Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Wednesday, April 3, 2019
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3166571186690019&set=a.862986513715176&type=3&eid=ARDFR8q1VM_Cn_wZkTsZ3pXAwDTkapbiMmzo7Qz7oKKfHxEZLM8bmUVF0h6PhuADuXSyYuda-FrnDNRr
Tuesday, April 2, 2019
Nha kỹ thuật tại mặt trân Ban mê Thuột tháng 3/75 .
TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG
23/06/201700:00:00(Xem: 6524)
Nguyễn Anh Nguyên
23/06/201700:00:00(Xem: 6524)
Nguyễn Anh Nguyên
Tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ. Ông là con của một sĩ quan Võ Bị Đà Lạt, ra đời trong mùa hè đỏ lửa. Bài viết mới của ông có lời ghi “Xin cám ơn Ba vì câu chuyện đã kể, là nội dung chính cho bài viết này!”
* * *
. . .
Thuộc thế hệ 7X sinh ra được vài năm thì nước mất nhà tan, cha bị đi “học tập cải tạo” mất mấy năm trời, mẹ phải bươn chải làm đủ việc để kiếm miếng ăn cho các con nên tuổi thơ của anh em tôi gắn liền với sự cơ cực của cả miền Nam ở thời kỳ đó. Cơm độn khoai lang, khoai mì, bo bo cứng ngắc và bánh bao nhân su su là các món ăn thường trực trong những bữa ăn của gia đình. Những ngày các Dì được lãnh tiêu chuẩn bột mì và bơ ký (thùng bơ to cả kg) ở Lâm trường là cả nhà hào hứng thưởng thức bánh bột mì chiên và bơ. Nhớ những lúc thèm quá, anh em tôi vẫn lén xuống bếp múc vài muỗng bơ ăn không cho đã miệng. Những câu chuyện mẹ kể cho anh em tôi về cuộc sống hạnh phúc trước đây, về cuộc đời binh nghiệp của cha ông và hành trình di tản kinh hoàng của ba mẹ và tôi trong cuộc “triệt thoái cao nguyên” vào tháng 03 năm 1975 vẫn in đậm trong ký ức trẻ thơ của tôi khó có thể phai mờ…
BA TÔI LÀ một sỹ quan Võ Bị Đà Lạt thuộc binh chủng nhảy dù (biệt danh Anh cả đỏ) của quân đội VNCH. Đầu năm 1975, đơn vị biệt kích dù (Lôi hổ) của ba thuộc Nha Kỹ Thuật đang đóng quân gần sân bay Buôn Ma Thuột chuyên thực hiện các nhiệm vụ nhảy toán vào hậu tuyến của địch để thu thập các tin tức tình báo và phản tình báo quan trọng. Các toán biệt kích dù thường được trực thăng UH-1H hoặc máy bay MC-130 Blackbird chuyên thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt có râu móc trước mũi (Fulton Skyhook Extraction System), cất cánh hành quân bí mật, thả toán vào địa điểm xác định và bốc toán sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Mục tiêu và hoạt động của các toán biệt kích này có phần nào đó giống với các điệp vụ đầy táo bạo mà điệp viên James Bond 007 thường thực hiện trên màn ảnh rộng. Khác nhau là ở chỗ các chiến dịch của ba và các chiến hữu không diễn ra trên phim trường hay ngoại cảnh ở các địa danh nổi tiếng mà xảy ra trên các chiến trường khốc liệt nhất trong cuộc chiến tranh Việt Nam (1955-1975).
. . .
Thuộc thế hệ 7X sinh ra được vài năm thì nước mất nhà tan, cha bị đi “học tập cải tạo” mất mấy năm trời, mẹ phải bươn chải làm đủ việc để kiếm miếng ăn cho các con nên tuổi thơ của anh em tôi gắn liền với sự cơ cực của cả miền Nam ở thời kỳ đó. Cơm độn khoai lang, khoai mì, bo bo cứng ngắc và bánh bao nhân su su là các món ăn thường trực trong những bữa ăn của gia đình. Những ngày các Dì được lãnh tiêu chuẩn bột mì và bơ ký (thùng bơ to cả kg) ở Lâm trường là cả nhà hào hứng thưởng thức bánh bột mì chiên và bơ. Nhớ những lúc thèm quá, anh em tôi vẫn lén xuống bếp múc vài muỗng bơ ăn không cho đã miệng. Những câu chuyện mẹ kể cho anh em tôi về cuộc sống hạnh phúc trước đây, về cuộc đời binh nghiệp của cha ông và hành trình di tản kinh hoàng của ba mẹ và tôi trong cuộc “triệt thoái cao nguyên” vào tháng 03 năm 1975 vẫn in đậm trong ký ức trẻ thơ của tôi khó có thể phai mờ…
BA TÔI LÀ một sỹ quan Võ Bị Đà Lạt thuộc binh chủng nhảy dù (biệt danh Anh cả đỏ) của quân đội VNCH. Đầu năm 1975, đơn vị biệt kích dù (Lôi hổ) của ba thuộc Nha Kỹ Thuật đang đóng quân gần sân bay Buôn Ma Thuột chuyên thực hiện các nhiệm vụ nhảy toán vào hậu tuyến của địch để thu thập các tin tức tình báo và phản tình báo quan trọng. Các toán biệt kích dù thường được trực thăng UH-1H hoặc máy bay MC-130 Blackbird chuyên thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt có râu móc trước mũi (Fulton Skyhook Extraction System), cất cánh hành quân bí mật, thả toán vào địa điểm xác định và bốc toán sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Mục tiêu và hoạt động của các toán biệt kích này có phần nào đó giống với các điệp vụ đầy táo bạo mà điệp viên James Bond 007 thường thực hiện trên màn ảnh rộng. Khác nhau là ở chỗ các chiến dịch của ba và các chiến hữu không diễn ra trên phim trường hay ngoại cảnh ở các địa danh nổi tiếng mà xảy ra trên các chiến trường khốc liệt nhất trong cuộc chiến tranh Việt Nam (1955-1975).
Mùa Xuân năm 1975, mẹ đưa tôi lên Buôn Ma Thuột thăm và ở lại chơi với ba một thời gian và để em gái tôi ở lại Đà Lạt với ông bà Ngoại (Ông cũng là một sỹ quan cấp tá trong quân lực VNCH). Đây là một quyết định khá mạo hiểm và nhiều rủi ro trong tình hình chiến sự đang diễn biến ngày càng phức tạp. Dù ông bà Ngoại đã hết sức can ngăn nhưng có lẽ tình yêu thương, mong muốn được chia sẻ khó khăn và động viên tinh thần ba đã khiến mẹ tôi bất chấp nguy hiểm để đến cùng ba.
NGÀY 09-03-1975, tin tình báo cho biết là Buôn Ma Thuột có thể bị đánh vào ban đêm, nên chỉ huy trưởng ra lệnh cấm trại 100% quân số.Lúc chạng vạng tối còn có lệnh mỗi người đều phải buộc một khăn trắng vào bắp tay để nhận dạng nhau khi chiến sự nổ ra. Khoảng 07 giờ tối sau khi ăn chiều xong tất cả các đơn vị chiến đấu đều ra giao thông hào để trực chiến.Bộ chỉ huy thì chuyển xuống hệ thống phòng thủ chìm dưới mặt đất (gọi tắt là TOC) có đầy đủ các sỹ quan của bốn ban chiến đấu và nhóm truyền tin. Doanh trại của chiến đoàn biệt kích dù và doanh trại bên không quân nằm sát nhau nên có một mặt chung không phải phòng thủ, mỗi bên chỉ canh phòng ba mặt còn lại. Tựa lưng vào doanh trại phe ta cũng yên tâm hơn phần nào trong trường hợp bị bao vây tứ bề thọ địch.
Khoảng 02 giờ sáng ngày 10-03-1975, tiếng súng đồng loạt nổ bên phi trường L-19 (một loại máy bay quan sát, còn có tên gọi vui là Đầm Già) nhưng đa số là tiếng súng AK và tiếng bộc phá của quân Bắc Việt, còn tiếng súng chống trả của phe ta vang lên khá yếu ớt. Khoảng 10 phút sau lại có những tràng trung liên nồi của VC ở phía TOC và một hồi còi báo động từ trung tâm chỉ huy hành quân vang lên.Như vậy là ba mặt phòng thủ chính bên doanh trại Lôi hổ không bị tấn công mà VC đã đột nhập lặng lẽ vào phi trường L19, kéo trung liên đặt đối diện cửa lên của TOC và nổ súng tấn công. Tại đó sau khi địch rút quân vào sáng hôm sau, anh em thấy xác trung úy trưởng ban 3, trung uý trưởng ban 4 tử nạn gần chiếc xe Jeep. Có lẽ loạt súng trung liên đầu tiên đó đã tước đi sinh mạng của hai sỹ quan chỉ huy khi lên lấy xe đi kiểm tra phòng tuyến.
Quân VC tràn vào, len lỏi khắp nơi nổ súng và đánh bộc phá khắp bên trong doanh trại nhưng chúng lại không đánh ra ba mặt giao thông hào phòng thủ chính của bên biệt kích dù. Điện đóm thì bị đứt hết, đêm tối đen như mực.Cũng nhờ miếng vải trắng đeo trên bắp tay lúc chiều nên có thể phân biệt được quân ta hay quân địch ở khoảng cách phù hợp để nổ súng tiêu diệt.Súng đạn nổ lung tung khắp nơi vì quân VC có lẽ cũng không biết đánh vào đâu cho đúng chỗ. Lúc đó một nửa quân số bên biệt kích phòng thủ ngoài giao thông hào được lệnh chia thành những toán nhỏ tiến ngược vào bên trong doanh trại không quân tiếp viện cho đơn vị bạn chiến đấu, còn nửa kia vẫn nằm phòng thủ ở ba mặt của doanh trại biệt kích đề phòng địch đánh bọc hậu.Nhờ sự hỗ trợ của lực lượng biệt kích dù thiện chiến, quân VC đã bị chặn đứng và đánh dạt dần về lại bên phi trường L19. Đến sáng thì ta chiếm lại và kiểm soát toàn bộ khu vực các doanh trại và sở chỉ huy.Lực lượng lôi hổ chỉ tổn thất 06 người (gồm hai sỹ quan kể trên), bên không quân thì mất quân nhiều hơn vài lần. Tang thương nhất là cả gia đình trung sĩ T. gồm vợ, các em gái và hai con tổng cộng 05 người núp dưới hầm trú ẩn bị VC liệng bộc phá xuống chết hết cả.
Khi súng đã im và chiến sự tạm lắng xuống, ba tôi mới có thời gian nghĩ đến vợ con đang ở sát bên bệnh xá cách TOC khoảng 100m, nằm trong vùng giao tranh tối hôm qua, nên vội trở về xem tình hình thế nào. Phòng ba mẹ tôi gồm có một phòng ngủ với chiếc giường đôi và một phòng khách có cửa sổ thông ra ngoài đường. Lúc chiều trước khi ra giao thông hào trực chiến, ba tôi đã xếp một cái giường sắt chồng lên cái giường mà mẹ và tôi nằm và dặn hai mẹ con chui xuống núp dưới gầm giường nếu nghe tiếng súng nổ. Về đến cửa nhà, ba tôi thấy có một tên VC chết nằm vắt ngang cửa sổ phòng khách. Theo lời kể của anh trung sĩ quân y ở phòng đối diện,khi nhìn thấy lúc tên VC cạy được cửa sổ định chồm ném bộc phá vào phòng ngủ thì anh nổ súng bắn chết, vì thế trái bộc phá rớt xuống và nổ ngay bên ngoài cửa sổ luôn.Nếu trái bộc phá được ném xuống sàn phòng ngủ, nơi mẹ và tôi đang núp dưới gầm giường thì chết là cái chắc. Nhìn lên trần nhà thì thấy mái tôn phòng khách đã bị bộc phá thổi tung nhưng phòng ngủ vẫn còn nguyên vẹn, chỉ có một ít gạch đá văng trên chiếc giường sắt chồng bên trên mà thôi. Cám ơn Trời Phật, Ông Bà phù hộ cho mẹ con tôi sống sót trong trận chiến cuối cùng của ba. Cám ơn anh trung sĩ quân y đã nổ súng chính xác và kịp thời tiêu diệt tử thần bên ngoài cửa sổ. Không biết giờ anh (chú) đang ở đâu, còn sống hay đã mất để được gửi đến anh (chú) lời cảm ơn chân thành nhất.
Khoảng gần 10 giờ sáng, cấp chỉ huy thông báo Buôn Ma Thuột đã bị chiếm gần hết. Tình hình rất khó được cứu vãn khi không có quân tiếp viện, nhiều lực lượng tại Buôn Mê Thuột đã được lệnh triệt thoái theo đường số 07 về Nha Trang, Khánh Hòa. Chỉ huy Chiến đoàn gọi về gọi về Bộ chỉ huy xin lệnh về rút quân về Tổng Nha Kỹ Thuật ở Sài Gòn thì được lệnh phải cố thủ.Lúc đó số lượng phụ nữ và trẻ con trong doanh trại còn nhiều gấp mấy lần số sỹ quan, hạ sỹ quan và binh lính.Trước tình hình nguy cấp lúc đó,Thiếu tá Chiến đoàn phó giao nhiệm vụ cho ba tôi (lúc đó đang mang lon trung úy), thiếu uý B, một hạ sỹ quan quân y và hai binh sĩ dưới quyền đưa toàn bộ phụ nữ, trẻ con , vợ con các sỹ quan trong khu gia binh còn đang trực chiến mở đường băng qua chợ cây số 4 vào đồn điền SHPI của Pháp xin lánh nạn một thời gian.
Cả nhóm hơn cả trăm người (có khoảng 30 phụ nữ và hơn 60 trẻ em) bắt đầu đi lúc gần 03 giờ chiều. Đồn điền Tây cách doanh trại ba tôi đóng quân hơn 01km. Từ doanh trại đến đồn điền phải băng ngang qua chợ cây số 4 và một cái chùa, hầu hết là trảng trống, ba tôi và nhóm theo hộ tống vẫn mặc quân phục có mang vũ khí nhưng quân số quá ít nên phải len lỏi giữa đám phụ nữ và trẻ con, tay bồng thêm một trẻ em để ngụy trang. Có lẽ VC cũng thấy đoàn người, vì lúc đó họ đã kéo pháo phòng không tới sát đồn điền Tây, nhưng thấy toàn đàn bà con nít không nên họ không nổ súng. Nếu không nhanh trí bố trí quân len lỏi giữa đám đông thì chưa biết có đến được đồn điền hay không. Ở đồn điền, ba tôi và thiếu úy B liên lạc với chủ nhà xin sắp xếp chỗ ở và xin lương thực và thức ăn nấu cho mọi người ăn rồi nghỉ qua đêm.Sáng hôm sau những người có gia đình hay bà con ngoài Buôn Ma Thuột đều rời đồn điền về nhà hoặc tạm lánh về nhà bà con.
Sau hai ngày lánh nạn tại đồn điền SHPI, biết Buôn Ma Thuột đã bị chiếm và thấy tình hình không có gì khả quan cũng như không liên lạc được Bộ Chỉ huy ở doanh trại nên mạnh gia đình nào gia đình nấy tìm đường di tản. Câu chuyện di tản của thiếu úy B và gia đình ly kỳ mạo hiểm nhất trong số sỹ quan, hạ sỹ quan và các gia đình đã lánh nạn ở đồn điền SHPI.
Lúc ở đồn điền này, thiếu úy B tìm được một xe chiếc Jeep của cảnh sát,chú đã lên kế hoạch lấy cây lá che phủ ngụy trang bên ngoài xe, giả làm xe của bộ đội, tìm cách nhập vào đoàn công-voa của họ chạy về phía Nam. Trước khi đi thiếu úy B có rủ ba mẹ tôi và vợ một thiếu tá cảnh sát có hai con nhỏ cùng đi nhưng thấy kế hoạch đó nguy hiểm quá, hơn nữa xe Jeep cũng không đủ chỗ cho cả ba gia đình nên không ai đi theo. Trong suốt hành trình, xe Jeep của chú bị chận lại mấy lần, vợ con chú phải nằm sát sàn xe để trốn không bị phát hiện vì bộ đội không ai lại hành quân mà mang theo vợ con.Đi mấy ngày đêm thì đoàn xe tới Phước An, đầu đèo Phượng Hoàng (DakLak) thì đoàn xe VC phải tản ra vì gặp phải sự kháng cự của quân VNCH đang giữ đèo. Nhân cơ hội, chú B tìm cách tách đoàn, bỏ xe và tìm đường sang phòng tuyến quân ta. Lúc đó ở đầu con đèo này có một lữ đoàn lính Dù đang cố thủ nên gia đình thiếu úy B may mắn tìm đến được và ở lại với họ. Sau đó gia đình thiếu úy B theo đơn vị này băng rừng về tới Nha Trang (lúc đó chưa bị chiếm), được tàu Hải Quân chở hết về Sài Gòn và cả gia đình kịp thời di tản qua Mỹ trước ngày 30 tháng 04.Sự dũng cảm, quyết đoán và nhanh trí của chú B đã giúp gia đình chú thoát khỏi cảnh gia đình ly tán, tù đày và phải sống cuộc sống điêu tàn sau khi chiến tranh kết thúc. Nguyên tắc “High Risk, High Return” (Tạm dịch: có gan làm giàu) có từ thời La Mã vẫn luôn đúng trong mọi hoàn cảnh, kể cả lúc tưởng như ngàn cân treo sợi tóc và không còn gì để mất, kể cả mạng sống của mình và gia đình. Tuy nhiên rất nhiều gia đình đã không có được cơ hội và sự may mắn như vậy.
Khoảng gần 10 giờ sáng, cấp chỉ huy thông báo Buôn Ma Thuột đã bị chiếm gần hết. Tình hình rất khó được cứu vãn khi không có quân tiếp viện, nhiều lực lượng tại Buôn Mê Thuột đã được lệnh triệt thoái theo đường số 07 về Nha Trang, Khánh Hòa. Chỉ huy Chiến đoàn gọi về gọi về Bộ chỉ huy xin lệnh về rút quân về Tổng Nha Kỹ Thuật ở Sài Gòn thì được lệnh phải cố thủ.Lúc đó số lượng phụ nữ và trẻ con trong doanh trại còn nhiều gấp mấy lần số sỹ quan, hạ sỹ quan và binh lính.Trước tình hình nguy cấp lúc đó,Thiếu tá Chiến đoàn phó giao nhiệm vụ cho ba tôi (lúc đó đang mang lon trung úy), thiếu uý B, một hạ sỹ quan quân y và hai binh sĩ dưới quyền đưa toàn bộ phụ nữ, trẻ con , vợ con các sỹ quan trong khu gia binh còn đang trực chiến mở đường băng qua chợ cây số 4 vào đồn điền SHPI của Pháp xin lánh nạn một thời gian.
Cả nhóm hơn cả trăm người (có khoảng 30 phụ nữ và hơn 60 trẻ em) bắt đầu đi lúc gần 03 giờ chiều. Đồn điền Tây cách doanh trại ba tôi đóng quân hơn 01km. Từ doanh trại đến đồn điền phải băng ngang qua chợ cây số 4 và một cái chùa, hầu hết là trảng trống, ba tôi và nhóm theo hộ tống vẫn mặc quân phục có mang vũ khí nhưng quân số quá ít nên phải len lỏi giữa đám phụ nữ và trẻ con, tay bồng thêm một trẻ em để ngụy trang. Có lẽ VC cũng thấy đoàn người, vì lúc đó họ đã kéo pháo phòng không tới sát đồn điền Tây, nhưng thấy toàn đàn bà con nít không nên họ không nổ súng. Nếu không nhanh trí bố trí quân len lỏi giữa đám đông thì chưa biết có đến được đồn điền hay không. Ở đồn điền, ba tôi và thiếu úy B liên lạc với chủ nhà xin sắp xếp chỗ ở và xin lương thực và thức ăn nấu cho mọi người ăn rồi nghỉ qua đêm.Sáng hôm sau những người có gia đình hay bà con ngoài Buôn Ma Thuột đều rời đồn điền về nhà hoặc tạm lánh về nhà bà con.
Sau hai ngày lánh nạn tại đồn điền SHPI, biết Buôn Ma Thuột đã bị chiếm và thấy tình hình không có gì khả quan cũng như không liên lạc được Bộ Chỉ huy ở doanh trại nên mạnh gia đình nào gia đình nấy tìm đường di tản. Câu chuyện di tản của thiếu úy B và gia đình ly kỳ mạo hiểm nhất trong số sỹ quan, hạ sỹ quan và các gia đình đã lánh nạn ở đồn điền SHPI.
Lúc ở đồn điền này, thiếu úy B tìm được một xe chiếc Jeep của cảnh sát,chú đã lên kế hoạch lấy cây lá che phủ ngụy trang bên ngoài xe, giả làm xe của bộ đội, tìm cách nhập vào đoàn công-voa của họ chạy về phía Nam. Trước khi đi thiếu úy B có rủ ba mẹ tôi và vợ một thiếu tá cảnh sát có hai con nhỏ cùng đi nhưng thấy kế hoạch đó nguy hiểm quá, hơn nữa xe Jeep cũng không đủ chỗ cho cả ba gia đình nên không ai đi theo. Trong suốt hành trình, xe Jeep của chú bị chận lại mấy lần, vợ con chú phải nằm sát sàn xe để trốn không bị phát hiện vì bộ đội không ai lại hành quân mà mang theo vợ con.Đi mấy ngày đêm thì đoàn xe tới Phước An, đầu đèo Phượng Hoàng (DakLak) thì đoàn xe VC phải tản ra vì gặp phải sự kháng cự của quân VNCH đang giữ đèo. Nhân cơ hội, chú B tìm cách tách đoàn, bỏ xe và tìm đường sang phòng tuyến quân ta. Lúc đó ở đầu con đèo này có một lữ đoàn lính Dù đang cố thủ nên gia đình thiếu úy B may mắn tìm đến được và ở lại với họ. Sau đó gia đình thiếu úy B theo đơn vị này băng rừng về tới Nha Trang (lúc đó chưa bị chiếm), được tàu Hải Quân chở hết về Sài Gòn và cả gia đình kịp thời di tản qua Mỹ trước ngày 30 tháng 04.Sự dũng cảm, quyết đoán và nhanh trí của chú B đã giúp gia đình chú thoát khỏi cảnh gia đình ly tán, tù đày và phải sống cuộc sống điêu tàn sau khi chiến tranh kết thúc. Nguyên tắc “High Risk, High Return” (Tạm dịch: có gan làm giàu) có từ thời La Mã vẫn luôn đúng trong mọi hoàn cảnh, kể cả lúc tưởng như ngàn cân treo sợi tóc và không còn gì để mất, kể cả mạng sống của mình và gia đình. Tuy nhiên rất nhiều gia đình đã không có được cơ hội và sự may mắn như vậy.
Sau khi thiếu úy B đi, ba mẹ tôi còn ở lại đồn điền thêm một ngày nữa để chờ tin. Đến sáng ngày thứ tư kể từ lúc rời trại thì được nghe dân báo là đơn vị đã rút đi và VC đã chiếm doanh trại, ba tôi mới bỏ quân phục, mặc đồ dân thường và đưa mẹ con tôi di tản. Ba mẹ cõng tôi chạy từ Buôn Ma Thuột về Nha Trang, bám theo đường số 07. Lúc thì lội bộ, lúc may mắn thì quá giang các xe quân đội đi được vài đoạn đường. Nghe mẹ kể rằng ba tôi dùng khăn lông cột tôi vào người như cách gùi con của người Thượng để di chuyển cho nhanh, lúc mệt thì chuyển sang cho mẹ đỡ. Nhiều lúc mệt quá và đường dễ đi thì ba mẹ cho tôi xuống đi bộ theo. Đi mệt và đau chân quá, nghe mẹ nói tôi tìm cách bỏ dép để kiếm cớ cho ba mẹ phải bồng đi. Sau này mẹ hay nói đùa là lúc đó con còn nhỏ mà đã biết khôn ngoan, láu cá rồi. Chắc đó chỉ là bản năng tự bảo vệ của một đứa trẻ chưa đầy ba tuổi đã phải trải qua hành trình di tản kinh hoàng đó mà thôi. Ròng rã gần một tháng trời ba mẹ và tôi mới đến được Nha Trang thì Nha Trang cũng đã mất (Ngày 02 tháng 04). Chợ Đầm đã bị quân lính đốt cháy trong cơn tức giận và hoảng loạn khi nghĩ rằng mình ở lại tử thủ nhưng lại bị cấp trên bỏ rơi.Lúc đó do mọi thông tin liên lạc đều bị cắt đứt, không biết rằng Đà Lạt cũng đã bị mất (Ngày 03 tháng 04) nên ba mẹ lại cõng tôi chạy về Đà lạt có nhà ông bà Ngoại hy vọng gặp lại gia đình và đứa em gái tôi còn đang ở đó.
Đến nơi thì Đà Lạt đã mất từ nhiều ngày trước, nhà ông Ngoại gần dinh Tỉnh trưởng chỉ còn một ông Chú bà con (không theo nghiệp nhà binh) ở lại giữ nhà còn ông Ngoại đã đưa cả gia đình về Sài Gòn trước ngày bị chiếm. Lúc đó tình hình giao tranh ở khu vực đèo Bảo Lộc, qua các thị trấn Phương Lâm, Định Quán vẫn đang căng thẳng lắm, không có xe chạy do chiến sự còn ác liệt. Trong khi đó Nha Trang bị chiếm rồi nên có xe đò hoạt động tuyến Đà Lạt - Nha Trang, ba mẹ lại cõng tôi nhảy xe đò về Nha Trang nhưng tiền chỉ đủ đi một đoạn rồi lại cuốc bộ và xin quá giang nhưng lúc này quá giang là không dễ.Từ Nha Trang cả nhà lại bồng bế nhau tìm đường về Sài Gòn khi trong túi không còn gì đáng giá cả. Trải qua bao khó khăn, cực khổ tưởng chừng không thể vượt qua, ba mẹ cũng đưa tôi về được nhà ông bà Nội ở Sài Gòn vào sáng ngày 01 tháng 05, khi Sài Gòn đã mất và mọi người trong nhà tưởng rằng ba mẹ và tôi đã không thể thoát được để trở về.
Sau này mới biết, nhóm biệt kích dù ở lại doanh trại tử thủ chỉ ở thêm một ngày nữa. Lúc đó VC đã chiếm hầu hết Buôn Ma Thuột, xe thiết giáp và súng phòng không của họ đã kéo vào đầy trong đồn điền Tây và các khu vực xung quanh. Nhưng lạ là quân VC chỉ bắn tỉa và thỉnh thoảng dội pháo từ xa vào phạm vi chiến đoàn chứ không tấn công thẳng vào hoặc bao vây cô lập. Sau khi nhận được lệnh cho rút từ Bộ Chỉ Huy, lợi dụng đêm tối, Thiếu Tá chiến đoàn phó đã chỉ huy đơn vị rút vào rừng và từ đó băng rừng về Nha Trang. Gần như không có một sự đụng độ đáng kể nào nào xảy ra trên đường rút quân. Sau này qua Mỹ gặp lại một số bạn bè và các anh em trong đơn vị họ suy luận rằng có lẽ VC cố tình chừa đường cho đơn vị ba tôi thoát. Họ muốn bảo toàn lực lượng để chuẩn bị sẵn sang cho chiến dịch mới.
. . .
==========================================
Sài gòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời
Sài gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời
. .
Lúc còn nhỏ ba ở trong tù, mẹ hay cho chúng tôi xem cuốn album cũ có hình ba chụp ngày ra trường Võ Bị Đà Lạt với lễ phục đội mũ vải và giày da bóng loáng, hình ba mặc đồ biệt kích dù với mũ sắt giày bốt đờ sô trang bị súng ống đến tận răng, hình ba đu thang dây lên trực thăng và đu dây vượt suối... Đặc biệt là chiếc huy hiệu trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam màu đỏ mang dòng chữ vàng “Tự thắng để chỉ huy” trích từ một câu nổi tiếng của Đức Phật Thích Ca “Chiến thắng muôn quân không bằng tự thắng mình, Tự thắng mình mới là chiến thắng oanh liệt nhất”.Lời Phật dạy in trên huy hiệu gắn ở mũ thật ý nghĩa và luôn đúng trong cả thời chiến lẫn thời bình. Sau khi buông súng sau các trận chiến cuối cùng của cuộc chiến, sỹ quan và binh sĩ VNCH phải đối diện với cuộc sống tù đày gian khổ không biết đến ngày về.
Được thua một trận cười khàn
Ván cờ xí xóa theo làn bụi bay
. . .
Mong rằng thế hệ trẻ Việt Nam nói chung và thế hệ 7X, 8X ở miền Nam trước đây hãy luôn sống xứng đáng với những gì cha ông ta đã hy sinh, chịu đựng để vun đắp cho cuộc sống của chúng ta có được như ngày hôm nay. Dẫu đường ta đi mặt trời xưa đã ngã. (*)
Đến nơi thì Đà Lạt đã mất từ nhiều ngày trước, nhà ông Ngoại gần dinh Tỉnh trưởng chỉ còn một ông Chú bà con (không theo nghiệp nhà binh) ở lại giữ nhà còn ông Ngoại đã đưa cả gia đình về Sài Gòn trước ngày bị chiếm. Lúc đó tình hình giao tranh ở khu vực đèo Bảo Lộc, qua các thị trấn Phương Lâm, Định Quán vẫn đang căng thẳng lắm, không có xe chạy do chiến sự còn ác liệt. Trong khi đó Nha Trang bị chiếm rồi nên có xe đò hoạt động tuyến Đà Lạt - Nha Trang, ba mẹ lại cõng tôi nhảy xe đò về Nha Trang nhưng tiền chỉ đủ đi một đoạn rồi lại cuốc bộ và xin quá giang nhưng lúc này quá giang là không dễ.Từ Nha Trang cả nhà lại bồng bế nhau tìm đường về Sài Gòn khi trong túi không còn gì đáng giá cả. Trải qua bao khó khăn, cực khổ tưởng chừng không thể vượt qua, ba mẹ cũng đưa tôi về được nhà ông bà Nội ở Sài Gòn vào sáng ngày 01 tháng 05, khi Sài Gòn đã mất và mọi người trong nhà tưởng rằng ba mẹ và tôi đã không thể thoát được để trở về.
Sau này mới biết, nhóm biệt kích dù ở lại doanh trại tử thủ chỉ ở thêm một ngày nữa. Lúc đó VC đã chiếm hầu hết Buôn Ma Thuột, xe thiết giáp và súng phòng không của họ đã kéo vào đầy trong đồn điền Tây và các khu vực xung quanh. Nhưng lạ là quân VC chỉ bắn tỉa và thỉnh thoảng dội pháo từ xa vào phạm vi chiến đoàn chứ không tấn công thẳng vào hoặc bao vây cô lập. Sau khi nhận được lệnh cho rút từ Bộ Chỉ Huy, lợi dụng đêm tối, Thiếu Tá chiến đoàn phó đã chỉ huy đơn vị rút vào rừng và từ đó băng rừng về Nha Trang. Gần như không có một sự đụng độ đáng kể nào nào xảy ra trên đường rút quân. Sau này qua Mỹ gặp lại một số bạn bè và các anh em trong đơn vị họ suy luận rằng có lẽ VC cố tình chừa đường cho đơn vị ba tôi thoát. Họ muốn bảo toàn lực lượng để chuẩn bị sẵn sang cho chiến dịch mới.
. . .
==========================================
Sài gòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời
Sài gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời
. .
Lúc còn nhỏ ba ở trong tù, mẹ hay cho chúng tôi xem cuốn album cũ có hình ba chụp ngày ra trường Võ Bị Đà Lạt với lễ phục đội mũ vải và giày da bóng loáng, hình ba mặc đồ biệt kích dù với mũ sắt giày bốt đờ sô trang bị súng ống đến tận răng, hình ba đu thang dây lên trực thăng và đu dây vượt suối... Đặc biệt là chiếc huy hiệu trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam màu đỏ mang dòng chữ vàng “Tự thắng để chỉ huy” trích từ một câu nổi tiếng của Đức Phật Thích Ca “Chiến thắng muôn quân không bằng tự thắng mình, Tự thắng mình mới là chiến thắng oanh liệt nhất”.Lời Phật dạy in trên huy hiệu gắn ở mũ thật ý nghĩa và luôn đúng trong cả thời chiến lẫn thời bình. Sau khi buông súng sau các trận chiến cuối cùng của cuộc chiến, sỹ quan và binh sĩ VNCH phải đối diện với cuộc sống tù đày gian khổ không biết đến ngày về.
Được thua một trận cười khàn
Ván cờ xí xóa theo làn bụi bay
. . .
Mong rằng thế hệ trẻ Việt Nam nói chung và thế hệ 7X, 8X ở miền Nam trước đây hãy luôn sống xứng đáng với những gì cha ông ta đã hy sinh, chịu đựng để vun đắp cho cuộc sống của chúng ta có được như ngày hôm nay. Dẫu đường ta đi mặt trời xưa đã ngã. (*)
Tháng 06/2017
Nguyễn Anh Nguyên
(*) Trích một câu thơ trong bài thơ Ba viết tặng Mẹ trong tù.
Monday, April 1, 2019
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3160491577297980&set=pcb.3160489207298217&type=3&__tn__=HH-R&eid=ARD-7VactKftAFY0lG-AS0fG56CjAGvMlcevdR4pY9yDD_BJ0Np6Z8ESXlohOLBhV5qNAVx5jYn2WiaN
PHẦN 2 :
PHẦN 2 :
Suốt một đêm không ngũ trọn giấc, Cộng quân với ưu thế pháo binh do các nước quốc tế Cọng Sãn hổ trợ ào ạt, còn bên phe ta QLVNCH thì kể từ năm 1972, các văn thư gởi đi từ Bộ TTM bắt phải gởi về các cấp số đạn pháo 105 ly , 106 ly không giật , cối 81 ly , gọi là đem về đổi , nhưng đạn gởi về thì có , mà đạn đổi lại thì không , Trời ơi , VC thì tha hồ bắn phá ; làm mưa làm gió, còn bên ta phải rút cấp số đạn, trước xin 100 tràn, thậm chí 2,3 trăm tràng có liền , nay phải chờ quyết đinh từ Sư Đoàn , rồi năm sau chờ Quân Đoàn chấp thuận , mà lại giãm xuống chỉ còn 30 tràng , rồi 20, như hồi 1973 tại Trảng Lớn - Tây Ninh .và năm 1974 tại Bình Long - An Lộc ...lý do được viết trong Văn Thư là các loại đạn không an toàn, yêu cầu đơn vị gởi về gấp, số phận của các loại đạn nầy đi về đâu thì tôi không biết, chỉ biết là chiến trường thiếu đạn , Xăng khan hiếm, các cơ phận quân cụ cho máy bay, xe tăng, thiết giáp, GMC,....đều không có trong bảng cấp số. Là một sĩ quan tác chiến hành quân tôi đâu biết gì hơn, nào Hiệp Định Paris , nào Liên Hiệp 4 bên ,....3 bên ...chi chì.... quá ư là rắc rối , tôi không đủ kiến thức trang bị để hiểu về chình trị . Bó tay ! Sáng hôm nay 7-4-75, tôi mượn đở bên Không Quân chiếc Jeep, kêu mấy ông Thuần , Đí và mấy nhân viên Toán như Hoàng Tăng ( Tăng răng vàng ) Trịnh Ngọc Cơ ( Cơ hồi chánh ) Phan Gia Thanh ( Thạnh mập ),T/S Nguyễn Văn Đại lên xe tìm đường ra thị xã Phan Rang tìm chút tươi mát (xin chớ hiểu chữ tươi mát nầy theo nghĩa trong nước bây giờ , ý tôi là tìm ít thức ăn như rau cải , cà mướp .....) ,vì phi trường mấy lâu nay bị vây kín do áp lực của du kích địa phương, nên vị Chuẩn tướng Tư Lệnh SĐ 6 /KQ ra lệnh nội bất xuất, ngoại bất nhập, còn ông Tỉnh Trưởng Phan Rang nghe đâu về SG họp, cơ số lính Điạ phương không ai điều động , nay ông mới trở về, chỉnh đốn các Tiểu Đoàn Điạ phương và an ninh Thị Xã Phan Rang được lặp lại, Ông Tướng cho phép chúng tôi được ra ngoài để tìm mua thức ăn tươi. Khi xe tôi chạy gần đến cổng số 1 thì gặp xe của Đ/u Bé với 6 lính dù trang bị đầy đủ, Bé vẩy tôi lại và nói : Ê, mấy tướng Biệt Kích đi đâu vậy . Tôi nói ra ngoài phố tìm mua thức ăn tươi. Bé nói đi qua Tháp Chàm không được đâu, tụi VC đang ở trong Tháp vừa dùng cối , và đạn bắn tỉa xưống đường , muốn đi thì tụi mầy với tụi tao phối hợp làm 2 mũi tấn công lên Tháp, quân số của tao chia ra sợ không đủ sức yểm trợ cho nhau . Mầy tính sao ? Tôi đang hội ý với Thuần và các anh em mình thì bị Bé chơi xỏ nói giọng khiêu khích : Mà thôi , Lôi Hổ thấy ngại thì để tụi tao xông lên làm thịt mấy thằng Vi Ci , còn bọn mầy cứ ở đây chờ xem Lính Dù tụi tao làm ...Nghe mà phát tức , tôi nói : Đánh lớn là sở trường tụi mầy , còn đánh gọn nhẹ là nghề của tụi tao nghe mầy , để tao lên trước cho. Thế là chúng tôi chia nhau làm 2 tốp , vừa tiến vừa quan sát tình hình . Bé cũng dàn lính thành 2 tổ tiến lên phía Đông. Chúng tôi băng qua đường rầy xe lửa thật nhanh và nép sát theo độ dốc của ngọn đồi, Bên quân của Bé vừa tiến vừa bắn làm nghi binh trước mặt nơi con đường dẫn lên Tháp , chúng tôi lẳng lặng 2 nhóm âm thầm tiến ở mặt sau. Khi gần đến chân ngọn Tháp thì Thạnh dùng M.79 lảy liên tiếp 3 trái vào ô trống của Tháp từ trên xuống dưới, tưởng cũng phải nói Thạnh mập vốn là tay xạ thủ M.79 , súng của hắn đã mài cơ bẩm ,vừa bắn vừa thảy vỏ đạn 1 tay , tay kia nạp đạn là bắn liền 3 quả đạn đi mà nghe đâu như nổ cùng một lúc .Thạnh Zăngô là biệt danh của hắn Hướng trước có nhiều tràng đạn M.16 của lính Dù, Trong Tháp Địch phản ứng yếu ớt , Tôi đưa điếu thuốc đang hút dở chuyền qua Trịnh Ngọc Cơ rồi tung người ném tiếp 2 trái Mini về hướng Tháp, Đại cũng xả súng nhắm vào một tên rồi 2 tên đang bị áp lực của lính Dù đánh phía trước chạy nộp mạng cho chúng tôi. , hướng bên kia Thuần và Tăng răng vàng cũng đang dùng lựu đạn thanh toán mấy tên du kích , Toán của Bé vào Tháp trước , hắn phất tay ra hiệu cho chúng tôi là đã thanh toán xong mục tiêu. Bây giò điếu thuốc cũng chuyền qua tay của Đại và về đến tay tôi .Thế là xong , cái chướng ngại mà mấy anh nghiã quân chưa kịp ra tay đã được Dù và Lôi Hổ phối hợp giãi toã như trò đùa. Bé lấy cây cối 82 ly đưa ra nói : Ông cần cái nầy không , trong đó còn mấy khẩuB.41 nửa. Chúng tôi cười : Lôi Hổ không cần chiến lợi phẩm ,cũng không cần ai nhắc đến tên, hay công trạng gì cả, Chiến Sĩ Vô Danh mà bạn , ông cứ lấy đi . Rồi ra phố kiếm mấy con Tắc Kè Nhông làm một bưã sum họp . Bé tiếc rẻ từ chối vì còn phải đi dẹp mấy cái chốt nữa , chưa xong công việc đâu bạn, ông Tướng gọt đầu tụi tao bây giờ ! Cũng từ đó đến nay tôi không có cơ hội gặp lại bạn ấy nữa,xin chúc mọi sự bình an cho bạn !( Đại úy Nguyễn Văn Bé, con của vị Thượng sĩ già Nhảy Dù , Cựu binh Điện Biên Phủ ) Chúng tôi ra phố tìm được quán nhậu xập xệ , trước cửa treo lũng lẵng mấy con Kè Nhông , Kêu 1 dĩa hắn chém đến 500 đồng Hưng Đạo .thêm một đứa một tô cháo và uống vội vài chai 33. Xong bang ra khu chợ chồm hổm mua mấy bó hành ngò, rau cải, khoai lang và bí rợ, vì trong phi trường mấy bữa cấm cung , ông Trung Tá Không Quân cho phép chúng tôi hạ mấy con bò làm lương thực , bò ăn ngon nhưng nóng quá . Khi đi ngang qua đám mấy người dân tụ tập chúng tôi hỏi thăm tình hình bà con , và được nghe họ kể một chuyện lạ tai : mấy anh biết không , mấy bữa nay không biết sâu róm ở đâu trong rừng cứ bò ra miết, từng đoàn từng đoàn như lính vậy , hết tốp nầy đến tốp khác như đi diễu binh vậy đó . Tôi hỏi : Thưa bác vậy có biết chúng bò đi đâu không ? , Thì cứ nhắm hướng biển mà bò ra , rồi cùng nhào xuớng biển sóng cuốn trôi hết trơn Thuần xen vào : Hôm qua tôi có nghe anh lính Địa Phương Quân vào kể chuyện nầy, tôi không tin thật , nên bây giờ nhân tiện ra xem cho biết thật hư , Tôi nói không chừng tụi VC dùng lối tuyên truyền xám để gây hoang mang cũng nên . Chị lớn tuổi đúng kế bên bảo : Các ông đa nghi thì thôi , tụi tôi đồng là vợ lính mình cả , không tin thì cứ ra quốc lộ thấy liền Chúng tôi cám ơn chị rồi lên xe nhắm hướng đường chạy tiếp . Năm phút sau thì quả thật, trên đường xác sâu róm nằm khô queo, xe của dân di tản chạy vào hướng Nam cán lên nát bấy mà chúng cũng cứ bò thản nhiên như không có chuyện gì xãy ra . Tôi muốn lần ra bờ biển xem cho biết ,nhưng T/s Tiến nói thôi đừng đi , ngoài đó chưa an ninh . Chúng tôi quay vào chợ mà lòng ngổn ngang suy nghỉ vẫn vơ.câu nói sâu róm đi từng đoàn như lính nhào xuống biển ...., tôi nhắc đi nhắc lại câu : Như lính nhào xuống biển ... Quay lại tìm một quán Cà Phê nhân tiện mua vài gói thuốc lá , thì lại nghe một câu chuyện lạ khác , một anh lính nghĩa quân nói cho chúng tôi nghe là tại làng Thanh Thủy , quê hương của TT Nguyễn Văn Thiệu có Hòn Núi DAO , tự nhiên cục đá Dao trên đỉnh núi sau một cơn mưa đã lăn nhào xuống chân núi , vở làm 2 mãnh , mặt trong của 2 mãnh vở có hình ngoằn ngèo như chữ viết của người CHĂM, Ông Xã Trưỡng cũng có nhờ mấy ông bô lão Chăm Pa ra tìm cách đọc , nhưng hình như không ai đọc được . Chúng tôi cũng hiếu kỳ muốn đi ra đó xem sao , nhưng trên đường xe cộ xuôi Nam quá nhiều , hơn nửa lại còn phải đi vào Phi Trường , sợ Ông Tướng Tư Lệnh cho đóng cổng thì bỏ mẹ. Hồi còn nhỏ tôi được truyền dạy ít kinh nghiệm về Phong Thủy, sau ngày vào lính nghe đâu có kỳ nhân dị sĩ là tôi vội sắm lễ vật đến yết kiến xin thọ giáo, nên tôi vận dụng những điều học được để khảo hạch , Như hồi cuối tháng 3/75 , đang tuần gác doanh trại thì đêm hôm đó trên bầu trời chợt xuất hiện sao Thái Bạch ( Sao Hôm và Sao Mai ) di chuyễn từ Đông sang Tây , nhưng lạc vào cung hắc đạo của vị trí Sửu - Mùi , phạm Trung cung , là Bạch Hổ nhập Trung , lại còn có tiếng khua vang len keng lập bập như đe dọa , Thiên Hổ Trướng Khưu Cơ của Đức Trần Hưng Đạo nói đó lả điềm Binh Tan Tướng Chết , ngày mai lại nghe tin tại BTL/QĐ.3 Tướng Nguyễn Văn Hiếu bị ám sát , sau đó là cuộc rút quân cao nguỳên, bây giờ lại thấy hiện tượng Sâu Róm bò ra biển , đá lăn trên Núi Dao, thật sự ngọn núi Dao theo phong Thủy là ngọn Bút Kình Thiên, nghe nói mộ tổ của TT Thiệu được an táng phương Đông Nam của ngọn núi nầy, Núi ở Phương Tây Bắc thuộc cung Càn là Thiên Môn , chân mộ hướng Đông Nam là Địa Hộ,chung quanh có cồn cát trải dài làm thế Long Hổ , lấy cửa biển làm Minh Đường tụ thủy . Tôi chưa có dịp đén tham quan . Hôm nay quả có điềm lạ xuất hiện là ứng sự không may cho quân mính, vì TT Thiệu là Nguyên Thủ Quốc Gia , nay lăng miếu bị phạm hung thì dân chúng miền Nam chắc cũng cùng chung số phận . Các bạn tôi thì vẫn tỉnh như rồi , bàn bạc về món thịt Tắc Kè Nhông của biển cát Phan Rang, hẹn nhau ngày về sẽ ghé vào xơi thêm lần nửa, nhưng đã hết cơ hội rồi bạn ơi. Lòng tôi cứ suy nghỉ miên mang, về đàn sâu , về hòn núi đá ....ôi , Phan Rang có thêm những điềm lạ ...(.còn tiếp ).....
Sức Cùng Lực Kiệt .......
( Lôi Hổ ...Huỳnh Ngọc ........ CĐ 1/XK/SLL/NKT )..
Sunday, March 31, 2019
Chuyện lạ : Đoàn văn nghệ trung ương mắc kẹt tại trại LLĐB Dak Seang .
(Bài của Jack Fuller phóng viên của báo Star & Stripes) .
TÂN CẢNH , Viet Nam ngày 11/4/1970 -- "Chúng điên rồi . Trực thăng võ trang của bạn vào vùng và chúng sẽ bắn bạn, dù biết rằng sẽ nhận một hỏa lực khủng khiếp , nhưng chúng vẫn tiếp tục."
Đó là điều mà Robert Barber , 24 tuổi , cơ trưởng một trực thăng võ trang bay vào thung lũng nơi trại LLĐB Dak Seang đang bị tấn công (embattled) , mô tả về quân CSBV đang bao vây trại này .
Trại Dak Seang , đã được các phi công mô tả như một vết sẹo (scar) -- vì bị đốt thành than (charred) và san bằng bởi pháo địch , rải rác đây đó (littered) những cánh dù ngụy trang màu xanh , dùng để giảm sức rơi của đồ tiếp tế cho trại . Một phi đạo -- ko sử dụng từ tháng Ba -- kéo dài bên ngoài chu vi phòng thủ .
Gần đó là một làng bị cháy rụi (burn-out) từng là nơi ở của thân nhân các chiến sĩ Dân sự Chiến đấu (CIDG) đồn trú trại này .
Các thân nhân này giờ đang ở trong các công sự ngầm vững chắc (underground fortified bunkers) . Và còn có những ng khác , bao gồm 11 thành viên của một ban nhạc và ban kịch Việt Nam - đã trình diển tại đây từ 31/3 và mắc kẹt tại trại .(And there are others , including 11 members of a Vietnamese band and drama group who played an engagement there March 31 and never got a chance to leave) .
Nguồn tin quân sự nói rằng ban nhạc này , thuộc ngành CTCT của chính phủ Sài Gòn , nay làm nhiệm vụ sơ cứu (first-aid unit) tại trại . (Military sources say the band , an extension of the Saigon government's political warfare campaign , now works as a first-aid unit) .
Dọc theo những núi rừng và trong thung lũng này , các lực lượng VNCH đang tạo áp lực lên lực lượng CSBV để chúng rút đi .
Nhưng quân CSBV vẫn chống trả (fighting back) . "Bạn bị bắn từ rừng cây bên dưới và bạn dập chúng bằng hỏa tiển," một phi công trực thăng nói," và khi bạn quay trở lại , chúng lại bắn lên . Chúng có hầm hố kiên cố" .
Dù các nguồn tin tình báo của Mỹ và VNCH đã cho thấy một vài gia tăng hoạt động của địch tại khu vực Dak Seang trước tháng Tư , sự bùng nổ vào ngày 1/4 đã là ngạc nhiên đối với nhiều phi công trực thăng .
"Chúng tôi nhận lịnh tới trại để bảo vệ việc tản thương (medevac), " thiếu úy Pat Cooper , 25 tuổi lái trực thăng võ trang nói . "Tôi nghĩ rằng chỉ bay vào , bắn phá chung quanh trại. Nhưng mọi việc ko diển như vậy ."
"Khi chúng tôi vào vùng , trại đang bị pháo nặng và trực thăng tản thương phải chờ . Cuối cùng pháo ngưng và trực thăng tải thương đáp xuống . Đột nhiên súng lại nổ . Phi công tải thương hét lớn trên máy , "Chúng tôi bị bắn từ nhiều phía . . . "
Các phi công nói bây giờ bay vào Dak Seang dễ hơn trước . Nhưng một phi công khác nói , "Không phải dễ ăn đâu."
Nguồn : báo Stars & Stripes .
Ảnh lấy từ mạng : Ảnh 1, trại Dak Seang ở bắc Dakto ; ảnh 2 : chụp từ máy bay .
Đó là điều mà Robert Barber , 24 tuổi , cơ trưởng một trực thăng võ trang bay vào thung lũng nơi trại LLĐB Dak Seang đang bị tấn công (embattled) , mô tả về quân CSBV đang bao vây trại này .
Trại Dak Seang , đã được các phi công mô tả như một vết sẹo (scar) -- vì bị đốt thành than (charred) và san bằng bởi pháo địch , rải rác đây đó (littered) những cánh dù ngụy trang màu xanh , dùng để giảm sức rơi của đồ tiếp tế cho trại . Một phi đạo -- ko sử dụng từ tháng Ba -- kéo dài bên ngoài chu vi phòng thủ .
Gần đó là một làng bị cháy rụi (burn-out) từng là nơi ở của thân nhân các chiến sĩ Dân sự Chiến đấu (CIDG) đồn trú trại này .
Các thân nhân này giờ đang ở trong các công sự ngầm vững chắc (underground fortified bunkers) . Và còn có những ng khác , bao gồm 11 thành viên của một ban nhạc và ban kịch Việt Nam - đã trình diển tại đây từ 31/3 và mắc kẹt tại trại .(And there are others , including 11 members of a Vietnamese band and drama group who played an engagement there March 31 and never got a chance to leave) .
Nguồn tin quân sự nói rằng ban nhạc này , thuộc ngành CTCT của chính phủ Sài Gòn , nay làm nhiệm vụ sơ cứu (first-aid unit) tại trại . (Military sources say the band , an extension of the Saigon government's political warfare campaign , now works as a first-aid unit) .
Dọc theo những núi rừng và trong thung lũng này , các lực lượng VNCH đang tạo áp lực lên lực lượng CSBV để chúng rút đi .
Nhưng quân CSBV vẫn chống trả (fighting back) . "Bạn bị bắn từ rừng cây bên dưới và bạn dập chúng bằng hỏa tiển," một phi công trực thăng nói," và khi bạn quay trở lại , chúng lại bắn lên . Chúng có hầm hố kiên cố" .
Dù các nguồn tin tình báo của Mỹ và VNCH đã cho thấy một vài gia tăng hoạt động của địch tại khu vực Dak Seang trước tháng Tư , sự bùng nổ vào ngày 1/4 đã là ngạc nhiên đối với nhiều phi công trực thăng .
"Chúng tôi nhận lịnh tới trại để bảo vệ việc tản thương (medevac), " thiếu úy Pat Cooper , 25 tuổi lái trực thăng võ trang nói . "Tôi nghĩ rằng chỉ bay vào , bắn phá chung quanh trại. Nhưng mọi việc ko diển như vậy ."
"Khi chúng tôi vào vùng , trại đang bị pháo nặng và trực thăng tản thương phải chờ . Cuối cùng pháo ngưng và trực thăng tải thương đáp xuống . Đột nhiên súng lại nổ . Phi công tải thương hét lớn trên máy , "Chúng tôi bị bắn từ nhiều phía . . . "
Các phi công nói bây giờ bay vào Dak Seang dễ hơn trước . Nhưng một phi công khác nói , "Không phải dễ ăn đâu."
Nguồn : báo Stars & Stripes .
Ảnh lấy từ mạng : Ảnh 1, trại Dak Seang ở bắc Dakto ; ảnh 2 : chụp từ máy bay .
Saturday, March 30, 2019
Kỷ niệm với Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp
Đầu năm 2017, tôi vào Buôn Ma Thuột, đến thăm ông Huỳnh Văn Cần, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng (khóa Vl, Vll), nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk (1971-1997). Khi biết tôi là người thể hiện cuốn Ký ức Tây Nguyên của Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, ông rất vui.
Đồng chí Trần Thế Môn bàn giao chức Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên cho đồng chí Đặng Vũ Hiệp (20/11/1973).
Tôi muốn ghi lại kỷ niệm của ông với Tướng Hiệp một thời gian dài hai người cùng ở một chiến trường gian khổ, khó khăn nhất ở miền Nam. Mấy năm nay sức khỏe ông Cần suy giảm nhiều do bị ung thư tiền liệt tuyến, nên ông kể không liền mạch. Nhưng qua đó tôi cũng có thể biết được tình cảm của ông dành cho Tướng Hiệp...Lần đầu tiên tôi được gặp anh Đặng Vũ Hiệp vào cuối năm 1967, sau khi ta giành thắng lợi lớn trong chiến dịch Đắk Tô 1. Lúc này, tôi làm Chính trị viên Tỉnh đội Đắk Lắk, anh Hiệp làm Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận Tây Nguyên. Ấn tượng đầu tiên gặp anh: dáng người dong dỏng, gương mặt thanh tú, nho nhã như một trí thức, lúc nào cũng đeo cặp kính cận sẫm màu, tính tình cởi mở, thẳng thắn. Gặp tôi anh hỏi:
- Anh Cần quê ở đâu?
- Quê tôi ở Phổ Ninh, Đức Phổ, Quảng Ngãi.
- Ở Tây Nguyên, nhiều cán bộ quê Quảng Ngãi phải không?
- Quảng Ngãi cũng có, Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam và cả Thừa Thiên Huế cũng có nữa anh ạ.
Rồi anh hỏi tình hình của tỉnh, anh đặc biệt quan tâm đến các cháu người dân tộc thiểu số:
- Tỉnh đã có chủ trương gì đối với mấy trăm cháu con em dân tộc chưa?
- Điều kiện của tỉnh anh biết rồi đó, muốn tổ chức cho các cháu học tập cũng rất khó khăn.
Suy nghĩ một lát rồi anh nói:
- Thế này nhé, anh về lựa chọn 30 đến 40 cháu tuổi 14, 15 có sức khỏe gửi về Bộ Tư lệnh. Trên này có trường sẽ mở lớp dạy văn hóa cho các cháu. Số còn lại các anh phải tổ chức để các cháu có cái chữ. Khó khăn mà làm được thì mới quý, anh Cần ạ.
Năm 1968, tỉnh Đắk Lắk lựa chọn 50 cháu tuổi từ 13 đến 16, cả nam lẫn nữ, gửi về Mặt trận học văn hóa. Số này về sau có người trở thành cán bộ chủ chốt của tỉnh, huyện, một số trở thành ca sĩ như R'Chăm Peng, Y Mau…
Năm 1969, tôi bị bệnh, được trên cho ra Bắc điều trị. Trước khi ra Bắc, tôi qua Bộ Tư lệnh, gặp anh Hiệp, anh em nói chuyện cả một buổi tối, anh viết thư cho chị Quý - vợ anh và các con. Trong thời gian điều trị tại Viện quân y 108, tôi đến nhà riêng của anh tại số 7 Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội. Chị Quý, người Đình Bảng, Bắc Ninh là một nhà giáo đôn hậu. Anh chị có hai người con trai và một cô con gái. Các cháu đều ngoan, học giỏi.
Chiến dịch Tây Nguyên, tôi làm Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk, được tham gia một số cuộc họp với Bộ Chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên mà anh Hiệp được cử làm Chính ủy.
Chiến dịch Tây Nguyên, tôi làm Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk, được tham gia một số cuộc họp với Bộ Chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên mà anh Hiệp được cử làm Chính ủy.
Tháng 2/1975, Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Lắk quyết định chọn những cán bộ các ngành ở tỉnh và thị xã để thành lập một Đội vận động chính trị gồm 81 người, có Ban Chỉ huy chung, do anh A Ma Oanh - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thị ủy Buôn Ma Thuột trực tiếp chỉ huy. Nhiệm vụ chính trị của đội này là lãnh đạo nổi dậy giành quyền làm chủ tiếp sau đòn quân sự, theo bốn yêu cầu: "Ổn định tư tưởng quần chúng; động viên quyết tâm giải phóng trọn vẹn thị xã; động viên quần chúng nhân dân không chạy theo địch mà phải bám lại nhà; tham gia xây dựng chính quyền cách mạng ở cơ sở, huy động một bộ phận thanh niên tham gia chiến đấu". Thường vụ Tỉnh ủy đã bàn cụ thể các mặt về công tác đánh địch, mở dân tiếp quản thị xã Buôn Ma Thuột, đồng thời quyết định thành lập Ủy ban Quân quản do anh Y Blốc E Ban - Phó Bí thư, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Đắk Lắk làm Chủ tịch, anh Lê Chí Quyết - Phó Bí thư Tỉnh ủy làm Bí thư Đảng ủy Quân quản.
Sau khi ta giải phóng Buôn Ma Thuột, tôi gặp anh Hiệp, anh nói: “Một thị xã đông dân vừa được giải phóng với bao công việc bộn bề, nhưng Tỉnh ủy đã nắm chắc nhiệm vụ nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân, đó là việc làm rất tốt. Về hướng phát triển của chiến dịch, tỉnh đã huy động hàng trăm lái xe và 250 xe tải, xe ca phục vụ bộ đội chủ lực tiến công về vùng duyên hải Nam Trung Bộ và vào Nam Bộ. Thay mặt Bộ Tư lệnh chiến dịch xin cảm ơn Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Lắk, cảm ơn anh Cần”.
Năm 1985, kỷ niệm 10 năm giải phóng Buôn Ma Thuột, mấy ngày này, Buôn Ma Thuột tưng bừng trong ngày hội lớn chưa từng có trên cao nguyên này. 30 nghìn người đã tham gia một cuộc diễu hành lớn, hơn 17 nghìn nhân dân các dân tộc Tây Nguyên đã kéo về Buôn Ma Thuột. Sau đó là cuộc đua voi, cuộc liên hoan văn nghệ dân gian có hàng trăm ghè rượu cần… Buổi tối, pháo hoa đã nổ bung trên bầu trời thị xã.
Đêm trước ngày lễ chính thức, tại Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đắk Lắk có cuộc gặp gỡ, hầu như có gần đủ mặt các đồng chí trong Bộ Chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên năm 1975 và nhiều đồng chí cựu chiến binh của chiến trường Tây Nguyên. Anh Đặng Vũ Hiệp giới thiệu từng người trong Bộ Chỉ huy chiến dịch năm xưa và các vị khách theo phong cách của lính "B3", nghĩa là mọi người được giới thiệu với cả tên và những biệt danh của họ. Đồng chí Trương Cao Dũng - lão thành cách mạng từ những năm kháng chiến chống Pháp, được bộ đội Tây Nguyên thân mật gọi là "Book Dũng" – được anh Đặng Vũ Hiệp giới thiệu: “Khi chúng tôi vào Tây Nguyên, đi tới các làng bản cứ phải tự xưng là bộ đội của Book Dũng mới được chén”. Đến lượt anh Phạm Hàm, khi anh Đặng Vũ Hiệp nhắc lại cái biệt hiệu "Hàm trên" và nói thêm: "Khi thấy anh Hàm xuất hiện thì cả Bộ Tư lệnh chiến dịch yên tâm, vì anh Hàm lo việc bảo đảm vật chất cho chiến dịch và anh có nhiều kinh nghiệm trong việc này. Vì thế chúng tôi gọi anh là "Hàm trên" để phân biệt với anh Phí Triệu Hàm - Phó Chính ủy chiến dịch. "Hàm trên" mà vững thì bộ đội ta cứ việc yên tâm ăn no đánh thắng"...
Mọi người lặng đi đôi chút khi nghe anh Hiệp nhắc đến sự vắng mặt của một số đồng chí, trong đó có anh Kim Tuấn - nguyên Phó Tư lệnh chiến dịch, Tư lệnh Binh đoàn Tây Nguyên. Những người đã hy sinh lần lượt được anh Hiệp nhắc tới với tất cả nỗi nhớ thương và biết ơn.
Không khí buổi họp mặt đang có vẻ lắng xuống thì anh Nguyễn Tuyến -Văn phòng Bộ Quốc phòng - liền đứng dậy với một chiếc máy ghi âm trên tay. “Thưa các anh, - anh Tuyến trịnh trọng mở đầu: - Hôm nay nhân có cuộc họp mặt đông đủ của các đồng chí nhiều năm chiến đấu ở Tây Nguyên và có mặt gần đủ các anh trong Bộ Chỉ huy chiến dịch, được sự đồng ý của Đại tướng Văn Tiến Dũng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tôi xin mời các anh nghe lại một đoạn băng ghi âm ghi tại Sở Chỉ huy chiến dịch vào buổi sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975”.
Từ trong máy bắt đầu vang lên cuộc đàm thoại giữa Đại tướng Văn Tiến Dũng - Đại diện Bộ Chính trị tại Chiến trường với Trung tướng Hoàng Minh Thảo - Tư lệnh chiến dịch. Đó là lúc trận đánh đang ở vào giai đoạn quyết liệt nhất, bộ đội ta đã tiến vào thị xã nhưng chưa chiếm được những mục tiêu quan trọng. Ở Bộ Chỉ huy chiến dịch hẳn mọi người nghe rõ tiếng súng, vậy mà giọng nói hai người vẫn bình thản, tự tin. Đến khi chiếc máy trên tay anh Tuyến ngừng phát mà mọi người vẫn ngồi lặng đi.
Một lát sau anh Hồng Hà - Tổng biên tập Báo Nhân dân quay lại với anh Hoàng Minh Thảo: "Đây là một tài liệu quý, một bằng chứng sống về trận Buôn Ma Thuột đấy anh Thảo ạ! Tôi không ngờ các anh còn giữ được những hiện vật quý giá đến thế".
Anh Đặng Vũ Hiệp quay sang tôi nói:
- Nói đến hiện vật quý về Buôn Ma Thuột, phải kể đến chiếc xe tăng 945 mà các anh đã đưa lên tượng đài đặt ở Ngã Sáu. Một đài kỷ niệm như vậy vừa giản dị, vừa sống động và có sức gợi nhớ kỷ niệm. Thú thực, khi nhìn chiếc xe tăng ấy, tôi vô cùng xúc động.
Tôi nói với anh Hiệp:
- Còn một khu di tích nữa chúng tôi chưa làm được, đó là Sở Chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên.
- Anh cứ yên trí, - anh Hiệp đáp. - Chúng tôi đã bố trí chương trình rồi. Đó cũng là trách nhiệm của chúng tôi đối với lịch sử...
Tôi gặp anh Đặng Vũ Hiệp lần cuối cùng vào trung tuần tháng 3 năm 2008, khi anh nằm điều trị ở Bệnh viện 108. Anh bị căn bệnh hiểm nghèo. Bao giờ cũng vậy, cứ gặp là anh nhắc lại những kỷ niệm ở Tây Nguyên.
Anh kể với tôi, những lúc rảnh rỗi anh thường lấy cuốn hồi ký Ký ức Tây Nguyên ra đọc.
Ngày 11/4/2008, anh Đặng Vũ Hiệp, trái tim vị Tướng trân mạc lẫy lừng ở Tây Nguyên đã ngừng đập.
Để ghi nhớ công lao của anh, Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã lấy một con đường mang tên Đặng Vũ Hiệp.
Huỳnh Văn Cần (kể) - Lê Hải Triều(ghi)
Friday, March 29, 2019
Hồi ký vài phi vụ trong hai tháng: Tháng Ba & Tháng Tư năm 1975
L.Q. Cư
Phần I
Tháng Ba năm 1975
Ngày sau khi thành phố Ban Mê Thuật vừa bị thất thủ vào ngày 17-03-1975. Phi Đoàn của chúng tôi được lệnh từ Sư Đoàn (SĐ4_KQ), lệnh cho tăng phái một Biệt Đội, gồm có: 1 chi huy (C&C), 3 võ trang (gunship), 5 tải quân (slick) và 1 dự phòng (spare) ra vùng II Chiến Thuật (SĐ6_KQ , Pleiku) với thời gian là một tháng để hổ trợ các đơn vị bạn, mục đích là để tái chiếm lại Ban Mê Thuật. Cuộc đổ quân đại qui mô cho TĐ45/SĐ23BB từ quận Hàm Rồng tới Phi Trường Phụng Dực đang tiến hành, thì bất thình lình được lệnh từ Quân Đoàn II đình chỉ cuộc đổ quân, lệnh cho Biệt Đội của chúng tôi phải di tản về Nha Trang (trong lúc này thì cả bộ chỉ huy của Quân Đoàn II cũng đã di chuyển từ Pleiku về Nha Trang).
Trong thời gian đồn trú tại Nha Trang, thời điểm hiện tại SĐII_KQ không cần đến sự tăng cường của Biệt Đội chúng tôi trong các cuộc hành quân trong Vùng II Chiến Thuật này. Do đó cấp chi huy Biệt Đội tăng phái của chúng tôi đã phân chia các phi vụ tùy theo tình thế hoặc theo lời yêu cầu từ SĐII_KQ. Trong thời gian này chiếc chỉ huy và 3 chiếc võ trang thường đươc xử dụng để đi yiểm trợ cho các đơn vị dù hay cho các đoàn quân đang di tản về Nha Trang, còn lại các chiếc tải quân thường được phân chia trong các phi vụ liên lạc đi khắp nơi, làm việc cho các quận lỵ hẻo lánh. Riêng Phi Hành Đoàn của chúng tôi cũng có vài phi vụ liên lạc Quận Sông Cầu, TP_Đà Lạt, TP_Qui nhơn . . ..Chúng tôi thường hợp tác với các tổ chức nhân đạo từ thiện dân sự ( họ nấu cơm và sửa soạn nước uống, xong cho vào những bọc nylon nhỏ ) trong thành phố để tiếp tế thực phẩm cho những đoàn người dân đang di tản, nhiệm vụ của chúng tôi là chở họ đi tìm những đoàn người dân di tản để thả thực phẩm xuống cho đoàn người di tản, ngoài ra chúng tôi thường hay quan sát cái đuôi ( vì quá yếu sức cho nên họ bị bỏ lại rất xa đằng sau của đoàn) của đoàn người di tản nếu thấy người nào già yếu, đau bệnh hoặc gia đình nào có con cái quá nhỏ thì chúng tôi đáp xuống đón họ lên tàu ( phải bốc họ thật bất ngờ và mau như hành động bắt cóc, vì rằng, ai cũng muốn được bốc, nếu quá tải trực thăng không thể cất cánh nổi ).
image
Trông số những phi vụ trong khi tăng phái tại Vùng II Chiến Thuật có hai phi vụ mà cho đến giờ này đã 43 năm tôi vẫn không quyên, trong khi bay đi tiếp tế cho đoàn người dân di tản. Có một ngày, chúng tôi bay quan sát phía dưới xem có đoàn, nhóm người di tản mới nào nữa không, chợt chúng tôi thấy một toán lính ước chừng khoảng hơn một Tiểu Đội đang di chuyển, chúng tôi liền đáp xuống để bốc cho họ về Nha Trang.. Chúa ơi! tưởng chừng hơn một Tiểu Đội, họ lên chật cả tàu không còn chỗ trống, khi tôi nhấc tàu lên để kiểm định lực của con tàu, tàu quá nặng không thể cất cánh với phương cách bình thường, tôi có xuống khỏi tàu ra đằng sau, đề nghị, cũng như khuyên họ xuống bớt, hứa với họ là chúng tôi sẽ trở lại để đón những người còn lại nhưng chẳng ai chịu xuống vì người nào cũng sợ bị bỏ rơi, cuối cùng chúng tôi phải cố thử bằng phương cách cất cánh là trượt càng của trực thăng trên mặt đất như một con chim bị ướt cánh cất cánh, lướt càng một đoạn dài sau cùng con tàu cũng bốc lên được an toàn, sau khi về đáp phi trường Nha Trang chúng tôi đã đếm được hơn 2 tá binh sĩ trong chuyến bay này. (con số mà anh xạ thủ báo cáo là 32 người ?)
Một hôm, có một vị Linh Mục và một Ma-Sơ đến tìm gặp chúng tôi và nhờ chúng tôi đi tìm, bốc giúp họ 4 Sơ trẻ hiện đang ở trong đoàn người di tản từ Pleiku. Chúng tôi bay lên vùng, khi tìm thấy đoàn người di tản, tôi bay thật thấp dọc theo đoàn người di tản để vị Linh Mục và vị Ma-Sơ dễ dàng quan sát tìm 4 " Sơ " này , chỉ mất một lần bay dọc theo đoàn người di tản, cuối cùng họ tìm thấy 4 ” Sơ “ này, vì những người này đều mặc đồng phục màu đen cho nên dễ nhận ra trong đám đông. Khi chúng tôi đang đáp xuống để bốc 4 “ Sơ “ này thì có tiếng nhiều tiếng súng M16 bắn chỉ thiên, hình như để thị oai, nhưng tôi vẫn tiếp tục đáp xuống để đón 4 “ Sơ “ này, thật may mắn không có điều gì phiền phức xẩy ra cho chúng tôi khi tôi đáp xuống đón 4 " Sơ " này lên tàu ( Cảm tạ Chúa đã dẫn dắt và che chở cho phi vụ này ) .
Tháng Tư năm 1975.
image
Buổi sáng ngày 02 tháng Tư năm 1975, Biệt Đội chúng tôi được lệnh trở về Phi Đoàn sau khi lệnh tăng phái của chúng tôi vừa chấm dứt. Khi về đến đơn vị thì mọi sinh hoạt hành quân trở lại bình thường như trước khi chúng tôi được tăng phái cho QĐ II. Trong tháng này tôi được dịp về Sàigon 2 lần, lần thứ nhất trong phi vụ liên lạc CT-BH, tôi đã cảm thấy tình hình tại Sàigon có nhiều biến động, dân chúng rất lo âu và hoang mang trong lúc này, vì tôi thấy rất nhiều phi cơ lớn của KQ_HK như: C5A, C141 bay đến VN rồi bay ra khỏi VN, thêm vào đó là các đài truyền thông hải ngoại như BBC, VOA . . .Họ loan tin về tình hình chiến sự đang diễn biến tại VN từng giờ, từng ngày nhưng trên thực tế thì những tin tức này rất bất lợi cho quân lực VNCH về phương diện tâm lý chiến, trên lộ trình đáp PT_BH, tôi thấy được xác của chiếc phi cơ vận tải khổng lồ Galaxy C5A của KQ của KH_HK, chiếc này bị gặp nạn và rơi gần PT_BH vài ngày trước đó trong chuyến không vận một số trẻ mồ côi sang Mỹ định cư.
Lần thứ hai, lợi dụng lúc phi đội chúng tôi đang lên ca nghỉ phép tại đơn vị, nhân có một phi cơ với phi vụ liên lạc CT-TSN tôi có quá giang về thăm nhà được vài giờ. Sau 2 lần ghé nhà (Sàigon) tôi nghe được rất nhiều tin đồn nào là những ai muốn ra đi định cư ở nước ngoài thì hãy ghi tên toàn thể thành viên trong gia đình với các tổ chức Tôn Giáo để họ nộp những danh sách này lên LHQ, trong trường hợp nếu có một Hiệp Định Hòa Bình nào như HĐHB tại Genève 1954 đã được ký kết cho phép mọi người dân được quyền lựa chọn sự ra đi hoặc ở lại sống với Chính Thể mới (CSVN) như hồi năm 1954.
Sau khi ca nghỉ phép của Phi Đội chấm dứt, mọi phi vụ tác chiến của Phi Đoàn chúng tôi trở lại bình thường: thường ngày chúng tôi tham gia các phi vụ hành quân để yiểm trở cho các đơn bạn (BB), đôi khi cũng có các phi vụ liên lạc lẻ với các quận, tỉnh . . . .
Tôi còn nhớ đến một phi vụ liên lạc thật đáng nhớ, vào khoảng một tuần lễ trước ngày (01-05-1975) chúng tôi thực sự ‘’gẫy cánh’’ vĩnh viễn. Ngày hôm đó chúng tôi có một phi vụ làm việc cho Sư Đoàn 7 BB (căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho) nhiệm vụ của chúng tôi là tiếp tế, tản thương . . . yiểm trợ cho một vài đơn vị thuộc SĐ7_BB. Trong phi vụ này tôi có một viên Hoa Tiêu Phụ, anh ta vừa được thuyên chuyển từ một Phi Đoàn thuộc SĐI_KQ về Phi Đoàn chúng tôi được hơn một năm. Buổi sáng hôm đó anh ta có gặp lại một người bạn cùng Phi Đoàn cũ với anh ta (SĐI_KQ) tại hồ nước ngọt Mỹ Tho, nơi chúng tôi đậu trực thăng chờ đơn vị bạn thuộc SĐ7_BB ( vì một số phi cơ cũng như nhân viên từ SĐI_KQ, SĐII_KQ, SĐVI_KQ . . . . đều được di tản về các SĐ_KQ còn an toàn ở miền Nam để bảo toàn lực lượng và khí tài, anh bạn này là một trong số những mà tôi vừa đề cập ở trên ) Thật không may cho phi vụ của tôi hôm đó, sau khi gặp lại người bạn cũ thì viên Hoa Tiêu Phụ của tôi biến mất với cả chiếc nón bay của anh ta ( tôi hiểu ngay là điều gi đã xẩy ra, vì trước đó anh ta có ngỏ ý xin tôi một phiếu đổ xăng cho trực thăng, chắc là anh ta xin cho bạn anh ta, người bạn này sẽ gặp khó khăn khi đổ xăng cho trực thăng của mình nếu như không có phiếu đổ xăng ) Vì không có Hoa Tiêu Phụ nên tôi phải vào Phòng Hành Quân của Sư Đoàn 7 BB, nhờ viên Sĩ Quan LL_KQ liên lạc về Trung Tâm Hành Quân SĐ4_KQ xin cho một Hoa Tiêu khác thay thế để chúng tôi hoàn tất phi vụ cho SĐ7_BB. Trong lúc đang chờ ở Trung Tâm Hành Quân của SĐ 7 BB, tôi có dịp gặp Thiếu Tướng Trần Văn Hai Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Vì có rất nhiều cuộc liên lạc giữa các đơn vị BB với PHQ qua các máy truyền tin từ khắp nơi nghe được trong Phòng Hành Quân lúc đó. Đột nhiên nghe được một câu gọi bằng tiếng Anh " Midway, Midway, cho tôi biết vị trí của bạn " có lẽ từ một viên Phi Công nào đó, liên lạc để xin vị trí của HKMH_Midway, ngay sau đó có tiếng trả lời bằng tiếng Anh từ Midway Aircraft Carrier ‘’ tọa độ của chúng tôi @ ……., …….. ( viên truyền tin Mỹ này còn dùng cả tiếng Việt để kêu gọi các Phi Công trực thăng, mục đích của họ là cũng muốn thâu hồi ( nhiều nếu có thể, vả lại họ cũng muốn giúp chúng ta ) lại những vũ khí, khí tài mà họ đã viện trợ cho QLVNCH trước đây, vì họ biết rất nhiều trực thăng không có đơn vị chỉ huy trưc tiếp. Ví dụ điển hình như binh chủng Hải Quân, người Mỹ đã có cả môt kế hoạch để họ có thể thu hồi được hầu hết các chiến hạm mà họ đã cung cấp cho QLVNCH trước đây, hơn nữa họ cũng không muốn những số vũ khí này lọt vào tay CSVN. Khi Thiếu Tướng Trần Văn Hai nghe được cuộc đàm thoại trên hệ thống vô tuyến giữa viên Phi Công và viên lính Truyền Tin từ HKMH_Midway, Ông ta chỉ vào mặt tôi và nói với một lời hơi có vẻ “ trách móc & châm biếm ‘’ anh là Phi Công gan dạ nhất, giờ này anh còn ở đây, anh có thấy các bạn của anh chưa, họ đã đi hết rồi ? Lòng tôi cũng buồn vì câu nói có vẻ dận và trách móc của Ông Tướng, nhưng tôi cũng thông cảm cho các bạn cùng binh chủng với tôi vì họ đã mất tất cả, không còn đơn vị cũng như không có các cấp chỉ huy trực tiếp của mình.
Phần II
HỒI KÝ " Ly hương vào giờ thứ 25 "
image
L.Q. Cư
Phần I
Tháng Ba năm 1975
Ngày sau khi thành phố Ban Mê Thuật vừa bị thất thủ vào ngày 17-03-1975. Phi Đoàn của chúng tôi được lệnh từ Sư Đoàn (SĐ4_KQ), lệnh cho tăng phái một Biệt Đội, gồm có: 1 chi huy (C&C), 3 võ trang (gunship), 5 tải quân (slick) và 1 dự phòng (spare) ra vùng II Chiến Thuật (SĐ6_KQ , Pleiku) với thời gian là một tháng để hổ trợ các đơn vị bạn, mục đích là để tái chiếm lại Ban Mê Thuật. Cuộc đổ quân đại qui mô cho TĐ45/SĐ23BB từ quận Hàm Rồng tới Phi Trường Phụng Dực đang tiến hành, thì bất thình lình được lệnh từ Quân Đoàn II đình chỉ cuộc đổ quân, lệnh cho Biệt Đội của chúng tôi phải di tản về Nha Trang (trong lúc này thì cả bộ chỉ huy của Quân Đoàn II cũng đã di chuyển từ Pleiku về Nha Trang).
Trong thời gian đồn trú tại Nha Trang, thời điểm hiện tại SĐII_KQ không cần đến sự tăng cường của Biệt Đội chúng tôi trong các cuộc hành quân trong Vùng II Chiến Thuật này. Do đó cấp chi huy Biệt Đội tăng phái của chúng tôi đã phân chia các phi vụ tùy theo tình thế hoặc theo lời yêu cầu từ SĐII_KQ. Trong thời gian này chiếc chỉ huy và 3 chiếc võ trang thường đươc xử dụng để đi yiểm trợ cho các đơn vị dù hay cho các đoàn quân đang di tản về Nha Trang, còn lại các chiếc tải quân thường được phân chia trong các phi vụ liên lạc đi khắp nơi, làm việc cho các quận lỵ hẻo lánh. Riêng Phi Hành Đoàn của chúng tôi cũng có vài phi vụ liên lạc Quận Sông Cầu, TP_Đà Lạt, TP_Qui nhơn . . ..Chúng tôi thường hợp tác với các tổ chức nhân đạo từ thiện dân sự ( họ nấu cơm và sửa soạn nước uống, xong cho vào những bọc nylon nhỏ ) trong thành phố để tiếp tế thực phẩm cho những đoàn người dân đang di tản, nhiệm vụ của chúng tôi là chở họ đi tìm những đoàn người dân di tản để thả thực phẩm xuống cho đoàn người di tản, ngoài ra chúng tôi thường hay quan sát cái đuôi ( vì quá yếu sức cho nên họ bị bỏ lại rất xa đằng sau của đoàn) của đoàn người di tản nếu thấy người nào già yếu, đau bệnh hoặc gia đình nào có con cái quá nhỏ thì chúng tôi đáp xuống đón họ lên tàu ( phải bốc họ thật bất ngờ và mau như hành động bắt cóc, vì rằng, ai cũng muốn được bốc, nếu quá tải trực thăng không thể cất cánh nổi ).
image
Trông số những phi vụ trong khi tăng phái tại Vùng II Chiến Thuật có hai phi vụ mà cho đến giờ này đã 43 năm tôi vẫn không quyên, trong khi bay đi tiếp tế cho đoàn người dân di tản. Có một ngày, chúng tôi bay quan sát phía dưới xem có đoàn, nhóm người di tản mới nào nữa không, chợt chúng tôi thấy một toán lính ước chừng khoảng hơn một Tiểu Đội đang di chuyển, chúng tôi liền đáp xuống để bốc cho họ về Nha Trang.. Chúa ơi! tưởng chừng hơn một Tiểu Đội, họ lên chật cả tàu không còn chỗ trống, khi tôi nhấc tàu lên để kiểm định lực của con tàu, tàu quá nặng không thể cất cánh với phương cách bình thường, tôi có xuống khỏi tàu ra đằng sau, đề nghị, cũng như khuyên họ xuống bớt, hứa với họ là chúng tôi sẽ trở lại để đón những người còn lại nhưng chẳng ai chịu xuống vì người nào cũng sợ bị bỏ rơi, cuối cùng chúng tôi phải cố thử bằng phương cách cất cánh là trượt càng của trực thăng trên mặt đất như một con chim bị ướt cánh cất cánh, lướt càng một đoạn dài sau cùng con tàu cũng bốc lên được an toàn, sau khi về đáp phi trường Nha Trang chúng tôi đã đếm được hơn 2 tá binh sĩ trong chuyến bay này. (con số mà anh xạ thủ báo cáo là 32 người ?)
Một hôm, có một vị Linh Mục và một Ma-Sơ đến tìm gặp chúng tôi và nhờ chúng tôi đi tìm, bốc giúp họ 4 Sơ trẻ hiện đang ở trong đoàn người di tản từ Pleiku. Chúng tôi bay lên vùng, khi tìm thấy đoàn người di tản, tôi bay thật thấp dọc theo đoàn người di tản để vị Linh Mục và vị Ma-Sơ dễ dàng quan sát tìm 4 " Sơ " này , chỉ mất một lần bay dọc theo đoàn người di tản, cuối cùng họ tìm thấy 4 ” Sơ “ này, vì những người này đều mặc đồng phục màu đen cho nên dễ nhận ra trong đám đông. Khi chúng tôi đang đáp xuống để bốc 4 “ Sơ “ này thì có tiếng nhiều tiếng súng M16 bắn chỉ thiên, hình như để thị oai, nhưng tôi vẫn tiếp tục đáp xuống để đón 4 “ Sơ “ này, thật may mắn không có điều gì phiền phức xẩy ra cho chúng tôi khi tôi đáp xuống đón 4 " Sơ " này lên tàu ( Cảm tạ Chúa đã dẫn dắt và che chở cho phi vụ này ) .
Tháng Tư năm 1975.
image
Buổi sáng ngày 02 tháng Tư năm 1975, Biệt Đội chúng tôi được lệnh trở về Phi Đoàn sau khi lệnh tăng phái của chúng tôi vừa chấm dứt. Khi về đến đơn vị thì mọi sinh hoạt hành quân trở lại bình thường như trước khi chúng tôi được tăng phái cho QĐ II. Trong tháng này tôi được dịp về Sàigon 2 lần, lần thứ nhất trong phi vụ liên lạc CT-BH, tôi đã cảm thấy tình hình tại Sàigon có nhiều biến động, dân chúng rất lo âu và hoang mang trong lúc này, vì tôi thấy rất nhiều phi cơ lớn của KQ_HK như: C5A, C141 bay đến VN rồi bay ra khỏi VN, thêm vào đó là các đài truyền thông hải ngoại như BBC, VOA . . .Họ loan tin về tình hình chiến sự đang diễn biến tại VN từng giờ, từng ngày nhưng trên thực tế thì những tin tức này rất bất lợi cho quân lực VNCH về phương diện tâm lý chiến, trên lộ trình đáp PT_BH, tôi thấy được xác của chiếc phi cơ vận tải khổng lồ Galaxy C5A của KQ của KH_HK, chiếc này bị gặp nạn và rơi gần PT_BH vài ngày trước đó trong chuyến không vận một số trẻ mồ côi sang Mỹ định cư.
Lần thứ hai, lợi dụng lúc phi đội chúng tôi đang lên ca nghỉ phép tại đơn vị, nhân có một phi cơ với phi vụ liên lạc CT-TSN tôi có quá giang về thăm nhà được vài giờ. Sau 2 lần ghé nhà (Sàigon) tôi nghe được rất nhiều tin đồn nào là những ai muốn ra đi định cư ở nước ngoài thì hãy ghi tên toàn thể thành viên trong gia đình với các tổ chức Tôn Giáo để họ nộp những danh sách này lên LHQ, trong trường hợp nếu có một Hiệp Định Hòa Bình nào như HĐHB tại Genève 1954 đã được ký kết cho phép mọi người dân được quyền lựa chọn sự ra đi hoặc ở lại sống với Chính Thể mới (CSVN) như hồi năm 1954.
Sau khi ca nghỉ phép của Phi Đội chấm dứt, mọi phi vụ tác chiến của Phi Đoàn chúng tôi trở lại bình thường: thường ngày chúng tôi tham gia các phi vụ hành quân để yiểm trở cho các đơn bạn (BB), đôi khi cũng có các phi vụ liên lạc lẻ với các quận, tỉnh . . . .
Tôi còn nhớ đến một phi vụ liên lạc thật đáng nhớ, vào khoảng một tuần lễ trước ngày (01-05-1975) chúng tôi thực sự ‘’gẫy cánh’’ vĩnh viễn. Ngày hôm đó chúng tôi có một phi vụ làm việc cho Sư Đoàn 7 BB (căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho) nhiệm vụ của chúng tôi là tiếp tế, tản thương . . . yiểm trợ cho một vài đơn vị thuộc SĐ7_BB. Trong phi vụ này tôi có một viên Hoa Tiêu Phụ, anh ta vừa được thuyên chuyển từ một Phi Đoàn thuộc SĐI_KQ về Phi Đoàn chúng tôi được hơn một năm. Buổi sáng hôm đó anh ta có gặp lại một người bạn cùng Phi Đoàn cũ với anh ta (SĐI_KQ) tại hồ nước ngọt Mỹ Tho, nơi chúng tôi đậu trực thăng chờ đơn vị bạn thuộc SĐ7_BB ( vì một số phi cơ cũng như nhân viên từ SĐI_KQ, SĐII_KQ, SĐVI_KQ . . . . đều được di tản về các SĐ_KQ còn an toàn ở miền Nam để bảo toàn lực lượng và khí tài, anh bạn này là một trong số những mà tôi vừa đề cập ở trên ) Thật không may cho phi vụ của tôi hôm đó, sau khi gặp lại người bạn cũ thì viên Hoa Tiêu Phụ của tôi biến mất với cả chiếc nón bay của anh ta ( tôi hiểu ngay là điều gi đã xẩy ra, vì trước đó anh ta có ngỏ ý xin tôi một phiếu đổ xăng cho trực thăng, chắc là anh ta xin cho bạn anh ta, người bạn này sẽ gặp khó khăn khi đổ xăng cho trực thăng của mình nếu như không có phiếu đổ xăng ) Vì không có Hoa Tiêu Phụ nên tôi phải vào Phòng Hành Quân của Sư Đoàn 7 BB, nhờ viên Sĩ Quan LL_KQ liên lạc về Trung Tâm Hành Quân SĐ4_KQ xin cho một Hoa Tiêu khác thay thế để chúng tôi hoàn tất phi vụ cho SĐ7_BB. Trong lúc đang chờ ở Trung Tâm Hành Quân của SĐ 7 BB, tôi có dịp gặp Thiếu Tướng Trần Văn Hai Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Vì có rất nhiều cuộc liên lạc giữa các đơn vị BB với PHQ qua các máy truyền tin từ khắp nơi nghe được trong Phòng Hành Quân lúc đó. Đột nhiên nghe được một câu gọi bằng tiếng Anh " Midway, Midway, cho tôi biết vị trí của bạn " có lẽ từ một viên Phi Công nào đó, liên lạc để xin vị trí của HKMH_Midway, ngay sau đó có tiếng trả lời bằng tiếng Anh từ Midway Aircraft Carrier ‘’ tọa độ của chúng tôi @ ……., …….. ( viên truyền tin Mỹ này còn dùng cả tiếng Việt để kêu gọi các Phi Công trực thăng, mục đích của họ là cũng muốn thâu hồi ( nhiều nếu có thể, vả lại họ cũng muốn giúp chúng ta ) lại những vũ khí, khí tài mà họ đã viện trợ cho QLVNCH trước đây, vì họ biết rất nhiều trực thăng không có đơn vị chỉ huy trưc tiếp. Ví dụ điển hình như binh chủng Hải Quân, người Mỹ đã có cả môt kế hoạch để họ có thể thu hồi được hầu hết các chiến hạm mà họ đã cung cấp cho QLVNCH trước đây, hơn nữa họ cũng không muốn những số vũ khí này lọt vào tay CSVN. Khi Thiếu Tướng Trần Văn Hai nghe được cuộc đàm thoại trên hệ thống vô tuyến giữa viên Phi Công và viên lính Truyền Tin từ HKMH_Midway, Ông ta chỉ vào mặt tôi và nói với một lời hơi có vẻ “ trách móc & châm biếm ‘’ anh là Phi Công gan dạ nhất, giờ này anh còn ở đây, anh có thấy các bạn của anh chưa, họ đã đi hết rồi ? Lòng tôi cũng buồn vì câu nói có vẻ dận và trách móc của Ông Tướng, nhưng tôi cũng thông cảm cho các bạn cùng binh chủng với tôi vì họ đã mất tất cả, không còn đơn vị cũng như không có các cấp chỉ huy trực tiếp của mình.
Phần II
HỒI KÝ " Ly hương vào giờ thứ 25 "
image
Đã hơn 43 năm tôi đã giữ kín về cuộc ra đi thật bất ngờ, chưa có ý định rời Viêt Nam của 4 anh em chúng tôi (vì vào thời điểm đó toàn QĐ 4 vẫn còn. . . . . . ) Nay tôi xin kể ra để các bạn hữu xa gần cũng như các chiến hữu biết.
Sáng ngày 30-04-1975, phi hành đoàn của chúng tôi có phi lệnh về Sàigon để làm việc với Bộ Tổng Tham Mưu ( giờ trình diện đơn vị bạn là lúc 8.00 sáng ). Thật ra, hôm đó tôi đang được nghỉ phép tại trại (" Cắm Trại 100% ") vì có ý định ghé về nhà, để căn dặn hoặc nhắn tin vài điều với gia đình (vì nhà tôi gần “ BTTM )nên tôi đã đề nghị với một người bạn (anh R. là người bay với anh Đ. trong phi vụ này ) là xin bay thế chỗ của anh ta (nhân đây mặc dù hơi trễ, nhưng cũng xin cảm ơn R. nhé, cũng như anh Đ. cũng vừa viết điều này . . . . .cho tôi ). . . .
Khi chúng tôi bay vào gần không phận Sàigon thì nghe tiếng nói của một Hoa Tiêu trên tần số KQ đang bay trên một chiếc L19( nhân đây AE chúng tôi xin cảm ơn vị chiến hữu đã " cưỡi " trên " con chuồn chuồn " L19, lúc đó anh ta đang hướng dẫn cho một phi tuần khu trục, phi tuần này đang yiểm trợ cho một đơn vị Dù, các chiến sĩ Dù đang chiến đấu với quân Bắc Cộng tại Ngã Tư Bẩy Hiền, chúng tôi liền liên lạc với anh để hỏi thăm về tình hình an ninh ở trong Sàigon vào thời điểm đó. Chúng tôi được anh khuyến cáo là: khi bay vào không phận TP_Sàigon, chúng tôi phải xuống thật thấp từ sông Sàigon, sau đó phải bay thật là thấp (low level fly ) trên thành phố để tránh súng cao xạ phòng không và hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 của quân Bắc Cộng trong địa phận Sàigon. Cũng may một điều là nhà tôi gần " BTTM " và tôi cũng rất rành khu vực này, nên tôi đã làm một Navigator tốt cho anh “ Trưởng “. Chúng tôi bay thật thấp ( trên mặt đường ) từ sông Sàigon nhắm thẳng hướng về " BTTM "..
Khi bay đến gần " BTTM ", chúng tôi bắt đầu liên lạc với đơn vị bạn ở dưới đất để xin chi tiết về chỗ đáp, nhưng không thể liên lạc được, đồng thời chúng tôi thấy một vài cụm khói rơi lác đác rất gần “ BTTM “ ( có lẽ đó là những quả đạn pháo kích của quân Bắc Cộng ). Thất vọng, phi vụ của chúng tôi không thể thi hành được. Tôi quay hỏi anh “ Trưởng “ : << anh có muốn đón gia đình của anh không ? >>, sau khi bàn thảo, cả hai chúng tôi đều đồng thuận là phi vụ không thể thi hành được, vì chúng tôi không thể liên lạc được với đơn vị bạn ở " BTTM ".
Sau đó chúng tôi trực chỉ bay về hướng Ngã Năm Bình Hòa, kế đó chúng tôi đáp xuống một bãi đất trống gần nhà anh “ Trưởng ” ( miếng đất này, nay đã được xây cất thành gia cư ). Trước khi anh “ Trưởng “ xuống, về nhà để thu xếp gia đình anh, tôi có dặn anh: nhớ thay áo bay bằng quần áo dân sự, đứng nấp và chờ ở đâu đó cho đến khi anh nghe tiếng cánh quạt trực thăng đập gió thì chuẩn bị cùng nhau chạy ra giữa bãi đất trống, đồng thời tôi cho anh biết, tôi sẽ trở lại trong vòng 20 -25 phút để đón anh & gia đình.
Sau khi cất cánh từ bãi đất trống ( " NNBH " ), tôi nhắm hướng bay về nhà tôi, khi vừa bay đến nhà, tôi bay vòng vòng xung quanh nhà vài vòng, hy vọng có người nhà chạy ra, tôi sẽ ném một lá thư căn dặn vài điều ( như đã dự trù ) nhưng không thấy ai, chợt thấy chị giúp việc nhà, chị ở gần nhà tôi ra làm dấu với hai cánh tay chéo nhau đồng thời lắc lắc cả hai bàn tay làm dấu , sau đó chỉ ra đại lộ, tôi hiểu ý ngay là cả nhà đã di tản về bên ngoại. Tôi liền bay về hướng nhà của Ông nhạc tôi ... Khi vừa bay đến nhà (Ông nhạc) thì cũng là lúc nhà tôi vừa về đến nhà sau một vòng quan sát đường phố Sàigon cùng Ông anh rể. Trong lúc tôi bay vòng vòng xung quanh nhà, chợt thấy nhà tôi một tay bế Baby một tay với chiếc nón lá vẫy vẫy. Trong lúc bay vòng vòng tôi đã quan sát được là mái nhà này có thể đáp được, tuy hơi nhỏ nhưng vì là nhà 2 tầng, vả lại với mái nhà phẳng, lại được lợp bằng loại tôn “ ciment “.
Sau vòng cuối cùng, tôi đã đáp và đậu trên mái nhà, vì bay một mình, lại phải giữ thăng bằng, cố giảm trọng lượng ( chỉ để càng chạm trên mái nhà ) của cả trực thăng + hành khách tác động trên mái nhà lợp tôn ciment, cho nên tôi không có thể nhìn ra đằng sau để xem những ai lên trực thăng, sau khi tất cả mọi người gồm có nhà tôi cùng 2 cháu nhỏ cộng thêm 2 hành khách " bất đắc dĩ " ( " bà nhạc & ông anh rể ", sau này ông ta nhảy xuống khi tôi đáp xuống bãi đất trống đón gia đình anh " Trưởng " ), sau khi mọi người đã an vị thì tôi được thông báo của các chiến hữu phía sau " an toàn, cất cánh “.
Sau khi đón xong gia đình. Tôi nhắm hướng bay về Ngã Năm Bình Hòa để đón gia đình anh “ Trưởng “, tại đây tôi cũng đã đón thêm được 2 chiến hữu KQ không quen biết xin quá gian.
Cuối cùng chúng tôi rời không phận Sàigon qua hướng sông Sàigon. . . Khi lên đến cao độ 3000 bộ chúng tôi có thể thấy rất nhiều chiến hạm thuôc Hạm Đội 7 Mỹ lác đác ở vùng hải phận Vũng Tàu. Trên đường về TP_CT chúng tôi có ghé CC_ĐT để đổ xăng. Khi sắp đáp PT_BT , chúng tôi liên lạc với đài không lưu PT_BT thì không thấy ai trả lời, chợt lúc đó chúng tôi nghe được tiếng của một người bạn đang liên lạc với HKMH_MIDWAY trên tần số “ quốc tế “ , chúng tôi liền gọi, nói chuyện với anh, thì được anh cho biết là TT_DVM vừa kêu gọi " các chiến sĩ VNCH, chúng ta hãy . . . .". Ngay sau đó chúng tôi liền đổi hướng bay ra Côn Đảo. . . Tại đây, chúng tôi và một số trực thăng bạn phải chờ cho Hạm Đội 7 Mỹ di chuyển từ hải phận Vũng Tàu đến gần Côn Đảo.
Vài giờ sau đó, tất cả anh em chúng tôi đều đáp xuống Hàng Không Mẫu Hạm “ Midway “. . .
image
Cũng như tất cả đồng bào di tản trong tháng 03-1975 và 04-1975 đều được chính phủ Mỹ cho định cư tại Mỹ. Sau khi đến Mỹ vào khoảng tháng 05-1975, chúng tôi được tạm trú tại " Trại tỵ nạn Eglin AFB, thuộc tiểu bang Florida " chờ thủ tục để đi định cư. Chúng tôi đã được một nhà thờ ở Seattle, thuôc tiểu bang Washington bảo trợ, nhưng vì đã nộp đơn xin di cư sang một quốc gia khác nên chúng tôi đã từ chối đi Seattle, Wa.
Vì thương nhớ gia đình còn kẹt lại ở quê nhà, tôi đã quyết định từ bỏ nước Mỹ để xin di cư sang một đất nước tư bản khác. Cũng vì muốn liên lạc được với gia đình ngay ( vào thời điểm đó Mỹ và VN đã cắt đứt liên hệ ngoại giao) nên tôi đã từ bỏ " qui chế tỵ nạn " của chính phủ Mỹ mà chọn " qui chế di cư " của một quốc gia tư bản khác.
Chúng tôi rời khỏi nước Mỹ vào tháng 08-1975, chỉ vài ngày sau chúng tôi đã có thể liên lạc được với gia đình bên nhà và một năm sau đó chúng tôi đã có thể làm giấy tờ để bảo lãnh cho họ.
Vào mùa xuân năm 1981, Song Thân tôi cùng 2 người em cũng được đinh cư tại " xứ tư bản giẫy chết " này. Song Thân tôi nay đã khuất, trong thời gian định cư tại " xứ tư bản giẫy chết " này, họ đã có một cuộc sống rất là an bình, sức khỏe được chăm sóc tốt và kỹ lưỡng bởi hệ thống y tế tại nơi đây, nhờ vậy mà tuổi thọ của cả hai cụ khá là ngưỡng mộ ( vị nào cũng hơn 9 bó ), Nếu như họ còn ở lại sống với CSVN, tôi không nghĩ họ có tuổi thọ được như vậy, với hệ thống an sinh xã hội, thực phẩm, . . . .nhất là về hệ thống y tế của CSVN phục vụ cho đồng bào, thì chắc mọi người ai cũng đều biết.
LQC
Một thành viên thuộc PĐ225, Ác Điểu
Hè 2018
image
Tái bút:
- Mến chào tất cả các chiến hữu thuôc hai phi đoàn: PĐ225 & PĐ227, các chiến hữu KQVN, các chiến hữu thuôc mọi quân binh chủng trong QLVNCH. Tiện đây tôi xin chúc các bạn cùng quý quyến được dồi dào sức khỏe và mọi sự an lành.
- Đặc biệt đây, tôi cũng xin gửi đến các bạn hoa tiêu trong mọi cương vị “trưởng/phó” và các bạn cơ phi, xạ thủ. Những người đã đồng hành cùng tôi trong những phi vụ mà tôi kể ở trong hồi ký một lời xin lỗi, là tôi đã không thể nêu tên các bạn. Thú thật vì những sự kiện trên nó xẩy ra đã quá lâu (đã hơn 43 năm) nên tôi không thể nhớ ngay cả “ngày nào“. Cũng xin các bạn châm chước cho, nếu có điều gì sai sót trong hồi ký của tôi. (Sau hơn 43 năm, chất xám của tôi cũng đã bị giảm đi ít nhiều, xin thông cảm)
- Do sự động viên của các con & cháu trong gia đình, nên tôi “kể" lại những sự kiện (còn nhớ được sau 43 năm) đã xẩy ra với tôi trong vài tháng trước và sau ngày mà chúng ta thường gọi là ngày "Quốc Hận (30-04-1975)".
Sáng ngày 30-04-1975, phi hành đoàn của chúng tôi có phi lệnh về Sàigon để làm việc với Bộ Tổng Tham Mưu ( giờ trình diện đơn vị bạn là lúc 8.00 sáng ). Thật ra, hôm đó tôi đang được nghỉ phép tại trại (" Cắm Trại 100% ") vì có ý định ghé về nhà, để căn dặn hoặc nhắn tin vài điều với gia đình (vì nhà tôi gần “ BTTM )nên tôi đã đề nghị với một người bạn (anh R. là người bay với anh Đ. trong phi vụ này ) là xin bay thế chỗ của anh ta (nhân đây mặc dù hơi trễ, nhưng cũng xin cảm ơn R. nhé, cũng như anh Đ. cũng vừa viết điều này . . . . .cho tôi ). . . .
Khi chúng tôi bay vào gần không phận Sàigon thì nghe tiếng nói của một Hoa Tiêu trên tần số KQ đang bay trên một chiếc L19( nhân đây AE chúng tôi xin cảm ơn vị chiến hữu đã " cưỡi " trên " con chuồn chuồn " L19, lúc đó anh ta đang hướng dẫn cho một phi tuần khu trục, phi tuần này đang yiểm trợ cho một đơn vị Dù, các chiến sĩ Dù đang chiến đấu với quân Bắc Cộng tại Ngã Tư Bẩy Hiền, chúng tôi liền liên lạc với anh để hỏi thăm về tình hình an ninh ở trong Sàigon vào thời điểm đó. Chúng tôi được anh khuyến cáo là: khi bay vào không phận TP_Sàigon, chúng tôi phải xuống thật thấp từ sông Sàigon, sau đó phải bay thật là thấp (low level fly ) trên thành phố để tránh súng cao xạ phòng không và hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 của quân Bắc Cộng trong địa phận Sàigon. Cũng may một điều là nhà tôi gần " BTTM " và tôi cũng rất rành khu vực này, nên tôi đã làm một Navigator tốt cho anh “ Trưởng “. Chúng tôi bay thật thấp ( trên mặt đường ) từ sông Sàigon nhắm thẳng hướng về " BTTM "..
Khi bay đến gần " BTTM ", chúng tôi bắt đầu liên lạc với đơn vị bạn ở dưới đất để xin chi tiết về chỗ đáp, nhưng không thể liên lạc được, đồng thời chúng tôi thấy một vài cụm khói rơi lác đác rất gần “ BTTM “ ( có lẽ đó là những quả đạn pháo kích của quân Bắc Cộng ). Thất vọng, phi vụ của chúng tôi không thể thi hành được. Tôi quay hỏi anh “ Trưởng “ : << anh có muốn đón gia đình của anh không ? >>, sau khi bàn thảo, cả hai chúng tôi đều đồng thuận là phi vụ không thể thi hành được, vì chúng tôi không thể liên lạc được với đơn vị bạn ở " BTTM ".
Sau đó chúng tôi trực chỉ bay về hướng Ngã Năm Bình Hòa, kế đó chúng tôi đáp xuống một bãi đất trống gần nhà anh “ Trưởng ” ( miếng đất này, nay đã được xây cất thành gia cư ). Trước khi anh “ Trưởng “ xuống, về nhà để thu xếp gia đình anh, tôi có dặn anh: nhớ thay áo bay bằng quần áo dân sự, đứng nấp và chờ ở đâu đó cho đến khi anh nghe tiếng cánh quạt trực thăng đập gió thì chuẩn bị cùng nhau chạy ra giữa bãi đất trống, đồng thời tôi cho anh biết, tôi sẽ trở lại trong vòng 20 -25 phút để đón anh & gia đình.
Sau khi cất cánh từ bãi đất trống ( " NNBH " ), tôi nhắm hướng bay về nhà tôi, khi vừa bay đến nhà, tôi bay vòng vòng xung quanh nhà vài vòng, hy vọng có người nhà chạy ra, tôi sẽ ném một lá thư căn dặn vài điều ( như đã dự trù ) nhưng không thấy ai, chợt thấy chị giúp việc nhà, chị ở gần nhà tôi ra làm dấu với hai cánh tay chéo nhau đồng thời lắc lắc cả hai bàn tay làm dấu , sau đó chỉ ra đại lộ, tôi hiểu ý ngay là cả nhà đã di tản về bên ngoại. Tôi liền bay về hướng nhà của Ông nhạc tôi ... Khi vừa bay đến nhà (Ông nhạc) thì cũng là lúc nhà tôi vừa về đến nhà sau một vòng quan sát đường phố Sàigon cùng Ông anh rể. Trong lúc tôi bay vòng vòng xung quanh nhà, chợt thấy nhà tôi một tay bế Baby một tay với chiếc nón lá vẫy vẫy. Trong lúc bay vòng vòng tôi đã quan sát được là mái nhà này có thể đáp được, tuy hơi nhỏ nhưng vì là nhà 2 tầng, vả lại với mái nhà phẳng, lại được lợp bằng loại tôn “ ciment “.
Sau vòng cuối cùng, tôi đã đáp và đậu trên mái nhà, vì bay một mình, lại phải giữ thăng bằng, cố giảm trọng lượng ( chỉ để càng chạm trên mái nhà ) của cả trực thăng + hành khách tác động trên mái nhà lợp tôn ciment, cho nên tôi không có thể nhìn ra đằng sau để xem những ai lên trực thăng, sau khi tất cả mọi người gồm có nhà tôi cùng 2 cháu nhỏ cộng thêm 2 hành khách " bất đắc dĩ " ( " bà nhạc & ông anh rể ", sau này ông ta nhảy xuống khi tôi đáp xuống bãi đất trống đón gia đình anh " Trưởng " ), sau khi mọi người đã an vị thì tôi được thông báo của các chiến hữu phía sau " an toàn, cất cánh “.
Sau khi đón xong gia đình. Tôi nhắm hướng bay về Ngã Năm Bình Hòa để đón gia đình anh “ Trưởng “, tại đây tôi cũng đã đón thêm được 2 chiến hữu KQ không quen biết xin quá gian.
Cuối cùng chúng tôi rời không phận Sàigon qua hướng sông Sàigon. . . Khi lên đến cao độ 3000 bộ chúng tôi có thể thấy rất nhiều chiến hạm thuôc Hạm Đội 7 Mỹ lác đác ở vùng hải phận Vũng Tàu. Trên đường về TP_CT chúng tôi có ghé CC_ĐT để đổ xăng. Khi sắp đáp PT_BT , chúng tôi liên lạc với đài không lưu PT_BT thì không thấy ai trả lời, chợt lúc đó chúng tôi nghe được tiếng của một người bạn đang liên lạc với HKMH_MIDWAY trên tần số “ quốc tế “ , chúng tôi liền gọi, nói chuyện với anh, thì được anh cho biết là TT_DVM vừa kêu gọi " các chiến sĩ VNCH, chúng ta hãy . . . .". Ngay sau đó chúng tôi liền đổi hướng bay ra Côn Đảo. . . Tại đây, chúng tôi và một số trực thăng bạn phải chờ cho Hạm Đội 7 Mỹ di chuyển từ hải phận Vũng Tàu đến gần Côn Đảo.
Vài giờ sau đó, tất cả anh em chúng tôi đều đáp xuống Hàng Không Mẫu Hạm “ Midway “. . .
image
Cũng như tất cả đồng bào di tản trong tháng 03-1975 và 04-1975 đều được chính phủ Mỹ cho định cư tại Mỹ. Sau khi đến Mỹ vào khoảng tháng 05-1975, chúng tôi được tạm trú tại " Trại tỵ nạn Eglin AFB, thuộc tiểu bang Florida " chờ thủ tục để đi định cư. Chúng tôi đã được một nhà thờ ở Seattle, thuôc tiểu bang Washington bảo trợ, nhưng vì đã nộp đơn xin di cư sang một quốc gia khác nên chúng tôi đã từ chối đi Seattle, Wa.
Vì thương nhớ gia đình còn kẹt lại ở quê nhà, tôi đã quyết định từ bỏ nước Mỹ để xin di cư sang một đất nước tư bản khác. Cũng vì muốn liên lạc được với gia đình ngay ( vào thời điểm đó Mỹ và VN đã cắt đứt liên hệ ngoại giao) nên tôi đã từ bỏ " qui chế tỵ nạn " của chính phủ Mỹ mà chọn " qui chế di cư " của một quốc gia tư bản khác.
Chúng tôi rời khỏi nước Mỹ vào tháng 08-1975, chỉ vài ngày sau chúng tôi đã có thể liên lạc được với gia đình bên nhà và một năm sau đó chúng tôi đã có thể làm giấy tờ để bảo lãnh cho họ.
Vào mùa xuân năm 1981, Song Thân tôi cùng 2 người em cũng được đinh cư tại " xứ tư bản giẫy chết " này. Song Thân tôi nay đã khuất, trong thời gian định cư tại " xứ tư bản giẫy chết " này, họ đã có một cuộc sống rất là an bình, sức khỏe được chăm sóc tốt và kỹ lưỡng bởi hệ thống y tế tại nơi đây, nhờ vậy mà tuổi thọ của cả hai cụ khá là ngưỡng mộ ( vị nào cũng hơn 9 bó ), Nếu như họ còn ở lại sống với CSVN, tôi không nghĩ họ có tuổi thọ được như vậy, với hệ thống an sinh xã hội, thực phẩm, . . . .nhất là về hệ thống y tế của CSVN phục vụ cho đồng bào, thì chắc mọi người ai cũng đều biết.
LQC
Một thành viên thuộc PĐ225, Ác Điểu
Hè 2018
image
Tái bút:
- Mến chào tất cả các chiến hữu thuôc hai phi đoàn: PĐ225 & PĐ227, các chiến hữu KQVN, các chiến hữu thuôc mọi quân binh chủng trong QLVNCH. Tiện đây tôi xin chúc các bạn cùng quý quyến được dồi dào sức khỏe và mọi sự an lành.
- Đặc biệt đây, tôi cũng xin gửi đến các bạn hoa tiêu trong mọi cương vị “trưởng/phó” và các bạn cơ phi, xạ thủ. Những người đã đồng hành cùng tôi trong những phi vụ mà tôi kể ở trong hồi ký một lời xin lỗi, là tôi đã không thể nêu tên các bạn. Thú thật vì những sự kiện trên nó xẩy ra đã quá lâu (đã hơn 43 năm) nên tôi không thể nhớ ngay cả “ngày nào“. Cũng xin các bạn châm chước cho, nếu có điều gì sai sót trong hồi ký của tôi. (Sau hơn 43 năm, chất xám của tôi cũng đã bị giảm đi ít nhiều, xin thông cảm)
- Do sự động viên của các con & cháu trong gia đình, nên tôi “kể" lại những sự kiện (còn nhớ được sau 43 năm) đã xẩy ra với tôi trong vài tháng trước và sau ngày mà chúng ta thường gọi là ngày "Quốc Hận (30-04-1975)".
==============================================================DƯỚI ĐÂY LÀ VỊ TRÍ CỦA CÁC ĐIỂM MÀ TÔI VỪA ĐỀ CẬP Ở TRÊN, ĐƯỢC ĐỊNH VỊ TRÊN GOOGLE MAP:
Nhà của chúng tôi trước năm 1975, cũng như 2 điểm “THẢ & ĐÓN“ trên Google Map.
(Cả 2 căn nhà của chúng tôi đều đã bị Cộng Sản VN chiếm đoạt hết cả sau năm 1975, nay chúng đã có chủ mới)
Sau đây là các chú thích của 3 vị trí, đã được định vỊ trên Googgle Map, được diễn nghĩa như sau:
1- Bong bóng bay nhỏ màu đỏ với trái tim màu trắng ở trong, bên cạnh có hàng chữ “ Ngã Năm Bình Hòa “. Đây là vị trí nơi mà tôi đã thả anh “Trưởng “cũng như đón anh & GD sau đó.
2- Bong bóng bay màu xanh dương có căn nhà ở trong. Đây là vj trí nhà riêng của chúng tôi trước năm 1975.
3- Bong bóng bay to màu đỏ với vòng tròn màu đổ thẫm ở trong, bên cạnh hàng số 193 là vị trí mà tôi đáp trực thăng xuống đón gia đình tôi."
https://www.google.com/maps/place/193,+135%2F40+Nguy%E1%BB%85n+%C4%90%C3%ACnh+Ch%C3%
ADnh,+ph%C6%B0%E1%BB%9Dng+11,+Ph%C3%BA+Nhu%E1%BA%ADn,+H%E1%BB%93+Ch%C3%AD
+Minh,+Vietnam/@10.8113614,106.656249,10818m/data=!3m1!1e3!4m5!3m4!1s0x3175292a6980a315:0x19acb
6c4ac35025f!8m2!3d10.794279!4d106.674984
Nguon : http://acdieu.com/ac_dieu/LQC_chien_truong_xua/Hoi_ky_2_thang_cuoi_cung_1975.html
Nhà của chúng tôi trước năm 1975, cũng như 2 điểm “THẢ & ĐÓN“ trên Google Map.
(Cả 2 căn nhà của chúng tôi đều đã bị Cộng Sản VN chiếm đoạt hết cả sau năm 1975, nay chúng đã có chủ mới)
Sau đây là các chú thích của 3 vị trí, đã được định vỊ trên Googgle Map, được diễn nghĩa như sau:
1- Bong bóng bay nhỏ màu đỏ với trái tim màu trắng ở trong, bên cạnh có hàng chữ “ Ngã Năm Bình Hòa “. Đây là vị trí nơi mà tôi đã thả anh “Trưởng “cũng như đón anh & GD sau đó.
2- Bong bóng bay màu xanh dương có căn nhà ở trong. Đây là vj trí nhà riêng của chúng tôi trước năm 1975.
3- Bong bóng bay to màu đỏ với vòng tròn màu đổ thẫm ở trong, bên cạnh hàng số 193 là vị trí mà tôi đáp trực thăng xuống đón gia đình tôi."
https://www.google.com/maps/place/193,+135%2F40+Nguy%E1%BB%85n+%C4%90%C3%ACnh+Ch%C3%
ADnh,+ph%C6%B0%E1%BB%9Dng+11,+Ph%C3%BA+Nhu%E1%BA%ADn,+H%E1%BB%93+Ch%C3%AD
+Minh,+Vietnam/@10.8113614,106.656249,10818m/data=!3m1!1e3!4m5!3m4!1s0x3175292a6980a315:0x19acb
6c4ac35025f!8m2!3d10.794279!4d106.674984
Nguon : http://acdieu.com/ac_dieu/LQC_chien_truong_xua/Hoi_ky_2_thang_cuoi_cung_1975.html
Subscribe to:
Posts (Atom)






