Friday, May 10, 2024

 NGÀY ĐỊNH MẠNG CỦA TIỂU ĐOÀN 2/10 SƯ ĐOÀN 7 BỘ BINH (BÀI 2). 

                               

BẢN ĐỒ TỈNH ĐỊNH TƯỜNG, CẬP NHẬT TỚI NĂM 1975, CỦA DAVID ELLIOTT

                               

PHẦN I.

1/ Số mạng của cựu đại úy Hồ Bé, chỉ huy TĐ 2/10, qua lăng kính của Lý thuyết Số (Numerology, một khoa tử vi của thời cổ Hy Lạp).

Thay các chữ bằng trị số tương ứng, ta có:

HỒ = 5 + 7 = 12, rút gọn thành 3.

BÉ = 25, rút gọn thành 7.

Cộng lại: 3 + 7 = 10 = bánh xe định mạng. 

Năm 1969 ông làm trưởng ban 3 của tđ 11 bđq của đại úy Hồ khắc Đàm. Trong 1 trận đánh ở vùng Dakto năm 1969, cả hai tđ 11 và 23 bđq bị bao vây, trung úy Long và đ.đ. 1 của ông đã tình nguyện cản hậu để cả tđ rút lui. Đại úy Đàm và đại úy Lạn, tđ phó đã đến chào trung úy Long vì hành động dũng cảm này. Theo hồi ký Dakto Và Em. 



2/ Thông tin về cựu ĐT Phạm chí Kim và cựu Trung tá Nguyễn văn Mạnh. Theo ông Trịnh Xuyên trong bài "Những năm tháng tù đày" thì: 

"... Để chuẩn bị ngày lễ lớn (ngày 2.9.75), cai tù cho đi tạp dịch sang tận ban chỉ huy trại, nhổ cỏ quét lá dọc dường chính vào trại, tôi thấy một chiếc xe díp Liên-Xô đỗ xịch đằng xa, họ áp tải hai người xuống, tôi nhận ra đại tá Kim tỉnh trưởng Kiến Hoà và trung tá Mạnh trong bộ đồ đen -- ông Mạnh gốc nhảy dù, to con đẹp trai về làm TKP hay TMT gì đó cho đại tá Kim là hai người bị giải giao đến muộn. Ông cũng chính là người bị cho là chết đuối lúc đi tắm ngoài bờ sông không thấy xác, cũng có nghi vấn ông lặn trốn nhưng gặp dòng nước xoáy cuốn ông đi mất".

...

Nhận xét: Trung tá Nguyễn văn Mạnh, từng là TĐ phó của một TĐ Dù dự trận Lam Sơn 719. Ông từng chỉ huy trung đoàn 10 sđ 7. Không rõ lúc xảy ra trận Ngã Sáu ngày 11.3.75, ông còn coi tr.đ. 10 hay ko? 

3/ Trong trận Ngã Sáu ngày 11.3.75, tr.đ. 207 là trừ bị của sđ 8 csbv đã gây thiệt hại nặng cho một TĐ của sđ 7 khi TĐ này định tái chiếm đồn Ngã Sáu (đã bị mất vào ngày 11.3.75). 

Tr.đ. 207 csbv này trước đó đã bị thiệt hại nặng (khoảng 200 bộ đội, một số là sinh viên của đại học xây dựng Hà Nội, mới bổ sung hai ngày trước cho trung đoàn này) vào NGÀY 3.10.73 sau khi vừa xâm nhập từ KPC vào lãnh thổ vNCH. Theo wikipedia thì:

"Trận Ấp Đá Biên hay trận Rạch Đá Biên là một trận đánh trong Chiến tranh Việt Nam, diễn ra vào rạng sáng ngày 3 tháng 10 năm 1973 khi Trung đoàn 207 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bị lực lượng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) tập kích trong lúc đang nghỉ giữa chặng hành quân tại Ấp Đá Biên, thuộc địa bàn xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. Hơn 200 chiến sĩ Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tử trận trong trận đánh này.

Bối cảnh và diễn biến

Mùa nước nổi tháng 10 năm 1973, Trung đoàn 207 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (thuộc Quân khu VIII) được lệnh hành quân về khu vực Đồng Tháp Mười và tập kết tại huyện Cai Lậy, tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Tiền Giang). Từ căn cứ tại Svay Rieng (Campuchia), trung đoàn đã hành quân vượt sông Vàm Cỏ Tây tới huyện Mộc Hóa (nay là huyện Thạnh Hóa). Ngày 3 tháng 10, trung đoàn tới một khu vực rừng tràm tại địa phận rạch Đá Biên lúc vừa rạng sáng, nên phải cho quân nghỉ lại chờ đêm xuống để tiếp tục hành quân.

Lực lượng bổ sung của trung đoàn khi đó gồm nhiều tân binh mới nhập ngũ, trong đó đa số là các cựu sinh viên Đại học Xây dựng. Do thiếu kinh nghiệm nên trong quá trình sinh hoạt, họ đã để lộ dấu vết và bị máy bay trinh sát của quân Việt Nam Cộng hòa phát hiện. Đối phương nhanh chóng huy động pháo bắn cấp tập xuống, cùng với đó là các đơn vị QLVNCH dưới sự yểm trợ của 12 trực thăng và xe bọc thép M-113 ập tới bắn phá dữ dội. Trước tình thế bị tấn công bất ngờ, một bộ phận cảm tử của Trung đoàn 207 QGP đã ở lại cầm chân quân địch để trung đoàn rút lui, nhiều người trong số này đã tử trận sau khi chiến đấu tới viên đạn cuối cùng.[1][2]. 

(Nói thêm: Lúc xảy ra trận đánh, tôi đi họp CTCT ở trung đoàn nên ko có mặt. Theo lời kể, ngay cả các anh lính nấu cơm hay hỏa đầu vụ của 2/10, dù ko mang súng, cũng lấy đc súng. Trung úy Lê ngọc Danh, tùy viên của tướng Nam, khi đi bay với tướng quân, đã phát hiện địa điểm đóng quân của csbv giữa cánh rừng tràm bao la của Đồng Tháp Mười-- người viết). 

Theo tài liệu của Mỹ, tổng cộng 79 người lính Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã hy sinh và 13 bị bắt trong trận chiến kéo dài từ 09h55 đến 12h35, địa điểm gần đường Liên tỉnh lộ 29 (chạy từ Cai Lậy vào Mộc Hóa -- người viết) tiếp giáp với ranh giới tỉnh Định Tường. Lực lượng VNCH gồm tiểu đoàn 2 và tiểu đoàn 3, Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 bị thiệt hại rất nhẹ, chỉ có 1 lính bị thương. 

(Nói thêm: mỗi tiểu đội có một người lo nấu cơm cho tiểu đội (còn gọi là "đít đen" vì anh nào cũng đeo 1 nồi to sau sau ba-lô). Mỗi người lính đều mang phần gạo của mình, đủ dùng trong 5 ngày, hình như 700 gram mỗi ngày, khi nấu xong, chia ra gần đầy nón sắt, cộng thêm 2 ngày lương khô gồm gạo sấy và cá hộp, chỉ dùng khi bị bao vây, hay ko thể nấu nướng vì sợ pháo kích --thường thì lính đem lương khô cho dân vì mang theo rất nặng, vì chỉ dùng khi cấm "nấu nướng khói lửa". Tới nơi đóng quân, họ đưa gạo cho mấy ông "đít đen" để họ nấu. Các người này, lúc nào cũng có củi khô, để khi dừng quân thì nấu cơm ngay cho tiểu đội -- người viết). 

Hầu hết những người lính Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bị hy sinh là do trực thăng vũ trang và pháo binh bắn phá, thi thể của họ nằm rải rác trên diện tích hơn 4 hecta. Quân Việt Nam Cộng hòa thu được 1 súng ko giựt 75 ly, 1 nòng súng cối 60mm, 3 súng B-40, 3 súng B-41, 36 súng AK-47, 3 máy thông tin PRC-45. Theo thông tin của Vùng 4 Chiến thuật VNCH, đây là bộ phận thuộc Trung đoàn 207 Quân giải phóng miền Nam, có căn cứ ở Campuchia gần biên giới phía Bắc huyện lỵ Hồng Ngự. Đơn vị này đang di chuyển hướng đến căn cứ Trị Phap để chi viện cho các đơn vị Quân Giải phóng ở tỉnh Định Tường.

Kết quả

Sau trận đánh, QLVNCH vẫn tiếp tục cho quân lùng sục, càn quét ở khu vực xung quanh, ngăn không cho Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam quay lại lấy xác đồng đội. Phải 12 ngày sau, khi đối phương đã rút quân, đại đội trinh sát của Trung đoàn 207 cùng lực lượng địa phương mới vào được khu vực trận địa, nhưng chỉ tìm được 40 thi thể. Số thi thể này được họ bó lại rồi cột vào các cây tràm, chờ đến mùa khô mới chôn cất được.[1][2] Người duy nhất trong đơn vị chặn hậu bị thương và mắc kẹt lại trận địa là Nguyễn Trần Oanh, sau đó đã được người dân địa phương cứu sống, nuôi giấu và về sau đã trở về với đơn vị.[3]

Năm 1991, một miếu thờ có tên gọi là Miếu Bắc Bỏ đã được người dân Ấp Đá Biên xây dựng để tưởng nhớ đến các liệt sĩ Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã chiến đấu và hy sinh trong trận đánh này.[2]

Chú thích

^  "Thành hoàng làng đội mũ cối", báo Tiền Phong, ngày 13 tháng 1 năm 2012.

^  "Ân tình dân rạch Đá Biên", báo Tuổi Trẻ, ngày 24 tháng 8 năm 2011.

^ "Trận chiến đấu không bao giờ quên", báo Quân đội nhân dân, ngày 19 tháng 9 năm 2013.

https://hung-viet.org/a22495/nhung-nam-thang-tu-day

II/ Ngoài các còm của DLV, tôi thấy 1 số còm rất cảm động, có lẽ từ cựu quân nhân của trung đoàn 10 sđ 7 bộ binh hay thân nhân của họ. 

- Còm 1.

@user-xu4sp9bg4f

1 day ago

"Khi đất Nước Viêt Nam giải phóng, Ba của Tôi đi học tập một tuần lễ, những người Bạn của Ba Tôi thắc mắc rằng: Tại sao Ba của Tôi làm nghề nghiệp chức vụ đó, vì sao học tâp cải tạo có 7 ngày rồi sợ Ba của Tôi 'hai mang'. Tôi chỉ tiếc Ba của Tôi đã đc lên máy bay khi đang đậu ở cơ quan DAO tại Tân sơn nhứt, Ba của Tôi leo xuống lại, sợ bỏ Vợ Con ở lại, v.v... Cái ngày i xèo đó Tôi còn nhỏ, nếu mà lớn vài tuổi ở thời điểm lộn xộn đó, là Tôi đi chứ kg có ở với Xã Hội khổ ải nầy đâu, tận tới bây giờ luôn cũng vậy, Tôi mà đc đi thì Tôi đi liền, là vì khổ quá bữa đói bữa no, kẻ giàu thì giàu quá,còn người dân như Tôi nghèo thì nghèo quá, bịnh chỉ có chờ Chết mà thôi.

Còm 2.

@nhungtran7449

14 hours ago

Anh tôi cũng là lính sư đoàn 7 và đã tử trận tại cần thơ

- Còm 3.

@vietnguyenthai6105

3 hours ago

Sau trận Kinh Ngã 6, đến đêm 30/3/1975  tiểu đoàn 3/10 trong cuộc hành quân đêm tại Hậu Mỹ vào kinh 28 cũng bị đối phương phục kích đánh bất ngờ vào đại đội 3 do trung úy Lâm ( khóa 25 VBĐL ) chỉ huy. Khi đối phương mới vừa khai hỏa, ông Lâm đã bỏ phòng tuyến chạy thoát thân khiến đại đội 3 bị xóa sổ, thiếu úy Ba đại đội phó ( khóa 1/68 TĐ ) chết tại chỗ cùng lúc thiếu úy Nguyễn Văn Hùng ( khóa 12 /72 SQĐĐ ) đại đội phó đại đội 4 cũng bị tử thương do trung liên RPD. 

Rạng sáng ngày 31/3/1975 do đối phương chủ quan nên bị tàn binh của đại đội 4 ( trong đó có cả anh em lao công đào binh ) phản công khiến đối phương hoàn toàn bị tiêu diệt trong lúc họ đi thu gom chiến lợi phẩm.

Còm 4.

@vietnguyenthai6105

7 hours ago (edited)

Trong trận này, tiểu đoàn 2/10 bị lọt vào ổ phục kích khi hành quân giải tỏa đồn kinh ngã 6, cuối cùng người đánh bại đối phương giải cứu cho tđ2  là trung úy đại đội trưởng Trần Trọng Thủy ( khóa 1/68 TĐ ) ông Thủy được đặc cách đại úy và đảm nhiệm tiểu đoàn phó tiểu 2/10. (Nói thêm: Ông Thủy ở trại tù Nam Hà B với tôi từ cuối 1978 đến đầu 1981. Hiện ông ở nam Cali, theo đại úy Hùng cũng ở TĐ 2/10. Ở trại Nam Hà B, tôi cũng gặp đại úy Lý ngọc Đức, từng học bộ binh căn bản OCS tại Mỹ, từng làm TĐ phó của 1/10. Tôi ra tù đầu năm 1981, cùng lúc với trung tá Đức, từng là trưởng Khối CTCT sđ 7, sau chỉ huy tr.đ. 10 -- người viết). 

Còm 5.

@user-xu4sp9bg4f

1 day ago

Nói tới Sư đoàn 7 trước đó A của Tôi cũng có đi lính của VNCH nầy bị Tử trận đó; còn Ba của Tôi thì làm về tình báo, nay Ba của Tôi đã mất rồi, Tôi chỉ tiếc gđ Tôi kg đc bảo lãnh đi sang Mỹ.

Bây giờ mà Đại Sứ Quán Mỹ nhân đạo cứu xét tới nhg người trước kia đi lính và làm việc cho mấy Ông; giải quyết cho đi là Tôi đi liền, chứ sống Xã Hội này Chán lắm, nghèo mà bịnh tật nữa chỉ có chờ Chết mà thôi.

Còm 6.

@Alpha-mw4ms

nước người ta là nước tư bản, họ chỉ nhận tài năng hoặc có tiền thôi, có nhiều thứ ở VN còn tốt hơn tỉ lần bên Mỹ.

Còm 7.

@minhbui499

14 hours ago

Rất trung thực, tác giả là người lính dũng cảm và có nhân cách

Còm 8.

@MegaTUTRAN

23 hours ago

Nam Hòa và Tài Trần ơi, trong QLVNCH không có xưng-hô = Đ/Chí, phút 20:38, có thể kiểm chứng= cách nghe lại. Trân-Trọng.

Còm 9.

@namhoa

21 hours ago

Dạ, anh Tài viết bài, có những chỗ chưa rõ, ảnh lấy 1 số câu nguyên văn trong báo của VC, nên có chữ đồng chí.. có lẽ ảnh sơ suất không viết rõ trước câu trích, người đọc thì vì tôn trọng nên cứ tác giả viết sao thì đọc vậy, anh thông cảm, anh cũng biết năm nay anh Tài gần 80 tuổi rồi..

Cảm ơn anh rất nhiều đã góp ý

Còm 10. 

@hoangvo9976

12 hours ago

Đánh nhau thì có thắng, có thua, nhưng điều quan trọng là : Thua một trận, nhưng thắng cả một cuộc chiến !

Còm 11. 

@ngoclonghuynh2590

11 hours ago

Ba của tôi trước đây là thám báo của tiểu đoàn 2 trung đoàn 10 sư đoàn 7 nè. Hiện nay nhà tôi  cũng còn ở kế bên hậu cứ trung đoàn 10 luôn. (Nói thêm: hậu cứ của tr.đ. 10 trước 75 ở đường Nguyễn tường Diễn -- lấy tên của trung đoàn trưởng tru.đ. 10 tử trận năm 1968. Hậu cứ gần sân banh. Gần hậu cứ của các TĐ 1-2-3 và trinh sát 10 là câu lạc bộ cựu chiến sĩ, tôi thường ăn sáng ở đây lúc ở hậu cứ 2/10 -- người viết). 

Còm 11.

@user-lr3qr5ih1d

Tôi cũng là dân tiễu đoàn 2/10 đang sống ở Bến Tre. 

Còm 12.

@ngoclonghuynh2590

Chú ở phường mấy của bến tre. Tôi ở phường 4 (Cafe Thành Trà). Sát vách hậu cứ trung đoàn 10 nè chú.

Còm 12.

@nghiatran4553

Dân Bến Te bắt con cá gô bỏ vô gổ kêu gột gột.

Còm 13.

@ngoclonghuynh2590

Cho hỏi chú còn nhớ người thám báo tiểu đoàn 2 tên Nguyễn văn tư không chú?


 MỘT SỐ VÍ DỤ VỀ TRẢ NỢ DỒN 

                   


Theo Lý thuyết Số (LTS), phần lớn những ng sanh vào các ngày 4, 8, 13, 17, 22, và 26 đều thuộc số TRẢ NỢ DỒN. Điều này cũng áp dụng có các thực thể (đất nước hay công ty, v.v...) ra đời hay thành lập vào các ngày này. Các ng hay thực thể có tên có tên CỘNG LẠI BẰNG các số trên cũng trả nợ dồn .
Nghĩa là họ có NỢ từ nhiều KIẾP TRƯỚC nhưng trong các kiếp trước lần lửa ko chịu trả nên đã quyết định trong KIẾP NÀY cố gắng trả hết , trả dứt điểm mọi nợ cũ .
Giống như một người buôn bán ở chợ: quanh năm vay nợ rất nhiều, hai tuần cuối năm, chạy đôn chạy đáo để trả nợ hầu năm tới được thảnh thơi.
Khi họ phải trả nợ dồn, họ rất vất vả, bị nhiều sỉ nhục, đủ thứ tiếng xấu trên đời. Nếu họ cố gắng chịu đựng, đừng tạo thêm nghiệp xấu thì sẽ trả dứt điểm trong kiếp này.
Tôi rất rành vụ này vì tôi có rất nhiều bà con và bạn bè có ngày sanh hay tên cộng lại bằng các số trên .
A/ Một bạn trẻ sinh ngày 31/12/1971. Vì bảo vệ sự riêng tư, tôi ko nêu tên của y, nhưng dựa vào bản trị số của các chữ, tôi thấy :
Họ của y cộng lại = 11 = giữ nguyên , ko thể thu nhỏ .
Tên lót cộng lại = 18 = 9
Tên cộng lại = 11 = ko thể thu nhỏ .
Tổng cộng : 11 + 11 + 9 = 31 = 4 = RẤT XẤU , TRẢ NỢ DỒN .
NHẬN XÉT : bạn trẻ này , dù qua Mỹ lúc 9 t , nói tiếng Anh như gió , nhưng ko thể lên đại học mà phải đi làm hãng xưởng . Do tính ko kiên nhẫn nên ko làm lâu ở chỗ nào , tính tình nóng nảy . Nói theo người miền Nam là xui tận mạng . Theo LTS đã kể trên , y đang trả nợ dồn .
B/ Trong các ví dụ trước đây, tôi đã viết ba nhân vật quyết định rút bỏ quân khu 2 đều có TÊN CỘNG LẠI BẰNG SỐ 13: đó là cố TT Thiệu, TT Khiêm và cố thiếu tướng Phạm văn Phú.
Nay tôi dùng LTS để xem xét số mạng của vài sq cao cấp tại QK 2
1/ Cố Chuẩn tướng LÊ TRUNG TƯỜNG, cựu TL sư đoàn 23 bộ binh, phụ trách các tỉnh phía nam QK 2. Ông này đi tù gần 13 năm nhưng ở lại VN và chết ngày 22.5.2009 thọ 82 tuổi.
LÊ = 3 5 = 8
TRUNG = 4 2 6 5 3 = 20 = 2
TƯỜNG = 4 6 7 5 3 = 25 = 7
Cộng lại: 8 2 7 = 17 = trả nợ dồn
ĐỌC THÊM:
Chuẩn tướng Phạm duy Tất, chỉ huy trưởng BĐQ của QK 2, chỉ huy sáu liên đoàn BĐQ di tản trên QL 7. Đi tù nhiều năm và chết ở Mỹ.
PHẠM = 8 5 1 4 = 18 = 9
DUY = 461 = 11 = giữ nguyên
TẤT = 4 1 4 = 9
Cộng lại: 9 11 9 = 29 = rất xấu`
Ảnh minh họa: ĐT Vũ thế Quang, TLP sđ 23 bộ binh, ở trần và ĐT Nguyễn trọng Luật, tỉnh trưởng Darlac, bị bắt làm tù binh trong trận Ban Mê Thuột ngày 10.3.75./. 


Tuesday, May 7, 2024

 Ông Be - chuyện người tù A20 bất khuất 33 năm trước

16 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 2606)
Ông Be - chuyện người tù A20 bất khuất 33 năm trước
52Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
52
Phóng sự của Nhóm Thư Viện Phạm Văn Thành, Vietnam tháng 5/2015




Với những ai đã từng biết những quái ác tàn độc của những trại tù trong hệ thống nhà tù cải tạo dày đặc tại Việt Nam sau biến cố Saigon thất thủ 30 tháng Tư/ 1975…đều không chút ngạc nhiên về cách thế xưng hô bắt buộc do kẻ thắng trận là Việt cộng miền Bắc bày ra giữa tù nhân cải tạo (quân cán chính VNCH) với quản giáo (Việt cộng) ở những trại giam tù cải tạo trên toàn quốc sau tháng Tư đen 1975.

Tù nhân bị buộc phải gọi cán bộ quản giáo bằng cán bộ, hay bằng “ông” [“ông”: ở các trại tù Phú Túc (quận Hiếu Đức nay VC nhập chung vào thành quận Hòa Vang), trại An Điềm (Đại Lộc), trại Sườn Giữa (thuộc trại An Điềm nhưng cao hơn, xa hơn An Điềm và nước độc hơn), trại Tiên Lãnh (quận Tiên Phước)… thuộc vùng ngược miền núi tỉnh Quảng Nam đầy hiểm trở và ma thiêng nước độc), và tự xưng là tôi…dù “ông” đó tuổi chưa đáng tuổi con của những tù nhân VNCH vừa bại trận.

Ông Be, chính là tù nhân chính trị A20 còn rất trẻ, cho tới ngày anh bị tà quyền xử bắn 1982 chỉ mới ba mươi tuổi…………..nhưng sao lại được anh em chiến hữu đang ở tù lẫn bọn cán bộ quản giáo trại tù khét tiếng tàn ác Thung Lũng Tử Thần này gọi bằng ÔNG sau khi bị xử bắn vì vượt ngục???

Vài hàng về xuất thân của Ông Be

Ông Be tức anh Phan Văn Be (theo dòng chữ anh em A20 lập bia mộ ghi nhầm trong các ảnh chụp dưới đây - tháng 5/2015) thực ra chắc chắn họ tên anh chính xác là Phạm văn Be, sinh 1952 tại xã Phước Thạnh, quận Châu Thành, tỉnh Kiến Hòa (ven bờ sông Ba Lai), trước 75 anh là lính trinh sát Trung Đoàn 10 / Sư Đoàn 7 Bộ Binh quân lực Việt Nam Cộng Hòa, đóng tại ngã ba Tháp tỉnh Kiến Hòa (tức Bến Tre theo danh xưng của Việt cộng sau 1975)

Sau khi cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam, tại Kiến Hòa có 2 tổ chức kháng cộng phục quốc sớm nhất đó là Mặt Trận (MT) Quốc Gia Liên Kết do anh Nguyễn văn Mười và anh Trần văn Hiếu tức Tám Hiếu (TPX tức đoàn Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội do anh Tám Hiếu sáng lập) cầm đầu.

Tổ chức thứ hai là MT Dân Quân Phục Quốc. Năm 1976, anh Be được anh Trương kim Chi móc nối vào MT Dân Quân Phục Quốc và giao trọng trách tổ chức và kiện toàn lực lượng nầy tại tỉnh Bến Tre chuẩn bị cho đại cuộc lật đổ bạo quyền cộng sản.

Hoạt động chưa đầy năm thì MT Dân Quân Phục Quốc bị lộ và anh em bị bắt (1977) gồm nhiều anh trong đó có các anh anh Hiếu và anh Mười bị tử hình cùng ngày mà khác chỗ, anh Be và nhiều anh khác bị xử chung thân. Vụ này, bạo quyền cộng sản xử vội trong các cái gọi là phiên tòa (rừng rú) của chúng vào 1979 và các án tử thi hành trong năm.

Kiên Cường & Vượt ngục Bến Tre


Giáp Tết Mậu Ngọ 1978, anh Lê Ngọc Vàng (*) chỉ huy một cánh quân chuyển về Bái Đầm thuộc xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre, các anh em tù phục quốc đang bị giam trong trại hay tin này nên lên tình thần và quyết tâm tổ chức phá khám.

Khu P5 -phòng 5- tại khám lớn Bến Tre là nơi VC chỉ dùng để nhốt những thành phần có Án Chữ chớ không phải Án Số, tức những thành phần đầu vụ kháng chiến phục quốc có tổ chức và những thành phần được Việt cộng gán cho là “có nợ máu với nhân dân”, tức là mang ý nghĩa nguy hiểm cho chế độ của chúng.

Mồng 2 Tết Mậu Ngọ 1978 anh Be cùng với các anh Phơi (cựu Cảnh Sát Quốc Gia), anh Mười Tây, anh Nhân, anh Hòa rắp tâm phá khám lớn (khám lá) tại thị xã Bến Tre, là nơi các anh vừa bị giam vào sau thất bại 1977.

Cuối năm 1977 qua 1978, anh em tại P5 được các anh em tù đi làm rộng ra bên ngoài, mua và chuyển dần về một số dao mác để làm khí giới, đúng đêm giao thừa cùng nguyện nếu xẻ trái dưa có ruột trắng thì biểu hiện của điềm xui rủi, còn nếu ruột đỏ thì là điềm tốt đẹp, làm việc gì cũng thành công. Giờ giao thừa bổ dưa ra nhằm trái dưa có ruột đỏ, nên anh em lên tinh thần rất cao.
Giây phút khởi sự, anh Lê văn Hòa và anh Rừng cầm dao từ P5 chạy lên cổng trước trại giam –cách chừng 100m, giết chết tên Lấn Giám thị trưởng, đoạt được khẩu K59. Liền đó 2 anh thừa thắng xông ra chỗ tên gác cổng, nhưng không may, anh Rừng bị trúng đạn vỡ bụng chết tại chỗ, anh Hòa nhanh lẹ cầm khẩu K59 xông lên bắn tên gác cổng và bỏ chạy sau thu được khẩu AK 47 của hắn.

Bên trong, anh em nhất loạt vùng lên làm chủ tình thế vừa chiến đấu với bọn cai tù đang còn ngỡ ngàng vì không khí các ngày Tết khiến chúng vẫn còn buông lơi trong việc canh giữ tù.

Trong diễn biến đó, anh Be dũng cảm chiến đấu rất hiên ngang giữa ban ngày và được dân chúng chào đón như các người hùng trở về giải phóng người dân Bến Tre khỏi ách cộng sản sau tháng Tư đen 1975. Trong vụ phá ngục nầy còn có nhiều người hùng sát cánh cùng anh Be.

Anh Be có dáng người nhỏ con, tính tình vui vẻ hòa đồng nhưng rất kiên cường và anh hùng khẳng khái, thời là trinh sát Bộ Binh, anh chỉ là hạ sĩ quan nhưng tinh thần quốc gia rất cao, sau khi miền Nam thất thủ anh cũng giữ nguyên khí khái, không hề chịu khuất phục bạo quyền.

Sau khi giết chết tên Lấn (Giám thị trưởng khám lá Bến Tre), phá kho súng, anh không giết những tên cán bộ trại giam mà bắt chúng giam trở lại vào trong Phòng 5 nơi mà anh và các anh em khác vừa bị nhốt mới đây. Chủ ý của anh Be là tấn công địch nhằm mục đích sống còn và chiến thắng chớ không chịu rút lui và đầu hàng.

Trong một trận quyết chiến với 1 tốp công an VC (dưới quyền chỉ huy của Trần văn Chiến tức Hai Chiến lúc ấy là trưởng ty công an Bến Tre) mấy ngày sau, anh Be bị bể một cánh vai và bị VC bắt sống.

Viên đạn thù bắn trúng bả vai khiến anh bị vỡ một bên vai và sau lần ấy, anh Be và đồng đội bị bắt lại tại ngã tư Phú Khương, mang án chung thân với viên đạn thù vẫn còn nằm nguyên trong vai, máu mủ vẫn còn rỉ chảy cho tới ngày bị đưa ra A20.

Sau chuyến phá ngục ấy, anh và đồng đội bị VC xử án chung thân năm 1980 ở Bến Tre và đến 1982 bị chuyển thẳng từ Bến Tre ra A20 Xuân Phước Phú Yên cùng với vụ của anh Mười và Hiếu tức MT Quốc Gia Liên Kết .

Vượt ngục ở A20


Nhóm vượt ngục lần nầy toàn là người của tỉnh Bến Tre cùng vụ anh Be, vừa mới chuyển ra A20 là anh em đã mau chóng toan tính tổ chức vượt ngục liền, vì tinh thần nầy các anh đã được hun đúc từ thời P5 của nhà giam tỉnh Bến Tre 2 năm trước, trong vụ nầy còn có Thiếu Úy Hải Quân VNCH Nguyễn văn Hiệp, vì kháng cự nên bị VC bắn chết tại chỗ, việc này lấp trong loạt diễn biến đầy sôi động và kiên cường của thuở đó nên ngày nay ít ai còn nhớ tớ, nhắc tới. Trước 1975, Thiếu Úy Hiệp bị thương một bên mắt khi giao tranh với cộng quân.

Trong nhóm vượt ngục từ Bến Tre, có Lê văn Hòa vốn được anh Lê Ngọc Vàng là người đỡ đầu cho (nghi thức rửa tội do Linh Mục Phạm hoàng Điềm thực hiện ngay trong nhà tù), và các anh đã hạ quyết tâm dù có bị đưa đi giam ở bất cứ nơi đâu cũng phải vượt ngục chứ không chịu thủ phận chờ ngày thả.

1982, lúc anh em Bến Tre vừa mới chuyển ra nên khi còn bị nhốt chung phòng, chính Triệu là người nhắc lại lời đồng tâm đã nguyện và khởi xướng lại quyết tâm vượt ngục, còn Hiệp đóng góp và phân tích, Tây –Nguyễn phương Tây, là Trung Úy địa phương quân QLVNCH- quyết định cưa song sắt. Lúc ấy, các anh đã cùng nhận định lợi dụng lúc mới chuyển ra này, nhà trại không kịp để ý thì tổ chức vượt ngục sẽ dễ dàng hơn bởi anh em e rằng sau khi ổn định tù nhân thì nhà trại có thể tổ chức lại và phân anh em ra tứ tán thì việc cùng chung lưng đâu cật rắp tâm vượt ngục sẽ khó hơn nhiều. Đây là việc cấp bách và hệ trọng bởi anh em ai cũng ý thức rằng, VC cực kỳ tàn ác, nếu chuyện vượt ngục bất thành thì coi như cầm chắc cái chết thảm khốc dưới bàn tay của lũ quỷ đỏ vô thần mất hết nhân tính.

Nhân lúc ấy Lê văn Hòa được nhà trại phân công trực sinh đã cùng các anh em khác (cũng từ Bến Tre ra) âm thầm cưa song sắt. Khi đã phá được song sắt, anh em lợi dụng lúc nhà trại tổ chức bữa văn nghệ ngày Xuân, đã đồng loạt vượt ra. Hòa đi thoát.

Anh Be, Triệu, Hiệp đều vượt rào thoát ra được khỏi trại, nhưng do vì toàn là những người sống quen với vùng đồng bằng sông nước Nam phần nên khi gặp rừng núi hiểm trở, lạ địa hình lại không thông thạo vì chưa ở đây lâu… cho nên các anh không biết đường đi thoát. Cả tuần lễ các anh cứ lẩn quẩn ở vùng núi gần quanh trại A20 chứ không đi xa được, phần vì bị đói nhiều ngày nên việc dò đường thoát đi của các anh thập phần khó khăn…

Cũng nên biết thời đó (7 năm sau khi miền Nam thất thủ) toàn quốc lâm vào cảnh đói kém chưa từng thấy do chính sách kinh tế Sô Viết quái đản ngăn sông cấm chợ mà tập đoàn cộng sản Hà Nội bê nguyên xi về Việt Nam áp dụng…đã khiến người dân sống quanh vùng Xuân Phước vốn đã nghèo nàn lạc hậu nay còn nghèo khổ hơn bội phần. Chỉ cần bọn quản giáo trại tù hứa cho 1 chiếc áo, quần hay 1 tấm chăn đắp thôi chứ chưa cần đem thực phẩm gạo thóc ra dụ, là họ cũng sẵn sàng hè nhau đi truy tìm tù nhân vượt ngục đem về nộp để lãnh thưởng.

Khi bị phát hiện thì Hiệp bị bắn chết, Be, Triệu, Phương Tây bị bắt trở lại. Anh Tây trước đây bị kêu án 20 năm thì nay bị xử lên chung thân, Triệu 20 năm lên chung thân, anh Be trước đây chung thân nay lên tử hình.

Theo anh Lê Ngọc Vàng, năm 1990 khi anh bị chuyển ra A20 (từ trại tù Z30A Xuân Lộc) thì có gặp anh Triệu. Triệu có chỉ cho anh Vàng những cụm núi nằm trong vùng núi chung quanh trại A20 là nơi mà các anh cứ bị lẩn quẩn cả tuần mà không đi thoát được 8 năm trước. Triệu nhìn nhận chung thất bại nầy phần lớn do Triệu, bởi Triệu trước đây còn là học sinh, nhỏ tuổi, không kịp thích nghi với gian khổ cũng như không có kinh nghiệm địa hình địa vật… Triệu vốn là học trò của một người bạn (chung vụ với) anh Vàng ở huyện Ba Tri, Bến Tre 1977 (tức vụ Mặt Trận Dân Tộc Tự Quyết, bị bắt 1978, ra tòa 1982)

Thời các tổ chức kháng chiến phục quốc vùng Kiến Hòa (Bến Tre) còn có các anh hùng Lê văn Bé, Trần thị Bạch Phượng, ở Long An còn có anh hùng Nguyễn văn Te....thuộc MT Dân Tộc Tự Quyết, chúng tôi hy vọng sẽ dần bổ túc và tái hiện lại đầy đủ hình ảnh, nhân dáng của những lớp người tiền phong anh hùng này.

Ông Be

Anh Be là người trai rất hiền lành, khiêm tốn, khi nói hay cười, dáng nhỏ con với cặp mắt mí lót, da ngăm ngăm chứng tỏ con người rất lì lợm, gan dạ, anh chưa có gia đình, nhà nghèo và đơn chiếc, với tính tình dễ thương như thế, không ai có thể ghét anh được.

Theo những ký ức chưa phai mờ trong những người anh em cựu tù chính trị A20 đang còn ở trong nước cũng như đã vượt thoát ra hải ngoại thì anh Be sau khi bị bắt lại đã bị bọn cai tù VC ở A20 đánh đập dã man bởi tính khi can cường không chịu khất phục kẻ thù của anh. Chúng rất hèn hạ, đã ỷ thế lại còn dùng số đông đánh đập hành hạ một người tù thất thế. Khoảng 1 tuần sau chúng đem anh Be ra xử vội trong một “phiên tòa” ngay tại trại A20. Theo nhiều anh em thuở ấy cho biết, anh Be không thể có mặt vì gần như đã bất tỉnh bởi sự đánh đập, bỏ đói nhịn khát suốt mấy ngày hung hiểm đó, anh Be hầu như đã đi vào cõi hôn mê.

Án chúng hô xong là đem anh ra bắn ở cây me to mé trái lối mòn đi vào lô 17 (cây me này nay đã không còn sau hơn 30 năm…) vào một ngày tháng 2/ 1982. Các anh A20 cũng không quên chi tiết khi chúng bắn anh Be xong, bạn tù khiêng anh đi tẩm liệm và mai táng còn thấy rõ những vết đạn thủng trước ngực anh chẳng có rỉ máu ra bao nhiêu…như thể bọn cai tù đã hành hạ anh Be đến “hết máu” trong cơ thể!

Anh Be được chôn tại một khoảnh đất nhỏ ở chân đồi cách chỗ xử bắn chừng hơn 200 met. Mộ anh được đặt nông vội tạm ở kế một lạch nước nhỏ tuôn chảy xuống từ trên phía cao của ngọn đồi này, quanh đấy có rất nhiều hòn đá non vàng nhạt nhỏ to vô định hình do đó ngày ngày anh em bạn tù đi làm ngang qua lúc đi cũng như lúc về, chẳng ai bảo ai đều tự nguyện tìm một hòn đá quanh đấy mà đắp lên mộ. Vì các anh em tù A20 e rằng nếu không được đắp đá dần lên như thế thì theo thời gian tàn phá cộng với lạch nước chảy như thế sẽ khiến mộ anh Be rất dễ bị xói lở dẫn đến mất dấu hẳn. Chính nhờ việc làm có ý thức này lâu ngày thành một tập quán mà mộ anh Be mới còn có thể tồn tại đến ngày nay tuy tháng 5/ 2015 này khi chúng tôi đến cúng viếng anh, thì thấy phần nấm đất trên mộ cũng như sụt thấp xuống chứ không cao nhiều như thời 20 năm trước trong trí nhớ của các bạn tù A20.

Ngôi mộ thiêng của người anh hùng













Ngôi mộ thiêng anh Be nay ngập trong cỏ - tháng 5/2015

Cũng theo anh em A20, sau khi chết đi, anh Be rất thiêng.

Rất nhiều tên quản giáo VC ngang ngạnh vô thần chẳng coi Trời Phật ra gì mà khi ngang qua mộ anh (trong những lần dẫn tù đi làm), chúng cũng tự nguyện tìm một hòn đá đắp lên mộ như bao nhiêu anh em bạn tù khác của anh Be. Sau này có tên tự kể lại rằng chúng đã từng bị anh “phạt” nặng tới nỗi chúng đã rất khiếp sợ mỗi khi đi ngang qua đây, và phải noi gương các anh em tù đắp đá lên mộ thì mới được yên thân.

Cựu A20 Phạm Văn Thành nhớ lại...: “năm 1994, tôi có lần được cho ra đội 12 tát ao bắt cá cho giám thị đem bán. Anh Phan văn Bàn chỉ về hướng một cây lớn, bảo "Mộ anh Be ở đấy! Rất linh! Công an, Cán bộ... đều né không muốn đi qua ...".

Buổi chiều tôi cố nài nỉ người sĩ quan võ trang canh tù nhưng bất thành. Y ta nói "ở đây có ngôi mộ lớn và đẹp, xây bằng đá ong ... của một vị lãnh tụ Phong Trào Cần Vương, anh có đến đấy thì đưọc, nhưng anh Be thì không ..." .
Tôi đã đến ngôi mộ của vị lãnh tụ Cần Vương ấy để đưọc nhìn gần hơn về mộ anh Be! Chỉ thấy bạt ngàn cỏ và cỏ ...”


Với anh em bạn tù thì mỗi khi ai bị đi lạc trong núi, cứ việc khấn nguyện “Ông Be” là y như rằng sẽ tìm được lối ra.

Kể từ tiếng linh thiêng của Ông Be, ngay cả bọn cai tù cũng phải gọi anh bằng Ông Be chứ nếu chỉ cần bọn chúng thất kính khi nói tới anh thì sẽ bị anh “phạt” nặng.

Từ sợ hãi dần dần chuyển sang mê tín. Chẳng ai ngờ bọn người tàn ác vô luân vô thần cộng sản, lại rất tin vào một linh hồn bị chúng giết chết oan uổng là anh Be…sẽ phù hộ cho chúng trúng vé số hay trúng số đề!!! Bọn quản giáo rất thường hay ra mộ anh nhang khói và cầu xin số đề khởi từ đó!

Thăm Mộ anh Be


Vào một ngày hè tháng 5/ 2015 nắng như đổ lửa ở cái vùng Phú Yên này, chúng tôi trực chỉ Xuân Phước sau khi ghé chợ Phước Lộc sắm sửa vài thức đơn sơ như nhang trầm, hoa, rượu và trái cây mang lên cúng mộ anh Be.
Chúng tôi chọn ngày Chủ Nhật để tránh mọi sự gặp gỡ ngoài ý muốn.











3km sau khi đi từ Chí Thạnh trực chỉ La Hai, đây là ngã ba Phụng Niên, cón cách La Hai 10km












Từ chợ Phước Lộc đi lên Xuân Phước












còn 6km












Ngã Ba đi A20...lên Kỳ Lộ (rẽ phải)

Cách đây chừng hơn 4 tháng, chúng tôi cũng đã có viếng chớp nhoáng mộ anh Be dịp cận Tết Ất Mùi 2015.

Tuy mộ anh Be nay đã biến dạng khá nhiều so với bao năm qua nhưng vì mới đi thăm nên chúng tôi nhớ chỗ dừng thật chính xác, nếu không từng đi 4 tháng trước thì nay thật khó mà tìm ra vì cảnh vật đã đổi thay quá nhiều so với những mô tả của các anh cựu A20.











nếu theo con đường đất mà đi thẳng quá điểm "4" thì sẽ vào phân trại B khi xưa (nay bọn chúng đã dẹp bỏ B - C - D để làm một thủy điện nhỏ khoảng sau năm 2000)


Mộ anh Be không người chăm sóc cho nên cỏ mọc lút đầu rất khó nhìn thấy. Cái lạch nước nhỏ khi xưa nay đã không còn, chỉ nghe người địa phương nói lại rằng vào mùa mưa chính thức thì chỗ lạch nước ấy vẫn còn nước chảy xuống từ trên đồi cao nhưng mạch nước yếu và rất chóng khan khi mùa mưa dứt.

Khi đi hết khúc quanh ven theo ngọn đồi (trong ảnh có mũi tên xanh bên trên) thì tới mộ. Lần này chúng tôi khá ngạc nhiên khi thấy có 1 ngôi mộ đắp nấm đất sơ sài không bia nằm kế mộ anh Be… Vì mua theo 3 bó hoa nên chúng tôi mang qua “hàng xóm” 1 bó và thắp nhang cho bên đó nữa.

Sở dĩ chúng tôi ngạc nhiên vì lần thăm mộ anh Be trước Tết Ất Mùi vừa rồi chúng tôi chưa thấy có ngôi mộ này. Sau cuộc Nổi Dậy lừng tiếng hồi tháng 10/1994 của hàng trăm tù chính trị A20, tà quyền Hanoi đã vội vã dời hết tù chính trị ra Đầm Đùn Thanh Hóa. Từ đó tới giờ, A20 chỉ là trại tù hình sự nên có lẽ đây là nơi an nghỉ của 1 tù nhân hình sự xấu số mới vừa tạ thế.

Trên đường đi vào mộ, chúng tôi có gặp 1, 2 tù nhân (mặc bộ đồ sọc tù) chăn bò đi tha thẩn trên lối đường đất lên lô 17 này.

Giữa khung cảnh núi đồi nắng cháy hoang sơ cỏ lá của Thung Lũng Tử Thần…chúng tôi như quên đi cái nắng như thiêu hơn 400C khắc nghiệt ngoài trời, để chỉ còn nghe nỗi tràn dâng xúc động từ tim mình, chúng tôi như thấy rõ nét người tù Phạm Văn Be anh dũng ngày nào, dễ mến nhưng kiên cường vượt ngục chứ không chịu tù đày trong vòng giam nghiệt ác của giặc cộng.
Trong ban trưa lặng lẽ, anh em chúng tôi người cắm hoa vào bình, người rót rượu ra ly, người thắp nhang, người bày dăm quả trái cây đơn sơ ra dĩa để thực hiện nghi lễ thiêng liêng trước phần mộ anh Be.














Phần Mộ: Phan Văn Be / Năm Sinh 1952 / Sinh Quán: Bến Tre / Tử: tháng 2 – 1982 (không rõ ngày) / Lập Bia: T V A20



Trong tâm cảnh thiêng liêng rợn người giữa một bên là Thung Lũng Tử Thần, một bên là mộ anh Be, chúng tôi đã đồng lòng khấn như sau:

“Kính anh Be

Hôm nay anh em chúng tôi có chút lòng thành đến kính viếng hương hồn anh, cầu mong anh chóng siêu thoát về miền tịnh độ, cầu anh sống khôn thác thiêng xin anh phù trì ủng hộ cho quốc thái dân an, đất nước sớm thoát ách bạo tàn cộng sản, cầu anh phù hộ cho công cuộc của anh em quốc gia đang trực diện đấu tranh gạt bỏ bạo quyền…được an toàn, hanh thông và mau chóng dễ dàng thành tựu mọi sự.

Xin hồn anh linh thiêng về hỗ trợ cho anh em Nhóm Cựu Tù A20 gặp được nhiều thuận lợi và đồng tình của đồng bào còn tha thiết với tiền đồ của quê hương xứ sở…

Khi đại cuộc viên thành, Chúng tôi nguyện sẽ dựng lại ngôi mộ anh thành một nơi trang nghiêm kỳ vỹ để vừa làm nơi chiêm bái cho các lớp hậu duệ mai hậu, vừa làm một chứng tích trước công luận về sự tà mỵ, độc ác của bạo quyền cộng sản Hà Nội bán nước hại dân”

Sau nghi thức tưởng niệm và khấn nguyện anh Be như trên, chúng tôi quay về mà lòng ngậm ngùi khôn nguôi trong cái nắng cháy nung người giữa hè 2015 miền trung Vietnam.

Nhóm Thư Viện Phạm Văn Thành, Vietnam tháng 5/2015

Saturday, May 4, 2024

Mai này đều bước... theo gương đàn anh - Bài thứ hai về thiếu sinh quân

Tác giả: Hồng Ngọc Đoàn 1862/NY.