Monday, April 7, 2025

 THƯ KHẨN GỬI TỚI CÁC VỊ LÃNH ĐẠO, CÁC NHÀ QUY HOẠCH, CÁC KIẾN TRÚC SƯ VÀ NHỮNG CÔNG DÂN CÓ TRÁCH NHIỆM VỚI ĐẤT NƯỚC

Tôi là một bà già, hôm nay, ngày đầu năm Ât Tỵ, tôi đã ở tuổi 84. Nhưng là một Kiến trúc sư cảnh quan đã có 58 năm thâm niên và đang còn rất minh mẫn, tôi vẫn phải viết ra những điều tâm huyết với trách nhiệm của mình.
Vâng, đã hơn 6 tháng nay, kể từ cơn bão Yagi trong đêm 28 tháng 9 năm 2024, gây ra trận sạt lở núi ở Làng Nủ tỉnh Lào Cai, đồng thời cũng lúc đó, bức tường bao quanh nhà tôi và một cây xoan trong vườn nhà ở Tây hồ Hà Nội ( cách Làng Nủ 220Km ) đổ sập. Tôi bị đánh thức dậy giữa đêm khuya và tôi giật mình, nghĩ đến DÒNG CHẨY ĐỊA MẠCH rồi từ đêm đó, gần như không đêm nào tôi ngủ yên được.
Bức tường bao quanh nhà tôi thì chỉ một tuần sau là sửa xong, cây xoan bị đổ thì cưa thành từng khúc làm củi là ổn, nhưng Làng Nủ bị vui lấp khi Núi Voi cao hơn 300m đổ sập xuống vùi kín cả thung lũng, cướp đi 58 mạng người trong đó 9 thi thể bị vùi sâu và bị cuốn trôi thì vẫn không sao tìm thấy nữa. Và cho dù Binh đoàn 12 quân đội đã rất tận tâm gấp rút trong hai tháng để xây xong 40 căn nhà xinh đẹp, đủ tiện nghi, thì những gia đình được tặng nhà đó đều là những gia đình vứa mới có tang, chưa kể có 3 gia đinh từ chối không nhận nhà vì người thân của họ không còn ai trở về ở nữa.
Thưa quý vị, chi tiết đó khiến tôi rất đau lòng và rất lo lắng, nhưng lo lắng hơn cả là kể từ hôm nay, cho du không có cơn bão Yagi quái ác như vừa qua, thì những trận sat lở, những thiệt hai về người và của như tại Làng Nủ, tại Thành phố Lào Cai, tại Hà Giang và tại Đông Triêù sẽ còn tiếp tục xẩy ra tàn bạo hơn khủng khiếp hơn, Thời tiết khắc nghiệt do biến đổi khí hậu toàn cầu đã được dự báo đang đe dọa cuộc sống của chúng ta. Đặc biệt là ở vùng hồ Thác Bà, tinh Yên Bái, nơi đó chỉ cách Làng Nủ 60 Km, trên cùng lưu vực của dòng Sông Chảy và có những dấu hiệu ĐỊA CHẤT THỦY VĂN còn nguy hiểm hơn ở Làng Nủ rất nhiều. Tôi đã nhận được lời cảnh báo này từ 60 năm trước.
Tôi không mê tín, nhưng sứ mệnh bắt tôi phải chứng kiến và đi sâu tìm hiểu tường tận về vùng Hồ Thác Bà và hôm nay, tôi có trách nhiệm kêu gọi tất cả mọi người HÃY CỨU THÁC BÀ, HÃY CỨU VẬN MỆNH CỦA ĐẤT NƯỚC
Tôi đến Thác Bà lần đầu vào mùa xuân năm 1964, khi mới ngoài 20 tuổi, đang là sinh viên học Kiến trúc tại thành phố Thương Hải. Được về Hà Nội ăn tết với gia đình, nhưng tôi không ăn Tết tại Hà Nôi, tôi cùng cô em gái mới là học sinh cấp 3, đi tầu đêm lên Yên Bái, rồi ngồi nhờ xe tải vào tận Công trường Thủy Điện, đó là nhà máy Thủy điện đầu tiên của nước ta do Liên Xô đầu tư. Cậu ruột tôi, ông Lê Đậu là trưởng phòng kỹ thuật của công trường và ông Nguyễn Văn Bé, cán bộ Miền Nam tập kết là giám đốc công trường.
Được hai vị chỉ huy công trường cho phép, ba ngày liền sau đó, tôi được chạy nhẩy khắp nơi và bên dòng Sông Chảy, tôi nhặt được rất nhiều đá quý có mầu săc long lanh và cũng trong 3 ngày đó, lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với các chuyên gia Liên Xô. Có một ông chuyên gia nghe giới thiệu tôi là một sinh viên đang học Kiến trúc từ Trung quốc về, ông gọi tôi đến gần và giảng cho tôi nhiều điều. Nhìn mấy hòn đá trong tay tôi, ông nói với tôi rằng “Cháu sẽ trở thành một Kiến trúc sư, cháu phải học VẬT ĐỊA LÝ CẢNH QUAN để hiểu rõ nơi này. Trước khi chọn thung lũng này để xây dựng nhà máy thủy điện, chúng tôi đã đi khảo sát nhiêu nơi, nhưng không nơi nào đặc biệt như nơi đây. Đây là một VỆT ĐỨT GẪY RÂT LỚN trong quá trình kiến tạo vỏ trái đất từ nhiều triệu năm trước và những hòn đá kia là ĐÁ RUBI, đươc phun lên từ trong lòng đất. Mỏ đá quý này chạy theo dòng sông dài hàng trăm km từ trên cao kia, đến đây thì sông rẽ ngược lên rồi quay ngoắt xuống chảy về xuôi và đá bị chặn lại, mai đây nước sẽ tràn về lấp đầy thung lũng sâu tới 50m phủ lên mỏ đá quý đầy năng lượng này, tạo thành một cái HỒ PHONG THỦY, một chiếc bình pha lê rất quý nhưng hễ chạm đến là sẽ vỡ”.
Tôi lắng nghe thích thú, nhưng tôi chẳng hiểu gì?.
Mãi sau này, học về PHONG THỦY ĐỊA MẠCH, tôi mới dần vỡ lẽ ra. Nhìn kỹ bản đồ Hồ Thác Bà, NÉT CHÉM sắc gọn theo hướng Tây Bắc Đông Nam, khiến tôi nhớ đến lời ông chuyên gia năm xưa và nhớ đến cụm từ “Chạm đến là sẽ vỡ”
Năm 1980 tôi xin được học bổng theo học Chương trình Quốc tế về Quản lý hệ thông Sinh Thai tại TU Dresden do UNEP- UNESCO tổ chức và đến năm 1992, tôi xin về hưu sớm, lập công ty riêng để có điều kiện đi nghiên cứu những ngành Khoa học mình yêu thich và để có tiền nuôi người cộng tác với mình.
Đầu tiên tôi đã hiểu PHONG THỦY không phải là mê tín dị đoan mà là một khoa học rất gắn bó vơi cuộc sống đời thường. Đặc biệt khái niệm về “huyệt quý” chính là “Năng lượng sinh học” do nhà vật lý người Pháp Andrre Bovis tìm ra và ông đã lấy tên ông, Bovis, làm đơn vị để đo. Tôi biết được Phương Tây cũng có những nhà Phong thủy xuất sắc. họ hiểu được Phong thủy tốt thi sực khỏe dồi dào, trí tuệ thông minh và làm ra nhiều của cải vật chất. Tôi đã biết KTS hàng đầu nước Mỹ Fredrick Law Olmsted (1822-1903) là một tấm gương thành công khi ông đưa ra sơ đồ Quy hoạch cảnh quan thành phố Boston với hệ thông hồ nước, công viên nối nhau rất tự nhiên và nhờ trục Phong Thủy đó, thanh phố Boston chỉ có hơn 600.000 dân. nhưng có tới 70 trường đai học và Viện nghiên cứi Khoa học. Đó là nơi có hiệu xuât nghiên cứu khoa học rất cao và thu nhập tài chính cao nhất nước Mỹ. Tôi đã có dịp nói chuyện với Gs Dukakis, cưu thống đốc bang Massachusetts nước Mỹ, ông rất tự hào về thành phố Boston của ông. Khi được hỏi về những kinh nghiệm trong hai nhiệm kỳ làm Thống đốc bang Massachusetts, Gs Dukakis trả lời rằng “Tôi luôn luôn quan tâm đến MÔI TRƯỜNG SỐNG của người dân chúng tôi và nhờ đó, họ đã phát huy trí tuệ cao độ và làm ra của cải vật chất cao nhất nước Mỹ”. Gs Dukakis nói đến MÔI TRƯỜNG SỐNG ở đây, tức là nói đến HỆ THỐNG PHONG THỦY.
Tại Hồ Thác Bà, chúng tôi phát hiện ra Đỉnh núi Cao Biền và chúng tôi bỏ nhiều thời gian để tìm hiểu xem 1200 năm trước, thầy phong thủy nổi tiếng đó đã làm gì ở đinh núi cao 508m nơi hoang vu này?. Thật lạ, trong tất cả các sách nói về hoạt động của Cao Biền ( 821-887) thì không có sách nào nói đến việc ông ta đã đến làm gì ở nơi đây?, nhưng trên bản đồ quốc gia do Bộ tài nguyên môi trường quản lý thì đỉnh núi Cao Biền là cái tên một đỉnh núi thuộc xã Vĩnh Kiên huyện Yên Bình đã tồn tại hàng ngàn năm trước và dưới chân núi có một Bộ tộc Cao Lan sinh sống và canh gác.
Tháng 10 năm 2013 chúng tôi đã tổ chức một đoàn khảo sát đỉnh núi và đã được cụ Già Bản tiếp đãi ân cần, cụ cho cơm no rượu say, cho ngủ qua đêm để kiểm tra, rồi sang hôm sau cụ cử người phát cây mở đường và cho mang theo xôi, gà, hoa trái, dẫn chúng tôi lên núi, bước trên những bậc thang xếp đá ẩn dấu dưới bụi cây và hướng dẫn đoàn khảo sát tế lễ trên một hốc Giếng Sương Trời, nơi xưa kia Cao Biền đã đến ở và luyện khí. Chúng tôi đã đo Năng lượng sinh học trên đỉnh núi bằng phương pháp Cảm xạ học của nhà vật lý người Pháp Andrre Bovis và thu được kết quả đạt 20.000 Bovis. Như vậy là trong quá trình đi tìm các HUYỆT PHÁT VƯƠNG ở nước ta, Cao Biền phát hiện ra đỉnh núi này có Năng lượng rất mạnh, ông ta biết không thể phá nổi nên nẩy ý đinh muốn chiếm nơi đó cho riêng mình, ông ta đã bí mật đưa một nhóm người con cháu họ Cao đến ở nơi chân núi để hầu hạ ông ta và canh giữ ngọn núi cho ông ta, rồi về Đại La xây Vương Phủ với âm mưu ở lại làm vua trên đất ta. Nhưng số ông ta không được làm vua, cuối cùng âm mưu của Cao Biền bị bại lộ, ông ta bị Đường Y Tôn gọi về giết chết? Để lại Bộ tộc họ Cao sống dưới chân núi hơn ngàn năm qua. Tết năm 2018, chúng tôi đã đến phát gạo thiện nguyện cho 124 gia đình trong thôn Cao Lan và ăn Tết tại nhà trưởng thôn sau trận bão lớn năm đó. Thật lạ, tôi được tin báo mộng phải chuẩn bị 130 bao gạo, nhưng danh sách chỉ có 124 gia đình nhận gạo?
Trong Chiếu dời Đô của vua Lý Thái Tổ năm 1010, Nhà vua đã gọi Cao Biền là Cao Vương, có lẽ vì coi trọng tài năng của ông ta và it ra ông ta cũng “có công” giup ta phát hiện ra và đã bố trí người bảo vệ huyệt quý đó. Ngày đó, Vua Lý Thái Tổ đã được Lý Quốc Sư - Thiền sư Vạn Hạnh (938 – 1018 ) chỉ dẫn. Ra đời sau khi Cao Biền đã mất, Thiền sư Vạn Hạnh từng làm Cố vấn cho vua Lê Đại Hành ở Hoa Lư nhưng lại là người nhìn ra chân mệnh Đế Vương của Lý Công Uẩn, nên đã góp sức lập ra Triều Lý và giúp vua Lý Thái Tổ về Đại La xây Kinh đô Thăng Long.
Chắc hẳn Thiền sư Vạn Hạnh đã phát hiện ra âm mưu bí mât của Cao Biền và sự có mặt của Bộ Tộc Cao Lan canh giữ một huyệt đạo linh thiêng mà ngay nay ta đã hiểu huyệt đạo đó đã gắn liền với vị thế địa chinh trị của Thăng Long đầy Hào khí khi xưa và Hà Nội ngày nay có một vai trò quan trọng trên trường quốc tế.
Trên hình CON RỒNG CHÂU Á lớn nhất thế giới, thì Thủ đô của chúng ta ở nơi thật đặc biệt. Đó chính là vị trí trên phần đuôi con Rồng đi từ đỉnh Everest trên Cao nguyên Tây Tạng cao 8800m, qua Vân Nam, đến đỉnh nui Phan- si- pan gọi là Tổ sơn cao 3143m, rồi đến Hồ Thác Bà mênh mông, tiếp thêm năng lượng trước khi đến Trấn sơn Ba Vì cao 1296m, toả linh khi cho Thăng Long Núi chầu Sông Tụ, tạo nên cột nước xoáy như con Rồng bay vut lên Trời Cao mang hình tượng Thăng Long. Phần đuôi Rồng chìm hẳn dưới Biển Đông từ mốc số 0 ở Cảng Vân Đồn, đến điểm cuối ở Vịnh Min- đa- nao của Philippin sâu 11000m, nơi chứa đầy của cải. Bởi thế, giữ được Núi Cao Biền là giữ được Thăng Long đầy hào khí và giữ được Biển Đông. mà Trung Quốc đang ngày đêm dòm ngó.
Thiên nhiên đã cho ta một mỏ đá quý chứa đầy năng lượng từ hàng triệu năm trước, Cao Biền đã giúp ta đánh dấu một huyêt đạo linh thiêng 1200 năm trước và Hồ nước nhân tạo của nhà máy thủy điện đã phủ kín mỏ đá quý đó, để chúng ta có mặt nước rộng 23.400 ha, như một THUNG LŨNG SILICON TRÊN MỘT ĐÔ THỊ NỔI, BAO GỒM KHU CÔNG NGHỆ CAO - CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC- VƯỜN ƯƠM TRÍ THỨC QUÔC GIA - TRUNG TÂM ĐÔNG NAM Á KẾT NỐI ĐA QUỐC GIA VÀ DU LICH THIỀN, YOGA, NGHỈ DƯỠNG CHỮA BỆNH.
Taị Hồ Thác Bà, chúng tôi đã tổ chức Hội thảo KH nhiều lần và đã đề xuất xây một Đô thị Khoa học quy mô như thành phố Boston. Trước mắt sẽ xây khoảng 10 trường đại học tầm cỡ quốc tế bằng vật liệu nổi và khai thác 1300 hòn đảo ( chính là những đỉnh núi thấp khi xưa ) có chỉ số năng lượng sinh học từ 14000 đến 17000 Bovis. Tại đây có thể xây rất nhiều Phòng nghiên cứu khoa học công nghệ cao và nhiều Thiền đường được bao quanh bởi núi rừng tĩnh lặng huyền bí, có những phòng tập Yoga 5 sao yên tĩnh dưới lùm cây, trong hang đá và đó là loại hình kinh doanh rất đắt đỏ để phục vụ những người giầu sang trên khắp thế giới mang nhiều bị tiền đến để luyện tập nghỉ dưỡng với giá rất cao. Đó là phương pháp Thiền được ưa chuộng ở Phương Tây có tên là ”Giảm tress dựa trên sự tỉnh giác” MBSR. Đó là loại hình DU LICH TÂM LINH thu hút giới thượng lưu đến hưởng thụ.
Đập Thủy điện Thác Bà nằm ở góc Đông Đông Nam hồ nước đưa dòng Sông Chảy hất lên phía Bắc rồi mới quặt xuống qua Thác Ông đi về xuôi. Dự kiến cách Đập Thủy điện 300m về phía thượng nguồn bố trí một THÁP NƯỚC cao 150m, giống như tháp Jet d Eau ở hồ Geneva, tượng trưng cho NGUỒN CỦA CẢI KHÔNG BAO GIỜ CẠN.
ĐÔ THỊ NỔI nhưng không dùng vật liệu tre gỗ dễ hư hỏng và cần phải khắc phục nhu cầu sinh hoạt vệ sinh làm ô nhiễn lòng hồ, chúng tôi đã thực nghiệm thành công và đã sở hữu HAI CÔNG NGHỆ XANH, để đảm bảo cho một Đô thị nổi chứa 500.000 người, diện tích sàn xây dựng sẽ chiếm 10% tức là 2.340.000m2. Diện tích mặt hồ phần còn lại là 22.000 ha sẽ giành cho các hoạt động trên nước như thể thao và vui chơi giải trí. Chúng tôi đã cử người đi học cách sản xuất và ứng dụng vật liệu nhẹ và được chuyển giao từ công ty Iris Koto làm nhà nổi của Australia và sản xuất Men Vi sinh hiếu khi phát triển từ EarthCare Systems Inc của tác giả Mỹ Philip Fredericks để giữ cho hồ nước chứa gần 4 tỷ khối luôn luôn sạch.
Thưa quý vị, chúng tôi đã báo cáo kết quả nghiên cứu hai lần.
Lần thứ nhất, Ngày 1 tháng 7 năm 2013, tại phòng khách UBND tinh Yên Bái, nhóm nghiên cứu KH do Gs Nguyễn Mai, Chủ tịch Liên hiêp hội Đầu tư nước ngoài dẫn đầu đã làm việc với ông Phạm Duy Cường Chủ tich và bà Ngô Thị Trinh Phó Chủ tịch UBND tỉnh. Tôi đã trực tiếp đưa ra các khuyến cáo về bảo vệ vùng hồ chống nạn trộm cắp đá quý dưới lòng hồ, hạn chế đào bới xây dựng xung quanh hồ để chống sói lở… và đề nghị ông Chủ tich cử người hợp tác với chúng tôi nghiên cứu ĐÔ THỊ NỔI, trước mắt sẽ xây dựng thực nghiệm một Thiền đường bằng vật liệu NHÀ NỔI. Ông Phạm Duy Cương đã tiếp chúng tôi khá niềm nở và đã ký công văn trả lời ngày 24 tháng 7 năm đó, tuy hoan nghênh nhưng chỉ trên giấy, ông ta còn bận quan tâm việc khác, nên đã nhận hậu quả, sau khi lên chức Bí thư tỉnh ủy
Lần thứ hai, cuối năm 2019, khi TBT Chủ tịch Nước Nguyễn Phú Trọng, biết chúng tôi đã làm việc với tỉnh Yên Bái nhưng chưa thành, ông đã cử người đến tận nhà tôi yêu cầu và tôi đã gửi toàn bộ hồ sơ nghiên cứu đến tận tay TBT với hy vọng ông lưu tâm và có ý kiến chỉ đạo khi cần đến.
Rât tiếc, hôm nay TBT Nguyễn Phú Trọng đã đi xa, cơn bão khủng khiếp đã ập đến, QUY HOẠCH KHU DU LICH QUỐC GIA HỒ THÁC BÀ đã đươc phó TT Trần Hồng Hà phê duyệt và ngày 27/8/2024, UBND tỉnh Yên Bái đã giao cho Tập đoàn Măt Trời - Sungroup thực hiện, có sự chứng kiến của TTg Phạm Minh Chính.
Đọc bản Quyết định phê duyệt dài 30 trang, rồi xem bản vẽ quy hoạch, tôi cảm thấy rất buồn. Tôi không thấy một dòng nào nhắc đến những lời khuyến cáo và đề xuất mà chúng tôi đã đưa ra. Tôi chỉ thấy các nhà hàng khách sạn mọc lên, thấy nhiều biệt thự rừng, thấy HỆ THỐNG CÁP TREO nối đỉnh núi này đến đỉnh núi kia, thấy rừng cây bị chặt phá, thấy nhiều cột sắt đâm thủng các huyệt đạo linh thiêng mà xưa kia vua Đường âm mưu triệt phá nhưng không phá nổi, thấy tất cả đổ sập giống như Núi Voi đổ xuống Làng Nủ ở Lào Cai.
Chúng tôi lên Hồ Thác Bà kiểm tra, tại nhà hàng RUBI, chúng tôi thấy hai bức ảnh TTg Phạm Minh Chính và ảnh Phó TTg Trần Hồng Hà được phóng rất to, có người gặp chúng tôi quảng cáo mời mua đất xây biệt thự rừng với giá 1,8 tỷ đồng một xuất. Trở về Hà Nội chúng tôi đọc được Bản Quyết định phê duyệt Quy hoạch Bán đảo Quảng an phường Quảng Bá Quận Tây Hồ do Phó Chủ tịch UBND Hà Nội Dương Đức Tuấn ký. Vậy là Sungroup đã được chính quyền Hà Nội cho phép mở trục đường rộng vào Nhà hát Thăng Long ở ĐẦM TRỊ để họ rao bán 9 tòa nhà đen thui, có gần 1000 căn hộ chung cư dinh líu đến cựu Chủ tịch Nguyễn Đức Chung, đã bị ế ẩm mấy năm, để thu về vài chục ngàn tỷ mang lên Thác bà xây Cáp treo?
Thưa quý vị, năm 1998, khi Phó TT Ngô Xuân Lộc ký phê duyệt Dự án Thủy cung Thăng Long ở Bán đảo Tây Hồ Hà Nội, tôi đã viết 5 thư khuyến cáo gửi TT Phan Văn Khải phân tích kỹ những tai hai của TCTL và ngày 26/3/1999 Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký Quyết định số 233 /QĐ-ttg thu hồi 2 Quyết định do Phó TT Ngô Xuân Lộc và Phó TT Nguyễn Công Tạn đã ký. Do đó dự án Thủy cung Thăng Long đầy tai tiếng ngày đó đã bị dừng lại.
Còn hôm nay?, vấn đề ở Thác Bà nghiêm trọng hơn nhiều, nó đang làm cho tai họa ở Hồ Tây 26 năm trước được sống lại. Hóa ra những năm tháng làm việc và nghiên cứu khoa học cùng sự đóng góp của lớp người như chúng tôi và cả những quyết định của lớp lãnh đạo tiền bối như Thủ tướng Phan Văn Khải đều đã bị vứt vào sọt rác hết? Thăng Long đầy hào khí khi xưa và Hà Nội Thủ đô anh hùng ngày nay đang bị đe dọa bởi những kẻ tham tiền và đầu óc thiển cận. Họ không hiểu rằng những hành động của họ là tội ác tàn phá đất nước hay sao?
Tôi không biết nên khuyên can thế nào? Khoa học không phải là trò đùa. Thác Bà hôm nay sẽ là một Đô thị vệ tinh của Thủ đô Hà Nội, nếu cần, chỉ 20 phút là trực thăng bay đến nơi. Nó sẽ mang đến cho đất nước ta niềm kiêu hãnh và tiền của. Trên thế giới, không có một Thủ đô văn minh nào có một thành phố vệ tinh như thế. Nước ta đang bước vào một kỷ nguyên mới. Các ngành công nghệ cao như vi mạch điện tử đang là lợi thế vô cùng lớn, mà không thể lấy những trò du hý tầm thường như cáp treo để so sánh cả về giá trị văn minh lẫn lợi ích tài chính. Với tư cách là một nhà khoa học có nhiều trải nghiệm, tôi kêu gọi mọi người, kể từ cấp lãnh đạo đến thường dân, hãy suy ngẫm và hành động đúng đắn. Còn nếu ỷ quyền thế chay theo đồng tiền, thì xin nhìn gương người đi trước. Trời sẽ không dung và Đất sẽ không tha.
KTS TRẦN THANH VÂN
Like
Comment
Share
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
15m 
Shared with Your friends
Friends
Độc đáo di tích lịch sử Sở Trà ở Đắk Nông - Đắk Nông
vietnam.vn
Độc đáo di tích lịch sử Sở Trà ở Đắk Nông - Đắk Nông
Ký ức về Sở TràKhoảng những năm 30 của thế kỷ XX, thực dân Pháp vào vùng đất Tây Nguyên mở các đồn điền, trồng các loại cây như cà phê, trà và thuê công nhân là người dân tộc thiểu số.Ông Điểu B’Lưu (SN 1958), dân tộc M’nôn...
Like
Comment
Share
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
36m 
Shared with Your friends
Friends
Like
Comment
Share
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook
Facebook

TIỀN ĐỒN BIÊN PHÒNG BU PRANG - ĐỨC LẬP - TIỂU KHU QUẢNG ĐỨC -. NHỮNG TRẬN CHIẾN QUYẾT LIỆT NAM CAO NGUYÊN ĐAK LAK .

31 Tháng Mười Hai 20214:49 CH(Xem: 3179)
Trận chiến Bu Prang, trận tấn công lớn nhất của cộng quân trên chiến trường Cao nguyên vào 3 tháng cuối năm 1969
Cuối tháng 10/ 1969, CS đã công khai việc đóng quân trên phần đất Cam Bốt khi tung lực lượng từ bên kia biên giới tấn công vào nhiều tiền cứ biên phòng của liên quân Việt-Mỹ ở phía Tây Quảng Đức, cụm tiền cứ bị cộng quân tấn công dữ dội nhất là Bu Prang, nằm ở phía Tây Nam Ban Mê Thuột, cách thị xã này 65 Km, và cách biên giới Việt-Căm Bốt 8 Km. Đây là trận tấn công quy mô nhất của cộng quân trên chiến trường Cao nguyên vào ba tháng cuối của năm 1969, mức độ khốc liệt của trận chiến đã thu hút dư luận quốc tế về sự leo thang chiến tranh của CS. Dựa theo các bản tin chiến sự do Khối Thông tin-Giao tế Dân sự thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị QL/VNCH phổ biến trong các cuộc họp báo hàng ngày, diễn tiến về trận chiến ở Bu-Prang được ghi nhận như sau.
* 30 ngày kịch chiến quanh căn cứ biên phòng Bu Prang:
Trước khi tung nhiều trung đoàn bao vây căn cứ Bu Prang, ngày 1 tháng 11/1969, Cộng quân đã pháo kích liên tục với hàng ngàn đạn pháo đủ loại vào các tiền cứ Annie, Susan và Kent trong vùng Bu Prang, đây là những tiền cứ hỏa lực do lực lượng Biệt kích và Pháo binh Hoa Kỳ phòng ngự. Ngày 2 tháng 11/1969, để bảo toàn lực lượng, quân trú phòng tại các tiền cứ nói trên triệt thoái để tăng cường lực lượng cho các khu vực khác tại Quảng Đức.
Ngay sau khi lực lượng trú phòng rút khỏi 3 căn cứ nói trên, sáng ngày 3 tháng 11/1969, Cộng quân tung 3 trung đoàn bộ binh và 1 trung đoàn pháo binh bao vây và tấn công căn cứ Bu Prang. Lực lượng trú phòng lúc bấy giờ có 500 Biệt kích quân Biên phòng (Dân sự chiến đấu) và 50 quân nhân Mỹ thuộc liên đoàn 5 Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ trong vai trò cố vấn và trợ lực. Sau hai ngày tấn kích, Cộng quân gia tăng áp lực bao vây chặt căn cứ, phi cơ tiếp tế và tải thương đã không đáp xuống được vì cộng quân pháo kích dữ dội, 2 khẩu pháo 105 trong căn cứ đã bị phá hủy. Từ ngày 7 đến 14/11/1969, Không quân Việt-Mỹ đã liên tục xuất trận oanh kích vào đội hình cộng quân khai triển quanh căn cứ. Ngày 14 tháng 11, giao tranh dữ dội đã diễn ra khi một đơn vị bộ chiến VNCH nỗ lực tấn công để chọc thủng phòng tuyến của cộng quân ngoài căn cứ, cận chiến đã diễn ra ác liệt, phi cơ đã ném bom lầm khi hai bên đang giao tranh, đơn vị VNCH đã có 20 quân nhân bị tử thương, 21 bị thương, phía cộng quân có 95 bỏ xác tại trận địa.
Ngày 15/11, phi cơ chiến lược B 52 đã dội 180 tấn bom xuống vị trí đóng quân của các trung đoàn cộng quân trong khu vực Bu Prang, cũng trong ngày này, phi cơ quan sát phát giác một đoàn chiến xa cộng quân từ ở phần đất Cam Bốt vượt qua biên giới tiền về hướng Bu Prang. Ngày 16/11, 200 đạn trọng pháo của cộng quân từ phần đất Cam Bốt pháo vào căn cứ Bu Prang, ngay sau đó, phi cơ Việt-Mỹ đã xuất trận oanh kích vào các vị trí đặt pháo của cộng quân ở trên đất Cam Bốt cách biên giới 1 km. Một tòa nhà lớn trong khu vực oanh kích bị sập.
Ngày 17 tháng 11, hai tiểu đoàn bộ chiến VNCH hành quân giải tỏa áp lực cộng quân ở gần Bu Prang và Đức Lập. Được sự yểm trợ mạnh mẽ của Pháo binh và Không quân Việt-Mỹ, lực lượng VNCH đã hạ sát 243 cộng quân, buộc CS phải rút về hướng biên giới. Từ chiều 18 đến sáng ngày 19/11, phi cơ chiến thuật B 52 dội bom 10 lần với 900 tấn bom xuống các địa điểm đóng quân quanh Bu Prang, Đức Lập, Bố Đức tỉnh Quảng Đức. Ngày 20 tháng 11, Cộng quân tiếp tục tấn kích vào Bu Prang, phi cơ chiến lược B 52 đã xuất trận oanh tạc dữ dội vào khu vực quanh căn cứ này. Từ 21 đến 30 tháng 11, Cộng quân vẫn áp lực nặng căn cứ, hệ thống không vận tiếp tế cho căn cứ gặp khó khăn vì pháo kích. Trong hai ngày 31/11 và 1 tháng 12, Cộng quân pháo kích dữ dội vào căn cứ trong nhiều giờ liền, nhưng vẫn không mở được cuộc tấn công bằng bộ binh, B 52 và phi cơ chiến thuật đã cấp thời can thiệp, oanh kích ngăn chận địch quân. Từ đêm 2/12 đến sáng ngày 3 tháng 12/1969, để giải tỏa căn cứ Bu Prang đã bị bao vây 1 tháng, B 52 đã dội bom 7 lần với hơn 1 ngàn tấn bom xuống khu vực quanh căn cứ Bu Prang. Trong 30 ngày bị bao vây, lực lượng trú phòng tại căn cứ đã đẩy lùi nhiều cuộc tấn công bằng bộ binh của cộng quân, giữ vững tuyến phòng ngự. Ngày 4/2/1999, B 52 lại xuất trận “dọn sạch” các vị trí đóng quân của cộng quân quanh căn cứ, áp lực CS đã giảm mạnh, trực thăng tải thương và tiếp tế cho quân trú phòng đã đáp xuống được căn cứ. Cũng trong ngày 4/2/1969, bộ Ngoại giao VNCH đã gửi kháng thư cho Ủy hội Quốc tế phản đối Căm Bốt cho CS đồn trú trên đất Miên và tấn công vào Quảng Đức từ 30 tháng 10/1969. (Thời gian này, quốc trưởng Căm Bốt là Sihanouk thân Cộng, ông đã bị tướng Lon Nol lật đổ vào tháng 4/1970 khi đang công du).
* Đại tướng Westmoreland và kế hoạch biên phòng Khi chính thức được bổ nhiệm giữ chức tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam thay thế đại tướng Harkins vào tháng 6/1964, đại tướng William C. Westmoreland đã đặc biệt quan tâm đến việc phòng ngự ngăn chận cộng quân dọc theo biên giới. Chính ông đã trình với Ngũ Giác Đài tăng cường lực lượng Hoa Kỳ tại Cao nguyên để phối hợp với các đơn vị VNCH tổ chức hệ thống phòng thủ dọc biên giới. Ông đã nhiều lần đến Quảng Đức để thị sát tình hình và chỉ thị cho bộ chỉ huy lực lượng Hoa Kỳ tại Vùng 2 yểm trợ Quân đoàn 2 (thời kỳ này, tư lệnh Quân đoàn là thiếu tướng Lữ Lan) để tăng cường lực lượng phòng thủ các tiền cứ và căn cứ hỏa lực tại Quảng Đức. Tháng 6/1968, trước khi rời Việt Nam về Hoa Kỳ để đảm nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng Lục quân, ông đã lên tiếng báo động về sự leo thang của CS và lưu ý các giới chức quân sự Việt Mỹ là CS sẽ vận dụng đường mòn Trường Sơn để tiến hành các cuộc xâm nhập quy mô vào Tây nguyên và miền Đông Nam phần. Trong bản điều trần ngày 8/10/1969 và được Hạ Viện Hoa Kỳ công bố ngày 1/12/1969, tướng Westmoreland đã nhấn mệnh những điểm như sau: Lực lượng Hoa Kỳ còn phải ở lại giúp Việt Nam Cộng Hòa nhiều năm nữa, vẫn có thể chiến thắng nếu muốn; đã có thể chiến thắng nếu tiếp tục oanh tạc cho đến nay.
1973 Đại Tá Nguyễn Hậu Thiện Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Quảng Đức .
Phản ứng của Địa Phương Quân Quảng Đức là tỉnh Đak Nông bây giờ .
Trong những ngày tháng 7.73, những cuộc giao tranh lẻ tẻ giữa các đơn vị Địa Phương Quân Quảng Đức và cộng quân đã cho thấy những dấu hiệu âm ỉ của một mặt trận lớn, kể từ sau Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Đại Tá Nguyễn Hậu Thiện, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Quảng Đức đã tổ chức những cuộc hành quân thám sát liên tiểu đoàn Địa Phương Quân lục soát đến tận đường ranh giới Việt - Miên, chung quanh khu vực đồn biên phòng Bu Prang cũ ( 5Km tới biên giới Miên - Căm Bốt - KamPuChia ) nằm dựa bên con lộ 309 hoang phế. Đồn Bu Prang mới ( 8 Km tới biên giới Miên ở thời điểm năm 1973 đã được bố trí phía dưới ngã ba Tuy Đức và nằm án ngữ ngay trên trục Quốc Lộ 14 dẫn về qua.
Trước những dấu hiệu lạ thường đó, Đại Tá Thiện khẩn xin Quân Đoàn II gửi quân tăng viện. Quân Đoàn II đáp ứng bằng cách gửi một tiểu đoàn ĐPQ của Tiểu Khu Darlac, là tỉnh giáp giới với Quảng Đức, tỉnh lỵ là Ban Mê Thuột. Nhưng đến tháng 9.1973, thì Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn điều động tiểu đoàn Darlac trở về và gửi hai tiểu đoàn ĐPQ từ Khánh Hòa lên. Như vậy dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Thiện có tất cả bốn Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, ông cẩn thận bố trí tất cả lực lượng này vào hai Đồn Bu Prang và Bu Bong. Mỗi tiểu đoàn được tăng cường một pháo đội Pháo Binh 105 ly. Về phía Gia Nghĩa và những điểm trọng yếu còn lại trong tỉnh Quảng Đức, Đại Tá Thiện có thể an tâm với sự bảo vệ hùng hậu của Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân, trong đó có Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân và người Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng trẻ tuổi Vương Mộng Long, mà sẽ cùng đánh văng tất cả các thành phần cộng quân nào đụng đến vị trí của họ.
Song song với những cuộc bố trí quân của QLVNCH ở Quảng Đức, phía cộng sản cũng gấp rút thành lập một lực lượng đặc biệt gọi là Đơn Vị 95, tập trung quân số tương đương một sư đoàn được hợp thành từ Trung Đoàn bộ 205, Trung Đoàn 429 Đặc Công, Tiểu Đoàn 46 Trinh Sát và Tiểu Đoàn 20 Chiến Xa. Hỏa lực yểm trợ rất hùng hậu, với Trung Đoàn 208 Pháo Binh, đơn vị Phòng Không tăng cường thêm loại đại bác 23 mm và hỏa tiễn tầm nhiệt SA7. Tại sao đối phó với bốn tiểu đoàn Địa Phương Quân mà bọn tướng tá Hà Nội phải điều động đến một sư đoàn? Có hai lý do để giải thích. Thứ nhất, cộng sản dường như đã không có thì giờ hoặc đã đốt giai đoạn trinh sát hiện trường, tập quán chiến thuật mà chúng luôn luôn vẫn làm. Tấn công đối phương mà chưa nắm vững địch tình, thì chỉ có cách là đánh liều và dùng số đông để đè số ít. Thứ hai, từ sau thảm bại nhục nhã trong năm 1972, Hà Nội không còn dám coi thường hiệu năng chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nữa, nên hễ đánh là chúng phải dùng chiến xa và quân số thật vượt trội, rồi bổ sung thêm nhiều súng phun lửa để quyết đánh gục quân Nam.
Bắt đầu vào khoảng thượng tuần tháng 5. 73, cộng sản đã bất chấp Hiệp Định Ba Lê ký kết ngày 27.1. 73. Chúng đã đưa một tiểu đoàn từ Phước Long ồ ạt kéo đến tấn công Bu Bong và Bu Prang. Mục đích là cầm chân lực lượng diện địa Quảng Đức để cho các đơn vị công binh của cộng quân có thể làm một con đường vận chuyển từ Phước Long qua tỉnh Mondol Kiri của Kampuchea và ngược lên Darlac, Kontum, song song với Quốc Lộ 14 phía bên trái từ Quân Khu III đi lên.
Tuy nhiên công trình này bị gián đoạn liên tục vì Đại Tá Nguyễn Hậu Thiện đã điều động Địa Phương Quân và Pháo Binh tấn công mãnh liệt vào những vị trí đóng quân của địch. Do vậy, công binh địch không hoạt động được. Vì tôn trọng Hiệp Định Ba Lê, chiến sĩ Địa Phương Quân đã không truy kích bọn chúng. Lợi dụng tình thế đó, như những con chuột ẩn trốn khi động và thò mặt khi yên tĩnh, nhiều toán cộng thường xuất hiện cướp phá, giật mìn và pháo kích bừa bãi vào các khu dân cư gây thương vong cho đồng bào ta không phải là ít. Một đơn vị cộng quân bất ngờ đột nhập chiếm được Nhà Thờ Đồn Trà làm bộ chỉ huy công trường và dự trữ thực phẩm cho đám quân làm đường. Trong những trận giao tranh, chiến sĩ Địa Phương Quân đã tịch thu rất nhiều gạo, cá khô, mắm và muối. Song song với công tác làm đường, giặc cộng còn chiếm một buôn Thượng để thành lập quận. Theo nguồn tin tình báo thì chúng đã đặt tên là quận Kiến Trực.
Thật buồn cười, quận thì có mà dân thì không. Đa số dân sống trong vùng này là người Thượng. Khi quân cộng đến, đồng bào Thượng kéo nhau chạy ra vùng quốc gia để tìm kiếm sự bảo vệ và tìm cách mưu sinh. Anh Ca Don kể lại:
Gia đình anh sống ở đây từ lâu với nghề trồng rẫy, nhưng khi CS đến chúng bắt tất cả đồng bào Thượng trong buôn phải đi làm dân công cho chúng. Ăn uống thì phải tự túc nên đã làm cho dân chúng rất khốn đốn và đói khổ trong vòng nhiều tháng. Khi không được vừa lòng thì bọn lính cộng đánh đập dân Thượng rất tàn nhẫn. Vì thế anh Ca Don đã tìm mọi cách để trốn thoát ra khỏi quận “Kiến Trực” của chúng. Anh Ca Don còn cho biết, mặc dù đường rừng núi đối với anh quá quen thuộc, anh có thể đi bất cứ ngày đêm lúc nào cũng được, nhưng bọn CS canh chừng rất nghiêm nhặt nên rất khó trốn đi. Một trường hợp may mắn cho người dân ở đây khi vào một đêm, CS kéo quân tấn công Đồi 943 bị các chiến sĩ Địa Phương Quân đập cho một trận kinh hồn, làm chúng ôm đầu kéo nhau chạy về “quận” Kiến Trực. Pháo Binh của quân ta rót theo, dội xuống “quận” vài trăm trái đạn làm cho mọi thứ trong đó tung hê đảo lộn cả lên. Nhân lúc hỗn loạn ấy, anh Ca Don và một số đồng bào Thượng đã chạy thoát được.
Lưới tình báo của Tiểu Khu Quảng Đức cũng phát giác được âm mưu của giặc cộng định đánh chiếm những căn cứ thuộc phạm vi tiền đồn Bu Prang để bắt dân Kinh lẫn Thượng về làm dân “quận” Kiến Trực. Để thực hiện điều đó, một trung đoàn cộng sản di chuyển từ Lộc Ninh, tỉnh Bình Long, lên bao vây Bu Prang. Để ứng phó, Đại Tá Thiện điều động một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân lên tăng cường mặt trận. Đích thân Đại Tá Thiện đến quan sát và chỉnh đốn sự bố phòng của quân ta. Mặt trận Bu Prang bắt đầu sôi động, khi hàng trăm quả đạn 82 ly dội lửa xuống Căn Cứ Bạch Phong nằm trên ngọn đồi có độ cao 960 mét, buộc đơn vị trấn giữ triệt thoái. Đại Tá Thiện lệnh cho Tiểu Đoàn 258 và 259 Địa Phương Quân vào chiến trường, tổ chức tấn công tái chiếm Đồi 960.
Tại vùng biên giới những ngày ấy, đột nhiên trời đổ mưa và sương mù dầy đặc, gây rất nhiều khó khăn cho những phi vụ không yểm. Đại Tá Thiện bay chỉ huy trên một chiếc UH 1 vừa hạ cánh xuống bộ chỉ huy thì đã bị cối 82 ly đón chào ầm ĩ. Người Hạ Sĩ Quan đứng dưới đất ra thủ hiệu chỗ bãi đáp trúng miểng pháo bị thương rất nặng. Trung Tá Sơn, Tiểu Khu Phó kiêm chỉ huy cuộc hành quân điều động Tiểu Đoàn 258 ĐPQ của Đại Úy Đề đánh lên đồi từ hướng Tây Bắc, cùng với Tiểu Đoàn 259 ĐPQ của Thiếu Tá Long tấn công mặt Bắc. Các cánh quân của Đại Úy Đề vừa vào đến chân núi thì nhiều trăm trái đạn pháo từ trong những khu rừng thâm u và cao điểm dội xuống, đồng thời đại liên địch từ trên đồi quạt xuống ác liệt chận lại.
Đồi 960 là một ngọn đồi trọc có xạ trường rất trống trải. Công sự thiết lập trên căn cứ đã bị quân giặc chiếm lấy tử thủ với hỏa lực rất mạnh, nên quân ta đã bị sựng lại phía dưới chưa thể tiến lên được. Một phóng viên chiến trường được anh Nguyễn Trước, sĩ quan báo chí tiểu khu hướng dẫn cùng bò lên đến chỗ Đại Úy Đề:
- Chúng đánh dữ quá làm sao lên được Đại Úy?
Đại Úy Tiểu Đoàn Trưởng kề tai người phóng viên: - Lát nữa anh sẽ thấy!
Khoảng năm phút sau, Pháo Binh của quân ta bắn rất chính xác đã làm những khẩu đại liên trên đồi im thin thít. Pháo Binh dọn đường tới đâu quân ta “nhích” theo tới đó. Một sự phối hợp nhịp nhàng mà quân giặc trên đồi không bao giờ có thể tưởng tượng nổi. Pháo Binh phá xong một công sự của cộng quân, thì chiến sĩ Địa Phương nhào vô chiếm lấy. Cứ thế quân ta lấn dần lên đồi. Người phóng viên chiến trường của tờ báo lính Chiến Sĩ Cộng Hòa từ Sài Gòn lên khâm phục sát đất cái chiến thuật “Pháo Và Lấn” chưa từng thấy trong binh pháp quân trường. Chẳng những thế mà Đại Úy Đề còn tiết kiệm thật nhiều xương máu con cái. Cứ đủng đỉnh chờ Pháo Binh dọn bãi làm thịt chốt cộng, quân ta ôm súng và lựu đạn nhào lên thanh toán đẹp mắt. Trong khi đó các đơn vị của Thiếu Tá Long cũng đã giải tỏa nhanh chóng áp lực của địch vây hãm một trung đội của ta từ mấy ngày trước.
Đến 11 giờ 45 ngày 30.9.73, các cánh quân Địa Phương Quân Quảng Đức đã tràn ngập Đồi Bạch Phong. Quân ta reo hò cắm Cờ Vàng Việt Nam trên đỉnh căn cứ. Năm cán binh cộng sản còn ẩn trốn gần đó nghe thấy tiếng loa gọi hàng của toán Võ Trang Tuyên Truyền thuộc Ty Chiêu Hồi đã đưa tay xin hồi chánh. Các anh được tiếp đón nồng hậu trong tình anh em ruột thịt và được đưa về Sài Gòn lập lại cuộc đời mới. Nhưng đây chỉ mới là khúc dạo đầu của mặt trận Quảng Đức. Những ngày đỏ lửa vẫn còn đang là những đốm than âm ỉ chờ thời điểm bùng lên thành cơn bão.
Bước sang tháng 10.73, nguồn tin kỹ thuật của những toán Viễn Thám gửi về báo động các thành phần của Trung Đoàn 208 Pháo Binh Bắc Việt đã đặt súng gần Tuy Đức, Bu Prang, Bu Bong và Kiến Đức với những khẩu đại bác 122 ly và 85 ly, súng cối 120 ly. Để bảo đảm mức chính xác, Trung Đoàn 208 Pháo Binh CS đã được cấp phát bản đồ tỉ lệ 1:50.000 được in tại Hà Nội. Đến giữa tháng 10.1973 thì Trung Đoàn 205 bộ binh và Trung Đoàn 429 Đặc Công CS đã áp sát đến gần Buprang. Một cuộc diễn tập tác xạ đã được Trung Đoàn Pháo 208 thực hiện trong năm ngày liền, những loại đạn pháo giặc đã dội lên các vị trí của Địa Phương Quân Việt Nam. Để yểm trợ cho mặt trận Quảng Đức sắp nổ lớn, Trung Đoàn 271 CS và Tiểu Đoàn 46 Trinh Sát di chuyển đến Dakson. Trận liệt của cộng quân đã hoàn thành trong ngày 30.10.1973. Các cánh quân của Đơn Vị 95 sẵn sàng chờ lệnh khai hỏa để tấn công quân ta.
Đại Tá Nguyễn Hậu Thiện, Tỉnh Trưởng Quảng Đức, đã rút ra được những kinh nghiệm từ sau những ngày địch dội pháo, nên ông đã điều động tất cả bốn Tiểu Đoàn Địa Phương Quân hành quân ra khỏi hai Căn Cứ Bu Prang và Bu Bong, di chuyển tối đa để tránh pháo, đồng thời càn quét địch đến tận khu vực Tuy Đức. Đại Tá Thiện chỉ lưu lại hai căn cứ này một đại đội ĐPQ, một Trung Đội Công Binh và hai pháo đội 105 ly. Lực lượng Địa Phương Quân chỉ được trang bị nhẹ, vũ khí yếu kém, quân số thiếu hụt mà sắp phải đương đầu với một lực lượng cấp sư đoàn của địch.

 ĐI VÀO LÒNG ĐẤT

Mình đã xem phim này 2 lần, 1 lần do bạn mời, 1 lần mình bỏ tiền mua vé cho mình và vợ con đi cùng. Chứng tỏ mình ủng hộ phim Việt Nam lắm và xem cũng kỹ lắm. Một phần là do lần 1 mình bị đến muộn 10 phút, mất đoạn đầu.
Đánh giá của mình có tiết lộ 1 phần nội dung phim, nên ai mà muốn xem phim có đầy đủ cảm xúc thì không nên đọc nhé.
Mấy hôm nay, phim Địa Đạo được tuyên truyền mạnh quá mức cần thiết. Nói thực là mình ghét tâm lý bầy đàn và trò tuyên truyền nhồi sọ nên kiểu tuyên truyền này với mình và không ít người khác sẽ là phản cảm và gây phản ứng ngược. Tương tự như PR xe VF thôi, ăn được đám bo` đỏ thì sẽ mất khối khách hàng khác, không nhất thiết là bo` vàng, mà chỉ là người có nhiều lý trí và tư duy phản biện. Người ta sẽ nghi ngờ tính chân thực của những lời khen kia.
Mình có quen biết anh Nam, nhà đầu tư, anh ấy cũng có mời mình xem phim này trước đây cả tháng, mà mình quên béng mất! Thế tức là mình đánh giá dưới góc nhìn khách quan thôi, chứ không có thù ghét ai cả, cũng chả phải dưới góc nhìn PĐ đâu. Nên anh em PĐ đừng có kỳ vọng gì!
Mình không hay xem phim truyện, nhưng lại hay xem phim truyện chiến tranh, lịch sử và rất nhiều phim tài liệu cùng đề tài. Nên cũng hiểu tương đối. Nhất là về chiến tranh Việt Nam mình càng tìm hiểu sâu.
Phim Địa Đạo, công bằng mà nói, có rất nhiều ưu điểm, so với các phim cúng cụ trước đây. So sánh gần gũi nhất là với Đào Phở, thì phim này có hình ảnh và âm thanh rất chân thực, “rất Tây’. Hóa ra là Tây thật, nên về bản chất, đây là phim “liên doanh”. Về hình ảnh âm thanh hầu hết do Tây làm, thì mới được thế.
Phim chiến tranh và lịch sử, thì dựng phim trường, hình ảnh, âm thanh là cực khó và tốn kém. Phim này làm rất tốt so với phim Việt Nam cùng đề tài. Nhưng không nên nói quá lên, so sánh với bom tấn kiểu Giải cứu binh nhì Ryan hay Kẻ thù trước cổng của Mỹ. Cái dễ hơn về hiệu ứng khói lửa ở phim này là do hầu như không có đại cảnh, những cảnh nhìn từ trên cao thấy rõ là 3D. Bối cảnh của phim khá chật chội, cảnh cận nhiều nên dễ làm hơn.
Một số đoạn cháy nổ, chuyên gia hơi lạm dụng lửa, có phải cứ có bom đạn là lửa đùng đùng đâu, mà phải là cảnh đất đá bay rào rào mới đúng. Ví dụ như đoạn cái cano Mỹ bị đánh mìn, mà quả mìn ngầm dưới nước mất mét. Mìn nổ thì đúng ra nó ục 1 cái rồi cột nước dựng lên, gây lật hoặc làm vỡ cano ra. Đây cano chả vỡ, vẫn bình thường, lại thấy nổ ở bên trên nó, giống như dính 1 quả B40! Hay ví dụ khác là quay cảnh xác chê't VC, toàn thấy như bị cháy bởi bom Napalm nhưng thực ra dính quả đạn bình thường, đúng ra là xác bị nát mới đúng. Nhưng dựng xác bị nát như phim Mỹ là quá khó, nên anh em dựng xác bị bỏng, nó vẫn lành lặn, chỉ hóa trang bề mặt thôi, cho nó dễ.
Tóm lại cái này sạn khá nhiều nhưng với đại chúng có thể bỏ qua, vì có lẽ không để ý như thằng hay xem phim chiến tranh như mình.
Về diễn xuất, nói chung các diễn viên đều diễn đạt vai của mình. Nhưng mà không rõ vai chính, thấy sàn sàn 5-6 đồng chí đều là chính cả, nên tạo cảm giác nhạt nhòa. Thậm chí là lẫn lộn tên đồng chí này với đồng chí khác.
Có nhân vật chú Sáu (lúc mới xem mình tưởng là Sáu Dân!), đại ý là muốn diễn đạt vai trò lãnh đạo của đảng, là cán bộ lãnh đạo từ bưng tới chủ yếu là vỗ về, tuyên truyền không thấy chỉ đạo được gì. Nhưng đoạn buồn cười, xin lỗi vì buồn cười, nhất trong phim này là cảnh chú Sáu đứng ngơ ngác trước cảnh bom đạn vèo vèo, các cháu đang bắn nhau mà chú đứng mặt đờ đẫn, nên bị thương!
Hình ảnh tương tự trong phim We are soldiers (dựng lại trận IaDrang lần đầu VC đụng độ lớn với Mỹ), thì anh chỉ huy Mỹ cũng không hề nằm, bo` khi có bom đạn (chắc là bịa, thực tế chắc nằm dính xuống đất). Nhưng bọn Mỹ dựng hình ảnh anh hùng cách mạng cho lãnh đạo, sĩ quan đi lại mặt mũi hiên ngang hò hét chỉ đạo anh em chiến đấu, chứ không như chú Sáu của ta. Nhẽ chú là chính ủy nên mới ngẩn ngơ khi có bắn nhau vậy?!
Nhưng đỉnh cao của hài hước không phải chỗ đó, nhưng vẫn là chú Sáu. Sau khi bị thương và quyết định ra hàng để câu giờ, cho các cháu trong địa đạo tìm đường thoát, chú Sáu bị Mỹ bắt. Đúng quy trình là bắt người là lính Mỹ sẽ khám xét xem có vũ khí không. Nhưng mà khám ng u, để chú vẫn găm được quả lựu đạn, sau đó giật nổ! Trong lúc câu giờ, chú tuyên truyền lịch sử cách mạng với bọn Mỹ và 1 thằng phiên dịch gọi điện về căn cứ. Đại khái tuyên truyền tinh thần đấu tranh CM với bọn Mỹ rõ là dài, mà bọn Mỹ lại ngoan cứ để chú che'm thoải mái luôn. Chứ thực tế nó tát vỡ mồm tù binh lại cứ nói linh tinh, không đúng trọng tâm thẩm vấn! Nói chung tuyên truyền bằng tiếng Việt với bọn Mỹ, rồi phải dịch ra là buồn cười và vô lý lắm rồi.
Về biên kịch, tức là nội dung phim ấy, nói chung phim ít có tính điện ảnh, nói thẳng là kịch bản khá chán. Nó giống như là dựng lại phim tài liệu vậy, thiếu kịch tính để gây nên tính bất ngờ cho phim. Xem đoạn đầu, mình còn tưởng cậu thợ cơ khí là 1 “đặc tình” của bên kia cài vào nhóm du kích để gây nên những bất ngờ ở cuối, nhưng lại không phải. Vì thế nên phim quanh quẩn ở quanh địa đạo, thiếu chuyển cảnh và các tiết tấu mang tính điện ảnh để đỡ buồn ngủ.
Nếu coi đường hình và tiếng là lớp vỏ bao bì, kịch bản là lõi, thì phim này có bao bì đẹp, có thể gây choáng ngợp cho đám đông, với cảnh bom rơi đạn nổ khá bắt mắt. Nhưng phần ruột thì không ổn, gần giống xem phim tài liệu nhồi thêm tý tuyên truyền.
Chính vì có vỏ bắt mắt, nên người xem dễ bị tâm lý choáng ngợp, dễ bỏ qua các hạt sạn trong phim. Tất nhiên sạn kiểu này phải có mắt cú vọ, tinh tế chút, cộng thêm vốn sống và kiến thức xã hội mới nhìn thấy rõ và nhanh. Cái này là bệnh chung của phim Việt Nam thời kỳ đổi mới, xem phim bi mà lại thấy hài vì sạn.
Ví dụ đoạn anh Hai Thưng giao nhiệm vụ BÍ MẬT cho anh Bảy nhưng chả hiểu sao lại phải đọc mật lệnh oang oang trong khi lính lác đi lại ngay cạnh, cách 2m (lệnh là bí mật với cả lính). Trong khi rõ ràng là chỉ cần đưa tờ giấy lệnh cho đọc rồi thu lại đốt là xong.
Cảnh các chiến sĩ du kích thấy món cá khi ăn cơm mà ồ cả lên kiểu như lâu lắm mới có món ngon. Thực tế là vô lý. Vì địa đạo ngay cạnh sông. Dân miền Nam họ bắt cá dễ không, cá ở vùng sông nước còn dễ kiếm hơn là gạo hay rau. Nên du kích có lẽ ăn cá phát chán luôn, thèm thịt bo` nghe còn có lý!
Cảnh anh thợ vác súng ra bắn máy bay Mỹ với mục đích là để khiêu khích Mỹ ném bom xăng xuống, để ảnh thu phế liệu vỏ bom, rồi bán phế lấy tiền mua gạo, thì là 1 sáng tạo ghê gớm của kịch bản! Khéo bắn xe tăng để thu phế liệu bán lấy tiền mua gạo luôn?! Theo mình biết thực tế lúc đó phe ta chỉ sợ không tìm được dân thì mới đói, chứ chả việc gì phải đi bán phế liệu chiến tranh đâu mà đi xin gạo dễ dàng, không cho thì dùng súng là có hết.
Cảnh quân ta xxx nhau trong hầm, tuy câu view gen Z nhưng khá là vô lý. Ban đầu mình tưởng anh chị yêu nhau rồi chịch trộm thì còn logic, như trong phim Enemy at the gate. Đây là đồng chí du kích nam hấp diêm trộm đồng chí du kích nữ xinh nhất đoàn. Lẽ thường bộ đội, du kích, họ sẽ ngủ tập thể, từng khu vực riêng của nam và nữ. Nên vụ hấp diêm này khó xảy ra, do trong phim là nữ du kích ngủ hầm riêng, nên đến đêm là nam du kích bo` vào xơi. Nữ du kích bị/được xong lại không báo cán bộ để có bầu, rồi thủ trưởng phải đứng ra nhận làm tác giả để tổ chức đám cưới. Nó khiên cưỡng quá đi. Tác giả thật chỉ tự khai khi mù mắt do khí độc. Có hơn chục nam du kích thôi mà nữ đồng chí kia lại không thể phát hiện ai chịch mình.
Cũng cảnh xxx này, nó vô lý về mặt TD học. Vì bom đang ầm ầm, sợ sun cả t..im lại mà sao vẫn chịch được chứ? Về tâm sinh lý là không được đâu chỉ có sợ són cả cứt đái ra thì được.
Đoạn dùng rắn để cắn lính Mỹ mình thấy cũng ảo, chả nhẽ nuôi rắn độc để làm việc đó, trong khi quá rủi ro khi nuôi bọn này, trong địa đạo nó có gì ăn đâu?
Đoạn cuối, chắc để làm tăng kịch tính lên cao trào, nên mới có cảnh đấu súng với lính Mỹ. Mà bọn lính Mỹ ng u vãi, vừa bo` vừa soi đèn pin, nên đi đến đâu là du kích biết để thịt! Bài chuẩn là nó phun khói độc vào trước để biết chắc không có VC còn sống rồi nó mới đeo mặt nạ bo` vào. Chắc khó mà có màn đấu súng. Bọn Mỹ hèn lắm!
Cảnh chú lính Mỹ bị cô du kích dùng cái gậy tre vạt chéo đầu xiên qua thân người như xiên miếng chả cũng khá vô lý. Cô này xiên thằng Mỹ qua cái lỗ vách hầm chỉ vừa với cây gậy thì nhìn sao được nó mà xiên? Nhỡ trượt thì sao? Nhỡ xiên vào mông vào chân thì sao mà chê't được. Đây ăn may là xiên qua sườn. Nhưng nó lại không chê't, còn kêu cứu và cô chú du kích lại cứu nó! Chứng tỏ quân ta rất nhân văn. Nó vừa giê't bao đồng đội ta xong mà lại cứu nó liền, cho nó lên cái bè chuối (không biết đóng lúc nào) thả trôi trên sông và đốt đám cỏ trên bè để có khói bốc lên.
Lại thêm cảnh 2 cô chú này lặn dưới sông ngậm ống thở. Thật khó hiểu vì không biết sao phải lặn vậy khi xung quanh yên ắng không có lính Mỹ truy đuổi? Không hiểu thả thằng Mỹ lên bè trôi sông để làm gì? Đốt khói để báo hiệu cho Mỹ đến cứu chăng? Thế thì chu đáo quá.
Tóm lại, phim Địa Đạo cũng đã thoát khỏi lối mòn xưa ta thắng địch thua, có tuyên truyền thì cũng đỡ thô hơn trước. Phim cũng mạnh dạn để cho thủ trưởng chửi thề đe'o (hình như dân Nam ngày xưa không chửi từ đó?), tính tình khá cục cằn chân thực. Hay mạnh dạn đưa chủ đề xxx kiểu Mỹ vào phim dù không lộ hàng. Du kích mà hấp diêm nhau thì chắc là sáng tạo mới trong phim?! Phim không e ngại mô tả cảnh quân ta chê't chóc tang thương cũng là 1 điểm mới.
Mình chỉ nhớ đại khái vậy thôi. Đồng bào cứ đi xem để có trải nghiệm nhé, nhà mình ủng hộ 4 vé rồi đó. Tóm lại là phim vẫn hay, nên xem cho…biết những chỗ hay. Mình cố tình không kể cụ thể tuần tự nội dung phim, chỉ review các lát cắt, để mọi người còn đi xem đó.
Em xin lỗi đoàn làm phim và nhà tài trợ, xin lỗi đảng và quân đội, em thà không xem hoặc không đánh giá, chứ không thể che'm ẩu lừa đồng bào được. Chỗ nào hay thì bảo hay, chỗ nào chưa hay thì cũng phải nêu rõ để còn rút kinh nghiệm. Đây sẽ là phim tài liệu hay nhất trong các phim truyện và phim truyện hay nhất trong các phim tài liệu.
Mạnh dạn chấm điểm như trên IDMB thì phim này tầm 5-6 điểm. Ai đó bảo đi dự Oscar thì biết đâu cũng được, vì bọn Mỹ chắc không thấy sạn ta đâu, vì nó không hiểu!
Trong ảnh là cảnh chú Sáu đang diễn thuyết trước khi giật lựu đạn.
Ba Sao and others
250
67
Like
Comment
Share
Cao Phan
Chưa xem phim, nhưng đọc đoạn re-view "Cảnh anh thợ vác súng ra bắn máy bay Mỹ với mục đích là để khiêu khích Mỹ ném bom xăng xuống, để ảnh thu phế liệu vỏ bom, rồi bán phế lấy tiền mua gạo" trước 75 trong này, phế liệu đầy, ai mua mà bán? thu gom rồi bán cho ai, làm gì có Xưởng tái chế phế liệu?