB/QĐII (trong sân bay Nha Trang) nhận nhiệm vụ mới. Hôm ấy,trước khi vào trình diện BCH/PB/QĐII, Đại Tá Nghìn dặn tôi: “Anh vào xem thấy nhận được thì nên nhận, ngược lại thì ra đây bay trở lại Đà Lạt với tôi nhận nhiệm vụ mới, tôi chỉ chờ anh một tiếng đồng hồ thôi”. Trình diện đúng giờ hẹn, Đại Tá Phan Đình Tùng – Chỉ huy Phó PB/QLVNCH và Trung tá Phạm Hữu Chương- rất vui vẻ đề nghị tôi làm Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 69PB thay thế Trung Tá Chương (tôi từng làm Phó cho ông tại tiểu đoàn này năm 1972). Trung Tá Chương đưa tôi đi quan sát hậu trạm tạm thời của Tiểu đoàn 69 PB trú trong sân bay Nha Trang. Trên đường đi, Trung tá Chương cũng khuyến khích tôi: “Biết khả năng và thâm niên cấp bậc cũa anh nên Đại Tá chỉ định thẳng anh, đây là cơ hội vàng hiếm có để bắt cái lon Trung Tá chứ binh chủng mình khó lên lắm”. Nghe hai tiếng Trung Tá cũng ham nhưng mà.. qua hơn nửa giờ đồng hồ gọi là “thăm lính cho biết sự tình” tôi nhận thấy tiểu đoàn di tản từ Pleiku về đây có vẻ bi thảm quá, súng ống chưa trang bị kịp. Nếu tôi chấp thuận phải đem đơn vị vào căn cứ Động Bà Thìn (giửa đường Nha Trang -Cam Ranh) huấn luyện,trang bị lại. Lâu quá!
Nhận thấy nhiệm vụ quá nặng nề khó lòng thực hiện được trong hoàn cảnh bi đát gấp rút như thế này, tôi từ chối. Ra đến nơi hẹn, đại tá Nghìn chờ không được đã đi Đà Lạt rồi. Thầy trò tôi (tài xế và tôi) nghỉ qua đêm chờ sáng mai đi Đàlạt. Sáng hôm sau,trên đường rời Nha Trang, người và xe cộ hổn độn chật ních, hầu như không còn trật tự lưu thông nửa. Chúng tôi lách đi rất khó khăn mới tới được Phan Rang. Gặp vợ đại uý Trần Công Triệt (họ hàng và cùng khóa 18 ĐL) đang lăng xăng với năm đứa con dại muốn tìm cách vào phi trường về Sàigòn. Riêng Đại úy Triệt đang chỉ huy đại đội trấn thủ trên đập Đa Nhim. Tôi đưa sáu mẹ con bà Triệt (đầy xe jeep 8 người) vào phi trường và được Trung tá Nguyễn Văn Thiệt (K18ĐL) và Thiếu tá Trương Khương (K19ĐL) là Không đoàn Trưởng và Không đoàn Phó Không đoàn Phòng thũ đưa lên phi cơ về Saìgòn mấy phút sau đó. Phần tôi tiếp tục hướng về Đà Lạt. Vừa qua khỏi đèo Sông Pha, bị đoàn xe từ Đà Lạt đổ xuống không thể nào tiếp tục được. Họ cho biết đàlạt đã bỏ ngỏ. Tôi đành quay lại phi trường Phan Rang (2/4/75?). Tối đó quân dù đã nhóm khỏi đèo Khánh Dương và Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn bắt đầu rút. Tướng Phú và Đại Tá Lý Bá Phẩm (Tỉnh Trưởng Nha Trang cũng có mặt tại phi trường Phan Rang đêm đó). Thấy tôi ở đó vài ngày chẳng có nhiệm vụ gì, Trung Tá Nguyễn Văn Thiệt (bạn cùng K18ĐL) và Thiếu Tá Trương Khương giúp tôi về Sàigòn. Tôi trình diện BCH/PB/VNCH và nhận lệnh tăng cường cho PB quân đoàn ÌII phòng thủ tại Long Thành cho đến ngày mất nước, rồi khăn gói đi tù từ Nam ra Bắc. Sang Mỹ theo diện H.O đầu năm 1991.
Kết luận
Đó là một số hiểu biết trong phạm vi trách nhiệm hạn hẹp của tôi tại một vùng cao nguyên hẻo lánh trong giai đoạn đen tối nhục nhã của lịch sữ nước nhà. Cuộc chiến quân sự đã qua dù kêt thúc không theo chiều hướng mong đợi của ta. Ta không thể hoàn toàn trách Mỹ bỏ rơi đồng minh; mà không khe khắt chính mình; đặc biệt những người từng nắm chức vụ chỉ huy cao trước ngày có Hiệp định Paris 1973. Ông bà ta từng nói: “Tiên trách kỷ hậu trách nhân” (Trách mình trước khi trách người). Những đau thương, đói khổ mất tự do của dân Việt Nam từ ngày Miền Nam bị cưởng chiếm đến nay vẫn còn tồn tại. Hình ảnh của những người cùng một chiến tuyến với ta: thượng cấp, thuộc cấp, bạn bè phơi thay nơi trận địa. Những người dân vô tội nằm chết đó đây. Những người chết do bị hành hạ đói khát trong lao tù Cộng Sản, trong rừng sâu hoặc làm mồi cho cá mập ngoài biển cả trên đường tìm tự do chưa phai mờ trong trí ta. Có những người không chỉ chết một lần. Họ đã hy sinh để cho quê hương Việt Nam Tự Do, Dân Chủ, Hạnh Phúc, Phú Cường. Là Người Việt Quốc Gia, chúng ta không thể quên ơn Họ. Chúng ta hảy cùng thắp nén hương lòng hướng về Họ và cầu nguyện cho linh hồn Họ sớm về nơi Họ muốn. Chúng ta cũng không quên ơn những“Quân, Cán, Chính, Dân” đã hy sinh đời trai trẻ của mình,đặc biệt không quên các Chú, Bác anh chị thương bệnh binh đang sống đói khổ nhục nhã nơi quê nhà, nơi vùng kinh tế mới xa xôi hẻo lánh nào đó. Nếu có dịp đền ơn chúng ta đừng nở làm ngơ, điều mà lương tâm con người, đặc biệt những người từng chịu ơn, không cho phép.
Cựu Thiếu Tá Trần Văn Bường
Houston,Texas Xuân 2005
LTS:
Sinh quán tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận năm 1940.
Xuất thân khóa 18 Đà Lạt với cấp bậc Thiếu uý thực thụ tháng 11/63.
Trung uý thực thụ tháng 11/65.
Đại uý thực thụ 7/1969
Thiếu Tá đặc cách mặt trận 7/72.
Thiếu Tá thực thụ 1/1973




Monday, February 10, 2020


Vùng đặc quyền kinh tế (VĐQKT) của Trung quốc tại biển Đông : nhiều bạn ĐÃ QUÊN hay ko tính tới sự đòi hỏi vô lý này .
- Không có đồng minh truyền thống , ko có kẻ thù truyền kiếp , chỉ có QUYỀN LỢI LÂU BỀN mà thôi -- Một chính khách Anh .

1/ Nếu xét về số lượng thì TQ chỉ chiếm vài đảo ở Trường Sa nhưng từ lâu nay, TQ đã đòi hỏi rất vô lý về Vùng Đặc quyền Kinh tế *: họ nói rằng họ có VĐQKT từ bờ của bất cứ ĐẢO NHỎ nào của họ thuộc quần đảo Trường Sa, dù chỉ rộng 10 m2, trải rộng tới 200 hải lý hay 370.4 km; nghĩa là bao trùm lên các đảo do VN và Phi chiếm giử gần đó. (Xem bản đồ bên dưới). Chưa kể đòi hỏi về đường lưởi bò .
Từ các đảo chim ỉa này, họ đã tôn tạo bằng phun cát biển, tạo đg băng cho phản lực cơ . . .
2/ Cách đây vài năm TQ đã thực thi yêu sách vô lý này: 1 cty Mỹ định thăm dò dầu khí ở một vùng phía đông đảo Côn Sơn của VN. TQ đã yêu cầu ngừng ngay việc này vì nằm trên VĐQKT của họ ! Và cty này đã tuân lịnh vì họ ko muốn ảnh hưởng đến việc làm của họ tại TQ ! Đảo Côn Sơn ở Đông Nam của VN , nếu TQ đòi hỏi như vậy họ đã dựa vào VĐQKT tính từ các đảo chim ỉa ở cuối của quần đảo TS. Theo quan điểm quốc tế, TQ cũng không thể áp đặt VĐQKT cho đảo Phú Lâm thuộc HS, vì đảo này ko là một phần của lục địa (continent) Á Châu. Trong khi đó , Philippines lại có quyền như vậy với hơn 8.000 đảo lớn nhỏ vì họ là một nước tạo nên bởi quần đảo (archipelgo nation) .
Họ chỉ dám ĂN HIẾP VN vì VN không có người đở đầu (protégé) như Phi có Mỹ !
(Hiện nay, có lẽ do "BIẾT LUẬT " của TQ, các tàu CHIẾN của VN không đi vào các VĐQKT của TQ. Chỉ có tàu đánh cá của "dân ngu khu đen" mà thội) .
3/ Mỹ nói , ko đứng về bên nào trong tranh chấp biển Đông giửa 2 nước CS , họ chỉ yêu cầu tự do lưu thông trên hải phận quốc tế . Vì một lẽ đơn giản , bạn hàng lớn nhứt của Mỹ vẫn là TQ và các nước Tây phương khác cũng như vậy . "Thằng nào NGU thì ráng chịu": tại sao Singapore là 1 nước nhỏ , ng Hoa chiếm đa số mà vẫn giữ độc lập với TQ và là một trong những nước CUỐI CÙNG ở ĐNA công nhận TQ vào 1990 ? Trong khi VN đã mời TQ vào nhà mình từ năm 1949 ! (Đọc comment bên dưới về khôn ngoan của Lý quang Diệu) .
4/ Giải thích bản đồ :
Màu tím sậm : VĐQKT của TQ , rộng 877.019 km2 , ko nước nào tranh cải .
Màu tím lợt hơn : VĐQKT vô lý của TQ , chỉ bị Đài Loan tranh cải .
Màu tím lợt nhứt : VĐQKT vô lý của TQ , rộng 3 triệu km2 , bị nhiều nuớc tranh cải .
Tổng cộng VĐQKT của TQ rộng 3.877.019 km2 .
"The first figure excludes all disputed waters, while the last figure indicates China's claimed boundaries, and does not take into account neighboring powers' claims".
* Quốc tế chỉ công nhận VĐQKT, màu tím sậm, tính từ bờ biển của HOA LỤC (China mainland). Như vậy ở phần tím lợt nhứt , ta phải hiểu rằng, nó được tính từ bờ của các đảo chim ỉa của TQ dù diện tích phần nổi trên mặt nước có thể chỉ 10 m2 (sic) ! Và tàu chiến của VN biết rõ và tôn trọng luật này (sic) !


QUÂN VIỆN CỦA TC CHO VC , bài 2 .
Để giám sát việc chuyển vận quân viện cho VNDCCH , Bắc Kinh trong năm 1965 lập một nhóm lãnh đạo đặc biệt với đại tướng La Thụy Khanh (Luo Ruiqing), tổng tham mưu trưởng Giải Phóng Quân TQ từ 1959-65, làm giám đốc:

https://vi.wikipedia.org/wiki/La_Th%E1%BB%A5y_Khanh

Quân viện cung cấp bởi TQ , LX , và các nước XHCN khác được chở bằng xe lửa đến các TP gần biên giới VN, như Bằng Tường (Ping Xiang) tỉnh Quảng Tây, nơi mà chúng được chở sang VNDCCH bằng xe lửa hay xe tải . Chẳng bao lâu những quân viện này đã quá khả năng vận chuyển của VN , và các ga xe lửa và nhà kho TQ đầy ấp quân viện này. Bắt đầu năm 1967, TQ đã dùng hơn 500 xe tải để giúp chở những hàng này vào VNDCCH .
Để làm đẩy mạnh việc vận chuyển quân viện đến Nam VN , TQ đã lập một đoàn tàu biển bí mật để chở hàng hóa tới vài đảo ngoài khơi miền trung VN để chuyển tiếp tới miền nam . Một cảng bí mật được lập tại đảo Hải Nam để phục vụ đoàn tàu biển này . Bắc Kinh cũng mở một đường biển rất tốn kém tới KPC để chuyển vũ khí, đạn, thực phẩm, và thuốc men cho Mặt trận Giải phóng Dân tộc tại Nam VN. Giữa 1965 và 1967 , vũ khí TQ trang bị cho 50.000 quân đã tới cảng Sihanoukville . Một số vũ khí này trang bị cho quân đội KPC .
Biểu đồ (chart) dưới đây cho thấy tầm mức của quân viện từ 1964-1975 của Bắc Kinh cho VNDCCH:
Quân viện của TQ cho Bắc VN tăng nhanh trong năm 1965 .


NHẬN XÉT : Trước đây , các tỉnh ven biển miền Trung thỉnh thoảng thấy những bao gạo 50 kí, bọc ni lông kín nước, của TC tấp vào bờ . Thời gian đi tù ở miền bắc từ 1977-81 , tôi thấy trong các HTX nông nghiệp, các nông cụ đều làm tại TC . Quần áo của tù cũng như của CA cai tù gồm cả quần đùi , áo khoát đi mưa và áo khoát mùa đông, v.v... của CA đều làm tại TC .
Riêng quân trang của bộ đội chính qui Bắc Việt từ đầu tới chân đều do TC sản xuất .
Lúc được chuyển trại bằng tàu từ nam ra bắc , chúng tôi được phát lương khô 701 của quân đội TC , xem hình , làm từ các loại bột như đậu xanh , v.v... nghiền nát và trộn với đường và đóng thành bánh , rất bổ dưỡng . Có thể ăn liền hay nấu thành chè rất dễ dàng .
Dịch từ : China and Vietnam war , 1950-1975.
(còn tiếp)

(Cựu) Trung Tá Lê Hồng Người Chiến Hữu Trước và Sau Năm 1975 Của Tôi - Trần Đức Tường
Related image
Tôi muốn viết về một người bạn tôi đã gập lần đầu cách đây đúng 41 năm trên chiến trường Quảng Trị. Những tưởng cơ duyên bèo bọt. Không ngờ tôi với anh đã trở thành đôi bạn thân. Tình bạn đó kéo dài cho tới ngày nay, tuy rằng anh đã từ biệt cõi đời từ ngày 1/5/1985 tại khu chiến của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam.
Gặp nhau trên chiến địa.
Tháng 5/1967, tôi được bổ nhiệm Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 3 Nhẩy Dù, một tiểu đoàn thiện chiến có dây biểu chương mầu đỏ Bảo Quốc và là tiểu đoàn kỳ cựu của Sư Đoàn Nhẩy Dù, hiện được đặt dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Trần Quốc Lịch và đang hành quân tại Vùng I Chiến Thuật. Thế là tôi đã phải khăn gói ra đáo nhậm đơn vị tại vùng hành quân, thay thế bác sĩ Lê Văn Châu, tức nhà văn quân đội Trang Châu.
Đáp xuống sân bay Phú Bài giữa trưa hè nóng bức, tôi được anh em binh sĩ TĐ3ND đón tôi đưa vô vị trí đóng quân, lúc đó tại thôn Thượng An, nằm trên bờ phía bắc sông An Lỗ, cách Huế 17 cây số. Sau khi gặp bác sĩ Châu và bàn giao quyền chỉ huy Trạm Cứu Thương trước hàng quân, bác sĩ Châu đưa tôi sang Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn để trình diện ông Tiểu Đoàn Trưởng. Đi qua những lũy tre rậm rạp, chúng tôi tới một căn nhà gạch. Tôi thấy ban truyền tin nhộn nhịp điện đàm và gửi công điện bằng morse. Bước vào Bộ Chỉ Huy và trình diện theo đúng lễ nghi quân cách. Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng vui vẻ bắt tay và giới thiệu tôi với một vị sĩ quan cấp trung úy đứng cạnh, dáng người nhỏ nhắn với đôi mắt tinh anh, khuôn mặt xương xương và nụ cười tự nhiên. Đó là trung úy Lê Hồng, Phụ Tá Ban 3 của Tiểu Đoàn. Một người nữa có mặt ở đó là vị sĩ quan cố vấn Mỹ, Đại Uý Andrews. Hai người bắt tay tôi vui vẻ. Tôi đưa mắt nhìn quanh, không thấy ai ngoài 3 người trong Bộ Chỉ Huy. Thiếu tá Lịch cùng tôi trò chuyện, hai vị sĩ quan kia lánh mặt phía sau nhà. Đó là lần đầu tôi gặp Lê Hồng.
Từ giã thiếu tá Lịch, bác sĩ Châu và tôi trở về trạm cứu thương. Sau khi tiễn BS Châu về Huế để trở vào Sài Gòn, tôi được Y tá Trưởng của tôi là hạ sĩ Nguyễn Mạnh Am đưa đi thăm các Đại Đội. Theo tổ chức quân y trong một tiểu đoàn nhẩy dù, Trạm Cứu Thương gồm bác sĩ và khoảng hơn một chục y tá trong đó có 2 khiêng cáng ở cùng với Đại Đội Chỉ Huy. Ngoài ra, tại 4 đại đội tác chiến còn có 1 Y Tá Đại Đội và một khiêng cáng. Tới mỗi đại đội, tôi đã được các Đại Đội Trưởng chào mừng và cũng gặp toán y tá của tôi. Đi ráp vòng, tôi ra bờ sông An Lỗ. Trời nóng bức, tôi nhảy xuống tắm. Cứ nghĩ rằng tiểu đoàn còn đóng quân ở đây vài ba hôm nữa vì ông Tiểu Đoàn Trưởng mới mổ xong. Tắm xong tôi trở về Trạm Cứu Thương. Lúc đó cũng khoảng 6 giờ chiều. Anh em đã dọn một mâm cơm đạm bạc có trứng tráng và cá chiên. Tôi đang ăn thì thấy ông Tiểu Đoàn Trưởng, Lê Hồng, cố vấn Mỹ đai nịt gọn gàng, máy truyền tin một đoàn đến trước sân.
Tiểu đoàn được lệnh di chuyển. Tôi ngầm rủa trong bụng là y tá của mình nó không báo trước cho mình để cả tiểu đoàn phải chờ ông bác sĩ mới tới đáo nhậm đơn vị còn ngồi ăn cơm. Tôi vội vàng đeo dây ba chạc, đội nón sắt lên và bước theo Bộ Chỉ Huy. Tiểu đoàn lội bộ từ trong làng ra đến Quốc Lộ 1 khoảng chừng hơn cây số. Một đoàn xe "công voa" đã chờ sẵn và chở chúng tôi lên hướng Quảng Trị. Tôi leo lên xe ngồi chung với Trạm Cứu Thương. Đi chưa được mấy đỗi thì xe rẽ xuống hướng biển. Xa xa đã nghe tiếng súng lớn, súng nhỏ nổ rền. Đoàn xe dừng lại khi nghe rõ được tiếng súng ta, súng địch. Tiểu đoàn dàn đội hình tiến về phía trước. Bộ chỉ huy trụ ở một ngôi miếu gần lũy tre làng. Sau khi bố trí xong Trạm Cứu Thương, tôi sang Bộ Chỉ Huy. Lúc đó thiếu tá Lịch đang điện đàm bằng máy PRC25 với các đại đội. Ông ra lệnh các đại đội sẵn sàng nghênh địch và chặn hướng rút của chúng. 8 giờ tối. Trời tối mịt. Lê Hồng đang chăm chú chiếu đèn pin có gắn kính đỏ trên tấm bản đồ trải trên thềm ngôi miếu. Cố vấn Mỹ cũng đang nói máy với cấp trên. Tôi thấy mọi người bận rộn, còn mình thì đứng sớ rớ không có việc làm, cũng hơi lúng túng. Bước tới sát phía sau lưng Lê Hồng. Nhìn qua vai Lê Hồng tôi thấy trên tấm overlay ghi đầy ký hiệu bằng bút chì mỡ đen đỏ chi chít. Hồng ngước đầu lên và dường như đoán được trong ánh mắt tôi có điều muốn hỏi, anh mỉm cười chào rồi nói nhanh:
- Tiểu Đoàn 2 đang đụng ở chỗ này. Mình ở chỗ này, Bác Sĩ.
Vừa nói anh vừa chỉ một điểm trên bản đồ bằng chiếc bút chì mỡ trên tay. Lúc này tôi mới để ý, Lê Hồng nói giọng miền Trung, không phải giọng Huế. Được thể, tôi ngồi sổm ngay xuống bên cạnh anh để nhìn cho rõ hơn. Theo Lê Hồng thì TĐ2ND đụng cấp tiểu đoàn địch ở chếch phía Tây Bắc của tiểu đoàn tôi. Cách chừng 1 cây số. Tiếng súng càng lúc càng nổ ran. Tôi hỏi Lê Hồng:
- Tiểu đoàn mình đến tiếp viện phải không trung úy ?
- Mình có nhiệm vụ án ngữ, blocking force, không cho địch rút chạy lên núi.
Bỗng nghe ông Lịch nói :
- Mấy đứa con đã vào vị trí án ngữ chưa, Hồng Vân ?
Tôi còn đang phân vân, không biết ông Tiểu Đoàn Trưởng hỏi ai thì Lê Hồng đã nhanh nhẩu đáp :
- Trình Mặt Trời, tất cả xong xuôi rồi ạ.
À, thế ra ông Tiểu Đoàn Trưởng là Mặt Trời, còn Lê Hồng là Hồng Vân. Trong máy truyền tin, nghe thấy nhiều tên lạ như Kim Tước, Kinh Kha, Cần Thơ vv... Lúc đó, tôi chưa biết ai vào với ai cả. Có lẽ Kim Tước ở gần trận địa nhất, nên thấy ông Lịch nói trong máy:
- Kim Tước đây Mặt Trời.
- Trình Mặt Trời, Kim Tước tôi nghe.
- Anh nói mấy đứa con anh nó mở mắt ra quan sát cho kỹ. Nếu "nó" tràn đồng rút về hướng anh thì anh cứ thẳng tay vớt nó cho tôi.
Trăng đã xuống sau lũy tre làng. Nhưng không gian vẫn được soi sáng bởi những ánh hoả châu được thả từ chiếc C130 vũ trang vừa bay lượn trên vùng vừa trút những tràng đại liên nhiều nòng xuống đầu địch. Trông như những vòi lửa từ trời đổ xuống. Tôi rút bao thuốc lá Ruby quân tiếp vụ ra mời Lê Hồng. Anh giơ tay từ chối:
- Cám ơn bác sĩ, tôi không hút thuốc.
- Tôi hút được không ?
- Bác sĩ vào khuất trong miếu mà hút.
Tôi đứng lên. Chân hơi tê. Vào trong miếu hoang, tôi đốt thuốc. Rít từng hơi dài. nhìn ra ngoài, thỉnh thoảng có lính của mình chạy qua trước cửa. Tôi trở ra sau khi dụi tàn thuốc dưới chân. Lê Hồng cũng đã đứng lên từ hồi nào. Trong lúc ông tiểu đoàn trưởng thì lại ngồi trên một cái ghế đẩu, chắc mượn trong nhà dân. Ống nghe PRC25 vẫn áp sát tai. Tôi chợt nhớ ra mình đang ở trong một ngôi làng, mà không thấy nhà nào đốt đèn, cũng chẳng thấy bóng người dân nào cả. Tôi nghĩ, chắc, trong vùng chiến tranh, dân đã quen trú ẩn dưới hầm mỗi khi có tiếng súng. Ngoài tiếng sôi của máy truyền tin, không ai nói tiếng nào cả. Tiếng súng bên phía Tiểu Đoàn 2 cũng thưa dần. Tiếng đại bác bay qua đầu nổ ở phía biển. Tôi hỏi Lê Hồng:
- Tình hình ra sao rồi ? Mình có đụng không ?
- Tiểu Đoàn 2 báo địch rút ra phía biển. Pháo binh đang truy kích. Chúng không chạy về phía mình. Bên đó đang chuẩn bị đóng quân.
Tiếng súng ngớt dần rồi dứt hẳn. Chiếc máy bay vũ trang cũng rời vùng lúc nào không biết, trả lại màn đêm cho khung trời đầy sao. Ông Lịch đứng lên tiến lại phía chúng tôi. Thấy tôi, ông cười và nói:
- Lữ Đoàn ra lệnh cho mình đóng quân qua đêm ở đây. Bên Tiểu Đoàn 2 đang thanh toán chiến trường và cũng đóng quân tại chỗ. Hồng Vân dặn các con cái cẩn thận, thả sonnettes ra ngoài. Đề phòng chúng rút thành toán nhỏ qua phòng tuyến của mình. Tango cho các nơi đóng quân. Thi hành.
Tôi trở lại Trạm Cứu Thương, hỏi y tá trưởng của tôi :
- Tango là ai ?
- Dạ thưa là ông trung úy Toán xử lý thường vụ Đại Đội Chỉ Huy thay thế đại úy Hoàng.
Cùng lúc đó thì Tango tới chỗ chúng tôi và nói :
- Bác sĩ và Trạm Cứu Thương đóng ở cái miếu. Truyền Tin ở chỗ này. Bộ Chỉ Huy ở nhà kia.
Tôi ghi nhận phương hướng để phòng khi ban đêm đụng trận thì còn biết đường biết xá. Thầy trò tôi thu dọn đồ đạc trở lại ngôi miếu. Dọc đường gặp Bộ Chỉ Huy đang di chuyển. Ông Tiểu Đoàn Trưởng nói :
- Đêm nay tiểu đoàn đóng quân ở đây. Chúc bác sĩ ngủ ngon.
- Cảm ơn thiếu tá, chúc thiếu tá ngủ ngon.
Lê Hồng đi ngay sau lưng ông tiểu đoàn trưởng, buông lửng câu :
- Ngủ ngon.
- Ngủ ngon, Trung Úy.
Đại úy Andrews đi kế cũng nói :
- Have a good night, sir.
Tôi đáp lại lời chúc. Bụng bảo dạ, anh này là đại úy, mình là trung úy mà anh gọi mình là sir. Cũng kỳ.
Anh em mở một chiếc băng ca và thổi cái nệm hơi rồi giăng mùng cho tôi nằm ngoài thềm miếu, chỗ Lê Hồng cùng tôi coi bản đồ lúc nãy. Tôi không muốn vào bên trong vì phần thì ngại phạm tới linh thiêng, phần vì nếu bị tấn công ban đêm thì không bị lúng túng trong nhà. Cái nệm hơi sột soạt mỗi khi cựa mình hơi làm tôi khó chịu. Nhìn qua nóc mùng, trời đầy sao lấp lánh. Tôi nghĩ ngợi lung tung. Không biết Trần Lâm Cao cùng ra đáo nhậm tiểu đoàn có bàn giao với bác sĩ Trần Đoàn không ? Nếu nó bàn giao kịp thì nó hơn mình, đã được thử lửa trận đầu rồi (baptême du feu). Tôi nghĩ về vợ con ở Sài Gòn. Chắc nhà không ngờ mới ngày đầu mình đáo nhậm đơn vị đã nếm mùi súng đạn. Không biết giấc ngủ đã đến với tôi lúc nào. Mở mắt ra thấy trời đã sáng. Đồng hồ tay chỉ 6 giờ. Liếc quanh, anh em y tá đã dậy và đang đun nước. Tôi vùng ra khỏi "giường". Trung, người lính cần vụ của tôi khệ nệ mang đến cho tôi một nón sắt nước để đánh răng, rửa mặt:
- Bác sĩ ngủ được không ?
- Được lắm. Cảm ơn cậu. Anh em thế nào ?
- Anh em dậy và đóng ba-lô cả rồi.
Rửa mặt xong, trở lại chỗ ngủ thì Trung đã dọn dẹp hết rồi. Tôi thấy trên thềm miếu, đúng chỗ Lê Hồng trải tấm bản đồ hôm qua, một ca mì gói, khói bốc nghi ngút và một ca nước trà nóng. Tôi thật lòng:
- Ở nhà tôi ít ăn sáng lắm. Chỉ uống ly cà phê sữa thôi.
- Thưa bác sĩ, ở đây mình không có cà phê. Để khi nào ra Huế hay Quảng trị em đi mua. Bác sĩ dùng tạm, kẻo nếu tiểu đoàn phải di chuyển thì đói mệt lắm đó, bác sĩ. Trung nói một hồi.
Vừa ăn xong, đang hút điếu thuốc đầu tiên trong ngày thì Am tới báo :
- Trung úy Toán bảo mời bác sĩ 7 giờ 30 lên Bộ Chỉ Huy tiểu đoàn họp.
Tôi và Am đi rảo một vòng Trạm Cứu Thương. Tôi dặn Am là nếu đêm nay còn đóng ở đây thì cho anh em đào hố cá nhân. Đêm qua mới tới và sửa soạn ứng chiến nên không ai đào hố được. Lúc đó khoảng 7 giờ 15. Tôi lững thững một mình lên Bộ Chỉ Huy. Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng và Lê Hồng đang đứng trước thềm nhà. Tôi chào kính.
- Chào bác sĩ. Đêm qua bác sĩ ngủ được không ? Ông Lịch tươi cười nói.
- Cám ơn thiếu tá, dạ ngủ được.
Ông bắt tay và kéo tôi ngồi cạnh ông trên bậc thềm. Các Đại Đội Trưởng lục tục kéo đến đúng giờ. Ai nấy đều nón sắt, đai nịt chỉnh tề, tay cầm bản đồ như chuẩn bị xuất phát. Kể cả Lê Hồng. Tôi thấy ngượng quá vì sau khi đi một vòng trạm cứu thương tôi sang thẳng bên này nên đầu trần, giây ba chạc, súng ống không có trên mình. Các đại đội trưởng và cố vấn Mỹ đứng trước mặt ông Lịch. Ông cất tiếng:
- Tôi giới thiệu với các "đích thân", bác sĩ Trần Đức Tường, mới về tiểu đoàn thay thế bác sĩ Trang Châu.
Tất cả giơ tay bắt tay chào hỏi tôi. Thực ra tôi đã gặp các vị chiều hôm qua khi đi thăm các đại đội. Ông Lịch nói tiếp :
- Lệnh Lữ Đoàn, Tiểu Đoàn 3 sẽ đóng tại đây mấy ngày, chờ TĐ9ND ra hoán chuyển TĐ2ND trở về hậu cứ. Tiểu đoàn cấm quân, không ai được đi phép. Các đại đội bố trí canh gác, không được gây phiền hà cho dân. Bác sĩ nghiên cứu làm công tác dân sự vụ. Lát nữa, tôi và Bộ Chỉ Huy sẽ đi một vòng tới các đại đội. Chiều nay tiểu đoàn sẽ nhận tiếp tế. Bác sĩ nếu thấy cần thêm thuốc men làm dân sự vụ thì nói với Ban 3 đánh công điện về tiền trạm gửi ra chiều nay. Ban 5 phối hợp với bên quân y để thông báo dân làng đến địa điểm khám bệnh. Ai có câu hỏi ?
Ông Lịch và Lê Hồng giải đáp vài ba câu hỏi của các đại đội trưởng và cuộc họp chấm dứt. Tôi có câu hỏi canh cánh trong lòng nhưng ngại không dám nêu, sợ quê. Trước khi mọi người giải tán, tôi quay sang Lê Hồng hỏi nhỏ :
- Cái làng này tên là làng gì vậy trung úy ?
- Sịa.
- Cái gì ?
- Làng này kêu là làng Sịa.
Tôi về gần tới ngôi miếu thì đã thấy tụ tập phía trước khoảng chục người dân, già có trẻ có, nam có, nữ có. Tới nơi, Am nói với tôi :
- Thưa bác sĩ có mấy người này bị bệnh tới xin bác sĩ khám.
Thế là tôi làm công tác dân sự vụ liền rồi. Tôi nhận thấy, ngoại trừ một vài người bị ho, cảm, huyết áp thấp, hầu hết đều đến khai bệnh tiêu chảy, phân có đàm. Khám bệnh, phát thuốc xong, tôi chạy vội sang Bộ Chỉ Huy trình sự việc với ông tiểu đoàn trưởng. Tôi kiếu trước với ông là sẽ không tháp tùng ông đi tuần sát các đại đội. Tôi sẽ đi điều tra về nguồn nước, tình trạng vệ sinh trong làng. Nếu bệnh kiết lỵ mà lây lan sang binh sĩ thì hậu quả không thể lường được. Ông Lịch chấp thuận ngay. Tôi chào kính rồi quay ra.
Tôi gọi Am, Phan Khuynh đi cùng với tôi tìm hiểu tình hình vệ sinh. Điều đầu tiên chúng tôi nhận thấy là trong làng có rất nhiều ruồi. Rất ít nhà có cầu tiêu. Dân chúng thường ra bờ ruộng đi cầu. Các giếng nước đều có vẻ tốt. Vấn đề sơ khởi là phải điều trị ngay những người đang bị kiết lỵ. Đồng thời phải xịt thuốc diệt ruồi, đào cầu tiêu cho những nhà không có. Mặt khác phải mở chiến dịch tuyên truyền trong dân làng không ăn rau sống, phải uống nước đun sôi. Ban 5 kẻ nhiều biểu ngữ trên bờ tường và trên vải căng ngang cổng làng. Tôi tới trường học để giảng cho các em học sinh về vệ sinh phòng bệnh. Lê Hồng đã sát cánh cùng tôi trong công tác dân sự vụ. Cũng vì vậy mà khoảng cách khách sáo giữa chúng tôi được thâu hẹp lại.
Tuổi thơ thời loạn
Chiều hôm đó, trong lúc chờ đợi tiếp tế, tôi lững thững đi ra phía bờ tre. Đang ngồi trên một mô đất đợi chờ một cơn gió thoảng. Mùa này sao mà nóng thế ? Bỗng nghe thấy tiếng ai bước tới sau lưng. Tôi quay lại và thấy Lê Hồng đang đi về phía tôi. Vẫn ánh mắt ấy, nụ cười ấy, Lê Hồng nói đùa:
- Bác sĩ đang ngồi làm thơ đấy à ?
- Tôi đâu phải là văn sĩ thi sĩ như bác sĩ Trang Châu đâu. Ở phía trong nóng bức quá, tôi ra đây hóng mát.
- Mùa này Miền Trung có gió Lào nên khó chịu.
- Gió Lào ?
- Thật ra, đó là gió Tây, từ bên Lào thổi sang, qua những vùng khô khan nên mang theo cái hơi nóng thổi qua đây.
Câu chuyện thời tiết chuyển sang chuyện gia đình. Tôi kể sơ cho Lê Hồng hoàn cảnh gia đình của tôi. Và Lê Hồng cũng kể chuyện đời của anh. Sau đây là những lời anh kể, không phải chỉ kể trong lần này mà lai rai trong suốt những năm chúng tôi cùng chung sống trong một đơn vị tác chiến. Đúng là một thiên truyện dài nhiều hồi.
Ngày đó Lê Hồng có vợ và cũng có 4 đứa con như tôi, chỉ khác là cả 4 đứa đều là trai, trong lúc tôi có một cháu gái đầu lòng. Tuổi thơ của chúng tôi gần giống nhau. Tôi là một cô nhi ở trong cô nhi viện. Hồng tuy cha mẹ không chết, nhưng cũng kể như mồ côi, được một ân nhân nuôi dưỡng. Hồng kém tôi một tuổi, tuổi Dần, sinh năm 1938. Anh quê ở Hà Tĩnh. Tôi người Bắc Ninh. Anh kể trường hợp thất lạc gia đình trong chiến tranh như thế này:
Năm đó, chiến trận tràn về quê anh rất khốc liệt. Quân đội Pháp càn quét khắp vùng. Lúc đó anh mới 12 tuổi, đang học lớp nhất. Sau khi chiếm làng anh, Tây bắt một số dân gồm người già, đàn bà, con nít mang vác chiến lợi phẩm cho chúng. Lê Hồng, mặt mũi sáng sủa, dễ thương, đã được một sĩ quan Tây bắt đeo chiếc máy truyền tin đi theo ông ta. Họ tới bến đò để rút đi thì thả hết dân làng. Chỉ trừ Lê Hồng. Có lẽ ông Tây quên thả anh. Hay ông ta muốn bắt đi theo. Hồng không dám bỏ máy truyền tin xuống và cứ ngoan ngoãn đi theo ông ta xuống tầu máy. Thế là anh đã phải lìa xa gia đình, bắt đầu cuộc sống cô nhi. Về tới Hà Nội, người sĩ quan Pháp không có điều kiện để giữ anh bên cạnh trong doanh trại. Quá nhỏ để tuyển mộ anh thành lính. Ông ta bèn giao cho một vị đại úy người Việt trong đơn vị. Họ đã cho anh vào quy chế "trợ chiến quân" (supplétif), không có số quân và anh phục vụ cho đơn vị "cảm tử quân" (commando) của ông ta. Tại hậu cứ, anh được học về truyền tin tín hiệu (morse). Với bản tính thông minh, anh học rất tiến bộ và chỉ sau vài tháng đã trở nên một chú "lính" truyền tin rất giỏi. Anh gửi và nhận công điện tiếng Việt cũng như tiếng Pháp rất thành thạo, không bị lỗi, bằng cần đánh đơn cũng như cần đánh kép. Tuy tiếng Pháp anh không hiểu gì, nhưng nghe sao chép vậy, rất được cấp chỉ huy thưởng thức. Anh thường được cử theo các toán biệt kích của commando nhẩy vào vùng địch. Đặc biệt, anh đã nhiều lần nhẩy xuống Hòn Mê, ngoài khơi Thanh Hoá, Nghệ An để theo dõi hoạt động vận chuyển của Việt Minh trên vùng ven biển Liên Khu 4. Anh kể, có lần phải nằm cả tháng. Lắm lúc hết lương không tiếp tế được, cũng cực khổ lắm.
Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước và quân đội viễn chính Pháp phải rút khỏi Việt Nam. Các đơn vị thuộc Quân Đội Quốc Gia Việt Nam (QĐQGVN) còn đặt dưới quyền người Pháp được bàn giao cho các sĩ quan Việt Nam chỉ huy. Các đơn vị do quân đội Pháp thành lập hầu đáp ứng chiến trường Đông Dương được hoặc là chuyển sang Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, hoặc là giải tán; các quân nhân trực thuộc có thể giải ngũ ở lại, hay tiếp tục tại ngũ và đi theo đoàn quân viễn chính về Pháp. Đơn vị commando của Lê Hồng được chuyển về Tiểu Đoàn 3 Nhẩy Dù Việt Nam (3ème BPVN : Troisième Bataillon Parachutiste Vietnamien, sau chỉ gọi là TĐ3ND), lúc đó do Đại Úy Phan Trọng Trinh vừa tiếp nhận quyền chỉ huy từ người Pháp. Lê Hồng không muốn giải ngũ, cũng không thích đi theo quân viễn chinh Pháp. Anh ở lại TĐ3ND.
Quân đội QGVN không có "quân trợ chiến". Lê Hồng thì năm 1955 mới được 17 tuổi, chưa đủ tuổi đăng lính. Rời quê Hà Tĩnh, ra Hà Nội, rồi vào Nam, Lê Hồng không có ai là thân nhân ruột thịt, ngoại trừ gia đình vị đại úy cùng đơn vị khi xưa. Lê Hồng đã phải trải qua gần một năm là "chú lính" không số quân trong trung đội truyền tin thuộc Đại Đội 30, Đại Đội Chỉ Huy Yểm Trợ của TĐ3ND. Hồng được cái may mắn là vị đại đội trưởng rất thương anh và mến tài anh, nên mới được ở lại tiểu đoàn. Phải chờ đến năm 1956 anh mới trở thành binh nhì Lê Hồng, có số quân, thuộc quân số chính thức của tiểu đoàn và có lương tháng. Lúc đó, anh là người lính nhỏ tuổi nhất, cấp bậc thấp nhất tiểu đoàn, "đơ dèm cùi bắp".
Quyết chí vươn lên
Được sự khuyến khích của gia đình vị đại úy mà anh coi như cha mẹ nuôi và của ông đại đội trưởng, với ý chí cố gắng vươn lên, Lê Hồng đã mua sách vở để tự học ngoài những giờ canh gác, công tác, tạp dịch. Mục tiêu của anh vào lúc đó là phải thi đậu bằng trung học đệ nhất cấp. Thời giờ dành cho việc học của anh rất hạn chế vì công tác rất nhiều. Lúc hành quân, lúc ứng chiến, lúc trực gác... Thêm vào đó, sự ganh ghét của người hạ sĩ quan trung đội trưởng của anh cũng gây không ít khó khăn cho anh. Vì vậy, anh đã phải kiên trì 4 năm mới thi đậu, trước cuộc đảo chánh 11/11/1960. Sau đó, với sự giúp đỡ của đại đội trưởng, anh đã được gửi đi học khóa hạ sĩ quan tại Nha Trang. Ra trường với cấp bậc trung sĩ, anh trở về TĐ3ND và tiếp tục phục vụ trong ban truyền tin tiểu đoàn.
Không bằng lòng an phận với sự thành công vừa đạt được, Lê Hồng đã quyết chí tiếp tục tự học để thi tú tài. Vào thời điểm này chiến sự đã bắt đầu tái diễn sau một khoảng thời gian thái bình do Hiệp Định Genève quy định. Các thành phần cộng sản được cài lại Miền Nam đã hoạt động trở lại với những vụ ám sát, khủng bố. Một vài trận đánh quy mô đã xảy ra gây thiệt hại đáng kể cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH). Liên Đoàn Nhẩy Dù đã được điều động để tiếp viện trong nhiều trận chiến. Vì vậy, TĐ3ND luôn bị đặt trong tình trạng báo động, ứng chiến. Do đó, việc học hành của Lê Hồng cũng gặp nhiều khó khăn hơn trước đây nhiều. Có lắm khi, cả tháng trời không đụng đến sách vở. Nhưng khi về đến hậu cứ, là anh lại miệt mài đèn sách. Anh vẫn gặp một số khó khăn đến từ viên hạ sĩ quan trung đội trưởng truyền tin, không muốn anh học hành. Bất chấp, anh vẫn không nản lòng. Có công mài sắt, có ngày nên kim. Năm 1963, anh đã đậu Tú Tài I.
Theo quy chế QLVNCH, các hạ sĩ quan có một số năm thâm niên cấp bực và thâm niên quân vụ, nếu có bằng tú tài I, có thể nộp đơn theo học các khóa sĩ quan đặc biệt tại Nha Trang. Lê Hồng đã được may mắn gửi đi khóa sĩ quan đặc biệt này. Tốt nghiệp khóa học, với cấp bậc chuẩn úy, anh trở về phục vụ tại TĐ3ND với tư cách sĩ quan phụ tá Ban 3 (Hành quân & Quân huấn).
Chiến trận ngày càng ác liệt và TĐ3ND đã phải liên tục hành quân. Liên Đoàn Nhẩy Dù (LĐND) trong thời gian này cũng đã trở thành Lữ Đoàn Nhẩy Đoàn Nhẩy Dù rồi Sư Đoàn Nhẩy Dù (SĐND) với sự thành lập TĐ2ND và TĐ11ND. Với các công trận của tiểu đoàn vào năm 1966, Lê Hồng được vinh thăng trung uý. Và đó cũng là thời điểm chúng tôi gặp nhau.
Sát cánh bên nhau trên từng trận địa
Sau 4 ngày đóng quân tại Sịa, thời gian hơn 2 năm tôi phục vụ tại TĐ3ND là thời gian tiểu đoàn tham dự hơn 20 trận lớn nhỏ với những chiến tích lẫy lừng. Trận đầu tay của tôi là cuộc hành quân Lam Sơn 54 tại vùng Phi Quân Sự, bờ Nam sông Bến Hải. Đây là một trận lớn. Năm ngày đêm liên tục TĐ3ND đụng với 3 tiểu đoàn địch. Tôi đã hết sức vất vả để săn sóc thương binh với sự giúp sức đắc lực của Lê Hồng. Sự bình tĩnh của anh, của ông Tiểu Đoàn Trưởng và của anh em binh sĩ đã trấn an tôi, một ông bác sĩ mới ra trường, đáo nhận đơn vị chưa được một tuần. Sau trận đó đến Lam Sơn 63 ở Chợ Cạn, phía Nam Quảng Trị. Và rồi Đaktô, đồi 1416, Tết Mậu Thân ở Xóm Mới, Kho Đạn, An Phú Đông, Khe Sanh, Ashao, Thiện Ngôn, Bình Nhâm, An Sơn, Trảng Lớn, Bến Cát, Khu Tam Giác Sắt vv... Cờ tiểu đoàn trong thời gian tôi ở TĐ3ND đã được gắn thêm 3 anh dũng bội tinh với nhành dương liễu và quân nhân tiểu đoàn đã được vinh dự mang dây biểu chương mầu Tam Hợp. Phần lớn anh dũng bội tinh cá nhân của tôi, trong đó có 1 nhành dương liễu, đều được gắn tại TĐ3ND. Ngoại trừ huy chương Bronze Star with V device tôi được gắn cùng ngày với Lê Hồng, về cấp bậc, từ đại úy đến trung tá, Lê Hồng đều lên lon trước tôi 6 tháng.
Tôi rời TĐ3ND, tháng 9/1969, về Bệnh Viện Đỗ Vinh và rồi làm Đại Đội Trưởng Đại Đội I Quân Y, trong lúc Lê Hồng vẫn còn ở TĐ3ND. Tuy không còn cùng nhau lặn lội theo tiểu đoàn trên các chiến trường, nhưng chúng tôi và hai gia đình vẫn giữ liên lạc và thân tình. Chị Lê Hồng là mẹ đỡ đầu của con gái tôi sinh tháng 12 năm 1968 lúc Tiểu Đoàn đang hành quân tại vùng Bình Nhâm, An Sơn, Bến Cát. Năm 1970-71, trong lúc tôi đang du học tại Hoa Kỳ thì SĐND tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào. Theo lời kể của bác sĩ Đường Thiện Đồng, lúc đó là Y Sĩ Trưởng TĐ3ND, thì khi căn cứ bị tràn ngập, Lê Hồng đã gọi pháo binh bắn lên đầu mình. BS Đồng phải kéo người lính mang máy chạy xuống đồi làm đứt dây ống nói, Lê Hồng mới chịu rời vị trí chạy xuống. Nghe kể, tôi không ngạc nhiên vì Lê Hồng là con người như thế. Sống chết với đơn vị. Thà chết vinh hơn sống nhục.
Mùa Hè Đỏ Lửa, lúc tôi lên làm Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn Quân Y thì Lê Hồng cũng được cử làm Tiểu Đoàn Trưởng TĐ1ND. Sư Đoàn đã có mặt trên cả 3 chiến trường ác liệt nhất là Kon Tum, An Lộc và Quảng Trị. Mỗi lần tiếp nhận thương binh TĐ1ND, tôi đều hỏi tin tức về Lê Hồng. Tại chiến trường Quảng Trị, tiểu đoàn của Lê Hồng đã có 2 chiến tích đáng ghi nhớ là tái chiếm quận lỵ Mai Lĩnh. Hình ảnh người lính TĐ1ND phất lá cờ vàng ba sọc đỏ trên nóc quận đường đã khiến cho bài hát "Cờ Bay, Cờ Bay..." mang nhiều ý nghĩa hào hùng và xúc động. Chiến công thứ nhì là Tiểu Đoàn của Lê Hồng đã chiếm gọn một trận địa pháo phòng không gồm hơn 100 khẩu cao xạ hạng nặng trong vùng rừng núi phía nam tỉnh lỵ Quảng Trị. Chiến công này không những khiến không quân ta vui mừng mà cả SĐND đều phấn khởi. Nó tránh cho bên ta những tổn thất nặng nề, đồng thời gây thiệt hại mang tầm chiến lược cho quân địch.
Trận chiến tái chiếm Cổ Thành tạm ổn thì Việt Cộng huy động đại lực lượng mở mũi tiến công vào Đà Nẵng. Chúng đã chiếm quận Thượng Đức. Tháng 8/1974, Sư Đoàn được điều động tức tốc rời căn cứ Hiệp Khánh ở cây số 17, Thừa Thiên - Huế về căn cứ Non Nước ở Đà Nẵng. Nhiều tiểu đoàn nhẩy dù đã mở các đợt tấn công chiếm cứ cao điểm 1062. Thiệt hại đôi bên rất nặng. Nhưng SĐND đã bẻ gẫy được mũi tấn công của Việt Cộng vào Đà Nẵng. Trong trận này, Lê Hồng đã được vinh thăng Trung Tá và được cử làm Lữ Đoàn Phó Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù.Tình hình chiến sự và chính trị lúc đó diễn biến phức tạp. SĐND được lệnh rút bằng đường thủy về bảo vệ thủ đô. Tới ngang Nha Trang, để tiếp ứng cho cuộc "rút quân chiến lược" từ Vùng II Chiến Thuật, LĐ3ND đã được lệnh đổ bộ lên Nha trang và thiết lập nút chặn tại đèo M'Rac, phía Tây Nha Trang. Sau đó, LĐ2ND lại bị điều ra Phan Rang để án ngữ. Các đơn vị Nhẩy Dù đã chịu tổn thất nặng nề trong các quyết định này. Tại Vùng Thủ Đô chỉ còn LĐ4ND tân lập án ngữ và phòng thủ. LĐ1ND đang hành quân ở Long Khánh cũng được lệnh rút về Gò Công.
Những lời từ biệt.
10 giờ sáng ngày 29/04/1975, lúc tôi đang ở trong Trung Tâm Hành Quân SĐND, sau khi toàn thể Bộ Chỉ Huy SĐND đã biến dạng, tôi vào tần số LĐ1ND và đã trực tiếp với Lê Hồng. Hồng ngỏ ý muốn kéo quân về. Tôi thấy là vô ích vì BCH/SĐND đâu còn ai. Tôi nói lời giã biệt với Lê Hồng. Tôi cho Hồng biết là mấy ngày trước tôi đã thề trước cờ và trước hàng quân là sẽ ở lại với đơn vị cho đến giờ phút cuối. Đơn vị của Lê Hồng đang ở xung quanh anh. Anh có nhiệm vụ ở với họ và chỉ huy họ đến giờ phút cuối. Tôi mong anh có ngày dẫn quân về trả thù cho chúng tôi, nếu chúng tôi sa vào tay giặc hay bị giặc bắt giết. Những tiếng nói nghẹn ngào nuốt lệ chưa dứt thì từng tràng pháo địch rơi vào khuôn viên Trại Hoàng Hoa Thám. Tôi dặn với:
- Bye Bye Hồng Vân. Đi đi.
Và tôi cúp máy.
---- oOo ----
Sau 3 năm tù cải tạo, tôi được thả và người đầu tiên tôi tới thăm là gia đình Lê Hồng. Tôi đã gặp chị Hồng và các cháu. Chị sống cùng với bà cụ thân sinh. Tôi hỏi thăm thì chị cho biết cũng không có thư từ gì của anh. Lúc đó là vào năm 1978, CSVN đang tiến hành trả thù những người thuộc chế độ cũ với chính sách cưỡng bách đầy ải gia đình "ngụy quân, ngụy quyền" đi các vùng Kinh Tế Mới. Cũng trong thời điểm này, chúng tiến hành đợt "đánh tư sản mại bản". Có thể nói thời điểm này là thời điểm đen tối nhất của nhân dân Miền Nam nói chung và gia đình quân cán chính VNCH nói riêng.
Mọi người đều ở trong tình trạng nghèo khó, không ai giúp ai được. Thấy chị Hồng một nách 6 đứa con, làm giáo viên dậy học, tháng được dăm sáu chục đồng mà rớt nước mắt. Ngẫm lại tình cảnh nhà mình cũng không khá gì hơn. Có cái là mình đã được về đoàn tụ với vợ con. Còn chị Hồng thì vẫn tiếp tục, một mình xoay trở... Tình trạng thảm thương, nhưng chị Hồng vẫn luôn tin tưởng vào một ngày mai sáng lạn. Phải chăng niềm tin này xuất phát từ Đức Tin Công Giáo của chị ? Anh chị Lê Hồng là những kitô hữu rất thuần thành giữ đạo. Chị hy vọng một ngày sẽ được anh Hồng bảo lãnh sang Hoa Kỳ. Tôi thầm nghĩ, như vậy, có khi chị còn hên hơn mình vì anh Hồng đang ở Mỹ, nên cơ hội rời khỏi địa ngục cộng sản này có nhiều hơn tôi. Tôi không có ai thân thuộc ở nước ngoài. Chắc phải tự vượt biên rồi mới bảo lãnh được vợ con...
Và kế hoạch vượt biên của tôi đã được thực hiện vào đúng ngày 30/04/1980. Ghe bị 3 lần cướp, nên khi đến Thái Lan, chỉ còn nhớ địa chỉ nhà mình. Vào trại Songkhla, tôi gặp được nhiều bạn bè, một số gốc nhẩy dù như tôi. Bỗng một hôm tôi nhận được thư của Lê Hồng. Mừng quá. Hồng muốn tôi gửi hồ sơ cá nhân để làm thủ tục bảo lãnh sang Mỹ. Tôi viết thư dài trả lời, thông báo tin tức gia đình cho Hồng và tỏ ý muốn đi Pháp, tiện lợi hơn. Tuy thời gian ở trại chỉ hơn 2 tháng, tôi và Lê Hồng đã trao đổi bốn năm lá thư. Tình chiến hữu vẫn khắng khít như hôm nào. Những chuyện tâm huyết về đất nước, không thư nào là không có đề cập.
Tới Pháp vào giữa tháng 7/1980, một mặt lo giấy tờ định cư, một mặt tìm cách gửi tiếp tế về cho gia đình: nhưng tối nào cũng lấy thư Lê Hồng ra đọc rồi trả lời. Lê Hồng đề cập đến lý tưởng phải "Giải Phóng Việt Nam" khỏi gông cùm cộng sản. Tôi cũng đồng ý và vẫn nuôi lý tưởng đó. Trong một thư sau, Hồng đề cập đến Lực Lượng Quân Dân Hải Ngoại và mời tham gia. Tôi nhận lời và đã điền đơn gửi cho Lê Hồng. Thế là Lê Hồng trước năm 1975 đã là chiến hữu của tôi trong SĐND thì nay tôi lại tiếp tục là chiến hữu của Lê Hồng trong Lực Lượng Quân Dân và Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam (MTQGTNGPVN).
Lê Hồng thường xuyên gửi cho tôi tài liệu và báo Cờ Vàng. Tôi cảm thấy ngày càng lạc quan và tin tưởng vào công cuộc đấu tranh mới: "Đấu tranh giải phóng" khác hẳn với chiến tranh quy ước hay chiến tranh du kích. Tôi hoàn toàn đồng ý với lối đánh mới: "Đấu Tranh Vận Dụng". Thực chất, theo nhận xét và kinh nghiệm chiến đấu của cá nhân tôi, mọi hình thức chiến tranh cổ điển đều không hữu hiệu đối với cộng sản. Nhưng ở vào thời điểm năm 1980 là lúc mà CSVN và cộng sản quốc tế đang ở thế mạnh tột đỉnh, những hình thức đấu tranh vận dụng không mang tính thuyết phục đối với cả người Việt Nam lẫn người ngoại quốc. Vì thế nên tôi rất đồng ý với quan niệm chiến lược thứ ba của Mặt Trận là "Kết hợp đấu tranh vận dụng và đấu tranh võ trang, mà đấu tranh vận dụng là chính".
Chính để thực hiện quan niệm chiến lược này, Mặt Trận đã quyết định về vùng biên giới Thái-Lào để thiết lập Khu Chiến để huấn luyện các Kháng Chiến Quân (KCQ) cho một trận thế mới. Lê Hồng đã tháp tùng Chiến hữu Chủ Tịch Hoàng Cơ Minh và một số chiến hữu tiên phong trở về thành lập khu chiến. Hay tin này, tôi thèm được như Lê Hồng để cùng anh tiếp tục trong cuộc chiến mới đầy chính nghĩa này. Hình ảnh buổi Lễ Công Bố Cương Lĩnh MTQGTNGPVN đã được đưa ra hải ngoại. Tôi và các chiến hữu trong cơ sở tại Paris đã say sưa theo dõi. Tôi đã nghe lại được giọng nói đanh thép, thân quen của Lê Hồng, tức Chiến Hữu Đặng Quốc Hiền, Tư Lệnh Lực Lượng Võ Trang Kháng Chiến: "Chúng ta không được đòi hỏi phải có cái này, phải có cái kia. Có thì quý, không có thì thôi. Điều phải duy nhất là phải giải phóng Việt Nam".
Sau Lễ Công Bố Cương Lĩnh, thỉnh thoảng Lê Hồng có viết thư thăm tôi và chia sẻ tâm sự của kẻ trong khu chiến, người ngoài bốn phương. Tôi biết Lê hồng đang nỗ lực hết mình để xây dựng đoàn Kháng Chiến Quân. Tôi không thể thờ ơ được. Vì thế tôi cũng ngày đêm lặn lội trên khắp Âu Châu để đi phát triển đoàn viên, xây dựng cơ sở, vận động đồng bào yểm trợ Kháng Chiến, đồng thời đi thuyết trình với chính giới, các trường đại học, các tổ chức chống cộng về chế độ bạo quyền phi nhân của cộng sản tại Việt Nam cũng như những nỗ lực của nhân dân Việt Nam nhằm giải phóng đất nước khỏi gông cùm cộng sản.
Đại Hội Chính Nghĩa năm 1983, tôi đã về dự tại Washington DC với hy vọng được gặp Lê hồng. Nhưng Lê Hồng không ra. Chiến Hữu Chủ Tịch cho biết Chiến Hữu Đặng Quốc Hiền phải ở lại phòng thủ chiến khu. Tôi hơi buồn, nhưng hiểu được nhiệm vụ là cái gì quan trọng nhất đời đối với Lê Hồng. Tinh thần kỷ luật và ý thức trách nhiệm của Lê Hồng đáng là tấm gương sáng cho tôi và nhiều anh chị em chiến hữu chúng tôi noi theo.
30/04/1984, Mặt Trận quyết định đưa Lê Hồng ra công tác Hải Ngoại. Những tưởng anh sẽ có thể đi một vòng tại Âu Châu. Nhưng rốt cuộc thì cũng không được. Tôi được Mặt Trận yêu cầu mời một vị tướng lãnh Pháp sang dự buổi lễ được tổ chức tại California. Tôi đã tìm được thiếu tướng Meyer, vị tướng sáng lập binh chủng "commando nhẩy dù" của Pháp sau Đệ Nhị Thế Chiến. Ông có tham chiến tại Đông Dương và có biết đến đơn vị commando của Lê Hồng khi xưa. Nghe nói đến một người lính cũ của ông, nay là tướng Tư Lệnh Lực Lượng Võ Trang Kháng Chiến, ông vui vẻ nhận lời. Và ông đã có mặt, trao đổi với Lê Hồng những vấn đề về chiến tranh du kích, về chiến tranh commando. Lúc trở về Pháp, gặp tôi, ông rất hãnh diện gặp được một "vị anh hùng" Việt Nam (theo lời ông nói). Nhân dịp này Lê Hồng đã được phép về thăm gia đình mới được bốc sang Hoa Kỳ. Trước khi trở về khu chiến, anh đã gọi điện thoại cho tôi. Trong suốt 30 phút chuyện trò, tâm sự, anh cho tôi biết, được nghe báo cáo những công tác chúng tôi đã tiến hành tại Âu Châu. Tôi cho anh biết là chúng tôi mới phát động chiến dịch "một kí gạo nuôi kháng chiến quân" nhằm vận động đồng bào quyên góp mỗi người ít là 1 kí gạo để tiếp vận kháng chiến. Lê Hồng rất mừng và cho biết, anh em KCQ rất cần tiếp vận từ hải ngoại: nhưng anh em cũng khắc phục tăng gia để đỡ gánh nặng cho hải ngoại.
Theo dõi tin tức của cộng sản và FBIS của Mỹ viết về trận Hạ Lào tháng 8/1987, tôi và anh chị em nghĩ nhiều đến âm mưu tuyên truyền của địch. Về phần tôi, thì tôi tin chắc là Việt Cộng tuyên truyền vì trong trận chiến này, chúng kể tên nhiều chiến hữu, duy chỉ có tên Lê Hồng là không có. Không thể có chuyện vị Tư Lệnh lại không ở bên cạnh ông Chủ Tịch. Với tư cách là người lãnh đạo Mặt Trận tại Âu Châu và Ủy Viên Trung Ương Đảng Việt Tân, tôi được biết là Tổ Chức đã có quyết định chỉ công bố những tổn thất khi đất nước được hoàn toàn giải phóng. Muốn thay đổi quyết định này, cần phải có đại đa số Trung Ương Đảng biểu quyết.
Trong suốt thời gian từ 1987 đến năm1999, Việt Tân đã nỗ lực thu thập tin tức và những dữ kiện về các tổn thất trong trận Hạ Lào. Năm 1989, tôi đã trở về Khu Chiến trong một chương trình huấn luyện Quân Y và đã có dịp gặp mặt và thảo luận với Chiến Hữu Ngô Chí Dũng. Chính Chiến Hữu Ngô Chí Dũng cũng không tin vào những nguồn tin của Việt Cộng.
Tháng 8/2001, sau khi có đầy đủ bằng chứng và có Quyết Định mới của Trung Ương Đảng, Tổ Chức đã chính thức công bố các tổn thất của Việt Tân. Riêng trường hợp Lê Hồng, anh đã mất vì bạo bệnh ngày 1/5/1985. Theo lời kể lại của các KCQ ở gần cận anh thì vào lúc đó, Chiến Hữu Chủ Tịch phải đi công tác ở hải ngoại. Chiến hữu Đặng Quốc Hiền bị sốt rét ác tính. Anh từ chối đi bệnh viện để có mặt chỉ huy phòng thủ khu chiến. Đến khi bệnh tình trở nặng, anh bắt đầu bị hôn mê, anh em cán bộ quyết định đưa anh ra bệnh viện Thái Lan. Nhưng anh đã qua đời và ngày 1/5/1985. Anh được hỏa thiêu và tro cốt đã do chiến hữu Nguyễn Kim, Chủ Tịch Đảng và tôi trao lại tận tay cho chị Lê Hồng.
Nhớ về người chiến hữu
Lê Hồng không ngã gục trên trận địa vì đạn thù. Nhưng anh cũng không phải là người đã chết trên giường bệnh gần vợ, gần con. Anh chết trong lúc thi hành nhiệm vụ. Anh chết cho sự nghiệp giải phóng Tổ Quốc. Anh chết trong vùng chiến khu. Nhớ lại bài thơ "Chết" của vị Anh Hùng Dân Tộc Phan Bội Châu, anh quả thực đã chết cho quê hương xứ sở. Cái chết của anh đáng lưu danh sử sách...
Ngày hôm nay, hồi tưởng những kỷ niệm xưa để viết về anh, tôi không sao quên được vóc dáng thư sinh, nụ cười tươi trẻ, ánh mắt cương nghị... Tôi có cảm tưởng anh đang ngồi bên tôi để nhắc tôi những chi tiết mà thời gian đã bôi nhòa trong trí nhớ. Hồng Vân ơi, không bút nào viết hết những cảm tình sâu đậm giữa anh và tôi, người chiến hữu của tôi trước và sau 1975.
Posted by NGUYỆT-SAN VIỆT-NAM at 19:44